1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY CẦM CỐ Ở NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU

84 307 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 909,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Dựa vào thời hạn tín dụng – Theo tiêu thức này tín dụng có thể phân chia * Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng – Theo tiêu thức này, tín dụng có thể được phân chia thành các loại

Trang 1

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

1.1 Lý luận cơ bản về tín dụng

1.1.1 Khái niệm và bản chất của tín dụng ngân hàng

1.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân

hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung:

 Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng

 Sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời hạn

 Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí

1.1.2 Chức năng, phân loại và vai trò của tín dụng ngân hàng

1.1.2.1 Chức năng của tín dụng ngân hàng

* Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở có hoàn trả

Thông qua chức năng này tín dụng đã trực tiếp tham gia điều tiết các nguồn vốn tạm thời thừa từ các cá nhân, tổ chức kinh tế để bổ sung kịp thời cho những doanh nghiệp, Nhà nước hay cá nhân đang gặp thiếu hụt về vốn

Trên thực tế vận dụng chức năng này của tín dụng được thể hiện thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng Đây là loại hình tín dụng gián tiếp của xã hội, nghĩa là quá trình tập trung và phân phối vốn phải trải qua các tổ chức trung gian Ngoài ra, trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển, chức năng của tín dụng còn được thể hiện bằng loại hình tín dụng trực tiếp như mua bán chịu hàng hoá

Trang 2

giữa các doanh nghiệp hay Nhà nước và các doanh nghiệp sẽ tự huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu trên thị trường chứng khoán …

Như vậy, trong điều kiện kinh tế thị trường cùng với sự đa dạng các hình thức tín dụngthì việc tổ chức phân phối tín dụngcũng được phong phú hơn, tạo điều kiện điều phối vốn linh hoạt và hiệu quả hơn

* Phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế

Thông qua quá trình tập trung và phân phối lại vốn, tín dụng góp phần phản ánh được tình hình phát triển nền kinh tế về các mặt như khối lượng tiền tệ nhàn rỗi trong

xã hội, nhu cầu vốn trong từng thời kỳ …

Trong hoạt động cho vay của ngân hang để góp phần đảm bảo an toàn cho nguồn vốn, ngân hang luôn thực hiện quá trình kiểm tra tình hình tài chính của đơn vị nhằm phát hiện kịp thời những trường hợp vi phạm chế độ quản lý kinh tế của Nhà nước Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng còn phản ánh kịp thời tình hình quản lý và sử dụng vốn của đơn vị có hiệu quả hay không

Như vậy với những chức năng trên sẽ góp phần giải quyết tình trạng mất cân đối cục bộ của nền kinh tế với những giải pháp khắc phục kịp thời Từ đó phát huy vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước

* Tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội

Hoạt động tín dụng đã góp phần tiết kiệm tiền mặt và chí phí lưu thông cho xã hội được biểu hiện qua những điểm sau:

 Tín dụng phát huy chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ góp phần chuyển nhượng khoản vốn nhàn rỗi đang ở trạng thái đứng yên trong xã hội đưa vào chu chuyển để phục vụ trong sản xuất lưu thông hàng hóa Điều này nghĩa là đã góp phần tăng nhịp độ vòng quay của đồng tiền, giảm lượng tiền thừa

 Mặt khác, các chủ thể kinh tế có nhu cầu vốn còn phát hành các chứng từ có giá trị như tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu … đặc biệt những nước có điều kiện kinh tế phát triển lâu đời còn cho phép các kỳ phiếu hoặc các khế ước nợ được lưu thông và chuyển nhượng trong thời gian có hiệu lực làm phong phú thêm các phương tiện thanh toán và tiết kiệm đáng kể lượng tiền mặt cần thiết trong lưu thông

 Trong điều kiện hệ thống ngân hàng phát triển thì song song với quá trình tổ chức nghiệp vụ tín dụng sẽ là việc mở rộng nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt

Trang 3

Điều này cũng giảm nhu cầu về tiền mặt trong lưu thông đồng thời giảm những chi phí lưu thông khác như chi phí in ấn giấy bạc, vận chuyển tiền …

1.1.2.2 Phân loại tín dụng ngân hàng

* Dựa vào mục đích của tín dụng – Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có

thể phân chia thành các loại sau:

 Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ

 Cho vay tiêu dùng cá nhân là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền, ngày nay ngân hàng còn thực hiện các khoản cho vay

để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng

 Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu

 Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu kinh doanh xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu

* Dựa vào thời hạn tín dụng – Theo tiêu thức này tín dụng có thể phân chia

* Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng – Theo tiêu thức này, tín dụng có

thể được phân chia thành các loại sau:

 Cho vay không có bảo đảm là loại cho vay không có tài sản cầm cố, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn

để quyết định cho vay

 Cho vay có bảo đảm là loại cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo cho tiền vay như vay cầm cố, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác

Trang 4

* Dựa vào phương thức cho vay – Theo tiêu thức này, tín dụng có thể được

phân chia thành các loại sau:

 Cho vay theo món

 Cho vay theo hạn mức tín dụng

* Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay – Theo tiêu thức này, tín dụng có thể

được phân chia thành các loại sau:

 Cho vay chỉ một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn

 Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp

 Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể mà tuỳ khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào

1.1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế

 Góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển

Để thực hiện mục tiêu mở rộng sản xuất ở từng doanh nghiệp, yêu cầu về nguồn vốn là một trong những mối quan tâm hàng đầu được đặt ra Bởi vì, đẩy mạnh tiến độ phát triển sản xuất không thể chỉ trông chờ vào vốn tự có mà doanh nghiệp còn phải biết tận dụng các dòng chảy khác của vốn trong xã hội Từ đó, tín dụng ngân hàng với

tư cách là nơi tập trung đại bộ phận vốn nhàn rỗi sẽ là trung tâm đáp ứng nhu cầu vốn

bổ sung cho đầu tư phát triển Như vậy, tín dụng ngân hàng vừa giúp cho doanh nghiệp nhanh chóng đầu tư mở rộng sản xuất, vừa góp phần đẩy nhanh tốc độ tập trung và tích luỹ vốn cho nền kinh tế

Góp phần ổn định tiền tệ và ổn định giá cả

Với chức năng tập trung và tận dụng những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tín dụng ngân hàng đã trực tiếp giảm khối lượng tiền mặt tồn đọng trong lưu thông Lượng tiền dôi thừa này nếu không được huy động và sử dụng kịp thời có thể gây ảnh hưởng xấu đến tình trạng lưu thông tiền tệ dẫn đến mất cân đối trong quan hệ hàng – tiền và hệ thống giá cả bị biến động là điều không thể tránh khỏi Do đó, trong nền kinh tế bị lạm phát, tín dụng được xem như là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để làm giảm lạm phát

Góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội

Hoạt động tín dụng không chỉ đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp mà còn phục vụ cho các tầng lớp dân cư Trong nền kinh tế, ngoài các ngân hàng còn có hệ

Trang 5

thống những tổ chức tín dụng sẵn sàng cung cấp vốn vay cho các cá nhân để phát triển kinh tế gia đình, mua sắm nhà cửa, tư liệu sinh hoạt, … Bên cạnh đó, còn phát triển những loại hình như Ngân hàng chính sách xã hội, quỹ xoá đói giảm nghèo, Nhà nước còn thực hiện những chính sách ưu đãi nhằm mục đích cải thiện từng bước đời sống của nhân dân, tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, qua đó, góp phần ổn định trật tự, xã hội

1.2 Lý luận cơ bản về cầm cố tài sản

1.2.1 Khái niệm cầm cố tài sản

Căn cứ vào Luật dân sự, Cầm cố tài sản là việc một bên (bên cầm cố) giao tài

sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

1.2.2 Các bên trong cầm cố tài sản

1.2.2.1 Bên cầm cố tài sản

* Nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản:

 Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thoả thuận

 Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nếu có; trong trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền huỷ hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thờng thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố

 Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thoả thuận khác

* Quyền lợi của bên cầm cố tài sản:

 Yêu cầu bên nhận cầm cố đình chỉ việc sử dụng tài sản cầm cố trong trường hợp

có quy định, nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị

 Được bán tài sản cầm cố, nếu được bên nhận cầm cố đồng ý

 Được thay thế tài sản cầm cố bằng một tài sản khác nếu có thỏa thuận

 Yêu cầu bên nhận cầm cố giữ tài sản cầm cố trả lại tài sản cầm cố khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt

 Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố

Trang 6

1.2.2.2 Bên nhận cầm cố tài sản

* Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố tài sản:

 Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố

 Không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố; không được đem tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác

 Không được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu không được bên cầm cố đồng ý

 Trả lại tài sản cầm cố khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác

* Quyền lợi của bên nhận cầm cố tài sản:

 Yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản

1.2.4 Đối tượng của cầm cố tài sản

 Tài sản thực (vật có thực) như xe cộ, máy móc, hàng hoá, vàng, tàu biển, máy

bay, các loại khác

Tiền gồm tiền mặt, tiền trên tài khoản

 Giấy tờ có giá (giấy tờ trị giá được bằng tiền) như cổ phiếu, trái phiếu, hối

phiếu …

 Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi

nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác

Lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản cầm cố

Trang 7

Căn cứ vào tính chất quản lý, tài sản cầm cố được chia ra làm hai loại: có đăng

ký quyền sở hữu và không đăng ký quyền sở hữu Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, tài sản cầm cố phải được chuyển giao cho bên cầm cố, ngược lại đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì tài sản có thể do bên cầm cố, bên nhận cầm cố hoặc bên thứ ba giữ theo thoả thuận của bên nhận cầm cố và bên cầm cố

1.2.5 Phân loại cầm cố

1.2.5.1 Cầm cố pháp lý và cầm cố công bằng

Cầm cố pháp lý là hình thức cầm cố mà trong đó người đi vay (người cầm cố)

thoả thuận chuyển quyền sở hữu cho ngân hàng khi không thực hiện được nghĩa vụ trả

nợ Theo hình thức này, khi người đi vay không thanh toán được nợ ngân hàng được quyền bán tài sản hoặc cho thuê với tư cách là người chủ sở hữu mà không cần thực hiện các thủ tục tố tụng để nhờ sự can thiệp của toà án

