Thành phố cần thu hút thêm các nhà đầu tư vi mạch bán dẫn hàng đầu thế giới để gia tăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cụm ngành, quan tâm hơn đến việc góp ý chính sách phát
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TS ĐINH CÔNG KHẢI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh
tế Thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 7 năm 2014 Tác giả
Nguyễn Đức Huy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy Đinh Công Khải và toàn thể các thầy cô thuộc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, những người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Kế đến, tôi xin cảm ơn tất cả những thầy cô làm việc tại Phòng Lab, Thư viện cũng như các phòng, ban khác của nhà trường vì những sự hỗ trợ, giúp đỡ và chỉ dẫn tận tình dành cho tôi
Tiếp theo, tôi chân thành cảm ơn các anh, chị, em học viên của chương trình Fulbright đã cho tôi những tháng ngày vô cùng tươi đẹp dưới mái trường này, đặc biệt là tập thể lớp MPP5
Sau nữa, tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị đồng nghiệp và Lãnh đạo cơ quan Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tham gia trọn vẹn khóa học này
Cuối cùng, tôi đặc biệt cảm ơn gia đình đã động viên, ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Xin chân thành cảm ơn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 7 năm 2014 Tác giả
Nguyễn Đức Huy
Trang 5TÓM TẮT
Ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn hình thành từ những năm cuối thập niên 50 của thế kỷ
20, chỉ tính riêng năm 2013 thì doanh thu ngành này đạt 305,6 tỷ USD Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên phát triển cụm ngành vi mạch bán dẫn ở Việt Nam, hiện tại thì cụm ngành này đang ở giai đoạn sơ khai, do đó luận văn đặt ra mục tiêu làm rõ và cải thiện các điểm yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành này trong tương lai
Luận văn sử dụng khung phân tích mô hình kim cương để nghiên cứu mục tiêu trên Kết quả cho thấy các điểm yếu cần cải thiện lần lượt là (i) nguồn nhân lực thiếu hụt về số lượng, (ii) nguồn tài nguyên vốn chủ yếu là nguồn vốn ngân sách hạn hẹp, (iii) cơ sở hạ tầng khoa học còn mỏng, (iv) thiếu tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, (v) công nghiệp
hỗ trợ ngành vi mạch bán dẫn hiện còn yếu
Để nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành này trong tương lai, ICDREC cần mở rộng hợp tác với các trường đại học trong nước với nội dung đào tạo gắn với nhu cầu từ doanh nghiệp, mở rộng hợp tác đào tạo với nước ngoài, chọn lựa các cơ sở đào tạo nước ngoài có
uy tín cao, có cơ sở vật chất hiện đại và có nguồn giảng viên có chất lượng, cũng cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực tham gia trực tiếp vào sản xuất vi mạch bán dẫn Thành phố nên có kế hoạch sử dụng nguồn tài nguyên vốn cụ thể cho từng nội dung của chương trình phát triển vi mạch để giúp cho việc sử dụng vốn luôn được đúng lúc đúng chỗ Thành phố cần đầu tư thêm cho các tổ chức nghiên cứu như ICDREC, Trung tâm Nghiên cứu Triển khai của KCNC và Đại học Quốc gia TP.HCM với những đề tài đặt hàng mang tính thực tiễn cao từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và xã hội Nhà máy sản xuất vi mạch trong KCNC nên đầu tư theo hướng sản xuất theo chính thiết kế của mình, lựa chọn mua công nghệ ban đầu theo ý kiến tham vấn của chuyên gia hàng đầu, rồi dần phát triển cao hơn bằng hoạt động nghiên cứu trong nước Thành phố cần thu hút thêm các nhà đầu tư vi mạch bán dẫn hàng đầu thế giới để gia tăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cụm ngành, quan tâm hơn đến việc góp ý chính sách phát triển vi mạch từ doanh nghiệp,
và phải giữ vai trò chủ yếu trong việc tiêu thụ các sản phẩm vi mạch bán dẫn nội địa trong giai đoạn đầu Thành phố cần ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành vi mạch bán dẫn, liên kết ngành vi mạch với các ngành có liên quan bằng cách đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng sản phẩm vi mạch dựa trên nhu cầu của doanh nghiệp từ các ngành liên quan
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ HỘP vii
DANH MỤC PHỤ LỤC viii
CHƯƠNG 1TỔNG QUAN 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu và vấn đề chính sách 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 4
1.4 Nguồn dữ liệu và thông tin của nghiên cứu 5
1.5 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, KHUNG PHÂN TÍCH VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 6
2.1 Cơ sở lý thuyết 6
2.2 Khung phân tích của nghiên cứu 7
2.3 Các bài học kinh nghiệm phát triển ngành vi mạch 9
2.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 9
2.3.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản 10
2.3.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 12
Trang 7CHƯƠNG 3 NĂNG LỰC CẠNH TRANH HIỆN TẠI CỦA CỤM NGÀNH CÔNG
NGHIỆP VI MẠCH BÁN DẪN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 13
3.1 Những điều kiện nhân tố đầu vào 13
3.1.1 Tài nguyên con người 14
3.1.2 Tài nguyên vốn 15
3.1.3 Cơ sở hạ tầng khoa học 17
3.2 Những điều kiện cầu 18
3.2.1 Thị trường nội địa 18
3.2.2 Nhu cầu nội địa khắt khe và khả năng đáp ứng nhu cầu chuyên biệt hóa 20
3.3 Môi trường chính sách giúp phát huy chiến lược kinh doanh và cạnh tranh 21
3.3.1 Môi trường chính sách 21
3.3.2 Cạnh tranh trong sản xuất vi mạch 23
3.4 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan 25
3.4.1 Công nghiệp hỗ trợ 25
3.4.2 Các ngành liên quan 26
3.5 Tổng hợp phân tích 28
CHƯƠNG 4KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH VÀ HẠN CHẾ 32
4.1 Kết luận 32
4.2 Các khuyến nghị chính sách 32
4.3 Hạn chế của đề tài 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
PHỤ LỤC 40
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ICDREC Vietnam National University -
Integrated Circuit Design Research and Education Center
Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Thiết kế Vi mạch - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
KCNC Saigon Hi-tech Park Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ
Chí Minh
UBNDTP Ho Chi Minh People’s Commitee Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ HỘP
Bảng 2.1 Doanh thu của các cường quốc vi mạch bán dẫn theo thời gian ………… 11 Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả chỉ số PCI của TP.HCM giai đoạn 2007 – 2013 ……… 23 Hình 2.1 Mô hình kim cương của Michael Porter ……… 08 Hình 2.2 Thị trường bán dẫn toàn cầu phân theo vùng, 2003 – 2011 ……… 41 Hình 2.3 So sánh tốc độ tăng trưởng thị trường bán dẫn giữa Trung Quốc và thế giới
Hình 3.1 Mức lương trung vị phân theo nhóm đơn vị sử dụng lao động có tính học
