1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thất thoát vốn trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2002-2012 và những giải pháp nhằm hạn chế

103 372 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo thống kê và ý kiến của nhiều chuyên gia trong ngành thì về thất thoát vốn đầu tư xây dựng hiện nay chiếm khoảng 20 đến 30% tổng mức đầu tư và không chỉ xảy ra ở một khâu nào đó, mà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 3

MỤC LỤC

Danh mục các chữ viết tắt i

Danh mục các bảng ii

Danh mục các hình iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ VỐN VÀ THẤT THOÁT VỐN TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 7

1.1 VAI TRÒ VỐN TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 7

1.1.1 Các khái niệm 7

1.1.2 Các kênh tạo vốn trong dự án đầu tư XDCB và vai trò của nó 8

1.1.3 Quản lý vốn trong đầu tư XDCB 10

1.2 THẤT THOÁT VỐN TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 28

1.2.1 Khái niệm về thất thoát 28

1.2.2 Tiêu chí xác định thất thoát 30

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thất thoát 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ THẤT THOÁT VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG, GIAI ĐOẠN 2002 - 201233 2.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 33

2.1.1 Các kênh tạo vốn đầu tư và đối tượng quản lý 33

2.1.2 Phân cấp quản lý vốn trong đầu tư XDCB tại thành phố 37

2.2 THỰC TRẠNG THẤT THOÁT VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2002 - 2012 39

2.2.1 Thất thoát ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư 39

2.2.2 Thất thoát ở giai đoạn thực hiện đầu tư 43

Trang 4

2.2.3 Thất thoát ở giai đoạn kết thúc dự án, nghiệm thu đưa vào sử dụng,

quyết toán dự án hoàn thành 53

2.3 Đánh giá chung 56

2.3.1 Một số nội dung tồn tại 56

2.3.2 Nguyên nhân tồn tại 57

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ THẤT THOÁT VỐN TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 62

3.1 ĐỊNH HƯỚNG VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 62

3.1.1 Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất và năng lực 62

3.1.2 Hoàn thiện cơ chế thị trường 63

3.1.3 Đổi mới cơ chế quản lý đầu tư 64

3.1.4 Tăng cường sự giám sát của cộng đồng, xã hội 67

3.2 GIẢI PHÁP HẠN CHẾ THẤT THOÁT VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG GIAI ĐOẠN TIẾP THEO 71

3.2.1 Nhóm giải pháp trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 71

3.2.2 Nhóm giải pháp trong quá trình thực hiện đầu tư 76

3.2.3 Nhóm giải pháp về thanh quyết toán vốn đầu tư, thanh tra, kiểm tra 81

3.3 ĐIỀU KIỆN THỰC THI CÁC GIẢI PHÁP 86

3.3.1 Nâng cao đời sống vật chất cho người thực hiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB 86

3.3.2 Nghiêm trị đối với những hành vi gây thất thoát 87

3.3.3 Quy trách nhiệm cụ thể cho người đứng đầu 89

3.4 KIẾN NGHỊ 89

3.4.1 Đối với Chính phủ 89

Trang 5

3.4.2 Đối với Bộ Xây dựng 90

3.4.3 Đối với Bộ Kế hoạch và Đầu tư 90

3.4.4 Đối với Bộ Tài chính 91

3.4.5 Đối với UBND thành phố Đà Nẵng 91

3.4.6 Đối với các cơ quan chuyên môn của thành phố: 92

KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 7

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 2.1 Tình hình chi đầu tư XDCB trên địa bàn thành

2 Bảng 2.2

Thực trạng quản lý tài chính vốn đầu tư các dự án dùng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

55

Trang 8

iii

DANH MỤC CÁC HÌNH

1 Hình 1.1 Sơ đồ quản lý dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản 12

2 Hình 1.2 Quy trình đấu thầu rộng rãi lựa chọn nhà thầu 19

3 Hình 2.1 Tình hình ngân sách thành phố qua các năm 35

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, thành phố Đà Nẵng được xem là một trong những nơi có môi trường đầu tư tốt nhất trong cả nước, minh chứng đó là ba năm liên tiếp (2008 - 2010) Đà Nẵng đứng đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Sở dĩ đạt được điều này là nhờ thành phố đã thực hiện cải cách hành chính, thu hút và quản lý sự dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho các doanh nghiệp cùng tham gia vào quá trình thực hiện đầu tư của thành phố

Tuy nhiên trong thời gian qua, nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng và lãng phí, gây thất thoát trong việc sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã được đăng tải nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng Theo thống kê và ý kiến của nhiều chuyên gia trong ngành thì về thất thoát vốn đầu tư xây dựng hiện nay chiếm khoảng 20 đến 30% tổng mức đầu tư và không chỉ xảy ra ở một khâu nào đó, mà nó đã xảy ra ở tất cả các khâu, như: chủ trương đầu tư, kế hoạch vốn, thẩm định dự án đầu tư, khảo sát, thiết kế, thẩm định thiết kế, đấu thầu, giám sát thi công và thanh quyết toán công trình

Theo Báo cáo về công tác quản lý tài chính đầu tư của của UBND thành phố Đà Nẵng, giai đoạn 2002 – 2012, chỉ tính riêng qua công tác quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành, thành phố đã cắt giảm các khoản chi sai định mức, đơn giá, tính thừa khối lượng… tiết kiệm cho ngân sách nhà nước hơn 212 tỷ đồng, ngoài ra còn xử phạt chậm tiến độ 91 công trình theo cam kết trong hợp đồng với số tiền trên 12 tỷ đồng

Vấn đề thất thoát vốn đầu tư có trong mọi thời kỳ, tuy nhiên hiện này đã trở nên ngày càng nghiêm trọng Tình trạng thất thoát được xã hội, các ngành, các cấp đặc biệt quan tâm, tuy nhiên hầu như chỉ quan tâm đến hiện tượng, chưa

có nghiên cứu, tổng kết để đánh giá một cách toàn diện Vấn đề thất thoát vốn

Trang 10

2

đầu tư xây dựng không phải chỉ do những thiếu sót trong lĩnh vực quản lý đầu tư

và xây dựng mà có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác: hệ thống luật pháp; công tác giáo dục chính trị tư tưởng, trình độ tổ chức, quản lý, nghiệp vụ của bộ máy quản lý và các chủ thể tham gia vào quá trình đầu tư

Mức thất thoát được biểu thị bằng tỷ lệ % giữa giá trị thất thoát so với chi phí cần thiết xây dựng công trình theo quy định của cấp có thẩm quyền phê duyệt tổng mức đầu tư, dự toán, tổng dự toán, giá trị gói thầu hoặc giá trị quyết toán dự án hoàn thành

Để khắc phục tình trạng thất thoát, lãng phí trong xây dựng cơ bản, các thành phố Đà Nẵng cần xử lý nghiêm minh các cá nhân liên quan đến việc

"rút ruột" các công trình xây dựng Đồng thời, phải thực hiện nghiêm túc việc đấu thầu, chọn thầu công khai, minh bạch; khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, kết hợp khuyến khích các chủ đầu tư, nhà thầu sử dụng các loại vật liệu do địa phương sản xuất như: xi-măng, gạch xây dựng, sắt, thép, để giảm giá thành công trình trong điều kiện nền kinh tế còn khó khăn, mới mong hạn chế được tình trạng thất thoát, tham nhũng trong xây dựng cơ bản Luận văn đề nghị các nhóm giải pháp trong từng quá trình thực hiện của dự án

