Khả năng thay thế men bánh mỳ bằng bột đậu nành trong nuôi luân trùng nước lợ.
Trang 1KHẢ NĂNG THAY THẾ MEN BÁNH MÌ
BẰNG BỘT ĐẬU NÀNH TRONG NUÔI LUÂN
TRÙNG NƯỚC LỢ (Brachionus plicatilis)
Nguyễn Hữu Lộc 1 và Nguyễn Thị Thúy An 1
ABSTRACT
A study was conducted by using soy-bean powder to replace the baker yeast for rotifer culture The experiment was set up with 5 treatments including combination in the ratio of 0 (control treatment: 100% baker yeast); 25; 50; 75; 100% soy-bean Experiment designed in the 10 L bottles, each bottle ml contained sea water 25ppt, 100 individual rotifer Feed on 1.5 g/million/days Environmental temperature of 28- 32 0 C, pH (7.77- 7.84) in range for rotifer culture Results showed that soy-bean powder could replaced 50% of baker yeast in rotifer culture The highest density of rotifer is 1632 individual/ml, after 7- 8 days The cultivation ratio of rotifer eggs in total rotifer are 7.9- 19.4% and the specific growth rates are 0.2- 0.3%/day
Keywords: rotifer, Brachionus plicatilis, baker yeast, soy-bean powder
Tittle: Replacement of baker yeast by soybean meal in the culture of rotifer (Brachionus plicatilis)
TÓM TẮT
Nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng sử dụng bột đậu nành để thay thế men bánh mì, xác định khẩu phần ăn thích hợp cho luân trùng Thí nghiệm tiến hành gồm 5 nghiệm thức với 3 lần lặp lại, với tỷ lệ phối hợp khác nhau lần lượt
là 0 (NTĐC); 25(NT1); 50(NT2); 75(NT3); 100% bột đậu nành(NT4) Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên trong keo 10 L, nước lợ có độ mặn 25 ppt, mật
độ luân trùng ban đầu là 100 cá thể/ml, liều lượng cho ăn 1,5 g/ triệu luân trùng/ngày Các yếu tố môi trường như nhiệt độ (28- 33 0 C); pH (7,77– 7,84) được duy trì trong khoảng thích hợp của luân trùng Kết quả cho thấy mật độ luân trùng đạt cực đại là 1.632 cá thể/ml, thời gian quần thể đạt mật độ cực đại từ 7- 8 ngày nuôi Hệ số trứng trung bình là 7,9 – 19,4%, tốc độ tăng trưởng đặc thù của luân trùng cao, dao động từ 0,2- 0,3%/ngày Như vậy, bột đậu nành có khả năng thay thế 50% men bánh mì trong nuôi luân trùng
Từ khóa: Rotifer, Brachionus plicatilis, men bánh mì, bột đậu nành
Trang 2
1 GIỚI THIỆU
Hiện nay, thức ăn tự nhiên đóng vai trò quan trọng, quyết định sự thành công trong ương nuôi nhiều đối tượng thủy sản, đặc biệt ở giai đoạn ấu trùng Trong sản xuất giống, thức ăn và kỹ thuật cho ăn khi ương ấu trùng là vấn đề rất quan trọng Mặc dù có nhiều kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất thức ăn nhân tạo nhưng
thức ăn tươi sống như tảo, luân trùng, giáp xác râu ngành, Artemia,… vẫn được
xem là thức ăn quan trọng và tiềm năng trong sản xuất giống (Trần Thị Thanh
Hiền và ctv., 2009)
