Trong nhiều năm, Long An là tỉnh có lượng người di cư vào thành phố Hồ Chí Minh khá cao, chủ yếu tìm việc làm và học tập nên nghiên cứu đã chọn Long An là địa phương để xem xét tác động
Trang 1- o0o -
VÕ THÀNH TÂM
TÁC ĐỘNG CỦA DI CƯ LAO ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG SỐNG CỦA NGƯỜI CAO TUỔI CÒN Ở LẠI:
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI MỘT
SỐ HUYỆN CỦA TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 2VÕ THÀNH TÂM
TÁC ĐỘNG CỦA DI CƯ LAO ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG SỐNG CỦA NGƯỜI CAO TUỔI CÒN Ở LẠI:
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI MỘT SỐ
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã ngành : 60340402
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS DWIGHT PERKINS ThS ĐINH VŨ TRANG NGÂN
Thành Phố Hồ Chí Minh - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh
tế Thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
TP Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 06 năm 2014
Võ Thành Tâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Quý Thầy Cô tại Chương trình Giảng dạy Kinh Tế Fulbright đã truyền dạy tri thức và cảm hứng cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, tôi muốn tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Th.S Đinh Vũ Trang Ngân bởi sự hướng dẫn tận tình, tận tâm và hỗ trợ của Cô đã giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Hội người cao tuổi tỉnh Long An đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thu thập thông tin cho luận văn
Tôi xin tri ân đại gia đình, những người bạn yêu quý MPP5 và MPP4 đã luôn hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng, cảm ơn cha mẹ những người luôn ở bên cạnh tôi vào những thời điểm khó khăn nhất trong suốt quá trình học tập tại chương trình !
TP.HCM, tháng 6 năm 2014
Võ Thành Tâm
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong bối cảnh đô thị hoá ngày càng nhanh, người lao động trẻ có xu hướng di cư đến các tỉnh thành lớn để tìm những cơ hội việc làm mới, họ phải chấp nhận để lại quê hương những người thân của mình là cha mẹ và con cái Trong khi đây là những đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội và rất cần được sự quan tâm chia sẻ, hỗ trợ trong cuộc sống Trong nhiều năm, Long An là tỉnh có lượng người di cư vào thành phố Hồ Chí Minh khá cao, chủ yếu tìm việc làm và học tập nên nghiên cứu đã chọn Long An là địa phương để xem xét tác động của di cư lao động đến chất lượng sống của người cao tuổi còn ở lại Nội dung chính của nghiên cứu xoay quanh việc đánh giá mức độ hài lòng về 6 nhóm yếu
tố hình thành nên chất lượng sống của những người cao tuổi còn ở lại trong các hộ gia đình
có lao động di cư và phân tích các tác động của di cư đến sáu nhóm yếu tố đấy Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích định tính Các thông tin sơ cấp và thứ cấp được phân tích thống kê và so sánh các kết quả với nhau
Kết quả nghiên cứu cho thấy những yếu tố chất lượng sống của người cao tuổi còn ở lại cần được quan tâm theo thứ tự ưu tiên là (1) yếu tố tâm lý, (2) yếu tố quan hệ xã hội, (3) yếu tố sức khoẻ, (4) yếu tố niềm tin, (5) yếu tố kinh tế và (6) là yếu tố môi trường sống Ngoài ra, kết quả so sánh tác động của di cư đến chất lượng sống cũng cho thấy di cư lao động cũng có tác động tích cực và tiêu cực đối với những người cao tuổi còn ở lại Nếu người di cư có những hành động thể hiện sự quan tâm chăm sóc người cao tuổi cũng sẽ giúp cho người cao tuổi cải thiện về kinh tế, có thêm niềm vui, giảm đi cảm giác cô độc và cảm nhận rõ sự kính trọng của con cháu khi nghe những lời khuyên về kinh nghiệm sống của mình
Từ kết quả phân tích, nghiên cứu đưa ra một số gợi ý chính sách liên quan như (1) nâng cao vai trò người cao tuổi trong cộng đồng, (2) thay việc chăm sóc cha mẹ của NDC bằng việc chăm sóc của cộng đồng xã hội (3) nâng cao vai trò chăm sóc cha mẹ của con cái để con cái hiểu được đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ phải thực hiện và (4) ở cấp độ vĩ mô, chính sách kinh tế của Long An nên hướng đến các ngành nghề có năng lực cạnh tranh cao nhằm tận dụng nguồn lao động của tỉnh
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH VẼ vii
DANH MỤC PHỤ LỤC ix
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Cấu trúc của nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 5
2.1 Tổng quan lý thuyết 5
2.1.1 Tác động của di cư lao động đến nơi xuất cư 5
2.1.2 Những đặc điểm của người cao tuổi 6
2.1.3 Quan điểm về chất lượng sống của người cao tuổi 7
2.2 Khung phân tích của nghiên cứu 8
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 11
3.1 Đặc điểm di cư lao động của tỉnh Long An 11
3.2 Đặc điểm của mẫu thu về 13
3.2.1 Đặc điểm người cao tuổi trong mẫu 13
3.2.2 Đặc điểm lao động di cư trong mẫu 15
3.2.3 Đặc điểm NCT trong mẫu khảo sát phỏng vấn sâu 18
3.3 So sánh mức độ hài lòng về chất lượng sống của NCT còn ở lại 18
3.3.1 Về sức khoẻ thể chất 18
3.3.2 Về quan hệ xã hội 19
3.3.3 Về tình trạng kinh tế 21
3.3.4 Về môi trường sống 22
Trang 73.3.5 Về tâm lý 24
3.3.6 Về niềm tin 25
3.3.7 Đánh giá chung về sáu nhóm yếu tố hình thành chất lượng sống 25
3.4 Tác động của di cư lao động đến chất lượng sống của người cao tuổi còn ở lại 27
3.4.1 So sánh theo số lượng người di cư trong hộ 27
3.4.2 So sánh theo giới tính của người di cư 28
3.4.3 So sánh theo mối quan hệ của người cao tuổi và người di cư 30
3.4.4 So sánh theo trình độ và tính chất công việc của người di cư 30
3.4.5 So sánh theo tình trạng hôn nhân của người di cư 32
3.4.6 So sánh theo mức độ thường xuyên thăm hỏi của người di cư 33
3.4.7 So sánh theo mức độ thường xuyên gửi tiền về của người di cư 34
3.4.8 Đánh giá chung về tác động của di cư đến chất lượng NCT 36
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 38
4.1 Kết luận 38
4.1.1 Các yếu tố chất lượng sống của NCT cần quan tâm 38
4.1.2 Các tác động của di cư lao động đến CLS của NCT 39
4.2 Gợi ý chính sách 40
4.3 Những hạn chế của nghiên cứu 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 PHỤ LỤC a
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt
ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Á
UN United Nations Liên Hợp Quốc
UNFPA United Nations Population Fund Quỹ dân số Liên Hợp Quốc WHO World Health Organization Tổ chức y tế thế giới
WHO-QOL World Health Organization – Quality of life Chất lượng sống theo Tổ chức y
tế Thế giới
Từ khoá: Di cư, di cư lao động, chất lượng sống, người cao tuổi còn ở lại, Long An, sức khoẻ, quan hệ xã hội, kinh tế, môi trường, tâm lý, niềm tin
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi Việt Nam từ năm 1992 đến 2008 1
Bảng 3.1 Thay đổi dân số và lao động qua các năm của tỉnh Long An 11
Bảng 3.2 Cơ cấu hộ theo quy mô hộ 12
Bảng 4.1 Kết luận về tác động của di cư lao động đến CLS của NCT còn ở lại 39
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 2.1 Hệ thống đánh giá chất lượng sống của Oklahoma 8