Chống thất thoát cũng cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp nêu trên, vì vậy có quyết tâm cũng chưa thể chấm dứt ngay hoặc giảm cơ bản tình trạng thất thoát mà cần có thời gian hoàn thiện đồng bộ các vấn đề nói trên, được nhiều ý chí thống nhất để sớm ngăn chặn thất thoát

Để góp phần luận giải vấn đề này từ góc nhìn về quản trị dự án đầu tư

cũng như quản lý sử dụng hiệu quả nguồn vốn, luận văn đề cập đến "Thất thoát vốn trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2002 - 2012 và những giải pháp nhằm hạn chế"

Trang 11

3

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay đã có nhiều tác giả và nhiều công trình khoa học nghiên cứu

về thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản cũng như những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và vốn đầu tư xây dựng

cơ bản nói riêng, đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế thất thoát, lãng phí Sau đây là một số ví dụ:

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Từ năm 2002 đến nay, trên phạm vi cả nước, đã có nhiều bài nói, bài viết đăng tải trên các Báo và Tạp chí, đồng thời có cả những cuộc hội thảo khoa học, công trình nghiên cứu về tình hình và giải pháp chống thất thoát lãng phí vốn đầu tư

Có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu, bài báo và bài viết trên tạp chí như: Đề án chống thất thoát lãng phí trong ĐTXD của Bộ Xây dựng thực hiện tháng 9/2004; Hội thảo khoa học về “Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong XDCB – Thực trạng và giải pháp” do Bộ Công an tổ chức ngày 10/11/2005 tại Hà Nội; luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý “Một số giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Đak Lak” của tác giả Phan Xuân Lĩnh, năm 2006; luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý “Phòng, chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ nguồn ngân sách Nhà nước ở nước ta hiện nay” của tác giả Ngô Văn Quý; bài “Thất thoát vốn đầu tư XDCB và giải pháp ngăn chặn” của tác giả Trần Lưu Dung, đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 8/2004; bài “Tham nhũng, tiêu cực trong đầu tư XDCB, tiền thất thoát đủ trả lương cho bộ máy hành chính, sự nghiệp cả nước” của tác giả Trần Công Hùng, đăng trên Báo Tiền phong số 225 ngày 11/11/2005; bài “Tập trung chỉ đạo tạo sự chuyển biến rõ rệt trong lĩnh vực đầu tư XDCB” của tác giả Võ Hồng Phúc, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT, đăng trên Tạp chí Thời báo Kinh tế số

Trang 12

4

1/2005; bài “Phát triển kinh tế – xã hội và cuộc đấu tranh chống TTLP” của tác giả Trương Giang Long, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 22 tháng 11/2005; bài “Những nguyên nhân chủ yếu và biện pháp nhằm giảm thiểu TTLP trong

2 đầu tư và xây dựng” của tác giả Hoàng Xuân Hoà, Ban Kinh tế Trung ương, đăng trên Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam số 9/2005;

- TS Trịnh Mai Vân, Nguyễn Văn Đại, “Thực trạng đầu tư từ nguồn vốn nhà nước ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân Bài viết đã khái quát được thực trạng, tình hình đầu tư các dự án bằng nguồn vốn Nhà nước về quy mô, cơ cấu vốn và hiệu quả đầu tư của nước ta giai đoạn 2005-2012, qua đó đề xuất một số giải pháp trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội trong đầu tư bằng vốn nhà nước

- Đoàn Kim Khuyên, "Hoàn thiện công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu

tư xây dựng cơ bản tại Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng", Luận văn Thạc sĩ kinh tế,

Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư XDCB từ nguồn vốn Nhà nước, quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn Nhà nước Làm rõ thực trạng công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB tại Kho bạc nhà nước Đà Nẵng trong thời gian qua Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát thanh toán vốn ñầu tư XDCB từ nguồn vốn nhà nước tại Kho bạc nhà nước Đà Nẵng trong thời gian đến

- TS Lê Hùng Sơn, "Biện pháp góp phần chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng", Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Số 3/2006

- TS Trịnh Công Vấn, "Đổi mới quản lý đầu tư xây dựng", Trang thông tin điện tử Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam Bài viết đã nêu được các nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan dẫn đến dự án không mang lại hiệu quả Qua đó đã đề xuất nhiều biện pháp nhằm giải quyết vấn đề, bao gồm các giải pháp trước mắt và các giải pháp lâu dài

Trang 13

5

- GS TS Trần Văn Chử, "Thất thoát trong đầu tư phát triển: nguyên nhân và giải pháp khắc phục", Tạp chí Lý luận chính trị, Số 6/2005;…

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Đối với nội dung này, trên thế giới cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết phân tích, nhận xét về thực trạng thất thoát lãng phí trong đầu

tư xây dựng ở trong phạm vi một quốc gia, một địa phương hay là trong một doanh nghiệp Từ những phân tích, các tác giả trên thế giới đã có những đề nghị đối với các cơ quan có liên quan về những giải pháp cần thiết để cải thiện tình trạng thất thoát, nâng cao hiệu quả trong quản lý vốn đầu tư xây dựng

Nhìn chung những công trình khoa học nêu trên đã đề cập đến thực trạng thất thoát vốn trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản và giải pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế thất thoát Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu đề tài này dưới dạng luận văn, luận án khoa học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm giúp cho địa phương chống thất thoát lãng phí trong ĐTXD có hiệu quả hơn Thực hiện đề tài, luận văn sẽ tham khảo, lựa chọn, kế thừa những ý tưởng của các công trình đã nghiên cứu và công bố, đồng thời đi sâu nghiên cứu lý luận để đề ra những giải pháp chống thất thoát lãng phí vốn trong các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Làm sáng tỏ những cơ sở lý luận, thực trạng về thất thoát vốn đầu tư XDCB ở Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng trong giai đoạn

2002 - 2012

- Trên cơ sở nghiên cứu và hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất những giải pháp hạn chế thất thoát vốn đầu tư XDCB trong điều kiện và môi trường kinh tế thành phố Đà Nẵng hiện nay để từ đó

có sự khuyến cáo hợp lý trong quản trị dự án và quản trị nguồn vốn ngân sách

nhà nước cũng như vốn doanh nghiệp nhà nước

Trang 14

6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Về lý luận chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về quản lý vốn và thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản

- Về thực tiễn đánh giá thực trạng thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng

cơ bản tại thành phố Đà Nẵng, phân tích xác định nguyên nhân để đề xuất những giải pháp hạn chế thất thoát đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong sử dụng vốn đầu tư xây dựng

5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, logic, nghiên cứu thực

tế, so sánh, thống kê, chọn mẫu, phân tích tổng hợp để nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu của đề tài

Nguồn số liệu sử dụng trong luận văn được lấy từ nguồn báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng ở Trung ương

và thành phố Đà Nẵng nên số liệu đánh giá tương đối chính xác thực trạng qua đó làm cơ sở lý luận khả thi về quản trị dự án đầu tư

