Trong khuôn khổ khoá luận này người viết muốn nhìn nhận phântích TCDN như là một mắt xích nằm trong quá trình phân tích, đánh giákhách hàng nói chung, bao gồm phân tích hồ sơ pháp lý, ph
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 20 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
đẫ đạt được những thành tưu đáng kể, sự phát triển ngày càng đa dạng cácdịch vụ ngân hàng đã góp phần to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại có một ýnghĩa hết sức quan trọng trong nền kinh tế thị trường
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính thực hiện chứcnăng huy động vốn và cung ứng vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế Nhờ
có sự phát triển của hệ thống ngân hàng mà hiệu quả sử dụng vốn được nângcao Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng thu hút nguồn vốn tạmthời nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân trong xã hội đồng thời thực hiện chứcnăng cung ứng nguồn vốn cho các chủ thể cần vốn để phát triển và mở rộngquy mô sản xuất kinh doanh
Tuy nhiên, các hoạt động của ngân hàng thương mại cũng đứng trướcrất nhiều rủi ro ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của chính bảnthân các ngân hàng, một trong những rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải
đó chính là rủi ro về việc khách hàng xin vay vốn không có khả năng thanhtoán nợ gốc và lãi cho ngân hàng hay còn là rủi ro tín dụng
Để giảm thiểu rủi ro tín dụng các ngân hàng thương mại cần thiết phảitiến hành đánh giá tình hình tài chính của khách hàng xin vay vốn thôngqua các báo cáo tài chính và các hồ sơ liên quan Qua đó ngân hàngg có thểđánh giá một cách khái quát nhất về tình hình tài chính của khách hàng từ
đó đánh giá khả năng thanh toán các khoản vay của các doanh nghiệp nàytrong trường hợp ngân hàng tiến hành cấp tín dụng cho doanh nghiệp
Với thực tế đó và cùng với mục đích nghiên cứu của mình, tôi quyết
định nghiên cứu đề tài “ Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp khách hàng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng công thương Việt Nam - chi nhánh Nam Thăng Long “ thành chuyên đề tốt nghiệp của mình
Trang 2
Chương 1: những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệptrong hoạt động của ngân hàng thương mại
Chương 2: thực trạng công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tronghoạt động tín dụng của Vietinbank_ chi nhánh Nam Thăng Long
Chương 3: giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanhnghiệp khách hàng tại Vietinbank chi nhánh Nam Thăng Long
Trang 3CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỌC, HIỂU VÀ PHÂNTÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ PHÊDUYỆT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MAI
1.1 TỔNG QUAN VỀ NHTM VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦANHTM
Luật ngân hàng của Pháp, năm 1941 định nghĩa: Ngân hàng là những
xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dướihình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họvào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính Hay như Luậtngân hàng của ấn Độ 1950, được bổ sung 1959 đã nêu: “Ngân hàng là cơ dởnhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư Những địnhnghĩa như vậy là căn cứ vào tính chất và mục đích hoạt động
Một loạt định nghĩa khác lại căn cứ vào sự kết hợp với đối tượng hoạtđộng Ví dụ như Luật ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định nghĩa:những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bánvàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tíndụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảohiểm
Trang 4Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng phân tích, khai thácnội dung của các định nghĩa đó, người ta dễ dàng nhận thấy các NHTM đều
có chung một tính chất, đó là việc nhận tiền ký thác, tiền gửi không kỳ hạn
và có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch
vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng
Tại Việt Nam, theo luật các tổ chức tín dụng: NHTM là tổ chức kinh tếhoạt động, kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng với nội dung thườngxuyên là nhận tìên gửi, sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch
vụ thanh toán
Ngày nay, trong thế giới hiện đại, hoạt động của các tổ chức tài chính
là môi giới trên thị trường tài chính ngày càng phát triển về số lượng và quy
mô hoạt động, đa dạng và phong phú, hoạt động đan xen lẫn nhau Người taphân biệt NHTM với các tổ chức trung gian tài chính khác là ở chỗ NHTM
là ngân hàng kinh doanh tiền gửi, chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn, chính từhoạt động đó đã tạo cơ hội cho NHTM có thể làm tăng bội số tiền gửi củakhách hàng trong hệ thống NH của mình Đó là đặc trưng cơ bản để phânbiệt NHTM với các NH và TCTD khác
NHTM là một bộ phận lớn nhất trong hệ thống trung gian tài chính vìtổng tài sản có của NHTM chiếm tỷ trọng lớn NH là chiếc cầu nối giữa cácchủ thể trong nền kinh tế Thông qua các nghiệp vụ chính: nghiệp vụ huyđộng vốn, nghiệp vụ cho vay, nghiệp vụ cho vay môi giới, NHTM đã thựchiện tốt vai trò của mình đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung.Đứng trước tình trạng bùng nổ nhu cầu vốn, trước sự gia tăng mạnh mẽ củahoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD), một vấn đề NH luôn cần chú trọngtrong đó là công tác cho vay như thế nào để có hiệu quả cao nhất, mang lạilợi ích không chỉ từ phía NH mà cả đối với người vay Do đó hoạt động tíndụng là vấn đề được lên hàng đầu đối với ngân hàng
1.1.2 Khái quát về tín dụng
Trang 51.1.2.1 Khái niệm về tín dụng
Để hiểu tín dụng là gì, ta có thể bắt đầu từ danh từ tín dụng Nó xuấtphát từ gốc La Tinh Creditum có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhauhay nói cách khác là lòng tin Nhà kinh tế học người Pháp, Luis Baundin đãđịnh nghĩa: “Tín dụng như là một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoátương lai Theo Marx: “Đem tiền cho vay với tư cách là một việc có đặcđiểm sẽ quay trở về điểm xuất phát của nó mà vẫn giữ được nguyên vẹn giátrị của nó và đồng thời lại lớn thêm trong quá trình vận động Hay như ngônngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ
sở có hoàn trả cả gốc và lãi Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưngđều thể hiện hai nội dung chủ yếu:
Thứ nhất, người sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao chongười khác sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định
Thứ hai, người sử dụng cam kết trả số tiền hoặc hàng hoá đó chongười sở hữu một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu
Quan hệ tín dụng được thể hiện như sau
Giá trị tín dụng ban đầu
Giá trị tín dụng hoàn trả +lãi
Theo cách hiểu chung nhất: “Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiềnhoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác)
và bên đi vay (cá nhân doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác), trong đóbên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời giannhất định theo thoả thuận Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiệnvốn gốc và lãi khi đến hạn thanh toán
Như vậy một quan hệ tín dụng phải thoả mãn những đặc trưng sau:
Trái chủ (creditor)
Người cho vay (lender)
Thụ trái (debtor)Người đi vay (borrower)
Trang 6Thứ nhất: Là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời Đốitượng của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc là hàng hóa dưới hìnhthức kéo dài thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hóa Tínhchất tạm thời của sự chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giátrị đó Nó là kết quả của sự thoả thuận giữa các đối tác tham gia quá trìnhchuyển nhượng để đảm bảo sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời giancần sử dụng lượng giá trị đó Sự thiếu phù hợp của thời gian chuyển nhượng
có thể ảnh hưởng đến quyền lợi tài chính và hoạt động kinh doanh của cảhai bên và dẫn đến nguy cơ phá huỷ quan hệ tín dụng Thực chất trong quan
hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền sử dụng lượng giá trị tạm thờinhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổiquyền sở hữu đối với lượng giá trị đó
Thứ hai: Tính hoàn trả Lượng vốn được chuyển nhượng phải đượchoàn trả đúng hạn cả về thời gian và về giá trị bao gồm hại bộ phận: gốc vàlãi Phần lãi đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị banđầu Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời Nói cáchkhác, nó là giá trả cho sự hy sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sởhữu vì thế nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể sẵn sàng hy sinhquyền sử dụng đó
Thứ ba: Quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người đivay và người cho vay Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lậpquan hệ tín dụng Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đầy
đủ khi đến hạn Người đi vay cũng tin tưởng vào khả năng phát huy hiệuquả của vốn vay Sự gặp gỡ giữa người đi vay và người cho vay về điểmnày sẽ là điều kiện hình thành quan hệ tín dụng Cơ sở của sự tin tưởng này
có thể do uy tín của người đi vay, do giá trị tài sản thế chấp và do sự bảolãnh của người thứ ba
1.1.2.2 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Trang 7Những hành vi tín dụng có thể được diễn ra trực tiếp giữa người thừavốn cần đầu tư và người cần vốn để sử dụng Nhưng thực tế hai người nàykhó có thể phù hợp được với nhau về quy mô, về thời gian nhàn rỗi và thờigian sử dụng vốn; hoặc cũng có thể phù hợp được thì phải tốn kém chi phítìm kiếm, nên đẻ thoả mãn được nhu cầu của cả hai người thì cần thiết phải
có một người thứ ba đứng ra làm cầu nối giữa người cần vốn và người cónguồn vốn nhàn rỗi Trên cơ sở số vốn tập trung được phân phối cho nhữngngười cần vốn để sử dụng dưới hình thức cho vay Việc các NHTM tậptrung vốn dưới hình thức huy động và phân phối vốn dưới hình thức cho vayđược gọi là tín dụng ngân hàng
Trang 8ổn định xã hội Vì thế yêu cầu đảm bảo an toàn cho mỗi khoản vay tín dụngngân hàng là điều bắt buộc Yêu cầu này được thực hiện ngay từ trước khicho vay thông qua đánh giá thẩm định tính khả thi của dự án xin vay, chođến yêu cầu thế chấp, cầm cố và bảo lãnh khi vay theo dõi, đánh giá hiệuquả sử dụng vốn vay.
