Xét về mặt bản chất kinh tế, bán hàng là có sự thay đổi quyền sở hữu hàng hóa, thành phẩm, sau đó người bán thu được tiền nhưng mất quyền sở hữu hàng hóa, còn người mua phải trả tiền để
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện để xã hội loài người tồn tại và phát triển Cùng với xã hội, các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng mở rộng và phát triển không ngừng Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, Nhà nước giao quyền tự chủ về tài chính, quyền tổ chức sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, lãi doanh nghiệp được hưởng, lỗ doanh nghiệp phải chịu, doanh nghiệp phải tôn trọng và thực hiện tốt nguyên tắc tự hạch toán kinh doanh “lấy thu bù chi và có lãi hợp lý” Nói cách khác, các doanh nghiệp phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào, giữa sản xuất và tiêu thụ Có quản lý tốt quá trình sản xuất sản phẩm đồng thời tích cực tìm kiếm thị trường, tăng nhanh doanh thu tiêu thụ thì doanh nghiệp mới
có điều kiện tăng khả năng cạnh tranh, tạo thế và lực vững chắc trên thị trường
Đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kế toán là một công cụ, bộ phận không thể thiếu trong quản lý kinh tế, nhờ có những thông tin kế toán cung cấp, lãnh đạo của doanh nghiệp mới nắm bắt được mọi tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình, từ đó có thể đưa ra các quyết định đúng đắn phù hợp và kịp thời
Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng là một bộ phận của công tác kế toán trong doanh nghiệp Không thể phủ nhận vai trò của nó trong việc quản lý giá vốn hàng bán và là cơ sở để xác định giá bán cho phù hợp, cung cấp số liệu về tình hình tiêu thụ và kết quả hoạt động bán hàng của doanh nghiệp Vì vậy việc tổ chức công tác kế toán như thế nào để một mặt phản ánh, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, mặt khác vẫn đảm bảo đúng chế
độ kế toán do Nhà nước ban hành là vấn đề hết sức quan trọng
Xuất phát từ vai trò của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng, đồng thời thông qua quá trình thực tập, tìm hiểu tình hình thực tế kế toán đối với các phần hành kế toán và tìm hiểu kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại công ty TNHH NN một TV Giày Thượng Đình Em đã mạnh dạn
chọn đề tài nghiên cứu: “Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở công ty TNHH NN một thành viên Giày Thượng Đình” Mục tiêu
của đề tài là vận dụng lý luận hạch toán kế toán về bán hàng và xác định kết
Trang 2quả bán hàng nghiên cứu thực tiễn ở công ty TNHH NN một TV Giày Thượng Đình.
Bố cục luận văn của em gồm 3 chương:
Chương 1: Lí luận chung về hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở các doanh nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng công tác hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở công ty giày Thượng Đình
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở công ty giày Thượng Đình
Là một đề tài nghiên cứu khoa học Do thời gian cũng như khả năng nghiên cứu còn hạn chế, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết nhất định Em kính mong nhận được sự góp ý, bổ sung của các thầy cô giáo trong bộ môn và các cô, các chú trong phòng Kế toán tài chính của công
ty để đề tài luận văn của em có chất lượng hơn nữa
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo thạc sỹ Nguyễn Văn Dậu cùng các thầy cô giáo trong bộ môn kế toán của trường Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo công ty, các cô, các chị trong phòng kế toán tài chính của công ty đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành bài luận văn cuối khóa này
Trang 3CHƯƠNG 1:
Lí luận chung về hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán
hàng ở các doanh nghiệp sản xuất.
1.1.Sự cần thiết của quản lý hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở các doanh nghiệp sản xuất.
1.1.1 Khái niệm về bán hàng và đặc điểm bán hàng:
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp cùng sản xuất, tồn tại, cạnh tranh và bình đẳng trước pháp luật Vì vậy, nếu trước kia các doanh nghiệp chỉ lo sản xuất đủ về kế hoạch để giao nộp cho nhà nước, thì nay không đơn thuần chỉ là sản xuất mà còn phải đưa công tác tiêu thụ lên hàng đầu Bán hàng là một trong những chiến lược hết sức quan trọng quyết định sự thành bại của các doanh nghiệp
Đứng trên góc độ luân chuyển vốn, bán hàng là quá trình chuyển hóa vốn kinh doanh từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ (H - T), làm cho vốn trở lại hình thái ban đầu khi nó bước vào mỗi chu kì sản xuất Thông qua quá trình này, nhu cầu người tiêu dùng về mặt giá trị sử dụng được thỏa mãn
và giá trị hàng hóa được thực hiện
Quá trình tái sản xuất được bắt đầu khi vốn bằng tiền được chuyển hóa thành vốn dưới dạng hình thái vật chất, vốn dưới hình thái vật chất được đưa vào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm, hàng hóa được tạo ra đem đi tiêu thụ và kết quả của tiêu thụ là doanh thu tiêu thụ, sẽ thu được tiền về Khi đó đồng vốn của doanh nghiệp lại từ hình thái ban đầu của nó là hình thái tiền tệ, đây là một chu kì kinh doanh, vốn tiền tệ lại sử dụng lặp lại theo đúng chu kỳ
mà nó đã trải qua
Như vậy bán hàng là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hóa thông qua 2 giai đoạn: doanh nghiệp cung cấp sản phẩm cho khách hàng và được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
+ Giai đoạn 1: Doanh nghiệp xuất sản phẩm giao cho khách hàng, căn
cứ vào hợp đồng kinh tế đã kí kết Trong giai đoạn này chỉ phản ánh một mặt của quá trình vận động của hàng hóa, thành phẩm, chưa phản ánh kết quả của
Trang 4việc bán hàng, vì số hàng đã mua chưa đảm bảo chắc chắn đã thu được tiền hay chấp nhận thanh toán tiền.