6 Dự kiến đóng góp mới của luận văn

Khái quát hóa một số vấn đề về thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản; đánh giá được thực trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2002 - 2012; đề xuất được một

số giải pháp chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

7 Kết cấu của luận văn

Nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý vốn và thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản

Chương 2: Thực trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2002 - 2012

Chương 3: Giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng

cơ bản trong thời gian đến tại thành phố Đà Nẵng

Trang 15

1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản

Quản lý đầu tư XDCB được xác định theo từng dự án Hiện nay, có những quan niệm khác nhau về dự án đầu tư XDCB khi xét dưới nhiều góc

- Xét trên góc độ kế hoạch hóa, dự án đầu tư XDCB là một công cụ

thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ Đầu tư XDCB là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác

kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung

- Xét về nội dung, dự án đầu tư XDCB bao gồm một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau, đó là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện để tạo ra các kết quả cụ thể Những nhiệm vụ và các hoạt động cùng với một thời gian biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch đầu tư XDCB

- Theo quan niệm phổ biến hiện nay, dự án đầu tư XDCB là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải

Trang 16

8

tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định

Dù vậy, xét dưới góc độ nào thì dự án đầu tư XDCB cũng đều bao gồm 4 vấn đề chính, đó là: mục tiêu của đầu tư, các kết quả, các hoạt động và các nguồn lực Trong 4 thành phần đó thì các kết quả được coi là cột mốc đánh dấu hiệu quả đầu tư Vì vậy trong quá trình thực hiện đầu tư XDCB phải thường xuyên theo dõi để đánh giá kết quả đạt được Những hoạt động nào có liên quan trực tiếp đối với việc tạo ra các kết quả được coi là hoạt động chủ yếu và phải được đặc biệt quan tâm

1.1.1.2 Khái niệm về vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản

Vốn cần thiết để tiến hành các hoạt động về đầu tư là rất lớn, không thể trích ra cùng một lúc từ các khoản chi tiêu thường xuyên của các cơ sở, của xã hội vì điều này sẽ làm xáo trộn mọi hoạt động bình thường của sản xuất và sinh hoạt xã hội Do đó vốn trong đầu tư XDCB là tiền tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào xây dựng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt của xã hội

1.1.2 Các kênh tạo vốn trong dự án đầu tư XDCB và vai trò của nó

1.1.2.1 Các kênh tạo vốn trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản

- Vốn từ ngân sách nhà nước;

- Vốn khấu hao tài sản cố định của các doanh nghiệp được Nhà nước cho phép để lại đầu tư xây dựng, mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật;

- Vốn của doanh nghiệp;

- Vốn của Nhà nước đi vay (vay trong nước như: vay của cá nhân, vay của các tổ chức,… và vay của nước ngoài );

Trang 17

9

- Vốn tín dụng nhà nước;

- Vốn viện trợ của các Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ;

- Vốn huy động từ dân, như: công trái, trái phiếu;

- Vốn đóng góp của nhân dân

Từ các kênh tạo vốn đó, Chính phủ quy định các loại dự án đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm:

- Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;

- Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu

tư phát triển của Nhà nước;

- Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước;

- Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn

1.1.2.2 Vai trò vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản

Để tiến hành mọi hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý sản xuất kinh doanh phải có vốn Vốn có vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực xã hội, như:

- Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ lần đầu tiên được hình thành, vốn này được dùng để xây dựng nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị

để tạo ra các cơ sở vật chất kỹ thuật (TSCĐ)

- Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang hoạt động, vốn này dùng để mua sắm thêm các máy móc thiết bị, xây dựng thêm một số nhà xưởng, sửa chữa hoặc mua sắm các TSCĐ mới thay thế TSCĐ đã bị hư hỏng, hao mòn hữu hình (do quá trình sử dụng và do tác động của khí hậu, thời tiết)

và vô hình (do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật làm cho nhiều TSCĐ nhanh chóng trở nên lạc hậu không còn thích hợp với điều kiện mới, tiếp tục sử dụng

sẽ không có hiệu quả)

Trang 18

10

- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các cơ

sở đào tạo, các phúc lợi xã hội vốn này dùng để xây dựng các công sở, trường học, bệnh vện, các công trình giao thông, thủy lợi, cầu cảng

1.1.3 Quản lý vốn trong đầu tư XDCB

1.1.3.1 Trình tự quản lý dự án đầu tư XDCB

a) Trình tự quản lý chung cho một dự án đầu tư XDCB được chia làm các giai đoạn và công việc sau:

- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, gồm quản lý các phần việc như: chủ trương đầu tư, quy hoạch, báo cáo tiền khả thi, báo cáo khả thi, khảo sát địa chất, đo vẽ bản đồ địa hình, rà phá bom mìn, giải phóng mặt bằng, Cụ thể một số nội dung theo trình tự như sau:

+ Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư;

+ Tiến hành tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất; xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư;

+ Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng;

+ Lập dự án đầu tư;

+ Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết

định đầu tư tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án đầu tư

- Giai đoạn thực hiện đầu tư, gồm quản lý các phần việc như: khảo sát phục

vụ thiết kế, thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu, hợp đồng xây dựng, tạm ứng, thanh toán, chất lượng, tiến độ, Cụ thể một số nội dung theo trình tự như sau:

+ Xin giao đất hoặc thuê đất (đối với dự án có sử dụng đất);

+ Xin giấy phép xây dựng (nếu yêu cầu phải có giấy phép xây dựng)

và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên);

+ Thực hiện việc đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch tái định cư và phục hồi (đối với các dự án có yêu cầu tái định cư và phục hồi), chuẩn bị mặt bằng xây dựng (nếu có);

Trang 19

11

+ Mua sắm thiết bị và công nghệ;

+ Thực hiện việc khảo sát, thiết kế xây dựng;

+ Thẩm định, phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình; + Tổ chức lựa chọn nhà thầu;

+ Tiến hành thi công xây lắp;

+ Kiểm tra và thực hiện các hợp đồng;

+ Quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng, tiến độ thi công xây dựng

- Giai đoạn kết thúc đầu tư, gồm quản lý các phần việc: nghiệm thu, hoàn công, kiểm toán, quyết toán, Cụ thể một số nội dung theo trình tự như sau:

+ Nghiệm thu, bàn giao công trình;

+ Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình;

+ Bảo hành công trình;

+ Lập hồ sơ quyết toán;

+ Kiểm toán báo cáo quyết toán;

+ Thẩm tra, phê duyệt báo cáo quyết toán

Trang 20

12

Hình 1.1 - Sơ đồ về quy trình quản lý dự án xây dựng cơ bản

(Nguồn: Luật xây dựng, luật đấu thầu )

Trang 21

13

b) Quản lý vốn trong đầu tư XDCB của các dự án được tốt phải thực hiện quản lý theo định mức và đơn giá Chúng là những cơ sở quan trọng và căn cứ để xây dựng dự toán, cấp phát thu hồi tạm ứng, thanh toán, quyết toán

dự án đầu tư XDCB hoàn thành Nội dung cụ thể của định mức và đơn giá:

- Định mức xây dựng bao gồm định mức kinh tế - kỹ thuật và định

mức chi phí tỷ lệ Định mức kinh tế - kỹ thuật là mức hao phí cần thiết về vật liệu, nhân công và máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng Định mức chi phí tỷ lệ dùng để xác định chi phí của một số loại công việc trong hoạt động xây dựng bao gồm: định mức chi phí quản lý dự