thuật/phi học thuật và theo nhóm thu nhập quốc gia ………
42
Hình 3.2 Mức lương trung vị phân theo khu vực ……… 43 Hình 3.3 Các đề án trong Chương trình phát triển vi mạch TP.HCM ……….… 22 Hình 3.4 Kết quả 10 chỉ số thành phần PCI giai đoạn 2011 – 2013 ……… 43 Hình 3.5 Phân bổ các đơn vị hoạt động trong ngành vi mạch bán dẫn ở Việt Nam … 44 Hình 3.6 Tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp thuộc các ngành có liên quan
đến vi mạch bán dẫn, giai đoạn 2008 – 2011 (so với năm 2005) ………
28
Hình 3.7 Kết quả đánh giá năng lực cạnh tranh cụm ngành vi mạch tại TP.HCM
theo mô hình kim cương ………
30
Hình 3.8 Sơ đồ cụm ngành vi mạch tại TP.HCM ……… 31
Hộp 1.2 Một số điều kiện tiền đề để phát triển cụm ngành 40
Trang 10DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 2 Phỏng vấn PGS.TS Lê Hoài Quốc ……….……… 45 Phụ lục 3 Request for Information of Intel ……… ……… 48
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Bối cảnh nghiên cứu và vấn đề chính sách
Ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn (hay còn gọi là ngành vi mạch bán dẫn) bắt đầu hình thành từ những năm cuối thập niên 50 của thế kỷ trước với sự kiện Jack S Kilby trình làng sản phẩm vi mạch bán dẫn hoàn chỉnh đầu tiên đến các nhà quản lý của Texas Instruments vào ngày 12/9/1958 tại Hoa Kỳ, và đã mở ra trang mới cho sự phát triển của ngành công nghiệp điện tử với doanh thu ngành trong thập niên đầu của thế kỷ 21 đạt khoảng 1.500 tỷ USD so với 29 tỷ USD vào năm 1961, bởi lý do vi mạch có mặt trong hầu hết các sản phẩm điện tử ở mọi lĩnh vực từ khám phá không gian cho đến công nghệ thông tin, viễn thông, và thậm chí cả y tế1 Thêm vào đó, ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn giúp gia tăng sức mạnh của quốc gia2, chỉ tính riêng năm 2013 thì doanh số toàn cầu của ngành đã đạt mức 305,6 tỷ USD3, và Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc là những quốc gia nắm giữ thứ hạng hàng đầu thế giới trong ngành vi mạch hiện nay4
Tại Việt Nam, chuyên gia Đặng Lương Mô (xem Hộp 1.1 tại Phụ lục 1) được xem là người khai sinh cho ngành vi mạch bán dẫn vì ông đã đặt nền móng cho sự ra đời của Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo thiết kế vi mạch thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ICDREC), Phòng Nghiên cứu Thiết kế và Mô phỏng vi mạch và Chương trình đào tạo sau đại học hướng vi điện tử của Đại học Quốc gia TP.HCM5 Chỉ sau 5 năm kể từ khi được thành lập, ICDREC đã gặt hái được thành tích ban đầu bằng sự kiện công bố việc thiết kế
và thử nghiệm thành công chip vi xử lý 32 bit VN1632 vào ngày 27/10/2010 với khả năng đáp ứng công tác xử lý thông tin, hình ảnh, âm thanh, mã hóa và giải mã dữ liệu … dù còn khó khăn về vấn đề chưa có chế độ giảm công suất, tuy nhiên, ICDREC khẳng định vấn đề này sẽ được xử lý để có thể ứng dụng rộng rãi con chip VN16326 Thêm vào đó, Trung tâm Nghiên cứu Triển khai của KCNC cũng vừa công bố việc chế tạo và thương mại hóa thành
Trang 12công hàng loạt các loại Diode Schottky - vốn được sử dụng nhiều trong các sản phẩm điện
tử - vào tháng 4/20137, và những sự kiện này đã giúp Việt Nam được thế giới công nhận là quốc gia có khả năng thiết kế vi mạch
Trong bối cảnh như thế, Chính phủ Việt Nam đã chính thức quyết định xây dựng và phát triển ngành vi mạch bán dẫn bằng hai quyết định của Thủ tướng Chính phủ, cụ thể là (i) Quyết định số 2441/QĐ-TTg ngày 31/12/2010 về phê duyệt Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020, và (ii) Quyết định số 2457/QĐ-TTg ngày 31/12/2010 về phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020 Nhờ vậy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mới có cơ sở ban hành Quyết định số 6358/QĐ-UBND ngày 14/12/2012 về phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp vi mạch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 – 2020, chỉ sau hai năm kể từ khi có chủ trương chính thức từ Chính phủ, và Chương trình này cũng nhận được sự ủng hộ từ Chính phủ qua Thông báo
số 170/TB-VPCP ngày 17/4/2013 với yêu cầu về tính hiệu quả và phát triển bền vững, đặc biệt là đảm nhận vai trò địa phương tiên phong trong phát triển công nghiệp vi mạch bán dẫn
Hiện tại, TP.HCM đang sở hữu hai điều kiện tiền đề để phát triển cụm ngành vi mạch bán dẫn (xem Hộp 1.2 tại Phụ lục 1), đó là (i) sự hiện diện của tập đoàn Intel thông qua nhà máy kiểm định và đóng gói chip trong Khu Công nghệ cao TP.HCM với vốn đầu tư đăng
ký là 1 tỷ USD, (ii) môi trường thu hút đầu tư tương đối tốt vì tiếp tục là địa phương dẫn đầu trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với số vốn thu hút lũy kế là 32,2 tỷ USD tính đến năm 20128 Ngoài ra, Thành phố còn có Hội Công nghệ Vi mạch Bán dẫn TP.HCM ra mắt vào ngày 15/3/2013 tại Hội nghị triển khai chương trình phát triển công nghiệp vi mạch theo Quyết định 6358/QĐ-UBND nêu trên9
Từ các nội dung trên, có thể thấy cụm ngành vi mạch bán dẫn ở TP.HCM hiện mới hình thành và đang ở giai đoạn sơ khai Điều này có thuận lợi là dễ điều chỉnh chính sách và định hướng phát triển, đồng thời cũng có bất lợi do đi sau khá xa so với các quốc gia khác nên sẽ không dễ phát triển để tiến đến cạnh tranh trong tương lai Hơn thế nữa, vì đây là
7 Dương Minh Tâm (2013)
8 Cục Đầu tư nước ngoài (2013)
9 Quốc Hùng (2013)
Trang 13cụm ngành vi mạch bán dẫn đầu tiên ở Việt Nam nên cần thiết phải tìm hiểu và làm rõ các điểm yếu cùng những tiềm năng trong năng lực cạnh tranh của cụm ngành này, từ đó tìm cách cải thiện các điểm yếu và tận dụng những tiềm năng này để giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành vi mạch ở Thành phố trong tương lai
Vấn đề chính sách được đặt ra là đánh giá năng lực cạnh tranh hiện tại của cụm ngành vi mạch bán dẫn tại Thành phố Hồ Chí Minh và xác định Nhà nước cần làm gì để giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của cụm ngành này trong tương lai, nhằm phát triển cụm ngành vi mạch bán dẫn theo đúng như kỳ vọng
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Từ vấn đề chính sách được đặt ra ở trên, mục tiêu nghiên cứu của luận văn sẽ là đánh giá năng lực cạnh tranh hiện tại của cụm ngành vi mạch bán dẫn ở Thành phố Hồ Chí Minh,
và đưa ra các khuyến nghị cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh của cụm ngành này trong tương lai
Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu như trên, luận văn sẽ lần lượt nghiên cứu và trả lời hai câu hỏi sau đây:
Câu hỏi 1: Năng lực cạnh tranh hiện tại của cụm ngành vi mạch bán dẫn ở Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?
Câu hỏi 2: Các khuyến nghị chính sách giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho cụm ngành
vi mạch bán dẫn ở Thành phố Hồ Chí Minh là gì?
