Đề tài “Đánh giá công tác quản lý nguồn vốn Chương trình 135 tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2006-2013” sẽ góp phần cung cấp những thông tin cụ thể về công tác quản lý nguồ
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN VIỆT HÙNG
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN VỐN CHƯƠNG TRÌNH 135 TẠI HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG GIAI ĐOẠN 2006-2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN VIỆT HÙNG
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN VỐN CHƯƠNG TRÌNH 135 TẠI HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG GIAI ĐOẠN 2006-2013
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Ngọc Trịnh
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết rằng nội dung của bản luận văn này chưa được nộp cho bất kỳ một chương trình cấp bằng cao học nào, cũng như một chương trình đào tạo cấp bằng nào khác
Tôi cũng xin cam kết thêm rằng bản luận văn này là nỗ lực của cá nhân tôi Các kết quả, phân tích, kết luận trong bản luận văn này (ngoài các phần được trích dẫn) đều là kết quả làm việc của cá nhân tôi
Nguyễn Việt Hùng
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình và trách nhiệm của
PGS.TS Lưu Ngọc Trịnh đã hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong
quá trình nghiên cứu để hoàn thành bản luận văn này
Trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Na Hang, các phòng, ban, đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân huyện Na Hang và các sở, ban, ngành của tỉnh Tuyên Quang đã tạo điều kiện cung cấp tài liệu, thông tin trong quá trình khảo sát, nghiên cứu đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể giảng viên, cán bộ nhân viên tham gia công tác giảng dạy, phục vụ khoá đào tạo QLKT đã giúp tôi hoàn thành tốt khoá học
Học viên
Nguyễn Việt Hùng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, HÌNH, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Những đóng góp khoa học của đề tài 4
5 Kết cấu của luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Nghèo đói và những vấn đề đặt ra 6
1.1.1 Việc xác định chuẩn nghèo 7
1.1.2 Một số thành tựu trong công tác xóa đói, giảm nghèo 7
1.1.3 Một số bất cập trong việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo 9
1.2 Một số vấn đề về các xã đặc biệt khó khăn của chương trình 135 11
1.2.1 Tiêu chí đánh giá các xã đặc biệt khó khăn [2] 11
1.2.2 Đặc trưng của các xã đặc biệt khó khăn 13
1.3 Mục tiêu và nhiệm vụ của chương trình 135 15
1.3.1 Mục tiêu tổng quát 15
1.3.2 Mục tiêu cụ thể 15
1.3.3 Nhiệm vụ của chương trình 17
1.3.4 Một số chính sách chủ yếu bổ trợ thực hiện chương trình [13] 17
1.3.5 Các dự án thành phần của chương trình 21
1.4 Cơ sở thực tiễn 26
Trang 61.4.1 Khái quát quá trình thực hiện Chương trình 135 trên phạm vi
cả nước 26
1.4.2 Khái quát quá trình thực hiện Chương trình 135 của tỉnh Tuyên Quang 29
1.4.3 Kinh nghiệm triển khai Chương trình 135 ở một số huyện của tỉnh và các tỉnh lân cận 34
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 41
2.2 Phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu: Chọn tất cả 07 xã thụ hưởng Chương trình 135 trên địa bàn huyện để nghiên cứu 41
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin/số liệu/tài liệu 41
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu 43
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 43
2.2.5 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm 44
2.2.6 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết 45
2.2.7 Phương pháp giả thuyết 45
2.2.8 Phương pháp lịch sử 46
2.2.9 Phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư của Chương trình 135 46
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGUỒN VỐN CHƯƠNG TRÌNH 135 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NA HANG TRONG THỜI GIAN 2006-2013 47
3.1 Đặc điểm địa bàn huyện Na Hang 47
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên 47
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội huyện Na Hang 50
3.1.3 Đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Na Hang 69
3.2 Thực trang, quản lý, sử dụng nguồn vốn chương trình 135 trên địa bàn huyện Na Hang trong thời gian 2006-2013 71
Trang 73.2.1 Về tổ chức, chỉ đạo chương trình 71
3.2.2 Kết quả thực hiện chương trình 75
3.2.3 Đánh giá về công tác quản lý, sử dụng nguồn vốn Chương trình 135 trên địa bàn huyện Na Hang thời gian 2006-2013 84
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN CHƯƠNG TRÌNH 135 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NA HANG THỜI GIAN TỚI 99
4.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Na Hang 99
4.1.1 Mục tiêu chung 99
4.1.2 Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 99
4.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn vốn chương trình 135 100
4.2.1 Giải pháp 100
4.2.2 Điều kiện thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả CT 106
4.3 Kiến nghị, đề xuất 110
4.3.1 Kiến nghị đề xuất với Trung ương 110
4.3.2 Kiến nghị, đề xuất với tỉnh 111
4.3.3 Kiến nghị đề xuất với huyện 112
4.3.4 Kiến nghị, đề xuất với các xã tham gia chương trình 112
4.3.5 Kiến nghị với nhân dân 112
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chương trình 135 Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó
khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa
Trang 9DANH MỤC BẢNG, HÌNH, SƠ ĐỒ
Bảng
Bảng 3.1: Cơ cấu kinh tế huyện Na Hang qua một số năm 51
Bảng 3.2: Giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản qua các năm 51
Bảng 3.3: Kết quả ngành chăn nuôi của huyện Na Hang qua một số năm 53
Bảng 3.4: Tổng hợp kết quả thực hiện hỗ trợ sản xuất từ năm 2006-2013 82
Hình Hình 3.1: Mật độ dân số các xã của huyện Na Hang năm 2013 59
Sơ đồ Sơ đồ 3.1: Công tác lồng ghép các chương trình trên địa bàn huyện 73
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây nhờ chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh, đời sống của đại bộ phận nhân dân đã được cải thiện Song bên cạnh đó vẫn còn một phần không nhỏ dân cư sống ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội còn rất nhiều khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần Do vậy, đòi hỏi phải có một chương trình phát triển kinh tế xã hội tổng hợp để giải quyết khó khăn, ổn định phát triển kinh tế xã hội khu vực này Ngày 31/7/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định
số 135 /1998/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa nhằm ổn định và cải thiện đời sống, cơ
sở vật chất, hạ tầng…đại bộ phận nhân dân, xoá đói, giảm nghèo Quyết định đó mở đầu cho Chương trình 135 chính thức đi vào thực hiện từ năm 1999, đến nay đã được 13 năm với nhiều thành quả đáng kể
Na Hang là một huyện vùng cao, nằm cách thành phố Tuyên Quang 90km về phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang Cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống kinh
tế - văn hoá - xã hội của nhân dân các dân tộc trong huyện đang ngày một nâng lên
và bước đầu ổn định
Tuy vậy, là một huyện miền núi thuần nông và có xuất phát điểm thấp, nên kinh tế của Na Hang vẫn còn gặp nhiều khó khăn Toàn huyện có 11 xã và 1 thị trấn, 43.700 nhân khẩu với 9.852 hộ Mặc dù đã được đầu tư hỗ trợ nhiều, nhưng huyện
Na Hang vẫn gặp phải những trở ngại về ngành nghề, vốn, lao động, đất đai, cơ chế
và trình độ quản lý, nên số hộ nghèo trong huyện còn cao (năm 2013 tỷ lệ hộ nghèo chiếm trên 38% tổng số hộ toàn huyện) Do vậy, xoá đói giảm nghèo là một yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi phải có sự phối hợp của các cấp, các ngành, sự phối hợp của chính quyền và ý thức tự vươn lên của người dân
Trong những năm qua, nhận được sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước từ Chương trình 135, huyện Na Hang đã tổ chức chỉ đạo thực hiện chương trình trên địa bàn huyện, xây dựng và triển khai thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng (CSHT),
Trang 11Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, Chính sách Hỗ trợ các dịch vụ cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật, Dự án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ cơ sở và cộng đồng
Cho đến nay, nhiều dự án trong số này đã và đang được thực hiện và phát huy tác dụng trên thực tế, đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong đời sống nhân dân các xã 135 của huyện Na Hang