án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công và một số định mức chi phí tỷ lệ khác

- Hệ thống giá xây dựng công trình bao gồm: đơn giá xây dựng công

trình và giá xây dựng tổng hợp được dùng để lập, điều chỉnh chi phí xây dựng trong tổng mức đầu tư, dự toán công trình Đơn giá xây dựng công trình là chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật tổng hợp, bao gồm toàn bộ chi phí trực tiếp về vật liệu, nhân công và máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng của công trình xây dựng cụ thể Giá xây dựng tổng hợp là chỉ tiêu kinh

tế - kỹ thuật bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để hoàn thành một nhóm loại công tác xây dựng, một đơn vị kết cấu, bộ phận của công trình Chỉ số giá xây dựng là chỉ tiêu phản ánh mức độ biến động của giá xây dựng theo thời gian

và là cơ sở cho việc xác định, điều chỉnh tổng mức đầu tư, dự toán công trình, giá hợp đồng xây dựng và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình

c) Quản lý vốn đầu tư XDCB là một công việc hết sức phức tạp vì mỗi

dự án đầu tư xây dựng bao gồm nhiều công việc, hoạt động khác nhau Do vậy, phải quản lý tốt chi phí, tạm ứng và thanh toán khối lượng XDCB hoàn thành, theo các nội dung sau:

Trang 22

14

- Quản lý chi phí, mỗi dự án đầu tư bao gồm nhiều công việc hoạt động khác nhau, nội dung các hoạt động lại rất đa dạng, do vậy quản lý vốn

dự án ĐTXD phải được thực hiện đối với từng hoạt động hay từng hạng mục

của dự án Quản lý chi phí theo các nội dung sau:

+ Quản lý chi phí xây lắp, là kiểm tra việc áp dụng các định mức, đơn giá đảm bảo đúng các quy định về thành phần công việc, yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công và biện pháp thi công Đối với các quy định, hướng dẫn điều chỉnh định mức, đơn giá dự toán, các chế độ quản lý XDCB của nhà nước và địa phương, cần chú ý tới thời hạn hiệu lực của văn bản Kiểm tra các khối lượng công tác chính như: đào móng, bê tông, cốt thép, xây dựng, vì những khối lượng này chiếm tỷ trọng rất lớn trong chi phí xây lắp công trình Kiểm tra để phát hiện những công việc trùng lắp, những khối lượng công tác không nằm trong thành phần chi phí trực tiếp (vì những khối lượng này đã được đưa vào tính toán trong chi phí chung, chi phí kiến thiết cơ bản khác hoặc đã nằm trong thành phần công việc định mức để lập đơn giá)

+ Quản lý chi phí thiết bị, số lượng, chủng loại, công suất, các chỉ tiêu

kỹ thuật phải đảm bảo đúng nội dung đầu tư thiết bị trong dự án đã được duyệt Kiểm tra về giá mua, chi phí vận chuyển, bốc dỡ bảo quản, gia công, tu sửa đảm bảo các quy định chung của nhà nước (giá thiết bị, cước phí vận tải, bốc dỡ )

+ Quản lý chi phí kiến thiết cơ bản khác đối với những chi phí được quy định tính theo tỷ lệ hoặc có bảng giá cụ thể (như chi phí ban quản lý công trình, chi phí khảo sát thiết kế…) việc áp dụng các tỷ lệ định mức và đơn giá, khối lượng công việc đưa vào tính toán phải đảm bảo đúng quy định của nhà nước và phù hợp với nội dung dự án đã được duyệt Đối với những chi phí kiến thiết cơ bản khác, xác định bằng cách lập dự toán riêng, việc quản lý cũng tương tự như đối với chi phí xây lắp (căn cứ vào các quy định về giá cả,

Trang 23

15

chế độ chính sách của nhà nước có liên quan đến XDCB để xác định việc đưa vào tính toán chi phí đúng, sai, đủ hay thừa thiếu) Những khối lượng tăng thêm so với thiết kế được duyệt do mọi nguyên nhân đều phải được chủ đầu

tư hoặc người quyết định đầu tư

- Tạm ứng, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư XDCB được thực hiện theo các nội dung sau:

+ Tạm ứng vốn phải căn cứ vào quyết định của cấp có thẩm quyền phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và đơn vị trúng thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng của đơn vị trúng thầu Mức vốn tạm ứng bằng tỷ lệ tạm ứng nhân với giá trị gói thầu nhưng nhiều nhất không vượt quá số tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng của đơn vị trúng thầu Vốn tạm ứng được hoàn trả từng lần cấp phát cho khối lượng xây lắp hoàn thành Trường hợp vốn tạm ứng chưa trả hết được chuyển sang năm sau, dự án không được ghi kế hoạch thì chủ đầu tư phải giải thích với cơ quan cấp phát vốn đầu tư về tình hình vốn chưa trả hết để báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý Các trường hợp khác được xử lý theo quy định của pháp luật về đầu tư xây dùng

+ Thanh toán khối lượng XDCB hoàn thành phải căn cứ vào khối lượng công tác xây lắp thực hiện đã được nghiệm thu hàng tháng và có đủ các điều kiện: khối lượng nghiệm thu phải theo bản vẽ thiết kế thi công hoặc thiết kế kỹ thuật thi công được duyệt; có trong hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và đơn vị nhận thầu; chất lượng đảm bảo yêu cầu thiết kế; áp dụng đúng định mức, đơn giá của Nhà nước (số vốn thanh toán cho khối lượng này là giá trúng thầu được lập cho khối lượng đó) Những khối lượng xây lắp thực hiện ngoài kế hoạch và thiết

kế dự toán được duyệt phải được người có thẩm quyền (theo phân cấp quản lý) phê chuẩn Đối với những dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước (NSNN) thì phải gửi đến cơ quan cấp phát những tài liệu, như: biên bản nghiệm thu khối lượng,

chất lượng công trình, bản tính toán giá thanh toán

Trang 24

16

+ Thanh toán khối lượng thiết bị là thiết bị đã nhập kho chủ đầu tư (đối với thiết bị không cần lắp), hoặc đã lắp đặt xong và được nghiệm thu (đối với thiết bị cần lắp đặt) và có đủ các điều kiện: danh mục thiết bị phải phù hợp với quyết định đầu tư về số lượng, chất lượng, chủng loại, tính năng, công suất, tiêu chuẩn kỹ thuật và có trong kế hoạch đầu tư được giao; có trong hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và đơn vị cung ứng thiết bị; có các chứng từ hoặc hợp đồng, vận chuyển, bốc dỡ, bảo hiểm, thuế nhập khẩu…; đã được chủ đầu tư nghiệm thu hoặc nhập kho Ở khâu này, cán bộ quản lý phải kiểm tra về mặt pháp lý của các hợp đồng, chứng từ và giá cả thanh toán (giá mua thiết bị, giá gia công thiết bị, cước phí vận chuyển, bốc dỡ…) đảm bảo các quy định của Nhà nước, phù hợp với thời điểm thực hiện khối lượng thanh toán Đối với những dự án thuộc vốn NSNN, chủ đầu tư gửi đến cơ quan cấp phát vốn hồ sơ, tài liệu gồm: hợp đồng kinh tế, hóa đơn kèm phiếu xuất kho (đối với thiết bị mua trong nước), bộ chứng từ nhập khẩu (đối với thiết bị nhập khẩu), hóa đơn vận chuyển, chứng từ bảo hiểm (trường hợp có bảo hiểm), phiếu nhập kho (đối với thiết bị không cần lắp) hoặc phiếu giá thanh toán khối lượng thiết bị đã hoàn thành lắp đặt (đối với thiết bị cần lắp), các chứng từ khác có liên quan (thuế,

phí lưu kho…), phiếu giá thanh toán thiết bị

+ Thanh toán chi phí kiến thiết cơ bản khác khi có đủ các căn cứ chứng minh công việc đã được thực hiện hoàn thành theo hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và đơn vị nhận thầu

