1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008-2012

141 366 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quan niệm tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc FAO và phân loại của Liên hợp quốc về ngành Lâm nghiệp, đã được nhiều quốc gia thừa nhận và căn cứ vào tình hình thực tiễn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG VĂN SINH

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ XÂY DỰNG CÁC MÔ HÌNH KHUYẾN LÂM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 2008 - 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG VĂN SINH

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ XÂY DỰNG CÁC MÔ HÌNH KHUYẾN LÂM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 2008 - 2012

Chuyên ngành: Lâm Học

Mã số: 60 62 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Sỹ Trung

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2014

Tác giả luận văn

Nông Văn Sinh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lời biết ơn

chân thành nhất đến PGS.TS Lê Sỹ Trung người hướng dẫn khoa học đã tận

tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Lời cảm ơn chân thành của tôi cũng xin gửi tới các thầy cô trong p

, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên

Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn tới, bạn bè và đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong trong quá trình hoàn thành luận văn này

Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó!

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2014

Tác giả luận văn

Nông Văn Sinh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 3

3 Mục tiêu của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Cơ sở pháp lý 7

1.3 Lịch sử nghiên cứu khuyến nông trên thế giới và ở Việt Nam 9

1.3.1 Trên thế giới 9

1.3.2 Ở Việt Nam 13

1.3.3 Chức năng nhiệm vụ của khuyến nông - khuyến lâm của Việt Nam 22

1.3.4 Điều kiện tự nhiên - Kinh tế xã hội vùng nghiên cứu 26

1.4 Thực trạng sản xuất khuyến lâm tỉnh Bắc Giang 36

1.5 Đánh giá ảnh hưởng của ĐKTN, KTXH đến khuyến lâm 40

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Đối tượng nghiên cứu 42

2.2 Giới hạn nghiên cứu 42

2.3 Nội dung nghiên cứu 42

Trang 6

2.3.1 Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm 42

2.3.2 Đánh giá về công tác tổ chức thực hiện xây dựng mô hình: Tỉnh huyện, xã 43

2.3.3 Đánh giá tác động của các mô hình khuyến lâm: Tác động của mô hình đến phát triển kinh tế, xã hội (nhận thức của người dân, khả năng nhân rộng mô hình) 43

2.3.4 Phân tích thuận lợi khó khăn, cơ hội và thách thức trong xây dựng mô hình 43

2.3.5 Đề xuất các giải pháp phát triển các mô hình khuyến lâm cho khu vực nghiên cứu 43

2.4 Phương pháp nghiên cứu 43

2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài 43

2.4.2 Phương pháp giải quyết vấn đề của đề tài 44

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu chung 44

2.4.4 Công tác nội nghiệp 47

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 50

3.1 Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Bắc Giang đã được triển khai 50

3.1.1 Thông tin cơ bản đối tượng điều tra 50

3.1.2 Lựa chọn mô hình và địa điểm nghiên cứu 52

3.2 Kết quả đánh giá về công tác tổ chức, thực hiện xây dựng mô hình và các biện pháp kỹ thuật áp dụng 54

3.2.1 Tổ chức triển khai xây dựng và quản lý mô hình khuyến lâm như sau 54

3.2.2 Đánh giá kết quả chuyển giao 65

3.3 Đánh giá tác động của mô hình 71

3.3.1 Tác động về kinh tế 71

Trang 7

3.3.2 Tác động về xã hội 73

3.3.3 Tác động về tạo việc làm 77

3.4 Phân tích thuận lợi, khó khăn trong xây dựng mô hình khuyến lâm 77

3.4.1 Thuận lợi 78

3.4.2 Khó khăn 80

3.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng mô hình khuyến lâm và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong lâm nghiệp 84

3.5.1 Giải pháp về tổ chức thực hiện xây dựng mô hình khuyến lâm 84

3.5.2 Giải pháp về hoàn thiện tổ chức bộ máy khuyến nông 89

3.5.3 Giải pháp về phát triển nguồn lực 90

3.5.4 Giải pháp về kỹ thuật 90

3.5.5 Giải pháp về chính sách 91

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92

1 Kết luận 92

2 Kiến nghị 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 98

Trang 8

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

NN & PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Thông tin về đối tượng điều tra đánh giá 53

Bảng 3.2: Định mức triển khai xây dựng mô hình 57

Bảng 3.3: Kết quả xây dựng mô hình 66

Bảng 3.4: Kết quả điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng 68

Bảng 3.5: Kết quả dự tính hiệu quả kinh tế các mô hình khi đạt 7 tuổi 71

Bảng 3.6: Nhận thức của người dân khi có mô hình khuyến lâm 74

Bảng 3.7: Kết quả về nhận thức và nhân rộng mô hình khuyến lâm 75

Bảng 3.8: Dự kiến công việc cho một ha trồng, chăm sóc, bảo vệ, khai thác cho mô hình trồng cây nguyên liệu 77

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Sơ đồ phương hướng giải quyết các vấn đề của đề tài 44

Hình 3.1: Mô hình trồng bạch đàn lai 61

Hình 3.2: Mô hình trồng keo tai tượng 62

Hình 3.3: Mô hình trồng tre bát độ 69

Hình 3.4: Mô hình trồng cây hương bài 70

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên là 33,12 triệu ha, trong đó diện tích đất có rừng là 12,61 triệu ha và 6,16 triệu ha đất trống đồi núi trọc là đối tượng của sản xuất lâm nông nghiệp [22] Diện tích đất lâm nghiệp phân bố chủ yếu ở trên các vùng đồi núi của cả nước, đây cũng là nơi sinh sống của 25 triệu người với nhiều dân tộc ít người, có trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậm phát triển và đời sống còn nhiều khó khăn

Nghề rừng không những tạo ra các sản phẩm lâm sản hàng hóa và dịch

vụ đóng góp cho nền kinh tế quốc dân; mà còn có vai trò quan trọng trong bảo

vệ môi trường như phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hòa khí hậu , góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, đặc biệt đối với bảo vệ biên giới hải đảo; góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống, xóa đói, giảm nghèo cho người dân nông thôn và miền núi [34]

Theo quy định hiện hành về phân ngành kinh tế quốc dân, lâm nghiệp

là ngành kinh tế cấp II với các nội dung hoạt động chính là gây trồng, bảo vệ

rừng, khai thác lâm sản và một số dịch vụ lâm nghiệp Sản phẩm cuối cùng là

nguyên liệu lâm sản cung cấp cho công nghiệp chế biến và tiêu dùng [33]

Theo các số liệu được công bố hiện nay, GDP lâm nghiệp chỉ chiếm hơn 1% tổng GDP quốc gia Giá trị lâm nghiệp trong GDP theo cách thống kê hiện nay mới tính giá trị các hoạt động sản xuất chính thức theo

kế hoạch, chưa tính được giá trị các lâm sản do dân khai thác, chế biến và lưu thông trên thị trường; đặc biệt khâu công nghiệp chế biến lâm sản cũng không được tính đến Những hiệu quả rất to lớn của rừng như tác dụng phòng hộ đầu nguồn, ven biển và môi trường đô thị, giá trị bảo tồn

đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gien, du lịch sinh thái v.v… chưa được thống kê vào GDP của lâm nghiệp [22]

Trang 12

Theo quan niệm tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) và phân loại của Liên hợp quốc về ngành Lâm nghiệp, đã được nhiều quốc gia thừa nhận và căn cứ vào tình hình thực tiễn của Việt Nam hiện nay, cần phải có một định nghĩa đầy đủ về ngành lâm nghiệp như sau: Lâm nghiệp

là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hoá và dịch vụ từ rừng như gây trồng, khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến lâm sản và cung cấp các dịch vụ môi trường có liên quan đến rừng; ngành Lâm nghiệp có vai trò rất quan trọng trong bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, xoá đói, giảm nghèo, đặc biệt cho người dân miền núi, góp phần ổn định xã hội và an ninh quốc phòng [37]

Trong chiến lược phát triển lâm nghiệp thì khuyến lâm là một trong những nhiệm vụ trong chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn

2006 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 5/2/2007 là nâng cao trình độ chuyên môn về quản lý, bảo vệ rừng cho 80% hộ nông dân, gồm: Thu hút 50% thành phần kinh tế khu vực tư nhân và các tổ chức đoàn thể tham gia các hoạt động khuyến lâm; bố trí ít nhất một cán bộ khuyến lâm chuyên trách hoặc kiểm lâm cho mỗi xã nhiều rừng và tăng cường năng lực cho hệ thống khuyến lâm tự nguyện; Cải tiến và cập nhật nội dung, phương pháp khuyến lâm để phù hợp với trình độ của nông dân, đặc biệt hộ nghèo, dân tộc ít người và xây dựng mối liên kết giữa hệ thống khuyến lâm và đào tạo với các chủ rừng và doanh nghiệp chế biến lâm sản [4][33]

Đặc biệt, trong thời gian qua nhà nước có nhiều chính sách phát triển kinh tế xã hội, có liên quan đến phát triển lâm nghiệp như: Chương trình 327,

Dự án 661, Chương trình 135, Chương trình 134, Nghị quyết 30a,… với mục tiêu xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững cho miền núi, thông qua nhiều phương pháp tiếp cận chuyển giao khoa học kỹ thuật khác nhau trong đó có các mô hình khuyến lâm [36]