Hình 2.2 Sáu nhóm yếu tố hình thành nên chất lượng sống của NCT Việt Nam 9
Hình 2.3 Khung phân tích tác động di cư đến chất lượng sống của NCT còn ở lại 10
Hình 3.1 Tỷ lệ % số thành viên trong hộ gia đình ở Long An năm 2009 13
Hình 3.2 Mức độ thường xuyên gửi tiền về cho NCT 17
Hình 3.3 Mức độ thường xuyên về thăm hỏi NCT của NDC 17
Hình 3.4 Mức độ hài lòng trung bình về sức khoẻ thể chất 19
Hình 3.5 Mức độ hài lòng trung bình về quan hệ xã hội 20
Hình 3.6 Đồng ruộng ít canh tác ở huyện Cần Giuộc 21
Hình 3.7 Mức độ hài lòng trung bình về kinh tế 22
Hình 3.8 Môi trường tự nhiên và môi trường nhà ở 22
Hình 3.9 Mức độ hài lòng trung bình về môi trường sống 23
Hình 3.10 Mức độ hài lòng trung bình về tâm lý 24
Hình 3.11 Mức độ hài lòng trung bình về niềm tin 25
Hình 3.12 Mức độ hài lòng trung bình về chất lượng sống 26
Hình 3.13 Chất lượng sống của NCT phân theo số lượng lao động di cư 28
Trang 10Hình 3.14 CLS của NCT còn ở lại theo giới tính của NDC 28
Hình 3.15 Mức độ hài lòng trung bình về yếu tố CLS theo giới tính của NDC 29
Hình 3.16 Chất lượng sống của NCT theo mối quan hệ với NDC 30
Hình 3.17 Chất lượng sống của NCT theo trình độ và tính chất công việc của NDC 31
Hình 3.18 Đánh giá trung bình các nhóm yếu tố CLS theo trình độ của NDC 31
Hình 3.19 Đánh giá trung bình yếu tố CLS theo tình trạng hôn nhân của NDC 32
Hình 3.20 Chất lượng sống của NCT theo tình trạng hôn nhân của NDC 33
Hình 3.21 Chất lượng sống của NCT theo mức độ về thăm hỏi của NDC 33
Hình 3.22 Đánh giá trung bình yếu tố CLS theo mức độ về thăm của NDC 34
Hình 3.23 Chất lượng sống của NCT theo mức độ gửi tiền về của NDC 35
Hình 3.24 Đánh giá trung bình yếu tố CLS theo mức độ gửi tiền về của NDC 36
Trang 11DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Địa phương thu thập thông tin a Phụ lục 2 Phương pháp thiết kế bảng câu hỏi c Phụ lục 3 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu d Phụ lục 4 Bảng câu hỏi phỏng vấn nhanh về chất lượng sống của NCT f Phụ lục 5 Bảng câu hỏi phỏng vấn sâu về chất lượng sống của NCT n Phụ lục 6 Bảng câu hỏi phỏng vấn cấp quản lý NCT ở địa phương r Phụ lục 7 Kiểm định độ tin cậy của thang đo s Phụ lục 8 Kiểm định giả thuyết về sự giống nhau 2 trung bình mẫu theo tình trạng di cư
của hộ y Phụ lục 10 Kiểm định giả thuyết về sự giống nhau 2 trung bình mẫu theo số lượng người
di cư bb Phụ lục 11 Kiểm định giả thuyết về sự giống nhau 2 trung bình mẫu theo giới tính của
người di cư dd Phụ lục 12 Kiểm định giả thuyết về sự giống nhau 2 trung bình mẫu theo mối quan hệ ee Phụ lục 13 Kiểm định giả thuyết về sự giống nhau 2 trung bình mẫu theo tình trạng hôn
nhân người di cư ff Phụ lục 14 Kiểm định giả thuyết về sự giống nhau 2 trung bình mẫu theo trình độ của
người di cư gg Phụ lục 15 Kiểm định giả thuyết về sự giống nhau 2 trung bình mẫu theo mức độ về thăm
của người di cư hh Phụ lục 16 Kiểm định giả thuyết về sự giống nhau 2 trung bình mẫu theo mức độ gửi tiền
của người di cư ii Phụ lục 17 Kiểm định giả thuyết về sự giống nhau 2 trung bình mẫu theo lượng tiền gửi
mỗi lần jj Phụ lục 18 Kiểm định giả thuyết về sự giống nhau 2 trung bình mẫu theo tính chất công
việc của người di cư kk Phụ lục 19 Mô tả các đặc điểm của mẫu thu về ll
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Bối cảnh nghiên cứu
Trong bối cảnh kinh tế đang suy thoái, xét về khía cạnh an sinh xã hội thì nhóm đối tượng
là người di cư lao động, người cao tuổi và trẻ em còn ở lại làng quê bị ảnh hưởng khá mạnh Nhóm người cao tuổi (NCT), trẻ em còn ở lại thường là cha mẹ và con cái của những người di cư phải đối mặt với khó khăn trong cuộc sống khi nguồn thu nhập của họ chủ yếu đến từ lao động di cư Người cao tuổi thường dựa vào con cái về tài chính và sự chăm sóc cá nhân, tỷ lệ hỗ trợ từ con cái đối với người cao tuổi là 32%1
Tỷ lệ người di cư rời làng quê hiện nay có xu hướng tăng Thực tế khách quan cho thấy khi
xã hội càng phát triển thì lao động trẻ sẽ có xu hướng rời làng quê lên thành thị để tìm kiếm cơ hội làm việc và học tập, làng quê sẽ chỉ còn cha mẹ và con cái của họ Nguyên nhân thu hút người di cư (NDC) vào các khu đô thị lớn là do quá trình đô thị hoá tạo ra
“lực hút” đối với người những người trẻ Các khu đô thị lớn ở Việt Nam như Hà Nội và TPHCM ngày càng thu hút nguồn lao động từ nông thôn ra thành thị Họ thường di cư với nục đích chính là nhằm tối đa hoá phúc lợi cho gia đình, tìm kiếm cơ hội mới để tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống Tỷ suất di cư sẽ giảm dần theo độ tuổi tăng dần và nhóm tuổi trẻ 20-34 tuổi thường là thành phần tích cực trong di cư2
Bảng 1.1 Sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi Việt Nam từ năm 1992 đến 2008
Nguồn: UNFPA, Già hoá dân số và người cao tuổi ở Việt Nam, 2011
1 Tổng cục thống kê Việt Nam (2011), Điều tra về NCT Việt Nam (VNAS)
2 Nguyễn Nam Phương (2011)
Trang 13Tỷ lệ người cao tuổi còn ở lại làng quê hiện nay cũng đang có xu hướng tăng Tình trạng người trẻ rời làng quê lên thành thị càng nhiều nên làm tăng tỷ lệ người cao tuổi sống cô đơn ở nông thôn Tỷ lệ NCT sống cô đơn tăng từ mức 3.47% năm 1993 lên mức 6.14% năm 2008 và sống ở nông thôn khoảng 80% tổng số và phụ nữ khoảng 80%3 Thêm vào
đó, tỷ lệ người cao tuổi sống trong hộ gia đình thiếu thế hệ có xu hướng tăng từ 0.68% lên 1.14% trong khoảng thời gian 1993-2008
Do đặc thù về văn hoá và truyền thống gia đình Việt Nam nên NCT Việt Nam có sự phụ thuộc rất nhiều vào con cái của họ, đặc biệt là những người cao tuổi trong các hộ gia đình
có con cái di cư Họ phụ thuộc nhiều nhất vào kinh tế của con cái, tiếp theo là sự chăm sóc
và sự quan tâm chia sẻ của con cái dành cho mình Tuy nhiên, nền kinh tế hiện nay vẫn chưa phục hồi nên thu nhập của người di cư khó ổn định và cơ hội việc làm càng ít dần, điều này tác động trực tiếp đến người di cư và gián tiếp đến cha mẹ và con cái ở làng quê Lúc đó, người cao tuổi còn ở lại sẽ đối mặt với thách thức về nguồn thu nhập, sức khoẻ, tâm lý, quan hệ xã hội và các chi phí sinh hoạt hàng ngày Họ phải tự lo cho bản thân, nuôi cháu, trông nom nhà cửa hoặc tham gia lao động để phụ giúp gia đình Trong bối cảnh sức lao động và sức khoẻ ngày càng giảm nhanh do tác động của lão hoá làm cho khả năng lao động của họ cũng bị giới hạn dần, thu nhập giảm dần cộng với thu nhập con cái không ổn định, nguồn tiền gửi về ít đã tác động rất mạnh đến chất lượng sống (CLS) của những người cao tuổi còn ở lại Đây là một vấn đề xã hội và cũng là một thách thức lớn về an sinh
xã hội của nước ta hiện nay
Các nghiên cứu về di cư và các vấn đề kinh tế, xã hội đã được các tổ chức quốc tế và Tổng cục thống kê Việt Nam thực hiện trong nhiều năm và tại nhiều nơi trong cả nước Ngoài ra, những nghiên cứu về tác động của di cư đối với mức sống hộ gia đình cũng đã được xem xét khá nhiều Tuy nhiên, nếu xét riêng các nghiên cứu về CLS của nhóm đối tượng NCT còn ở lại trong các hộ gia đình di cư thì còn chưa phổ biến Vì thế, nghiên cứu về tác động của di cư đối với CLS của những NCT còn ở lại là một khía cạnh cần được xem xét trong bối cảnh hiện nay