+ Giai đoạn 2: Khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán tiền
hàng Đây là giai đoạn hoàn tất quá trình bán hàng Doanh nghiệp thu được tiền hoặc sẽ thu được tiền, doanh thu bán hàng được xác định và khi đó doanh nghiệp có thu nhập để bù đắp những chi phí đã bỏ ra và hình thành nên kết quả tiêu thụ
Xét về mặt hành vi, quá trình bán hàng phải có sự thỏa thuận trao đổi giữa người mua và người bán Người bán đồng ý bán và người mua đồng ý mua và thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
Xét về mặt bản chất kinh tế, bán hàng là có sự thay đổi quyền sở hữu hàng hóa, thành phẩm, sau đó người bán thu được tiền nhưng mất quyền sở hữu hàng hóa, còn người mua phải trả tiền để có được sự sở hữu hàng hóa đó.Trong quá trình sản xuất và tiêu thụ, doanh nghiệp sản xuất thành phẩm giao cho khách hàng và nhận lại một khoản tiền tương ứng với giá bán của số hàng đó gọi là doanh thu bán hàng, với giá bán của số hàng đó gọi là doanh thu bán hàng, với chức năng trên có thể thấy bán hàng có ý nghĩa rất quan trọng trong mỗi doanh nghiệp
Theo quy định hiện nay, hàng hóa, thành phẩm được coi là tiêu thụ khi:
Trường hợp 1: doanh nghiệp bán hàng cho khách hàng và được thanh
toán ngay, khi đó lượng hàng hóa được xác định là tiêu thụ, đồng thời doanh thu tiêu thụ và tiền bán hàng cũng được xác định là trùng nhau về thời điểm thực hiện
Trường hợp 2: doanh nghiệp sản xuất giao hàng và được khách hàng
chấp nhận thanh toán nhưng chưa trả tiền ngay, lúc này doanh thu tiêu thụ đã được xác định nhưng tiền hàng chưa thu được về
Trường hợp 3: doanh nghiệp xuất giao đủ hàng cho khách hàng theo số
tiền mà khách hàng đã trả trước, đồng thời với việc xuất giao hàng cho khách hàng tiền ứng trước trở thành tiền thu bán hàng của doanh nghiệp, do đó doanh thu tiêu thụ cũng được xác định tại thời điểm này
Trường hợp 4: doanh nghiệp và khách hàng áp dụng phương thức nhờ
thu theo kế hoạch khi gửi số sản phẩm này cho khách hàng thì số sản phẩm này cũng được coi là tiêu thụ
1.1.2.Vai trò của bán hàng xác định kết quả bán hàng:
Trang 5Nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế mở, mọi doanh nghiệp tham gia vào thị trường đều phải có trách nhiệm về sản phẩm mình làm ra, tức là doanh nghiệp vừa sản xuất vừa phải tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của mình Bán hàng là cơ sở để bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh tạo nên kết quả kinh doanh, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.trong doanh nghiệp sản xuất, bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn đồng thời kết thúc vòng chu chuyển vốn của doanh nghiệp Chỉ thông qua quá trình bán hàng thì tính hữu ích của hàng hóa, thành phẩm mới được xã hội thừa nhận, sự phù hợp với quy cách phẩm chất đối với thị hiếu của người tiêu dùng mới được xác định rõ ràng Việc bán hàng không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp mà nó còn có ý nghĩa đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Đối với bản thân doanh nghiệp, việc bán hàng là vấn đề sống còn, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Thông qua bán hàng thì tính chất giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm, hàng hóa mới được thể hiện
Có bán được sản phẩm mới có thu nhập để bù đắp chi phí bỏ ra (gồm chi phí sản xuất(chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung), chi phí ngoài sản xuất(chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp)), hình thành nên kết quả kinh doanh, có điều kiện quay vòng vốn để tiếp tục sản xuất; ngược lại nếu sản phẩm không tiêu thụ được sẽ dẫn đến ứ đọng, ế thừa sản phẩm, vốn bỏ ra không thu hồi được, thu nhập không
đủ bù đắp chi phí…và sẽ dẫn tới phá sản Việc tăng nhanh quá trình bán hàng (tăng về số lượng và rút ngắn thời gian), đồng nghĩa với việc tăng nhanh vòng quay của vốn, tiết kiệm vốn cho doanh nghiệp, đảm bảo thu hồi vốn nhanh chóng để thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng, là tiền đề vật chất tăng thu nhập cho doanh nghiệp, nâng cao đời sống vật chất cho cán
bộ công nhân viên Do đó việc tổ chức tốt công tác bán hàng, mở rộng thị trường tiêu thụ sẽ làm tăng doanh thu, khẳng định vị trí của doanh nghiệp trên thương trường
Đối với người tiêu dùng, bán hàng ngoài việc cung cấp hàng hóa cần thiết một cách kịp thời đầy đủ về số lượng, chất lượng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, còn góp phần hướng dẫn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng Chỉ thông qua quá trình bán hàng thì giá trị sử dụng của hàng hóa mới được thực hiện
Trang 6Đối với các đơn vị có quan hệ trực tiếp với doanh nghiệp, việc cung cấp sản phẩm kịp thời, đúng thời hạn, đúng quy cách phẩm chất, đúng yêu cầu số lượng sẽ giúp cho các đơn vị hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất đã đề ra, trên