Cầm cố công bằng (cầm cố thông thường) là hình thức cầm cố mà trong đó ngân

hàng chỉ nắm giữ giấy chứng nhận sở hữu tài sản hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo món vay Khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng, việc xử lý tài sản phải dựa trên cơ sở thoả thuận giữa người cho vay và người đi vay hoặc phải nhờ đến sự can thiệp của toà án, nếu có tranh chấp

1.2.5.2 Cầm cố thứ nhất và cầm cố thứ hai

Cầm cố thứ nhất là việc cầm cố tài sản để đảm bảo cho món nợ thứ nhất Cần

lưu ý rằng cầm cố thứ nhất không có nghĩa là lần đầu tiên đem tài sản đi cầm cố cho một khoản vay, mà cầm cố thứ nhất được xác định trong mối tương quan giữa các khoản vay có cầm cố, tức là việc sử dụng một tài sản làm đảm bảo cho nhiều khoản vay và cầm cố cho khoản vay đầu tiên cho khoản vay đang tồn tại là cầm cố thứ nhất Cầm cố thứ nhất có hai trường hợp: Cầm cố cho một bên cho vay và cầm cố cho nhiều bên cho vay dưới hình thức hợp vốn (đồng tài trợ) Trong trường hợp cầm cố cho khoản vay hợp vốn, việc quản lý tài sản và giấy tờ của tài sản bảo đảm do một ngân hàng đại diện thực hiện

Cầm cố thứ hai là hình thức cầm cố, trong đó người đi vay sử dụng phần giá trị

chênh lệch giữa giá trị tài sản cầm cố và khoản nợ thứ nhất được đảm bảo bằng tài sản

đó để đảm bảo cho khoản nợ thứ hai

Trong cầm cố để thực hiện nhiều nghĩa vụ (cầm cố thứ nhất và cầm cố thứ hai)

có điểm lưu ý sau:

Trang 8

 Trong trường hợp phải xử lý tài sản cầm cố để thanh toán một khoản nợ đến hạn, thì các khoản nợ khác chưa đến hạn, cũng được coi là đến hạn

 Thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thứ tự đăng ký cầm cố

Theo quy định hiện hành cầm cố thứ nhất và cầm cố thứ hai chỉ được thực hiện tại một

tổ chức tín dụng

1.2.5.3 Cầm cố trực tiếp và cầm cố gián tiếp

Cầm cố trực tiếp hay còn gọi là cầm cố bằng tài sản hình thành từ vốn vay là

hình thức cầm cố mà tài sản cầm cố do vốn vay tạo nên

Cầm cố gián tiếp là hình thức cầm cố mà trong đó tài sản cầm cố và tài sản dùng

vốn vay để mua là hai tài sản khác nhau

1.2.6 Xử lý tài sản cầm cố

Trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng thoả thuận thì tài sản cầm cố được xử lý theo phương thức do các bên đã thoả thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ Bên nhận cầm cố được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản cầm cố

Thanh toán tiền bán tài sản cầm cố: Tiền bán tài sản cầm cố được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ cho bên nhận cầm cố sau khi trừ chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên quan để xử lý tài sản cầm cố; trong trường hợp nghĩa

vụ được bảo đảm là khoản vay thì thanh toán cho bên nhận cầm cố theo thứ tự nợ gốc, lãi, tiền phạt, tiền bồi thờng thiệt hại nếu có; nếu tiền bán còn thừa thì phải trả lại cho bên cầm cố; nếu tiền bán còn thiếu thì bên cầm cố phải trả tiếp phần còn thiếu đó

Trang 9

1.2.6.2 Nguyên tắc xử lý

 Trong trường hợp tài sản được dùng để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ thì việc

xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận giữa các bên, nếu không có thoả thuận thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật

 Trong trường hợp tài sản được dùng để đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận giữa bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm, nếu không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật

 Việc xử lý tài sản bảo đảm phải được thực hiện một cách khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên quan và phù hợp với quy định

 Người xử lý tài sản bảo đảm là bên nhận bảo đảm hoặc người được bên nhận bảo đảm uỷ quyền, trừ trường hợp các bên tham gia giao dịch bảo đảm có thoả thuận khác

 Việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ không phải là hoạt động kinh doanh của bên nhận bảo đảm

1.2.6.3 Phương thức xử lý

Bán tài sản bảo đảm

 Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện

nghĩa vụ của bên bảo đảm

 Bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ người thứ ba trong

trường hợp cầm cố quyền đòi nợ

Phương thức khác do các bên thoả thuận

1.2.6.4 Nghĩa vụ của người xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp một tài sản dùng để bảo đảm nhiều nghĩa vụ

 Thông báo cho các bên cùng nhận bảo đảm khác về việc xử lý tài sản theo quy định

 Thực hiện việc xử lý tài sản bảo đảm

 Thanh toán tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm theo thứ tự ưu tiên thanh toán

Trang 10

1.2.6.5 Thời hạn xử lý

Tài sản bảo đảm được xử lý trong thời hạn do các bên thoả thuận, nếu không có thoả thuận thì người xử lý tài sản bảo đảm có quyền quyết định về thời hạn xử lý, nhưng không được trước 07 ngày kể từ ngày thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm, trừ trường hợp được quy định phải xử lý ngay

1.2.6.6 Thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý

Bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản đó cho người xử lý tài sản bảo đảm theo thông báo của người này, nếu hết thời hạn ấn định trong thông báo mà bên giữ tài sản bảo đảm không giao tài sản thì người xử lý tài sản bảo đảm có quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định để xử lý hoặc yêu cầu Toà án giải quyết

Khi thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm, người xử lý tài sản bảo đảm có trách nhiệm:

 Thông báo trước cho người giữ tài sản về việc áp dụng biện pháp thu giữ tài sản bảo đảm trong một thời gian hợp lý Văn bản thông báo phải ghi rõ lý do, thời hạn thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm, quyền và nghĩa vụ các bên

 Không được áp dụng các biện pháp vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm

Trong trường hợp người giữ tài sản bảo đảm là người thứ ba thì bên bảo đảm có trách nhiệm phối hợp với người xử lý tài sản bảo đảm thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm

Bên bảo đảm hoặc người thứ ba giữ tài sản bảo đảm phải chịu các chi phí hợp lý, cần thiết cho việc thu giữ tài sản bảo đảm, trong trường hợp không giao tài sản để xử

lý hoặc có hành vi cản trở việc thu giữ hợp pháp tài sản bảo đảm mà gây thiệt hại cho bên nhận bảo đảm thì phải bồi thường

Trong quá trình tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, nếu bên giữ tài sản bảo đảm

có dấu hiệu chống đối, cản trở, gây mất an ninh, trật tự nơi công cộng hoặc có hành vi

vi phạm pháp luật khác thì người xử lý tài sản bảo đảm có quyền yêu cầu Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để giữ gìn an ninh, trật tự, bảo đảm cho người xử lý tài sản thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm

Trang 11

1.2.6.7 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm trong thời gian chờ xử lý tài sản bảo đảm

Trong thời gian chờ xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm được khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm hoặc cho phép bên bảo đảm hoặc uỷ quyền cho người thứ ba khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm theo đúng tính năng và công dụng của tài sản Việc cho phép hoặc uỷ quyền khai thác, phương thức khai thác và việc xử lý hoa lợi, lợi tức thu được phải được lập thành văn bản

Hoa lợi, lợi tức thu được phải được hạch toán riêng, trừ trường hợp có thoả thuận khác Sau khi trừ các chi phí cần thiết cho việc khai thác, sử dụng tài sản, số tiền còn lại được dùng để thanh toán cho bên nhận bảo đảm

1.2.6.8 Xác định thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai

Trong trường hợp giao dịch bảo đảm được giao kết để bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ trong tương lai thì nghĩa vụ trong tương lai có thứ tự ưu tiên thanh toán theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm đó, không phụ thuộc vào thời điểm xác lập giao dịch dân

sự làm phát sinh nghĩa vụ trong tương lai

1.2.6.9 Chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm

 Người mua tài sản bảo đảm, người nhận chính tài sản bảo đảm thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm đối với mình có quyền sở hữu tài sản đó Thời điểm chuyển quyền sở hữu được xác định theo quy định

 Trong trường hợp tài sản bảo đảm có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì người nhận chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đó được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản

Thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản Trong trường hợp pháp luật quy định việc chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm phải có sự đồng ý bằng văn bản của chủ sở hữu, hợp đồng mua bán tài sản giữa chủ sở hữu tài sản hoặc người phải thi hành án với người mua tài sản về việc xử lý tài sản đảm bảo thì hợp đồng bảo đảm được dùng để thay thế cho các loại giấy tờ này

Trang 12

1.2.6.10 Quyền nhận lại tài sản bảo đảm

Trước thời điểm xử lý tài sản bảo đảm mà bên bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa

vụ của mình đối với bên nhận bảo đảm và thanh toán các chi phí phát sinh do việc chậm thực hiện nghĩa vụ thì có quyền nhận lại tài sản đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác về thời điểm được nhận lại tài sản bảo đảm trước khi xử lý

1.2.7 Huỷ bỏ việc cầm cố tài sản

Việc cầm cố tài sản có thể bị huỷ bỏ nếu được bên nhận cầm cố đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

1.2.8 Chấm dứt cầm cố tài sản

Việc cầm cố tài sản chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

 Nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt

 Việc cầm cố tài sản được huỷ bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác

 Tài sản cầm cố đã được xử lý

 Theo thoả thuận giữa các bên

1.3 Cầm cố tài sản trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng

Những loại tài sản cầm cố thông dụng để bảo đảm cho nợ vay ngân hàng như sau:

 Giúp cho các doanh nghiệp thực hiện dự trữ vật tư hàng hoá theo chu kỳ và thời

vụ nhằm ổn định sản xuất và đáp ứng được nhu cầu của thị trường

Để phát huy được các ưu thế trên đây khi cầm cố hàng hoác ngân hàng cần quan tâm 3 vấn đề chính sau đây:

* Điều kiện cầm cố hàng hoá

 Hàng hoá có giá trị ổn định

 Hàng hoá dễ tiêu thụ trong hiện tại và tương lai

 Hàng hoá được phép lưu thông và khách hàng được phép kinh doanh loại hàng hoá đó

Trang 13

Hàng hoá cầm cố thông dụng bao gồm: hàng hoá mới mua hoặc nhập khẩu như nguyên liệu, nhiên liệu dùng cho sản xuất, kinh doanh, hàng hoá sản xuất chờ tiêu thụ hoặc xuất khẩu: máy móc, thiết bị, xe cộ mới hoặc đang sử dụng