Đặc biệt, sự di cư lao động diễn ra khá mạnh mẽ với các tỉnh tiếp giáp Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) Trong đó, Long An là một trong những tỉnh liền kề với TPHCM, tỷ suất di cư của Long An vào TPHCM khá cao do chi phí di lại thấp Tỷ suất di
3 UNFPA (2011)
Trang 14cư của Long An năm 2012 vào khoảng -2.8‰, trong đó tỷ suất xuất cư vào khoảng 7.5‰ cao hơn nhiều so với các vùng trong cả nước và đa số người xuất cư đều trong độ tuổi lao động4
Chính vì thế nghiên cứu“Tác động của di cư lao động đến chất lượng sống của người cao tuổi còn ở lại: nghiên cứu trường hợp tại một số huyện của tỉnh Long An” với mong muốn tìm hiểu những tác động của di cư lao động đến CLS của những NCT còn ở lại làng quê và chọn Long An là một trường hợp cụ thể để xem xét
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu thuộc lĩnh vực chính sách phát triển liên quan đến chất lượng dân số và di cư Nghiên cứu này nhằm vào hai mục tiêu Thứ nhất là xem xét mức độ hài lòng về CLS của NCT còn ở lại trong các hộ gia đình có lao động di cư về các nhóm yếu tố hình thành nên CLS Thứ hai là phân tích các đặc điểm người di cư có tác động như thế nào đến CLS của nhóm đối tượng nghiên cứu để tìm ra chính sách phù hợp
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất, chất lượng sống của người cao tuổi còn ở lại trong các hộ gia đình có lao động
di cư hiện nay và những tác động của di cư lao động đến chất lượng sống của người cao tuổi còn ở lại là gì? Để trả lời câu hỏi thứ nhất, người nghiên cứu thu thập thông tin đánh giá sự hài lòng về 6 nhóm yếu tố hình thành chất lượng sống của những NCT trong các hộ
có và không có lao động di cư Sử dụng các đặc điểm của NDC trong hộ để xem xét sự tác động lên 6 nhóm yếu tố hình thành chất lượng sống của NCT còn ở lại và rút ra kết luận về
sự tác động
Thứ hai, những gợi ý chính sách để cải thiện chất lượng sống cho nhóm NCT còn ở lại? Câu hỏi thứ ba được trả lời dựa trên kết luận rút ra từ câu trả lời của câu hỏi thứ nhất 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm NCT ở Long An từ 60 tuổi trở lên sinh sống trong các hộ gia đình có con cái di cư lao động Nguồn thông tin của nghiên cứu được thu thập tại 3 huyện Cần Giuộc, Đức Hoà và Bến Lức của tỉnh Long An Nghiên cứu được thực hiện vào tháng 03/2014 và 06/2014
4 Tổng cục Thống kê Việt Nam (2012)
Trang 151.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích định tính Các thông tin sơ cấp và thứ cấp được phân tích thống kê và so sánh các kết quả với nhau Thông tin sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn nhanh đối với nhóm đối tượng NCT có và không có con cái di cư lao động, phỏng vấn sâu đối với nhóm đối tượng nghiên cứu và cấp quản lý địa phương Thông tin thứ cấp được thu thập từ chính quyền địa phương và các nghiên cứu trước Phương pháp thiết kế bảng hỏi và thu thập dữ liệu sơ cấp được trình bày chi tiết tại Phụ lục
2 và 3 của nghiên cứu này
1.6 Cấu trúc của nghiên cứu
Nghiên cứu gồm có phần giới thiệu (chương 1) và 3 chương chính Chương 1 với nội dung giới thiệu bối cảnh chính sách, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu Chương 2 của nghiên cứu sẽ trình bày tóm tắt cơ sở lý thuyết các nghiên cứu
có liên quan đến các vấn đề di cư, CLS và NCT Nội dung chương 3 sẽ xem xét phân tích các kết quả nghiên cứu từ thông tin thu thập được để đánh giá mức độ hài lòng cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến CLS của các đối tượng nghiên cứu và xem xét tác động của di cư đến chất lượng sống của họ Cuối cùng, đề tài sẽ nêu lên các kết luận và hàm ý chính sách rút ra cũng như chỉ ra những hạn chế gặp phải để mở ra những hướng nghiên cứu tiếp theo tại chương 4
-
Trang 16CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH
Chương 2 trình bày các lý thuyết về kết quả của dòng di cư lao động đến những người còn
ở lại cũng như lý thuyết về NCT và chất lượng sống Từ đó, nghiên cứu hình thành khung phân tích bao gồm sáu nhóm yếu tố chính tạo nên chất lượng sống của NCT còn ở lại trong các hộ gia đình có lao động di cư
2.1 Tổng quan lý thuyết
2.1.1 Tác động của di cư lao động đến nơi xuất cư
Thuật ngữ “di cư” là một quá trình xuất cư và nhập cư của một hoặc một nhóm người từ khu vực này sang khu vực khác kèm theo việc thay đổi nhân khẩu của vùng 5 Nếu di cư hoàn toàn được xác định bằng sự di chuyển của tất cả thành viên trong hộ, tất cả công việc
và tài sản từ nơi cũ sang nơi mới thì di cư lao động được thể hiện ở sự chuyển đổi nơi làm việc của người lao động từ nơi cư trú cũ sang nơi cư trú mới nhưng không bao gồm tài sản
và các thành viên của hộ6
Những tác động của di cư lao động đối với nơi xuất cư thể hiện ở nhiều khía cạnh về dân
số, kinh tế, xã hội và đặc biệt là những người phụ thuộc còn ở lại
Thứ nhất về khía cạnh dân số, một trong những tác động đó là thay đổi cơ cấu nhân khẩu
xã hội nơi xuất cư và sự biến động cơ cấu tuổi theo chiều hướng làm “già hoá” cư dân vùng xuất cư Ngoài ra, di cư còn tạo ra những gánh nặng áp đặt lên các thành viên còn ở lại trong hộ gia đình trong đó có trẻ em và NCT Chi phí xã hội và tác động tâm lý từ sự xa cách của các thành viên trong gia đình, những gánh nặng của việc di cư cho các thành viên trong gia đình và trẻ em còn ở lại là rất lớn7
Thứ hai về khía cạnh kinh tế, nhiều nước nghèo có tỷ lệ di cư cao thì tỷ lệ NCT ở lại thiếu
sự chăm sóc của con cái cũng tăng theo và họ sẽ làm việc theo cách của họ để đối mặt với các vấn đề về sinh kế và sức khoẻ8 Theo nghiên cứu của Tổ chức di cư quốc tế (IOM) về những nhu cầu cụ thể của trẻ em và người già ở lại với kết quả của việc di cư ở Moldova
5 Nguyễn Nam Phương (2011)
6 Trần Hồng Vân (2002)
7 Dinh Vu Trang Ngan, Jonathan Pincus, John Sender (2012)
8 Stohr, Tobias (2013)
Trang 17cho rằng ông bà sẽ thay thế con cái của họ để chăm sóc và giám hộ các cháu nếu con họ đi làm xa Họ phải đối mặt với những thách thức về nguồn thu nhập, sức khoẻ, tâm lý, tinh thần, sự tôn trọng, khả năng tiếp cận các dịch vụ và tiện ích xã hội, sinh hoạt cộng đồng và
sự trọn vẹn gia đình
Thứ ba về khía cạnh xã hội, di cư lao động ảnh hưởng đến việc sắp xếp cuộc sống của NCT còn lại Nghiên cứu định lượng xác định khi tăng một lao động di cư thì sẽ làm tăng gấp đôi khả năng NCT trong hộ sống cô độc9 Di cư cũng có thể thay đổi cơ cấu hộ gia đình và tăng khả năng sống một mình của NCT
Tuy nhiên, di cư cũng có thể tạo ra những tác động tích cực cho những NCT còn ở lại Cụ thể, di cư như là một chiến lược giảm thiểu những rủi ro về cuộc sống cho hộ gia đình có thể có lợi cho cả NDC và người ở lại10 Di cư thường kết hợp với công nghiệp hoá và đô thị hoá có thể làm cho NCT còn ở lại ít bị ảnh hưởng về cuộc sống hơn11
Như vậy, di cư lao động nói riêng và di cư nói chung đều gây nên sự biến đổi cơ cấu nhân khẩu kinh tế và xã hội gây nên những tác động tích cực và tiêu cực đến cả nơi dân cư chuyển đi và nơi dân cư chuyển đến