Tín dụng NH là một lĩnh vực phức tạp và luôn phải cập nhật theonhững chuyển biến của nền kinh tế Để tồn tại và phát triển NH luôn phảichú trọng công tác cho vay bởi quy mô của hoạt động cho vay mới là điềukiện cần, còn điều kiện đủ chính là chất lượng của hoạt động này
mở rộng nhưng chưa đủ điều kiện để đầu tư Các khoản tiền trên đây luônđược các doanh nghiệp tìm cách đầu tư kiếm lời Tất cả tạo hình thànhnguồn vốn tiềm tàng trong nền kinh tế Trong khi đó, có một số các doanhnghiệp, cá nhân thiếu vốn để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của mình,một số các cá nhân trong xã hội cần vốn để cải thiện sinh hoạt hoặc đối phóvới những rủi ro trong cuộc sống Ngân sách nhà nước bị thâm hụt, Nhànước cần vốn để bù đắp sự thâm hụt đó đảm bảo cân đối thu chi cho nềnkinh tế
Như vậy, ta thấy xã hội luôn có một người thừa vốn cần đầu tư vàmột số người thiếu vốn muốn đi vay Song những người này khó có thể trựctiếp gặp nhau để cho nhau vay Hoặc có thể gặp nhau thì chi phí rất cao vàkhông kịp thời, nên tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa người có vốn vàngười cần vốn và để giải quyết nhu cầu thoả đáng trong mối quan hệ này
Trang 9Nghĩa là tín dụng ngân hàng thu hút tập trung mọi nguồn vốn tiền tệ tạmthời nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế, dân cư để đầu tư cho quá trình mởrộng sản xuất, tăng trưởng kinh tế, đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn, thúc đẩylưu thông hàng hoá, tăng tốc độ chu chuyển vốn cho xã hội, góp phần thúcđẩy tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triểnbền vững.
Thông qua tín dụng NH, có thể kiểm soát được khối lượng tiền cungứng trong lưu thông, thực hiện yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ
Đặc biệt, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc cungcấp vốn cho nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ - bởichúng không đủ điều kiện để tham gia vào các thị trường vốn trực tiếp Caohơn thế, khả năng cung ứng vốn của tín dụng ngân hàng còn góp phần tăngnhịp độ tích tụ, tập trung vốn và tăng cường khả năng cạnh tranh giữa các
DN, giúp các DN khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế trong hoạt độngkinh doanh Đồng thời, tín dụng NH còn được sử dụng như công cụ để pháttriển các ngành kinh tế chiến lược theo yêu cầu của chính phủ; tạo điều kiện
mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài, là cầu nối cho việc giao lưu kinh tế
và phương tiện để thắt chặt mối quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới
Phân loại
Có nhiều tiêu chí để phân loại tín dụng Nếu phân chia các hình thứctín dụng của NHTM theo đối tượng vay vốn thì sẽ có ba hình thức tín dụnglà: tín dụng doanh nghiệp, tín dụng cá nhân và tín dụng hộ gia đình Trong
đó tín dụng doanh nghiệp là bộ phận quan trọng nhất, mang lại nguồn lợinhuận lớn nhất cho các NHTM bởi quy mô vốn trong hoạt động này rất lớn
Một số vấn đề về tín dụng doanh nghiệp
Trên cơ sở tìm hiểu về tín dụng NH có thể suy ra định nghĩa: Tíndụng DN là một quan hệ giao dịch về tài sản giữa NH và DN trong đó NH
Trang 10chuyển giao vốn bằng tiền cho DN sử dụng trong một thời hạn nhất địnhtheo thoả thuận, theo đó DN phải có nghĩa vụ hoàn trả vô điều kiện cả vốngốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Tín dụng doanh nghiệp là sự cung cấp một lượng giá trịtrên cơ sở lòng tin ở đây, ngân hàng tin tưởng là doanh nghiệp sử dụng vốnvay hiệu quả, khi đến hạn có đủ khả năng hoàn trả cả gốc và lãi
Tín dụng doanh nghiệp là sự chuyển nhượng một lượng giátrị có thời hạn, ngân hàng thường xác định rõ thời gian cho vay Việc xácđịnh thời hạn này dựa vào quá trình luân chuyển vốn của doanh nghiệp vàtính chất vốn của ngân hàng
Tín dụng doanh nghiệp là sự chuyển nhượng tạm thời mộtlượng giá trị trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc là lãi Có điều này là do vốncho vay của ngân hàng là vốn huy động của những người tạm thời thừa vốn,sau một thời gian phải trả lại cho người ký thác Ngoài ra, ngân hàng phải có
đủ nguồn bù đắp chi phí hoạt động, chi phí trả lãi vay nên người vay vốnphải trả thêm một khoản lãi
Bên cạnh đó, tín dụng doanh nghiệp có những đặc trưng riêng khácvới tín dụng cá nhân và tín dụng hộ gia đình Lượng giá trị cung cấp chohoạt động tín dụng doanh nghiệp thường lớn hơn, đi kèm với nó, yếu tố lòngtin cũng cần xem xét và phân tích kỹ hơn Còn thời hạn cho vay được xácđịnh phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2 VAI TRÒ CỦA PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANHNGHIỆP PHỤ VỤ PHÊ DUYỆT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNGTHƯƠNG MAI
1.2.1 Khái niệm phân tích tài chính
Trang 11Hiện nay, vẫn chưa có một quan niệm chính xác và cụ thể về phântích TCDN Vẫn còn có ý kiến cho rằng phân tích TCDN đơn thuần là phântích các chỉ tiêu tài chính đặc trưng Quan niệm này nhìn nhận vấn đề phântích TCDN một cách phiến diện, vì thế, kết quả phân tích có thể sẽ khôngchính xác Trong khuôn khổ khoá luận này người viết muốn nhìn nhận phântích TCDN như là một mắt xích nằm trong quá trình phân tích, đánh giákhách hàng nói chung, bao gồm phân tích hồ sơ pháp lý, phân tích năng lựctài chính, xem xét về khả năng nguồn vốn và nhu cầu vay vốn, đảm bảo tiềnvay, hiệu quả tài chính của dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinhdoanh (nếu có) Cán bộ tín dụng sẽ dựa vào những nguồn thông tin thunhập được để phân tích khả năng tài chính của DN thông qua các chỉ tiêu vềnguồn vốn của DN thông qua các chỉ tiêu về nguồn vốn của DN, nợ phải trả,TSCĐ, TSLĐ và các hệ số tài chính Kết quả phân tích tình hình tài chínhphải được đặt trong tương quan so sánh với kết quả của các khâu khác thìmới có được kết luận đúng đắn.