Trang 13

Bắc Giang là một tỉnh miền núi với diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới 72% tổng diện tích tự nhiên Khuyến lâm từ lâu đã trở thành tâm điểm của tỉnh Với những chủ trương của nhà nước đã đặt ra, hoạt động khuyến lâm của tỉnh Bắc Giang trong thời gian qua đã tổ chức thực hiện các nội dung trên

Trong suốt hơn một thập kỷ qua, khuyến lâm vẫn đang tìm kiếm để trả lời các câu hỏi đặt ra là có những mô hình chuyển giao gì? phương pháp, cách thức làm như thế nào? hiệu quả làm ra sao? có những khó khăn, bất cập gì trong quá trình chuyển giao? khả năng nhân rộng của mô hình? Sau nhiều năm thực hiện song vẫn chưa có các công trình điều tra nghiên cứu đầy đủ, có tính hệ thống cung cấp cho các nhà quản lý có những thông tin đầu đủ, khách quan để hoạch định những chính sách, kế hoạch phù hợp với tỉnh Xuất phát từ yêu cầu

thực tiễn này, tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008 - 2012’’

2 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở phân tích, đánh giá các mô hình khuyến lâm ở địa phương, góp phần lựa chọn các mô hình hiệu quả, phương pháp chuyển giao tốt để nhân rộng cho người dân và giúp các nhà quản lý hoạch định chính sách phù hợp cho chương trình xây dựng mô hình khuyến lâm

3 Mục tiêu của đề tài

3.1 Về Khoa học

Đánh giá kết quả các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008 - 2012 về mặt khối lượng các công việc thực hiện, kỹ thuật áp dụng, tình hình sinh trưởng cây trồng và hiệu quả kinh tế xã hội

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Khuyến lâm (Forestry Extention) là một quá trình chuyển giao kiến

thức, đào tạo kỹ năng và những điều kiện vật chất cần thiết cho nông dân

để họ có đủ khả năng quản lý và bảo vệ được nguồn tài nguyên rừng tại cộng đồng [5]

* Mục tiêu của khuyến lâm:

Làm thay đổi cách đánh giá, cách nhận thức của nông dân trước những khó khăn trong cuộc sống, giúp họ có cái nhìn thực tế và lạc quan hơn đối với mọi vấn đề trong cuộc sống để họ tự quyết định biện pháp vượt qua những khó khăn Nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn, miền núi Bảo tồn được các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường

Hỗ trợ nông dân, chủ trang trại, xã viên hợp tác xã, tổ hợp tác trong các nông lâm trường nắm vững chủ trương, chính sách, nâng cao kiến thức và kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh và phát triển sản xuất nông lâm nghiệp

Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo hướng bền vững

* Nguyên tắc của khuyến lâm:

Xuất phát từ nhu cầu của nông dân và yêu cầu phát triển nông thôn Bảo đảm là cầu nối và thông tin hai chiều giữa người làm công tác khuyến lâm, nhà quản lý, nhà khoa học với nông dân và nông dân với nông dân

Dân chủ, công khai, có sự tham gia tự nguyện của nông dân, hỗ trợ và hướng dẫn dân làm, không làm thay dân

Trang 15

Xã hội hóa công tác khuyến lâm, hoạt động khuyến lâm phải phối hợp với các chương trình, dự án và hoạt động phát triển lâm nghiệp, nông nghiệp

và nông thôn khác

* Hoạt động trong khuyến lâm:

Chia sẻ kiến thức bản địa với các tiến bộ kỹ thuật

Thúc đẩy sự kết nối và chia sẻ giữa các cá nhân và cộng đồng

Thúc đẩy việc xây dựng năng lực của các cá nhân và các nhóm thông qua sự giáo dục bán chính thức

Thúc đẩy sự phát triển các tổ chức phục vụ cho việc quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên đất, rừng và tiếp cận thị trường

Kết nối việc lập kế hoạch, thực thi, theo dõi và đánh giá của các cộng đồng nhằm vào hoạt động độc lập của họ

Giải quyết các vấn đề và quản lý các mâu thuẫn để đi đến việc thống nhất các quyết định Có các phương pháp khuyến lâm thích hợp cho mỗi tình trạng và nhóm sở thích

* Hệ thống khuyến lâm các cấp của nước ta hiện nay:

Trung ương

+ Thời phong kiến và thuộc Pháp, chủ yếu là các tù trưởng địa phương

và các lý trưởng quản lý tài nguyên lâm sản

+ Từ năm 1945 đến trước năm 1993, công tác khuyến lâm nằm dưới sự chỉ đạo của Cục Lâm nghiệp

+ Năm 1993, bộ phận khuyến lâm nằm trong Vụ Lâm sinh thuộc Bộ Lâm nghiệp

+ Tháng 11 năm 1995, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn được thành lập trên cơ sở cơ cấu từ 3 bộ: Bộ Lâm nghiệp, Bộ Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm Cục Khuyến nông và khuyến lâm đảm nhận nhiệm vụ quản lý công tác khuyến lâm

Trang 16

+ Ngày 18/7/2003 thực hiện nghị định 86/2003/ND, cơ cấu tổ chức Cục Khuyến nông và Khuyến lâm thành Trung tâm Khuyến nông Khuyến lâm Quốc gia, chịu sự quản lý về công tác khuyến lâm của Cục Lâm nghiệp

Cấp tỉnh

+ Trước năm 1995, đa số các tỉnh đảm nhiệm công tác khuyến lâm là của Trung tâm Khuyến nông và Khuyến lâm Chỉ có 1 số tỉnh làm tốt công tác khuyến lâm đã tách độc lập thành Trung tâm Khuyến lâm tỉnh: Thanh Hóa, Hòa Bình, Bắc Ninh

+ Sau năm 1995, đa số các tỉnh thì điều hành công tác khuyến lâm là của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Chỉ có một số tỉnh là thành lập Trung tâm Khuyến nông và Khuyến lâm tỉnh như: Thanh Hóa, Bắc Giang, Hòa Bình Một số tỉnh thì lại thành lập Trung tâm khoa học kỹ thuật và khuyến nông tỉnh như: Nghệ An, Quảng Ngãi, Thành phố Hồ Chí Minh

+ Cán bộ khuyến lâm cấp tỉnh phải có trình độ đại học trở lên, và chủ yếu phải được đào tạo tại các trường đầu ngành Ở Việt nam cán bộ khuyến lâm cấp tỉnh chủ yếu đào tạo từ ĐH Lâm nghiệp Xuân mai, một số cũng có thể từ các khoa lâm sinh của các trường ĐH Nông Lâm theo vùng (ĐH Tây Bắc, ĐH Tây Nguyên, ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, ĐH Nông Lâm Huế, ĐH Nông Lâm Thành phố Hồ chí Minh)

Trang 17

1.2 Cơ sở pháp lý

- Nghị định số 13/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ về việc thành lập

hệ thống Khuyến nông, Khuyến lâm, Khuyến ngư

- Thông tư 02/LB-TT ngày 2/8/1993 về việc cụ thể hóa việc thực hiện

NĐ 13/CP Như vậy cuối năm 1993 nước ta chính thức có Hệ thống Khuyến nông Quốc gia

- Thực hiện Nghị định số 86/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/7/2003, Quyết định số 118/2003/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp ngày 3/11/2003 về thay đổi cơ cấu tổ chức Cục Khuyến nông - Khuyến lâm, thành lập Trung tâm Khuyến nông Quốc gia Tiếp sau năm 2005 thực hiện Nghị định số 56/2005/NĐ-CP và Thông tư số 60/2005/TT-BNN

- Quyết định số 38/2005/QĐ-BNN về việc ban hành định mức kinh tế

kỹ thuật trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng và bảo vệ rừng

- Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 8/1/2010

về khuyến nông thay cho Nghị định số 56/2005/NĐ-CP, cơ quan Khuyến nông Trung ương chính thức là Trung tâm Khuyến nông Quốc gia thuộc Bộ NN&PTNT cụ thể hoá công tác khuyến nông, khuyến ngư trong giai đoạn hiện nay

- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2010-2020;

- Quyết định 05/2009/QĐ-TTg ngày 13/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang đến năm 2020;

- Thông tư số 05/2008/TT-BNN ngày 14/01/2008 của Bộ Nông nghiệp

và PTNT "Hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng";

Trang 18

- Quyết định số 1398/QĐ-UBND ngày 18/8/2008 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc phê duyệt đề cương và dự toán kinh phí lập Quy hoạch phát triển rừng sản xuất tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010 - 2020;

- Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm và có nhiều chủ trương, chính sách đối với công tác khuyến lâm Do vậy công tác Khuyến lâm đã có những bước phát triển nhanh, hệ thống tổ chức khuyến nông phát triển mạnh từ Trung ương đến cơ sở Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Hệ thống khuyến nông các địa phương đã tích cực, chủ động trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao, có những đóng góp vào thành công chung của sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác khuyến lâm vẫn còn những hạn chế, tồn tại đó là:

+ Các chương trình, dự án khuyến nông nhìn chung còn phân tán, dàn trải, công tác triển khai còn chậm đã ảnh hưởng đến hiệu quả công tác khuyến nông

+ Việc thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về khuyến lâm của các cơ quan còn lúng túng, chưa toàn diện

+ Chưa có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa khuyến nông, khuyến lâm nhà nước với các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp để huy động nguồn lực phục vụ hoạt động khuyến nông