2.1.2 Những đặc điểm của người cao tuổi
Khái niệm về NCT có sự khác nhau giữa các nước Nghiên cứu này sẽ thống nhất NCT là người có tuổi từ đủ 60 tuổi trở lên theo Luật người cao tuổi năm 2011 của Việt Nam và chia NCT thành 3 nhóm theo đặc trưng dân số Việt Nam, bao gồm nhóm 1 từ 60-69 tuổi, nhóm 2 từ 70-79 tuổi và nhóm 3 từ 80 tuổi trở lên
Những đặc điểm mà NCT cần được quan tâm là sức khoẻ thể chất, tâm lý, tình cảm, sức khoẻ tinh thần và đời sống vật chất
Trước tiên là các vấn đề về sức khoẻ thể chất Hai nhóm bệnh chính mà NCT thường mắc phải là bệnh thông thường và các bệnh mãn tính kéo dài12 Già hoá là cơ hội cho các tác nhân gây hại bên ngoài xâm nhập dễ dàng vào cơ thể để gây bệnh
Trang 18Theo ước tính của WHO thì có khoảng 40% NCT trên thế giới có giới hạn khả năng đi lại
và thực hiện các sinh hoạt, trong đó có khoảng 10% NCT không tự thực hiện được các sinh hoạt hàng ngày tối thiểu Lứa tuổi càng tăng thì tỷ lệ đi lại khó khăn càng tăng
Tiếp theo là các vấn đề về tâm lý, các mối quan hệ và sức khoẻ tinh thần NCT ngoài suy yếu về thể chất thì các giác quan điều tiết cảm xúc tâm lý tình cảm cũng suy yếu Khả năng làm chủ cảm xúc của NCT cũng suy giảm biểu hiện ở tình trạng thiếu tập trung và dễ quên, thường nhớ việc quá khứ, rất dễ xúc cảm, tủi thân, khó chịu vô cớ13
Ngoài ra, NCT dễ rơi vào cảm giác là người thừa của gia đình và xã hội khi họ không còn nhận được sự kính trọng như lúc còn trẻ Họ dễ cảm thấy bị bỏ rơi, chán nản và buồn tủi Tính tình của họ cũng thay đổi, trở nên bảo thủ hơn NCT dễ có thái độ thất vọng, chán nản, lo âu và mong muốn được quan tâm nhiều hơn bình thường14
Sau cùng là các vấn đề về đời sống vật chất Nguồn thu nhập từ con cái hỗ trợ là nguồn thu chủ yếu của NCT Tuy nhiên người lao động từ nông thôn ra thành phố gồm cả nam và
nữ đều phải đối mặt với những trở ngại khác nhau trong quá trình cư trú và làm việc, điều này làm ảnh hưởng đến mức độ và khả năng gửi tiền về gia đình của họ15 Nguồn thu nhập
từ nhà nước hỗ trợ chủ yếu là trợ cấp hưu trí từ bảo hiểm xã hội và trợ cấp NCT được trích
từ nguồn quỹ an sinh xã hội
2.1.3 Quan điểm về chất lượng sống của người cao tuổi
Theo quan điểm của các tổ chức quốc tế thì chất lượng sống (quality of life) bao gồm các yếu tố về vật chất, các khía cạnh về sức khoẻ thể chất và tình thần trong đời sống cá nhân của mỗi người Theo nghiên cứu của trường đại học Oklahoma School of Social Work (1981) đã chỉ ra CLS được xác định thông qua các yếu tố theo sơ đồ hình 2.1
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì chất lượng sống là khái niệm rộng dùng để đánh giá tổng thể các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và xã hội WHO đã tổng hợp và đưa ra bộ công cụ đo lường chất lượng sống “WHOQOL-100” vào năm 1995 với
100 câu hỏi về mức độ hài lòng về chất lượng sống bao gồm 6 nhóm: sức khoẻ thể chất, quan hệ xã hội, kinh tế, môi trường, tâm lý và niềm tin Bộ công cụ này được thiết kế khá đầy đủ và thường được sử dụng để đánh giá chất lượng sống tại các quốc gia
13 Dương Huy Lương (2010)
14 Dương Huy Lương (2010)
15 Tổng cục thống kê Việt Nam (2012)
Trang 19Hình 2.1 Hệ thống đánh giá chất lượng sống của Oklahoma
Nguồn: The University of Oklahoma School of Social Work, 1981
Quan niệm về CLS của NCT ở Việt Nam được các tác giả Lê Thị Hải Hà, Nguyễn Thái Quỳnh Chi và Nguyễn Hoàng Phương thực hiện nghiên cứu năm 2009 và kết luận 6 nhóm yếu tố hình thành nên CLS đặc trưng cho NCT ở Việt Nam Trong mỗi nhóm yếu tố sẽ bao gồm tập hợp những nhân tố chủ yếu hình thành nên chất lượng sống
2.2 Khung phân tích của nghiên cứu
Chất lượng sống là một khái niệm rộng, trong giới hạn của nghiên cứu chỉ xem xét trên sáu nhóm yếu tố về kinh tế, sức khoẻ, quan hệ xã hội, tâm lý, môi trường và niềm tin Các nhóm yếu tố được người nghiên cứu tổng hợp từ các nghiên cứu trước và tình hình thực tế tại địa phương
Thứ nhất, nhóm yếu tố kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với yếu tố quan hệ xã hội, sức khoẻ, tâm lý và niềm tin Nghiên cứu này sẽ bổ sung về sự phụ thuộc tài chính, sự đáp ứng nhu cầu sống cơ bản hàng ngày, ăn những món ưa thích
Thứ hai, nhóm yếu tố sức khoẻ có quan hệ chặt chẽ với yếu tố tâm lý, tình trạng kinh tế và các mối quan hệ gia đình, xã hội Nhóm này được người nghiên cứu đánh giá là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến CLS của NCT
Trang 20Thứ ba, nhóm yếu tố quan hệ xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với yếu tố kinh tế và tâm lý
Ở các nước đang phát triển chỉ đề cập chung đến trợ giúp xã hội và các mối quan hệ với người xung quanh Trong nghiên cứu này nhấn mạnh hơn đến vai trò của NCT trong các quan hệ gia đình và xã hội, đặc biệt là vai trò của NCT trong gia đình về lời nói, tác động, nghĩa vụ và vai trò chăm sóc con cháu khi gia đình có NDC lao động
Hình 2.2 Sáu nhóm yếu tố hình thành nên chất lượng sống của NCT Việt Nam
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Thứ tư, nhóm yếu tố tâm lý có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố quan hệ xã hội, kinh tế
và yếu tố sức khoẻ Nghiên cứu bổ sung về các mối quan hệ gia đình giữa các thế hệ và sự trưởng thành của con cháu Đối với NCT còn ở lại trong các hộ gia đình di cư lao động thì tâm lý bị ảnh hưởng do con cháu di cư lao động khá lớn
Thứ năm, nhóm yếu tố môi trường sống có mối liên hệ chặt chẽ với yếu tố kinh tế, tâm lý
và quan hệ xã hội Môi trường tự nhiên bao gồm đất, nước, không khí và mức độ ô nhiễm ảnh hưởng đến môi trường sinh sống Môi trường xã hội bao gồm an ninh, dịch vụ xã hội (khu giải trí, tập luyện thể dục, vận động) và dịch vụ y tế mà NCT được tiếp cận
Trang 21Thứ sáu, nhóm yếu tố niềm tin bao gồm niềm tin tôn giáo và niềm tin cá nhân Niềm tin tôn giáo thể hiện sự tin tưởng và tham gia vào các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo Niềm tin
cá nhân thể hiện sự tin tưởng vào thế hệ trẻ và các chính sách kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội hiện nay
Dựa vào đặc trưng của nghiên cứu, người nghiên cứu hình thành khung phân tích như sau Hình 2.3 Khung phân tích tác động di cư đến chất lượng sống của người cao tuổi còn ở lại
Nguồn: Tác giả tự vẽ
-
Trang 22CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 3 phân tích những kết quả từ cuộc khảo sát để tìm hiểu thực trạng chất lượng sống của những người cao tuổi còn ở lại Các nội dung phân tích bao gồm đặc điểm đối tượng của mẫu khảo sát, những kết quả thống kê về chất lượng sống và những phân tích về đặc điểm của những người di cư tác động vào chất lượng sống của NCT còn ở lại
3.1 Đặc điểm di cư lao động của tỉnh Long An