Với các nhìn nhận vấn đề như trên ta có thể hiểu một cách chung nhất
về phân tích tài chính như sau: “Phân tích tài chính là một tập hợp các kháiniệm, phương pháp và công cụ cho phép thu nhập và xử lý các thông tinkinh tế và các thông tin khác trong quản lý DN, nhằm đánh giá tình hình tàichính, khả năng và tiềm lực của DN, đánh giá mức độ rủi ro cũng như chấtlượng, hiệu quả hoạt động của DN đó"
1.2.2 Mục đích và phân tích tài chính
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm của họ khi cho các DN vay vốn
là hướng vào các yếu tố như: sự rủi ro, mức sinh lời, thời gian hoàn vốn, khảnăng thanh toán nợ Do đó họ cần phân tích những thông tin về điều kiệntài chính, tình hình sản xuất kinh doanh và các tiềm năng tăng trưởng của
DN Đồng thời các nhà đầu tư cũng rất quan tâm tới hiệu quả công tác quản
Trang 12lý và việc điều hành các hoạt động Đặc biệt, đối với các NHTM, cho vaychủ yếu hướng với vào khả năng trả nợ của khách hàng Tuy nhiên, việcphân tích tài chính đối với những khoản nợ dài hạn khác những khoản nợngắn hạn Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệtquan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của DN Nghĩa là khả năng ứngphó của DN đối với các món nợ khi đến hạn trả Nếu là những khoản chovay dài hạn, người cho vay phải tin chắc vào khả năng hoàn trả và khả năngsinh lời của DN mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽ phụ thuộc vào vào khả năngsinh lời này Kỹ thuật phân tích thay đổi theo bản chất và thời hạn của khoảnvay nhưng cho dù vay dài hạn hay vay ngắn hạn thì ngân hàng đều quan tâmđến cơ cấu tài chính - biểu hiện mức độ mạo hiểm của DN đi vay Do đó,phân tích tài chính DN nhằm đạt mục tiêu là giúp NH có thể nhìn nhận vàđánh giá một cách khái quát nhất tình hình sản xuất kinh doanh của DNtrong quá khứ, hiện tại cũng như định hướng phát triển trong tương lai nhằmđưa ra những quyết định đúng đắn Thông qua công tác phân tích, NHhướng tới các mục tiêu:
KH như: khối lượng vốn, thời gian sử dụng vốn và mục đích vay vốn củaKH
DN: giá trị tài sản, tình hình nợ, nhu cầu tài trợ, khả năng thanh toán, khảnăng sử dụng vốn để đánh giá năng lực của DN NH có thể dự báo nhucầu vốn ngắn hạn, trung và dài hạn Từ đó, có chiến lược huy động vốn phùhợp, tránh lãng phí và đạt hiệu quả cao NH thông qua tính trung thực củacác thông tin tài chính để có cái nhìn khách quan về nội lực của DN, đánhgiá khả năng thanh toán ở hịên tại và quyết định cho vay hay không cho vay,
số lượng bao nhiêu và rủi ro có thể gánh chịu như thế nào
lai của DN: khả năng hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời, khả năng
Trang 13hoàn trả nợ vay nhằm giúp NH xây dựng kế hoạch cho vay hợp lý NHđoán biết được xu hướng phát triển từng giai đoạn, từng lĩnh vực kinh tế, lập
kế hoạch cung cấp tín dụng hướng vào lĩnh vực có khả năng phát triểnmạnh Việc xây dựng kế hoạch tín dụng phù hợp góp phần nâng cao hiệuquả cho vay, đem lại lợi nhuận cao cũng như thực hiện những lợi ích xã hội
có thể xảy ra làm giảm khả năng trả nợ của KH Do đó, giúp ngân hàng cónhững biện pháp thích hợp để hạn chế rủi ro trong quá trình cho vay, tạo cơ
sở cho việc định giá các khoản vay
Để góp phần ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụngNHTM thì công tác phân tich đánh giá khách hàng mà đặc biệt là phân tíchtài chính đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động tín dụng nóiriêng và đối với toàn ngân hàng nói chung
Thứ nhất: Phân tích tài chính giúp các ngân hàng thương mại
có quyết định đầu tư đúng đắn
Thứ hai: Phân tích tài chính còn giúp ngân hàng đánh giá đượckhả năng thanh toán của doanh nghiệp làm cơ sở cho việc thu hồi vốn và lãicủa ngân hàng
Thứ ba: Phân tích tài chính là cơ sở cho việc đánh giá, xếp loạitín dụng từ đó đưa ra các biện pháp thích hợp để trích lập và phòng ngừa rủiro
Thứ tư: Công tác phân tích tài chính cho thấy những lợi ích vàtriển vọng mà ngân hàng và doanh nghiệp có được sau khi thiết lập mối liên
hệ giữa hai bên
1.3 NGUỒN THÔNG TIN LÀM CƠ SỞ CHO CÔNG TÁC PHÂN TÍCHTÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.3.1 Khái quát về nguồn thông tin tín dụng
Trang 14Thông tin tín dụng (đặc biệt là thông tin về DN) là thông tin về tàichính, dư nợ, bảo đảm tìền vay, tình hình hoạt động và thông tin pháp lý củakhách hàng có mối quan hệ với ngân hàng, thông tin về thị trường tiền tệ thịtrường vốn Trên cơ sở phân tích các thông tin đó, NH có thể nắm bắt đượctình hình kinh doanh cũng như khả năng trả nợ của DN.
Hoạt động thu nhập thông tin tín dụng là việc thu thập, tổng hợp,cung cấp, lưu trữ, phân tích xếp loại, dự báo, trao đổi, khai thác và xử lýthông tin nhằm góp đảm bảo an toàn hoạt động tín dụng của NH thông quangăn ngừa và hạn chế những rủi ro tín dụng
1.3.1.2 Mục đích và ý nghĩa
Hệ thống thông tin tín dụng được thiết lập nhằm:
Hình thành cơ sở dữ liệu tập trung về KH để phục vụcho công việc cấp tín dụng, phân tích và quản lý rủi ro rín dụng thông quaviệc tạo ra cơ chế thu thập, tổng hợp và xử lý, chia sẻ thông tin tín dụngtrong nội bộ hệ thống NH Thông tin tín dụng đầy đủ, chính xác và khoa họcgóp phần ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, đặc biệt là rủi ro do thiếu thông tinhoặc thông tin bất đối xứng về khách hàng và đối tượng đầu tư Mục đíchquan trọng nhất của hệ thống thông tin tín dụng là tìm kiếm và phát hiệnsớm các khoản tín dụng có vấn đề và đánh giá đúng mức độ rủi ro của cáckhoản nợ, đồng thời tiên liệu sớm khả năng một khoản tín dụng có thểchuyển sang nợ xấu
Tạo cơ sở nhằm thực hiện đầy đủ quy chế hoạt độngtín dụng, chế độ thông tin báo cáo và quy chế quản lý, cung cấp và khaithác, sử dụng thông tin tín dụng điện tử do NH ban hành
Giúp Hội đồng quản trị và Ban điều hành NH có căn
cứ xây dựng chiến lược, chính sách tín dụng và chiến lược quản lý rủi rotrong từng thời kỳ đối với từng đối tượng
1.3.1.3 Yêu cầu đối với thông tin tín dụng
Trang 15Các thông tin tín dụng về KH mà NH thu thập được phải đảm bảo cáctính chất sau:
Tính đầy đủ và kịp thời:
Theo định kỳ hoặc khi có phát sinh, các thông tin tín dụng về KHphải được thu thập, xử lý kịp thời để phản ánh chính xác mức độ rủi ro vànăng lực của KH trong việc thực hiện các nghĩa vụ với KH đồng thời giúp
NH có quyết định điều chỉnh đúng đắn Mọi KH có quan hệ tiền gửi và tiềnvay với NH hoặc những KH có uy tín lớn trên thị trường nhưng chưa từng
có quan hệ với NH đều phải được ghi chép, lưu trữ các thông tin liên quan
Thông tin tín dụng được thu thập từ các nguồn thông tin hợp lệ và cócăn cứ xác đáng Mọi thông tin có được từ các nguồn không hợp lệ chỉ cótính chất tham khảo, trừ khi có đủ bằng chứng để khẳng định
Thông tin tín dụng được thu thập từ những nguồn khác nhau, do đó
dễ xảy ra sự bất đối xứng về thông tin KH Trong trường hợp này, cán bộ tíndụng cần đảm bảo sự nhất quán thông tin về mỗi KH để tạo điều kiện choquá trình phân tích, đánh giá và ra quyết định phù hợp Các thông tin tíndụng cần phải được tập hợp, theo dõi tính liên tục theo thời gian ít nhất chođến khi KH chấm dứt quan hệ với NH
Thông tin phải được lưu giữ, bảo quản theo chế đội bảo mật như tàisản riêng cá của NH, chỉ riêng cán bộ có trách nhiệm liên quan đến hoạtđộng tín dụng và quản lý rủi ro của NH, được giám đốc, phó giám đốc chấpthuận mới được quyền truy cập, khai thác và sử dụng các thông tin tín dụngnày Nhưng cá nhân hay đơn vị không có trách nhiệm muốn được sử dụngthông tin tín dụng, cung cấp ra bên ngoài phải được cấp có thẩm quyền của
NH cho phép
Trang 16Thông tin tín dụng cá sản phẩm thông tin tín dụng phải được sử dụngđúng mục đích, trong phạm vi hoạt động tín dụng của NH Không đượccung cấp, sử dụng thông tin tín dụng cho các mục đích, hoạt động mà KHcấm Mọi thông tin tín dụng phải được cung cấp đúng địa chỉ và đối tượngnhận Người được phép sử dụng thông tin tín dụng cũng phải đúng mục đíchcho phép.