Trang 19

Do vậy cần thiết phải đổi mới công tác khuyến lâm, trong đó trọng tâm

là đổi mới về cơ chế chính sách, đổi mới về phương thức quản lý và tổ chức thực hiện để nâng cao hiệu quả công tác khuyến lâm trên phạm vi toàn quốc

1.3 Lịch sử nghiên cứu khuyến nông trên thế giới và ở Việt Nam

- Năm 1843, Sớm nhất ở NewYork nhà nước cấp nguồn kinh phí khá lớn cho phép UBNN bang thuê tuyển những nhà khoa học nông nghiệp có năng lực thực hành tốt làm giảng viên khuyến nông xuống các thôn xã đào tạo những kiến thức về khoa học và thực hành nông nghiệp cho nông dân [9]

- Năm 1853, Edward Hitchcoch, là chủ tịch trường đại học Amherst

và là thành viên của UBNN bang Massachuisetts đã có nhiều công lao đào tạo khuyến nông cho nông dân và học sinh, sinh viên Ông cũng là người sáng lập

ra Hội nông dân và Học viện nông dân [14]

- Từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước Nhà nước đã quan tâm đến công tác đào tạo khuyến nông trong trường đại học Năm 1891 bang NewYork đã hỗ trợ 10.000 USD cho công tác đào tạo khuyến nông đại học Những năm sau đó nhiều nhiều trường đại học như Đại học Chicago, Đại học Wicosin cũng đưa khuyến nông vào chương trình đào tạo Bộ thương mại cũng như ngân hàng và nhiều công ty công, nông, thương nghiệp tài trợ cho các hoạt động khuyến nông Đến năm 1907 ở Mỹ đã có 42 trường/39 bang có đào tạo khuyến nông Năm 1910 có 35 trường có bộ môn khuyến nông [5]

Trang 20

- Năm 1914, Mỹ ban hành đạo luật khuyến nông và thành lập Hệ thống Khuyến nông quốc gia Giai đoạn này đã có 8861 Hội nông dân, với khoảng 3.050,150 hội viên

- Mỹ là quốc gia có 6% dân sống bằng nghề nông nghiệp nhưng nền nông nghiệp Mỹ được xếp vào nhóm những nước nông nghiệp phát triển Nhiều sản phẩm nông nghiệp của Mỹ chiếm lĩnh thị trường thế giới như ngô, đậu tương (Sản lượng đậu tương năm1985 đạt 55 triệu tấn, năm 2001 đạt 70 triệu tấn, tăng 15 triệu tấn /6 năm, xuất khẩu lớn nhất TG: 16,9 triệu tấn/năm, đạt khoảng 54 %lượng đậu tương xuất khẩu của thế giới Ngô 2000-2001 đạt

335 triệu tấn, xuất khẩu 70 triệu tấn = 69 % TG) [6]

* Ở Ấn Độ (1960)

- Hệ thống khuyến nông Ấn Độ được thành lập tương đối sớm vào năm

1960 Vào thời điểm này tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung, lương thực nói riêng của Ấn Độ đang là vấn đề rất bức xúc Ấn Độ là quốc gia đông dân thứ 2 trên thế giới, sau Trung quốc, (vào thời điểm này dân số Ấn Độ có khoảng 400 triệu, Trung Quốc có khoảng 600 triệu) Nền nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, lương thực thiếu thốn, dân thiếu ăn và thường xuyên có những người dân chết do đói ăn Trước thực trạng này Chính phủ Ấn Độ có chủ trương quyết tâm giải quyết vấn đề lương thực Sự ra đời của hệ thống khuyến nông Ấn Độ lúc này là cần thiết và tất yếu Sự thành công của nông nghiệp

Ấn Độ những năm sau đó có vai trò đóng góp đáng kể của khuyến nông Đã nói đến nông nghiệp Ấn Độ phải nói tới thành tựu 3 cuộc cách mạng [8][13]

- Cách mạng xanh: Đây là cuộc cách mạng tiêu biểu nhất Đã nói đến nông nghiệp Ấn Độ phải nói đến cuộc cách mạng xanh; đã nói đến cách mạng xanh phải nói đến nông nghiệp Ấn Độ Thực chất của cuộc cách mạng xanh là cuộc cách mạng về giống cây trồng nói chung, và đặc biệt là cách mạng về giống cây lương thực: lúa nước, lúa cạn, lúa mỳ, ngô khoai Hàng loạt các

Trang 21

giống lúa thấp cây, năng suất cao ra đời đã làm tăng vọt năng suất và sản lương lương thực của quốc gia này.[8][13]

- Cách mạng trắng: Là cuộc cách mạng sản xuất sữa bò, sữa trâu Nơi nơi trên đất Ấn Độ đều có nhà máy sữa Khuyến nông có vai trò cực

kỳ quan trọng như vấn đề giải quyết đầu vào: vốn sản xuất, giống trâu bò sữa, kỹ thuật chăn nuôi và giải quyết đầu ra: thu gom tiêu thụ sản phẩm, chế biến sản phẩm sữa

- Cách mạng nâu: Sau cuộc cách mạng trắng tiếp đến cuộc cách mạng nâu Đó là cuộc cách mạng sản xuất thịt xuất khẩu

* Ở Thái Lan (1967)

- Thái Lan là quốc gia nông nghiệp với trên 60% dân số sống bằng nghề nông nghiệp Điều kiện đất đai, khí hậu nóng ẩm gần tương đồng Việt nam Thái Lan là quốc gia hoạt động khuyến nông cũng khá tiêu biểu Hệ thống khuyến nông nhà nước được thành lập năm 1967 Về mặt thành tựu của khuyến nông Thái Lan thể hiện ở mấy điểm sau [13]

- Hàng năm nguồn vốn cho khuyến nông khá lớn khoảng 120-150 và thậm chí 200 triệu USD Lượng kinh phí này gấp hơn 20 lần kinh phí khuyến nông hàng năm của nước ta

- Nhiều năm nay Thái Lan là quốc gia đứng hàng thứ nhất xuất khẩu lương thực trên thế giới (xuất khẩu khoảng 7 triệu tấn gạo/năm)

- Hiện nay Thái Lan rất coi trọng chất lượng giống cây trồng, sản xuất rau quả an toàn, phát triển nuôi trồng thủy sản v.v

Trang 22

- Năm 1928 Viện đại học nông nghiệp tỉnh Triết Giang thành lập phân khoa khuyến nông

- Năm 1929 Chính phủ Trung Quốc đã xác định: “Ngành khuyến nông

do các cơ quan nông nghiệp phụ trách, đặt tiêu chuẩn cải thiện phương pháp sản xuất nông nghiệp, gia tăng năng suất, cải thiện tổ chức nông thôn và sinh hoạt nông dân, phổ biến kiến thức về khoa học nông nghiệp, thành lập các HTX nông dân sản xuất và tiêu thụ ”

- Năm 1933, Trường đại học Kim Lăng (Nay là trường Đại học tổng hợp Nam Kinh) có khoa khuyến nông

- Trung Quốc tổ chức HTX và Công xã nhân dân từ 1951 - 1978 nên giai đoạn này công tác khuyến nông chỉ triển khai đến HTX Nội dung khuyến nông giai đoạn này coi trọng phổ biến đường lối chủ trương nông nghiệp củ Đảng và Chính phủ cũng như chuyển giao TBKT nông nghiệp, xây dưng các mô hình điểm trình diễn đến thăm quan học tập và áp dụng

- Sau 1978 tổ chức sản xuất nông nghiệp Trung Quốc có thay đổi theo hướng phát triển kinh tế nông hộ song song với kinh tế tập thể quốc doanh

- Năm 1991, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông thôn, NQ của BCH TW Đảng khóa VIII rất coi trọng khoa học công nghệ nông nghiệp

và giáo dục khuyến nông; xây dựng khu sản xuất trình diễn; đưa cán bộ nông nghiệp xuống nông thôn , thực hiện thực tế sản xuất nông nghiệp

- Có thể nói những năm gần đây nông nghiệp Trung Quốc khá phát triển Hiện nay Trung Quốc có 3 mũi nhọn về nông nghiệp được thế giới thừa nhận:

+ Lúa lai: Khi mà sản xuất nông nghiệp cây lúa đạt năng suất thấp dưới

5 tấn thóc/ha thì thành công của “Cách mạng xanh” đã giúp các nước tăng năng suất sản lượng lúa bằng các giống lúa thấp cây, chống đổ, chịu thâm canh tăng năng suất và sản lượng Khi mà năng suất lúa nhiều nước đạt 5-8 tấn/ha, để tăng năng suất cao hơn nữa trên 8 tấn/ha thì hiệu quả áp dụng

Trang 23

những giống lúa tiến bộ thông thường không thể có được Công nghệ sản xuất lúa lai cho phép chúng ta có thể năng cao năng suất lúa nước đạt trên 8 tấn/ha không phải là vấn đề khó khăn

+ Thú y và dụng cụ thú y: Công nghệ sản xuất dụng cụ thú y của Trung Quốc phát triển mạnh, sản xuất số lượng nhiều, sử dụng tiện lợi, giá rẻ Cũng như y học cổ truyền, khoa học thú y Trung Quốc có nhiều thành tựu Trung Quốc sáng tạo ra nhiều loại thuốc có tác dụng phòng chống dịch hại ứng dụng trong chăn nuôi, tăng sức đề kháng, kích thích cho các vật nuôi sinh trưởng phát dục mạnh