Tình trạng di cư lao động của tỉnh Long An có xu hướng giảm dần nhưng vẫn còn ở mức cao qua nhiều năm Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động chiếm 60% dân số trung bình của tỉnh Trong khi đó tỷ suất xuất cư luôn cao hơn tỷ suất nhập cư từ 2‰ đến 4‰ chứng tỏ việc người lao động di cư vẫn tiếp tục diễn ra Tỷ suất nhập cư của Long An năm 2012 khoảng 4.7‰ thấp hơn so với nhiều vùng Ngược lại, tỷ suất xuất cư của tỉnh năm 2012 khoảng 7.5‰ cao hơn so với nhiều vùng Nguyên nhân là do tỉnh tiếp giáp với các địa phương có nền kinh tế phát triển như TPHCM và Bình Dương nên khả năng thu hút và cạnh tranh nguồn lao động của Long An không cao Điều này cho thấy Long An cần xem xét về tình trạng di cư để có những chính sách thích hợp cho các nhóm đối tượng có liên quan như người di cư, cha mẹ và con cái của họ
Bảng 3.1 Thay đổi dân số và lao động qua các năm của tỉnh Long An
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2012
Xu hướng thay đổi cấu trúc hộ gia đình hiện nay
Những năm gần đây, khi xã hội càng phát triển, đời sống người dân được nâng lên rõ nét
xu hướng sinh ít con ngày càng tăng và cấu trúc hộ gia đình cũng thay đổi khá nhiều Vì
Trang 23thế, một trong những tác động về mặt xã hội của sự phát triển kinh tế là quan hệ của mọi người thiên về lợi ích kinh tế hơn, mức sinh giảm và gia đình càng phân hoá hơn16
Cơ cấu quy mô hộ gia đình Việt Nam từ cấu trúc đại gia đình truyền thống (từ 6 người trở lên) với nhiều thế hệ đang giảm dần và chuyển sang sang gia đình hạt nhân 2 thế hệ Kết quả nghiên cứu của Lê Văn Duỵ về sự thay đổi về quy mô hộ gia đình Việt Nam cho thấy quy mô hộ gia đình Việt Nam càng giảm dần, tỷ lệ sinh giảm và mô hình gia đình truyền thống ngày càng không còn phổ biến cũng như mức độ độc thân ngày càng gia tăng Quy
mô hộ bình quân năm 1994 là 4.8 người/hộ giảm xuống còn 3.7 người/hộ vào năm 2007 Quy mô hộ có 5 người trở lên có xu hướng giảm từ 52.3% vào năm 1994 xuống còn 34.1% năm 2007, trong khi hộ có từ 1 – 4 người có xu hướng tăng
Bảng 3.2 Cơ cấu hộ theo quy mô hộ (Đơn vị tính: %)
Quy mô hộ (người) 1/4/1994 1/4/1999 1/4/2007
Quy mô bình quân 4.8 4.0 3.7
Nguồn: Lê Văn Duỵ, 2009
Các vùng đều có mức giảm quy mô hộ ở mức 0.3 người/hộ sau 8 năm chứng tỏ cấu trúc hộ gia đình đang thay đổi Vùng đồng bằng sông Cửu Long có mức giảm từ 4.1 người/hộ xuống 3.8 người/hộ17
Cấu trúc hộ gia đình thay đổi theo với sự phát triển của xã hội nhưng cũng tạo ra những tác động tiêu cực Tác động cụ thể khi gia đình bị thu hẹp làm cho các thành viên trong gia đình có xu hướng cá nhân hơn làm khoảng cách giữa các thế hệ gia tăng, mất đi sự quan tâm chia sẻ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình
Vài năm gần đây, Long An có tỷ suất xuất cư cao và quy mô hộ gia đình thu hẹp theo xu hướng chung của cả nước Trong năm 2009, Long An có 29% hộ gia đình có 4 thành viên, trong khi hộ từ 7 người trở lên chỉ chiếm 5% cho thấy thành viên trong hộ ít và hẹp dần Khi dân số cả nước có khuynh hướng già hoá do mức sinh giảm (tỷ suất sinh thô CBR giảm từ 17.6 ‰ năm 2009 xuống 16.9 ‰ năm 2012) và tuổi thọ tăng (từ 72 tuổi năm 2009
16 Nguyễn Nam Phương (2011)
17 Lê Văn Duỵ (2009)
Trang 24lên 73 tuổi năm 2012) thì hộ gia đình ít con là điều đáng quan tâm của các địa phương Đặc biệt, khi con cháu đi làm hoặc học xa để cha mẹ lớn tuổi ở lại quê hương thiếu sự chăm sóc
và thăm nom sẽ tác động nhiều đến tâm lý, sức khoẻ và các vấn đề về cuộc sống của họ Hình 3.1 Tỷ lệ % số thành viên trong hộ gia đình ở Long An năm 2009
Nguồn: Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam, 2009
3.2 Đặc điểm của mẫu thu về
3.2.1 Đặc điểm người cao tuổi trong mẫu
Số lượng bảng hỏi được thu thập từ cuộc khảo sát là 134 phiếu, sau khi xem xét có 130 phiếu đáp ứng yêu cầu Trong đó, có 45 NCT thuộc huyện Cần Giuộc, 43 NCT thuộc huyện Bến Lức và 42 NCT thuộc huyện Đức Hoà
Về giới tính của mẫu có 54 đối tượng là nam tương ứng với 41.5% và 76 đối tượng là nữ tương ứng với 58.5% Trong đó nếu xét riêng đối tượng trong hộ có lao động di cư thì có
42 đối tượng là nam (32.3%) và 58 đối tượng là nữ (44.6%) Vì đối tượng khảo sát là NCT nên tỷ lệ chênh lệch như vậy được giải thích bởi hai lý do là tuổi thọ nữ cao hơn nam và chiến tranh
Về cơ cấu tuổi của mẫu được phân bổ như sau: tuổi nhỏ nhất là 60 tuổi và lớn nhất là 96 tuổi Nếu phân chia theo nhóm tuổi như đã trình bày thì có thể nhận thấy đối tượng thuộc nhóm 2 từ 70 đến 79 tuổi có 60 người chiếm tỷ lệ 46.2% và nhóm 3 trên 79 tuổi có 22 người chiếm 16.9% Tỷ lệ này không có sự khác biệt nhiều giữa hai nhóm NCT trong mẫu
và nếu xét riêng NCT có con di cư thì tỷ lệ tổng của nhóm 1 và 2 là 62.4%, nhóm 3 chỉ
Trang 25chiếm 14.6% Nguyên nhân nhóm 3 chiếm tỷ lệ ít hơn là do tuổi thọ trung bình của NCT hiện nay vào khoảng 74 tuổi18
Về trình độ học vấn, đa số các đối tượng có trình độ chủ yếu ở cấp tiểu học chiếm đến 46 người (35.4%), cấp trung học cơ sở 30 người (23.1%) và biết đọc viết chiếm 26 người (20%)
Về ngành nghề, có đến 67 người (51.5%) từng làm nghề nông (trong đó có 55 đối tượng thuộc nhóm nghiên cứu và 12 đối tượng thuộc nhóm còn lại), khoảng 27.7% (36 người) từng làm tiểu thương (có đến 31 trong tổng 37 đối tượng thuộc nhóm nghiên cứu) Số ít các đối tượng đã từng làm công nhân và các ngành nghề khác Ngành nghề của họ chủ yếu
là nông nghiệp, điều này có liên quan nhiều đến trình độ và cơ cấu kinh tế của địa phương chủ yếu là nông nghiệp và thủ công nghiệp
Về đất canh tác của hộ, chỉ có 42 đối tượng (32.3%) có đất canh tác trong mẫu khảo sát Các đối tượng còn lại đều trả lời gia đình không có đất canh tác, đa số họ lúc còn trẻ đều thuê mướn ruộng vườn để canh tác hoặc làm các ngành nghề chăn nuôi tại chính hộ gia đình Diện tích đất canh tác chỉ tập trung vào một số hộ gia đình có đất đai tổ tiên để lại Tuy nhiên, theo đa số ý kiến của các đối tượng thì diện tích đất canh tác của các hộ đều có
xu hướng giảm và mất dần do sự phát triển của các khu công nghiệp, chuyển cơ cấu kinh tế của vùng hoặc do gia đình bán đi để xoay xở các việc cần thiết
Về thu nhập hiện tại, có đến 87 người (66.9%) có thu nhập dưới 3 triệu/tháng (trong đó có
71 người (54.6%) thuộc nhóm nghiên cứu và 16 người (12.3%) thuộc nhóm đối chứng) Tỷ
lệ NCT có thu nhập từ 4 triệu/tháng trở lên rất thấp, chiếm 3.8% trong tổng số Đặc biệt, nhóm đối tượng nghiên cứu có sự tập trung khá lớn số người có thu nhập dưới 3 triệu (71 người trong 100 người), trong khi nhóm đối chứng chỉ chiếm 16 người trong tổng 30 người Điều này cho thấy thu nhập của nhóm nghiên cứu đang ở mức thấp và có thể ảnh hưởng đến đời sống kinh tế cũng như sức khoẻ của họ so với nhóm còn lại
Cuối cùng là tình trạng gia đình, có đến 50 người (38.5%) đang sống với vợ hoặc chồng (trong đó có 38 người thuộc nhóm nghiên cứu và 12 người thuộc nhóm còn lại) Con số 30 người (23.1%) là số đối tượng đang sống cùng cháu, có đến 21 người trong số này thuộc nhóm đối tượng có NDC Điều này cho thấy, có một tỷ lệ nhất định lao động di cư để lại
18 Tổng cục thống kê Việt Nam (2012)