1.3.2 Nguồn thông tin tín dụng
Như đã nói ở trên, công tác phân tích tín dụng doanh nghiệp đòi hỏiphải có cái nhìn toàn diện, có sự so sánh theo thời gian Vì vậy, nguồnthông tin làm cơ sở cho công tác phân tích tín dụng doanh nghiệp cũng phải
là nguồn thông tin toàn diện và có chọn lọc Nó bao gồm cả những thông tintài chính và thông tin phi tài chính
1.3.2.1 Nguồn thông tin tài chính
CVKH thường thu thập các thông tin tài chính từ hồ sơ vay vốn của
KH thông qua các BCTC bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quảhoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tàichính
Bảng cân đối kế toán (BCĐKT)
Khái niệm: BCĐKT là một báo cáo tài chính tổng hợp, phảnánh một cách tổng quát tài sản hiện có của DN theo hai cách đánh giá là tàisản và nguồn hình thành tài sản tại thời điểm lập báo cáo Các chỉ tiêu củabảng báo cáo kế toán được phản ánh dưới hình thái giá trị và theo nguyêntắc cân đối là tổng tài sản bằng tổng nguồn vốn
Trang 17điểm Từ đó, cho phép ta đánh giá khái quát tình hình tài chính qua các chỉtiêu trên.
Các chỉ tiêu trong BCĐKT được phản ánh tại một thời điểmnhất định, thời điểm đó thường là vào cuối ngày của kỳ hạch toán Căn cứvào số liệu ở hai thời điểm đầu năm và cuối kỳ cho phép ta đánh giá nhữngbiến động của tài sản và nguồn vốn giữa các kỳ kế toán
Tầm quan trọng
BCĐKT là một tư liệu quan trọng trong công tác quản lý DN Thôngqua giúp các nhà phân tích đánh giá được tổng quát tình hình tài chính, khảnăng thanh toán, cơ cấu vốn cũng như trình độ sử dụng vốn và triển vọngkinh tế, tài chính trong tương lai
Báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD)
Báo cáo kết quả kinh doanh là một báo cáo tài chính phản ánh tómlược các khoản doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh của DNtrong một thời kỳ nhất định, bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh (hoạtđộng bán hàng và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và hoạt động khác)
Trước đây, BCKQKD gồm có 3 phần: phần I lãi, lỗ; phần II tìnhhình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước; phần III: thuế VAT được khấu trừnhưng theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC của bộ tài chính áp dụng cho tất cảcác DN thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước thìBCKQKD chỉ phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN saumỗi kỳ hoạt động Phần này có nhiều chỉ tiêu liên quan đến doanh thu, chiphí của hoạt động sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu liên quan đến thunhập, chi phí của từng loại hoạt động tài chính và các hoạt động khác cũngnhư toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
Tầm quan trọng
Trang 18Có thể nói các thông tin được trình bày trong BCKQKD có vai tròquan trọng và phục vụ đắc lực cho các NH trong công tác phân tích tài chính
KH khi đưa ra quyết định cho vay Đây là một bản báo cáo được các nhà lập
kế hoạch quan tâm vì nó vừa phản ánh tổng quát doanh thu, chi phí và tìnhhình hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ, lại vừa cho phép các nhà quản
lý và NH có thể dự tính xu hướng phát triển của DN trong tương lai
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT)
+ Tiền thu từ hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thukhác
+ Tiền chi trả cho người cung cấp hàng hoá và dịch vụ
+ Tiền chi trả cho người lao động
+ Tiền chi trả lãi vay
+ Tiền chi nộp thuế thu nhập DN
+ Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh
+ Tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh phản ánh chênh lệchgiữa tổng số tiền thu vào và tổng số tiền chi ra từ hoạt động kinh doanhtrong kỳ báo cáo
Trang 19 Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư: phản ánhtoàn bộ dòng tiền thu vào hoặc chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu
tư của DN bao gồm:
+ Tiền chi để mua sắm, xây dựng TSCĐ, các tài sản dài hạn khác.+ Tiền thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ, các tài sản dài hạn khác.+ Tiền chi cho vay, mua các công cụ nợ của đơn vị khác
+ Tiền thu hồi cho vay, bán lại các công cụ nợ của các đơn vị khác.+ Tiền chi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác
+ Tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào các đơn vị khác
+ Tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận được chia
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư phản ánh chênh lệch giữatổng số tiền thu vào và tổng số tiền chia ra từ hoạt động đầu tư trong kỳ báocáo
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính: phản ánh toàn bộ dòng tiềnthu vào hoặc chi ra liên quan đến hoạt động tài chính của DN bao gồm:
+ Tiền thu vào phát hành cổ phiếu, nhận vốn của chủ sở hữu
+ Tiền chi trả vốn góp cho các chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu của DN
đã phát hành
+ Tiền vay ngắn hạn, dài hạn nhận được
+ Tiền chi trả nợ gốc vay
+ Tiền chi trả nợ thuê tài chính
+ Cổ tức lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính phản ánh chênh lệchgiữa tổng số tiền thu vào và tổng số tiền chi ra từ hoạt động tài chính trong
kỳ báo cáo
Tổng hợp luồng tiền trong kỳ
Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ: phản ánh chênh lệch giữa tổng sốtiền thu vào và tổng số tiền chi ra từ ba loại hoạt động: hoạt động kinh
Trang 20Tiền và tương đương tiền đầu kỳ: chỉ tiêu này căn cứ vào số dư củatiền và tương đương tiền đầu kỳ báo cáo bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngânhàng, tiền đang chuyển (lấy từ BCĐKT) và số dư các khoản tương đươngtiền đầu kỳ được lấy trên sổ kế toán chi tiết tài khoản Đầu tư chứng khoánngắn hạn đối với cá khoản thoả mãn định nghĩa là tương đương tiền.
Chỉ tiêu ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá hối đoái quy đổi ngoại tệ: chỉtiêu này căn cứ vào tổng số chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dưcuối kỳ của tiền và các khoản tương đương tiền bằng ngoại tệ tại thời điểmcuối kỳ báo cáo
Tiền và tương đương tiền cuối kỳ: chỉ tiêu này căn cứ vào số dư củatìền và tương đương tiền cuối kỳ báo cáo, bao gồm tiền mặt, tiền gửi NH,tiền đang chuyển (lấy từ BCĐKT) và số dư các khoản tương đương tiềncuối kỳ được lấy trên sổ kế toán chi tiết tài khoản Đầu tư chứng khoán ngắnhạn đối với các khoản thoả mãn định nghĩa là tương đương tiền
ý nghĩa: Báo cáo này cho biết dòng tiền tăng lên (đi vào) vàgiảm xuống (đi ra) liên quan đến các hoạt động khác cũng như những nhân
tố tác động đến sự tăng hoặc giảm của dòng tiền lưu chuyển
Tầm quan trọng: BCLCTT có tác dụng quan trọng trongviệc phân tích, đánh giá khả năng thanh toán, khả năng đầu tư, khả năng tạo
ra tiền cũng như việc giải quyết các quan hệ tài chính trong DN
Khái niệm: là một bộ phận tập hợp hệ thống BCTC của DN,được lập để giải thích hoặc bổ sung thêm thông tin về tình hình hoạt động,SXKD, tình hình tài chính của DN trong kỳ báo cáo mà các BCTC kháckhông thể trình bày rõ ràng và chi tiết được
- Trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của DN
- Nội dung 1 số chính sách kế toán được DN lụa chọn và áp dụng
Trang 21- Tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồnvốn quan trọng
- Phân tích 1 số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và kiến nghị của DN
Tầm quan trọng
Thuyết minh BCTC cung cấp số liệu, thông tin để phân tích đánh giámột cách cụ thể chi tiết hơn về tình hình chi phí, thu nhập và kết quả hoạtđộng SXKD của DN, tình hình tăng giảm TSCĐ, vốn chủ sở hữu theo từngnguồn và lý do biến động, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời của DN,chế độ kế toán mà DN muốn áp dụng
1.3.2.2 Nguồn thông tin phi tài chính
Thông tin lưu trữ tại ngân hàng
Sau khi ngân hàng cấp tín dụng cho 1 DN, ngân hàng cần giữ lạinhững hồ sơ của DN đó làm tư liệu cho quá trình hoạt động sau này của
NH Nói đến thông tin lưu trữ tại NH là nói đến những thông tin mà NHtheo dõi và lưu trữ về những người đi vay khác nhau trong những lĩnh vựckinh doanh khác nhau Nếu một DN đã từng có quan hệ với NH thì nhữngthông tin về DN này có thể đã được NH lưu giữ, và có thể là một căn cứ kháquan trọng trong quá trinh NH phân tích quyết định xem có cho DN vay haykhông? Thông tin này sẽ cung cấp cho NH về hoạt động của DN trong quákhứ trong mối quan hệ so sánh với tình hình hiện tại, từ đó giúp cho nhữngquyết định của NH có căn cứ hơn, giảm thiểu rủi ro Tuy nhiên, hiệu quả mànguồn vốn thông tin này mang lại phụ thuộc vào chất lượng nguồn thôngtin, nói cách khác, phụ thuộc vào quá trình thu thập, xử lý và lưu giữ thôngtin trước đó của mỗi NH
Thông tin lưu giữ từ các cuộc điều tra, phỏng vấn
Đ ây là thông tin mang tính bổ sung, nó thường được dùng để kiểmtra tính chính xác và trung thực của hồ sơ từ khách hàng xin vay Để cóđược những thông tin này, cán bộ tín dụng phải trực tiếp xuống DN quan
Trang 22các biêm bản kiểm kê vật tư, hàng hóa, phỏng vấn những đối tượng có liênquan đến hoạt động của DN Chất lượng và sự đầy đủ của thông tin này phụthuộc vào sự khéo léo và khả năng ứng xử của người thu thập thông tin.