Trong các nhóm trên, luân trùng (Brachionus plicatilis) là thức ăn rất thích hợp
cho ấu trùng các loài thủy sản như ấu trùng cua biển, cá biển Chúng là thức ăn tươi sống có giá trị dinh dưỡng cao vì những đặc tính như hàm lượng dinh dưỡng cao, vận động chậm, sống lơ lửng trong nước và kích thước nhỏ (50 –
200 µm) phù hợp với ấu trùng cá biển và giáp xác (Snell et al., 1984)
Kỹ thuật nuôi luân trùng đã được nghiên cứu trong hơn 40 năm qua với nhiều hình thức nuôi khác nhau từ nuôi nước tĩnh đến nước chảy, nước tuần hoàn bằng nhiều loại thức ăn phong phú như tảo, men bánh mì, bột đậu nành, Protein Selco ở dạng khô, (Fukusho, 1989) Tuy nhiên nếu cho luân trùng ăn hoàn toàn bằng tảo thì giá thành rất đắt Ngược lại, nếu sử dụng men bánh mì, bột đậu nành sẽ hạ giá thành rất nhiều do không tốn thêm bể nuôi tảo, ít tốn công lao động và chủ động được nguồn thức ăn Bên cạnh đó, bột đậu nành được biết đến là nguồn thức ăn giàu đạm, nhiều muối khoáng và vitamin được
sử dụng rộng rãi làm nguyên liệu chế biến thức ăn thủy sản Và bột đậu nành được sử dụng để nuôi luân trùng nhằm giảm chi phí sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cho quá trình ương nuôi ấu trùng hải sản Từ thực tế trên, nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu tìm ra khẩu phần cho ăn thích hợp nhất giữa hai loại thức ăn và khả năng thay thế men bánh mì bằng bột đậu nành mà vẫn đảm bảo giá trị dinh dưỡng
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thí nghiệm được tiến hành tại Khoa Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Tây
Đô Thời gian thực hiện từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2010
đến khi hết Chlorine trước khi sử dụng
Thí nghiệm có 5 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần Tỷ lệ thay thế men bánh mì bằng bột đậu nành ở các nghiệm thức đối chứng (ĐC), NT1, NT2, NT3, NT4 lần lượt là 0, 25, 50, 75, 100%
Giống luân trùng Brachionus plicatilis từ phòng thí nghiệm thức ăn tự nhiên
Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm là men bánh mì, bột đậu nành (liều lượng 1,5 g/triệu luân trùng/ngày) Men bánh
Trang 3mì là những tế bào nấm men có kích thước 5- 7 μm có hàm lượng đạm cao từ 45- 52% Bột đậu nành được sử dụng là bột đậu nành ly trích dầu có hàm lượng protein khoảng 47- 50%, lipid không quá 3%, giàu muối khoáng và
vitamin (trích dẫn Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2009) Thí nghiệm luân trùng
được nuôi trong bình thủy tinh có thể tích 8 lít, mật độ ban đầu 100 cá thể/ml, cho ăn 5 lần/ngày Các chỉ tiêu theo dõi trong thí nghiệm gồm nhiệt độ, pH,
nồng độ muối, mật độ luân trùng, tốc độ tăng trưởng đặc thù, hệ số trứng Tốc
độ tăng trưởng đặc thù của luân trùng:
SGR = (ln Nt – ln No)/t
Trong đó:
SGR: Tốc độ tăng trưởng đặc thù của luân trùng