+ Nuôi trồng thủy sản: Nuôi trồng thủy sản cũng là thế mạnh của Trung quốc Nuôi trai lấy ngọc, nuôi các loài thủy sản quí hiếm như ba ba, lươn, ếch Nhiều loài thủy sản Trung quốc độc quyền sản xuất giống như công nghệ nuôi trai lấy ngọc, sản xuất cá giò, cá song v.v

1.3.2 Ở Việt Nam

* Trước năm 1993

- Đã từ xa xưa Tổ tiên ta đã có những hoạt động khuyến nông Tục truyền vua Hùng Vương nước Văn Lang đã dạy dân xã Minh Nông (Vĩnh Phúc) cấy lúa Sau đó không lâu cây lúa đã là cây trồng chủ lực Người Văn Lang thờ Thần Nông, vị thần nông nghiệp của người Việt cổ [11]

- Truyền thuyết về khuyến nông dâu tằm: Công chúa Thiều Hoa, con vua Hùng vương thứ 6 là người đã đưa và giúp nông dân vùng bãi sông Hồng thuộc vùng Ba Vì, Hà Tây nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa (Hiện nay

ở Cổ Đô, Ba Vì còn có đền thờ bà Thiều Hoa công chúa- Bà Tổ của nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa của Việt nam) Điều này minh chứng rằng

đã gần 3000 năm trước đây cha ông ta đã biết làm công tác khuyến nông.Từ khi có chữ viết, lịch sử được ghi lại với nhiều dẫn chứng cho thấy công tác khuyến nông đã được ông cha ta rất quan tâm [23]

Trang 24

- Năm 981, thời Đinh - Lê đã có phong tục “Lễ hạ điền” của nhà vua Nhà vua chọn ngày, giờ khắc đẹp đầu năm xuống đồng cày sá đất đầu tiên, Hoàng hậu ngồi quay tơ dệt lụa Hành cử này của Nhà vua và Hoàng hậu có ý nghĩa rất lớn khích lệ mọi người dân ra sức tăng gia sản xuất, chúc mong cho một năm mới sản xuất nông nghiệp bội thu Sau này Bác Hồ cũng học tập cha ông xưa: Bác Hồ những năm sau giải phóng miền Bắc 1954, cứ vào ngày đẹp đầu xuân Bác trồng cây và tưới nước cho cây Năm 1964 Đảng và Nhà nước

ta đã phát động thành phong trào “Trồng cây xanh Bác Hồ” rất sôi nổi và rộng khắp miền Bắc [23]

- Năm 1226 Nhà Trần đã thành lập 3 tổ chức: “Hà đê sứ”, “Đồn điền sứ”,

“Khuyến nông sứ” Đứng đầu mỗi tổ chức đều có quan triều đình đảm nhiệm

Hà đê sứ là tổ chức chuyên chăm lo đắp đê phòng chống lũ lụt Đồn điền sứ là tổ chức chuyên lo việc quản lý đất đai Khuyến nông sứ chăm lo công tác giúp dân sản xuất nông nghiệp [13]

- Từ năm 1444 - 1493, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông có 17 lần ra chiếu dụ khuyến nông để tạo điều kiện khuyến khích nông dân ra sức tăng gia sản xuất Nguyễn Công Trứ là vị quan rất có công lao phát triển nông nghiệp của đất nước Ông ra sức nạo vét kênh mương, dẫn thủy nhập điền, đắp đê phòng chống lũ lụt Nguyễn Công Trứ còn thực hiện khẩu hiệu

“Khẩn ruộng hoang, an nghiệp dân nghèo”, ra sức quai sông lấn biển ông

là người có công tạo lập nên 2 huyện Tiền Hải, Thái Bình và Kim Sơn, Ninh Bình ngày nay [23]

- Năm 1789, vua Quang Trung chẳng những là nhà quân sự cực tài, nhà chính trị và ngoại giao giỏi mà còn là một nhà khuyến nông tài ba Vua Quang Trung đã xác định “Thực túc thì binh cường”, quân đội muốn hùng mạnh thì trước nhất phải được ăn no Nhà vua thực hiện nhiều chính sách khuyến khích nông dân sản xuất như: Miễn, giảm thuế nông nghiệp; tăng

Trang 25

cường nạo vét kênh mương, dẫn thủy nhập điền; tăng cường phát triển chợ nông thôn; xóa bỏ ngăn sông cấm chợ v.v Vì thế nông nghiệp thời kỳ này phát triển khá mạnh [13]

- Tháng 4/1945, Hồ Chủ Tịch trong lễ bế giảng khóa chỉnh huấn cán bộ tại Việt Bắc, Người đã căn dặn các cán bộ ta trước khi ra về: “Các chú ra về phải làm tốt công tác khuyến nông, ra sức phát triển nông nghiệp, chống giặc đói, diệt giặc dốt”, người người thực hiện “Hũ gạo tiết kiệm” [1]

- Từ năm 1950-1957, chủ yếu từ năm 1955-1956 chúng ta thực hiện cải cách ruộng đất (CCRĐ), thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng” Đây là cuộc cách mạng lớn chưa từng có trong lịch sử nông nghiệp nước ta Chúng ta

đã tịch thu hơn 81 vạn ha ruộng đất của địa chủ , 106.448 trâu bò cùng với 1.846.000 nông cụ chia cho 2.104,158 hộ nông dân và nhân dân lao động (72,8% hộ nông thôn miền Bắc) Kết quả này đã tạo điều kiện và khích lệ nông dân ra sức tăng gia sản xuất [1]

- Từ năm 1956-1958, kế tiếp ngay sau CCRĐ nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ thực hiện “Đổi công, vần công”, nông dân tương thân tương ái giúp nhau trong sản xuất nông nghiệp [13]

- Năm 1960 ở miền Nam lập các Nha Khuyến nông trực thuộc Bộ cải cách điền địa Nông-Ngư mục Thành lập các Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (HTX) bậc thấp, 1968 HTX bậc cao, 1974 HTX toàn xã Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp vào giai đoạn này có một ý nghĩa lịch sử lớn lao Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp nông dân “Cùng làm cùng hưởng” đã tạo điều kiện cực kỳ quan trọng giúp cho Đảng và Nhà nước huy động được mức độ tối đa sức người, sức của phục vụ cho tiền tuyến, phục vụ cho công cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất Đất nước Công tác khuyến nông giai đoạn này chủ yếu triển khai đến HTX Phương pháp

Trang 26

khuyến nông chủ yếu đưa TBKT nào sản xuất, xây dựng các mô hình HTX sản xuất tiến bộ như: HTX Tân Phong, HTX Vũ Thắng Thái Bình [13]

- Năm 1961 sinh viên các trường Đại học nông nghiệp tham gia đi thực

tế sản xuất nông nghiệp tại các HTX, nông trường quốc doanh là một trong những nội dung đào tạo quan trọng của nhà trường nhằm thực hiện phương châm đào tạo “Học kết hợp với hành”; thực hiện thực tiễn hóa tay nghề của các sinh viên nông nghiệp [15]

- Từ năm 1963-1973, Bộ Nông nghiệp tổ chức các “Đoàn chỉ đạo sản xuất nông nghiệp giúp ”các tỉnh Các Đoàn chỉ đạo sản xuất nông nghiệp là

tổ chức nông nghiệp của Chính phủ do Bộ Nông nghiệp tổ chức và quản lý nhưng hoạt động giúp các địa phương Hoạt động của Đoàn chỉ đạo sản xuất nông nghiệp thực chất làm các công việc khuyến nông như giúp các địa phương thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, đưa các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất Phấn đấu thực hiện mục tiêu 5 tấn thóc/ha [13]

- Năm 1966 Thái Bình là tỉnh đầu tiên ở miền Bắc đạt 5 tấn thóc/ha Năm 1974 toàn miền Bắc đạt 5 tấn thóc/ha Năm 1988 huyện Hưng Hà (Thái Bình) đạt 10 tấn thóc/ha

- Từ năm 1964-1980 nhìn chung nông nghiệp trì trệ kém phát triển, đời sống nông dân gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân có nhiều nhưng chủ yếu do chiến tranh Chúng ta phải tập trung mọi nỗ lực cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Mặt khác sau giải phóng miền Nam năm 1975 đến 1980 miền Bắc vẫn còn duy trì HTX sản xuất nông nghiệp là một thực tế bất cập mất cân đối giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản suất [13]

- Trước thực trạng sản xuất nông nghiệp trì trệ và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tháng 1 năm 1981, Chỉ thị 100 của BCH TW Đảng:

Trang 27

“Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động”, còn gọi là “Khoán 100” được ra đời HTX nông nghiệp chỉ quản lý 5 khâu: Đất- nước- giống- phân bón và bảo vệ thực vật còn toàn bộ các khâu khác khoán cho nhóm và người lao động “Khoán 100” đã có tác dụng to lớn khích lệ nông dân sản xuất Ngoài sản lượng nông sản phải nộp HTX còn lại người nông dân được

tự do sử dụng

- Sau 7 năm thực hiện “Khoán 100” Đảng ta xem xét rút kinh nghiệm:

“Khoán 100” có nhiều ưu điểm thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhưng vẫn còn nhiều hạn chế: Nông dân chưa thực sự chủ động sản xuất kinh doanh

có hiệu quả Trên đồng ruộng, ao hồ, chuồng trại chăn nuôi người nông dân chưa có thể chủ động sản xuất kinh doanh vì những khâu then chốt như giống, phân bón nông dân vẫn phải phụ thuộc vào sự quản lý của HTX Mảnh đất họ trồng trọt vụ này vụ sau có thể thay đổi nên không ai nghĩ đến thâm canh bảo vệ và duy trì độ phì của đất để vụ sau năng suất cao hơn vụ trước Thứ nữa nông dân còn phải đóng góp nhiều khoản như nộp sản của

5 khâu HTX quản lý và đóng góp quỹ phúc lợi Những hộ nông dân có vốn, có lao động, có trình độ dân trí cao sản xuất có hiệu quả Có nhiều hộ nông dân cuộc sống vẫn không khỏi đói nghèo do bởi nguồn lực sản xuất thiếu lao động, thiếu vốn; do gặp rủi ro trong cuộc sống; do trình độ dân trí thấp sản xuất không có hiệu quả đã dẫn đến nợ sản nhiều vụ, nhiều năm Chính vì vậy 5/4/1988, Bộ chính trị BCH TW Đảng khóa V ra NQ 10: “Cải tiến quản lý kinh tế trong nông nghiệp”, còn gọi là “Khoán 10” NQ 10 được thực hiện và hoàn thiện vài năm sau đó đã chuyển đổi hẳn cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp Ruộng đất giao cho nông dân quản lý lâu dài 20 năm đối với đất nông nghiệp, 50 năm đối với đất lâm nghiệp Chuyển đổi từ cơ chế sản xuất tập thể tự cung tự cấp, sản xuất theo kế hoạch hóa Nhà nước sang sản xuất kinh tế hộ gia đình và trang trại Người

Trang 28

nông dân chủ động sản xuất kinh doanh trên mảnh đất, ao hồ, chuồng trại của mình theo hướng nông nghiệp hàng hóa có sự điều tiết của Nhà nước Nông nghiệp của đất nước có cơ hội ngày càng phát triển mạnh [12]

- Ngay năm 1988, An Giang khá sáng tạo đã vận dụng cơ chế sản xuất mới trong điều kiện cụ thể của địa phương, học tập kinh nghiệm của các nước thành lập Trung tâm Khuyến nông nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp của nông dân trong tỉnh

- Năm 1991, cũng như An Giang, Bắc Thái thành lập Trung tâm Khuyến nông

- Năm 1992, Để điều phối và lãnh đạo công tác khuyến nông của đất nước, Bộ Nông nghiệp thành lập “Ban điều phối Khuyến nông”

- Do nhu cầu bức súc của sản xuất, ngày 2/3/1993, Thủ tướng Chính phủ ra NĐ 13/CP về việc thành lập hệ thống Khuyến nông, Khuyến lâm, Khuyến ngư của đất nước

* Sau cuối năm 1993

Khuyến nông cây trồng nông nghiệp đã tập trung vào các chương trình khuyến nông trọng điểm được Chính phủ phê duyệt và đã đáp ứng nhu cầu của người dân Nhiều tiến bộ kỹ thuật mới được chuyển tải đến nông dân và được áp dụng rộng rãi vào sản xuất thông qua xây dựng các mô hình trình diễn Sau đây là một số chương trình điển hình, có hiệu quả rõ rệt nhất [13]

- Chương trình khuyến nông sản xuất hạt giống lúa lai F1

Nhờ thực hiện phương châm “đi tắt đón đầu, vừa triển khai vừa nghiên cứu", đã áp dụng thành công quy trình công nghệ sản xuất hạt giống F1 của thế giới cho một số tổ hợp lai: Nhị ưu 838, Nhị ưu 63, Bác ưu 64…, đạt mục tiêu đề ra, đồng thời tiết kiệm cho Nhà nước hàng trăm tỷ đồng

- Chương trình khuyến nông phát triển lúa lai thương phẩm

Từ năm 1993 đến nay chương trình khuyến nông đã hỗ trợ 8.114 tỷ đồng, xây dựng được 2.258.335 ha trình diễn (diện tích cộng dồn) Trong

Trang 29

những năm gần đây diện tích gieo cấy lúa lai thương phẩm đạt từ 530 - 630 ngàn ha, năng suất bình quân tăng so với lúa thuần 10 - 15 tạ/ha Như vậy, nhờ phát triển lúa lai đã làm tăng sản lượng lúa lên 700.000 tấn/năm (tương đương 1.260 tỷ đồng/năm) Địa bàn phát triển lúa lai thương phẩm không ngừng mở rộng không chỉ ở Đồng bằng sông Hồng, Trung du Miền Núi phía Bắc mà còn mở rộng ra các tỉnh Duyên hải Miền Trung và Tây Nguyên

- Chương trình khuyến nông phát triển lúa chất lượng

Chương trình mới bắt đầu triển khai trong những năm gần đây, tập trung tại hai vùng sản xuất lúa chính là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, nhằm ổn định vùng sản xuất lúa hàng hoá có chất lượng cao, bảo đảm nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Từ kết quả nghiên cứu, chọn tạo và nhập nội một số giống lúa có chất lượng cao, khuyến nông đã tập trung tổ chức xây dựng mô hình trình diễn và nhân nhanh các giống lúa: Bắc Thơm 7, Hương Thơm 1, các giống lúa P, nhóm lúa đặc sản (Tám Xoan, Dự Hương, Nếp Cái Hoa Vàng, Nàng Hương chợ Đào), OM1490, OMSC2000, VND.95-20, MTL.250 để cung cấp cho nông dân

- Chương trình khuyến nông chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ

Nội dung cơ bản của chương trình là chuyển một phần diện tích trồng lúa hiệu quả kinh tế thấp sang trồng các cây trồng khác như: ngô, lạc, đậu tương, rau, bông có hiệu quả kinh tế cao hơn ở tất cả các tỉnh, đặc biệt là các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long Tăng thêm một vụ lúa trên chân đất ngọt hoá bán đảo Cà Mau; tăng thêm một vụ màu trên chân đất bỏ hoá ở các tỉnh Miền Núi phía Bắc; tăng thêm vụ rau xuân, đậu tương hè trên chân đất 2 vụ lúa + 1 vụ đông.… ở nhiều vùng khác So với chế độ canh tác cũ, chế độ canh tác mới đều cho thu nhập tăng từ 2-3 triệu đồng/ha, cá biệt

có những mô hình tăng hơn 10 triệu đồng/ha trên diện rộng như: mô hình tăng thêm một vụ trên chân đất 2 vụ lúa hoặc 2 vụ lúa - 2 vụ rau ở Đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ, Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 30

- Chương trình khuyến nông phát triển ngô lai

Chương trình khuyến nông phát triển ngô lai được ngân sách hỗ trợ 10,046 tỉ đồng, triển khai ở quy mô trên 12.000 ha (bao gồm sản xuất hạt giống và thâm canh) với gần 9.000 hộ nông dân tham gia Đến nay hầu hết các tỉnh trong cả nước đã làm chủ được quy trình công nghệ sản xuất hạt giống, tiêu biểu là: Sơn La, Lai Châu, Hà Tây, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Long An, Đồng Nai, Tây Ninh, Quảng Ninh Năng suất bình quân đạt

2 - 2,5 tấn/ha; giá thành 1 kg hạt giống chỉ bằng 1/2 so với giá giống nhập nội cùng chủng loại và phẩm cấp Các giống được sử dụng trong mô hình

là VN10, LVN20, HQ2000, 9698, DK888, DK999, C919 Từ chỗ phải hoàn toàn nhập nội hạt giống, chúng ta đã tự sản xuất được hạt giống ngô lai, hàng năm không phải bỏ khoảng 20 triệu USD để nhập hạt giống ngô

từ nước ngoài

Chương trình phát triển ngô lai đã nâng cao năng suất ngô lên đáng kể

Từ chỗ năng suất ngô chỉ đạt 21,1 tạ/ha năm 1995, đến năm 2004 đã đạt được trên 32 tạ/ha, tăng 52,6% Tỉ lệ sử dụng ngô lai trong sản xuất ngày một tăng nhanh, năm 1992 chỉ đạt 20%, năm 2004 đạt trên 80% diện tích Đây là một trong những chương trình khuyến nông được đánh giá là đem lại hiệu quả kinh tế cao và được nông dân áp dụng rộng rãi vào sản xuất

- Chương trình khuyến nông phát triển cây ăn quả

Chương trình đã tập trung vào các nội dung: cải tạo vườn tạp, xây dựng vườn giống tốt, xây dựng vườn cây ăn quả thâm canh, với kinh phí hỗ trợ là 24,3 tỉ đồng Thông qua chương trình này đã ứng dụng thành công công nghệ nhân giống chất lượng như: ghép đoạn cành đối với nhãn, vải…vi ghép đỉnh sinh trưởng đối với cây có múi (cam, quýt, bưởi), nhân dứa Cayene bằng cách nhân chồi nách và giâm hom thân Đồng thời chương trình tổ chức thi bình tuyển, chọn lọc, nhân giống, nhập nội đối với những giống có chất lượng cao