cơ sở đó tăng lợi nhuận cho các đơn vị này
Xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân,bán hàng là điều kiện để tiến hành tái sản xuất xã hội Quá trình tái sản xuất xã hội bao gồm các khâu sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng Giữa các khâu này có mối quan hệ mật thiết lẫn nhau, tạo điều kiện để bổ sung cho nhau, nếu thiếu dù chỉ một khâu thì quá trình tái sản xuất sẽ không được thực hiện Trong mối quan hệ đó thì sản xuất giữ vai trò quyết định, tiêu dùng là mục đích, là động cơ thúc đẩy sản xuất phát triển, còn khâu phân phối và trao đổi có vai trò là cầu nối giữa quan hệ sản xuất và tiêu dùng, từ đó kích thích tiêu dùng và đẩy mạnh sản xuất phát triển Tiêu thụ là cầu nối giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng, giữa hàng hóa và tiền tệ, giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán Đồng thời nó là điều kiện để đảm bảo cho sự phát triển cân đối của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Thông qua quá trình tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có căn cứ để xác định kết quả tiêu thụ, từ đó có cơ sở để đánh giá, hạch toán lãi lỗ và tình hình phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả tiêu thụ chiếm trên 80% trong hoạt động sản xuất kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp Xác định kết quả tiêu thụ là khâu cuối cùng của quá trình tiêu thụ sản phẩm, thông qua đó nhà quản lý có thể nắm bắt được tình hình của doanh nghiệp để đề ra các chiến lược sản xuất, tiêu thụ trong kinh doanh kế tiếp
Nói tóm lại, bán hàng và xác định kết quả bán hàng là một trong những nghiệp vụ rất quan trọng đối với hoạt động của mỗi doanh nghiệp, mà chủ yếu
là doanh nghiệp sản xuất Trong cơ chế thị trường đó còn là một nghệ thuật, lượng sản phẩm tiêu thụ là nhân tố trực tiếp làm thay đổi lợi nhuận của doanh nghiệp Thông qua xác định kết quả tiêu thụ doanh nghiệp có thể biết được chiến lược tiêu thụ sản phẩm của mình có phù hợp và thành công hay không?
1.1.3 Yêu cầu quản lý bán hàng và xác định kết quả bán hàng:
Do việc bán hàng có vai trò hết sức quan trọng như vậy, cho nên việc quản lý chặt chẽ về công tác bán hàng là rất cần thiết Để có thể làm tốt công tác quản lý bán hàng, cần quán triệt các yêu cầu sau:
Trang 7- Tiến hành theo dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng, lựa chọn hình thức tiêu thụ phù hợp, thị trường, giám sát sản phẩm tiêu thụ về số lượng, chất lượng, chủng loại để tránh mất mát, hư hỏng trong khi tiêu thụ, đồng thời giám sát chi phí bán hàng, xác định đúng đắn số vốn của sản phẩm tiêu thụ để tính toán chính xác kết quả bán hàng.
- Quản lý chặt chẽ tình hình thanh toán của khách hàng, thanh toán đúng hạn, tránh ứ đọng vốn cũng như chiếm dụng vốn
- Phải làm tốt công tác thăm dò nghiên cứu thị trường để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tìm kiếm mở rộng thị trường
- Tiến hành phân loại chi phí, xác định giá vốn hàng tiêu thụ chính xác
để có căn cứ xác định kết quả được đúng đắn chính xác
1.1.4 Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng:
Bản chất của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng là thu nhận,
xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ công tác bán hàng và kết quả của hoạt động này Thông qua các thông tin từ kế toán, nhà quản lý doanh nghiệp có thể biết được mức độ hoàn thành công tác tiêu thụ, phát hiện được những vấn
đề tồn tại trong khâu sản xuất, dự trữ bảo quản có ảnh hưởng khâu tiêu thụ; từ
đó có biện pháp điều chỉnh hợp lý nhằm đạt kết quả kinh doanh tốt hơn Để cung cấp được các thông tin kịp thời, chính xác đầy đủ, kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng cần thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thể sau:
+Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình hiện có và
sự biến động của từng loại thành phẩm, hàng hóa theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị
+ Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời và chính xác các khoản doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong doanh nghiệp,đồng thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu của khách hàng.+ Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động, giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và tình hình phân phối kết quả các hoạt động
+ Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập Báo cáo tài chính
và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng, xác định và phân phối kết quả
1.1.5 Các phương thức bán hàng:
Trang 8Phương thức bán hàng có ảnh hưởng trực tiếp đối với việc sử dụng các tài khoản kế toán, phản ánh tình hình xuất kho thành phẩm, hàng hóa Đồng thời có tính quyết định đối với việc xác định thời điểm bán hàng Hoàn thành doanh thu bán hàng và tiết kiệm chi phí để tăng lợi nhuận.