* Quản lý hàng hoá cầm cố

Việc quản lý hàng hoá cầm cố được thực hiện theo các cách sau:

 Quản lý tại kho ngân hàng: cách thức quản lý này bảo đảm nắm chắc hàng hoá cầm cố, nhưng tốn kém về cơ sở vật chất và quản lý Trên thực tế ít ngân hàng áp dụng phương thức quản lý này

 Quản lý tại kho của khách hàng cầm cố nghĩa là hàng hoá cầm cố được đặt tại một kho riêng của khách hàng và được đặt dưới sự quản lý của ngân hàng Đồng thời

để xác nhận hàng hoá đó đã được cầm cố, ngân hàng phải ký một hợp đồng thuê kho với khách hàng và đăng ký hợp đồng đó với cơ quan quản lý nhà nước Giá thuê kho ở hợp đồng này chỉ mang tính chất tượng trưng Để đảm bảo an toàn cho hàng hoá cầm

cố, ngân hàng phải chọn những kho kiên cố và có hệ thống thiết bị bảo đảm an toàn, phù hợp với tính chất của hàng hoá cầm cố Mặt khác, ngân hàng là người duy nhất giữ chìa khoá và được phép ra vào kho, đồng thời ngân hàng có bảng niêm phong kho mang tên ngân hàng

 Quản lý tại kho của bên thứ ba: Người thứ ba có thể là người nhận ký thác đơn thuần, có thể là người nhận ký gửi để bán hàng hoá hộ hoặc có thể là người nhận gia công hàng hoá Để người thứ ba có trách nhiệm quản lý hàng hoá, người này phải tham gia vào việc ký kết hợp đồng cầm cố và phải cam kết rằng chỉ được chuyển giao hàng hoá khi có sự đồng ý của ngân hàng Tuy nhiên theo quy định của pháp luật, đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu thì khi cầm cố tài sản phải giao cho tổ chức tín dụng giữ Vì vậy, đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, ngân hàng có thể lập thủ tục thuê kho của bên thứ ba bảo hiểm giống như quản lý tại kho khách hàng cầm

cố hoặc áp dụng phương thức cầm cố các quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng ký thác, hợp đồng gia công …

* Xác định quyền sở hữu tài sản của người cầm cố

Tài sản cầm cố bao gồm tài sản có đăng ký quyền sở hữu và tài sản không đăng

ký quyền sở hữu Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì việc xác định quyền sở hữu tài sản chủ yếu dựa trên các loại giấy tờ chứng nhận đăng ký tài sản do cơ quan nhà nước cấp Đối với hàng hoá không đăng ký quyền sở hữu tài sản thì việc xác định

Trang 14

quyền sở hữu tài sản tương đối phức tạp Các ngân hàng thường giám định dựa trên cơ

sở hoá đơn, giấy chứng nhận hoàn thành thủ tục Hải quan, bản kê khai tồn kho … Ngoài ra ngân hàng còn phải kiểm tra các mặt hoạt động để có thêm thông tin bổ sung nhằm hạn chế rủi ro pháp lý

1.3.2 Cầm cố các chứng khoán

Cho vay cầm cố bằng chứng khoán là một nghiệp vụ cho vay đơn giản, khách hàng chuyển giao chứng khoán cho ngân hàng để nhận tiền vay Khi đáo hạn khách hàng trả nợ cho ngân hàng và nhận lại các chứng khoán đã cầm cố

1.3.3 Bảo đảm bằng tiền gửi

Tiền gửi dùng làm bảo đảm cho khoản ứng trước của ngân hàng chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm kể cả chứng chỉ tiền gửi, còn đối với tiền gửi thanh toán thì dùng làm bảo đảm cho ngân hàng phải được chuyển sang một tài khoản một tài khoản phong toả

Tiền gửi là tài sản là tài sản bảo đảm an toàn và ít tốn kém, vì lý do:

 Không cần phải địng giá

 Chi phí phát sinh trong việc quản lý tài sản bảo đảm không đáng kể

 Việc xử lý tài sản để thu hồi nợ tương đối đơn giản

1.3.4 Bảo đảm bằng vàng

Bảo đảm bằng vàng là hình thức bảo đảm trong cho vay đối với cá nhân Vàng dùng làm tài sản bảo đảm được ký gửi và bảo quản tại ngân hàng Phần lớn các ngân hàng thương mại Việt Nam đều có nghiệp vụ kinh doanh vàng, đây là một thuận lợi cho việc phân kim và định giá vàng, làm cơ sở xác định mức cho vay

Trang 15

1.3.5 Bảo đảm bằng các khoản phải thu

Các khoản nợ của người thứ ba đối với khách hàng vay vốn được coi là tài sản bảo đảm cho các khoản vay ngắn hạn

Việc thực hiện bằng các khoản phải thu được thực hiện bằng hai cách:

 Bảo đảm không thông báo: Các khoản phải thu dùng làm bảo đảm chỉ có sự thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn – chủ nợ của khoản phải thu, mà không thông báo cho con nợ biết về sự cầm cố này Theo cách này khách hàng vay vốn cam kết sẽ chuyển giao cho ngân hàng khi con nợ thanh toán

 Bảo đảm có thông báo: Theo cách cho vay này thì việc cầm cố khoản phải thu phải thông báo cho con nợ biết và người này phải thanh toán khoản nợ trực tiếp cho ngân hàng, thay vì thanh toán cho chủ nợ - người vay vốn

1.3.6 Bảo đảm bằng hợp đồng nhận thầu

Các công ty xây dựng hoặc các công ty cung ứng thiết bị, vật tư có hợp đồng về xây dựng hoặc hợp đồng cung cấp, nếu thiếu vốn để thực hiện hợp đồng có thể nhượng lại hợp đồng đó cho ngân hàng để được tài trợ vốn ngắn hạn Theo phương thức bảo đảm này, sau khi hoàn thành thủ tục cầm cố hợp đồng thầu người nhận thầu chuyển giao hợp đồng cho ngân hàng và thông báo cho bên thanh toán chi trả trực tiếp cho ngân hàng theo các điều kiện thoả thuận trong hợp đồng Theo định kỳ hoặc sau khi kết thúc hợp đồng nhận thầu, ngân hàng và người nhận thầu đối chiếu các khoản tín dụng đã cấp và các khoản thanh toán của chủ đầu tư để tất toán cho khoản vay

Ngoài việc bảo đảm bằng hợp đồng nhận thầu chính, ngân hàng cũng có thể cho vay bằng hợp đồng nhận thầu phụ, tức hợp đồng được ký kết giữa người nhận thầu chính và người nhận thầu lại Trong trường hợp này khoản thanh toán cho vốn vay không phải từ chủ đầu tư mà từ người nhận thầu chính

1.3.7 Bảo đảm bằng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Xuất phát từ việc giải quyết các tổn thất tài chính gắn liền với tử vong, thương tật

và hưu trí mà phần lớn các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vừa có ý nghĩa bảo vệ rủi ro vừa là hình thức tiết kiệm Tính chất tiết kiệm bao gồm trong hợp đồng bảo hiểm sẽ giúp cho người thụ hưởng có một ngân quỹ trong tương lai Nguồn ngân quỹ này chính là cơ sở bảo đảm để thực hiện các quan hệ tín dụng

Cho vay bảo đảm bằng hợp đồng bảo hiểm áp dụng cho các cá nhân và trong một

số trường hợp cho các doanh nghiệp nhỏ Đây là hình thức bảo đảm tương đối tiện lợi

Trang 16

vì tính thanh khoản cao và ít tốn kém về chi phí quản lý Tuy nhiên, hình thức bảo đảm này cần chú ý hai vấn đề sau: hợp đồng bảo hiểm có được phép chuyển nhượng không

và cách xử lý khi người đóng bảo hiểm vi phạm hợp đồng Dựa vào hai cơ sở trên đây

để ngân hàng quyết định chấp nhận hợp đồng bảo hiểm làm bảo đảm, định giá trị bảo đảm và thủ tục bảo đảm

Chương 1 trình bày những lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng, cầm cố tài sản

và cầm cố tài sản trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng là cơ sở cho việc phân tích thực trạng cấp tín dụng cầm cố hạt nhựa tại Ngân hàng TMCP Á Châu – chi nhánh Ông Ích Khiêm ở chương 2

Trang 17

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SẢN PHẨM CHO VAY CẦM CỐ LÔ HÀNG

HẠT NHỰA TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU

CHI NHÁNH ÔNG ÍCH KHIÊM 2.1 Giới thiệu sơ lược về ngân hàng TMCP Á Châu và chi nhánh Ông Ích Khiêm

2.1.1 Giới thiệu ngân hàng TMCP Á Châu (ACB)

2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Á Châu

Pháp lệnh NHNN và Pháp lệnh về Ngân hàng thương mại (NHTM), hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính được ban hành vào tháng 5 năm 1990, đã tạo dựng một khung pháp lý cho hoạt động NHTM tại Việt Nam Trong bối cảnh đó, ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) đã được thành lập theo Giấy phép số 0032/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước cấp ngày 24/04/1993, Giấy phép số 533/GP-UB do Uỷ ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/05/1993 Ngày 04/06/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động

Tên giao dịch quốc tế : Asia Commercial Bank

 Trụ sở chính : 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, TP Hồ Chí

 Giấy phép hoạt động : Số 059067 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ

Chí Minh cấp cho đăng ký lần đầu ngày 19/5/1993, đăng ký thay đổi lần thứ 10 ngày 11/5/2007

 Ngành nghề kinh doanh:

Trang 18

+ Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn dưới các hình thức tiền gửi có

kỳ hạn, không kỳ hạn, tiếp nhận vốn uỷ thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác

+ Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; chiết khấu thương phiếu, trái phiếu

và giấy tờ có giá; hùn vốn và liên doanh theo luật định

+ Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng

+ Thực hiện kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế

+ Huy động các loại vốn từ nước ngoài và các dịch vụ ngân hàng khác trong quan hệ với nước ngoài khi được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho phép + Hoạt động bao thanh toán

2.1.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh và định hướng phát triển