Trang 31

để nhân nhanh ra sản xuất như: bưởi Phúc Trạch, bưởi Da Xanh, bưởi Năm Roi, xoài cát Hoà Lộc, xoài cát Chu, nhãn lồng Hưng Yên, cam Xã Đoài, quýt Chum… Chương trình cũng chuyển giao thành công những tiến bộ kỹ thuật mới và được áp dụng rộng rãi vào sản xuất như kỹ thuật đốn tỉa, bảo quản, sử dụng chất điều hoà sinh trưởng để kích thích cây ra hoa, đậu quả trái vụ nhằm rải vụ thu hoạch, tăng hiệu quả sản xuất

- Chương trình khuyến nông phát triển cây công nghiệp dài ngày

Những mô hình khuyến nông về cây công nghiệp dài ngày đã được triển khai ở 45 tỉnh, thành, thu hút trên 15.000 hộ nông dân tham gia với kinh phí 39,8 tỉ đồng trên tổng diện tích mô hình là 10.031 ha Nội dung của chương trình là phổ cập nhanh các tiến bộ kỹ thuật mới về giống, xây dựng vườn ươm, kỹ thuật canh tác nhằm nâng cao năng suất, cung cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nông dân Chương trình khuyến nông đã cung cấp cho sản xuất hàng chục triệu cây giống tốt đảm bảo chất lượng như: một số giống chè có chất lượng cao (LDP1, LDP2, TRI777); giống cao su (PB235, PB255, VM515, GT1, RRIM 600 ) và đã đưa vào sản xuất một số dòng điều thấp cây cho năng suất cao

- Chương trình khuyến nông phát triển cây công nghiệp ngắn ngày

Nội dung của chương trình là nhân nhanh các giống mới có năng suất

và chất lượng cao, phổ cập các tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất Đến nay chương trình đã cung cấp cho sản xuất hàng trăm nghìn tấn các loại giống có chất lượng tốt như giống lạc L14, MD7, MD9 ; giống đậu tương ĐT84, DT94, DT95, DT99 ; giống mía ROC1, ROC10, ROC16, Quế đường 15, Quế đường 11.…

- Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về khuyến lâm

Thời kỳ 1993-2010, công tác khuyến lâm đã trải qua hai giai đoạn: giai giai đoạn thực hiện 8 chương trình khuyến lâm theo QĐ -164 của Thủ tướng

Trang 32

Chính phủ (từ 1993-2004) và phục vụ mục tiêu Chiến lược phát triển lâm nghiệp (giai đoạn 2005 đến 2008) Khuyến lâm đã triển khai ở 55 tỉnh với 894

mô hình, 40.179 hộ tham gia, kinh phí trung ương 92,3 tỷ đồng [28]

Mục tiêu chính của các chương trình khuyến lâm là nâng cao nhận thức của người dân về phát triển và quản lý rừng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật gây trồng các loài cây lâm nghiệp, từng bước đưa diện tích đất dốc ở vùng núi do phá rừng làm nương rẫy nhiều năm vào canh tác có hiệu quả, góp phần tăng

độ che phủ của rừng, tạo thu nhập cho nông dân, ổn định cuộc sống, góp phần bảo vệ và phát triển rừng bền vững

1.3.3 Chức năng nhiệm vụ của khuyến nông - khuyến lâm của Việt Nam

Hệ thống khuyến nông - khuyến lâm Việt Nam có những chức năng sau:

- Phổ biến những tiến bộ trồng trọt, chăn nuôi, công nghệ chế biến nông lâm thủy sản và những kinh nghiệm điển hình tiền tiến cho nông dân

- Bồi dưỡng và phát triển kiến thức quản lý kinh tế cho nông dân để sản xuất kinh doanh có hiệu quả

- Phối hợp với các cơ quan cung cấp cho nông dân những thông tin

về thị trường giá cả nông sản đẻ nông dân bố trí sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao

Để phù hợp với thực tế sản xuất mới hiện nay, Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/1/2010 đã qui định mục tiêu khuyến nông - khuyến ngư như sau:

- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của người sản xuất để tăng thu nhập, thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt động đào tạo nông dân về kiến thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợ nông dân sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, thích ứng các điều kiện sinh thái, khí hậu và thị trường

Trang 33

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường

- Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia khuyến nông

* Một số chương trình khuyến lâm chính

- Chương trình trồng rừng thâm canh cây nguyên liệu: Xây dựng được khoảng 28.635 ha mô hình trình diễn gồm các loài cây: Bạch Đàn lai, Keo Lai, các loài Keo, bạch đàn tuyển chọn cho năng suất cao trên địa bàn các tỉnh Miền núi phía bắc, Miền trung và Tây nguyên [26]

- Chương trình trồng rừng thâm canh cây đặc sản: trồng được khoảng 12.000ha mô hình trình diễn bao gồm các loài cây chủ yếu: Thảo Quả, Sa Nhân, Dẻ Ván, Trám lấy quả, Tre lấy măng dưới tán rừng, tập trung chủ yếu

ở các tỉnh Miền núi phía Bắc và Bắc Trung bộ [27]

- Chương trình thâm canh cây gỗ lớn: Xây dựng trên 6.277 ha mô hình trình diễn trồng thâm canh cây gỗ lớn bao gồm các loài cây mọc nhanh, cây bản địa với các phương thức khác nhau nhằm góp phần cung cấp nguyên liệu

gỗ lớn cho chế biến, xuất khẩu Chương trình được thực hiện ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, Miền Trung và Tây Nguyên [23]

- Chương trình canh tác bền vững trên đất dốc: Xây dựng trên 967 ha

mô hình trình diễn các kỹ thuật canh tác trên đất dốc bền vững nhằm chuyển giao các kỹ thuật canh tác trên đất dốc bền vững cho nông dân, góp phần thay đổi nhận thức của người dân về tập tục canh tác lạc hậu trên đất dốc Chương trình thực hiện ở các tỉnh miền núi phía Bắc [24]

Trang 34

- Nghiên cứu một số cơ sở khoa học xúc tiến tái sinh keo tai tượng tại

các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam [15]

- Nghiên cứu ảnh hưởng xủ lý thực bì, làm đất và bón phân đến sinh trưởng một số loài keo trồng tại Việt Nam [6]

+ Các mô hình khuyến lâm tại khu vực nghiên cứu gồm: Trồng cây lấy

gỗ lớn; Trồng rừng nguyên liệu; Lâm sản ngoài gỗ; NLKH; Chủ yếu là trồng rừng nguyên liệu, không có mô hình cải tạo rừng tự nhiên

+ Phương pháp xây dựng mô hình là tương đối thống nhất bao gồm các bước: Điều tra khảo sát; Chọn hộ; Lập kế hoạch; Tập huấn; Thăm quan học tập; Xây dựng mô hình; Giám sát đánh giá và nhân rộng Có sự tham gia của người dân, nhưng kết quả của các nơi không giống nhau do thời gian, trình độ

và trách nhiệm của cán bộ quyết định

+ Mô hình trồng rừng nguyên liệu hiệu quả cao được nhiều địa phương chấp nhận và nhân rộng như: Mô hình trồng rừng thâm canh cây Keo tai tượng; Mô hình trồng rừng Keo hạt nhập khẩu từ Úc; Mô hình Keo lai; Bạch đàn U6, PN14, Urophyla

+ Mô hình LSNG được người dân chấp nhận và nhân rộng là mô hình Thảo quả, Mô hình Trúc sào; Mô hình Mây nếp, xong việc lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng còn hạn chế

+ Mô hình trồng rừng cây gỗ lớn: Giổi xanh; Tếch; Lát Mexico là không thành công

+ Mô hình NLKH được người dân chấp nhận và nhân rộng là mô hình R.V.A.C.Rg; R.V

* Đánh giá chung

Qua 15 năm thực hiện chương trình khuyến lâm, nhất là các mô hình trình diễn tổ chức trồng rừng đã thực sự góp phần quan trọng trong chiến lược xây dựng lại vốn rừng, phát triển nghề rừng nhân dân, cải thiện môi trường và

Trang 35

tăng thu nhập hàng năm cho nông dân Chính vì vậy, nhiều mô hình đã được đón tiếp các địa phương khác đến thăm quan học tập, trao đổi kinh nghiệm, học cách tổ chức [1]

Mô hình khuyến lâm cũng đã góp phần trong việc xoá đói giảm nghèo, thu hút và tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động ở nông thôn trong những năm qua Tuy mới 15 năm làm mô hình khuyến lâm, nhiều loài cây lâm nghiệp chưa đến thời kỳ thu hoạch, song trong mô hình khuyến lâm đã thực hiện phương thức nông lâm kết hợp, trồng cây ngắn ngày kết hợp cây dài ngày, nên nhiều mô hình đã cho thu hoạch bình quân hàng năm từ 3 - 5 triệu đồng/năm Nhiều vườn rừng, trại rừng cho thu hoạch từ 5- 10 triệu đồng/năm Đặc biệt những mô hình trồng cây lâm đặc sản như Tre măng, Quế, Hồi, Bời lời đỏ đã cho thu nhập cao Các mô hình khuyến lâm đã thực sự chuyển đổi được nhận thức của người dân miền núi từ chỗ chỉ biết khai thác lợi dụng rừng sang biết kinh doanh tổng hợp, tạo thu nhập từ đất rừng, đồng thời tái tạo lại rừng đảm bảo lợi ích cho toàn xã hội [16]