Trang 141.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung đánh giá năng lực cạnh tranh hiện tại của cụm ngành vi mạch bán dẫn ở Thành phố Hồ Chí Minh, để làm rõ các điểm yếu và những tiềm năng trong năng lực cạnh tranh của cụm ngành này
Phương pháp nghiên cứu
Để trả lời cho hai câu hỏi nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụng lý thuyết cụm ngành và khung phân tích mô hình kim cương của Michael Porter, và sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính theo hướng phân tích các dữ liệu thứ cấp, thu thập các bài học kinh nghiệm của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, cũng như tham khảo ý kiến chuyên gia
Luận văn sẽ thực hiện quy trình nghiên cứu theo trình tự các bước như sau:
Bước một, tổng quan về khung phân tích cụm ngành của Michael Porter và tổng hợp những bài học kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc
Bước hai, tham khảo ý kiến một chuyên gia thông qua phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin về cụm ngành vi mạch bán dẫn của TP.HCM cùng các ý kiến góp ý phát triển cụm ngành này Cụ thể chuyên gia này là PGS.TS Lê Hoài Quốc - Trưởng ban Ban Quản
lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, đơn vị có uy tín và có liên quan chặt chẽ đến chương trình phát triển ngành công nghiệp vi mạch của Thành phố Hồ Chí Minh
Bước ba, thực hiện đánh giá năng lực cạnh tranh của cụm ngành vi mạch bán dẫn ở Thành phố Hồ Chí Minh theo khung phân tích mô hình kim cương của Michael Porter
Bước bốn, sử dụng kết quả nghiên cứu ở ba bước trên để tổng hợp, đưa ra kết luận và các khuyến nghị chính sách giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của cụm ngành vi mạch bán dẫn
ở Thành phố trong tương lai
Trang 151.4 Nguồn dữ liệu và thông tin của nghiên cứu
Luận văn sử dụng các dữ liệu thứ cấp và thông tin lấy từ trang thông tin chính thức của các
cơ quan nhà nước, các trang báo mạng uy tín ở Việt Nam vì cụm ngành vi mạch bán dẫn ở TP.HCM đang ở giai đoạn sơ khai nên không có nhiều dữ liệu sơ cấp để thu thập và sử dụng Ngoài ra, luận văn cũng sẽ sử dụng dữ liệu từ các bài báo, thông tin khoa học về phát triển công nghiệp vi mạch từ các nguồn có uy tín và giá trị Cuối cùng, luận văn cũng sẽ sử dụng một số bài học kinh nghiệm phát triển vi mạch bán dẫn của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc cùng những ý kiến tham khảo từ chuyên gia để phân tích và đưa ra những khuyến nghị chính sách
1.5 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm có 4 chương Chương 1 đưa ra bối cảnh hình thành luận văn, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu Chương 2 giới thiệu
cơ sở lý thuyết, khung phân tích của nghiên cứu cùng những bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc Chương 3 thể hiện nội dung phân tích năng lực cạnh tranh hiện tại của cụm ngành vi mạch bán dẫn ở Thành phố Hồ Chí Minh Chương 4 trình bày kết luận và các khuyến nghị chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành vi mạch bán dẫn của thành phố trong tương lai, và những hạn chế của đề tài
Trang 16Phạm vi địa lý của một cụm ngành có thể là một thành phố, một vùng, một quốc gia hay thậm chí là một nhóm các quốc gia lân cận Cấu trúc cụm ngành rất đa dạng, tùy thuộc vào chiều sâu và độ phức tạp của nó Một cụm ngành điển hình thường bao gồm các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng, các doanh nghiệp ở thượng nguồn và hạ nguồn, các doanh nghiệp cung ứng chuyên biệt, các đơn vị cung cấp dịch vụ, các ngành liên quan (sản xuất, công nghệ, quan hệ khách hàng), các thể chế hỗ trợ (tài chính, giáo dục, nghiên cứu,
cơ sở hạ tầng), …
Một cụm ngành có thể được hình thành và phát triển nhờ vào (i) những điều kiện tự nhiên
và sự có sẵn của các nhân tố sản xuất, hay (ii) những điều kiện về nhu cầu, hay (iii) một hoặc một số doanh nghiệp chủ chốt, hay (iv) sự thành công của các cụm ngành đã hình thành từ trước, hay (v) sự đầu tư của nhà nước Sự phát triển của cụm ngành có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế vì giúp tăng cường cạnh tranh, đẩy mạnh hợp tác, tạo hiệu ứng cộng hưởng và tác động lan tỏa để đưa đến kết quả cuối cùng là tăng năng suất,
10 Vũ Thành Tự Anh (2013)
Trang 17đổi mới, thương mại hóa và khởi nghiệp Tuy nhiên, để cạnh tranh thành công thì các cụm ngành phải dựa vào một hay một số lợi thế đặc thù tương ứng với từng hoàn cảnh cụ thể
Nhà nước có thể sử dụng cách tiếp cận cụm ngành để thực hiện các chiến lược và mục tiêu của mình, nhưng nếu can thiệp thái quá thì có thể dẫn đến thất bại của nhà nước vì sự hình thành và phát triển của cụm ngành cũng tuân theo quy luật nhất định Ngày nay, sự phát triển của tất cả các cụm ngành đều phụ thuộc vào sự trỗi dậy của các doanh nghiệp then chốt, từ đó thu hút tiếp các doanh nghiệp cạnh tranh và các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Khi đã đạt được hiệu quả theo quy mô thì các tác động tương hỗ giữa các thành phần trong cụm ngành sẽ giúp duy trì sự phát triển của cụm ngành
2.2 Khung phân tích của nghiên cứu
Mô hình kim cương phản ánh quan niệm của Michael Porter về những lợi thế cạnh tranh có tính địa phương, bao gồm bốn nhân tố cụ thể như sau:
Những điều kiện nhân tố đầu vào, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên con người, tài nguyên vốn, cơ sở hạ tầng khoa học, cơ sở hạ tầng thông tin, … Điều kiện về cơ sở hạ tầng khoa học có vai trò quan trọng vì nếu như một cụm ngành có được nguồn nhân lực trình độ cao nhưng lại không có cơ sở hạ tầng khoa học tốt thì nguồn nhân lực này sẽ không thể khai thác cơ sở hạ tầng khoa học để phát huy năng lực của mình, từ đó, nguồn nhân lực này có thể sẽ di chuyển sang nơi khác