Hiện nay các doanh nghiệp thường sử dụng các phương thức bán hàng sau:
+ Phương thức bán hàng trực tiếp: theo phương thức này, việc giao hàng
và thanh toán diễn ra đồng thời Người mua hàng có thể đến kho hoặc đến cửa hàng của doanh nghiệp để nhận hàng theo hợp đồng đã kí kết, sau đó người mua kí nhận vào hóa đơn của doanh nghiệp để làm thủ tục thanh toán Lúc này sản phẩm hàng hóa chính thức được coi là tiêu thụ; quyền sở hữu sản phẩm hàng hóa được được chuyển từ người bán sang người mua Khi đó người mua có thể thanh toán ngay hoặc chấp nhận thanh toán số hàng đó Và
kế toán hạch toán vào doanh thu bán hàng Các phương thức bán hàng trực tiếp bao gồm bán hàng thu tiền ngay; bán hàng được người mua chấp nhận thanh toán ngay ( không có lãi trả chậm ); bán hàng trả chậm, trả góp có lãi; bán hàng đổi hàng…
+ Phương thức gửi hàng: theo phương thức này, định kỳ doanh nghiệp sẽ gửi hàng cho khách hàng theo những thỏa thuận trong hợp đồng Khách hàng
có thể là các đơn vị nhận bán đại lý hoặc là khách hàng mua thường xuyên theo hợp đồng kinh tế Khi ta xuất kho hàng hóa – thành phẩm giao cho khách hàng thì số hàng hóa – thành phẩm đó vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, bởi vì chưa thỏa mãn đồng thời 5 điều kiện ghi nhận doanh thu Khi khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì ghi nhận doanh thu do doanh nghiệp đã chuyển các lợi ích gắn với quyền sở hữu hàng hóa – thành phẩm cho khách hàng Các phương thức gửi hàng bao gồm gửi bán thông thường, gửi bán cho đại lý, bán hàng xuất khẩu…
1.2 Nội dung của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng:
1.2.1 Các khái niệm chủ yếu liên quan đến quá trình bán hàng:
Kết quả bán hàng là khoản chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng bán ra Nếu doanh thu thuần mà lớn hơn tổng chi phí đã bỏ ra phục vụ cho việc bán hàng trong một kỳ nhất định thì doanh nghiệp có lãi, ngược lại nếu
Trang 9doanh thu thuần mà nhỏ hơn các khoản chi phí đã bỏ ra thì doanh nghiệp sẽ bị
thua lỗ
1.2.2 Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (TK511):
* Khái niệm: theo thông tư số 89/2002/TT-BTC của Bộ Tài Chính quy
định: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phụ phí thêm ngoài giá bán ( nếu có)
+ Đối với doanh nghiệp thực hiện nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT
+ Đối với doanh nghiệp không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT hoặc nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá thanh toán
+ Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, hoặc thuế xuất khẩu thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá thanh toán (bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt, hoặc thuế xuất khẩu).+ Những doanh nghiệp nhận gia công vật tư, hàng hóa thì chỉ phản ánh vào doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ số tiền gia công thực tế được hưởng, không bao gồm giá trị vật tư, hàng hóa nhận gia công
+ Đối với hàng hóa nhận đại lý, ký gửi theo phương thức bán đúng giá hưởng hoa hồng thì hạch toán váo doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ phần hoa hồng bán hàng mà doanh nghiệp được hưởng
+ Trường hợp bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp thì doanh nghiệp ghi nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính về phần lãi tính trên khoản phải trả chậm phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu được xác nhận
+ Những sản phẩm, hàng hóa được xác định là tiêu thụ, nhưng vì lý do
về chất lượng, về quy cách kỹ thuật,… người mua từ chối thanh toán, gửi trả lại người bán hoặc yêu cầu giảm giá và được doanh nghiệp chấp thuận; hoặc người mua mua hàng với khối lượng lớn được chiết khấu thương mại thì các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng này được theo dõi riêng biệt trên các TK
531 “hàng bán bị trả lai” hoặc TK532 “chiết khấu thương mại”
Trang 10+ Trường hợp trong kỳ doanh nghiệp đã viết hóa đơn bán hàng và đã thu tiền bán hàng nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho người mua hàng, TK511 “doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”, mà chỉ hạch toán vào bên