Khi điều tra, phỏng vấn, cán bộ tín dụng cần đặc biệt chú ý đến chế
độ kế toán mà DN áp dụng trong từng thời kỳ Sự thay đổi trong việc ápdụng chế độ kế toán như cách tính khấu hao, cách tính giá rất có thể làbiểu hiện gian lận của DN
Thông tin từ các phương tiện truyền thông
Đ ây là các thông tin mà NH có thể thu thập nhờ khoa học kỹ thuậthiện đại qua mạng internet, qua các phương tiện thông tin đại chúng nhưtruyền hình, báo chí, qua thông tin từ trung tâm thông tin tín dụng CIC Quacác phương tiện này, NH không chỉ nắm được những thông tin về bản thân
DN mà còn thu thập được những thông tin chung như tình hình phát triểnkinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật, sự thay đổi trong chính sách tiền tệ, hốiđoái quốc gia, thông tin về chỉ số giá cả, lạm phát Phải đặt những thông tin
về DN bên cạnh những thông tin chung này NH mới có được những đánhgiá đúng đắn về tình hình TCDN
Thông tin từ các nguồn khác
NH cũng có thể sử dụng thông tin từ các đối tác, bạn hàng của DN, từcác TCTD khác có mối quan hệ với DN, thông tin từ đối thr cạnh tranh của
DN, thông tin về ngành, nghề, lĩnh vực DN kinh doanh Đ ây chính là môitrường vi mô tác động trực tiếp đến tình hình SXKD của DN
Mỗi nguồn thông tin đều có những đặc điểm riêng, điểm tích cực vàtồn tại riêng Vì vậy, trước khi sử dụng một nguồn thông tin ấy để có thểsàng lọc, chọn ra thông tin đúng đắn phục vụ cho quá trình phân tích TCDN
Để làm được điều này, cán bộ tín dụng cần phải có năng lực thực sự
1.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH TÀICHÍNH DOANH NGHIỆP
1.4.1 Phương pháp so sánh
Trang 23Là phương pháp phổ biến được sử dụng trong phân tích để xác định
xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích Vì vậy, để tiến hành sosánh phải xác định số gốc để đặt ra điều kiện so sánh và mục tiêu so sánh.Gốc so sánh được chọn là gốc không gian và gốc thời gian, kỳ phân tíchđược chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể được chọnbằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân
Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉtiêu, số gốc để so sánh là trị số của chỉ tiêu ở kỳ trước với năm trước, thángnày với tháng trước
Khi nghiên cứu nhịp điệu thực hiện nhiệm vụ kinh doanh từngkhoảng thời gian trong một năm thường so sánh với cùng kỳ năm trước(tháng hoặc quý)
Khi đánh giá mức độ biến động so vói các mục tiêu đã dự kiến, trị sốthực tế sẽ được so sánh với các mục tiêu nêu ra
Ngoài ra so sánh giữa số liệu của DN với số liệu của ngành và củacác DN khác để đánh giá tình hình tài chính DN mình đang phân tích tốt hayxấu Có thể sử dụng so sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chitiết so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang theo nhiều kỳ để thấy sự biếnđổi cẩ về số tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ
kế toán khác nhau
1.4.2 Phương pháp phân tích tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượngchỉ tiêu này trong mối quan hệ tỷ lệ với các đại lượng của chỉ tiêu kháctrong DN Sự biến đổi này các tỷ lệ cố nhiên là sự biến đổi của các đạilượng tài chính Về nguyên tắc phương pháp phân tích tỷ lệ đòi hỏi cần phảixác định các ngưỡng, các chuẩn mực định mức để nhận xét đánh giá về tìnhhình kinh doanh của DN Tromg phân tích DN các tỷ lệ tài chính được phânchia thành các nhóm đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo mục
Trang 24tiêu hoạt động của DN Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, cơ cấuvốn, năng lực hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời
Mỗi nhóm tỷ lệ bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phậncủa hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độphân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phântích tài chính của mình
1.4.3 Phương pháp phân tích chi tiết
Mọi kết quả kinh donah đều cần thiết và có thể chi tiết theo nhữnghướng khác nhau Thường trong phân tích, phương pháp này được thực hiệntheo những hướng sau:
Chi tiết theo các bộ phận hoặc yếu tố cấu thành chỉ tiêu: Mọi kết quảhoạt động kinh doanh biểu hiện trên các chỉ tiêu đều bao gồm các bộ phậnchi tiết theo từng đối tượng với sự biểu hiện về lượng của các bộ phận đó sẽgiúp ích nhiều trong việc đánh giá chính xác kết quả đạt được
Chi tiết theo thời gian: kết quả kinh doanh của DN bao giờ cũng làkết quả của cả quá trình Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà tiến độ thựchiện thường không đồng đều Chi tiết theo thời gian thường giúo đánh giákết quả kinh doanh một cách sát đúng và tìm được các biện pháp thiết thựccho hoạt động kinh doanh Tuỳ đặc tính của quá trình kinh doanh, tuỳ nộidung kinh tế của từng thời kỳ phân tích và tuỳ mục đích phân tích khácnhau có thể lựa chọn khoảng thời gian cần chi tiết khác nhau và chỉ tiêukhác nhau phải chi tiết
Chi tiết theo địa điểm: kết quả sản xuất kinh doanh của DN là do các
bộ phận, các phân xưởng, các đội SXKD thực hiện Bởi vậy phương phápnày được sử dụng rộng rãi trong phân tích DN
1.4.4 Phương pháp phân tích tài chính Dupont
Thông thường phân tích tài chính của DN tập trung ở một vài hệ sốquan trọng chứ không chỉ riêng ở một hệ số Bản chất của phương pháp này
là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh mức sinh lời của DN thành tích số của
Trang 25chuỗi các tỷ số có quan hệ nhân quả với nhau, từ đó có thể phân tích ảnhhưởng của tỷ số đó đến tỷ số tổng hợp Đồng thời, đề xuất các quyết sáchphù hợp căn cứ trên mức độ tác động khác nhau để làm tăng tỷ suất sinh lời.
1.5 QUI TRÌNH VÀ NỘI DUNG PHÂN TÍCH
1.5.1 Quy trình phân tích
Phân tích trước khi cho vay
Trước khi ra quyết định cho vay, NH luôn phải xem xét phân tích kỹ
về KH ở mọi khía cạnh như: tư cách, uy tín của DN, năng lực pháp lý, nănglực tài chính, năng lực kinh doanh, điều kiện kinh doanh hay đánh giá cácphương án, dựa án đầu tư Quá trình này gọi là phân tích tín dụng (thẩmđịnh tín dụng) mà trong đó phân tích tài chính KH là một khâu quan trọng.Dựa trên những nguồn thông tin thu thập được NH tiến hành phân tích tìnhhình tài chính nhằm xác định tình hình sản xuất kinh doanh hiện tại, tiềmnăng tương lai và dự báo khả năng trả nợ Việc phân tích này ảnh hưởngtrực tiếp đến quyết định cho vay hay không cho vay của NH Chủ yếu là tậptrung vào phân tích khả năng sinh lời và phân tích rủi ro từ đó xác định khả
Tỷ suất lợi nhuận VCSH
=
Trang 26năng trả nợ, thông qua một số chỉ tiêu: doanh lợi doanh thu, doanh lợi tàisản, hệ số vòng quay tài sản
Khả năng sinh lợi của KH là khả năng lâu dài và liên tục của mộtkhách hàng trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính gắn liền với khả năngtạo lợi nhuận Đ ây là vấn đề quan tâm hàng đầu của NH vì nếu DN kinhdoanh không có lãi thì rủi ro rất cao, không trả được gốc nói chi đến trả lãi.Nghiên cứu khả năng sinh lợi của KH trong quá khứ và hiện tại sẽ giúp NH
dự đoán được khả năng trả nợ trong tương lai, tránh được những rủi ro cóthể xảy ra NH dựa trên những số liệu của BCĐKT như tỷ lệ thanh toán,năng lực hoạt động, khả năng cấn đối vốn để xác định tính lành mạnh, antoàn về tài chính cảu KH, tránh nguy cơ không thu hồi được nợ
Phân tích trong khi cho vay
Trên cơ sở phân tích KH trước khi cho vay, NH nếu chấp nhận đồng
ý cho vay thì phải thực hiện phân tích trong khi cho vay Tuy quyền sử dụngvốn đã trao cho KH nhưng NH có quyền lợi và trách nhiệm theo dõi, giámsát các khoản vay xem nó có được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả haykhông? Theo dõi món vay dưới góc độ công tác phân tích tài chính KH baogồm các công việc: xác định nguồn trả nợ, phân tích lại các chỉ tiêu tài chínhcăn cứ vào các BCTC trong các kỳ kế toán tiếp theo mà KH có nghĩa vụ gửicho NH Việc phân tích này giúp NH thấy hiệu quả của đồng vốn cho vayđược DN sử dụng, thấy tình hình SXKD có diễn ra đúng điều kiện haykhông, có xu hướng biến động tốt hay xấu để đưa ra phương án như thu hồi
từ KH trả nợ sớm hoặc bổ sung thêm tài sản thế chấp, cầm cố
Phân tích sau khi cho vay
Quan hệ tín dụng giữa NH và KH kết thúc khi NH thu hồi được đủvốn gốc và lãi Các khoản tín dụng hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là nhữngkhoản tín dụng an toàn Còn những khoản vay không an toàn, NH phải phântích các nguyên nhân và đề ra phương pháp xử lý, có thể gia hạn nợ nếuthấy DN có khả năng phục hồi trong tương lai hay quyết định phát mãi tài
Trang 27sản để tránh rủi ro NH luôn phải theo sát hoạt động của DN, khi KH cónguồn thu thì lập tức thu hồi nợ.