Những điều kiện cầu, bao gồm nhu cầu thị trường nội địa, khách hàng nội địa sành sỏi và đòi hỏi khắt khe, và nhu cầu nội địa ở những phân khúc chuyên biệt hóa Nhu cầu nội địa giúp ích nhiều cho sự tồn tại của những cụm ngành mới hình thành vì việc vươn ra thị trường thế giới thông qua cạnh tranh của một cụm ngành còn non trẻ là điều không hề dễ dàng Những đòi hỏi khắt khe từ khách hàng nội địa là động lực cho sự nâng cấp và cải tiến của các doanh nghiệp trong cụm ngành, qua đó cũng thúc đẩy cạnh tranh giữa các doanh nghiệp này
Môi trường chính sách giúp phát huy chiến lược kinh doanh và cạnh tranh, bao gồm môi trường nội địa khuyến khích đầu tư, và sự cạnh tranh quyết liệt giữa các đối thủ tại địa phương Một địa phương nếu minh bạch và thông thoáng về các quy định, thủ tục đầu tư,
Trang 18và tồn tại một cụm ngành có thị trường tiềm năng thì sẽ dễ thu hút các doanh nghiệp đến
để đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh trong cụm ngành đó, từ đó gia tăng sự cạnh tranh giữa các đối thủ trong cụm ngành và giúp phát triển cụm ngành
Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan, bao gồm sự hiện hữu của nhà cung cấp nội địa có năng lực, và sự hiện hữu của các ngành công nghiệp cạnh tranh có liên quan Các nhà cung ứng có năng lực tạo thêm sự tin tưởng trong quyết định đầu tư của các nhà đầu
tư, giúp các nhà đầu tư giảm chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu, giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực sản xuất nhờ tiết kiệm được thời gian nhập khẩu nguyên vật liệu Các ngành công nghiệp cạnh tranh có liên quan cũng là động lực giúp cụm ngành phát triển, ví
dụ như sản phẩm của cụm ngành chính là đầu vào của các ngành công nghiệp khác
Hình 2.1 Mô hình kim cương của Michael Porter
Nguồn: Porter (2008)
Môi trường chính sách giúp phát huy chiến lược kinh doanh và cạnh tranh
Cạnh tranh quyết liệt giữa các đối thủ tại địa phương
Số lượng và chi phí của nhân
tố
Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên con người
Những khách hàng nội địa sành sỏi và đòi hỏi khắt khe
Nhu cầu của khách hàng nội địa dự báo nhu cầu ở những nơi khác
Nhu cầu nội địa bất thường
ở những phân khúc chuyên biệt hóa có thể được đáp ứng trên toàn cầu
Trang 192.3 Các bài học kinh nghiệm phát triển ngành vi mạch
2.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Năm 2004, PricewaterhouseCoopers đã thực hiện loạt báo cáo tình huống “China’s Impact
on the Semiconductor Industry” để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của khách hàng của họ đối với sự phát triển vượt bậc của ngành bán dẫn Trung Quốc Trải qua gần 10 năm kể từ báo cáo đầu tiên của PricewaterhouseCoopers, trong báo cáo cập nhật vào năm 2012 có tên
“Another year of strong growth China’s Impact on the Semiconductor Industry 2012 update”, Trung Quốc vẫn gây ấn tượng khi thị trường vi mạch bán dẫn của nước này đạt mức tăng trưởng 14,6% trong năm 2011 và chiếm 47% thị trường toàn cầu, dù đây đang là thời điểm khủng hoảng kinh tế toàn cầu (xem Hình 2.2 tại Phụ lục 1)
Trung Quốc đã phát triển ngành vi mạch bán dẫn của họ một cách nhanh chóng và đạt được những thành công ấn tượng thế giới nhờ vào ba yếu tố sau:
Một là, chính sách thu hút đầu tư của Trung Quốc dựa vào lợi thế giá thuê đất thấp và nhân công giá rẻ, song song đó, họ cũng đầu tư nhiều cho cơ sở hạ tầng cứng Kết quả là Trung Quốc thu hút được các công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới về lĩnh vực vi mạch như Intel, Samsung, Toshiba, TI, Hynix, ST, Freescale và NXP/Philip …, nhờ đó tiếp tục
có được sự hiện diện của các công ty là nhà cung cấp hàng đầu cho các công ty đa quốc này
Hai là, quy mô thị trường nội địa về sản phẩm điện tử của Trung Quốc là rất lớn với lợi thế
về dân số, đặc biệt là cộng thêm nhu cầu từ thị trường toàn cầu khi có đến 63% sản phẩm
vi mạch bán dẫn của Trung Quốc được sử dụng trong các sản phẩm điện tử hoàn chỉnh và tiêu thụ ở các quốc gia khác, tốc độ tăng trưởng thị trường bán dẫn Trung Quốc hầu như luôn cao hơn thế giới (xem Hình 2.3 tại Phụ lục 1) Ngoài ra, các công ty đa quốc gia cũng thấy được cơ hội phát triển từ nhu cầu thị trường nội địa về sản phẩm điện tử ở Trung Quốc, đặc biệt là sản phẩm điện thoại thông minh và các sản phẩm giải trí cầm tay như máy tính bảng, máy nghe nhạc (nhu cầu của hai dòng sản phẩm này trong năm 2011 ở Trung Quốc lần lượt là 6 tỷ USD và 3,6 tỷ USD)
Trang 20Ba là, chiến lược phát triển ngành vi mạch của Trung Quốc luôn có kế hoạch rõ ràng và
cụ thể, các kế hoạch của từng giai đoạn đa phần phù hợp với năng lực tương ứng của họ tại thời điểm đó, vì vậy có tính khả thi cao Đầu tiên, Trung Quốc chủ trương giảm bớt phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài thông qua việc tạo ra nhiều công nghệ nội sinh của quốc gia bằng cách trải thảm thu hút nhân tài ở nước ngoài song song với việc gửi nhân tài trong nước đi đào tạo ở nước ngoài, và đã thành công Kế đến, họ mở rộng thị trường bằng việc
đa dạng và hiện đại hóa sản phẩm về số lượng với giá cả cạnh tranh (xem Hình 2.4 tại Phụ lục 1), họ cũng chọn một số lĩnh vực công nghệ chiến lược để phát triển như công nghệ điện toán đám mây … Hiện nay, Trung Quốc đặt ra kế hoạch đến năm 2015 phải ươm tạo khoảng 5 đến 10 công ty thiết kế vi mạch trong đó có một công ty nằm trong nhóm 10 công ty hàng đầu thế giới, cạnh tranh bằng giá hơn là bằng công nghệ, là quốc gia cấp bằng sáng chế lần đầu cho các phát minh về vi mạch càng nhiều càng tốt (bước đầu đã có từ 5% đến 6% số bằng sáng chế cho các phát minh về vi mạch được cấp lần đầu tại Trung Quốc trong giai đoạn 2007 - 2011)
2.3.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản11
Nhật Bản là quốc gia đầu tiên đã sản xuất hàng loạt được vi mạch với quy mô rất lớn (VLSI: Very Large Scale Integration), nhờ đó đã dẫn đầu thế giới về sản xuất vi mạch cho đến cuối thập niên 1980, doanh thu sản phẩm vi mạch bán dẫn của Nhật Bản luôn dẫn đầu
và chỉ nhường vị trí dẫn đầu cho Hoa Kỳ kể từ năm 2001, nhưng cũng chiếm vị trí thứ hai (xem Bảng 2.1 bên dưới)
Ngoài thành tích là quốc gia đầu tiên sản xuất vi mạch với quy mô rất lớn, Nhật Bản cũng