có TK131 “Phải thu khách hàng” về khoản tiền đã thu của khách hàng Khi thực giao hàng cho người mua sẽ hạch toán vào TK 511 “doanh thu bán hàng
và cung cấp dịch vụ” về trị giá hàng đã giao, đã thu trước tiền bán hàng, phù hợp với các điều kiện ghi nhận doanh thu
+ Đối với trường hợp cho thuê tài sản, có nhận trước tiền cho thuê của nhiều năm thì doanh thu cung cấp dịch vụ ghi nhận của năm tài chính là số tiền cho thuê được xác định trên cơ sở lấy toàn bộ tổng số tiền thu được chia cho số năm cho thuê tài sản
+ Đối với doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước, được Nhà nước trợ cấp, trợ giá theo quy định thì doanh thu trợ cấp, trợ giá là số tiền được Nhà nước chính thức thông báo, hoặc thực tế trợ cấp, trợ giá Doanh thu trợ cấp, trợ giá được phản ánh trên TK 5114 – doanh thu trợ cấp trợ giá
Chỉ được ghi nhận doanh thu bán hàng tại thời điểm sản phẩm, hàng hóa được coi là tiêu thụ Theo chuẩn mực 14 “doanh thu và thu nhập khác”, sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp được coi là tiêu thụ khi thỏa mãn đồng thời
cả 5 điều kiện sau:
1) Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền
sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua
2) Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa
3) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
4) Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng
5) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Khi hạch toán doanh thu lưu ý các quy định sau:
+ Doanh thu chỉ được ghi nhận khi thỏa mãn các điều kiện ghi nhận doanh thu theo chuẩn mực 14 “doanh thu và thu nhập khác”
+ Doanh thu liên quan đến cùng một giao dịch phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp và theo năm tài chính
Trang 11+ Trường hợp hàng hóa và dịch vụ trao đổi lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự về bản chất thì không được ghi nhận là doanh thu.
+ Phải theo dõi chi tiết từng loại doanh thu, doanh thu từng mặt hàng, ngành hàng, từng sản phẩm…theo dõi chi tiết từng khoản giảm trừ doanh thu.Việc xác định thời điểm sản phẩm, hàng hóa được là tiêu thụ có ý nghĩa rất quan trọng Vì có xác định đúng thời điểm tiêu thụ, thì mới xác định được chính xác kết quả bán hàng, từ đó mới có thể đánh giá chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.3 Các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng:
Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, để đẩy mạnh hàng bán ra, thu hồi nhanh chóng tiền bán hàng, doanh nghiệp cần có chế độ khuyến khích đối với khách hàng Nếu khách hàng mua với khối lượng hàng hóa lớn sẽ được doanh nghiệp giảm giá, nếu khách hàng thanh toán sớm tiền hàng sẽ được doanh nghiệp chiết khấu, còn nếu hàng hóa của doanh nghiệp kém phẩm chất thì khách hàng có thể không chấp nhận thanh toán hoặc yêu cầu doanh nghiệp giảm giá Các khoản trên sẽ phải ghi váo hoạt động tài chính hoặc giảm trừ doanh thu bán hàng ghi trên hóa đơn
+ Chiết khấu thương mại là khoản tiền mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua hàng (sản phẩm, hàng hóa), dịch vụ với khối lượng lớn theo thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng
+ Hàng bán bị trả lại là số sản phẩm, hàng hóa doanh nghiệp đã xác định tiêu thụ, nhưng bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng kinh tế như: hàng kém phẩm chất, sai quy cách, chủng loại Hàng bán bị trả lại phải có văn bản đề nghị của người mua ghi rõ lý do trả lại hàng, số lượng hàng bị trả lại, giá trị hàng bị trả lại, đính kèm hóa đơn (nếu trả lại toàn bộ) hoặc bản sao hóa đơn (nếu trả lại một phần hàng)
+ Giảm giá hàng bán là khoản tiền doanh nghiệp (bên bán) giảm trừ cho bên mua hàng trong trường hợp đặc biệt vì lý do hàng bán bị kém phẩm chất, không đúng quy cách, hoặc không đúng thời hạn … đã ghi trong hợp đồng.+ Thuế GTGT nộp theo phương pháp trực tiếp, thuế TTĐB, thuế xuất khẩu: Là các khoản thuế gián thu tính trên doanh thu bán hàng Các khoản thuế này tính cho các đối tượng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ phải chịu, các cơ
Trang 12sở sản xuất, kinh doanh chỉ là đơn vị nộp thuế thay cho người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó.