+ Quyết toán vốn đầu tư XDCB, khi dự án hoàn thành đưa vào khai thác

sử dụng đều phải quyết toán vốn đầu tư Chậm nhất là 9 tháng (dự án nhóm B trở lên), 06 tháng (dự án nhóm C) và 03 tháng (dự án chỉ lập Báo cáo Kinh tế kỹ thuật) sau khi dự án hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng, chủ đầu tư phải lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư Dự án đầu tư bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, trong báo cáo quyết toán phải phân tích rõ từng nguồn vốn Báo cáo quyết toán

Trang 25

17

vốn đầu tư phải xác định đầy đủ, chính xác số vốn đầu tư thực hiện hàng năm, tổng mức vốn đã đầu tư thực hiện dự án, giá trị tài sản bàn giao cho đơn vị quản

lý sử dụng Đối với các dự án đầu tư kéo dài nhiều năm, khi quyết toán chủ đầu

tư phải quy đổi vốn đầu tư đã thực hiện về mặt bằng giá trị tại thời điểm bàn giao, để xác định giá trị tài sản cố định mới tăng và giá trị tài sản bàn giao

Tất cả các dự án đầu tư dùng vốn NSNN, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước phải được thẩm tra và phê duyệt quyết toán vốn đầu tư theo quy định Trước khi phê duyệt quyết toán vốn đầu tư, tất cả các báo cáo quyết toán phải được tổ chức thẩm tra quyết toán Người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán quyết định hình thức tổ chức thẩm tra quyết toán theo quy định Tổ chức thẩm tra báo cáo quyết toán do cơ quan chức năng trực thuộc cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán thực hiện hoặc thuê tổ chức kiểm toán Trách nhiệm thẩm tra quyết toán: đối với các dự án do

cơ quan chức năng trực thuộc cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán thẩm tra thì cơ quan thẩm tra phải chịu trách nhiệm về kết quả thẩm tra; đối với các dự án

do tổ chức kiểm toán thẩm tra thì tổ chức kiểm toán chịu trách nhiệm toàn bộ về kết quả thẩm tra; cơ quan chức năng thẩm tra chịu trách nhiệm nội dung kiểm tra lại Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt quyết toán vốn đầu tư các dự án nhóm A của Nhà nước theo ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ; đối với các dự án còn lại thì người có thẩm quyền quyết định đầu tư đồng thời là người phê duyệt quyết

toán vốn đầu tư

d) Đối với công tác lựa chọn nhà thầu: Căn cứ vào định mức, dự toán XDCB và khối lượng của các dự án để xây dựng giá gói thầu Theo Luật Đấu thầu số 61/2003/QH11 và Nghị định số 85/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định các hình thức lựa chọn nhà thầu:

- Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời

Trang 26

18

gian dự thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng tối thiểu 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu được áp dụng trong đấu thầu

- Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối thiểu là 5 nhà thầu) có đủ năng lực tham dự Danh sách nhà thầu tham dự phải được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp thuận Hình thức này chỉ được xem xét áp dụng khi có một trong các điều kiện: chỉ

có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của gói thầu; các nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế; do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế

- Chỉ định thầu là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu để xem xét phê duyệt giao thầu và thương thảo hợp đồng Hình thức này chỉ được áp dụng trong các trường hợp đặc biệt, như: trường hợp bất khả kháng do thiên tai địch họa, được phép chỉ định ngay đơn vị có đủ năng lực

để thực hiện công việc kịp thời; gói thầu có tính chất nghiên cứu thử nghiệm, bí mật quốc gia, bí mật an ninh, bí mật quốc phòng do Thủ tướng Chính phủ quyết định; gói thầu đặc biệt do người quyết định đầu tư quyết định, trên cơ sở báo cáo thẩm định của cơ quan chức năng, ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài trợ vốn và cơ quan có liên quan Báo cáo đề nghị chỉ định thầu phải xác định rõ: lý do chỉ định thầu; kinh nghiệm và năng lực về mặt kỹ thuật, tài chính của nhà thầu được đề nghị chỉ định thầu; giá trị và khối lượng đã được người có

thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ cho chỉ định thầu

- Chào hàng cạnh tranh, hình thức này được áp dụng cho những gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường có giá trị dưới 2 tỷ đồng Mỗi gói thầu phải có ít nhất 3 hồ sơ chào hàng của 3 nhà thầu khác nhau trên cơ sở hồ sơ yêu cầu chào hàng cạnh tranh của bên mời thầu Việc

Trang 28

20

1.1.3.2 Nguyên tắc quản lý vốn trong đầu tư XDCB

- Phân định rõ chức năng quản lý của Nhà nước và phân cấp quản lý

về đầu tư và xây dựng phù hợp với từng loại nguồn vốn đầu tư và chủ đầu tư Thực hiện quản lý đầu tư và xây dựng theo dự án, quy hoạch và pháp luật

- Các dự án đầu tư thuộc vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn do doanh nghiệp nhà nước đầu tư phải được quản lý chặt chẽ theo trình tự đầu tư và xây dựng quy định đối với từng loại vốn

- Đối với các hoạt động đầu tư, xây dựng của nhân dân, Nhà nước chỉ quản lý về quy hoạch, kiến trúc và môi trường sinh thái Hiện nay theo Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ, cơ quan nhà nước còn quản lý thiết kế của các công trình theo từng chuyên ngành

- Phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước, của chủ đầu tư, của tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quá trình đầu tư và

xây dựng

1.1.3.3 Thẩm quyền trong quản lý vốn đầu tư XDCB

1.1.3.3.1 Các cơ quan quản lý nhà nước

a) Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách về đầu tư, quản lý nhà nước về lĩnh vực đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư của người Việt Nam ra nước ngoài;

Xác định phương hướng và cơ cấu vốn đầu tư bảo đảm sự cân đối giữa đầu tư trong nước và nước ngoài trình Chính phủ quyết định;

Trình Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước nhằm thực hiện cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để ổn định và phát triển KT-XH;

Trang 29

21

Cấp giấy phép đầu tư và hướng dẫn các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài triển khai công tác chuẩn bị đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các quy định có liên quan của Quy chế quản lý ĐT&XD;

Tổ chức thẩm định các dự án đầu tư thuộc nhóm A trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đầu tư hoặc đồng ý để Bộ cấp đăng ký kinh doanh cho các dự án đầu tư thuộc nhóm A không dùng vốn Nhà nước, theo dõi quá trình đầu tư các dự án đầu tư trong kế hoạch Nhà nước;