nỗ lực phát triển được tất cả những công nghệ liên quan đến quá trình sản xuất vi mạch, từ vật liệu đầu vào cho đến các thiết bị chế biến, kiểm tra và đóng gói vốn rất đắt tiền nhờ vào quyết tâm thực hiện kế hoạch VL Project với tên gọi chính thức là Tổ hợp Nghiên cứu Công nghệ Vi mạch Siêu quy mô thuộc Bộ Thương nghiệp quốc tế và Công nghiệp Nhật Bản
11 Đã trích dẫn ở mục 4
Trang 21Bảng 2.1 Doanh thu của các cường quốc vi mạch bán dẫn theo thời gian
Nguồn: Đặng Lương Mô (2011), Sự cần thiết của nhà máy chip điện tử trong quá trình công nghiệp hóa đất
nước, Đại học Quốc gia TP.HCM
VL Project là một kế hoạch được thực hiện trong 4 năm (1976 - 1980) và mang lại sự thành công cho Nhật Bản trong việc phát triển ngành vi mạch bán dẫn nhờ vào các đặc trưng sau:
Một là, lần đầu tiên và duy nhất Chính phủ khiến các công ty khổng lồ vốn đang cạnh tranh khốc liệt với nhau như Fujitsu, Hitachi, Mitsubishi, NEC và Toshiba phải cùng nhau hợp tác vì chính sự sống còn của họ
Hai là, mục tiêu nghiên cứu là để tạo ra công nghệ nguồn không những về chế tạo vi mạch
mà cả về chế tạo thiết bị sản xuất vi mạch
Ba là, quy tụ được những nhà nghiên cứu mà thành tích chuyên môn và nhân cách được khẳng định bởi sự nể trọng mà xã hội và giới khoa học dành cho họ
Bốn là, chủ nhiệm VL Project là Ông Masato Nebashi, vốn là một quan chức cao cấp của
Bộ Thương nghiệp quốc tế và Công nghiệp Nhật Bản, ông nổi tiếng có tính quyết đoán đúng lúc đúng chỗ và có năng lực đàm phán trong vấn đề ngân sách Giám đốc nghiên cứu của VL Project là Tiến sĩ Yasuo Tarui, là một trong những nhà khoa học có đóng góp to lớn cho ngành vi mạch Nhật Bản ngay từ lúc ban đầu
Trang 22Năm là, kinh phí thực hiện kế hoạch VL Project toàn bộ từ ngân sách quốc gia với tổng kinh phí cho 4 năm khoảng 290 triệu USD vào thời điểm đó, bình quân mỗi năm chi khoảng 0,05% tổng ngân sách quốc gia
2.3.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc12
Hàn Quốc cũng bắt đầu xây dựng và phát triển ngành vi mạch bán dẫn từ khâu lắp ráp cho nước ngoài cùng thời với Malaysia, Philippines và Thái Lan nhưng đã không dừng lại ở khâu này Lần đầu tiên tham gia thị trường vi mạch thế giới vào năm 1988, Hàn Quốc đã
có mức doanh thu là 0,905 tỷ USD, xếp trên cả nước Đức Sau đó, họ tiếp tục có bước nhảy vọt đáng kể khi doanh thu ngành vi mạch đạt 7,61 tỷ USD năm 2001, xếp trên cả Hà Lan, Đức, Pháp và Ý, rồi có bước nhảy vọt khi đạt doanh thu năm 2010 là 38,411 tỷ USD, chỉ xếp sau Nhật Bản và Hoa Kỳ (xem Bảng 2.1 ở trên)
Một điểm đáng chú ý là thay vì nỗ lực bảo hộ sản phẩm vi mạch nội địa trong thời gian đầu mới phát triển thì Hàn Quốc lại không làm như vậy, họ tập trung đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu thông qua các viện nghiên cứu và trường đại học có uy tín, các đề tài nghiên cứu đều được đặt hàng dựa trên nhu cầu thực tế từ doanh nghiệp và xã hội, do đó có tính ứng dụng cao (xem Phụ lục 2) Hàn Quốc phát triển thành công ngành vi mạch bán dẫn và đạt được vị trí tương đối trong ngành vi mạch bán dẫn thế giới là nhờ vào các yếu tố sau: Một là, có nguồn nhân lực trình độ cao với mức lương thấp và thị trường nội địa sẵn có
Hai là, có những nhà đầu tư lớn trong nước dám mạo hiểm nhưng cũng biết tự lượng sức
để lựa chọn quy mô đầu tư phù hợp với khả năng, và sẵn sàng tập trung đầu tư đúng lúc đúng chỗ
Ba là, các doanh nghiệp biết chủ động hợp tác nghiên cứu với nhau và nhà nước thì tích cực hỗ trợ về mặt kinh phí và pháp lý
Bốn là, ngân sách tập trung đầu tư cho các trường đại học và các viện nghiên cứu có uy tín và đặt hàng những đề tài nghiên cứu mang tính thực tiễn cao lấy từ ý kiến đóng góp của các doanh nghiệp
12 Đã trích dẫn ở mục 4
Trang 23CHƯƠNG 3
NĂNG LỰC CẠNH TRANH HIỆN TẠI CỦA CỤM NGÀNH CÔNG NGHIỆP VI
MẠCH BÁN DẪN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 3.1 Những điều kiện nhân tố đầu vào
Thành phố Hồ Chí Minh được công nhận là một trong những thành phố năng động và hiện đại nhất ở Việt Nam, các điều kiện nhân tố đầu vào như cơ sở hạ tầng vật chất, cơ sở hạ tầng quản lý và cơ sở hạ tầng thông tin đều được chính quyền Thành phố chú trọng đầu tư tối đa với những nguồn lực phù hợp trong khả năng Trong báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2013, Thành phố Hồ Chí Minh cùng Đà Nẵng, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bắc Ninh là các tỉnh được đánh giá tốt nhất về cơ sở hạ tầng13
Theo quan điểm của tác giả, có ba điều kiện nhân tố đầu vào mang tính quyết định cho việc phát triển ngành vi mạch bán dẫn ở TP.HCM, đó chính là (i) Tài nguyên con người, (ii) Tài nguyên vốn và (iii) Cơ sở hạ tầng khoa học, vì các lý do sau:
Thứ nhất, đặc điểm nổi bật nhất của nguồn tài nguyên con người chính là tính sáng tạo, chính sự sáng tạo mang lại những đổi thay không ngừng cho cuộc sống và làm thế giới phát triển Vì vậy, phải có được những người thực sự giỏi và đầy đam mê thì mới có thể mang đến những sáng tạo giúp phát triển ngành vi mạch bán dẫn cho TP.HCM
Thứ hai, nếu nguồn tài nguyên vốn được bảo đảm thì mới có thể thực hiện được những đầu
tư cần thiết giúp tạo môi trường thuận lợi cho việc nghiên cứu, thiết kế và sản xuất vi mạch bán dẫn
Thứ ba, cơ sở hạ tầng khoa học là cực kỳ quan trọng cho việc phát triển ngành vi mạch bán dẫn vì nếu không cẩn thận trong việc chọn lựa công nghệ sản xuất vi mạch thì TP.HCM sẽ
dễ bị cuốn vào vòng xoáy chạy đua công nghệ hoặc trở thành bãi rác công nghệ của ngành
vi mạch bán dẫn thế giới
13 Vũ Tiến Lộc và Đậu Anh Tuấn (2014)
Trang 243.1.1 Tài nguyên con người
Về mặt số lượng, nguồn tài nguyên con người tính riêng cho ngành vi mạch bán dẫn đang
ở tình trạng thiếu hụt lớn Ông Ngô Đức Hoàng - Giám đốc ICDREC - cho biết mỗi năm chỉ có ICDREC đào tạo được khoảng 105 kỹ sư thiết kế vi mạch, trong đó có 5 người chuyên sâu về quản lý ở TP.HCM trong hiện tại, nếu theo đúng thời gian thực hiện của