Để thực hiện một khoản tín dụng đối với KH một cách an toàn vàhiệu quả, NH luôn phải đống thời tiến hành phân tích và tổng hợp kết quảcủa cả 3 giai đoạn này để có hướng giải quyết đúng đắn nhất
1.5.2 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.5.2.1 Kiểm tra tính chính xác của các báo cáo tài chính
Các BCTC, kể cả các BCTC đã được kiểm toán nhiều khi không chỉđược mô tả theo hướng tích cực có dụng ý mà còn có thể vô tình sai lệch.Việc kiểm tra bao gồm các yếu tố sau:
Nguồn số liệu, dữ liệu do NH lập, số liệu đã qua kiểm toán
Chế độ kế toán áp dụng, nguyên tắc hạch toán
Thẩm quyền phê duyệt (cơ quan chủ quyền cấp trên, cơ quanthuế )
Nội dung, số liệu khớp đúng của các BCTC
1.5.2.2 Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Đánh giá khái quát tình hình tài chính qua bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh mộtcách tổng quát toàn bộ tài sản hiện có của DN theo hai cách đánh giá là tàisản và nguồn hình thành tài sản tại thời điểm lập báo cáo Các chỉ tiêu củaBCĐKT được phản ánh dưới hình thức giá trị theo nguyên tắc cân đối làtổng tài sản bằng tổng nguồn vốn
Các chỉ tiêu thuộc phần tài sản phản ánh dưới hình thái giá trị quy
mô, kết cấu các lợi tài sản như tài sản bằng tiền, tài sản tồn kho, các khoảnphải thu, tài sản cố định mà DN hiện có
Các chỉ tiêu thuộc phần nguồn vốn phản ánh quy mô, kết cấu và đặcđiểm sở hữu các nguồn vốn đã được DN huy động vào sản xuất kinh doanh
Trang 28Số liệu ở phần tài sản phản ánh số tài khoản đang thuộc quyền quản
lý, sử dụng của DN Còn các số liệu ở phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm
về mặt vật chất của DN đối với các đối tượng cấp vốn cho DN
Việc xem xét các số liệu trước đây về tình hình nguồn vốn và sử dụngvốn là quan trọng, song chúng ta cũng cần phải đặc biệt chú ý tới việc dựbáo tình hình nguồn vốn, sử dụng vốn và điều kiện tài chính của nguời xinvay trong tương lai Ngân hàng thường yêu cầu khách hàng chuẩn bị các sốliệu dự tính và sau đó cán bộ phân tích tín dụng sẽ chuẩn bị tài liệu dự tínhcủa riêng họ và sẽ sử dụng hai nguồn thông tin này để so sánh
Bởi vì khoản mục nợ khác dự tính được bổ sung có thể làm giảm khảnăng thu hồi nợ của ngân hàng đối vói khách hàng nên cán bộ tín dụng phảixác định một cách chính xác bằng cách nào khách hàng sẽ có được cáckhoản vốn dự định vay thêm và ước tính hậu quả xấu nhất có thể xảy ra chongân hàng
Các cán bộ tín dụng có kinh nghiệm đều biết rằng, trong hầu hết cáctrường hợp, khách hàng thường lạc quan hơn và đánh giá chủ quan hơn vềtương lai so với một nhà ngân hàng Vì vậy ngân hàng cần phân tích giảđịnh về điều kiện tài chính tương lai của DN trên cơ sở những mức giá giảđịnh đối với những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh cả
DN và xem xét kết quả về tình hình thu nhập, tình hình nguồn vốn và việc
sử dụng các quỹ dự báo của DN Phòng tín dụng có thể hướng tới một quyếtđịnh tín dụng thoả đáng hơn dựa trên việc đánh giá những điều kiện tươnglai có thể xảy ra trên thị trường trong nước và trên thế giới
Đánh giá khái quát tình hình tài chính qua báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính tổnghợp phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của DNtrong một thời kỳ, chi tiết theo từng loại hoạt động, tình hình thực hiện
Trang 29nghiã vụ của DN đối với Nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác Sốliệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp về phương thứckinh doanh, về việc sử dụng các tiềm năng vốn, lao động, kỹ thuật, kinhnghiệm quản lý của DN và chỉ ra rằng các hoạt động kinh doanh đó đem lạilợi nhuận hay gây ra tình trạng lỗ vốn.
Mục tiêu của phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là xácđịnh, phân tích mối quan hệ và đặc điểm của các chỉ tiêu trong báo cáo kếtquả kinh doanh, so sánh chúng qua một số niên độ kế toán liên tiếp và sốliệu trung bình của ngành để đánh giá kết quả kinh doanh và xu hướng biếnđộng của các chỉ tiêu đó theo thời gian
Phân tích các chỉ tiêu tài chính
Do các số liệu báo cáo tài chính chưa lột tả được hết thực trạng tàichính của DN, nên các nhà tài chính đã dùng các hệ số tài chính để giảithích thêm các mối quan hệ tài chính Mỗi một DN ở những thời điểm khácnhau cũng có các hệ số tài chính không giống nhau Người ta coi các hệ sốtài chính là biểu hiện đặc trưng nhất về tình hình tài chính của DN trong mộtthời kỳ nhất định Đứng dưới giác độ ngân hàng các tỷ số tài chính này sẽđược dùng để so sánh giữa các kỳ hay so sánh số đầu kỳ với số cuối kỳ, sosánh với các chỉ số trung bình của ngành, sau đó tuỳ theo mức độ quan trọngcủa từng hệ số, các ngân hàng sẽ tiến hành cho điểm và đánh giá Có bốnnhóm chỉ tiêu chủ yếu dùng để phân tích tài chính doanh nghiệp
Nhóm I: Chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Đây là nhóm chỉ tiêu mà không riêng gì NH mà rất nhiều đối tượngkhác quan tâm như: các nhà đầu tư, nhà cung cấp, cán bộ công nhân viên Phân tích tình hình thanh toán của DN đối với các khoản nợ trước đây rấtquan trọng vì nó phản ánh được phần nào mức độ tín nhiệm hay sự sẵn snàgchi trả của DN trong việc thực hiện các nghĩa vụ nợ và khả năng tài chính
Trang 30của nó Một DN có lịch sử thanh toán lành mạnh, sòng phẳng sẽ an toàn hơnmột DN luôn có nợ khó đòi hay quá hạn.