Tổng hợp và trình Thủ tướng Chính phủ kế hoạch đầu tư phát triển hàng năm và 5 năm Phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch đầu tư thuộc các nguồn vốn do Nhà nước quản lý;

Chủ trì, phối hợp các Bộ, ngành, địa phương hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện Quy chế đấu thầu;

Quản lý nhà nước về việc lập, thẩm tra, xét duyệt, thực hiện các dự án quy hoạch phát triển KT-XH

b) Bộ Xây dựng

Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng, nghiên cứu các

cơ chế, chính sách về quản lý xây dựng, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền ban hành;

Ban hành các tiêu chuẩn, quy phạm, quy chuẩn xây dựng, quy trình thiết kế xây dựng, các quy định quản lý chất lượng công trình, hệ thống định mức, chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật xây dựng, định mức chi phí tư vấn ĐT&XD; thỏa thuận để các Bộ có xây dựng chuyên ngành ban hành các tiêu chuẩn, định mức, quy phạm, các quy định quản lý chất lượng công trình xây dựng kỹ thuật chuyên ngành;

Chủ trì cùng Bộ chuyên ngành kỹ thuật tổ chức thẩm định thiết kế kỹ thuật - tổng dự toán (TKKT-TDT) các dự án ĐT&XD thuộc nhóm A để cấp

Trang 30

22

có thẩm quyền phê duyệt Thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng, theo dõi, kiểm tra, phát hiện và kiến nghị xử lý chất lượng các công trình xây dựng; đặc biệt về chất lượng các công trình xây dựng thuộc các dự án nhóm A;

Hướng dẫn hoạt động của các doanh nghiệp tư vấn xây dựng, doanh nghiệp xây dựng và các tổ chức quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dùng;

Chủ trì cùng các Bộ, ngành, địa phương hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện quy định quản lý ĐT&XD

c) Bộ Tài chính

Nghiên cứu các chính sách, chế độ về huy động các nguồn vốn đầu tư,

quản lý vốn đầu tư để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành

theo thẩm quyền;

Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc phân bổ kế hoạch cấp phát vốn đầu tư cho các Bộ, địa phương và các dự án quan trọng quốc gia sử dụng vốn NSNN;

Thống nhất quản lý các khoản vốn vay và viện trợ của chính phủ dành cho đầu tư phát triển;

Cấp bảo lãnh Chính phủ cho doanh nghiệp (trừ các tổ chức tín dụng) vay vốn nước ngoài theo quy định của Chính phủ;

Thanh tra, kiểm tra tài chính đối với dự án của các tổ chức, đơn vị sử dụng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước; hướng dẫn, kiểm tra việc quyết toán vốn đầu tư các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước và thực hiện quyết toán vốn đầu tư các dự án nhóm A sử dụng vốn nhà nước;

Hướng dẫn việc cấp vốn NSNN cho đầu tư, vốn sự nghiệp có tính chất ĐT&XD đối với các dự án, chương trình theo kế hoạch đầu tư và theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ

Trang 31

23

d) Ngân hàng Nhà nước

Nghiên cứu cơ chế, chính sách quản lý nhà nước (QLNN) về tiền tệ, tín dụng ngân hàng trong ĐT&XD trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền;

Giám sát các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính tín dụng khác thực hiện các nhiệm vụ:

- Huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước để cho vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn đối với các dự án đầu tư phát triển và sản xuất kinh doanh;

- Cho vay vốn đối với các dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, khả thi và có khả năng trả nợ; phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vay vốn thực hiện được các cơ hội đầu tư có hiệu quả;

- Bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác theo quy định của pháp luật;

- Thực hiện bảo lãnh các khoản vốn vay nước ngoài của các tổ chức tín dụng để ĐT&XD

e) Kho bạc Nhà nước

- Tập trung và phản ánh các khoản thu ngân sách nhà nước, thực hiện điều tiết thu ngân sách nhà nước cho các cấp ngân sách theo quy định của cấp có thẩm quyền

- Thực hiện chi trả và kiểm soát chi ngân sách nhà nước theo từng đối tượng thụ hưởng theo dự toán ngân sách nhà nước được duyệt

- Kiểm soát và thực hiện việc xuất, nhập các quỹ dự trữ tài chính nhà nước, tiền, tài sản tạm thu, tạm giữ và các khoản tịch thu đưa vào tài sản nhà nước theo quyết định của cấp có thẩm quyền

- Mở tài khoản, khiểm soát tài khoản tiền gửi và thực hiện thành toán, giao dịch bằng tiền mặt, chuyển khoản với các cơ quan, đơn vị, các nhân có quan hệ giao dịch với Kho bạc Nhà nước

Trang 32

- Các Bộ quản lý ngành và các cơ quan có liên quan về đất đai, tài nguyên, sinh học, công nghệ, môi trường, thương mại, bảo tồn, bảo tàng di tích, di sản văn hóa, cảnh quan, quốc phòng, an ninh, phòng cháy và chữa cháy có trách nhiệm xem xét và có ý kiến bằng văn bản về các vấn đề có liên quan của dự

án đầu tư trong thời hạn quy định Sau thời hạn quy định, nếu không nhận được ý kiến trả lời của các Bộ quản lý ngành có liên quan thì được xem như các Bộ, ngành và cơ quan đó đã thống nhất với văn bản đề nghị

g) UBND cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương)

UBND cấp tỉnh, trong phạm vi chức năng, quyền hạn, thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước đối với tất cả các tổ chức và cá nhân thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn theo quy định của pháp luật

1.1.3.3.2 Chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án

Chủ đầu tư xây dựng công trình là người sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình bao gồm:

- Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì chủ đầu tư xây dựng công trình do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước

Trang 33

25

+ Đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư, chủ đầu

tư là một trong các cơ quan, tổ chức sau: Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương (gọi chung là cơ quan cấp Bộ), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và doanh nghiệp nhà nước;

+ Đối với dự án do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ, Chủ tịch

Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư, chủ đầu tư là đơn vị quản lý, sử dụng công trình

Trường hợp chưa xác định được đơn vị quản lý, sử dụng công trình hoặc đơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì người quyết định đầu tư có thể giao cho đơn vị có đủ điều kiện làm chủ đầu tư Trong trường hợp đơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì đơn vị sẽ quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm cử người tham gia với chủ đầu tư trong việc tổ chức lập dự án, thiết kế, theo dõi, quản lý, nghiệm thu và tiếp nhận đưa công trình vào khai thác, sử dụng;

+ Trường hợp không xác định được chủ đầu tư theo quy định thì người quyết định đầu tư có thể uỷ thác cho đơn vị khác có đủ điều kiện làm chủ đầu tư hoặc đồng thời làm chủ đầu tư

- Đối với các dự án sử dụng vốn tín dụng, người vay vốn là chủ đầu tư

- Đối với các dự án sử dụng vốn khác, chủ đầu tư là chủ sở hữu vốn hoặc là người đại diện theo quy định của pháp luật