No: Mật độ luân trùng ban đầu
t: Thời gian nuôi (ngày)
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Các yếu tố môi trường
Nhiệt độ nước trong suốt quá trình nuôi ở các bình thí nghiệm đều tương
(2004) cho rằng pH thích hợp nhất cho sự phát triển của luân trùng dao động từ 7,5– 8,5; pH trong các bể nuôi bằng men bánh mì thường giảm dần theo thời gian nuôi Chỉ số pH không có sự biến động lớn giữa các nghiệm thức và sự biến động nằm trong khoảng từ 7,77– 7,84 và nằm trong khoảng thích hợp để nuôi luân trùng
Bảng 1: Biến động giá trị trung bình của nhiệt độ, pH và nồng độ muối
Ghi chú: Các ký tự a, b theo sau trên cùng một hàng giống nhau thì khác biệt không ý nghĩa p>0,05
Nhiệt độ được đo hàng ngày vào lúc 7h và 14h
Như vậy trong suốt quá trình thí nghiệm các yếu tố môi trường như: nhiệt độ,
pH, và độ mặn đều được duy trì trong khoảng thích hợp cho sự tăng trưởng và
phát triển của luân trùng (Jame, 1990; trích dẫn bởi Fulks et al., 1991)
Trang 43.2 Sinh sản và phát triển của luân trùng
3.2.1 Mật độ
Kết quả nghiên cứu khả năng sinh sản và phát triển của quần thể luân trùng khi cho ăn bằng men bánh mì và bột đậu nành với tỷ lệ khác nhau được thể hiện ở Bảng 2 Mật độ luân trùng trong 5 nghiệm thức tăng chậm trong thời gian 2 ngày đầu thí nghiệm Mật độ quần thể luân trùng đạt cực đại từ ngày 7- 8, nghiệm thức cho luân trùng ăn hoàn toàn bằng bột đậu nành (NT4) có mật độ quần thể đạt thấp nhất Kết quả này phù hợp với kết quả của Nguyễn Văn Hạnh (2007) khi cho luân trùng ăn bằng tảo kết hợp với men bánh mì (7- 8 ngày), tuy nhiên thời gian nuôi và mật độ quần thể cao hơn trong hệ thống nuôi từng mẻ,
nuôi bán liên tục (4- 5 ngày) của Patrick Lavens et al., 1996
Mật độ luân trùng ở các NT1, NT2, NT3,NT4 tăng nhanh từ ngày thứ 3 và không khác biệt so với nghiệm thức đối chứng (ĐC), tuy nhiên từ ngày thứ 4 mật độ luân trùng ở NT4 thấp hơn các nghiệm thức còn lại (p<0,05) Trong đó NT2 luân trùng được cho ăn bằng men bánh mì và bột đậu nành theo tỷ lệ 50:50 có mật độ cao nhất 1.632±405 cá thể/ml Ngày thứ 9 tất cả các nghiệm thức mật độ quần thể bắt đầu giảm Nghiệm thức 1 và 2 khác biệt không ý nghĩa cho nên bột đậu nành có khả năng thay thế men bánh mì đến 50% Mật
độ luân trùng trong các nghiệm thức này thấp hơn mật độ luân trùng trong thí
nghiệm của Trần Công Bình và ctv, 2005 (2.309 cá thể/ml) ở ngày thứ 5 khi cho ăn bằng tảo Chlorella
Bảng 2: Mật độ luân trùng (cá thể/ml) của các nghiệm thức trong thí nghiệm
Nghiệm thức
1 144±41a 147±17a 174±40a 168±50a 172±34b
2 190±40 a 185±21 a 250±37 a 207±64 a 163±30 a
3 322±50 ab 259±11 b 373±46 ab 296±112 b 221±57 b
4 443±79 a 396±31 a 391±71 a 329±91 a 191±68 b
5 680±134 ab 527±62 a 514±61 a 594±217 ab 223±75 b