“Chương trình phát triển công nghiệp vi mạch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 – 2020” thì đến năm 2020, TP.HCM sẽ có được khoảng 700 kỹ sư và 35 quản lý, trong khi
đó, nhu cầu nguồn nhân lực ngành vi mạch bán dẫn tại TP.HCM hiện khá cao, cụ thể như công ty Renesas Việt Nam cần khoảng 200 người/năm, công ty Applied Micro cần khoảng
100 người/năm, …14, chỉ tính riêng hai công ty này thì mỗi năm nhu cầu nhân lực ngành vi mạch tại thành phố đã là 300 người, tính đến năm 2020 thì sẽ là 2.100 người, và rõ ràng là
có sự chênh lệch giữa cung và cầu về nguồn nhân lực cho ngành vi mạch bán dẫn tại TP.HCM Hơn thế nữa, nguồn nhân lực tham gia trực tiếp vào việc sản xuất vi mạch bán dẫn ở TP.HCM hiện nay gần như là không có (xem Phụ lục 2), điều này có thể ảnh hưởng đến kế hoạch xây dựng và vận hành nhà máy sản xuất vi mạch đầu tiên của Thành phố tại KCNC theo “Chương trình phát triển công nghiệp vi mạch TP.HCM giai đoạn 2013 – 2020” Trên thực tế, ICDREC cũng có liên kết đào tạo với Trung tâm Vi mạch Đà Nẵng và kết quả là có thêm được 24 chuyên viên thiết kế vi mạch sau khóa đào tạo đầu tiên bế giảng vào tháng 4/2014 vừa qua, tuy nhiên, nguồn nhân lực này sẽ được ưu tiên phục vụ cho ngành vi mạch Đà Nẵng15, và do đó cũng không giúp bổ sung nhiều cho cụm ngành vi mạch ở TP.HCM trong tương lai gần
Vấn đề đào tạo trong ngành vi mạch hiện có những tín hiệu tốt, cho thấy tiềm năng về chất lượng nguồn nhân lực của ngành trong tương lai, đó là sự kiện ICDREC đã tổ chức khai giảng khóa đào tạo đầu tiên về thiết kế vi mạch tương tự (Analog +1) - nằm trong “Chương trình phát triển công nghiệp vi mạch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 - 2020” - vào ngày 27/12/2013, với sự tham gia của các giáo sư của các trường đại học kỹ thuật danh tiếng từ Nhật Bản và Thụy Sĩ cùng đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm từ ICDREC và từ các trường đại học hàng đầu Việt Nam, nhằm mục tiêu đào tạo được đội ngũ kỹ sư thiết kế
14 Bá Tân (2013)
15 Thanh Liêm (2014)
Trang 25vi mạch tương tự có trình độ chuyên môn ngang bằng quốc tế nhờ vào việc tiếp xúc với môi trường đào tạo và kỹ thuật đẳng cấp thế giới16
Mức lương trung vị của nguồn nhân lực ngành vi mạch giữa nhóm nước thu nhập cao và nhóm nước thu nhập thấp - theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới - lần lượt là 108.000 USD và 24.936 USD (xem Hình 3.1 tại Phụ lục 1) Thêm vào đó, mức lương trung vị ở khu vực châu Á của nhóm nước thu nhập cao và nhóm nước thu nhập thấp lần lượt là 66.810 USD và 16.163 USD (xem hình 3.2 tại Phụ lục 1) Có thể thấy ở nhóm nước thu nhập thấp, bình quân lương tháng của nguồn nhân lực vi mạch sẽ khoảng 2.000 USD và của nguồn nhân lực nói chung sẽ khoảng 1.300 USD, hai con số này trên thực tế còn cao hơn nhiều so với mức lương khởi điểm khoảng 300 - 400 USD của một chuyên viên thiết
kế vi mạch làm việc cho ICDREC ở Việt Nam17 Với mức lương như vậy thì nguồn nhân lực vi mạch từ nước ngoài sẽ có ít động lực để đến và phục vụ cho cụm ngành vi mạch ở TP.HCM, tuy nhiên, nếu so sánh với Nhật Bản, Hàn Quốc hay Singapore thì Việt Nam lại
có được lợi thế về mức lương cho nguồn nhân lực ngành vi mạch trong giai đoạn phát triển hiện tại
Tóm lại, số lượng nguồn nhân lực ngành vi mạch đang thiếu hụt nhiều và nếu ICDREC gia tăng được năng suất đào tạo thì có thể giảm bớt áp lực thiếu hụt về mặt số lượng Nếu chất lượng nguồn nhân lực ngành vi mạch có tiềm năng tốt trong tương lai thì TP.HCM sẽ có được nguồn nhân lực ngành vi mạch chất lượng cao với mức lương thấp nhờ vào lợi thế về mức lương như nêu trên, giống như Hàn Quốc trong thời kỳ đầu phát triển ngành vi mạch 3.1.2 Tài nguyên vốn
Quan sát số liệu về thu ngân sách nhà nước của Cục Thống kê TP.HCM, tác giả nhận thấy
từ năm 2008 đến năm 2011 thì tốc độ phát triển thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố so với năm trước có xu hướng giảm dần từ 140% (năm 2008) xuống còn 119,8% (năm 2011) Trong khi đó, ngân sách địa phương chi cho đầu tư phát triển lại có xu hướng tăng khá mạnh từ 13.082,2 tỷ đồng (năm 2008) lên đến 18.461,3 tỷ đồng (năm 2011), tăng 141,11%, các con số này cho thấy khả năng mất cân đối thu chi ngân sách trên địa bàn
16 Hùng Lê (2013a)
17 Đã trích dẫn ở mục 15
Trang 26TP.HCM là có thể xảy ra nếu như vẫn duy trì tình trạng này Nói cách khác thì nguồn vốn ngân sách chi cho đầu tư phát triển của TP.HCM là khá hạn hẹp
Nội dung “Chương trình phát triển công nghiệp vi mạch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2013 – 2020” không có số liệu cụ thể về kinh phí mà chỉ giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện dự toán và bố trí kinh phí theo kế hoạch chung hàng năm Điều này cho thấy kinh phí phát triển ngành vi mạch ở TP.HCM có khả năng sẽ không được sử dụng đúng lúc
vì còn phụ thuộc vào kế hoạch chung hàng năm, từ đó, việc sử dụng nguồn tài nguyên vốn
sẽ không có nhiều sự linh hoạt như kinh nghiệm từ kế hoạch VL Project của Nhật Bản Bên cạnh đó, thông tin trên báo chí cho biết kinh phí dự tính cho “Chương trình phát triển công nghiệp vi mạch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 – 2020” là khoảng 7.506 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng khoảng 41,7% tổng ngân sách chi cho đầu tư phát triển của thành phố năm 2011), bao gồm 435 tỷ đồng do ngân sách TP.HCM hỗ trợ, 5.634 tỷ đồng vay từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam, 669 tỷ đồng vay từ Quỹ kích cầu của TP.HCM, …18, và dù được huy động từ nhiều nguồn khác nhau nhưng về cơ bản thì ngân sách Thành phố cũng vẫn là nguồn tài nguyên vốn chủ yếu trong dài hạn, giống như trường hợp của Nhật Bản và Hàn Quốc
Ngoài nguồn ngân sách Thành phố, có thể bổ sung thêm cho nguồn tài nguyên vốn bằng hai giải pháp là (i) hướng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành vi mạch,