Trường hợp chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án thì chủ đầu tư thành lập Ban Quản lý dự án để giúp chủ đầu tư làm đầu mối quản lý dự án Ban Quản

lý dự án phải có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án theo yêu cầu của chủ đầu tư Ban Quản lý dự án có thể thuê tư vấn quản lý, giám sát một số phần việc mà Ban Quản lý dự án không có đủ điều kiện, năng lực để thực hiện nhưng phải được sự đồng ý của chủ đầu tư

Trang 34

26

- Đối với dự án có quy mô nhỏ, đơn giản có tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng thì chủ đầu tư có thể không lập Ban Quản lý dự án mà sử dụng bộ máy chuyên môn của mình để quản lý, điều hành dự án hoặc thuê người có chuyên môn, kinh nghiệm để giúp quản lý thực hiện dự án

- Chủ đầu tư thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kể từ giai đoạn chuẩn bị

dự án, thực hiện dự án đến khi nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng bảo đảm tính hiệu quả, tính khả thi của dự án và tuân thủ các quy định của pháp luật Ban Quản lý dự án có thể được giao quản lý nhiều dự

án nhưng phải được người quyết định đầu tư chấp thuận và phải bảo đảm nguyên tắc: từng dự án không bị gián đoạn, được quản lý và quyết toán theo đúng quy định Việc giao nhiệm vụ và uỷ quyền cho Ban Quản lý dự án phải được thể hiện trong quyết định thành lập Ban Quản lý dự án Chủ đầu tư có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn của Ban Quản lý dự án

- Ban Quản lý dự án thực hiện nhiệm vụ do chủ đầu tư giao và quyền hạn do chủ đầu tư uỷ quyền Ban Quản lý dự án chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật theo nhiệm vụ được giao và quyền hạn được uỷ quyền

Trường hợp chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án thì tổ chức tư vấn đó phải có đủ điều kiện năng lực tổ chức quản lý phù hợp với quy mô, tính chất của dự án Trách nhiệm, quyền hạn của tư vấn quản lý

dự án được thực hiện theo hợp đồng thoả thuận giữa hai bên Tư vấn quản lý

dự án được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn tham gia quản lý nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận và phù hợp với hợp đồng đã ký với chủ đầu tư Tư vấn quản lý dự án chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về việc thực hiện các cam kết trong hợp đồng

Như vậy, Chủ đầu tư là người chủ sở hữu vốn, có trách nhiệm: tổ chức lập dự án đầu tư, xác định rõ nguồn vốn đầu tư, thực hiện các thủ tục về đầu

Trang 35

27

tư và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định Tổ chức thực hiện đầu

tư bao gồm: tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng đã ký kết với các nhà thầu theo quy định của pháp luật Các dự

án đầu tư sử dụng một hoặc nhiều nguồn vốn khác nhau thì chủ đầu tư có

trách nhiệm toàn diện, liên tục về quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư từ khi chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và đưa dự án vào khai thác sử dụng, thu hồi và hoàn trả vốn đầu tư Khi thay đổi chủ đầu tư thì chủ đầu tư mới được thay thế phải chịu trách nhiệm kế thừa toàn bộ công việc đầu tư của chủ đầu

tư trước Chủ đầu tư có quyền yêu cầu các cơ quan hữu quan của nhà nước công bố công khai các quy định có liên quan đến công việc đầu tư, như: quy hoạch xây dựng, đất đai, tài nguyên, nguồn nước, điện, giao thông vận tải, môi trường sinh thái, phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ di tích văn hóa, lịch sử,

an ninh, quốc phòng để chủ đầu tư biết và thực hiện

1.1.3.3.3 Các tổ chức, cá nhân liên quan

a) Tư vấn đầu tư và xây dựng

Tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng là các tổ chức nghề nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, có tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh về tư vấn đầu tư và xây dựng theo quy định của pháp luật

Nội dung hoạt động tư vấn ĐT&XD: Là cung cấp thông tin về văn bản quy phạm pháp luật, về cơ chế chính sách ĐT&XD, lập các dự án đầu tư, quản lý dự án đầu tư, thiết kế, soạn thảo hồ sơ mời thầu, giám sát và quản lý quá trình thi công xây lắp, quản lý chi phí xây dựng, nghiệm thu công trình; tổ chức tư vấn này có thể ký hợp đồng lại với các tổ chức tư vấn ĐT&XD khác

để thực hiện một phần nhiệm vụ của công tác tư vấn

Các tổ chức tư vấn ĐT&XD trách nhiệm: Đăng ký hoạt động tư vấn ĐT&XD tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng,

Trang 36

28

bao gồm cả số lượng, chất lượng, thời gian thực hiện, tính chính xác của sản phẩm và chất lượng sản phẩm tư vấn của mình; thực hiện chế độ bảo hiểm nghề nghiệp tư vấn ĐT&XD theo quy định của pháp luật Thông tin rộng rãi về năng lực hoạt động của doanh nghiệp để chủ đầu tư biết và lùa chọn

b) Doanh nghiệp xây dựng

Doanh nghiệp xây dựng là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh về xây dựng

Các doanh nghiệp xây dựng có trách nhiệm: Đăng ký hoạt động xây dựng tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng, bao gồm cả số lượng, chất lượng, tính chính xác của sản phẩm, thời gian thực hiện hợp đồng, có quy định và hướng dẫn sử dụng công trình trước khi bàn giao công trình, thực hiện bảo hành chất lượng sản phẩm xây dựng và công trình xây dựng của mình theo quy định tại quy chế quản lý ĐT&XD; thực hiện chế độ bảo hiểm công trình xây dựng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi liên quan đến an toàn của các công trình lân cận và công trình đang xây dựng, thực hiện an toàn lao động, bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình xây dựng Thông tin rộng rãi về năng lực hoạt động của doanh nghiệp để chủ đầu tư biết và lùa chọn

c) Thanh tra, Kiểm tra, Kiểm toán Nhà nước

Là các cơ quan nhà nước, có chức năng kiểm toán tài sản công, kiểm tra chi tiêu, đánh giá báo cáo tài chính, kiểm tra các dự án đầu tư xây dựng cơ bản của các cơ quan sử dụng vốn nhà nước, qua đó giúp tài chính nhà nước minh bạch, hạn chế thất thoát, lãng phí, tham nhũng

1.2 THẤT THOÁT VỐN TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN

1.2.1 Khái niệm về thất thoát

Theo Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí số 48/2005/QH11 ngày 19 tháng 11 năm 2005 thì: "Lãng phí là việc quản lý, sử dụng tiền, tài sản, lao

Trang 37

29

động, thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên không hiệu quả Đối với lĩnh vực đã có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thì lãng phí là việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ hoặc không đạt mục tiêu đã định" Còn vấn đề thất thoát thì chưa có tài liệu văn bản quy phạm nào đưa ra định nghĩa hay một khái niệm cụ thể Nhưng thực tế cho thấy lãng phí,

thất thoát đều phản ánh một hiện tượng giống nhau, đó là sự mất mát nguồn lực, mất đi cơ hội để tạo thêm cơ sở vật chất, tăng thêm năng lực cho xã hội

Thất thoát trong XDCB là những chi phí thực tế không sử dụng hết vào công trình do bị bớt xén, cắt giảm không đúng quy định, không hợp lý hoặc do khai man, khai khống, nhưng vẫn tính vào giá trị của dự án để sử dụng vốn Biểu hiện:

- Công trình bớt xén khối lượng vật tư hoặc sử dụng vật tư sai chủng loại, kém chất lượng như bớt xén xi măng, sắt thép không đúng quy định, thay đổi vật liệu xây dựng, trang trí bằng vật liệu có tuổi thọ, chất lượng kém hơn

so với thiết kế được duyệt;

- Sử dụng tiền đền bù giải phóng mặt bằng không đúng mục đích, kê khai khống khối lượng đền bù, làm giả hồ sơ để nhận tiền đền bù;

- Áp dụng định mức, đơn giá sai, kê khai nghiệm thu khống khối lượng hoặc đánh giá sai chất lượng công trình khi thẩm tra, thẩm định dẫn đến thanh toán sai so với khối lượng chất lượng thực tế;

- Thanh quyết toán khống so với giá trị thực tế thi công, bớt xén hoặc

sử dụng chi phí xây dựng công trình không đúng quy định;

- Thời gian xây dựng kéo dài so với quy định, dẫn đến công trình bị thiên nhiên phá hoại, chậm đưa công trình vào khai thác sử dụng làm mất cơ hội kinh doanh, ngân sách phải chi thêm một khoản tiền bù giá nhân công, chi

Trang 38

30

phí máy thi công và chênh lệch vật tư khi giá thị trường tăng quá cao, còn doanh nghiệp thì phải trả thêm lãi vay ngân hàng trong thời gian chậm thanh toán vốn;

- Thay đổi lại kết cấu do kết quả khảo sát không đảm bảo chất lượng;

- Thiết kế áp dụng hệ số an toàn quá mức cho phép;

- Chất lượng xây dựng không đảm bảo phải phá đi làm lại

Một số ví dụ cụ thể về thất thoát, lãng phí như: Nhà máy xây xong không có nguyên liệu để sản xuất; Chợ xây xong không có người đến họp;

Hệ thống cấp nước chỉ chú trọng đầu tư nhà máy mà thiếu mạng lưới đường ống phân phối đến các hộ tiêu thụ, nên không cung cấp được đến hộ tiêu thụ; Công trình thủy lợi chỉ chú trọng xây dựng kênh chính, còn kênh nội đồng chưa chú trọng, nên tưới tiêu không đạt theo công suất thiết kế;

Như vậy có thể nói, có hai loại thất thoát: một là hữu hình (như ăn cắp, bớt xén,…) chủ yếu là chủ động từ phía con người do mục đích vụ lợi cá nhân; hai là vô hình do bị động, bắt nguồn từ năng lực hạn chế của những người tham gia trong lĩnh vực đầu tư xây dựng ở tất cả các khâu Chẳng hạn, chất lượng quy hoạch kém hoặc quy hoạch chậm, như một đô thị đã phát triển rồi mới tính chuyện mở rộng đường phố thì rất tốn kém… Hay với những công trình làm xong không sử dụng đến thì thất thoát, lãng phí tương đối khó tính toán, đây là thất thoát, lãng phí bị động Còn với những dự án thất thoát, lãng phí tính theo phần trăm được thì có thể xác định cụ thể

Trang 39

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thất thoát

Những nhân tố ảnh hưởng đến thất thoát vốn trong đầu tư XDCB, là:

- Hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý đầu tư dựng chưa đồng

bộ, thống nhất, hoàn chỉnh và còn nhiều sơ hở; công tác quản lý nhà nước còn buông lỏng, phân công, phân cấp chưa rõ ràng, chồng chéo, công tác thanh tra, kiểm tra làm chưa thường xuyên và chưa đáp ứng yêu cầu; đáng chú ý là trách nhiệm và biểu hiện tiêu cực trong một bộ phận không ít cán bộ lãnh đạo

và quản lý ở các cấp của dự án là rất nghiêm trọng

- Đối với đầu tư từ nguồn vốn nhà nước thì chậm thích ứng với cơ chế thị trường, hay có thể nói coi như là "của chùa" cho nên xảy ra việc tranh thủ càng nhiều để chiếm đoạt vốn nhà nước

- Có thể nói thất thoát trong XDCB chủ yếu do cấp trên của chủ đầu

tư, chủ đầu tư, tư vấn, nhà thầu tạo nên nhằm vụ lợi cá nhân Ngoài ra do trình

độ, năng lực, ý thức trách nhiệm thực hiện công việc của những người tham gia hoạt động đầu tư xây dựng

Trang 40

32

Kết luận chương 1:

Vốn trong đầu tư XDCB có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân là nguồn vốn để tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt của xã hội Do vậy, quản lý vốn đầu XDCB phải theo trình tự, từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng

Đồng thời quản lý vốn đầu tư phải trên cơ sở định mức, đơn giá XDCB của nhà nước và thực hiện đúng trách nhiệm quyền hạn về quản lý vốn đầu tư Mặt khác phải chịu trách nhiệm nếu gây thất thoát vốn đầu tư XDCB Trong chương này cũng đã nêu rõ khái niệm về thất thoát, lãng phí và xác định các nhân tố ảnh hưởng của nó Qua đó làm nền tảng để phân tích và soi xét thực trạng thất thoát vốn tại địa phương ở Chương 2

Ngày đăng: 06/08/2015, 00:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 2.1  Tình hình chi đầu tƣ XDCB trên địa bàn thành - Thất thoát vốn trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2002-2012 và những giải pháp nhằm hạn chế
1 Bảng 2.1 Tình hình chi đầu tƣ XDCB trên địa bàn thành (Trang 7)
1  Hình 1.1  Sơ đồ quản lý dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản  12 - Thất thoát vốn trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2002-2012 và những giải pháp nhằm hạn chế
1 Hình 1.1 Sơ đồ quản lý dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản 12 (Trang 8)
Hình 1.1 - Sơ đồ về quy trình quản lý dự án xây dựng cơ bản - Thất thoát vốn trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2002-2012 và những giải pháp nhằm hạn chế
Hình 1.1 Sơ đồ về quy trình quản lý dự án xây dựng cơ bản (Trang 20)
Hình 1.2 – Quy trình đấu thầu rộng rãi lựa chọn nhà thầu - Thất thoát vốn trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2002-2012 và những giải pháp nhằm hạn chế
Hình 1.2 – Quy trình đấu thầu rộng rãi lựa chọn nhà thầu (Trang 27)
Hình 2.1 - Tình hình ngân sách thành phố qua các năm (ĐVT: tỷ đồng) - Thất thoát vốn trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2002-2012 và những giải pháp nhằm hạn chế
Hình 2.1 Tình hình ngân sách thành phố qua các năm (ĐVT: tỷ đồng) (Trang 43)
Bảng 2.1 – Tình hình chi đầu tƣ XDCB trên địa bàn thành phố giai đoạn - Thất thoát vốn trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2002-2012 và những giải pháp nhằm hạn chế
Bảng 2.1 – Tình hình chi đầu tƣ XDCB trên địa bàn thành phố giai đoạn (Trang 44)
Bảng 2.2 – Thực trạng quản lý tài chính vốn đầu tƣ các dự án dùng vốn - Thất thoát vốn trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2002-2012 và những giải pháp nhằm hạn chế
Bảng 2.2 – Thực trạng quản lý tài chính vốn đầu tƣ các dự án dùng vốn (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w