Với mục đích thấy được những hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng nguồn vốn Chương trình 135 trong những năm qua, đồng thời tìm ra những mặt còn hạn chế, tồn tại trong quá trình quản lý, sử dụng để từ đó có những giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn vốn Chương trình 135 trên địa bàn huyện
Na Hang nói riêng và tỉnh Tuyên Quang nói chung, tôi đã lựa chọn đề tài: “Đánh
giá công tác quản lý nguồn vốn Chương trình 135 tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2006-2013” để làm chủ đề nghiên cứu cho Luận văn cao
học của mình
* Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương trình 135 là một trong những chương trình đã thu hút sự quan tâm của toàn cả cộng đồng và toàn xã hội Với nguồn ngân sách khổng lồ mà Trung ương cũng như ngân sách của từng địa phương dành cho chương trình, tổng kinh phí giai đoạn I (1998-2005) ước tính 1870 tỷ đồng, và giai đoạn II (2006-2010) trên 14.000 tỷ đồng đã làm thay đổi đáng kể bộ mặt của các thôn, xã được thụ hưởng chương trình với 1.715 xã được thụ hưởng chương trình trong giai đoạn I và 1.779
xã, 3.149 thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc 47 tỉnh được thụ hưởng chương trình Đời sống người dân dần dần được cải thiện với thu nhập bình quân đầu người ở các
xã trong CT đạt 4,2 triệu đồng/người/năm (so với mục tiêu của CT đến hết năm
2010 đạt trên 70% số hộ có thu nhập bình quân đầu người trên 3,5 triệu đồng/ người/ năm)
Những kết quả đạt được đã cho thấy những hiệu quả mà CT đã mang lại đối với đời sống KTXH và người dân ở những vùng khó khăn
Chính vì vậy, đã có rất nhiều Đề tài, bài viết nghiên cứu về kết quả của CT
135 đối với các tỉnh có các thôn, xã được thụ hưởng CT như bài viết của tác giả
Trang 12Đức Bảo đăng trên wesbite của chương trình 135 với bài viết Nghệ An tổng kết chương trình 135 giai đoạn II(2006-2010) hay bài viết của tác giả Lê Hương trên website của báo Đăklăk với bài viết tổng kết chương trình 135 giai đoạn II tại Dak Lak: “Đầu tư hiệu quả, đúng đối tượng” số ra ngày 22/03/2011 hay bài viết của tác
giả Hoàng Anh đăng trên website báo Thái Nguyên www.baothainguyen.org.vn
ngày 21/01/2011 với tiêu đề “Tổng kết việc thực hiện chương trình 135 giai đoạn II” …Các bài báo trên với nội dung chính là tổng kết việc thự hiện CT 135 được tiến hành tại địa phương với tổng số vốn đầu tư, số công trình được xây dựng hay việc tỷ lệ hộ nghèo giảm như thế nào sau khi CT được triển khai Và còn rất nhiều bài báo khác đăng trên rất nhiều các tạp chí khác nhau
Nhưng các bài viết nói trên chỉ mang tính chất thống kê những con số chứ chưa có một bài báo nào đánh giá những hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng nguồn vốn Chương trình 135 trong những năm qua, đồng thời tìm ra những mặt còn hạn chế, tồn tại trong quá trình quản lý, sử dụng nguồn vốn CT 135 để từ đó có những giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn vốn Chương trình 135 tại địa phương được thụ hưởng CT
Đề tài “Đánh giá công tác quản lý nguồn vốn Chương trình 135 tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2006-2013” sẽ góp phần cung cấp những thông tin cụ thể về công tác quản lý nguồn vốn Chương trình 135 và tác động của CT đối với đời sống kinh tế văn hoá xã hội của người dân, những mong muốn, nguyện vọng cũng như đề ra những giải pháp cụ thể trong việc quán lý nguồn vốn nhằm giúp cho CT phát huy những hiệu quả tích cực mà nó mang lại đối với đời sống kinh tế - xã hội và người dân trên địa bàn các xã CT 135
Trang 13- Trình bày thực trạng quản lý và sử dụng nguồn vốn Chương trình 135 tại huyện Na Hang cho đến nay, đánh giá và chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế
và các vấn đề còn tồn tại cùng các nguyên nhân chủ yếu của chúng;
- Trên cơ sở đó, đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn việc sử dụng và quản lý và nguồn vốn Chương trình 135 trên địa bàn huyện Na Hang thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là việc quản lý và sử dụng vốn Chương trình 135 tại huyện Na Hang (Tuyên Quang) trong 07 năm từ năm 2006- 2013
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Với sự hạn chế về kiến thức và thời gian, nên tôi chỉ
nghiên cứu việc quản lý và sử dụng vốn Chương trình 135 trên địa bàn 07 xã ĐBKK của huyện Na Hang (hay gọi tắt là Xã 135), trong đó có 02 xã đầu tư từ nguồn vốn của tỉnh và chỉ tập trung nghiên cứu tình hình và kết quả thực hiện
- Thời gian nghiên cứu: Tập trung vào 07 năm thực hiện Chương trình 135
trên địa bàn huyện Na Hang từ năm 2006 đến năm 2013
4 Những đóng góp khoa học của đề tài
- Hệ thống hoá lại một số khía cạnh lý luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc trình bày và phân tích thực trạng quản lý và sử dụng nguồn vốn Chương trình 135 của huyện Na Hang
- Trình bày và phân tích rõ thực trạng quản lý và sử dụng nguồn vốn thuộc Chương trình 135 tại huyện Na Hang cho đến nay, đánh giá kết quả đạt được, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và các vấn đề còn tồn tại cùng các nguyên nhân chủ yếu của chúng
- Trên cơ sở đó, đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn việc sử dụng và quản lý và nguồn vốn Chương trình 135 trên địa bàn huyện Na Hang thời gian tới
Trang 14- Đề tài là một tài liệu tham khảo tốt cho những người nghiên cứu và học tập quan tâm đến lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội tại các địa bàn khó khăn; là cơ sở khách quan giúp cho lãnh đạo của tỉnh, huyện có những căn cứ để đưa ra giải pháp mới nhằm phát huy hiệu quả đầu tư Chương trình 135 trên địa bàn
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục các Bảng biểu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Luận văn có các chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý nguồn vốn Chương trình 135 trên địa bàn
huyện Na Hang trong thời gian 2006-2013
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn
vốn Chương trình 135 trên địa bàn huyện Na Hang thời gian tới
Trang 15tổ chức quốc tế quan tâm để tìm các giải pháp hạn chế và tiến tới xoá bỏ trên phạm
vi toàn cầu Tuy nhiên đó mới chỉ là trên lí thuyết, thực tế cho thấy gần như không thể hoàn toàn xoá được đói nghèo trên phạm vi toàn cầu và đặc biệt là không thể xoá bỏ được khoảng cách giàu nghèo mà khoảng cách này đang có xu thế ngày càng dãn ra, chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, giữa các nước giàu và các nước nghèo ngày càng lớn hơn Không hoàn toàn xoá được đói nghèo nhưng các nhà lãnh đạo các nước vẫn đang không ngừng tìm và có các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế tới mức có thể đói nghèo
Việt Nam là một nước nghèo, chính phủ Việt Nam coi vấn đề xoá đói giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Chính phủ và các cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp thiết thực nhằm xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân vùng nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn trên phạm vi cả nước Chương trình 135 là một trong những giải pháp thiết thực đó Đây là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước và được chính phủ chỉ đạo thực hiện
Trong những năm qua, Việt Nam được thế giới chú ý bởi những thành tựu trong công tác xóa đói, giảm nghèo và nâng cao mức sống của người dân Chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo và việc làm là hoàn thành việc phát triển kết cấu hạ tầng cho các xã nghèo; nâng cao mức thu nhập và mức sống của người nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10%-11%, góp phần đạt được mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Theo tổng kết của Chương trình Phát triển UNDP, trong điều kiện kinh tế - xã hội của mình, so với các nước có cùng GDP, Việt Nam đã sử dụng những nguồn lực có được một cách hiệu quả vào công tác nâng cao mức sống người dân, trình độ dân trí, tuổi thọ,…Tuy vậy, bên cạnh đó, công tác xóa đói, giảm nghèo vẫn còn nhiều bất cập làm ảnh hưởng không nhỏ tới mục tiêu công bằng xã hội
Trang 16trong tiến trình phát triển bền vững của Việt Nam Trong bản báo cáo, “Chính sách
và tăng trưởng vì người nghèo”, UNDP khẳng định quan điểm: Theo đuổi tăng trưởng phải đi kèm với nỗ lực tăng trưởng vì người nghèo thông qua việc tái phân