và (ii) đầu tư cho ngành vi mạch thông qua việc sử dụng hình thức đối tác công - tư theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 về việc ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công - tư Tuy nhiên, qua tìm hiểu thì tác giả chưa thấy tính khả thi trong tương lai gần của hai giải pháp này, cụ thể như sau:
Đối với nguồn vốn FDI, Việt Nam thu hút được khoảng 5,5 tỷ USD vào 18 ngành và lĩnh vực trong 5 tháng đầu năm 2014, trong đó có 3,92 tỷ USD đi vào lĩnh vực công nghiệp chế biến - chế tạo, có 463,17 triệu USD đi vào lĩnh vực xây dựng, có 399,33 triệu USD đi vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản, và có 225,93 triệu USD đi vào lĩnh vực y tế và trợ giúp
18 Duy Long (2012)
Trang 27xã hội19 Như vậy, chỉ có khoảng 492 triệu USD đi vào 14 lĩnh vực còn lại, từ đó, có thể thấy nguồn vốn FDI đi vào ngành vi mạch hiện vẫn chưa nhiều so với nhu cầu
Đối với việc sử dụng hình thức đối tác công - tư, chuyên gia Nguyễn Đình Tài, thuộc Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội và Quản lý doanh nghiệp, phân tích rằng việc khắc phục nguồn vốn đầu tư hạn hẹp là vấn đề nan giải nhất và nguồn vốn ngân sách - nguồn vốn ổn định và chắc chắn hơn cả - cần phải đảm đương một tỷ trọng cao hơn so với mức quy định hiện nay là tối thiểu bằng 30% phần vốn của khu vực tư nhân tham gia dự án20, nói cách khác thì nguồn vốn ngân sách vẫn phải giữ vai trò chủ đạo
Tóm lại, nguồn tài nguyên vốn phát triển cụm ngành vi mạch chủ yếu vẫn là nguồn vốn ngân sách trong hiện tại và trong tương lai gần, do đó, phải được sử dụng đúng lúc đúng chỗ như cách mà Hàn Quốc và Nhật Bản đã làm Thành phố cần có kế hoạch kinh phí cụ thể, sẵn sàng cho từng nội dung trong chương trình phát triển vi mạch của mình để có thể chủ động và linh hoạt trong việc sử dụng nguồn tài nguyên vốn này
3.1.3 Cơ sở hạ tầng khoa học
Tổng Công ty Công nghiệp Sài Gòn là đơn vị được TP.HCM giao nhiệm vụ thực hiện đề
án xây dựng nhà máy sản xuất vi mạch trong KCNC TP.HCM, thuộc “Chương trình phát triển công nghiệp vi mạch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 – 2020”, thông tin với báo chí là Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm về công nghệ, thiết bị sản xuất và sản phẩm21, và cơ sở hạ tầng khoa học về ngành vi mạch bán dẫn của Việt Nam hiện tại còn khá mỏng khi ngay tại TP.HCM thì cũng chỉ mới có hai đơn vị là ICDREC và Trung tâm Nghiên cứu Triển khai của KCNC Tuy vậy, hiện Trung tâm Nghiên cứu Triển khai của KCNC cũng đang có những nghiên cứu ứng dụng công nghệ RFID dùng cho nhiều lĩnh vực như đầu đọc thẻ, thẻ thông minh, xếp dỡ kho hàng tự động, nhận dạng sản phẩm, nhận dạng đối tượng … (Phụ lục 2)
Nhà máy sản xuất vi mạch này được quyết định sẽ sử dụng công nghệ 180/130nm để sản xuất vi mạch, công suất mỗi năm là 1,8 tỷ đơn vị sản phẩm, với tiêu chí đầu tư máy móc
19 Cục Đầu tư nước ngoài (2014)
20 Nguyễn Đình Tài (2013)
21 Đã trích dẫn ở mục 18
Trang 28thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến Ở bối cảnh hiện tại, điều này có thể dẫn đến rủi ro trong đầu tư công nghệ sản xuất vi mạch trong trường hợp công nghệ 180/130nm sẽ không được thế giới sử dụng trong tương lai gần và trở nên lỗi thời, hay mất thời gian và chi phí nhiều hơn cho việc kinh doanh nếu 1,8 tỷ đơn vị sản phẩm vi mạch không được tiêu thụ hết do chất lượng và khả năng ứng dụng chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, hay là
áp lực cạnh tranh từ các sản phẩm vi mạch bán dẫn của các quốc gia lân cận như Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc - vốn là những quốc gia đã sản xuất vi mạch lâu năm với chất lượng sản phẩm đã vượt qua phép thử của thị trường
Có hai loại hình nhà máy sản xuất vi mạch, đó là (i) sản xuất theo đơn đặt hàng từ những thiết kế của khách hàng và (ii) sản xuất theo chính thiết kế của mình Đài Loan hiện nay đang dẫn đầu thế giới về loại hình nhà máy sản xuất vi mạch theo thiết kế từ khách hàng, chiếm trên 60% thị trường thế giới Nhà máy sản xuất vi mạch trong KCNC nên đầu tư theo hướng sản xuất theo chính thiết kế của mình, sau đó có thể mở rộng sang sản xuất theo thiết kế của khách hàng nếu đã thành công bước đầu Chủ đầu tư nên lựa chọn mua công nghệ ban đầu ở mức vừa phải rồi dần phát triển lên cao hơn để bắt kịp thế giới, việc phát triển công nghệ lên cao hơn phải là nhiệm vụ của ICDREC, Trung tâm Nghiên cứu Triển khai của KCNC và của Đại học Quốc gia TP.HCM22, việc chọn lựa công nghệ ban đầu ở mức nào nên dựa trên tham vấn của những chuyên gia đầu ngành về vi mạch bán dẫn như chuyên gia Đặng Lương Mô Lộ trình phát triển này là phù hợp với năng lực hiện tại của Thành phố, do đó sẽ có tính khả thi cao như kinh nghiệm của Trung Quốc
3.2 Những điều kiện cầu
3.2.1 Thị trường nội địa
Ngày 10/9/2012, Ban Quản lý KCNC TP.HCM phối hợp với Hiệp hội quốc tế về thiết bị
và vật liệu bán dẫn (SEMI) và Hội Công nghệ vi mạch bán dẫn TP.HCM tổ chức Hội nghị Cấp cao về chiến lược phát triển công nghệ bán dẫn tại TP.HCM Tại hội nghị, các chuyên gia đều nhận định rằng nhu cầu nội địa là khá lớn đối với sản phẩm ứng dụng vi mạch bán dẫn, cụ thể là sự gia tăng nhu cầu sử dụng các thiết bị điện tử như máy tính bảng, điện thoại thông minh, hộp giải mã truyền hình kỹ thuật số, thiết bị điện tử tự động, đặc biệt là
22 Đã trích dẫn ở mục 4
Trang 29việc chính phủ sẽ áp dụng hộ chiếu điện tử và chứng minh thư điện tử trên toàn Việt Nam trong thời gian tới, và giới phân tích cũng chỉ ra rằng xu thế sử dụng các thiết bị điện tử công nghệ cao như trên cũng là giải pháp đầu ra cho sản phẩm vi mạch bán dẫn trên toàn thế giới23
Bên cạnh đó, số lượng các doanh nghiệp hoạt động sản xuất có liên quan đến điện tử (các công ty điện tử) trong năm 2012 tính sơ bộ vào khoảng 3.834 doanh nghiệp với tổng giá trị sản xuất khoảng 786.670,5 tỷ đồng24, trong đó có những tên tuổi lớn như Samsung, Sonion, Datalogic, Jabil, … Các công ty điện tử này có thể sản xuất những sản phẩm khác nhau bằng những công nghệ và dây chuyền sản xuất khác nhau, nhưng lại có một điểm chung là bên trong cấu tạo điện tử của tất cả các sản phẩm này đều phải có sự hiện diện của