6 1.017±184 ab 653±126 ab 707±74 a 617±253 ab 241±120 b
7 1.231±145 a 818±61 b 968±125 ab 685±284 ab 240±188 a
8 1.042±80a 1.323±456b 1.632±405ab 969±54a 257±195b
9 930±273 a 683±325 a 1.205±163 a 740±387 a 160±31 b
Ghi chú: Các ký tự theo sau trên cùng một hàng giống nhau thì khác biệt không ý nghĩa p>0,05
3.2.2 Hệ số trứng
Để đánh giá chất lượng của luân trùng một chỉ tiêu không kém phần quan trọng
đó là hệ số trứng Hệ số trứng của luân trùng khi cho ăn kết hợp men bánh mì
Trang 5và bột đậu nành được thể hiện qua Bảng 3 Như vậy, mức độ kết hợp bột đậu nành với men bánh mì cũng ảnh hưởng đến hệ số trứng của luân trùng Mức kết hợp là 25% thì luân trùng có hệ số trứng trung bình cao nhất 19,4±12,3% cao hơn so với khi cho ăn hoàn toàn bằng men bánh mì 15,5±6,6%, kết quả này cho thấy mật độ luân trùng không có sự khác biệt thống kê ở mức thay thế 0%, 25% và 50% bằng bột đậu nành Tuy nhiên, hệ số trứng lại có sự giảm sút khi tăng mức kết hợp bột đậu nành trong khẩu phần thức ăn Từ kết quả thí nghiệm
ta thấy khi cho ăn bằng men bánh mì trong những ngày đầu hệ số trứng cao còn nghiệm thức có thay thế bột đậu nành, hệ số trứng gia tăng chậm hơn Nhưng mức bổ sung cũng phải trong khoảng thích hợp theo kết quả thí nghiệm nên bổ sung ở mức 25– 50% sẽ tốt cho sự phát triển của luân trùng
Theo Dương Thị Hoàng Oanh và ctv (2006), nuôi luân trùng cho ăn bằng men
bánh mì và Selco 3000 có hệ số trứng tương đương nhau dao động từ 18,4– 18,5% Kết quả của thí nghiệm này cho thấy hệ số trứng của luân trùng khi cho
ăn kết hợp men bánh mì và bột đậu nành có hệ số trứng tương đương với cho
ăn bằng thức ăn Selco 3000 Đặc biệt ở NT1 cho luân trùng ăn 25% bột đậu nành hệ số trứng trung bình đạt 19,4% (Bảng 3) Hệ số trứng cao nhất ghi nhận được ở NT1 là 37,6±14,3% vào ngày thứ 7, NT2 là 30,8±1,6% cao hơn ĐC chỉ 25,4±7,2% Theo quan sát, mỗi cá thể luân trùng mang từ 1- 4 trứng, thời gian giữa 2 lần sinh sản cách nhau khoảng 4 giờ Vậy khi thay thế men bánh mì bằng bột đậu nành ở mức 25% trong khẩu phần cho hệ số trứng tốt nhất
3.2.3 Tốc độ tăng trưởng đặc thù của luân trùng
Bảng 3 Hệ số trứng (%) của các nghiệm thức trong thí nghiệm
Nghiệm thức Ngày nuôi
1 5,2±1,2 a 4,9±1,2 a 4,3±1,2 a 2,1±1,2 a 3,6±2,7 a
2 12±3,7 a 8,1±1,3 a 6,4±1,3 a 4,2±2 a 4,8±4 a
3 13,5±1,5 ab 12,7±4 a 8,3±4,5 ab 6,3±0,6 b 6,9±1 b
4 9,1±0,7 a 14,2±5,3 a 13,4±5,2 a 7,6±2,5 a 6,6±1,5 a
5 15,7±3,7 a 14,7±4,5 a 8,2±2,7 a 16,7±4,4 a 14,5±3,2 a
6 20,6±2,4 a 32,5±12,3 a 19±3,5 a 15,6±1 a 8,9±1,1 b
7 23,1±2,2 ab 37,6±14,3 a 19,2±9,6 ab 12,6±1,9 ab 6,3±0,6 b
8 25,4±7,2 a 35,4±12,7 a 30,8±1,6 a 23,2±6,3 a 13,9±3,7 b
9 15,3±3,9 a 14,9±5 a 11,7±0,8 b 8,7±1,2 ab 5,9±3,7 ab
TB 15,5±6,6a 19,4±12,3a 13,5±8,3a 10,8±6,8ab 7,9±3,8b