bổ tài sản và thu nhập trong nền kinh tế UNDP cũng cảnh báo, sự gia tăng bất bình đẳng ở Việt Nam là trở ngại lớn nhất cho tiến trình xóa đói giảm nghèo và có lẽ cũng kìm hãm sự ổn định chính trị và xã hội
1.1.1 Việc xác định chuẩn nghèo
Về việc xác định như thế nào là người nghèo, hiện có nhiều phương pháp khác nhau Một phương pháp quốc tế để xây dựng các chỉ số nhất quán giữa các năm là so sánh mức chi tiêu hộ gia đình trên đầu người với ngưỡng nghèo Ngưỡng nghèo được định nghĩa là chi phí cho một rổ hàng tiêu dùng thực phẩm và phi thực phẩm cần thiết cho một cuộc sống khỏe mạnh Trong trường hợp Việt Nam, ngưỡng nghèo thông dụng là chi phí cho một rổ hàng hóa cung cấp 2.100 đơn vị calo cho một người trong một ngày Các chỉ số khác thường được sử dụng là nghèo lương thực và chỉ số khoảng cách nghèo Một hộ gia đình được coi là nghèo lương thực khi chi tiêu của hộ đó thấp đến nỗi dù họ có chi tất cả tiền cho việc mua lương thực thì cũng không đủ để có 2.100 đơn vị calo mỗi ngày Bên cạnh đó, là ngay cả các hộ gia đình nghèo nhất thì họ vẫn phải có nhu cầu đối với các khoản chi phi lương thực khác Chỉ số khoảng cách nghèo là “mức chênh lệch” trung bình giữa chi tiêu của những người nghèo và mức chi tiêu tại ngưỡng nghèo Thước đo này được sử dụng
để mô tả mức độ nghèo là nông hay sâu Ở Việt Nam, từ năm 1993 đến 2005, chuẩn nghèo được điều chỉnh 4 lần và được áp dụng cho mọi thành phần trong xã hội
1.1.2 Một số thành tựu trong công tác xóa đói, giảm nghèo
Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước là đi đôi với tăng trưởng kinh tế phải đẩy mạnh giảm nghèo, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội trong quá trình phát triển giữa các vùng, miền trong cả nước, hạn chế tốc độ gia tăng khoảng cách giàu, nghèo Thực hiện chủ trương đó, trong những năm vừa qua, nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác xóa đói, giảm nghèo Theo Báo cáo Phát triển Việt Nam 2013, số liệu điều tra cả nước còn 1.797.889 hộ nghèo (7,8%), giảm 1,8% so với năm 2012 Tổng số hộ cận nghèo là 1.443.183 hộ (6,32%), giảm
Trang 170,25% so với năm 2012 Dựa vào thước đo theo chi phí cho một rổ hàng hóa như đã
đề cập ở trên, theo ước tính, trong hơn một thập kỷ qua, Việt Nam đã giảm nghèo cho hơn 45% dân số, tương đương với hơn 35 triệu người
Tuy nhiên, tiến bộ đạt được trong xóa đói, giảm nghèo là không đồng đều Tỷ
lệ nghèo ở các nhóm dân tộc ít người vẫn cao hơn nhiều so với mức nghèo của các nhóm người Kinh và Hoa Số liệu cho thấy, hầu hết những người nghèo đều sống ở các vùng nông thôn, với tỷ lệ nghèo đang tiếp tục giảm Điều này trái ngược với mức nghèo hầu như vẫn giữ nguyên ở thành thị Về tỷ lệ người nghèo thành thị không giảm, có nhiều nguyên nhân có thể giải thích hiện tượng này Đó là do giá cả ngày càng tăng cao ở khu vực thành thị Sự bùng nổ giá bất động sản làm tăng chi phí bán
lẻ và các dịch vụ khác trong thành phố Giá cả leo thang ở khu vực thành thị có thể dẫn đến mức sống thấp hơn cho những người mà thu nhập của họ không tăng theo một cách tương ứng Ngoài ra, giá cả tăng có thể khiến cho những người cận nghèo bị tái nghèo
Sự kết hợp giữa tốc độ giảm nghèo nhanh ở những vùng nghèo hơn của Việt Nam và giảm nghèo chậm hơn ở các tỉnh giầu hơn đã giúp thu hẹp khoảng cách giữa các vùng Số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ nghèo đã giảm nhanh chóng ở những vùng mà tỷ lệ ban đầu là cao nhất Bức tranh nghèo giữa các tỉnh cũng tương tự như giữa các vùng Vẫn còn những khoảng cách lớn những tỉnh giàu nhất và tỉnh nghèo nhất Tuy nhiên, ngay cả ở những vùng cao nguyên nghèo nhất, một số tỉnh cũng đang giảm nghèo tốt hơn và bắt đầu theo kịp các tỉnh giàu hơn ở vùng đồng bằng Điều đó là do đối với các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Chính phủ
đã có những chính sách ưu tiên như Chương trình 135, ổn định dân di cư tự do, chính sách trợ giá, trợ cước, Chương trình 173, Chương trình 186 Những chính sách đó đã giúp người nghèo, người dân tộc xóa đói, giảm nghèo, lĩnh hội được các thành quả của quá trình phát triển kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng Tuy chưa theo kịp tốc độ của vùng đồng bằng, vùng đô thị, song đời sống của người dân nơi đây đã có những thay đổi tích cực, kết cấu hạ tầng phát triển, thị trường hàng hóa đã bắt đầu hình thành, dần dần thay thế nền kinh tế tự cung, tự cấp trước đây
Trang 181.1.3 Một số bất cập trong việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo
Thành tựu về xóa đói giảm nghèo trong những năm qua là không thể phủ nhận Tuy nhiên, những hạn chế và bất cập trong tiến trình này là không nhỏ, thể hiện ở sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn giữa các vùng, các tầng lớp xã hội Tỷ lệ
hộ nghèo ở các vùng sâu, vùng xa vẫn cao gấp 4-5 lần so với mức bình quân của cả nước Đa số người nghèo ít có điều kiện tiếp cận với dịch vụ xã hội cơ bản Bên cạnh đó, những thành tựu xóa đói giảm nghèo đã đạt được còn thiếu tính bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao Nguy cơ dễ bị tổn thương của người nghèo trước những rủi ro của cuộc sống (ốm đau, thiên tai, mất mùa, biến động thị trường, môi trường
ô nhiễm, mất đi người trụ cột của gia đình, thất nghiệp ) cũng vẫn rất lớn Hệ thống an sinh xã hội chưa phát huy tác dụng ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Đặc biệt nước ta nằm trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai, bão lụt và 80% người nghèo làm việc trong nông nghiệp có thể dẫn đến nguy cơ tái nghèo đói cao Mặt khác, có không ít hộ tuy không thuộc diện nghèo đói nhưng mức thu nhập không ổn định nằm giáp ranh chuẩn nghèo đói cũng có nguy cơ tái đói nghèo Ngoài ra, nghèo đói có mối liên quan mật thiết với tình trạng suy thoái môi trường Nghèo đói có thể khiến cho nông dân khai thác quá mức nguồn tài nguyên vốn đã hạn hẹp và càng làm cho nghèo đói trở nên trầm trọng hơn
Theo Báo cáo của Dự án VIE, công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam sẽ còn gặp nhiều khó khăn do nguồn lực xóa đói, giảm nghèo hạn chế; số lượng cán bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo còn thiếu, yếu về năng lực Bên cạnh đó, cơ chế xác định hộ nghèo chưa được thực hiện thống nhất ở các địa phương và chất lượng giám sát theo dõi báo cáo về xóa đói, giảm nghèo chưa cao Một số nguyên nhân cụ thể dẫn đến những bất cập trong công tác xóa đói, giảm nghèo có thể lý giải như sau:
Thứ nhất, nguồn kinh phí do trung ương bố trí còn rất hạn chế, chưa đáp ứng
được mục tiêu đề ra Với nguồn kinh phí hằng năm bố trí cho xóa đói, giảm nghèo khoảng 1.000 tỉ đồng (bình quân khoảng 200.000 đồng/người) khó có thể giúp người nghèo thoát nghèo trong thời gian ngắn Trong điều kiện nguồn kinh phí hỗ trợ từ trung ương còn hạn hẹp thì nguồn huy động tại chỗ đóng vai trò hết sức quan trọng Song, nhiều tỉnh gặp khó khăn, không chủ động được việc huy động nguồn
Trang 19lực tại chỗ do không biết chính xác nguồn kinh phí được hỗ trợ từ trung ương là bao nhiêu và thông thường tiêu chí phân bổ kinh phí không được thông tin rõ ràng
Thứ hai, một số chính sách hỗ trợ chưa thật sự phù hợp với người nghèo ảnh
hưởng đến hiệu quả của các chương trình Ví dụ, như chính sách hỗ trợ khám chữa bệnh cho người nghèo là rất có ý nghĩa, song mức hỗ trợ tối đa tại trạm y tế xã là 30.000 đ/lần khám chữa bệnh, tuyến huyện là 247.000 đ/lần khám chữa bệnh là quá thấp (trong khi các chi phí đi lại, thuốc thang mà người bệnh tự chi trả có thể cao hơn nhiều) Các thủ tục rườm rà khi vay vốn kết hợp với đội ngũ cán bộ tín dụng tại
cơ sở thiếu trầm trọng là những lý do khiến người nghèo khó tiếp cận được dịch vụ này Hệ thống cơ chế, chính sách mang tính bao cấp kéo dài phần nào đã tạo ra tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng của một bộ phận người nghèo, xã nghèo cũng ảnh hưởng đến tính bền vững của công cuộc xóa đói, giảm nghèo
Thứ ba, hệ thống theo dõi, giám sát chương trình chưa được tổ chức một
cách có hệ thống và đồng bộ Thông thường công tác sơ kết, tổng kết chương trình chủ yếu dựa trên báo cáo của các bộ và các tỉnh gửi về, song tình trạng một số chỉ tiêu trong báo cáo không có số liệu hoặc không gửi báo cáo về vẫn xảy ra thường xuyên Trong khi đó, các chỉ tiêu được sử dụng để báo cáo, nhìn chung mang tính liệt kê, chưa phân biệt rõ giữa chỉ tiêu đầu vào, đầu ra và vai trò tác động Điều này
đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác theo dõi, đánh giá chính xác hiệu quả và tác động của chương trình
Thứ tư, thiếu đội ngũ cán bộ xóa đói, giảm nghèo có đủ năng lực để thực
hiện chương trình Hiện nay, phần lớn đội ngũ cán bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo ở xã vẫn kiêm nhiệm, trong khi chủ yếu các hoạt động của chương trình được triển khai tại xã Chưa được đào tạo có hệ thống, khối lượng công việc nhiều là những lý do khiến họ khó thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Năng lực chuyên môn của cán bộ cấp huyện, xã còn yếu, nhiều cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo chưa tốt nghiệp phổ thông trung học Hơn nữa công tác xóa đói, giảm nghèo đòi hỏi cán bộ ngoài chuyên môn nghiệp vụ còn phải nhiệt tình, nhạy bén, sáng tạo để nắm chắc tình hình đói nghèo trên địa bàn
Trang 201.2 Một số vấn đề về các xã đặc biệt khó khăn của chương trình 135
1.2.1.1 Các Tiêu chí về Thôn đặc biệt khó khăn
Tiêu chí 1: Về đời sống và xã hội:
- Tỷ lệ hộ nghèo từ 70% trở lên
- Và còn tồn tại ít nhất 3 trong 4 chỉ tiêu sau:
+ Trên 25% số hộ có nhà ở còn tạm bợ, tranh, tre, nứa lá
+ Trên 10% số hộ còn du canh du cư hoặc định cư du canh
+ Trên 50% số hộ thiếu nước sinh hoạt
+ Trên 50% số hộ chưa có điện sinh hoạt
Tiêu chí 2: Về điều kiện sản xuất: còn tồn tại ít nhất 2 trong 3 chỉ tiêu sau:
- Trên 20% số hộ thiếu đất sản xuất theo mức bình quân quy định của địa phương
- Trên 50% diện tích canh tác cây hàng năm của các hộ gia đình trong thôn chưa có hệ thống thuỷ lợi
- Tập quán sản xuất còn lạc hậu, chưa có cộng tác viên khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chưa phát triển sản xuất hàng hoá
Tiêu chí 3: Về điều kiện kết cấu hạ tầng:
- Chưa có đường giao thông nông thôn loại B từ thôn đến trung tâm xã (1)
- Và còn tồn tại ít nhất 2/3 chỉ tiêu sau:
+ Chưa đủ phòng học cho các lớp tiểu học hoặc có nhưng còn tạm bợ (2)
+ Chưa có hệ thống truyền thanh từ xã đến thôn
+ Chưa có nhà văn hoá thôn phục vụ sinh hoạt cộng đồng
1.1.2.2 Tiêu chí phân định khu vực
- Các yếu tố xã hội: Có ít nhất 3 trong 4 yếu tố sau:
+ Chưa đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở;
Trang 21+ Chưa đủ điều kiện khám chữa bệnh thông thường Trên 50% số thôn chưa
b Xã thuộc khu vực II: Là những xã:
- Không có hoặc có dưới 1/3 số thôn đặc biệt khó khăn
- Có tỷ lệ hộ nghèo từ 30% đến dưới 55%
- Về kết cấu hạ tầng thiết yếu: Thiếu hoặc có nhưng còn tạm bợ từ 3/10 loại công trình KCHT thiết yếu trở lên
- Các yếu tố xã hội: Có ít nhất 3 trong 4 yếu tố sau:
+ Chưa đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở
+ Từ 10 đến 50% số thôn chưa có y tế thôn nhưng đã cơ bản đảm bảo các điều kiện khám chữa bệnh thông thường
+ Trên 80% số hộ thường xuyên được hưởng thụ và tiếp cận với hệ thống thông tin đại chúng
+ Từ 30% cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở chưa có trình độ từ sơ cấp trở lên
- Điều kiện sản xuất: Đã bắt đầu hình thành các vùng sản xuất hàng hoá, hầu hết đồng bào đã áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đã có hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư đến thôn
- Địa bàn cư trú: Các xã liền kề hoặc thuộc các thành phố, thị xã, thị trấn, các khu công nghiệp, các trung tâm huyện lỵ, cửa khẩu phát triển, các xã có điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thuận lợi cho phát triển sản xuất và đời sống
Trang 22- Các yếu tố xã hội: Có ít nhất 3 trong 4 yếu tố sau:
+ Đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở
+ 100% số thôn đã có y tế thôn và đảm bảo các điều kiện khám chữa bệnh thông thường
+ 100% số hộ thường xuyên được hưởng thụ và tiếp cận với hệ thống thông tin đại chúng;
+ Trên 70% cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở có trình độ từ sơ cấp trở lên
- Điều kiện sản xuất: Đã hình thành các vùng sản xuất hàng hoá, tiếp cận được với nền kinh tế thị trường
Địa bàn cư trú: Là các xã liền kề hoặc thuộc địa bàn của thành phố, thị xã, thị trấn, các khu công nghiệp, các trung tâm huyện lỵ, các cửa khẩu phát triển hoặc thuộc địa bàn có điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thuận lợi cho phát triển sản xuất và đời sống
Hiện nay, tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012-2015 được quy định tại Quyết định số 30/2012/QĐ-TTg ngày 18/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ
1.2.2 Đặc trưng của các xã đặc biệt khó khăn
1.2.2.1 Các xã đặc biệt khó khăn là vùng phát triển nông lâm nghiệp là chủ yếu:
Kinh tế các xã đặc biệt khó khăn vẫn còn mang đậm tính chất thuần nông Xét về cơ cấu lao động, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối, cơ cấu công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ trọng nhỏ
bé Tính thuần nông do lực lượng sản xuất ở nông thôn chưa phát triển, chưa có sự phân công lao động rõ nét Chính vì thế sản xuất mang đậm tính tự cung tự cấp, sản xuất hàng hoá chưa phát triển, hiệu quả sử dụng đất đai, năng xuất lao động, thu nhập và đời sống nhân dân còn rất thấp
Trang 231.2.2.2 Xã đặc biệt khó khăn là vùng có nguồn lao động chất lượng thấp
Các xã đặc biệt khó khăn là vùng sinh sống và làm việc tập chung chủ yếu là đồng bào dân tộc ít người, là vùng chủ yếu sản xuất nông nghiệp mang tính tự nhiên, chủ yếu là phá rừng làm nương rẫy, các hoạt động sản xuất và phi sản xuất khác phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp và cho cộng đồng nông thôn Nên các xã đặc biệt khó khăn là vùng có thu nhập và đời sống, trình độ văn hoá, khoa học công nghệ thấp hơn rất nhiều so với đô thị
Các xã đặc biệt khó khăn có nguồn lao động chất lượng rất thấp, hệ thống tổ chức sản xuất rất lạc hậu, hệ thống kết cấu hạ tầng kém phát triển, nhưng tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở đây thì lại rất cao
1.2.2.3 Xã đặc biệt khó khăn là vùng đang gặp nhiều khó khăn về sản xuất và đời sống
Cơ cấu hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, cấp nước, cấp điện, trường học, trạm y tế,…) còn yếu kém chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và đời sống Giao thông đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa còn gặp rất nhiều khó khăn, gây trở ngại cho tổ chức và lưu thông hàng hoá Mạng lưới điện thiếu quy hoạch, thiếu an toàn, tổn thất điện lớn nên giá điện cao Mạng lưới thuỷ lợi không đồng bộ nên hiệu quả sử dụng thấp Cơ sở chế biến và bảo quản nông sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra
Rừng bị tàn phá, đất đai bị sói mòn, diện tích đồi núi trọc tăng lên, hiện có khoảng 10 triệu ha đất hoang trọc, gây khó khăn cho bảo vệ môi trường và giải quyết úng, hạn cục bộ ở nhiều vụng
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên khá cao gây nên rất nhiều khó khăn về diện tích đất canh tác, nhà ở, việc làm , thời gian nông nhàn rất cao
Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn thiếu thốn
Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao, đời sống văn hoá cộng đồng chậm được cải thiện, thông tin liên lạc, truyền thành truyền hình hầu như chưa có
Trình độ quản lý của cán bộ cơ sở xã còn rất nhiều hạn chế, đa số mới chỉ học tới trình độ cấp I, cấp II một số cán bộ thôn, bản chưa nói được tiếng phổ thông cho nên chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá
Trang 241.2.2.4 Xã đặc biệt khó khăn là vùng còn có nhiều tiềm năng quý hiếm chưa được khai thác: Các xã đặc biệt khó khăn có nhiều giá trị truyền thống mang đậm đà bản sắc dân
tộc Chính điều này đã làm cho vùng có tiềm năng to lớn về du lịch: Như Lễ hội Lồng Tông, lễ hội Đền Hạ, Hội chọi Trâu, Hàm Yên…
Ngoài ra các xã đặc biệt khó khăn còn có nhiều nguồn tài nguyên quý hiếm như: đất đai, khoáng sản, động thực vật, rừng, biển của đất nước Hầu hết các nguồn lực quý hiếm này chưa được khai thác và đưa vào sử dụng Nếu nguồn lực này được khai thác phục vụ tại chỗ thì công nghiệp chế biến sẽ phát triển và kích thích nông nghiệp nông thôn phát triển
1.3 Mục tiêu và nhiệm vụ của chương trình 135
Ngày 31/7/1998, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 135/1998/ QĐ-TTg phê duyệt chương trình phát triển kinh tế- xã hội của các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi, biên giới và vùng sâu vùng xa Chương trình là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc, đầu tư tập trung nhằm phát triển kinh tế- xã hội tổng hợp cho vùng này