2.1.1.2.1 Hoạt động kinh doanh

Hầu hết các chỉ tiêu hoạt động năm 2007 đều vượt mức kế hoạch đặt ra từ đầu năm Theo đó, ACB vẫn đang duy trì vị thế ngân hàng đứng đầu khối ngân hàng thương mại cổ phần về lợi nhuận, tổng tài sản, dư nợ tín dụng và tiền gửi khách hàng Đặc biệt, lợi nhuận tăng gấp 3 lần so với năm 2006, góp phần mang lại nguồn lợi nhuận tích lũy đáng kể, nâng cao sức mạnh tài chính của ACB

Nguồn: Báo cáo thường niên 2007 của Ngân hàng TMCP Á Châu ACB có nguồn vốn ổn định phục vụ cho hoạt động kinh doanh trong thời gian tới

từ việc phát hành trái phiếu trung dài hạn trị giá 4.170 tỷ đồng Với lãi suất thấp và không chịu dự trữ bắt buộc, trái phiếu phát hành qua hai đợt năm 2007 đã đáp ứng được yêu cầu vừa tăng trưởng nhanh vừa lợi nhuận cao

Trang 19

2.1.1.2.2 Định hướng phát triển trong năm 2008

Môi trường hoạt động năm 2008 sẽ tiếp tục biến động theo chiều hướng rất phức tạp, tạo ra cả cơ hội và thách thức cho các ngân hàng Trên thế giới, kinh tế Mỹ có thể suy thoái diện rộng kéo theo thâm hụt thanh khoản toàn cầu và khu vực, ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu của Việt Nam, gây khó khăn cho việc huy động vốn từ nước ngoài, đồng thời đưa giá vàng vào xu thế tăng Trong nước, các biện pháp đảm bảo tăng trưởng và kiềm chế lạm phát sẽ làm hoạt động kinh doanh ngân hàng chịu nhiều sức

ép và khó khăn Sẽ có nhiều ngân hàng mới, bao gồm cả các ngân hàng nước ngoài tham gia thị trường và cạnh tranh về thị phần, đặc biệt là thị phần huy động, sẽ quyết liệt hơn Thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản sẽ ngày càng quy củ hơn và tiếp tục là nơi thu hút đầu tư xã hội

Trong năm 2008, ACB tiếp tục thực hiện chiến lược kinh doanh xoay quanh 5 mục tiêu:

 Tăng trưởng nhanh và bền vững

 Kiểm soát rủi ro tốt để đảm bảo an toàn

 Duy trì cấu trúc tài chính lành mạnh và lợi nhuận cao

 Chuẩn bị nhân lực kế thừa

 Hoàn thiện văn hóa công ty

Năm 2008 còn là năm tạo tiền đề cho việc hiện thực hóa kế hoạch 2008-2010 của ACB: dự kiến năm 2010 tổng tài sản và dư nợ cho vay sẽ tăng gấp 3,6 lần, vốn chủ sở hữu tăng gấp 2,5 lần và lợi nhuận trước thuế tăng gấp 3 lần so với năm 2007

Để thực thi chiến lược này, năm 2008 ACB phấn đấu nâng chỉ tiêu hoạt động (bao gồm tổng tài sản, dư nợ cho vay, huy động tiền gửi khách hàng và lợi nhuận) lên gấp 1,6-2 lần so với năm 2007 Các chỉ số tài chính chủ yếu như ROE sẽ được duy trì

ở mức trên 30%, thu nhập ròng từ lãi/tổng tài sản bình quân 2,3%, thu nhập dịch vụ tăng gấp đôi Vốn chủ sở hữu sẽ tiếp tục tăng thông qua việc dùng toàn bộ lợi nhuận chia cổ tức năm 2007 và thặng dư vốn 1.704 tỷ đồng để nâng vốn điều lệ, chuyển đổi

550 tỷ đồng trái phiếu đổi thành cổ phiếu, và phát hành thêm 1.350 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi (đã thực hiện trong tháng 02/2008)

Ngoài ra, ACB còn thực hiện các chương trình và dự án trọng điểm, bao gồm:

 Triển khai mô hình bán hàng trực tiếp toàn hệ thống

Trang 20

 Chuyển đổi cơ cấu tổ chức theo hướng tách bạch vai trò kinh doanh với vận hành và tăng cường hệ thống kiểm tra kiểm soát

 Giới thiệu thêm các sản phẩm phục vụ nhu cầu tiết kiệm, vay vốn, và đầu tư của khách hàng

 Tăng trưởng mạng lưới cả về số lượng chi nhánh, phòng giao dịch và địa bàn hoạt động

Do môi trường kinh doanh của năm 2008 thay đổi nhanh như dự báo, ACB nhận thức được yêu cầu linh hoạt trong xây dựng các chương trình hành động ngắn hạn phù hợp với diễn biến của thị trường, quyết liệt trong việc triển khai các dự án trọng điểm

và tận dụng tốt cơ hội

Với nỗ lực chung của tập thể ACB, 2008 sẽ là năm kết thúc một cách trọn vẹn chương trình hành động 5 năm 2004-2008, đồng thời tạo tiền đề thực hiện chiến lược kinh doanh 2008-2010 đầy tham vọng mà ACB đã đặt ra với tầm nhìn đến 2015

2.1.2 Giới thiệu ngân hàng TMCP Á Châu – chi nhánh Ông Ích Khiêm

2.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Á Châu – chi nhánh Ông Ích Khiêm

Chi nhánh Ông Ích Khiêm được thành lập theo quyết định số 1493/NHNN – HCM 02 ngày 11/07/2005 và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 25/11/2005 Chi nhánh toạ lạc tại số 132 Ông Ích Khiêm, phường 5, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh

Số lượng nhân viên lúc mới đi vào hoạt động là 25 nhân viên, cùng với quá trình hoạt động và phát triển số lượng nhân viên đã tăng, số nhân viên hiện nay là 40 Đa số nhân viên tại Chi nhánh trẻ, năng động và nhiệt tình trong công việc

Cho đến nay, Chi nhánh đã hoạt động được hơn 2 năm và đã đạt được nhiều thành tựu như danh hiệu Chi nhánh đạt thành tích Giỏi hai năm liên tục 2006, 2007 và nằm trong Top 20 trên 121 chi nhánh, phòng giao dịch của hệ thống Ngân hàng Á Châu

Trang 21

2.1.2.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức tại ngân hàng TMCP Á Châu – chi nhánh Ông Ích Khiêm

2.1.2.3 Tình hình hoạt động kinh doanh tại ngân hàng TMCP Á Châu – chi nhánh Ông Ích Khiêm

2.1.2.3.1 Đặc điểm và tình hình chung

Chi nhánh Ông Ích Khiêm là một trong số những chi nhánh còn rất trẻ của hệ

thống Ngân hàng Á Châu Tuy mới thành lập và hoạt động chỉ hơn 2 năm nhưng Chi nhánh Ông Ích Khiêm đã luôn đạt được những thành tích tốt trong hoạt động và luôn vượt chỉ tiêu được giao

Ngành nghề kinh doanh chính của Chi nhánh Ông Ích Khiêm:

 Nhận tiền gửi bằng Việt Nam đồng, ngoại tệ, vàng

 Cho vay phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng

 Dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, chuyển tiền nhanh Western Union

 Thu đổi ngoại tệ

 Giao dịch vàng tại sàn (đang triển khai)

 Các dịch vụ thẻ quốc tế và thẻ nội địa (ACB Card)

 Các dịch vụ ngân hàng khác…

Chi nhánh Ông Ích Khiêm được kết nối trực tuyến với Hội sở và tất cả các đơn vị trong hệ thống Ngân hàng Á Châu Khách hàng của Chi nhánh Ông Ích Khiêm có thể gửi tiền và rút tiền ở mọi nơi trong toàn hệ thống Ngân hàng Á Châu, được cung cấp

DOANH

NGHIỆP

BỘ PHẬN DỊCH VỤ TÍN DỤNG

BỘ PHẬN PHÁP LÝ CHỨNG

TỪ

BỘ PHẬN HÀNH CHÍNH

BỘ PHẬN GIAO DỊCH

BỘ PHẬN TTQT

BỘ PHẬN QUỸ

Trang 22

các dịch vụ qua ngân hàng điện tử (Home Banking, Phone Banking, Mobile Banking, Internet Banking)

Nhìn chung, tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ông Ích Khiêm luôn đạt kết quả tốt, lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước và luôn vượt kế hoạch, tình hình huy động và cho vay diễn biến tốt, tình hình nợ quá hạn rất tốt đa số các thời điểm đều đạt mức 0% (tuỳ thời điểm nhưng luôn trong mức kiểm soát được của chi nhánh) Chi nhánh Ông Ích Khiêm đang tích cực khai thác và phát huy tối đa những điểm mạnh của chi nhánh như hiện tại chi nhánh đang dần xây dựng được hình được hình ảnh đối với khách hàng trên địa bàn Quận 11, nơi có nhiều tiềm năng với số lượng doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh hoạt động tốt, có mức tăng trưởng khả quan Việc theo sát chỉ tiêu của từng sản phẩm để có kế hoạch tiếp thị cụ thể đạt được hiệu quả tốt như đối với khách hàng cá nhân, sản phẩm cho vay mua nhà ở và sữa chữa nhà phát triển rất tốt với đối tượng chính là người sử dụng sau cùng, đối với khách hàng doanh nghiệp, sản phẩm Bao thanh toán và Cho vay sản xuất, Tài trợ xuất nhập khẩu, Cho vay cầm cố hạt nhựa phát triển khá mạnh với đối tượng chủ yếu là những doanh nghiệp vừa có tài sản đảm bảo Bên cạnh đó, chi nhánh có đội ngũ nhân viên có nghiệp

vụ tốt, tinh thần trách nhiệm cao, chất lượng phục vụ khách hàng và sự hỗ trợ nội bộ tốt Cùng với sự đa dạng cũng như chính sách tổng thể linh hoạt, kịp thời của hệ thống Ngân hàng Á Châu đã giúp Chi nhánh Ông Ích Khiêm khẳng định thế mạnh cũng như hình ảnh trên địa bàn và nâng cao khả năng cạnh tranh