Công tác khuyến lâm được nhiều tổ chức quốc tế và phi Chính phủ quan tâm trong các dự án phát triển lâm nghiệp Nhiều cách tiếp cận và phương pháp khuyến lâm mới đã được áp dụng và bước đầu được thể chế hoá

ở một số địa phương

Trong những năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng khuyến lâm Việt nam đã tích cực, chủ động trong hoạt động, năng động và sáng tạo trong công tác, liên tục cải tiến để hoạt động khuyến nông đạt kết quả

và hiệu quả cao, có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nước ta

Hoạt động khuyến lâm đã bám sát các chương trình sản xuất nông nghiệp trọng điểm của Nhà nước và địa phương để chuyển tải thành công nhiều tiến bộ kỹ thuật, góp phần tăng nhanh sản lượng nông, lâm, ngư nghiệp

Trang 36

trên cả nước, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và vệ sinh môi trường Khuyến nông là người bạn gần gũi, tin cậy của nhà nông, đồng hành với nông dân trong sản xuất và đời sống Khuyến lâm đã giúp nông dân nâng cao trình

độ dân trí, trình độ kỹ thuật và kỹ năng tổ chức, quản lý sản xuất để tăng thu nhập, tạo cuộc sống tinh thần và vật chất ngày càng tốt hơn

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đạt được, công tác khuyến nông vẫn còn một số hạn chế, tồn tại như: tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán vẫn chưa được khắc phục một cách căn bản; các phương pháp khuyến lâm tiên tiến chưa được áp dụng rộng rãi; chất lượng đội ngũ cán bộ khuyến nông- khuyến lâm chưa đồng đều, chưa đáp ứng được kỳ vọng của ngành và nông dân

1.3.4 Điều kiện tự nhiên - Kinh tế xã hội vùng nghiên cứu

* Vị trí địa lý

Tỉnh Bắc Giang có diện tích 382.785 ha, nằm cách thủ đô Hà Nội 50km

về phía Bắc, cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị 110 về phía Nam, cách cảng Hải Phòng hơn 100 km về phía Tây

Toạ độ địa lý: N 21o

07’ - 21o 37’/E 105o 53’ - 107o 02’

Phía Bắc và Đông Bắc tiếp giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp thành phố Hà Nội và tỉnh Thái Nguyên, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh

Vị trí địa lý của tỉnh Bắc Giang rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế,

xã hội, nói chung và phát triển sản xuất lâm nghiệp nói riêng vì nằm tiếp giáp với các tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên, Bắc Ninh và Lạng Sơn, đây là những thị trường hàng năm tiêu thụ khối lượng lớn sản phẩm gỗ rừng sản xuất của vùng Đông Bắc

* Khí hậu

Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Đông Bắc Một năm có bốn mùa rõ rệt: Mùa Đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân, thu khí hậu ôn hòa nhiệt độ trung bình 22 - 230C, độ ẩm dao động lớn từ 73 - 87%

Trang 37

Lượng mưa hàng năm 1500-1700 mm Độ ẩm không khí trung bình 82% Nắng trung bình hàng năm từ 1.500 - 1.700 giờ, thuận lợi cho phát triển cây trồng

Chế độ gió: Gió Đông Nam về mùa hè và gió Đông Bắc thường kèm mưa rét, sương muối vào mùa đông

Với đặc điểm trên, thời tiết Bắc Giang tương đối thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp Tuy nhiên, trong năm có xảy ra mưa rét và sương muối ở một số huyện vùng núi cao gây chết cây Keo khi nhiệt độ xuống quá thấp 5-70

kéo dài hoặc gió lốc cục bộ gây đổ gẫy đối với những cây sinh trưởng nhanh, gỗ mềm Vì vậy trong quá trình quy hoạch và chọn lựa cơ cấu cây trồng cũng cần phải xem xét đến những yếu tố bất lợi của thời tiết

* Thuỷ văn

Bắc Giang có 3 con sông lớn chảy qua: sông Thương, sông Cầu và sông Lục Nam, với tổng chiều dài 347 km Lưu lượng lớn và có nước quanh năm Theo số liệu tại hai trạm thuỷ văn Bắc Giang và Cầu Sơn trên sông Thương cho thấy: Mực nước sông trung bình tại Phú Thượng là 2,18m, mực nước trung bình mùa lũ 4,3m Lưu lượng mùa kiệt nhỏ nhất Qmin=1m3

/s Lưu lượng lũ lớn nhất Qmax=1.400m3/s Mực nước lũ lớn nhất tại Bắc Giang

từ 6,2-6,8m Ngoài sông suối, Bắc Giang còn có nhiều hồ, trong đó có hồ Cấm Sơn và Khuôn Thần Hồ Cấm Sơn nằm ở khu vực giáp tỉnh Lạng Sơn, dài 30 km, nơi rộng nhất 7 km và chỗ hẹp nhất 200m Hồ Cấm Sơn có diện tích mặt nước 2.700 ha, vào mùa mưa có thể lên tới 3.000 ha Hồ Khuôn Thần

có diện tích mặt nước 240 ha và lòng hồ có 5 đồi đảo được phủ kín bởi rừng thông trên 20 tuổi Lượng nước mặt, nước mưa, nước ngầm đủ khả năng cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt Chế độ thuỷ văn tương đối thuận tiện cho vận tải thuỷ và cung cấp nước cho sản xuất, sinh hoạt và phát huy được khả

Trang 38

năng giữ và cung cấp nước của các hồ đập cần có thảm rừng làm nguồn sinh thuỷ vào mùa khô và hạn chế xói lở vào mùa mưa

* Địa chất

Nền địa chất tỉnh Bắc Giang là một bộ phận của cấu trúc địa chất vùng Đông Bắc, theo Vũ Tự Lập xác định là phần rìa của nền cổ Hoa Nam, hình thành trong giai đoạn trước địa tào, do chuyển động kiến tạo Proterozoi Các thành tạo ở phần móng dưới cùng chủ yếu là đá siêu biến chất đến tướng đá Amfibolit tuổi Proterozoi Phủ lên trên là các thành tạo của phức hệ địa máng Paleozoi sớm giữa, các phức hệ của lớp phủ dạng nền tuổi Cacbon - Pecmi, trên cùng là các thành tạo Neogen - Đệ tứ lấp đầy các vùng trũng và các địa hào tân kiến tạo Phần lớn vùng đồi núi Bắc Giang được hình thành từ các đá trầm tích kỷ Triat, khu vực đồng bằng là phần Tây Nam của đới sụt vùng An Châu với các thành tạo màu đỏ tuổi Jura - Crêta chiếm ưu thế Trong vùng có các nhóm nền vật chất tạo đất chủ yếu sau:

- Nhóm đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn bao gồm các loại

đá sét, phiến sét, phiến mica

- Nhóm đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô bao gồm các loại đá

sa thạch, cuội kết, sỏi kết, cát kết, sạn kết, dăm kết, pút đinh

- Nhóm các sản phẩm phù sa cũ và mới

Ngoài ra còn có nhóm nền vật chất có nguồn gốc trầm tích hữu cơ (than

đá, than bùn) nhưng diện tích không đáng kể

Nền địa chất trên không tạo ra các nhóm đất có tầng dày và giàu dinh dưỡng cho cây trồng dài ngày

* Các dạng đất đai

Kết quả điều tra, xây dựng bản đồ dạng đất, trên diện tích rừng sản xuất

trong toàn tỉnh Bắc giang có 36 đơn vị đất, thuộc 2 nhóm đất

Trang 39

- Nhóm đất Feralit điển hình trên núi thấp và đồi: Do hình thành ở đai

cao từ 50 - 700 m, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên quá trình hình thành đất chủ đạo là quá trình Feralit (Quá trình tích luỹ Fe3+

và Al3+ tại tầng B) đã tạo cho đất mầu sắc rực rỡ Quá trình phân giải chất hữu cơ để tổng hợp mùn mạnh hơn quá trình tích luỹ chất hữu cơ nên đất không có tầng thảm mục hoặc có nhưng rất mỏng Quá trình rửa trôi diễn ra mãnh liệt Tuy nhiên

do hình thành trên những nền vật chất tạo đất khác nhau nên mỗi loại đất có những đặc trưng hình thái và tính chất lý, hoá học khác nhau

+ Đất Feralit vàng nhạt trên đá trầm tích và biến chất hạt thô: Đất có

thành phần cơ giới nhẹ, tỷ lệ sét vật lý ở các tầng < 25%, thấm nước tốt nhưng giữ nước kém, cấu trúc kém bền vững, dễ bị xói mòn, rửa trôi Quá trình sét hoá mạnh nhưng khoáng sét chủ yếu là Kaolinit có khả năng hấp thụ kém nên

đất nghèo dinh dưỡng

+ Đất Feralit vàng đỏ trên đá trầm tích và biến chất hạt mịn: Đất

thường có mầu sắc rực rỡ, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến sét, độ phì

tự nhiên của đất từ nghèo đến trung bình tùy theo trạng thái của thảm thực vật che phủ Đất có kết cấu bền vững, ít đá lẫn, khả năng trương giữ nước cao, hạn chế được rửa trôi, xói mòn