Vậy, Chương trình 135 là chương trình phát triển kinh tế - xã hội tổng hợp các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa
1.3.1 Mục tiêu tổng quát
Nâng cao nhanh đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này thoát khỏi tỉnh trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hoà nhập vào sự phát triển chung của cả nước; góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng
1.3.2 Mục tiêu cụ thể
1.3.2.1 Giai đoạn từ năm 2006 đến 2010
- Về phát triển sản xuất: nâng cao kỹ năng và xây dựng tập quán sản xuất mới
cho đồng bào các dân tộc, tạo sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững Phấn đấu trên 70% số hộ đạt được mức thu nhập bình quân đầu người trên 3,5 triệu đồng/năm vào năm 2010
- Về phát triển cơ sở hạ tầng: các xã có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu phù hợp
quy hoạch dân cư và quy hoạch sản xuất bảo đảm phục vụ có hiệu quả nâng cao đời sống và phát triển sản xuất tăng thu nhập
Trang 25Các chỉ tiêu cụ thể: phấn đấu trên 80% xã có đường giao thông cho xe cơ giới (từ xe máy trở lên) từ trung tâm xã đến tất cả thôn, bản; trên 80% xã có công trình thủy lợi nhỏ bảo đảm năng lực phục vụ sản xuất cho trên 85% diện tích đất trồng lúa nước; 100% xã có đủ trường, lớp học kiên cố, có lớp bán trú ở nơi cần thiết; 80% số thôn, bản có điện ở cụm dân cư; giải quyết và đáp ứng yêu cầu cơ bản
về nhà sinh hoạt cộng đồng; 100% xã có trạm y tế kiên cố đúng tiêu chuẩn
- Về nâng cao đời sống văn hóa, xã hội cho nhân dân ở các xã đặc biệt khó
khăn Phấn đấu trên 80% số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trên 80%
số hộ được sử dựng điện sinh hoạt; kiểm soát, ngăn chặn các bệnh dịch nguy hiểm; tăng tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh lên trên 50%; trên 95% số học sinh tiểu học, 75% học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi đến trường; trên 95% người dân có nhu cầu trợ giúp pháp lý được giúp đỡ pháp luật miễn phí
- Về phát triển nâng cao năng lực: Trang bị, bổ sung những kiến thức về
chuyên môn nghiệp vụ, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao nhận thức pháp luật, nâng cao kiến thức quản lý đầu tư và kỹ năng quản lý điều hành để hoàn thành nhiệm vụ cho cán bộ, công chức cấp xã và trưởng thôn, bản Nâng cao năng lực của cộng đồng, tạo điều kiện cộng đồng tham gia có hiệu quả vào việc giám sát hoạt động về đầu tư và các hoạt động khác trên địa bàn
1.3.2.2 Giai đoạn 2010-2015
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm 4%/năm;
- Đến năm 2015, thu nhập bình quân đầu người đạt 50% mức bình quân chung khu vực nông thôn của cả nước
- Đến năm 2015, 85% số thôn có đường cho xe cơ giới, trong đó có 35% số
xã và 50% thôn có đường giao thông đạt chuẩn
- Đến năm 2015, 95% trung tâm xã, trên 60% thôn có điện
- Đến năm 2015, các công trình thủy lợi nhỏ được đầu tư đáp ứng 50% nhu cầu tưới tiêu cho diện tích cây hàng năm
- Đến năm 2015, trên 50% trạm y tế xã được chuẩn hóa
- Đến năm 2015, các công trình hạ tầng giáo dục, văn hóa được quan tâm đầu
tư để đạt các mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững
Trang 261.3.2.3 Giai đoạn 2016 - 2020
Tăng cường cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và dân sinh ở các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống của người dân, giảm nghèo nhanh và bền vững
1.3.3 Nhiệm vụ của chương trình
1.3.3.1 Quy hoạch bố trí lại dân cư ở những nơi cần thiết, từng bước tổ chức hợp lý
đời sống sinh hoạt của đồng bào các bản, làng, phum, soóc ở những nơi có điều kiện, nhất là những xã vùng biên giới và hải đảo, tạo điều kiện để đồng bào nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống
1.1.3.2 Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, gắn với chế biến, tiêu thụ
sản phẩm để khai thác nguồn tài nguyên và sử dụng lao động tại chỗ, tạo thêm nhiều cơ hội về việc làm và tăng thu nhập, ổn định đời sống, từng bước phát triển sản xuất hàng hóa
1.1.3.3 Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn phù hợp với quy hoạch sản xuất và bố trí
lại dân cư, trước hết là hệ thống đường giao thông; nước sinh hoạt; hệ thống điện ở những nơi có điều kiện, kể cả thủy điện nhỏ
1.3.3.4 Quy hoạch và xây dựng các trung tâm cụm xã, ưu tiên đầu tư xây dựng các
công trình về y tế, giáo dục, dịch vụ thương mại, cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, cơ sở phục vụ sản xuất và phát thanh truyền hình
1.3.3.5 Đào tạo cán bộ xã, bản, làng, phum, soóc, giúp cán bộ cơ sở nâng cao trình độ
quản lý hành chính và kinh tế để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương
1.3.4.1 Chính sách đất đai
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh chỉ đạo thực hiện giao đất giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gắn với công tác định canh, định cư phát triển vùng kinh tế mới, tạo điều kiện cho đồng bào có đất sản xuất, ổn định đời sống
a) Ở miền núi, nơi có dự án bảo vệ, trồng rừng, hộ nông dân được nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung, được giao đất để trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất theo quy định tại Quyết định số 661/1998/QĐ-TTg ngày 29
Trang 27tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về "mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng" Mức diện tích giao khoán tùy theo điều kiện cụ thể ở mỗi địa phương, do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định
b) Ở những nơi nông dân không có đất hoặc có quá ít đất để sản xuất nông lâm nghiệp, giải quyết theo hướng sau đây:
Ở những tỉnh còn đất hoang hóa có thể khai hoang để phát triển sản xuất nông lâm nghiệp thì Nhà nước hỗ trợ đầu tư việc khai hoang, phục hóa giao đất cho dân sản xuất
Giao cho nông, lâm trường quốc doanh và nông, lâm trường quân đội đóng trên các địa bàn, có trách nhiệm tiếp nhận đồng bào không có đất, đồng bào du canh, du cư và giao khoán đất cho đồng bào sản xuất
Uỷ ban nhân dân các tỉnh thực hiện các chính sách khuyến khích các tổ chức nông, lâm nghiệp ngoài quốc doanh tiếp nhận, giải quyết việc làm cho các hộ nông dân nghèo
Nhà nước dành khoản vốn đầu tư để mở mang một số vùng kinh tế mới, chủ yếu để tiếp nhận những hộ nông dân nghèo đến sản xuất bao gồm các vùng Tứ giác Long Xuyên, Tây Nguyên, Bình Thuận và một số vùng khác có điều kiện Giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì cùng với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Quốc phòng phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh có liên quan khẩn trương thực hiện nhiệm vụ này
b) Nhà nước ưu tiên trợ giá, trợ cước vận chuyển các mặt hàng thiết yếu phục
vụ sản xuất và đời sống cho các hộ nông dân thuộc vùng các xã đặc biệt khó khăn theo quy định tại Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 1998 của Chính phủ
Trang 28c) Các hộ gia đình được giao đất, giao rừng để trồng cây công nghiệp, cây lấy quả, cây đặc sản, cây làm thuốc và sản xuất lâm nghiệp được hưởng chính sách theo quy định của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 661/1998/QĐ-TTg ngày
29 tháng 7 năm 1998 về "Mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự
án trồng mới 5 triệu ha rừng"
d) Các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình khác có liên quan trên địa bàn phải dành phần ưu tiên đầu tư cho chương trình này Các hộ gia đình thuộc phạm vi chương trình được ưu tiên vay vốn từ ngân hàng người nghèo và các nguồn vốn tín dụng ưu đãi khác để phát triển sản xuất
đ) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh thuộc phạm vi chương trình này tập trung chỉ đạo, huy động các nguồn lực tại chỗ để thực hiện chương trình Ngoài nguồn vốn đầu tư phát triển chung toàn vùng, Nhà nước còn hỗ trợ vốn để thực hiện các nội dung công việc sau:
Xây dựng các trung tâm cụm xã bằng nguồn vốn từ chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo
Phát triển hệ thống giao thông: Mỗi huyện được cấp 01 máy san ủi, 01 xe ben, 01 xe lu Nhà nước hỗ trợ thuốc nổ, xi măng, sắt, thép để làm ngầm, cầu, cống
và lương thực để làm đường giao thông nông thôn
Xây dựng công trình điện: ở nơi có điều kiện, Nhà nước hỗ trợ đầu tư làm lưới điện đến trung tâm cụm xã theo quy hoạch, phù hợp với khả năng đầu tư từng thời gian ở nơi có điều kiện làm thủy điện nhỏ, Nhà nước hỗ trợ nhân dân một phần kinh phí và cho vay tín dụng đầu tư để phát triển