Ghi chú: Các ký tự theo sau trên cùng một hàng giống nhau thì khác biệt không ý nghĩa p>0,05
Trang 6Khẩu phần cho ăn khác nhau dẫn đến tốc độ tăng trưởng có sự biến động khác nhau và được thể hiện qua Bảng 4 Tốc độ tăng trưởng đặc thù của luân trùng ở
5 nghiệm thức đều cao vào những ngày đầu thí nghiệm và có khuynh hướng giảm dần vào những ngày cuối thí nghiệm nhưng chỉ có nghiệm thức 4 do bị
nhiễm Euplotes sp và sử dụng hoàn toàn bột đậu nành đã ảnh hưởng đến sự
phát triển làm mật độ quần thể không ổn định nên tốc độ tăng trưởng có sự biến động lớn, tăng giảm không ổn định
Bảng 4 Tốc độ tăng trưởng đặc thù (%/ngày) của luân trùng
Nghiệm thức Ngày nuôi
ĐC NT1 NT2 NT3 NT4
1 0,33±0,28 a 0,38±0,12 a 0,53±0,25 a 0,52±0,31 a 0,53±0,19 a
2 0,3±0,22 a 0,23±0,01 b 0,37±0,31 ab 0,21±0,35 a -0,07±0,41 a
3 0,53±0,14a 0,34±0,09a 0,42±0,25a 0,35±0,17a 0,31±0,42a
4 0,32±0,01 a 0,43±0,06 ab 0,04±0,01 a 0,13±0,01 b -0,15±0,25 b
5 0,42±0,05 a 0,28±0,04 a 0,28±0,17 a 0,45±0,11 a 0,16±0,1 a
6 0,4±0,13a 0,2±0,17a 0,32±0,13a 0,13±0,05a -0,23±0,05a
7 0,19±0,17 a 0,37±0,23 a 0,31±0,23 a 0,11±0,06 b -0,12±0,02 c
8 -0,16±0,03 ab 0,48±0,19 ab 0,51±0,39 a 0,40±0,09 b 0,08±0,02 b
9 -0,12±0,25 a -0,06±0,48 a -0,28±0,13 a -0,39±0,04 a -0,31±0,06 a
TB 0,2±0,2 a 0,2±0,3 a 0,3±0,3 a 0,2±0,3 a 0,0±0,3 b
Ghi chú: Các ký tự theo sau trên cùng một hàng giống nhau thì khác biệt không ý nghĩa p>0,05
Nghiệm thức đối chứng cho ăn hoàn toàn bằng men bánh mì tốc độ tăng trưởng cao và ổn định ở 6 ngày đầu và bắt đầu giảm mạnh vào ngày thứ 7 Bảng 4 cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng đặc thù ở NT1 và NT2 tương đương nhau biến động trong khoảng (-0,66 - 0,48%/ngày) ở NT1 và (-0,28 - 0,53%/ngày) ở NT2 NT3 trong 3 ngày đầu tốc độ tăng trưởng cũng tương đương và khác biệt không ý nghĩa với các nghiệm thức ĐC, NT1 và NT2 Đến ngày thứ 4 quần thể bắt đầu chậm phát triển do sản phẩm thải ngày càng nhiều, tốc độ tăng trưởng giảm còn 0,13±0,01 (%/ngày) sang ngày thứ 5 lại tăng lên 0,45±0,11 (%/ngày) Như vậy, có thể nhận định rằng quần thể luân trùng khi được cho ăn bằng bột đậu nành thì phát triển không ổn định bằng luân trùng khi cho ăn bằng men bánh mì Tuy nhiên NT1 và NT2 với mức bổ sung bột đậu nành 25 – 50% tốc
độ tăng trưởng đặc thù vẫn ổn định và khác biệt không ý nghĩa so với nghiệm thức cho ăn bằng men bánh mì Ở nghiệm thức 3 và NT4 thay thế từ 75- 100% thì tốc độ tăng trưởng đặc thù thấp hơn nghiệm thức đối chứng Như vậy bột đậu nành có khả năng thay thế cho men bánh mì đến mức 50%
Trang 73.2.4 Hiệu quả kinh tế
Bên cạnh năng suất và chất lượng thì khi phân tích hiệu quả kinh tế chi phí thức ăn để sản xuất ra 1 tỉ luân trùng khi cho ăn hoàn toàn bằng men bánh mì là 1.161.000 VNĐ còn khi cho ăn men bánh mì kết hợp bột đậu nành tỷ lệ 50:50 chỉ tốn 617.500 VNĐ (Bảng 5)