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành thể hiện mối quan hệ giữa tổngtài sản mà hiện nay DN đang quản lý, sử dụng với tổng số nợ phải trả (nợngắn hạn, nợ dài hạn )
Tổng TSTổng NPTNếu hệ số này < 1 là báo hiệu sự phá sản của DN, VCSH bị mất toàn
bộ, tổng tài sản hiện có (tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn) không đủ trả nợ
mà DN phải thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn thể hiện mối quan hệ giữa tàisản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắnhạn đo lường khả năng mà các tài sản ngắn hạn thể chuyển đổi thành tiền đểhoàn trả các khoản nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải thanhtoán trong kỳ, do đó doanh nghiệp phải dùng tài sản thực có của mình đểthanh toán bằng cách chuyển đổi một bộ phận tài sản thành tiền Mà trong
số tài sản hiện DN đang quản lý sử dụng thì chỉ có tài sản ngắn hạn là cókhả năng chuyển đổi thành tiền dễ dàng hơn cả Do đó hệ số khả năng thanhtoán nợ ngắn hạn được xác định theo công thức:
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Nếu hệ số này cao, có thể đem lại sự an toàn về khả năng bù đắp cho
sự giảm giá trị của tài sản lưu động Điều đó thể hiện tiềm năng thanh toáncao so với nghĩa vụ phải thanh toán Tuy nhiên một số DN hệ số này caocũng có thể do DN đó đã đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn , một sự đầu
tư không mang lại hiệu quả Mặt khác, trong toàn bộ tài sản ngắn hạn của
Hệ số khả năng thanh toán hiện h nh ành
=
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn
=
Trang 31DN khả năng chuyển hoá thành tiền của các bộ phận là khác nhau trong đócủa bộ phận hàng tồn kho được coi là kém nhất Do vậy, để đánh giá khảnăng thanh toán một cách khắt khe hơn, có thể sử dụng hệ số khả năngthanh toán nhanh.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tài sản NH- HTK
Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số này đo lường khả năng thanh toán của các khoản nợ ngắn hạncủa DN bằng việc chuyển đổi tài sản lưu động, không kể hàng tồn kho Tuynhiên nhiều trường hợp tuy DN có hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
và hệ số khả năng thanh toán nhanh cao nhưng vẫn không có khả năngthanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn thanh toán do các khoản phải thuchưa thu hồi được, hàng tồn kho chưa chuyển hoá được thành tiền Bởi vậy,muốn biết khả năng thanh toán ngay của DN tại thời điểm xem xét, NH cóthể sử dụng chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Tiền + tương đương tiềnTổng Nợ ngắn hạnNhìn chung hệ số khả năng thanh toán hiện hành nên ở mức bằng 2,
hệ số khả năng thanh toán ngay nên ở mức bằng 1 và hệ số khả năng tứcthời nên ở mức bằng 0.5 là hợp lý Tuy nhiên trong thực tế các hệ số nàyđược chấp nhận là cao hay thấp còn phụ thuộc vào đặc điểm, tính chất kinhdoanh, mặt hàng kinh doanh của mỗi ngành kinh doanh, cơ cấu chất lượngcủa TSLĐ, hệ số quay vòng của TSLĐ trong mỗi loại hình DN Do đó, cáchxem xét tốt nhất là so sánh cá hệ số khả năng thanh toán của DN với hệ sốtrung bình ngành để có thể đưa ra nhận xét đúng đắn về khả năng thanh toáncủa DN
Hệ số khả năng thanh toán tiền lãi vay
Hệ số khả năng thanh toán tức thời
=
Trang 32Lãi vay phải trả
Hệ số này nói lên trong kỳ DN đã tạo lợi nhuận gấp bao nhiêu lần lãiphải trả về tiền vay Hệ số này càng cao thì rủi ro mất khả năng chi trả lãivay càng thấp và ngược lại Thông thường hệ số này được các chủ nợ chấpnhận ở mức hợp lý khi nó lớn hơn hoặc bằng 2
Nhóm II: Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài chính
Các DN luôn thay đổi tỷ trọng các loại vốn theo hướng hợp lý (kếtcấu tối ưu) Nhưng kết cấu này luôn bị phá vỡ do tình hình đầu tư Vì vậy,nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản, tỷ suất tự tài trợ sẽ cung cấpcho các nhà quản trị tài chính cũng như cán bộ ngân hàng một cách nhìntổng quát về sự phát triển lâu dài của DN
Cơ cấu nguồn vốn
Phản ánh bình quân trong một đồng vốn kinh doanh hiện nay DNđang sử dụng có mấy đồn vay nợ, hoặc có mấy đồng VCSH Hệ số nợ và hệ
số VCSH là 2 tỷ số quan trọng nhất phản ánh cơ cấu nguồn vốn
Hệ số nợ = Nợ phải trả
Tổng nguồn vốn
Vốn chủ sở hữuTổng nguồn vốn
Hệ số nợ cho biết trong một đồng vốn kinh doanh có mấy đồng hìnhthành từ vay nợ bên ngoài, còn hệ số VCSH lai đo lường sự góp vốn củachủ sở hữu trong tổng nguồn vốn hiện có của DN Vì vậy, hệ số VCSHngười ta còn gọi là hệ số tự tài trợ
Qua nghiên cứu hai chỉ tiêu tài chính này ta thấy được mức độ độclập hay phụ thuộc của DN đối với các chủ nợ, hoặc mức độ tự tài trọ của
DN đối với vốn kinh doanh của mình Tỷ suất tự tài trợ càng lớn chứng tỏ
Hệ số vốn chủ sở hữu
=
Trang 33DN có nhiều vốn tự có, có tính độc lập cao với các chuqr nợ, do đó không bịràng buộc hoặc bị sức ép của các khoản nợ vay Ngân hàng khi tự tài trợ vốncho DN thường mong muốn tỷ suất tự tài trợ cao vì trong trường hợp rủi roxảy ra, ngân hàng vẫn còn khả năng hy vọng được
thanh toán nợ bằng chính nguồn VCSH, việc cho vay vì thế sẽ có tính
an toàn cao hơn
Đối với DN họ thường mong muốn hệ số nợ cao vì họ được sử dụngmột lượng tài sản lớn mà chỉ đầu tư vào một lượng vốn nhỏ, nhưng dướigiác độ là ngân hàng, các ngân hàng mong muốn hệ số nợ này thấp, càngnhỏ so với hệ số trung bình của ngành càng tốt Hệ số này có thể được chấpnhận ở mức nhỏ hơn hoặc bằng 0.5
Cơ cấu tài sản
Cơ cấu tài sản phản ánh khi DN sử dụng bình quân một đồng vốnkinh doanh thì dành ra bao nhiêu để hình thành TSNH, còn bao nhiêu đểđầu tư vào tài sản dài hạn, còn bao nhiêu để đầu tư vào TSDH Cơ cấu tàisản của DN được phân tích qua 2 chỉ tiêu sau đây:
Tài sản dài hạnTổng Tài sản
Tài sản ngắn hạnTổng Tài sản
Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn càng lớn càng thể hiện tầm quantrọng của TSCĐ trong tổng tài sản mà DN đang sử dụng vào kinh doanhphản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất và xuhướng phát triển lâu dài cũng như khả năng cạnh tranh của DN Tuy nhiên,
để kết luận tỷ suất này là tốt hay xấu còn phụ thuộc vào ngành nghề kinh
Tỷ suất đầu tư v o t i sành ành ản d i ành
hạn =
Tỷ suất đầu tư v o t i sành ành ản ngắn
hạn =
Trang 34 Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn
Vốn chủ sở hữuTài sản dài hạn
Tỷ số này cho biết vốn chủ sở hữu của DN dùng để trang bị TSCĐ vàđầu tư dài hạn là bao nhiêu?
Tỷ suất này nếu > hoặc = 1 chứng tỏ DN có khả năng tài chính vữngvàng và lành mạnh nên việc cho vay của NH có độ an toàn cao
Tỷ suất này nếu < 1 thì chứng tỏ một bộ phận của TSCĐ được tài trọbởi vốn vay, và đặc biệt mạo hiểm khi đây là vốn vay ngắn hạn
Như vậy, nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài chính bao gồm: nhóm rủi
ro tài chính (hệ số nợ) và nhóm tự chủ tài chính (hệ số tự tài trợ) Nhóm rủi
ro tài chính có hệ số càng thấp tức là nhóm tự chủ tài chính có hệ số càngcao thể hiện sự an toàn trong việc cấp tín dụng của NH
Nhóm III: Chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động
Các chỉ số này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản củamột DN bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dướicác tài sản khác nhau
Vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quânluân chuyển trong kỳ
Giá vốn hàng bánHàng tồn kho bình quân
Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện hiệu quả sử dụng vốn của
DN Hệ số này được tính toán và so sánh với hệ số chung của ngành Sốvòng quay HTK càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt, bởi lẽ
DN chỉ đầu tư cho HTK thấp nhưng vẫn đạt được doanh số HTK hợp lý
Ngoài ra người ta còn sử dụng chỉ tiêu số ngày một vòng quay HTK:
Số ngày trong kỳ
Tỷ suất tự t i trành ợ t i sành ản d i ành
hạn =
Hệ số vòng quay h ng tành ồn kho =
Trang 35Số vòng quay hàng tồn kho
Số ngày trong kỳ thường quy ước là một năm tức là 360 ngày Khi sốvòng quay HTK lớn hơn thì số ngày của một vòng quay HTK càng được rútngắn, hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại
Vòng quay các khoản phải thu
Phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của
DN được xác định bằng công thức:
Tổng doanh thu
Số dư bình quân các khoản phải thu
Số dư bình quân các khoản phải thu được tính theo phương pháp bìnhquân điều hoà của khoản mục phỉa thu trên BCĐKT Doanh thu được tính ởđây chính là tổng doanh thu (thuần) từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạtđộng tài chính và các hoạt động bất thường của DN
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoảnphỉa thu thành tiền mặt của DN Vòng quay các khoản phải thu càng lớnchứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh, doanh nghiệp ít chiếmdụng vốn
Kỳ thu tiền trung bình
Số ngày trong kỳVòng quay các khoản phải thu
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được cáckhoản phải thu Điều này rất có ý nghĩa trong việc lựa chọn thời điểm thuhồi vốn và lãi của NH Kỳ thu tiền bình quân càng ngắn thì càng tốt vì thờigian DN bị chiếm dụng vốn sẽ càng ngắn Tuy nhiên, kỳ thu tiền cao haythấp trong nhiều trường hợp chưa có kết luận chắc chắn, mà còn phải xemxét lại các mục tiêu và chính sách của DN như: mục tiêu mở rộng thị trường,chính sách tín dụng của DN Mặt khác, dù chỉ tiêu này có thể được đánh giá
là khả quan, nhưng DN cũng cần phải phân tích kỹ hơn vì tầm quan trọng
Vòng quay các khoản phải thu
=
Kỳ thu tiền trung bình =
Trang 36của nó là kỹ thuật tính toán đã che dấu đi các khuyết tật trong việc quản trịcác khoản phải thu.