Những nơi khó khăn về nguồn nước sinh hoạt: Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để xây dựng một số điểm cung cấp nước tập trung, phù hợp với quy hoạch dân cư
e) Nhà nước khuyến khích thành lập các tổ, nhóm liên gia để giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, đời sống, vay và sử dụng có hiệu quả các nguồn tín dụng trong nông thôn
g) Đồng bào trong vùng các xã đặc biệt khó khăn được hưởng chế độ chăm sóc sức khoẻ, chữa bệnh ở các cơ sở y tế của nhà nước không mất tiền theo quy định tại Nghị định số 95/CP ngày 27 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ
Trang 291.3.4.3 Chính sách phát triển nguồn nhân lực:
a) Nhà nước đầu tư kinh phí để đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở xã, bản, làng, phum, soóc để nâng cao trình độ tổ chức chỉ đạo, quản lý sản xuất, quản lý hành chính và khả năng quản lý sử dụng các nguồn tín dụng nông thôn phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
b) Các cháu học sinh trong vùng các xã đặc biệt khó khăn đến trường học được cấp sách giáo khoa, văn phòng phẩm và miễn học phí
c) Các xã đặc biệt khó khăn thuộc phạm vi chương trình chọn mỗi xã một số
hộ nông dân sản xuất giỏi để đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ làm công tác khuyến nông, khuyến lâm tại địa phương và được hưởng trợ cấp từ kinh phí khuyến nông, khuyến lâm
d) Nhà nước hỗ trợ kinh phí để mở lớp dạy nghề cho con, em đồng bào dân tộc nhằm khai thác tiềm năng tại chỗ, phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp, tăng thu nhập, nâng cao đời sống
1.3.4.4 Nhiệm vụ của các cấp, các ngành và sự ủng hộ, đóng góp của các tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện Chương trình:
Ban chỉ đạo thực hiện chương trình làm việc cụ thể với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có điều kiện, trước mắt là: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đà Nẵng, Khánh Hòa để phân công các tỉnh, thành phố này trực tiếp đảm nhận giúp đỡ một số xã thuộc chương trình, tập trung vào các nội dung: hỗ trợ kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng; huy động lực lượng cán bộ của địa phương mình đến giúp các xã
Giao mỗi Bộ, ngành trung ương giúp đỡ một số xã, đồng thời phân công các doanh nghiệp Nhà nước trong ngành, mỗi doanh nghiệp giúp đỡ một số xã Các Bộ, ngành và các doanh nghiệp có kế hoạch tiết kiệm chi tiêu và huy động đóng góp tự nguyện của các cán bộ, công nhân viên để có kinh phí hỗ trợ các xã này
Giao Bộ Quốc phòng xây dựng các vùng kinh tế mới ở những nơi có điều kiện, đỡ đầu, đón nhận khoảng 100.000 hộ dân đến lập nghiệp ở những vùng đất còn hoang hóa, biên giới, hải đảo
Nhà nước khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội- nghề nghiệp và các tầng lớp nhân dân trong nước, đồng bào Việt Nam ở nước ngoài, ủng hộ giúp đỡ thực hiện Chương trình này
Trang 301.3.4.5 Chính sách thuế
Các hoạt động kinh doanh nông lâm sản và hàng hoá phục vụ sản xuất đời sống của nhân dân trong vùng các xã đặc biệt khó khăn được ưu tiên về chính sách thuế theo quy định tại Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 1998 của Chính phủ
và các chính sách về thuế khác khuyến khích đầu tư theo quy định hiện hành
1.3.4.6 Nhiệm vụ của các cấp, các ngành và sự ủng hộ, đóng góp của các tổ chức
cá nhân trong và ngoài nước thực hiện chương trình
1.3.5 Các dự án thành phần của chương trình
1.3.5.1 Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất
a) Đối tượng hỗ trợ PTSX
- Hộ nghèo: theo quy định hiện hành
- Nhóm hộ: Nhóm hộ được hỗ trợ phải đảm bảo các điều kiện sau:
+ Gồm những hộ nghèo và những hộ không nghèo đang sinh sống trên cùng địa bàn cụm dân cư thôn, bản, có cùng nguyện vọng phát triển một hoạt động sản xuất, dịch vụ và tự nguyện tham gia nhóm Nhóm hộ có trưởng nhóm do các hộ bầu
ra để quản lý điều hành các hoạt động của nhóm
+ Nhóm hộ có quy chế hoạt động, trong đó có quy định rõ về trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của thành viên trong nhóm để thực hiện có hiệu quả kế hoạch sản xuất mà nhóm đã đề ra, đảm bảo sử dụng hiệu quả vốn hỗ trợ, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho các thành viên trong nhóm
+ Đối tượng hộ không nghèo tham gia nhóm hộ không được vượt quá 20%
tổng số hộ trong nhóm (đối với nhóm hộ có từ 05 hộ trở lên) và phải là những hộ có
kinh nghiệm làm ăn, có nhiệt tình và khả năng giúp đỡ các hộ khác, được đa số các thành viên trong nhóm tán thành và được UBND xã chấp thuận
b) Nội dung hỗ trợ phát triển sản xuất:
Chủ đầu tư căn cứ vào kế hoạch phát triển sản xuất của huyện, xã và nhu cầu cần hỗ trợ của người dân để xác định các nội dung phù hợp, thiết thực (tận dụng tối
đa lợi thế của địa phương, hướng người dân vào sản xuất hàng hoá, dịch vụ gắn với thị trường, đảm bảo tính bền vững về thu nhập, coi trọng an ninh lương thực) Không nhất thiết phải đầu tư cho tất cả các nội dung ở cùng một địa bàn để tập trung vốn, tránh dàn trải Các nội dung hỗ trợ cụ thể như sau:
Trang 31- Hỗ trợ các hoạt động khuyến nông - khuyến lâm - khuyến ngư (gọi tắt là khuyến nông) với mục đích giúp các hộ nghèo nâng cao kiến thức sản xuất, kiến thức
về thị trường (trước hết là với các hạng mục sản xuất mà các hộ đã lựa chọn) để sản xuất có hiệu quả, nâng cao thu nhập Các hoạt động được hỗ trợ:
+ Bồi dưỡng, tập huấn và truyền nghề cho người sản xuất để nâng cao kiến thức, kỹ năng sản xuất, quản lý kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp
+ Tổ chức tham quan, học tập kinh nghiệm các mô hình sản xuất tiên tiến
- Hỗ trợ xây dựng mô hình sản xuất hiệu quả, tiên tiến với mục đích xây dựng các mô hình tốt về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, bảo quản và chế biến nông sản, tiêu thụ nông sản có hiệu quả; tổ chức cho đối tượng trong dự án (và ngoài dự án) tham quan, học tập những mô hình tốt để phổ biến, nhân rộng mô hình Các hoạt động được hỗ trợ (áp dụng cho các hộ, nhóm hộ tham gia thực hiện mô hình):
+ Xây dựng mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở xã gắn với áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống, qui trình canh tác, chăn nuôi, chế biến, bảo quản
và tiêu thụ nông sản;
+ Xây dựng mô hình kinh tế hợp tác giữa hộ, nhóm hộ với các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, nông hội, nhà khoa học trong sản xuất, chế biến, bảo quản
và tiêu thụ nông sản
- Hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, vật tư sản xuất với mục đích giúp đỡ các
hộ đặc biệt khó khăn có được giống tốt và vật tư cần thiết ban đầu để thực hiện dự
Trang 32triển nghề mới, thúc đẩy phân công lao động xã hội tại địa phương Các hoạt động được hỗ trợ
+ Hỗ trợ chi phí mua máy, thiết bị cơ khí hoặc bán cơ khí phục vụ sản xuất (máy cày, bừa, bơm nước; máy tuốt lúa.v.v.), và phục vụ chế biến, bảo quản nông sản (máy sấy, máy thái trộn thức ăn chăn nuôi, ); ưu tiên hỗ trợ những trang thiết
bị, máy, công cụ sử dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có và đang có nhu cầu cao của địa phương;
+ Hướng dẫn, chuyển giao kỹ thuật để sử dụng thành thạo các loại trang thiết
bị, máy, công cụ đã được hỗ trợ
1.3.5.2 Dự án phát triển cơ sở hạ tầng
a) Công trình đầu tư tại xã: bao gồm việc làm mới, sửa chữa, cải tạo nâng cấp các công trình trên địa bàn xã (kể cả sửa chữa, nâng cấp công trình cũ đầu tư bằng nguồn vốn khác) như sau:
- Công trình giao thông từ xã đến thôn bản, liên thôn bản Không sử dụng nguồn vốn của Chương trình 135 để đầu tư làm mới đường ô tô đến trung tâm xã (đối với những xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã);
- Công trình thuỷ lợi nhỏ phục vụ trong phạm vi xã hoặc liên thôn bản
- Công trình điện từ xã đến thôn bản Không sử dụng vốn của Chương trình
135 để đầu tư xây dựng mới công trình điện đến trung tâm xã (đối với những xã chưa có điện lưới quốc gia đến trung tâm xã)
- Trường, lớp học tại trung tâm xã, đồng bộ cả điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, trang bị bàn ghế học tập, công trình phục vụ cho học sinh bán trú, nhà ở giáo viên; xây dựng lớp tiểu học, lớp mẫu giáo, nhà trẻ, nhà ở giáo viên, công trình phụ tại thôn, bản nơi cần thiết