vi mạch bán dẫn Về khía cạnh chi phí sản xuất, các công ty này chắc chắn có nhu cầu nội địa về sản phẩm vi mạch để giảm chi phí nhập khẩu, tuy nhiên, với cơ sở hạ tầng khoa học còn mỏng thì các sản phẩm vi mạch sản xuất trong nước sẽ chưa thể đáp ứng được nhu cầu nội địa trong thời gian đầu, ít nhất là trong khả năng ứng dụng rộng rãi Tuy không thể so sánh với Trung Quốc về mức dân số, nhưng với dân số trên 90 triệu người thì quy mô thị trường nội địa của Việt Nam cũng được xem là một trong những thị trường tiềm năng, và nhu cầu sản phẩm vi mạch điện tử tại Việt Nam được dự báo sẽ tăng mạnh trong thời gian tới với mức doanh thu có thể đạt 2 tỷ USD/năm25
Tóm lại, thị trường nội địa đối với sản phẩm vi mạch bán dẫn Việt Nam là rất có tiềm năng, tuy nhiên, việc các sản phẩm vi mạch sản xuất trong nước đáp ứng được ngay lập tức như cầu thị trường nội địa là điều không thể với cơ sở hạ tầng khoa học còn mỏng như phân tích ở trên Do đó, nhà nước phải giữ vai trò chủ yếu trong việc tiêu thụ các sản phẩm
vi mạch bán dẫn nội địa trong giai đoạn đầu bằng cách ứng dụng thật nhiều sản phẩm này vào các dự án đầu tư của mình (xem Phụ lục 2), điều này cũng phù hợp với lý thuyết kinh
tế công về sự can thiệp của nhà nước vào thị trường trong giai đoạn đầu của việc xây dựng
và phát triển một ngành công nghiệp mới
23 Hùng Lê (2013b)
24 Tổng Cục Thống kê (2013)
25 Ngọc Thảo (2013)
Trang 303.2.2 Nhu cầu nội địa khắt khe và khả năng đáp ứng nhu cầu chuyên biệt hóa
Việt Nam có khoảng 10 doanh nghiệp điện tử nội địa được xem như đang nắm giữ thứ hạng hàng đầu, trong đó có khoảng 06 doanh nghiệp có trụ sở chính tại TP.HCM26 Các doanh nghiệp tại TP.HCM lần lượt là VTB, Khai Trí, ROBO, MeKong Green, GreyStone Data Systems Việt Nam và Nissei Electric Việt Nam, và thực tế thì gần như không có doanh nghiệp nào trong các doanh nghiệp này thực sự sản xuất sản phẩm điện tử trực tiếp
từ sản phẩm vi mạch bán dẫn mà hầu hết đều chỉ là lắp ráp và đóng gói Vì vậy, sự có mặt của các khách hàng nội địa sành sỏi và có đòi hỏi khắt khe đối với sản phẩm vi mạch bán dẫn gần như là chưa có ở TP.HCM
Tuy nhiên, vấn đề này có thể được bù đắp phần nào bằng sự có mặt của những doanh nghiệp điện tử đa quốc gia có cơ sở sản xuất tại TP.HCM trong khoảng 10 năm trở lại đây như Samsung Electronic, LG Electronic và đặc biệt là các doanh nghiệp đang hoạt động tại KCNC như Sonion, Datalogic, Jabil, Nidec, …, thể hiện qua việc các doanh nghiệp này luôn có những chuẩn mực cao trong việc chọn lựa nhà cung cấp nội địa của mình Công bố mới đây của tổ hợp công nghệ cao Samsung Electronics Việt Nam cho biết mặc dù kim ngạch xuất khẩu của họ tăng trưởng hơn 33% so với năm 2012 nhưng họ vẫn chưa thể phát triển thêm được các nhà cung cấp nội địa cho mình ngoài bốn nhà cung cấp nội địa hiện
có27, và nguyên nhân chủ yếu của sự việc này chính là khả năng đáp ứng thấp của các nhà cung cấp nội địa
Hội Công nghệ Vi mạch bán dẫn TP.HCM vừa được thành lập đã mang về cơ hội kinh doanh bán dẫn giữa Việt Nam, Singapore và Nhật Bản, với thỏa thuận là phía Singapore và Nhật Bản sẽ hỗ trợ về thiết bị, nguyên liệu, công nghệ, kỹ sư, dịch vụ cho Việt Nam28 Như vậy, trường hợp có những nhu cầu nội địa bất thường ở những phân khúc chuyên biệt mà ngành vi mạch bán dẫn TP.HCM chưa thể đáp ứng được thì TP.HCM vẫn có thể nhờ vào
sự hỗ trợ của Singapore và Nhật Bản để đưa ra giải pháp xử lý phù hợp, nói cách khác nghĩa là nhu cầu nội địa bất thường ở những phân khúc chuyên biệt của ngành vi mạch bán dẫn TP.HCM vẫn có thể được đáp ứng trên toàn cầu
26 Bộ Thông tin và Truyền thông (2014)
27 T.V.N (2014)
28 Tuyết Vy (2013)
Trang 313.3 Môi trường chính sách giúp phát huy chiến lược kinh doanh và cạnh tranh
Ở cấp độ địa phương, UBNDTP đã rất nhanh chóng ban hành Quyết định UBND ngày 18/5/2012 về thành lập Ban Chỉ đạo và Tổ chuyên viên giúp việc Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình phát triển vi mạch (chip điện tử) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ sau một tháng kể từ khi Quyết định 439/QĐ-TTg ngày 16/4/2012 được ban hành Cũng ngay trong năm 2012, UBNDTP tiếp tục có Quyết định 6358/QĐ-UBND ngày 14/12/2012 về phê duyệt “Chương trình phát triển công nghiệp vi mạch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 – 2020”, và Quyết định 6568/QĐ-UBND ngày 25/12/2012 về cho phép thành lập Hội Công nghệ vi mạch bán dẫn TP.HCM
2519/QĐ-“Chương trình phát triển công nghiệp vi mạch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 – 2020” có tổng cộng bảy đề án, trong đó các doanh nghiệp là đối tượng được đề cập xuyên
Trang 32suốt trong sáu đề án, ngoại trừ đề án thứ năm29, trong khi đề án này lại rất cần sự tham gia
ý kiến của các doanh nghiệp vì mục tiêu của đề án là xây dựng cơ chế, chính sách và biện pháp phát triển ngành vi mạch ở TP.HCM Như vậy, các doanh nghiệp vi mạch luôn được Thành phố quan tâm, hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất để hoạt động, nhưng việc lắng nghe những góp ý chính sách từ các doanh nghiệp này lại chưa được quan tâm thỏa đáng
Hình 3.3 Các đề án trong Chương trình phát triển vi mạch TP.HCM
Nguồn: Tác giả tự vẽ Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI của TP.HCM trong năm 2012 là 61,19 điểm, xếp hạng 13, và đến năm 2013 cũng là 61,19 điểm nhưng được xếp hạng 10, cả hai năm đều được xếp vào nhóm điều hành Tốt
29 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2012)
DOANH NGHIỆP
Đào tạo lĩnh vực thiết kế
vi mạch
doanh nghiệp công nghệ vi mạch và hệ thống nhúng (2)
Phát triển thị trường vi mạch điện tử (3)
Nghiên cứu thiết kế và sản xuất thử nghiệm vi mạch (4)
Nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách và biện pháp hỗ trợ phát triển công nghiệp vi mạch TP.HCM (5)
Xây dựng nhà máy sản
xuất vi mạch
(6)
Xây dựng nhà thiết kế (Design House) (7)