Khi hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng, cần phải tôn trọng một số quy định sau:
+ Doanh nghiệp phải có quy chế quản lý và công khai các khoản giảm giá hàng bán
+ Phải đảm bảo được doanh nghiệp vẫn có lãi khi thực hiện các khoản chiết khấu thanh toán, hoặc giảm giá hàng bán cho số lượng hàng bán ra trong kỳ
+ Phải ghi rõ trong hợp đồng bán hàng hay trong hợp đồng kinh tế các khoản được giảm trừ
+ Số hàng bị trả lại phải có văn bản của người mua, phải ghi rõ số lượng, đơn giá, tổng giá trị lô hàng bị trả lại Kèm theo chứng từ nhập lại kho của lô hàng nói trên
1.2.4 Kế toán giá vốn hàng bán:
Để xác định đúng đắn hiệu quả kinh doanh, trước hết cần xác định đúng đắn trị giá vốn của hàng bán Trị giá vốn của hàng bán được sử dụng để xác định hiệu quả kinh doanh là toàn bộ chi phí kinh doanh liên quan đến quá trình bán hàng bao gồm trị giá vốn của hàng xuất kho, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng đã bán
Đối với doanh nghiệp sản xuất, trị giá vốn của hàng xuất kho để bán hoặc thành phẩm hoàn thành không nhập kho đưa bán ngay chính là giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm xuất kho hoặc giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm hoàn thành
* Giá vốn thực tế của thành phẩm nhập kho là các khoản chi cần thiết để cấu thành nên giá trị của thành phẩm và được xác định phù hợp với từng nguồn nhập
+ Thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất hoàn thành nhập kho được phản phản ánh theo giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm hoàn thành trong kỳ, bao gồm chi phí nguyên liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
+ Thành phẩm do thuê ngoài gia công chế biến hoàn thành nhập kho, được tính theo giá thực tế gia công, bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực
Trang 13tiếp,chi phí thuê gia công và chi phí liên quan khác (chi phí vận chuyển, bốc
dỡ, hao hụt trong gia công…)
+ Thành phẩm đã bán bị trả lại nhập kho: đánh giá bằng thực tế tại thời điểm xuất trước đây
* Đối với thành phẩm xuất kho cũng được phản ánh theo giá thành sản xuất thực tế xuất kho Thành phẩm thuộc nhóm tài sản hàng tồn kho, do vậy theo chuẩn mực số 02 “Kế toán hàng tồn kho”, việc tính giá thành thực tế của sản phẩm tồn kho (hoặc xuất kho) được áp dụng một trong bốn phương pháp sau:
+ Phương pháp tính theo giá đích danh: theo phương pháp này, doanh nghiệp phải quản lý vật tư theo từng lô hàng Khi xuất lô hàng nào thì lấy giá thực tế của lô hàng đó
+ Phương pháp bình quân gia quyền tại thời điểm xuất kho hoặc cuối kỳ: theo phương pháp này, kế toán phải tính đơn giá bình quân gia quyền tại thời điểm xuất kho hoặc ở thời điểm cuối kỳ, sau đó lấy số lượng vật tư xuất kho nhân với đơn giá bình quân đã tính Ta có công thức sau:
+ Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO): phương pháp này có cách tính ngược với phương pháp nhập trước, xuất trước tức là dựa trên giả thiết số vật tư nào nhập sau thì xuất trước và lấy giá thực tế của lần đó là giá của vật
Đơn giá thực tế
bình quân
Trị giá thực tế thành phẩm tồn đầu kỳ
Trị giá thực tế của thành phẩm nhập trong kỳ
Số lượng thành phẩm tồn đầu kỳ
Số lượng thành phẩm nhập trong kỳ
Giá thành thực tế
thành phẩm xuất
kho trong kỳ
Đon giá thực tế bình quân
Số lượng thành phẩm xuất kho trong kỳ
Trang 14tư xuất kho Do đó trị giá vật tư tồn cuối kỳ được tính theo số lượng hàng tồn kho và đơn giá của những lô hàng nhập kho cũ nhất.
Mỗi một phương pháp tính giá thành thực tế của thành phẩm xuất kho đều có những ưu, nhược điểm riêng Việc lựa chọn phương pháp nào để vận dụng cho doanh nghiệp mình, phải căn cứ vào tình hình thực tế yêu cầu hạch toán của doanh nghiệp, đồng thời việc lựa chọn và áp dụng phương pháp tính giá thành thực tế thành phẩm xuất kho phải đảm bảo nguyên tắc nhất quán, để báo cáo tài chính có thể so sánh được và đảm bảo nguyên tắc công khai để chỉ đạo việc thay đổi từ phương pháp này sang phương pháp khác nếu thấy cần thiết Theo em, đối với thành phẩm, việc lựa chọn phương pháp bình quân gia quyền cố định là phù hợp
1.2.5.Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp:
* Chi phí bán hàng: là toàn bộ các chi phí phát sinh liên quan đến quá
trình bán sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ
Nội dung chi phí bán hàng gồm các yếu tố sau:
+ Chi phí nhân viên bán hàng (TK 6411): là toàn bộ các khoản tiền lương phải trả chi nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, bảo quản sản phẩm, hàng hóa, vận chuyển đi tiêu thụ và các khoản trích theo lương (khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ)
+ Chi phí vật liệu, bao bì (TK 6412): là các khoản chi phí về vật liệu, bao bì để đóng gói, bảo quản sản phẩm, hàng hóa, vật liệu dùng sửa chữa TSCĐ dùng trong quá trình bán hàng, nhiên liệu cho vận chuyển sản phẩm hàng hóa