- Trạm y tế xã đồng bộ cả công trình phụ trợ, điện, nước sinh hoạt, mua sắm trang thiết bị thiết yếu theo chuẩn hoá cơ sở y tế cấp xã
- Chợ: chỉ hỗ trợ đầu tư công trình nhà lồng chợ và san tạo mặt bằng ban đầu dưới 5.000 m2
- Nhà sinh hoạt cộng đồng tại thôn, bản nơi cần thiết
- Công trình cấp nước sinh hoạt tập trung
Trang 33b) Công trình đầu tư tại thôn, bản thuộc xã khu vực II: bao gồm việc làm mới, sửa chữa, cải tạo nâng cấp các công trình trên địa bàn thôn, bản (kể cả sửa chữa, nâng cấp công trình cũ đầu tư bằng nguồn vốn khác):
- Công trình giao thông từ thôn, bản đến trung tâm xã;
- Công trình thuỷ lợi nhỏ: cống, đập, trạm bơm, kênh mương và công trình trên kênh mương trong phạm vi thôn bản, công trình thuỷ lợi khác có mức vốn dưới
500 triệu đồng;
- Công trình điện từ xã đến thôn bản;
- Xây dựng lớp tiểu học, mẫu giáo, nhà trẻ, nhà ở giáo viên, cả trang bị bàn ghế, điện, nước sinh hoạt, công trình phụ;
- Nhà sinh hoạt cộng đồng tại thôn bản nơi cần thiết;
- Công trình cấp nước sinh hoạt tập trung
1.3.5.3 Dự án đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ xã, thôn và cộng đồng a) Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng
Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của của Chương trình 135 được chia làm hai nhóm sau:
- Nhóm cán bộ xã, cán bộ thôn bản: Cán bộ công chức xã; cán bộ đảng, đoàn thể; cán bộ được cấp trên tăng cường về xã; cán bộ nguồn trong diện quy hoạch của xã; thành viên Ban quản lý và Ban GS xã; cán bộ thôn bản trưởng thôn, bản
- Nhóm cộng đồng (người dân): Người sản xuất giỏi có vai trò tích cực trong xoá đói giảm nghèo; cộng tác viên trợ giúp pháp lý, thành viên câu lạc bộ trợ giúp pháp lý; người tự nguyện làm cộng tác viên, tuyên truyền viên; người có uy tín trong cộng đồng; hộ nghèo; thanh niên dân tộc thiểu số tuổi từ 16- 25 tuổi;
b) Nội dung đào tạo, bồi dưỡng:
- Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi; kiến thức khoa học kỹ thuật, nâng cao nhận thức và vận dụng vào phát triển kinh tế hộ gia đình;
- Cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình 135: kiến thức về quản lý
dự án đầu tư, giám sát đánh giá, báo cáo tổng hợp, ứng dụng công nghệ tin học trong quản lý đầu tư, báo cáo tổng hợp và giám sát đánh giá; thanh quyết toán vốn của các dự án và chính sách thuộc Chương trình 135
Trang 34- Quy chế dân chủ ở cơ sở và sự tham gia của cộng đồng trong việc tham gia thực hiện Chương trình: tổ chức họp dân, tổng hợp ý kiến, lập kế hoạch, giám sát đầu tư;
- Hỗ trợ dạy nghề cho đồng bào người dân tộc thiểu số;
- Kiến thức pháp luật có liên quan
1.3.5.4 Chính sách hỗ trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật
a) Đối tượng được hỗ trợ:
Học sinh là con hộ nghèo, đang sinh sống tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn
ở xã KV II (có xác nhận của UBND xã, không yêu cầu phải có đăng ký thường trú
hộ khẩu) thuộc phạm vi Chương trình 135 theo các quyết định của cấp có thẩm quyền, cụ thể như sau:
- Học sinh mẫu giáo trong độ tuổi từ 3 đến 6 tuổi đang đi học tại các trường, lớp mẫu giáo trong và ngoài xã;
- Học sinh các lớp thuộc hệ phổ thông: Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông do điều kiện trường, lớp học ở xa gia đình, đi lại khó khăn phải thoát ly gia đình đến ăn, ở tập trung tại trường, lớp hoặc khu vực xung quanh trường, lớp phải tự lo chi phí sinh hoạt, tiền ăn thì được thụ hưởng chính sách, còn những học sinh chỉ ở trường, lớp một buổi trưa và đi, về trong ngày và học sinh học các trường phổ thông dân tộc nội trú theo quy định của Nhà nước không thuộc diện đối tượng thụ hưởng chính sách này
Hộ nghèo đã có nhà ở ổn định, hiện tại chưa có nhà vệ sinh, hoặc nhà vệ sinh tạm bợ; chuồng trại chăn nuôi gia súc sát nhà ở không đảm bảo điều kiện vệ sinh có nhu cầu làm nhà vệ sinh, di chuyển chuồng trại để cải thiện môi trường được hỗ trợ kinh phí để cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường;
Các xã và các thôn, bản đặc biệt khó khăn ở xã KV II thuộc diện đầu tư của Chương trình 135 theo các quyết định của cấp có thẩm quyền được thụ hưởng chính sách hỗ trợ hoạt động Văn hoá, Thông tin và hỗ trợ trợ giúp pháp lý
b) Hình thức hỗ trợ:
Hỗ trợ con hộ nghèo đi học tại các lớp mẫu giáo: Việc cấp tiền mặt hay tổ chức
ăn tại chỗ do hội phụ huynh học sinh và Ban giám hiệu trường quyết định;
Trang 35Hỗ trợ học sinh con hộ nghèo học bán trú đang đi học tại các trường tiểu học, THCS, THPT bằng tiền mặt hoặc hiện vật Việc cấp tiền mặt, mua dụng cụ học tập hay tổ chức ăn tại chỗ cho học sinh do hội phụ huynh học sinh và Ban giám hiệu trường quyết định tùy theo điều kiện cụ thể và nguyện vọng của học sinh
Hỗ trợ bằng tiền mặt hoặc hiện vật (xi măng, tấm lợp ) cho hộ nghèo di chuyển hoặc làm mới chuồng trại, nhà vệ sinh cấp phát theo hộ gia đình, giá trị hỗ trợ bao gồm cả chi phí vận chuyển đến địa điểm tập kết, người hưởng lợi tự vận chuyển về hộ gia đình;
Hỗ trợ bằng tiền mặt cho hoạt động sinh hoạt cộng đồng ở xã và thôn, bản ĐBKK ở xã KV II, cấp phát theo đơn vị xã và thôn, bản ĐBKK ở xã KV II;
Hỗ trợ trợ giúp pháp lý, nâng cao nhận thức pháp luật cho người nghèo gồm: Chi phí văn phòng phẩm, chè nước, âm thanh, ánh sáng, thuê báo cáo viên để sinh hoạt câu lạc bộ pháp lý, tổ chức họp tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng, cấp phát không thu tiền các tài liệu pháp luật cho hộ nghèo
c)Thời gian thực hiện: Các chính sách hỗ trợ hộ nghèo cải thiện vệ sinh môi
trường, hỗ trợ hoạt động Văn hoá, Thông tin và hỗ trợ trợ giúp pháp lý thực hiện từ năm 2008; hỗ trợ học sinh tính theo năm học
1.4 Cơ sở thực tiễn
1.4.1 Khái quát quá trình thực hiện Chương trình 135 trên phạm vi cả nước
Chương trình 135 là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, đáp ứng
nguyện vọng chính đáng của nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ Chương trình không chỉ là xoá đói giảm nghèo bền vững, mà còn là Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng khó khăn Chương trình đã đi vào cuộc sống, đã phát huy được
sự sáng tạo, ý chí, nguồn lực của người dân toàn xã hội, làm thay đổi cơ bản diện mạo nông thôn vùng dân tộc, miền núi đặc biệt khó khăn; đời sống đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện, tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh; trình độ dân trí được nâng lên, tập quán và kỹ thuật sản xuất của đồng bào dân tộc có sự chuyển biến theo hướng sản xuất hàng hoá; tỷ lệ thôn, bản có điện, đường, lớp học, nhà văn hoá, công trình thuỷ lợi tăng lên; đội ngũ cán bộ cơ sở được đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng năng lực quản lý, điều hành phát triển ở địa phương, nhất là cấp ủy, chính
Trang 36quyền cơ sở; khối đại đoàn kết được tăng cường, an ninh chính trị, tật tự an toàn xã hội được giữ vững
Được Ðảng, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành trung ương và cấp ủy,
chính quyền các địa phương đồng thuận, quan tâm chỉ đạo thực hiện với quyết tâm cao Trong điều kiện ảnh hưởng suy thoái kinh tế, lạm phát, ngân sách khó khăn nhưng Chính phủ đã thể hiện quyết tâm cao đối với Chương trình, trong 5 năm (Chương trình 135 giai đoạn II) ngân sách trung ương đã bố trí 14.024,56 tỷ đồng, bằng 108,5% kế hoạch vốn theo văn kiện Chương trình, và tăng 4.882 tỷ đồng so với giai đoạn I; đồng thời chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương lồng ghép các nguồn lực để
hỗ trợ đầu tư, giải quyết những vấn đề bức xúc nhất, đảm bảo ổn định sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân đối với địa bàn các xã, thôn bản thuộc Chương trình
Chương trình đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương trong quản lý, chỉ đạo cũng như triển khai đồng bộ nhiều giải pháp thực hiện hiệu quả, nhất là cơ chế quản lý, văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình đã kịp thời sửa đổi,
bổ sung phù hợp với thực tế và giải quyết những khó khăn, vướng mắc tại địa phương
Chương trình cũng được cộng đồng quốc tế, nhất là các nhà tài trợ ngân sách cho Chương trình (Ngân hàng Thế giới, Phần Lan, Irelan, AusAid, EC, UNDP ) quan tâm, đánh giá là Chương trình giảm nghèo toàn diện nhất, hợp lòng dân nhất, đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, ít thất thoát nhất, hiệu quả nhất được nhân dân cả nước đồng thuận, và đã được nhiều Chính phủ, tổ chức quốc tế đến tham quan, học tập và chia sẻ kinh nghiệm