Bên cạnh đó, Chi nhánh Ông Ích Khiêm vẫn đang nổ lực và có kế hoạch nhằm khắc phục những điểm yếu nội tại về sự phát triển chưa đồng đều giữa các sản phẩm như sản phẩm Cho vay tiêu dùng tín chấp cán bộ công nhân viên, Cho vay mua xe, Cho vay du học, Cho vay dự án phát triển chưa mạnh; về vị trí toạ lạc của chi nhánh nằm khuất trong hẻm nên việc nhận biết sự hiện diện của chi nhánh đối với khách hàng còn chưa cao; về sự biến động nhân sự trong thời gian gần đây cũng gây không ít khó khăn trong hoạt động của chi nhánh đặc biệt là đội ngũ nhân viên mới còn ít kinh nghiệm

2.1.2.3.2 Tình hình huy động vốn

Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng có hiệu quả, phát triển và bền vững thì ngân hàng phải có một nguồn vốn đủ mạnh và ổn định để đáp ứng kịp thời các nhu cầu vay vốn của khách hàng cùng với việc mở rộng hoạt động đầu tư của

Trang 23

ngân hàng Do đó, công tác huy động vốn luôn được xem là một trong những nhiệm

vụ trọng tâm của Ngân hàng Á Châu nói chung và chi nhánh Ông Ích Khiêm nói riêng

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp tình hình huy động tại Chi nhánh Ông Ích Khiêm

Doanh

số

Tỷ trọng (%)

Nguồn: Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ông Ích Khiêm năm 2006-2007

 Hoạt động huy động vốn của chi nhánh chủ yếu huy động từ đối tượng khách hàng cá nhân và doanh nghiệp tư nhân, chiếm tỷ trọng lớn năm 2006 là 85% năm 2007

là 83%, trong khi đó tỷ trọng của đối tượng khách hàng là doanh nghiệp chỉ chiếm thấp hơn nhiều năm 2006 là 15% năm 2007 là 17% Điều này cũng dễ hiểu, vì nguồn vốn của doanh nghiệp chủ yếu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên số dư tiền gửi trên tài khoản của đối tượng này thường không cao và chủ yếu là số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán và ký quỹ Trong khi, đối với khách hàng là cá nhân thì số

dư tài khoản của của họ chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm nên số dư này luôn được duy trì cao và ngày càng tăng

 Huy động từ khách hàng cá nhân và doanh nghiêp tư nhân năm 2007 tăng 270.901 triệu đồng so với năm 2006 (tăng 110,44%), chủ yếu là do số dư Tiền gửi tiết kiệm tăng cao, số dư Tiền gửi thanh toán còn tương đối thấp chưa đạt mức kế hoạch đặt ra và tỷ trọng tiền gửi của doanh nghiệp tư nhân còn thấp

 Huy động doanh nghiệp năm 2007 tăng 64.744 triệu đồng so với năm 2006 (tăng 149,33%) Do nguồn tiền gửi của khách hàng doanh nghiệp có tính ổn định không cao Đồng thời, do cơ cấu nợ vay hiện tại của chi nhánh là doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhu cầu vay cao nên số dư duy trì trên tài khoản của khách hàng không nhiều

Trang 24

 Nhìn chung, tình hình huy động vốn của chi nhánh vẫn tăng đều qua các kỳ hoạt động, cụ thể năm 2007 tăng 335.944 triệu đồng so với năm 2006 (tăng 116,5%)

 Sau hơn hai năm hoạt động, chịu sự cạnh tranh của rất nhiều chi nhánh khác trong cùng hệ thống Ngân hàng Á Châu cũng như sự cạnh tranh gay gắt của các chi nhánh thuộc những ngân hàng TMCP khác hoạt động trong cùng địa bàn với số lượng ngày càng nhiều; bên cạnh còn có những yếu tố khách quan khác như vị trí của chi nhánh nằm trong hẻm không được thuận lợi, khách hàng trên địa bàn quận 11 đa số là người Hoa chủ yếu giao dịch tiền mặt, ít giao dịch tài khoản, hiểu biết về các sản phẩm ngân hàng không nhiều cùng khuynh hướng duy trì quan hệ ổn định, lâu dài với các ngân hàng đã giao dịch lâu năm và người Hoa cũng rất cẩn thận, thường so sánh lãi suất giữa các ngân hàng nhưng Chi nhánh Ông Ích Khiêm vẫn thu hút được một lượng tiền huy động tương đối lớn Kết quả đạt được cho thấy, chi nhánh tuy còn rất non trẻ nhưng đã bắt kịp đà phát triển chung của ACB Đó là nỗ lực không ngừng của lãnh đạo cùng toàn thể nhân viên tại Chi nhánh Ông Ích Khiêm, luôn có những kế hoạch, chính sách hoạt động đúng đắn, phù hợp, luôn thể hiện sự năng động, nhiệt tình, chu đáo và luôn tạo nên sự khác biệt, ấn tượng tốt đẹp với khách hàng đến giao dịch tại chi nhánh

2.1.2.3.3 Hoạt động tín dụng

Tín dụng cũng như huy động là những hoạt động chủ yếu của một ngân hàng Sự chuyển hoá từ vốn tiền gửi sang vốn tín dụng để phục vụ cho các nhu cầu trong xã hội nói chung và bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh nói riêng không những tạo ra lợi nhuận trong nền kinh tế mà còn mang ý nghĩa đặc biệt đối với ngân hàng, bởi vì, lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động kinh doanh của một ngân hàng là từ tín dụng, đó cũng

là nguồn thu nhập chính để bồi hoàn lại nguồn tiền gửi huy động từ khách hàng và bù đắp những chi phí trong hoạt động kinh doanh

Tình hình hoạt động tín dụng của Chi nhánh Ông Ích Khiêm như sau:

Trang 25

Bảng 2.2: Bảng tổng hợp tình hình hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ông

Nguồn: Kết quả hoạt động tín dụng của Chi nhánh Ông Ích Khiêm năm 2006-2007

 Tỷ trọng giữa hai đối tượng khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp tư nhân và khách hàng doanh nghiệp mà chi nhánh hiện đang cung cấp dịch vụ tín dụng là tương đối cân bằng, tỷ lệ năm 2006 là 49% và 51%, sang năm 2007 tỷ lệ này có sự thay đổi

là 38% và 62% Sự thay đổi tỷ lệ này là vì dư nợ của đối tượng khách hàng doanh nghiệp giảm sút do tình hình nguồn vốn của họ vào cuối năm có biến động nên giảm

dư nợ vay đáng kể, nên sự thể hiện này có phần không chính xác Nhưng ta có thể thấy được qua số liệu của năm 2006, tỷ trọng phân phối giữa khách hàng cá nhân, doanh nghiệp tư nhân và khách hàng doanh nghiệp tương đối cân bằng và trong quý I/2008 thì con số này lại được cân bằng trở lại sau biến động vào cuối năm 2007 và tỷ trọng như sau 58% và 42% Có thể nói rằng, hiện tại mức độ phục vụ của chi nhánh đối với hai đối tượng khách hàng trên là tương đối cân bằng Nhưng trong tương lai, Ban lãnh đạo chi nhánh có kế hoạch phát triển mạnh hoạt động tín dụng phục vụ đối tượng khách hàng doanh nghiệp, xây dựng bộ phận tín dụng doanh nghiệp là bộ phận kinh doanh mạnh nhất và mang lại nguồn lợi nhuận nhiều nhất cho chi nhánh

 Dư nợ cho vay đối với khách hàng cá nhân và doanh nghiệp tư nhân năm 2007 tăng 163.131 triệu đồng so với năm 2006 (tăng 179,52%) và vượt kế hoạch trong năm 9.284 triệu đồng (vượt 3,97%) Tình hình phát triển của tín dụng cá nhân khá đồng đều

và dư nợ đều tăng theo sản phẩm

Trang 26

 Dư nợ đối với khách hàng doanh nghiệp năm 2007 tăng 68.100 triệu đồng so với số cuối năm 2006 (tăng 77,04%); tuy nhiên, con số này chỉ đạt 86,94% kế hoạch trong năm 2007 tức giảm 13,06% (tương ứng 23.500 triệu đồng) Tín dụng doanh nghiệp không đạt chỉ tiêu là do một số khách hàng doanh nghiệp lớn của chi nhánh có nguồn vốn bổ sung cuối năm nên dư nợ giảm đáng kể, trong khi đó các khách hàng mới chưa giải ngân kịp trong kỳ để bù đắp mức sụt giảm này Thế nhưng, tình hình phát triển dư nợ đối với khách hàng doanh nghiệp trong năm qua vẫn khá ổn định và theo đúng ngành nghề, sản phẩm

 Nhìn chung, hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ông Ích Khiêm vẫn phát triển khá tốt, năm 2007 tăng 231.231 triệu đồng so với 2006 (tăng 128,99%) Do dư nợ của đối tượng khách hàng doanh nghiệp không đạt chỉ tiêu vào cuối năm nên đã làm ảnh hưởng đến tình hình chung của chi nhánh là không đạt kế hoạch đặt ra

 Hiện tại chi nhánh gặp phải những khó khăn cụ thể như vị trí không thuận tiện

do nằm khuất trong hẻm khó phát triển tín dụng cá nhân, một số sản phẩm của ACB vẫn chưa đủ mạnh cạnh tranh trên thị trường (như sản phẩm hỗ trợ tiêu dùng hạn mức còn thấp 100 triệu đồng, UIL cho vay tín chấp thì cách thức xét duyệt còn cứng nhắc, sản phẩm mua xe thì lãi suất cao …) đã gây ra những khó khăn nhất định trong hoạt động tín dụng của chi nhánh Bên cạnh đó là sự cạnh tranh gây gắt của những ngân hàng nước ngoài với chất lượng dịch vụ, thời gian giải quyết nhanh chóng và chính xác cũng góp phần làm hạn chế hoạt động của chi nhánh Mặc dù gặp những khó khăn như thế nhưng số dư tín dụng của Chi nhánh Ông Ích Khiêm vẫn tăng trưởng tốt qua các năm Trong thời gian tới, ban lãnh đạo cũng như toàn thể nhân viên chi nhánh sẽ

nổ lực hơn và đề ra những kế hoạch cụ thể để khắc phục những khó khăn hiện tại, phát huy thế mạnh của Chi nhánh trong việc nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ, đẩy mạnh hoạt động tiếp thị tìm kiếm khách hàng mới, chăm sóc và phát triển khách hàng hiện hữu của chi nhánh … nhằm nâng cao tăng trưởng tín dụng để đạt được những mục tiêu đã đề ra