Trang 26con cái của họ cho cha mẹ chăm sóc ở làng quê Tuy nhiên, đây là yếu tố khá quan trọng ảnh hưởng đến cuộc sống của người cao tuổi còn ở lại vì họ không chỉ phải tự lo cho bản thân mình mà còn phải chăm lo cho cháu thay các con của họ Đa số người cao tuổi trong mẫu cho rằng việc chăm sóc cháu là việc nên làm thay cho các con nhưng khi được hỏi về tình trạng sức khoẻ thì họ lại cảm thấy suy giảm nhiều do chăm sóc cháu
3.2.2 Đặc điểm lao động di cư trong mẫu
Lao động di cư trong mẫu khảo sát là một đối tượng được xem xét tiếp theo, trong tổng số
130 mẫu khảo sát được hỏi đối với NCT thì người nghiên cứu cũng có được thông tin kèm theo của 144 lao động di cư tương ứng về các đặc điểm cá nhân được NCT chia sẻ Thông tin này không được phỏng vấn trực tiếp đối với từng lao động di cư nên chắc chắn sẽ có một số sai lệch nhất định
Về độ tuổi của lao động di cư thì tuổi thấp nhất là 20 tuổi và cao nhất là 48 tuổi Độ tuổi trung bình của nhóm này là 34 tuổi Nếu phân chia theo nhóm tuổi thì nhóm 20-35 tuổi chiếm 94 người (66%) và nhóm còn lại chiếm 34% tổng số Điều này cho thấy nhóm tuổi
di cư thường là nhóm lao động trẻ, đặc biệt nhóm 26-35 tuổi thường là thành phần tích cực nhất trong di cư Điều này có thể dẫn đến một thực trạng đó là già hoá dân số ở làng quê
và tỷ lệ phụ thuộc ở vùng nông thôn sẽ tăng dần do chỉ còn người cao tuổi và trẻ em ở lại
Về giới tính của lao động di cư, đa số họ là nữ (93 người chiếm đến 65%) và nam chỉ chiếm 51 người (35%) Điều này hoàn toàn phù hợp vì người nữ thường có động cơ di cư cao hơn và chiếm tỷ trọng lớn trong dòng di cư như trong các báo cáo về di cư của Việt Nam19 Theo số liệu từ Tổng điều tra dân số nhà ở năm 2009 cho thấy tỷ lệ nữ đều cao hơn 50% so với các nhóm di cư được phân loại (di cư giữa các tỉnh, huyện và trong phạm vi huyện) Xét về độ tuổi thì phụ nữ di cư chủ yếu ở các nhóm tuổi trẻ, trong mẫu khảo sát có đến 58 trong tổng số 93 người nữ trong độ tuổi từ 20 đến 34 tuổi Trong khi đó, con số tỷ
lệ này ở người nam là 27 trong tổng 51 người Như vậy, người nữ thường di cư nhiều hơn nam và độ tuổi của họ thường trẻ hơn nam
Về mối quan hệ của đối tượng nghiên cứu và lao động di cư cho thấy đa số họ có mối quan hệ cha mẹ và con ruột, tỷ lệ này chiếm đến 79% (114 người trong tổng 144 người) Trong số 114 lao động di cư là con ruột thì có đến 71 lao động là nữ Tỷ lệ NCT là cha mẹ
19 Aid, I (2011), Phụ nữ di cư trong nước: Hành trình tìm kiếm cơ hội
Trang 27vợ hoặc cha mẹ chồng của lao động di cư chiếm khoảng 6%, là ông bà chiếm 13%, tỷ lệ quan hệ khác là 3%
Về trình độ của lao động di cư, đa số họ đều học hết cấp tiểu học, có đến 97 người trong tổng số (chiếm 67%) có trình độ ở cấp trung học cơ sở và phổ thông Tỷ lệ học cao đẳng và đại học chiếm khoảng 31% Điều này cho thấy trình độ của lao động di cư thường ở mức trung bình, do đó công việc của họ thường là những công việc phổ thông, mức lương trung bình và khó có được sự ổn định trong công việc Điều này có thể nhận thấy thông qua tính chất công việc và thu nhập hàng tháng của lao động di cư trong mẫu
Về tính chất công việc, chỉ có khoảng 24% trong số họ có được công việc ổn định và đa số công việc của lao động di cư ở mức tạm ổn định (55%) Khoảng 21% trong tổng số lao động di cư làm các công việc được NCT đánh giá là không ổn định và bấp bênh Chính điều này tạo nên sự khác biệt về thu nhập của các lao động di cư Mức thu nhập hàng tháng của họ chỉ ở mức từ 3-5 triệu (60% trong tổng số 144 người) và điều này ảnh hưởng đến khả năng trợ giúp tiền bạc cho cha mẹ và con cái của họ
Mức độ gửi tiền về quê của lao động di cư thường là hàng tháng (58%) và hàng quý (16%) Trường hợp gửi hàng tuần chiếm 13% trong tổng số Mức độ họ gửi tiền cho cha
mẹ từ 6 tháng trở lên hoặc không gửi chiếm tỷ lệ 13% Trong khi đó, lượng gửi mỗi lần của lao động di cư vào khoảng dưới 1 triệu là chủ yếu (49%) và từ 1 đến 2 triệu chiếm 45% Tỷ lệ không gửi hoặc gửi trên mức 2 triệu chỉ khoảng 6% tổng số Đa số người cao tuổi cho rằng lượng tiền gửi và mức độ gửi tiền thường không cố định và phụ thuộc nhiều vào tình trạng công việc của con cái, tiền lương được nhận và số năm con cái đã đi làm Cũng theo mẫu khảo sát, đa số lao động di cư đã rời làng quê từ 2 đến 3 năm (44%), từ 3 năm trở lên chiếm 26% (38 người) và số người đã đi dưới 2 năm chiếm 30% Điều này cho thấy lao động di cư trong mẫu có thời gian rời làng quê chưa lâu nên thu nhập và công việc của họ cũng khó ổn định
Về tình trạng gia đình, có đến 113 lao động di cư (78%) đã lập gia đình và tỷ lệ độc thân chỉ khoảng 20%, tỷ lệ ly hôn chiếm 2% tổng số Đa số lao động di cư đều đã lập gia đình
và điều này có tương quan đến số lượng người cao tuổi sống cùng con cháu Đa số NCT trong mẫu cho rằng khi người di cư lập gia đình thì quỹ thời gian dành cho cha mẹ không còn nhiều và tần suất về quê cũng không nhiều
Trang 28Hình 3.2 Mức độ thường xuyên gửi tiền về cho người cao tuổi
Xem xét mức độ thường xuyên về thăm cha mẹ của lao động di cư cho thấy đa số họ thỉnh thoảng về thăm quê hàng tháng chiếm 33%, mức độ về hàng tuần chiếm 23% Còn lại đa
số đều ở mức đôi khi và ít khi (43%) và tỷ lệ rất ít (hầu như không) chỉ chiếm 1% Điều này cho thấy lao động di cư trong mẫu có sự quan tâm đến cha mẹ của họ nhưng mức độ quan tâm không cao do đó sẽ có tác động ảnh hưởng đến tâm lý và sức khoẻ của những người cha mẹ còn ở lại làng quê, có thể làm suy giảm chất lượng sống của họ so với nhóm đối chứng
Hình 3.3 Mức độ thường xuyên về thăm hỏi NCT của NDC
Trang 293.2.3 Đặc điểm NCT trong mẫu khảo sát phỏng vấn sâu
Số lượng phỏng vấn là 14 NCT, trong đó có 9 NCT là nữ và 5 NCT là nam được phỏng vấn chọn lọc dựa trên đặc điểm về nhóm tuổi, địa phương, số lượng NDC trong hộ và tình trạng hộ nghèo của gia đình
Từ đặc điểm của mẫu khảo sát, nghiên cứu nhận thấy NCT trong các hộ gia đình có NDC
có đặc điểm chung của những NCT đang gặp phải như sống đơn độc, thiếu hụt các khoản chi tiêu hàng tháng, khả năng lao động suy giảm và trình độ học vấn không cao Ngoài ra, NCT trong nghiên cứu này đa số phụ thuộc vào thu nhập của con cái, điều kiện kinh tế gia đình không đáp ứng nhu cầu chi tiêu nên con cái phải đi làm xa để có cơ hội kiếm thu nhập cao hơn giúp đỡ gia đình; công việc thường ngày của NCT là chăm sóc cháu, trông nom nhà cửa, hạn chế tham gia các hoạt động cộng đồng và thường phải tự lo cho bản thân nhiều hơn Ngoài ra, NCT trong mẫu cũng bị ảnh hưởng tâm lý khi con cái di cư
3.3 So sánh mức độ hài lòng về chất lượng sống của NCT còn ở lại
3.3.1 Về sức khoẻ thể chất
Sức khoẻ thể chất của nhóm đối tượng nghiên cứu thấp hơn so với nhóm đối chứng theo kết quả thống kê từ mẫu khảo sát Nguyên nhân là vì họ thường thiếu sự chăm sóc của con cái và thường xuyên lo lắng cho những NDC dẫn đến sức khoẻ thể chất bị ảnh hưởng NCT trong nhóm nghiên cứu có tình trạng mệt nhọc thường xuyên là do khối lượng công việc hàng ngày mà họ phải thực hiện khá nhiều, mà khối lượng công việc vượt quá thể trạng và độ tuổi cho phép của họ Cũng chính vì thế mà việc chăm sóc sức khoẻ cho bản thân của họ ít được quan tâm, đặc biệt đối với các hộ gia đình không có điều kiện kinh tế tốt Ông M.V.L (78 tuổi, có 2 lao động di cư) chia sẻ: “Nhà thuần nông, con cái đi làm xa, mọi thứ ở nhà phải tự lo từ cái ăn, cái mặc đến nhà cửa, ruộng vườn Đã vậy còn phải lo cho hai đứa cháu còn đang đi học nên cả ngày không có thời gian nghỉ nhiều, không để ý nhiều đến sức khoẻ”