- Thực hiện có hiệu quả nguyên tắc công khai, minh bạch, dân chủ và kết hợp với công tác truyền thông trong quản lý và thực hiện Chương trình đây là một
Chương trình thu hút được sự tham gia sâu rộng nhất của người dân trong quá trình lập kế hoạch, ra quyết định, thực hiện và giám sát thực hiện các nội dung của Chương trình (theo kết quả kiểm toán có trên 98,13% số hộ biết Chương trình 135; 87,7% hộ được tham gia; 95,9% hộ hài lòng) Với nỗ lực tăng cường công tác truyền thông đã trở thành kênh giám sát có hiệu quả từ cộng đồng, đặc biệt là người hưởng lợi; đồng thời qua truyền thông đã nâng cao năng lực cán bộ và sự hiểu biết của cộng đồng về
Trang 37chính sách của Đảng, Nhà nước và mục tiêu, phạm vi, nguồn vốn, nội dung của Chương trình 135
- Cơ chế quản lý có nhiều bước tiến mới, đặc biệt là cơ chế tài chính minh
bạch, rõ ràng, có xác nhận đối chiếu giữa Chủ đầu tư với cơ quan Kho bạc Nhà nước theo quy định Đồng thời công khai, dân chủ có sự giám sát của cộng đồng nên các công trình, dự án đầu tư đúng mục đích, hiệu quả đáp ứng các nhu cầu thiết thực của nhân dân, tăng cường năng lực quản lý của cán bộ chính quyền cơ sở và cán bộ thôn, bản Cơ chế phân bổ nguồn lực từ trung ương cho Chương trình đảm bảo công khai, minh bạch từ trung ương đến các cấp chính quyền địa phương cả về phạm vi, đối tượng, mức đầu tư Về phía địa phương, cơ chế phân bổ nguồn lực cho các xã đã thể hiện sự minh bạch trên cơ sở các tiêu chí như: tỷ lệ hộ nghèo, quy mô diện tích, mức độ khó khăn đặc thù để phù hợp thực tế, không phân bổ bình quân như giai đoạn I
Với nỗ lực tăng cường sự công khai minh bạch, quản lý chặt chẽ, được Kiểm toán Nhà nước xác định có số tiền thất thoát ít nhất trong các chương trình đã được
kiểm toán (bằng 0,05 % tổng mức đầu tư)
- Chương trình phân cấp, trao quyền mạnh cho cơ sở đến thời điểm này, có
65,7% xã làm chủ đầu tư dự án cơ sở hạ tầng và trên 84% xã làm chủ đầu tư dự án phát triển sản xuất, tiếp tục đẩy mạnh phân cấp để cơ sở phát huy vai trò và chủ động thực hiện Chương trình
- Trình độ, năng lực quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ huyện, xã, thôn bản đã được nâng cao một bước thông qua việc đào tạo, tập huấn, trực tiếp quản lý,
triển khai thực hiện các nội dung của Chương trình Nhận thức của cộng đồng và người dân đã có nhiều chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế hộ giai đình, xoá đói giảm nghèo thông qua công tác tuyên truyền, vận động và trực tiếp thực hiện, giám sát
- Sau khi Chương trình 135 giai đoạn II cơ bản đạt được các mục tiêu đề ra,
đó là:
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 47% đầu năm 2006 xuống còn 30% năm 2010
- Tỷ lệ hộ đạt mức thu nhập bình quân đầu người 3,5 triệu đồng/năm là đạt trên 70%
Trang 38Xã có đường giao thông cho xe cơ giới (xe máy trở lên) từ trung tâm xã đến thôn, bản đạt 75,2%/mục tiêu 80% (tăng 20,9% so với năm đầu triển khai, bằng 91,75% mục tiêu đề ra)
- Xã có công trình thủy lợi nhỏ bảo đảm năng lực phục vụ sản xuất từ 53,7% lên 67,5% tăng 13,3%
- Xã có đủ trường tiểu học 100% trong đó trường, lớp học kiên cố 83,6%, tăng 14,6%, xã có trường THCS kiên cố 94,7% Cơ bản các xã có trên 90% học sinh tiểu học trong độ tuổi đến trường tăng 12,54% (mục tiêu 95%)
- Xã có điện tăng từ 84,6% lên 91,8% (tăng 7,2%), với 73,8% số thôn bản có điện
- Xã có trạm y tế đạt 100%, tăng 9% (đạt 100% mục tiêu)
- Số hộ có đủ nước sinh hoạt đạt 67,8% (tăng 14,1%)
- 100% người dân có nhu cầu trợ giúp pháp lý được trợ giúp miễn phí
1.4.2 Khái quát quá trình thực hiện Chương trình 135 của tỉnh Tuyên Quang
1.4.2.1 Về tổ chức thực hiện Chương trình
a) Việc thành lập và hoạt động của bộ máy chỉ đạo, điều hành các cấp
- Ban chỉ đạo Chương trình 135 cấp tỉnh có 18 thành viên đại diện các ngành
và UBND 6 huyện, Trưởng ban do đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh đảm nhiệm
[22]
; Ban chỉ đạo có quy chế hoạt động theo Quyết định số 01/QĐ-BCĐ ngày 18/10/2006 trong hoạt động kịp thời củng cố Ban Chỉ đạo, chuyển giao cơ quan thường trực theo đúng quy định của Trung ương
- Thành lập Ban chỉ đạo cấp huyện cơ bản duy trì các ngành thành viên tham gia BCĐ Chương trình 135 và giao cho Phòng Dân tộc làm cơ quan thường trực ở cấp huyện
- Thành lập Ban chỉ đạo cấp xã, Ban giám sát cấp xã về cơ bản giữ nguyên các thành viên, tổ chức tham gia BCĐ, Ban giám sát Chương trình 135
Với những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình 135 giai đoạn I, II, Ban chỉ đạo các cấp, Ban quản lý và Ban giám sát cấp xã đã hoạt động có nền nếp và đạt kết quả, góp phần khắc phục được những tồn tại trong quá trình thực hiện chương trình, đặc biệt là từng bước củng cố được vai trò, chức năng của chủ đầu tư là cấp xã
Trang 39b) Về cụ thể hoá thực hiện Chương trình 135 theo chỉ đạo của Chính phủ và hướng
dẫn của các bộ, ngành Trung ương
Thực hiện Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg ngày 10/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010; để thực hiện Chương trình 135 theo đúng quy định của Nhà nước, UBND tỉnh đã thể chế hóa bằng các quy định, quyết định, kế hoạch, văn bản chỉ đạo sau:
- Ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2006-2010
- Ban hành quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010 tỉnh Tuyên Quang
- Ban hành kế hoạch và Khung lộ trình thực hiện Chương trình 135 giai đoạn
- Ban hành Quyết định Quy định quản lý, sử dụng kinh phí hỗ trợ các dịch vụ cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật thuộc Chương trình 135
- Biên soạn tập tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ quản lý Chương trình 135 với 9 chuyên đề và tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho ban quản lý, ban giám sát xã và các phòng ban chuyên môn có liên quan của các huyện
c) Về cơ chế điều hành
- Tiếp tục phân cấp cho các xã làm chủ đầu tư ở cả 3 dự án hợp phần của chương trình Đối với các công trình có quy mô nhỏ, kỹ thuật không phức tạp, giao
Trang 40cho cấp xã tổ chức vận động nhân dân sở tại thực hiện công trình; đối với công trình
có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp thì người dân tham gia lao động thủ công và khai thác vật liệu; Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất người dân trực tiếp tham gia thực hiện
- Quá trình triển khai chương trình về cơ bản đảm bảo dân chủ, công khai có
sự giám sát và tham gia của người dân và cộng đồng trong việc thực hiện các nội
dung của chương trình và trong việc xây dựng kế hoạch (lựa chọn đầu điểm công trình, bình xét hộ nghèo được ưu tiên thực hiện các nội dung hỗ trợ trong năm…)
Tuỳ điều kiện cụ thể của mỗi xã mà áp dụng các hình thức công khai dân chủ khác nhau, nhưng chủ yếu tập trung vào hình thức niêm yết tại trụ sở UBND xã hoặc thôn, bản, nơi có công trình hoặc nội dung đầu tư hỗ trợ trong năm
- Thường xuyên quán triệt, chỉ đạo các ngành, các cấp phổ biến sâu rộng phạm vi, đối tượng, mục tiêu và nội dung của chương trình đến toàn thể cán bộ và nhân dân các xã thực hiện Chương trình 135
d) Về công tác lập và giao kế hoạch
- Định kỳ vào quí III năm trước, các xã xây dựng kế hoạch Chương trình 135 cho năm sau trình UBND huyện UBND các huyện thẩm định, tổng hợp báo cáo Ban Dân tộc (cơ quan thường trực Chương trình 135)
- Cơ quan thường trực Chương trình 135 phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu
tư căn cứ nguồn vốn kế hoạch Trung ương giao, kế hoạch của các huyện, xã và điều kiện thực tế của địa phương, thẩm định, tổng hợp trình UBND tỉnh phê duyệt cụ thể đối với từng dự án, chương trình như sau:
+ Đối với Dự án Xây dựng cơ sở hạ tầng: UBND tỉnh giao kế hoạch nguồn vốn cho UBND các huyện, căn cứ kế hoạch chi tiết đầu điểm công trình đã được UBND các xã lựa chọn, căn cứ nguồn vốn đã được phân bổ, UBND các huyện phê duyệt, giao kế hoạch chi tiết từng đầu điểm công trình cho các xã
+ Đối với Dự án Hỗ trợ phát triển sản xuất: UBND tỉnh giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan tiến hành thẩm định, tổng hợp kế hoạch của các huyện, xã trình UBND tỉnh xem xét, phê duyệt làm căn cứ để tổ chức thực hiện
+ Đối với Dự án đào tạo cán bộ cơ sở và cộng đồng và trợ giúp pháp lý: UBND tỉnh giao cho Ban Dân tộc phối với với các cơ quan chức năng có liên quan, căn cứ nhu