Tỷ lệ nợ quá hạn của chi nhánh luôn được kiểm soát trong mức kế hoạch, cụ thể

tỷ lệ này ở các năm 2006-2007 luôn giữ ở mức 0% Điều này thể hiện khả năng, trình

độ nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm của độ ngũ nhân viên tại chi nhánh trong công tác tìm kiếm, tư vấn, thẩm định khách hàng và sự phối hợp hỗ trợ nội bộ tốt trong quá

Trang 27

trình tác nghiệp Bên cạnh đó là sự hợp tác nhiệt tình của những khách hàng uy tín đến giao dịch tại chi nhánh

Trang 28

sự tăng trưởng đáng kể, cụ thể lợi nhuận năm 2007 là 10.873 triệu đồng, tăng 6.297 triệu đồng so với lợi nhuận năm 2006 (tương đương 137,61%) Kết quả đạt được thể hiện sự nổ lực, quyết tâm của đội ngũ nhân viên và đường lối, kế hoạch đúng đắn của ban lãnh đạo chi nhánh cũng như những chính sách, quy định và chỉ tiêu hoạt động phù hợp do Tổng giám đốc ngân hàng Á Châu đặt ra từng thời kỳ

Thanh toán quốc tế cũng là bộ phận mang lại nguồn thu khá lớn cho chi nhánh Mức tăng trưởng của thanh toán quốc tế rất tốt và hiện đang duy trì Trong năm 2007,

số dư thực hiện của bộ phận thanh toán quốc tế đạt 416.000 triệu đồng (tương đương

26 triệu USD), tăng 168.000 triệu đồng (tăng 67,74%) so với năm 2006 (tương đương 10,5 triệu USD) Trong hơn 2 năm hoạt động của chi nhánh, hoạt động thanh toán quốc tế tăng trưởng nhanh, khá ổn định cả về phí và doanh số Điều này cho thấy trình

độ chuyên môn tốt, tinh thần trách nhiệm cao cũng như kỹ năng tác nghiệp lành nghề của các nhân viên thanh toán quốc tế làm việc tại chi nhánh, bên cạnh đó là sự hỗ trợ nội bộ rất tốt giữa các bộ phận có liên quan như bộ phận Ngân quỹ, bộ phận Giao dịch,

bộ phận Tín dụng trong những trường hợp cần thiết

2.1.2.3.5 Phương hướng hoạt động trong năm 2008

 Gia tăng sự nhận biết của khách hàng về chi nhánh bằng cách thuê thêm mặt bằng ở mặt tiền đường Ông Ích Khiêm và mở Phòng giao dịch

 Tăng cường công tác tiếp thị để tìm kiếm nguồn khách hàng đến giao dịch tiền gửi, sử dụng các dịch vụ và phương tiện thanh toán tại chi nhánh Đặc biệt là tích cực

Trang 29

đối với đối tượng khách hàng này đồng thời giảm thiểu sự phụ thuộc vào một vài khách hàng lớn Cụ thể:

+ Chi nhánh sẽ gửi Thư chào đến khách hàng là dân cư trong địa bàn quận 11

và các quận lân cận

+ Phát triển cơ sở khách hàng doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp tư nhân), đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh hệ thống chuỗi và franchise để cung ứng sản phẩm Thu hộ tiền mặt và Quản lý tài khoản tập trung nhằm tăng thu hút tiền gửi thanh toán (sản phẩm tiền gửi Uptairs dành cho khách hàng doanh nghiệp) đồng thời tiếp thị dịch vụ bảo lãnh và thanh toán quốc tế để tăng số dư tiền gửi ký quỹ của các doanh nghiệp

 Tích cực hoàn thành lộ trình chuyển đổi sang mô hình mới để tăng hiệu quả trong hoạt động tiếp thị tìm kiếm khách hàng:

+ Đẩy mạnh hoạt động bán lẻ, phục vụ cho nhu cầu của khách hàng cá nhân trong cả sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Đặc biệt xúc tiến hoạt động liên kết cho vay mua nhà, đất, căn hộ đối với chủ đầu tư nhằm tăng kênh bán hàng; liên

hệ các Phòng quản lý đô thị quận để tiếp cận nguồn khách nhà có nhu cầu sửa chữa nhà; phát triển sản phẩm cho vay du học bằng việc phát triển quan hệ với các đơn vị tư vấn du học đồng thời định hướng nhân viên tín dụng chuyên trách thực hiện; chào bán sản phẩm cho vay sinh hoạt tiêu dùng đối với cán bộ công nhân viên

+ Phát triển khách hàng doanh nghiệp hiện hữu và tiếp thị khách hàng mới

Tư vấn, cung cấp các sản phẩm huy động và dịch vụ ngân hàng hiện có và các sản phẩm mới phù hợp với từng đối tượng đến với những khách hàng hiện tại của chi nhánh, đồng thời tìm kiếm nguồn khách hàng mới, đặc biệt chú trọng phát triển sản phẩm Bao thanh toán

 Tiếp tục cải tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ vì hiện nay chất lượng dịch vụ là quan trọng nhất và cũng là điều mà khách hàng luôn quan tâm Nó được thể hiện qua tác phong lịch sự, thái độ hoà nhã, sự nhạy bén, nhiệt tình, tận tâm, chu đáo, của nhân viên khi phục vụ khách hàng

 Phòng giao dịch cần phối hợp chặt chẽ với Phòng kinh doanh để giới thiệu các sản phẩm giao dịch và dịch vụ thanh toán quốc tế đến với mọi đối tượng khách hàng

Trang 30

 Tăng cường số lượng phát hành và thanh toán thẻ, đa dạng các dịch vụ đi kèm với thẻ như Home banking, Mobile banking, Internet banking, cấp hạn mức thẻ tín dụng, tăng cường điểm chấp nhận thanh toán thẻ …

2.2 Quy chế và Quy trình cho vay của Ngân hàng Á Châu

2.2.1 Quy chế cho vay của Ngân hàng Á Châu đối với khách hàng

2.2.1.1 Nguyên tắc vay vốn

Khách hàng vay vốn phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

 Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong HĐTD

 Hoàn trả vốn gốc, lãi vay đúng hạn đã thoả thuận trong HĐTD hay trong các KUNN

2.2.1.2 Điều kiện vay vốn

Khách hàng vay vốn cần có đủ điều kiện sau:

 Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân

sự theo các quy định hiện hành của pháp luật

 Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp

 Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết

 Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu quả hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi, phù hợp với các quy định của pháp luật

 Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của pháp luật, của ACB

 Không thuộc các trường hợp không cho vay theo quy định hiện hành của ACB

2.2.1.3 Thể loại cho vay

 Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng

 Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 12 tháng đến 60 tháng

 Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng

2.2.1.4 Đối tượng cho vay

 ACB cho vay đối với những nhu cầu vốn không thuộc các đối tượng sau:

+ Để mua sắm các tài sản và các chi phí hình thành nên tài sản mà pháp luật cấm mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi

Trang 31

cấm

+ Để đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch mà pháp luật cấm

 Trường hợp đảo nợ: thực hiện theo quy định riêng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2.2.1.5 Thời hạn cho vay

 Thời hạn cho vay:

+ ACB và khách hàng căn cứ vào chu kỳ sản xuất, kinh doanh, chu kỳ ngân quỹ, khả năng trả nợ của khách hàng, khả năng nguồn vốn cho vay của ACB và các nội dung khác để thoả thuận thời hạn cho vay và được ghi nhận cụ thể trong HĐTD giữa ACB và khách hàng

+ Đối với các tổ chức Việt Nam và nước ngoài, thời hạn cho vay không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động tại Việt Nam

+ Đối với các cá nhân nước ngoài, thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn được phép sinh sống, hoạt động tại Việt Nam

+ Thời hạn cho vay bao gồm: thời hạn ân hạn (nếu có), thời hạn trả nợ

 Thời hạn ân hạn: là khoản thời gian mà ACB có thể chỉ thu lãi vay mà chưa thu vốn gốc hoặc chưa thu cả vốn gốc và lãi vay khi dòng tiền trả nợ của phương án/dự án đầu tư chưa phát sinh hoặc phát sinh không đáng kể (như trong giai đoạn thi công, lắp đặt, vận hành, chạy thử ) Thời hạn ân hạn được thoả thuận và ghi nhận cụ thể trong HĐTD giữa ACB và khách hàng

2.2.1.6 Lãi suất cho vay

 Mức lãi suất cho vay do ACB và khách hàng thoả thuận trong HĐTD, phù hợp với các quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

 Tuỳ từng trường hợp cụ thể, ACB và khách hàng thoả thuận áp dụng: lãi suất cho vay cố định và/hoặc lãi suất cho vay thay đổi

 Lãi suất cho vay trong trường hợp khoản vay được gia hạn theo thoả thuận giữa ACB và khách hàng, nhưng đồng thời không thấp hơn mức lãi suất cho vay (đối với các khoản vay tương tự) tại thời điểm đồng ý gia hạn nợ vay và không thấp hơn lãi suất cho vay trước đó đã được ký kết trong HĐTD

 Lãi suất cho vay trong trường hợp khoản vay chuyển nợ quá hạn:

+ Trong trường hợp khoản vay chuyển sang nợ quá hạn do vi phạm trả lãi

Trang 32

vay: số tiền lãi vay đến hạn mà khách hàng không trả đúng hạn bị phạt chậm trả lãi vay theo quy định của ACB, dư nợ vốn gốc của khoản vay chưa đến hạn trả

nợ chuyển sang nợ quá hạn vẫn áp dụng lãi suất cho vay trong hạn đã được ký kết trong HĐTD

+ Trong trường hợp khoản vay chuyển sang nợ quá hạn do vi phạm trả nợ vốn gốc, lãi suất cho vay được áp dụng như sau:

 Đối với dư nợ vốn gốc đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả đúng hạn, mức lãi suất áp dụng bằng 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết trong HĐTD

 Đối vối dư nợ vốn gốc chưa đến hạn trả nợ nhưng đã chuyển sang nợ quá hạn, mức lãi suất áp dụng bằng lãi suất cho vay trong hạn đã được ký kết trong HĐTD