Tình trạng mất ngủ hoặc khó ngủ cũng là vấn đề đáng lo ngại của nhóm NCT còn ở lại Nguyên nhân là do tuổi già nên các tổ chức cơ thể suy giảm, thường có các cơn đau nhức
và một phần khác là do sự lo lắng khi con cái đi làm xa Theo quan sát trong mẫu, tình trạng mất ngủ ở NCT nữ thường cao hơn nam Chia sẻ về vấn đề này, bà N.T.M (76 tuổi,
có 1 lao động di cư) cho biết: “Con gái đi làm xa không biết con ăn uống, ngủ nghỉ ra sao,
lo lắng nhiều lắm! Không muốn con xa quê nhưng không thể ngăn cản được”
Trang 30Hình 3.4 Mức độ hài lòng trung bình về sức khoẻ thể chất
Tình trạng phụ thuộc vào thuốc y tế hàng ngày là phổ biến ở những NCT còn ở lại Điều này cho thấy sức khoẻ của họ thực sự cần được quan tâm Tình trạng sức khoẻ suy giảm là tình trạng chung của những NCT khi bước vào giai đoạn lão hoá Ngoài ra, những suy yếu
về thị lực, thính lực đang ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sống không có người thân bên cạnh của họ
3.3.2 Về quan hệ xã hội
Đa số NCT thuộc đối tượng nghiên cứu trong mẫu có mức hài lòng thấp khi đánh giá vai trò của mình đối với cộng đồng và xã hội Họ thường phải chăm lo nhiều việc trong gia đình hơn nên việc tham gia hoạt động cộng đồng như vui chơi, giải trí thường hạn chế nhiều và các quan hệ cộng đồng cũng mất dần Theo đánh giá của ông H.V.Q (Chủ tịch Hội NCT xã Phước Lợi, Bến Lức) cho rằng “Ông bà trong các hộ có con cái đi làm, đi
Trang 31học xa vẫn đăng ký tham gia hội người cao tuổi nhưng rất ít khi cùng sinh hoạt cộng đồng với mọi người” Chính điều này đã làm giảm đi một phần chất lượng sống của họ
Tuy nhiên, họ lại đánh giá cao vai trò của các mối quan hệ gia đình và vai trò của họ trong gia đình Đa số NCT được hỏi vừa phải chăm sóc cháu giúp con, vừa phải tự chăm sóc bản thân và lo cuộc sống hàng ngày nhưng điều đó làm họ vui khi còn giúp ích được cho gia đình Đặc biệt, khi NCT trông cháu thì họ cũng đồng thời dạy bảo và xây dựng văn hoá gia đình Lúc đó, vai trò của NCT trong gia đình được phát huy tối đa ở hoạt động giáo dục về đạo đức, nhân văn, tri thức và hướng nghiệp dạy nghề cho thế hệ trẻ Ông N.V.H (79 tuổi,
có 3 người con đi làm ở TPHCM) chia sẻ “Truyền thống nghề mộc của gia đình đã qua bốn thế hệ, mặc dù hiện tại không còn sức khoẻ nhưng ông đang dạy nghề lại cho cháu trai sống chung để giữ gìn truyền thống”
Hình 3.5 Mức độ hài lòng trung bình về quan hệ xã hội
Trang 323.3.3 Về tình trạng kinh tế
Đa số NCT trong hộ có lao động di cư đều làm nghề nông, có đất nhưng thu nhập không cao do khả năng lao động giảm nên đất canh tác thường bị để hoang hoá hoặc rất ít được canh tác trong năm Đây là một trong những hệ quả của việc lao động trẻ rời làng quê lên thành thị làm mất đi lực lượng lao động nông nghiệp cần thiết cho vùng nông thôn
Hình 3.6 Đồng ruộng ít canh tác ở huyện Cần Giuộc
Tuy nhiên, khi so sánh thì nhận thấy tình trạng kinh tế của đối tượng nghiên cứu lại được đánh giá tốt hơn nhóm còn lại Sự khác biệt xuất phát chủ yếu từ nguồn tiền hỗ trợ của lao động di cư dành cho họ, trong khi nguồn hỗ trợ này hoàn toàn không có ở nhóm đối chứng Ông T.V.L (68 tuổi, có 1 con di cư) chia sẻ “Mỗi tháng con gửi cho ông bà khoảng 2 triệu
để chi tiêu nên ông bà cũng được nhẹ phần gánh nặng chi tiêu trong gia đình”
Các nguồn thu nhập chủ yếu của đối tượng NCT nghiên cứu là từ bản thân, từ con cháu di
cư gửi về, từ con cháu sống chung, từ nhà nước và các nguồn khác Trong đó, họ đánh giá cao nguồn thu nhập từ lao động di cư gửi về và xem đây là nguồn tiền chủ yếu giúp đỡ cho cuộc sống gia đình Nguồn thu nhập tự thân và con cái sống chung (nếu có) thì thường ít Nguồn hỗ trợ từ nhà nước chỉ dừng lại ở mức 180.000 VNĐ/tháng cho NCT có độ tuổi từ
80 trở lên nên đa số họ cho rằng nguồn hỗ trợ nhà nước còn chưa hợp lý trong điều kiện giá cả sinh hoạt tăng cao như hiện nay và đối tượng được hưởng còn khá hẹp
Tuy nhiên, nguồn thu nhập của lao động di cư theo đánh giá của nhiều người cao tuổi còn
ở lại thường không ổn định, nguồn tiền gửi về cũng không thường xuyên nên ảnh hưởng nhiều đến mức chi tiêu và sinh hoạt của họ Đó là lý do làm mức độ chi tiêu của họ có xu hướng thấp dần và khả năng tiết kiệm cao hơn so với nhóm đối chứng, và họ khá hài lòng
Trang 33với các khoản chi hàng tháng của bản thân Chia sẻ về vấn đề này bà N.T.D (75 tuổi, có 2 con đi lao động xa) cho biết “Con cái đi làm xa khó khăn nên phải chi tiêu tiết kiệm để phòng thân và để dành cho con, mặc dù sống ít thoải mái hơn nhưng yên tâm hơn”
Hình 3.7 Mức độ hài lòng trung bình về kinh tế
3.3.4 Về môi trường sống
Hình 3.8 Môi trường tự nhiên và môi trường nhà ở
Trang 34Hình 3.9 Mức độ hài lòng trung bình về môi trường sống
Môi trường sống bao gồm môi trường tự nhiên và xã hội Đa số NCT đều có mức độ hài lòng gần như nhau về môi trường sống Khi so sánh 2 nhóm thì chỉ có sự khác biệt chủ yếu của 2 yếu tố về an toàn môi trường tự nhiên và tiếp cận dịch vụ y tế
Đa số đối tượng NCT nghiên cứu cho rằng mức độ an toàn môi trường tự nhiên thấp làm giảm chất lượng sống nhiều hơn nhóm đối chứng, cụ thể là ô nhiễm môi trường, đất nước, không khí và tiếng ồn Tuy nhiên, đây là tình trạng chung của cả một vùng sinh sống nên việc phân loại thành từng nhóm để xem xét ít có ý nghĩa Để giải quyết tình trạng này cần phải có chính sách vệ sinh môi trường và an toàn sinh sống một cách hệ thống
Đối với khả năng tiếp cận dịch vụ y tế hay nói cách khác là cơ hội được chăm sóc y tế có
sự khác nhau giữa hai nhóm Cơ hội được chăm sóc y tế đầy đủ, chữa trị kịp lúc dành cho đối tượng NCT trong nhóm đối chứng cao hơn nhóm nghiên cứu vì họ sống cùng con cái
và được chăm sóc kịp thời và đầy đủ hơn Ngược lại, con cái của đối tượng NCT nghiên cứu bị hạn chế về không gian và thời gian nên việc chăm sóc kịp thời cũng bị hạn chế Bà N.T.N.A (69 tuổi, có 2 con di cư) chia sẻ “Bà sử dụng toa thuốc cách đây hơn một năm để tiếp tục mua thuốc vì đi lại cũng khó và nghĩ lớn tuổi thì phải bệnh là bình thường, không cần đi khám nhiều lần”
Trang 35Hình 3.10 Mức độ hài lòng trung bình về tâm lý
Đa số NCT trong nghiên cứu này cho rằng mặc dù họ không đóng góp nhiều cho gia đình
về mặt kinh tế nhưng có thể hỗ trợ tốt về mặt tinh thần NCT có thể trao đổi và chia sẻ với con cái về kinh nghiệm cuộc sống hoặc được góp ý kiến khi có các vấn đề khó khăn, quan trọng Ông Trần Văn L (68 tuổi, có 2 con đi làm ở TPHCM) chia sẻ “Người thân trong gia đình thường trò chuyện về công việc và cuộc sống với nhau và đó là thời điểm gia đình đông vui nhất Tuy nhiên, vì con cái đi làm nên thỉnh thoảng mới sum họp gia đình Nhờ có
Trang 36điện thoại nên con cũng thường gọi về hỏi thăm gia đình nên ông cũng cảm thấy yên tâm