+ Các sản phẩm phù sa cũ và mới: Đất được hình thành do kiểu địa

hình thấp, độ dốc thoải Đất thường có mầu nâu và nâu xám, tầng đất dầy, tơi

xốp, có sự phân lớp khá rõ ràng

- Nhóm dạng đất đồng bằng (D ): Đất được hình thành trong điều kiện

khí hậu nhiệt đới ẩm có mùa đông lạnh, do kiểu địa hình thấp, trũng, độ dốc thoải, trên kiểu nền vật chất là các sản phẩm phù sa cũ, mới, các sản phẩm lũ tích, dốc tụ Đất thường có mầu nâu và nâu xám, tầng đất dầy, tơi xốp, có sự phân lớp khá rõ ràng Lập địa đồng bằng, bồn địa và thung lũng có độ phì

Trang 40

khá, độ dốc thoải, gần nguồn nước, thuận tiện cho việc đi lại nên đã được khai thác và sử dụng triệt để trong sản xuất nông nghiệp và là nơi tập trung dân cư

Diện tích đất quy hoạch cho rừng sản xuất có 110.782,8ha, chiếm 98,08% tổng diện tích đất rừng sản xuất là đất Feralit điển hình trên núi thấp

và đồi ( N3 F ); ( Đ F ), loại đất có tiềm năng cho cây rừng sinh trưởng và phát triển

* Đặc điểm kinh tế xã hội

- Nguồn nhân lực

Theo niên giám thống kê 22009, toàn tỉnh Bắc Giang có 09 huyện và

01 thành phố với 230 xã, phường và thị trấn Dân số 1.560.171 người Mật độ dân số bình quân 407,6 người/km2, thấp nhất là huyện Sơn Động (bình quân

81 người/km2), cao nhất là thành phố Bắc Giang (3.1989 người/km2) Tỷ lệ tăng dân số bình quân 1,15%

Dân tộc: Bắc Giang có 27 dân tộc anh em: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chí, Hoa, Mường, Dao, Cao Lan trong đó đông nhất là dân tộc Kinh (chiếm 87,1%), các dân tộc ít người chiếm khoảng 12,9 %

- Thực trạng kinh tế xã hội

Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 của tỉnh là 8,7%, cao hơn mức bình quân chung của cả nước (6,9%) Thu nhập bình quân đầu người đạt 564 USD, tăng gần gấp 2 lần so với năm 2005 (305 USD) Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội từ năm 2006 - 2010 ước đạt gần 30.000 tỷ đồng, gấp 3 lần giai đoạn 2001-2005 Thu hút thêm 333 dự án đầu tư trong nước và 55 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài Nâng tổng số dự án đầu tư trong nước lên 484 dự án, tổng vốn đăng ký 26.484 tỷ đồng và 81 dự án đầu

tư trực tiếp nước ngoài, tổng vốn đăng ký 503,5 triệu USD Hệ thống cơ sở hạ

tầng giao thông, thuỷ lợi, giáo dục, y tế tiếp tục được quan tâm, đầu tư xây dựng

Lĩnh vực văn hoá - xã hội đạt nhiều kết quả tích cực; an sinh xã hội được bảo

Ngày đăng: 06/08/2015, 16:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Nguyễn Hữu Hồng (2003), "Một số kết quả nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác trên đất dốc tại Thái Nguyên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác trên đất dốc tại Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Hữu Hồng
Năm: 2003
12. Kenneth G. MacDicken et al (1991), Cây cố định đạm trong việc trồng rừng củi và cải thiện đất Việt Nam. FAO Rome Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cố định đạm trong việc trồng rừng củi và cải thiện đất Việt Nam
Tác giả: Kenneth G. MacDicken et al
Năm: 1991
13. Khoa Kinh tế phát triển nông thôn, ĐHNN I (2005), Cẩm nang khuyến nông, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang khuyến nông
Tác giả: Khoa Kinh tế phát triển nông thôn, ĐHNN I
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
15. Phạm Xuân Phương, Nguyễn Văn Tuấn (2003), Giáo trình kinh tế lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế lâm nghiệp
Tác giả: Phạm Xuân Phương, Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
16. Nguyễn Xuân Quát (1994), Sử dụng đất bền vững, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng đất bền vững
Tác giả: Nguyễn Xuân Quát
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
17. Nguyễn Xuân Quát (1994), Cây lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Xuân Quát
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
18. Rosemary Morrow (1994), Hướng dẫn sử dụng đất đai theo nông nghiệp bền vững, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng đất đai theo nông nghiệp bền vững
Tác giả: Rosemary Morrow
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
21. Dương Viết Tình, Trần Hữu Nghị (2012), Lâm nghiệp cộng đồng ở miền Trung Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, tr. 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm nghiệp cộng đồng ở miền Trung Việt Nam
Tác giả: Dương Viết Tình, Trần Hữu Nghị
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2012
23. Đỗ Doãn Triệu (1995), Xác định và đánh giá hiệu quả kinh tế trong trồng rừng thâm canh nguyên liệu giấy vùng Trung tâm Bắc Bộ, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định và đánh giá hiệu quả kinh tế trong trồng rừng thâm canh nguyên liệu giấy vùng Trung tâm Bắc Bộ
Tác giả: Đỗ Doãn Triệu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
24. Lê Sỹ Trung &amp; cộng sự (2009), “Điều tra đánh giá mô hình và các biện pháp canh tác nông lâm kết hợp tại các tỉnh Trung du miền Núi phía Bắc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra đánh giá mô hình và các biện pháp canh tác nông lâm kết hợp tại các tỉnh Trung du miền Núi phía Bắc
Tác giả: Lê Sỹ Trung &amp; cộng sự
Năm: 2009
25. Trần Thế Tục (1993), Sổ tay người trồng vườn , Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay người trồng vườn
Tác giả: Trần Thế Tục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1993
26. Viện Điều tra quy hoach rừng (1993), Cây gỗ rừng Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây gỗ rừng Việt Nam
Tác giả: Viện Điều tra quy hoach rừng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1993
27. Vụ Khoa học công nghệ - Bộ Lâm nghiệp, Kỹ thuật trồng một số loài cây rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng một số loài cây rừng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
29. Đặng Kim Vui và nnk (2007), Giáo trình nông lâm kết hợp, Nxb Nông nghiệp. II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình nông lâm kết hợp
Tác giả: Đặng Kim Vui và nnk
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp. II. Tài liệu tiếng Anh
Năm: 2007
30. Kenneth G. MacDicken et al (1988), “Nitrogen fexing trees for wastelands”, RAPA publication, Bangkok, pp. 372-377 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nitrogen fexing trees for wastelands
Tác giả: Kenneth G. MacDicken et al
Năm: 1988
31. Quat Nguyen Xuan, “Home garden systems in VietNam”, Conserving biodiversity outside protected areas. IUCN, 1995, pp. 726-729 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Home garden systems in VietNam
32. Victor O. Ramos, “Agroforestry technology information kit”, Depart.of Envir, and National resourses, OENR/IRR/FF, 1990, pp. 867-871.III. Tài liệu Internet 33. Agro.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agroforestry technology information kit
14. Vũ Văn Liết (1999), Bài giảng khuyến nông - ĐHNN I Khác
19. Sổ tay khuyến nông viên cơ sở (1999), Trung tâm Khuyến nông - khuyến lâm tỉnh Bắc Giang Khác
20. Tiêu chuẩn ngành 04-TCN-66-2003, Biểu điều tra kinh doanh rừng trồng của 14 loài cây chủ yếu, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ phương hướng giải quyết các vấn đề của đề tài - Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008-2012
Hình 2.1 Sơ đồ phương hướng giải quyết các vấn đề của đề tài (Trang 54)
Bảng 3.1. Thông tin về đối tƣợng điều tra đánh giá - Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008-2012
Bảng 3.1. Thông tin về đối tƣợng điều tra đánh giá (Trang 63)
Bảng 3.2. Định mức triển khai xây dựng mô hình - Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008-2012
Bảng 3.2. Định mức triển khai xây dựng mô hình (Trang 67)
Hình 3.1: Mô hình trồng bạch đàn lai - Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008-2012
Hình 3.1 Mô hình trồng bạch đàn lai (Trang 71)
Bảng 3.4: Kết quả điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng - Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008-2012
Bảng 3.4 Kết quả điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng (Trang 78)
Hình 3.3: Mô hình trồng tre bát độ - Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008-2012
Hình 3.3 Mô hình trồng tre bát độ (Trang 79)
Hình 3.4: Mô hình trồng cây hương bài - Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008-2012
Hình 3.4 Mô hình trồng cây hương bài (Trang 80)
Bảng 3.5: Kết quả dự tính hiệu quả kinh tế các mô hình khi đạt 7 tuổi - Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008-2012
Bảng 3.5 Kết quả dự tính hiệu quả kinh tế các mô hình khi đạt 7 tuổi (Trang 81)
Bảng 3.6: Nhận thức của người dân khi có mô hình khuyến lâm - Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008-2012
Bảng 3.6 Nhận thức của người dân khi có mô hình khuyến lâm (Trang 84)
Bảng 3.7: Kết quả về nhận thức và nhân rộng mô hình khuyến lâm - Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008-2012
Bảng 3.7 Kết quả về nhận thức và nhân rộng mô hình khuyến lâm (Trang 85)
Bảng 3.8. Dự kiến công việc cho một ha trồng, chăm sóc, bảo vệ, - Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008-2012
Bảng 3.8. Dự kiến công việc cho một ha trồng, chăm sóc, bảo vệ, (Trang 87)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w