Vòng quay tài sản ngắn hạn
Doanh thu thuầnTài sản ngắn hạn bình quânChỉ tiêu này thể hiện hiệu quả sử dụng tài snả ngắn hạn cảu DN Sosánh số vòng quay TSNH của DN với chỉ số vòng quay TSNH chung củacác DN trong cũng ngành, vòng quay càng lớn, tài sản ngắn hạn càng đượcluân chuyển nhanh, hiệu quả sử dụng TSNH càng cao
Ngoài ra người ta có thể sử dụng chỉ tiêu số ngày một vòng quay tàisản ngắn hạn để phản ánh trung bình một vòng quay quay hết bao nhiêungày
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
DTT + DTHĐTC + TN khácTổng Tài sản bình quân
Qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản của
DN hoặc doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản mà DN đầu tư
Trang 37So với kỳ trước, hệ số giảm phản ánh sức sản xuất của tổng tài sảngiảm và ngược lại
Nhóm IV: Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
Các chỉ tiêu sinh lời luôn được các nhà quản trị tài chính quan tâm.Chúng là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh trong một thời kỳ nhất định, là đáp số cuối cùng của hiệu quả kinhdoanh
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Lợi nhuận sau thuếDoanh thu thuầnChỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợinhuận ròng Tất nhiên, hệ số này càng cao càng tốt nhưng còn phu thuộc rấtnhiều vào tỷ lệ thuế TNDN của mỗi nước và DTT Nếu DTT lớn giá bántăng cao thì sự bền vững và khả năng cạnh tranh của sản phẩm kém, nhưngnếu hệ số cao vì DTT quá thấp nói lên việc sản xuất kinh doanh của DNkém hiệu quả
Tỷ suất lợi nhuận tổng tài sản
Tổng lợi nhuận trước hoặc sau thuế
Tổng tài sản bình quânPhản ánh cứ 100 đồng tài sản đưa vào sản xuất kinh doanh mang lạibao nhiêu đồng lợi nhuận Trong điều kiện bình thường chỉ tiêu này cànglớn chứng tỏ khả năng sinh lời của tài sản càng tốt
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận sau thuếVốn chủ sở hữu bình quânChỉ tiêu này đặc biệt quan trọng đối vói những người muốn tham giagóp vốn nhằm chia sẻ quyền sở hữu DN và với những người đang sở hữu
DN Nó cho biết chủ DN bỏ ra 100 đồng vào hoạt động kinh doanh trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận tổng t i sành ản
=
x 100%
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở
hữu =
Trang 38Tóm lại, nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của DN thể hiệnkết quả SXKD của DN từ đó làm cơ sở cho việc phân tích để ra quyết địnhtín dụng của NH.
Những DN nào có tỷ lệ sinh lợi cao, việc cho vay của NH càng antoàn Tuy nhiên, không phải chỉ có những DN làm ăn có lãi mới được NHxem xét cấp tín dụng mà trên thực tế có trường hợp hoạt động kinh doanhcủa DN không có lợi nhưng đang có xu hướng cải thiện và các chỉ số thanhtoán, chỉ tiêu hoạt động được đánh giá là tốt các ngân hàng bên cạnh việc
tư vấn cho khách hàng vẫn ra quyết định cấp tín dụng cho họ
C Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp cho NH những thông tin cực kỳquan trọng để hỗ trợ cho việc phân tích, đánh giá DN như: nhu cầu tiền của
DN, dòng tiền vào của DN, thời gian thu hồi tiền của DN, tính hiệu quảtrong việc sử dụng tiền không bị lãng phí Từ những thông tín trên NH sẽphân tích tình hình lưu chuyển tiền tệ của DN và đánh giá được:
- Dòng tiền được tạo ra từ hoạt động SXKD của DN có đủ lớn để trả
nợ và tài trợ cho các dự án phương án hay không?
- DN đang hoạt động có vượt khả năng hay không?
NH sẽ lập dự báo về lưu chuyển tiền tệ, tính toán được thời gian DN
có nhu cầu vay và thời điểm DN có thể trả nợ
NH thường sử dụng một số chỉ tiêu sau cho việc đánh giá quá trìnhlưu chuyển tiền tệ của DN:
CFOTổng NPT bq
Trong đó, CFO (Cash flow from operation) lưu chuyển tiền từ hoạtđộng kinh doanh
Hệ số thanh toán nợ bằng tiền
=
Trang 39Theo kinh nghiệm của một số NH, tuỳ vào từng ngành, nghề mà hệ
số này nằm trong khoảng 20- 30% sẽ đảm bảo cho DN có thể thanh toánđược nợ
Trong đó: CFI (Cash flow of investment)- lưu chuyển tiền từ hoạtđộng đầu tư
Hệ số này cho NH thấy tiền được tạo ra trong hoạt động kinh doanh
có đủ lớn để tài trợ cho hoạt động đầu tư của DN hay không
Hệ số chung về = CFI CFOCFO
lưu chuyển tiền tệ
Trong đó: CFF (Cash flow of finance) lưu chuyển tiền từ hoạt độngtài chính
Hệ số này dùng để tính lượng tiền dùng cho cả hoạt động đầu tư vàhoạt động tài chính
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn bằng
tiền =
Trang 40CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐỌC, HIỂU VÀ PHÂN TÍCHBÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ PHÊ DUYỆT CHOVAY TẠI VIETINBANK _ CHI NHÁNH NAM THĂNG LONG
2.1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA VIETINBANK
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Vietinbank chi nhánh Nam Thăng Long
Ngân hàng công thương Việt Nam chi nhánh Nam Thăng Long tiềnthân là ngân hàng công thương quận Cầu giấy, là ngân hàng thương mạiquốc doanh, trực thuộc ngân hàng công thương Việt Nam, được thành lậpvào tháng 3 năm 2001 có trụ sở hiện nay tại 117A Hoàng Quốc Việt, quậnCầu giấy, Hà Nội Thực hiện nghị định 53/HĐBT về tổ chức bộ máy ngânhàng nhà nước Việt Nam, ngày 26 tháng 03 năm 1988, hệ thống ngân hàngnhà nước Việt Nam chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thốngngân hàng hai cấp Theo đó, ngân hàng nhà nước Việt Nam quận Cầu giấyđược chuyển thành ngân hàng công thương quận Cầu giấy, trực thuộc ngânhàng công thương thành phố Hà Nội Do vậy, chi nhánh ngân hàng côngthương Cầu giấy là một chi nhánh của ngân hàng công thương Việt Namthực hiện kinh doanh tiền tệ tín dụng, dịch vụ ngân hàng và kinh doanhngoại hối với phạm vi hoạt động chủ yếu trên địa bàn thành phố Hà Nội vàquận Cầu giấy
Chi nhánh NHCT Nam Thăng Long là ngân hàng cấp 1, hoạt độngđược gần 10 năm, là một ngân hàng có tiến độ phát triển nhanh và toàn diện,với quy mô đầy đủ các phòng ban chức năng theo quy định của ngân hàngcông thương Việt Nam
Trong những năm qua, NHCT chi nhánh Nam Thăng Long đã thựchiện tốt chức năng của mình là một trung tâm tiền tệ, tín dụng, thanh toánvới các thành phần kinh tế, huy động mọi nguồn vốn trong dân cư thúc đẩy