và ít lo lắng hơn”
Tuy nhiên, khi nền kinh tế phát triển, người trẻ có xu hướng quan tâm đến nhu cầu bản thân nhiều hơn vì thế họ có thể lãng quên cha mẹ của mình, xem nhẹ vai trò của cha mẹ trong gia đình Do đó, tâm lý lo sợ bị bỏ rơi của NCT cũng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sống của họ Trong nghiên cứu này, NCT thường có tâm lý tiêu cực nhiều hơn tích cực vì lo lắng cho con cháu đi làm xa và lo lắng mình sẽ bị bỏ rơi khi bệnh tật
3.3.6 Về niềm tin
Đa số NCT có mức hài lòng thấp hơn cho niềm tin vào thể chế và cuộc sống Việc NCT tích cực tham gia các hoạt động xã hội và việc tham gia các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo thường xuyên, có niềm tin nhiều vào cuộc sống thì CLS của họ cao hơn nhóm còn lại Giải thích cho điều này, đa số NCT đều tin rằng tham gia các hoạt động tâm linh sẽ gặp nhiều may mắn, an tâm trong cuộc sống
Hình 3.11 Mức độ hài lòng trung bình về niềm tin
Cảm nhận của bà P.T.N.A (69 tuổi, có 2 con di cư) về các hoạt động tôn giáo “Bà thường đến chùa để dự lễ, cầu an cho gia đình Việc học tập giáo lý và làm từ thiện giúp bà cảm thấy cuộc sống tốt hơn, tâm trí ít lo âu và cảm thấy thanh thản trong lòng”
3.3.7 Đánh giá chung về sáu nhóm yếu tố hình thành chất lượng sống
Kết quả phân tích cho thấy trong sáu nhóm yếu tố hình thành nên CLS bao gồm sức khoẻ, các mối quan hệ xã hội, kinh tế, môi trường sống, tâm lý và niềm tin thì những NCT trong nghiên cứu này có mức độ đánh giá cao nhất đối với nhóm môi trường và kinh tế Tuy
Trang 37nhiên tất cả các đánh giá đều dưới mức trung bình 3.0, điều đó cho thấy CLS của họ không cao và cần phải có những biện pháp để cải thiện
Kết quả nghiên cứu định lượng về CLS của NCT Việt Nam đã kết luận một CLS được xem
là tốt cần đảm bảo các tiêu chí theo các thứ tự ưu tiên (1) sức khoẻ tốt, (2) có thu nhập ổn định, (3) có lối sống lành mạnh, (4) đang sống cùng vợ/chồng, (5) được sống cùng con cháu, (5) có vai trò trong gia đình và (6) thường xuyên tham gia các hoạt động xã hội20 Tuy nhiên, theo kết quả của nghiên cứu này cho thấy có một sự sắp xếp khác hơn về 6 nhóm yếu tố Cụ thể ưu tiên (1) tâm lý, (2) quan hệ xã hội, (3) sức khoẻ, (4) niềm tin, (5) kinh tế và (6) là môi trường
Hình 3.12 Mức độ hài lòng trung bình về chất lượng sống
Sức khỏe thể chất và khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của NCT thuộc nhóm nghiên cứu kém hơn NCT ở nhóm đối chứng Họ thường thiếu sự chăm sóc sức khỏe từ người thân trong độ tuổi lao động, và thường xuyên lo lắng cho những NDC dẫn đến sức khỏe thể chất kém hơn
20 Dương Huy Lương (2010)
Trang 38Quan hệ xã hội và tâm lý có mối liên kết với nhau, cụ thể khi NCT được tham gia giáo dục con cháu, thực hiện những công việc trong gia đình tuy chiếm thời gian và có thể ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất của họ Tuy nhiên điều này sẽ giúp NCT cảm nhận được giá trị bản thân mình, giúp họ vui vẻ và khỏe mạnh hơn về sức khỏe tâm lý
Về kinh tế mặc dù NCT không hài lòng về điều kiện kinh tế của mình nhưng nhờ nguồn tiền gửi về của NDC (mặc dù không nhiều và thường thiếu ổn định) nhưng sự hài lòng về mặt kinh tế của NCT trong nhóm nghiên cứu vẫn cao hơn nhóm đối chứng Đối với khoản
hỗ trợ của Nhà nước NCT đều không đánh giá cao vai trò của khoản này, bởi khoản hỗ trợc chiếm tỷ trọng nhỏ so với chi tiêu hiện nay
3.4 Tác động của di cư lao động đến chất lượng sống của người cao tuổi còn ở lại 3.4.1 So sánh theo số lượng người di cư trong hộ
Có sự tương đồng về CLS của NCT trong hộ có từ 1-2 lao động di cư, tương tự đối với hộ
có từ 3-4 lao động di cư Điều này cho thấy nếu cấu trúc hộ gia đình thay đổi theo hướng thu hẹp dần số thành viên và kết hợp với sự di cư lao động sẽ ảnh hưởng đến CLS của những NCT còn ở lại
Cấu trúc gia đình thay đổi theo xu hướng hộ gia đình ít con tăng dần và số lượng gia đình
có nhiều thế hệ sống chung không còn nhiều Trong 100 hộ gia đình chỉ 9% hộ gia đình có
từ 3-4 lao động di cư thuộc hộ đông con và có đến 91% hộ gia đình có 1-2 lao động di cư
và thuộc hộ có ít con Khi gia đình có xu hướng hạt nhân hoá và tuổi thọ được nâng cao thì khả năng NCT sống cô đơn trong khoảng thời gian dài sẽ tăng
Theo kết quả của mẫu cho thấy NCT sống trong hộ gia đình có ít lao động di cư sẽ ít hài lòng về CLS so với hộ có nhiều lao động di cư Khác biệt là chủ yếu ở các yếu tố tâm lý, sức khoẻ, quan hệ xã hội và môi trường Nguyên nhân của sự khác biệt xuất phát từ tình trạng gia đình ít con, nên khi lao động di cư sẽ không có điều kiện chăm sóc chu toàn cho cha mẹ về nhiều khía cạnh của cuộc sống Chia sẻ của bà T.T.P (77 tuổi, có 2 người con di cư) về chất lượng sống “Con đi làm xa, thỉnh thoảng mới về thăm ba mẹ nên mọi việc trong gia đình đều do ông bà lo toan Bà có bệnh cao huyết áp, chóng mặt, khó ngủ và suy nghĩ nhiều, khả năng nghe nhìn cũng yếu nên không làm thêm được Hàng ngày bà trông nom nhà cửa, giữ cháu nội và trồng thêm rau màu, hoa quả Con trai và con dâu đi làm ở Sài Gòn bà cũng thấy không an tâm vì sợ con gặp khó khăn và rủi ro”
Trang 39Hình 3.13 CLS của NCT còn ở lại theo số lượng lao động di cư
Ngược lại, gia đình có đông con dù có tình trạng di cư lao động thì con cái cũng sẽ có điều kiện thay nhau chăm sóc cha mẹ tốt hơn do đó chất lượng sống có sự hài lòng cao hơn Ông M.V.L (74 tuổi, có 3 người con di cư) chia sẻ “Con cái cùng thay nhau về chăm sóc
và cho tiền ông bà nên ông bà cũng ít có cảm giác buồn và lo lắng Mặc dù tuổi già có nhiều bệnh nhưng tâm lý thoải mái và an tâm nên cuộc sống hiện tại cũng khá tốt”
3.4.2 So sánh theo giới tính của người di cư
Hình 3.14 CLS của NCT còn ở lại theo giới tính của NDC
Trang 40NCT trong các hộ gia đình có người nữ di cư ít hài lòng về CLS so với các hộ có người nam di cư Nguyên nhân là sự lo lắng của cha mẹ về những rủi ro trong cuộc sống và công việc cho NDC nữ nhiều hơn NDC nam Sự lo lắng của cha mẹ là có sơ sở vì người nam thường có sức khoẻ tốt hơn người nữ nên ít có rủi ro hơn Chia sẻ của bà N.T.H (85 tuổi,
có 1 con gái di cư) rằng “Con gái đi làm xa có nhiều rủi ro như đi đường xa, cướp giật, tai nạn Con gái một mình sống nơi xa vừa phải tự lo cho bản thân, vừa phải lo cho gia đình nên rất bà rất lo lắng”
Ngoài ra, thông thường con cái là nữ thường chăm lo cho cha mẹ đầy đủ hơn, thường trao đổi và tâm sự với cha mẹ nhiều hơn nam Chính điều này đã gây ra nhiều ảnh hưởng đến cha mẹ khi lao động nữ đi làm xa, giao tiếp trong gia đình bị hạn chế nhiều và đột ngột nên NCT cảm thấy nhà cửa quạnh hiu hơn nhiều so với bình thường Bà N.T.T (85 tuổi, có 2 con di cư) chia sẻ “Trong gia đình, con trai ít tâm sự với bà vì tuổi tác chênh lệch, lối sống khác nhau nên chuyện nào cần thiết mới nói”
Hình 3.15 Mức độ hài lòng trung bình về các nhóm yếu tố CLS theo giới tính của NDC
Như vậy, trong hộ gia đình có lao động di cư là nam thì cha mẹ sẽ ít lo lắng và hài lòng với cuộc sống hơn so với người lao động nữ di cư