Theo Bảng 5 thì chi phí thức ăn để sản xuất ra 1 tỉ luân trùng khi cho ăn hoàn toàn bằng men bánh mì gấp 1,9 lần so với khi thay thế 50% men bánh mì bằng bột đậu nành (tính đến ngày thứ 7) Và khi thay thế men bánh mì bằng bột đậu
nành chi phí thức ăn sẽ giảm rất nhiều (46,8%) Nguyễn Thị Kim Liên và ctv (2008), cho rằng nuôi luân trùng bằng Chlorella chi phí sản xuất 1 tỉ luân trùng
phải cần đến 7.050.000 VNĐ
Bảng 5: Chi phí trung bình sản xuất 1 tỉ luân trùng
Vật liệu
Số lượng (Kg)
Đơn giá (đồng/kg)
Thành tiền (VNĐ)
Số lượng (Kg)
Đơn giá (đồng/kg)
Thành tiền (VNĐ) Men bánh mì
Bột đậu nành
Tổng chi phí
thức ăn
9,677 120.000 1.161.000
1.161.000
3,838 3,838
120.000 40.000
464.000 153.500
617.500
Như vậy việc sử dụng bột đậu nành để thay thế men bánh mì trong khẩu phần cho ăn sẽ góp phần đa đạng nguồn thức ăn, hạ giá thành sản xuất luân trùng rất nhiều góp phần đem lại hiệu quả kinh tế trong sản xuất giống các đối tượng
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1 Kết luận
nành đạt cực đại vào ngày thứ 8 là 1.632±405 cá thể/ml Hệ số trứng ở mức thay thế 25% là tốt nhất cao nhất là 37,6±14,3% cao hơn nghiệm thức chỉ cho ăn bằng men bánh mì chỉ 25,4±7,2% Tốc độ tăng trưởng dao động từ 0,2 – 0,3%/ngày
75%, năng suất và tỷ lệ mang trứng luân trùng thấp
và sử dụng bột đậu nành để thay thế 50% men bánh mì vẫn đảm bảo năng suất và tỷ lệ mang trứng luân trùng
Trang 84.2 Đề xuất
với bột đậu nành với qui mô lớn hơn
với bột đậu nành
trong nuôi sinh khối luân trùng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Dương Thị Hoàng Oanh, Trần Công Bình, Trần Tấn Huy, 2006 Nghiên cứu thay
thế thức ăn Selco bằng men bánh mì trong nuôi luân trùng (Brachionus
plicatilis) thâm canh Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ Quyển 2
năm 2006 p 92- 101
Fukusho, K., 1989 Biology and mass production of the rotifer, Brachionus
plicatilis II, Int J Aqu.Fish Technology 1, pp: 92 – 299
Nguyễn Văn Hạnh, 2007 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số hóa chất lên sự tăng
trưởng của quần thể luân trùng (Brachionus plicatilis), luận văn tốt nghiệp cao
học chuyên ngành nuôi trồng thủy sản, 49 trang
Snell, T W and K Carrillo, 1984 Body size variation among strains of rotifer Brachionus plicatilis Aquaculture 37, pp: 359 – 367
Trần Công Bình, 2005 Nghiên Cứu hệ thống nuôi luân trùng năng suất cao và ổn định thích hợp với điều kiện Việt Nam Đề tài cấp bộ Trường Đại học Cần Thơ
Trần Thị Thanh Hiền, Nguyễn Anh Tuấn, 2009 Dinh dưỡng và thức ăn thủy sản NXB Nông nghiệp, 191 trang
Lavens, P and P Sorgeloos, 1996 Manual on production and use of live food for aquaculture FAO Fisheries Teachnical Paper No 361 pp: 49 – 78