 Trong trường hợp ACB thu hồi nợ trước hạn các khoản vay chưa thanh toán của khách hàng theo quy định của Quy chế này, sau 30 ngày kể từ ngày ACB có Thông báo thu hồi nợ trước hạn mà khách hàng không thanh toán đủ nợ vay, toàn bộ số dư nợ vốn gốc bị chuyển sang nợ quá hạn và chịu mức lãi suất bằng 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết trong HĐTD

2.2.1.7 Số tiền cho vay

 Số tiền cho vay đối với một khách hàng được xác định dựa vào các căn cứ sau: + Nhu cầu vay vốn của khách hàng: căn cứ vào phương án, dự án đầu tư mà khách hàng gửi đến ACB và đã được ACB thẩm định

+ Khả năng trả nợ, uy tín thanh toán của khách hàng, của bên bảo lãnh (nếu có)

+ Quy định hiện hành của ACB về mức cho vay tối đa trên giá trị tài sản đảm bảo (do ACB xác định)

+ Quy định hiện hành của ACB về số tiền cho vay tối đa đối với từng sản phẩm cho vay (nếu có)

+ Khả năng nguồn vốn của ACB

+ Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá giới hạn cho vay được quy định tại Quy chế này

2.2.1.8 Loại tiền tệ cho vay – thu nợ

 Tiền đồng Việt Nam (VND):

Trang 33

+ Khoản vay được giải ngân bằng VND thì thu nợ vốn gốc, lãi vay bằng VND

+ Trường hợp khách hàng trả nợ bằng vàng, ngoại tệ thì thu nợ vay theo giá mua vàng, giá mua ngoại tệ do ACB công bố tại thời điểm trả nợ

 Vàng:

+ Vàng được đề cập trong Quy chế này là vàng ACB Bông lúa, vàng SJC hoặc vàng miếng theo tiêu chuẩn của các doanh nghiệp kinh doanh vàng đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép sản xuất vàng miếng

+ Khoản vay được giải ngân bằng loại vàng nào thì thu nợ vốn gốc, lãi vay bằng vàng đó Trường hợp trả nợ bằng loại vàng khác thì việc thu nợ, giá mua bán quy đổi được thực hiện theo các thoả thuận giữa ACB và khách hàng + Trường hợp khách hàng trả nợ bằng VND thì thu nợ vay theo giá bán vàng

do ACB công bố tại thời điểm trả nợ

+ Trường hợp khách hàng trả nợ bằng ngoại tệ thì thu nợ vay theo chuyển đổi qua VND: theo giá mua ngoại tệ (bán ngoại tệ, thu VND) và giá bán vàng (dùng VND mua vàng) do ACB công bố tại thời điểm trả nợ

 Ngoại tệ:

+ Khoản cho vay bằng ngoại tệ nào thì thu nợ vốn gốc, lãi vay bằng loại ngoại tệ đó Trượng hợp trả nợ bằng ngoại tệ khác thì việc thu nợ, tỷ giá quy đổi thực hiện theo các thoả thuận giữa ACB và khách hàng phù hợp các quy định hiện hành của pháp luật về quản lý ngoại hối

+ Trường hợp khách hàng trả nợ bằng VND thì thu nợ vay theo giá bán ngoại

tệ do ACB công bố tại thời điểm trả nợ

+ Trường hợp khách hàng trả nợ bằng vàng thì thu nợ vay theo chuyển đổi qua VND: theo giá mua vàng (bán vàng, thu VND) và giá bán ngoại tệ (dùng VND mua ngoại tệ) do ACB công bố tại thời điểm trả nợ

2.2.1.9 Trả vốn gốc và lãi vay

 Căn cứ vào đặc điểm sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khả năng tài chính, thu nhập và nguồn trả nợ của khách hàng, ACB và khách hàng thoả thuận về việc trả vốn gốc và lãi vay như sau:

+ Trả vốn gốc một lần hoặc nhiều kỳ trả nợ Trường hợp trả vốn gốc theo nhiều kỳ hạn, số tiền trả nợ và thời gian của mỗi kỳ hạn trả nợ có thể không

Trang 34

bằng nhau nhưng tổng số tiền trả nợ của các kỳ hạn trả nợ cộng lại phải bằng tổng số tiền đã giải ngân

+ Trả lãi vay hàng tháng hoặc trả lãi vay cùng với vốn gốc theo kỳ hạn trả nợ hoặc theo định kỳ trả nợ khác

+ Nếu không có quy định nào khác, ACB thực hiện thu nợ theo thứ tự: phí, các khoản phải trả khác (nếu có), lãi quá hạn, lãi trong hạn, vốn gốc Riêng trong trường hợp xử lý tài sản đảm bảo, việc thu nợ được thực hiện theo thứ tự: vốn gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí, các khoản phải trả khác (nếu có)

 Đối với các khoản vay không trả nợ đúng hạn, được ACB đánh giá là không có khả năng trả đúng hạn và không chấp thuận cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ thì số dư vốn gốc của HĐTD đó là nợ quá hạn và chuyển dư nợ sang nợ quá hạn ACB áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ vay và các chi phí có liên quan

 Các tính phạt chậm trả lãi vay được thực hiện theo các công thức sau:

+ Đối với HĐTD trả góp định kỳ, trả lãi tính theo dư nợ vốn gốc thực tế hoặc trả vốn gốc cuối kỳ hoặc trả theo các định kỳ hạn trả nợ khác nhau:

Số tiền lãi vay chậm trả x Lãi suất phạt (%/tháng)

(2) Số ngày chậm trả được tính từ ngày kế tiếp của ngày đến hạn trả lãi vay

cho đến ngày khoản vay được tính lãi suất nợ quá hạn hoặc đến ngày khách hàng trả hết phần lãi vay vi phạm

(3) Tổng số tiền phạt chậm trả lãi vay không được vượt quá 5% số tiền lãi

vay chậm trả

+ Đối với HĐTD trả góp định kỳ áp dụng lãi suất trả góp (add-on):

Số tiền phạt trả góp trễ hạn = Số tiền phạt của một kỳ trễ hạn x Số kỳ trễ hạn

 Trường hợp ngày trả lãi vay không trùng vào những ngày làm việc của ACB (như ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ, ngày ACB không làm việc ) thì ngày đến hạn trả

Trang 35

nợ là ngày làm việc tiếp theo Trong trường hợp này, lãi vay vẫn được tính cho tới ngày khách hàng thực trả và không tính phạt chậm trả lãi vay

 Đối với các trường hợp chậm trả vốn gốc đối với các khoản vay trả góp định kỳ, lãi vay tính theo dư nợ vốn gốc thực tế hoặc trả vốn gốc cuối kỳ hoặc trả theo các định

kỳ hạn trả nợ khác nhau: áp dụng lãi suất phạt như trong trường hợp khoản vay chuyển sang nợ quá hạn do vi phạm trả vốn gốc (lãi suất nợ quá hạn) theo quy định

2.2.1.10 Trả nợ trước hạn

 Trường hợp muốn trả nợ trước hạn, khách hàng phải lập đề nghị bằng văn bản

và phải được ACB chấp thuận Nếu ACB không chấp thuận mà khách hàng vẫn đề nghị trả nợ trước hạn thì khách hàng phải nộp số tiền phạt trả nợ trước hạn

+ Trong HĐTD giữa ACB và khách hàng phải có thoả thuận về phạt trả nợ trước hạn theo quy định

+ Không áp dụng phạt trả nợ trước hạn trong trường hợp ACB thu hồi nợ trước hạn

 Nợ được tính phạt trả nợ trước hạn là số vốn gốc của khoản vay mà khách hàng trả trước một kỳ hạn trả nợ hoặc một số kỳ hạn trả nợ hoặc thanh lý trước hạn

 Cách tính phạt trả nợ trước hạn được thực hiện theo các công thức sau:

+ Đối với HĐTD trả góp định kỳ, lãi vay tính theo dư nợ vốn gốc thực tế hoặc trả vốn gốc cuối kỳ hoặc trả theo các định kỳ hạn trả nợ khác nhau:

Số tiền phạt trả nợ trước hạn x Tỷ lệ phạt (%/năm)

x Số ngày trả trước hạn

Số tiền phạt =

360

Ghi chú: Tỷ lệ phạt: theo quy định của ACB trong từng thời kỳ

+ Đối với HĐTD trả góp định kỳ áp dụng lãi suất trả góp (add-on):

Số tiền phạt = Tỷ lệ phạt (%) x Số tiền trả trước hạn

Trang 36

2.2.1.11 Hồ sơ vay vốn

 Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi ACB hồ sơ vay vốn bao gồm các tài liệu, thông tin liên quan như sau:

+ Giấy đề nghị vay vốn (theo mẫu của ACB)

+ Các tài liệu chứng minh năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự của khách hàng

Các báo cáo về hoạt động sản xuất, kinh doanh

Các báo cáo tài chính, thuyết minh báo cáo tài chính

Báo cáo tình hình vay nợ, hàng tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả, tăng/giảm tài sản cố định

Các tài liệu khác (nếu có) liên quan đến tình hình tài chính và hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

 Đối với cá nhân:

Báo cáo tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh

Báo cáo tình hình vay nợ và nguồn thu nhập trả nợ

Các tài liệu khác (nếu có) liên quan đến tình hình hoạt động kinh doanh, nguồn trả nợ

+ Hồ sơ tài sản đảm bảo cho khoản vay

+ Các tài liệu khác (nếu có)

 Khách hàng vay, bên bảo lãnh (nếu có) phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các tài liệu gửi cho ACB

2.2.1.12 Thẩm định, quyết định cho vay

 ACB xây dựng quy trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc đảm bảo tính độc lập và phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân giữa thẩm định và quyết định cho vay

Trang 37

 Quyết định cho vay, từ chối cho vay, điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ vay, miễn, giảm lãi vay thuộc về các cấp Ban tín dụng hoặc Hội đồng tín dụng hoặc cá nhân có thẩm quyền

 Trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc đối với khoản vay ngắn hạn và không quá 30 ngày đối với khoản vay trung hạn, dài hạn kể từ ngày ACB nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn hợp lệ và thông tin cần thiết của khách hàng, ACB quyết định và thông báo việc cho vay hoặc không cho vay đối với khách hàng Trong trường hợp quyết định không cho vay, ACB thông báo cho khách hàng bằng văn bản, trong đó nêu

rõ lý do từ chối cho vay

2.2.1.13 Phương thức cho vay

ACB thoả thuận với khách hàng về phương thức cho vay phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn vay và khả năng kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng theo một hoặc một số các phương thức cho vay sau:

Cho vay từng lần:

+ Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ACB thực hiện các thủ tục vay vốn, ký kết, giải ngân, thu nợ theo từng HĐTD

+ Việc rút vốn vay có thể thực hiện một lần hay nhiều

Cho vay theo hạn mức tín dụng:

+ Phương thức cho vay này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường xuyên, quá trình vay vốn, trả nợ diễn ra nhiều lần trong thời hạn cho vay của HĐTD

+ Theo phương thức cho vay này, khách hàng được ACB cấp một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định

+ Trong thời hạn rút vốn, khách hàng có thể rút vốn và/hoặc trả vốn nhiều lần nhưng tổng mức dư nợ vay tại bất kỳ thời điểm nào cũng phải ≤ hạn mức tín dụng đã được cấp

Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà ACB thoả thuận bằng văn

bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định hiện hành của pháp luật về hoạt động thanh toán qua

các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với các quy

định của Quy chế này và đặc điểm khách hàng vay

Trang 38

Tuỳ từng trường hợp cụ thể, ACB và khách hàng có thoả thuận tổng mức cấp tín dụng (bao gồm một hoặc nhiều phương thức cấp tín dụng, phương thức cho vay) và ký kết các hợp đồng cấp tín dụng trên cơ sở đảm bảo an toàn, hiệu quả cho hoạt động ACB

2.2.1.14 Giới hạn cho vay

 Tổng số tiền dư nợ cho vay (bao gồm cả cho vay bắt buộc trong trường hợp khách hàng được ACB bảo lãnh), số dư bảo lãnh (không bao gồm L/C trả ngay) và số

dư bao thanh toán của ACB cho một khách hàng: không vượt quá 15% vốn tự có của ACB Trong trường hợp vượt quá 15% vốn tự có của ACB do Hội đồng tín dụng quyết định, nhưng phải tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật

 Trường hợp nhu cầu vay vốn của một khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của ACB hoặc khách hàng có nhu cầu huy động vốn từ nhiều ngân hàng thì ACB cho vay hợp vốn theo các quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

 Trong trường hợp đặc biệt, khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép ACB được vay vượt quá mức giới hạn

 Trường hợp ACB phải trả thay cho khách hàng dẫn đến tổng dư nợ cho vay và

dư nợ do trả thay vượt quá 15% vốn tự có của ACB thì ACB ngừng ngay việc cho vay

và bảo lãnh đối với khách hàng, đồng thời thu hồi nợ để đảm bảo tổng mức dư nợ cho vay đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có

 Việc xác định vốn tự có của ACB để làm căn cứ tính toán giới hạn cho vay được thực hiện theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2.2.1.15 Kiểm tra, giám sát vốn vay

 Hội sở, Sở giao dịch, các chi nhánh, phòng giao dịch ACB có trách nhiệm và có quyền kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ khách hàng

 Quá trình kiểm tra, giám sát việc chấp hành các nguyên tắc, thủ tục cho vay, các cam kết khác (nếu có) phải được thực hiện thường xuyên, tránh xảy ra việc thu hồi không đầy đủ vốn gốc, lãi vay

 Nhân viên quản lý và phát triển khách hàng tiến hành kiểm tra, giám sát trước, trong và sau khi cho vay phù hợp với các quy định hiện hành của ACB và các đặc điểm kinh doanh, quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng

2.2.1.16 Cơ cấu lại thời hạn trả nợ

Trang 39

 ACB quyết định việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, trên cơ sở khả năng tài chính của ACB và kết quả thẩm định khả năng trả nợ của khách hàng vay:

+ Khách hàng không có khả năng trả nợ đúng kỳ hạn vốn gốc và/hoặc lãi vốn vay trong phạm vi thời hạn cho vay đã thoả thuận trong HĐTD và ACB đánh giá là có khả năng trả nợ trong các kỳ hạn tiếp theo, thì ACB xem xét điều chỉnh kỳ hạn trả nợ vốn gốc và/hoặc lãi vốn vay

+ Khách hàng không có khả năng trả hết vốn gốc và/hoặc lãi vốn vay đúng thời hạn cho vay đã thoả thuận trong HĐTD và được ACB đánh giá là có khả năng trả nợ trong một khoảng thời gian nhất định sau thời hạn cho vay, thì ACB xem xét cho gia hạn nợ với thời hạn phù hợp với nguồn trả nợ của khách hàng

 Toàn bộ số dư nợ vay vốn của khách hàng có khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả

nợ được phân loại vào các nhóm nợ thích hợp theo quy định về phân loại nợ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, của ACB

2.2.1.17 Thu hồi nợ trước hạn

ACB thu hồi nợ trước hạn các khoản vay chưa thanh toán của khách hàng khi:

 Khách hàng vay và/hoặc bên bảo lãnh (nếu có) vi phạm Quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Quy chế cho vay của ACB

 Khách hàng vay và/hoặc bên bảo lãnh (nếu có) là tổ chức bị giải thể, ngừng hoạt động, chia tách, hợp nhất, chuyển đổi hình thức, cổ phần hoá, thay đổi chủ sở hữu

 Người đại diện theo pháp luật, người điều hành của khách hàng vay và/hoặc bên bảo lãnh (nếu có) là tổ chức bị truy cứu trách nhiệm hình sự

 Khách hàng vay và/hoặc bên bảo lãnh (nếu có) vi phạm HĐTD, Hợp đồng cầm

cố, cầm cố, các cam kết với ACB

 Khách hàng vay có một hoặc một số khoản vay chuyển sang nợ quá hạn và có nguy cơ không có khả năng trả nợ

 Khách hàng vay cung cấp thông tin sai sự thật, không có thiện chí trả nợ

 Khách hàng vay và/hoặc bên bảo lãnh (nếu có) có liên quan đến các vụ kiện de doạ đến phần lớn giá trị tài sản của khách hàng vay và/hoặc bên bảo lãnh (nếu có)

 Thay đổi về tỷ giá ngoại tệ, giá mua bán vàng, giá mua bán chứng khoán dẫn đến việc khoản vay vượt quá giá trị tài sản bảo đảm, giá trị nghĩa vụ được bảo đảm

Trang 40

(trong trường hợp khoản vay có loại tiền vay khác với loại tiền được dùng để xác định giá trị tài sản bảo đảm, giá trị nghĩa vụ được bảo đảm)

 Giá trị tài sản bảo đảm bị giảm giá trị (do ACB xác định), có nguy cơ không xử

lý thu hồi nợ trước hạn được hoặc có những thay đổi khác

 Ngân hàng nước ngoài từ chối thanh toán trong trường hợp cho vay chiết khấu

bộ chứng từ hàng xuất khẩu

 Các nguy cơ khác ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng

Sau 30 ngày kể từ ngày ACB thông báo thu hồi nợ trước hạn mà khách hàng vẫn không thanh toán đủ nợ vay (bao gồm: vốn gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí, các khoản phải trả khác), ACB chuyển toàn bộ số dư nợ của khách hàng sang nợ quá hạn

và áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ vay, các chi phí có liên quan

2.2.1.18 Miễn, giảm lãi tiền vay

ACB xem xét, quyết định miễn, giảm lãi tiền vay phải trả đối với khách hàng theo các nguyên tắc sau đây:

 Nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho các khách hàng có khó khăn về tài chính trả hết nợ cho ACB

 Việc miễn, giảm lãi tiền vay phù hợp với khả năng tài chính của ACB

2.2.2 Quy trình cho vay của Ngân hàng Á Châu

Quy trình cho vay của ACB là tổng hợp toàn bộ quá trình tác nghiệp tín dụng trong toàn hệ thống nhằm đảm bảo được tính nhất quán, nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vay vốn của khách hàng và hạn chế, phòng ngừa các rủi ro phát sinh, đồng thời xác định cụ thể các công việc và trách nhiệm của các đối tượng có liên quan trong quy trình Việc soạn thảo và tổng hợp quy trình được xây dựng trên nguyên tắc tuân thủ mọi văn bản pháp lý hiện hành liên quan đến quá trình cho vay và quản lý tín dụng do Ngân hàng Nhà nước và ACB ban hành Quy trình cho vay bao gồm những bước cơ bản từ khâu hướng dẫn thủ tục vay vốn và tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, thẩm định và trình cấp có thẩm quyền đến khâu thanh lý, tất toán khoản vay, xử lý khoản vay trong trường hợp cần thiết … được thể hiện trong sơ đồ sau đây:

Ngày đăng: 06/08/2015, 15:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp tình hình huy động tại Chi nhánh Ông Ích Khiêm - GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY CẦM CỐ Ở NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp tình hình huy động tại Chi nhánh Ông Ích Khiêm (Trang 23)
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp tình hình hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ông - GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY CẦM CỐ Ở NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp tình hình hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ông (Trang 25)
Bảng 2.3: Bảng kết quả hoạt động kinh doanh tại chi nhánh Ông Ích Khiêm năm - GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY CẦM CỐ Ở NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU
Bảng 2.3 Bảng kết quả hoạt động kinh doanh tại chi nhánh Ông Ích Khiêm năm (Trang 28)
Bảng 2.4: Tình hình dư nợ Sản phẩm cho vay cầm cố lô hàng hạt nhựa - GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY CẦM CỐ Ở NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU
Bảng 2.4 Tình hình dư nợ Sản phẩm cho vay cầm cố lô hàng hạt nhựa (Trang 52)
Bảng 2.5: Doanh số cho vay Sản phẩm cho vay cầm cố lô hàng hạt nhựa - GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY CẦM CỐ Ở NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU
Bảng 2.5 Doanh số cho vay Sản phẩm cho vay cầm cố lô hàng hạt nhựa (Trang 53)
Bảng 2.6 : Doanh số thu nợ đối với sản phẩm Cho vay cầm cố lô hàng hạt nhựa - GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY CẦM CỐ Ở NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU
Bảng 2.6 Doanh số thu nợ đối với sản phẩm Cho vay cầm cố lô hàng hạt nhựa (Trang 54)
Bảng 2.9: Tỷ trọng dư nợ sản phẩm Cho vay cầm cố lô hàng hạt nhựa theo loại - GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY CẦM CỐ Ở NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU
Bảng 2.9 Tỷ trọng dư nợ sản phẩm Cho vay cầm cố lô hàng hạt nhựa theo loại (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w