+ Chi phí dụng cụ đồ dùng (TK 6413): là chi phí về công cụ, dụng cụ, đồ dùng đo lường, tính toán, làm việc ở khâu bán hàng và cung cấp dịch vụ
+ Chi phí khấu hao TSCĐ (TK 6414): để phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ như nhà kho, cửa hàng, phương tiện vận chuyển, bốc dỡ
+ Chi phí bảo hành sản phẩm (TK 6415): là các khoản chi phí bỏ ra để sửa chữa, bảo hành sản phẩm, hàng hóa trong thời gian bảo hành (Riêng chi phí bảo hành công trình xây lắp được hạch toán vào tài khoản 627)
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài(TK 6417): là các khoản chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ như:
Trang 15chi phí thuê tài sản, thuê kho, thuê bến bãi, thuê bốc dỡ vận chuyển, tiền hoa hồng đại lý…
+ Chí phí bằng tiền khác(TK 6418): là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ nằm ngoài các chi phí kể trên như: chi phí tiếp khách, hội nghị khách hàng, chi phí quảng cáo giới thiệu sản phẩm, hàng hóa…
Ngoài ra tùy hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng ngành, từng đơn vị mà TK 641 “chi phí bán hàng” có thể mở thêm một số nội dung chi phí
* Chi phí quản lý doanh nghiệp: là toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt
động quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý hành chính và một số khoản khác
có tính chất chung toàn doanh nghiệp
Theo quy định của chế độ hiện hành, chi phí quản lý doanh nghiệp chi tiết thành các yếu tố chi phí sau:
+ Chi phí nhân viên quản lý (TK 6421): gồm tiền lương, phụ cấp phải trả cho ban giám đốc, nhân viên các phòng ban của doanh nghiệp và khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lương nhân viên quản lý theo tỷ lệ quy định.+ Chi phí vật liệu quản lý (TK 6422): trị giá thực tế các loại vật liệu, nhiên liệu xuất dùng cho hoạt động quản lý của ban giám đốc và các phòng ban nghiệp vụ của doanh nghiệp, cho việc sửa chữa TSCĐ…dùng chung của doanh nghiệp
+ Chi phí đồ dùng văn phòng (TK 6423): chi phí về dụng cụ, đồ dùng văn phòng dùng cho công tác quản lý chung của doanh nghiệp
+ Chi phí khấu hao TSCĐ (TK 6424): khấu hao của những TSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp như văn phòng làm việc, kho tàng, vật kiến trúc, phương tiện truyền dẫn…
+ Thuế, phí và lệ phí (TK 6425): các khoản thuế như thuế nhà đất, thuế môn bài… và các khoản phí, lệ phí giao thông, cầu phà…
+ Chi phí dự phòng (TK 6426): khoản trích lập dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài (TK 6427): các khoản chi về dịch vụ mua ngoài phục vụ chung toàn doanh nghiệp như: tiền điện, nước, thuê sửa chữa TSCĐ; tiền mua và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng phát minh sáng chế phân bổ dần (không đủ tiêu chuẩn TSCĐ); chi phí trả cho nhà thầu phụ
Trang 16+ Chi phí bằng tiền khác (TK 6428): các khoản chi phí khác bằng tiền ngoài các khoản đã kể trên, như hội nghị, tiếp khách, chi công tác phí, chi đào tạo cán bộ và các khoản chi khác…
1.2.6 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành:
Một số quy định khi hạch toán trên TK 8211 – chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành
Hàng ngày, kế toán căn cứ vào tờ khai kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp để ghi nhận số thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành tạm phải nộp vào chi phí thuế thu nhập hiện hành
Cuối năm tài chính, căn cứ vào tờ khai quyết toán thuế, nếu số thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành tạm phải nộp trong năm nhỏ hơn số phải nộp cho năm đó, kế toán ghi nhận số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thêm vào chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành Trường hợp số thuế thu nhập tạm phải nộp trong năm lớn hơn số phải nộp của năm đó, kế toán phải ghi giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành là số chênh lệch giữa
số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm phải nộp trong năm lớn hơn số phải nộp.Trường hợp phát hiện sai sót không trọng yếu của các năm trước liên quan đến khoản thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của các năm trước, doanh nghiệp được hạch toán tăng (hoặc giảm), số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của các năm trước vào chi phí thuế thu nhập hiện hành của năm phát hiện sai sót
Kết thúc năm, kế toán kết chuyển giữa chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành phát sinh trong năm vào TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh để xác định kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm
1.2.7 Kế toán xác định kết quả bán hàng:
Kết quả bán hàng là một bộ phận cấu thành cơ bản trong hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc xác định kết quả bán hàng thường được tiến hành vào cuối kỳ kinh doanh (tháng, quý hoặc năm), tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh và yêu cầu ở từng doanh nghiệp
Cách xác định kết quả bán hàng như sau:
= −
Doanh thu
thuần
Tổng doanh thu
Các khoản giảm trừ doanh thu
Trang 17+ Hóa đơn GTGT (mẫu 01-GTKT-3LL)
+ Hóa đơn bán hàng thông thường (mẫu 02-GTTT-3LL)
+ Bảng thanh toán hàng đại lý, kí gửi (mẫu 01-BH)
+ Hóa đơn kiêm phiếu xuất kho
+ Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
+ Các chứng từ thanh toán (phiếu thu, séc chuyển khoản, séc thanh toán,
ủy nhiệm thu, giấy báo Có NH, bảng sao kê của NH…)
+ Bảng kê bán hàng hóa, dịch vụ (M05-VT)
+ Tờ khai thuế GTGT (mẫu 07A/GTGT)
+ Chứng từ liên quan khác
1.3.1.2 Tài khoản sử dụng:
Kết cấu, nội dung và nguyên tắc hạch toán các tài khoản sử dụng trong
kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng, phải được áp dụng theo “Hệ thống kế toán doanh nghiệp” ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính)
a) TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ có 5 TK cấp 2:
• TK 5111 - doanh thu bán hàng hóa
Lợi nhuần thuần
(kết quả kinh
doanh)
Lợi nhuận gộp
Chi phí bán hàng
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Trang 18• TK 5112 - doanh thu bán thành phẩm
• TK 5113 - doanh thu cung cấp dịch vụ
• TK 5114 - doanh thu trợ cấp, trợ giá
• TK 5117 - doanh thu kinh doanh BĐSĐT
Kết cấu và nội dung của TK 511:
Bên Nợ:
- Thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu và thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp phải nộp tính trên doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp trong kỳ
- Các khoản ghi giảm doanh thu bán hàng (giảm giá hàng bán, doanh thu bán hàng đã bán bị trả lại và chiết khấu thương mại)
- Kết chuyển doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thuần, doanh thu BĐSĐT sang TK 911 để xác định kết quả kinh doanh
Bên Có: Doanh thu bán sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ, doanh
thu BĐSĐT của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ hạch toán
TK 511 không có số dư
b) TK 512 – Doanh thu nội bộ
Kết cấu và nội dung của Tk 512 cũng tương như TK 511
c) TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước
Bên Nợ:
- Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
- Số thuế GTGT được giảm trừ vào số thuế GTGT phải nộp
- Số thuế GTGT của hàng đã bán bị trả lại
- Số thuế GTGT đã nộp vào Ngân sách Nhà nước
Bên Có:
- Số thuế GTGT đầu ra phải nộp của hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ
- Số thuế GTGT đầu ra phải nộp của hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu tặng, sử dụng nội bộ
- Số thuế GTGT phải nộp của doanh thu hoạt động tài chính, hoạt động khác
- Số thuế GTGT phải nộp của hàng hóa nhập khẩu
Số dư bên Có: Số thuế GTGT còn phải nộp
d) TK 521 – chiết khấu thương mại có 3 TK cấp 2:
Trang 19• TK 5211 – chiết khấu hàng hóa
• TK 5212 – chiết khấu thành phẩm
• TK 5213 – chiết khấu dịch vụ
Bên Nợ: Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận thanh toán cho khách
hàng
Bên Có: Kết chuyển toàn bộ số chiết khấu thương mại sang TK “ Doanh
thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của kỳ hạch toán
TK 521 không có số dư cuối kỳ
e) TK 531 – hàng bán bị trả lại
TK này phản ánh doanh thu của số sản phẩm, hàng hóa đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do lỗi của doanh nghiệp
Bên Nợ: Doanh thu của hàng đã bán bị trả lại tiền cho người mua hàng;
hoặc trả vào khoản nợ phải thu
Bên Có: Kết chuyển doanh thu của hàng đã bán bị trả lại để xác định
doanh thu thuần
TK 531 không có số dư cuối kỳ
f) TK 532 – giảm giá hàng bán
Bên Nợ: Các khoản giảm giá hàng bán đã chấp thuận cho người mua
hàng
Bên Có: Kết chuyển toàn bộ số tiền giảm giá hàng bán sang TK 511 để
xác định doanh thu thuần
TK 532 không có số dư cuối kỳ
Trang 20- Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ phần bồi thường do trách nhiệm cá nhân gây ra.
- Chi phí xây dựng, tự chế tài sản cố định trên mức bình thường không được tính vào nguyên giá TSCĐ xây dựng, tự chế hoàn thành
- Chênh lệch giữa mức dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập cuối năm nay lớn hơn khoản đã lập dự phòng cuối năm trước
- Số khấu hao BĐSĐT trích trong kỳ
- Chi phí liên quan đến cho thuê BĐSĐT
- Chi phí sửa chữa nâng cấp, cải tạo BĐSĐT không đủ điều kiện tính vào nguyên giá BĐSĐT
- GTCL và các chi phí bán, thanh lý BĐSĐT trong kỳ
- Tổng giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm, lao vụ, dịch vụ
đã hoàn thành (không kể có nhập kho hay không) (DNSX)
- Kết chuyển giá vốn hàng hóa đã bán trong kỳ từ TK 611 (DNTM)
- Các khoản khác tính vào giá vốn hàng bán (Số trích lập dự phòng…)
Bên Có:
- Kết chuyển giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm gửi bán chưa tiêu thụ, thành phẩm tồn kho cuối kỳ (DNSX)
Trang 21- Kết chuyển giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm được xác định đã bán trong kỳ (DNSX)
- Kết chuyển giá vốn thực tế của hàng hóa đã bán trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh (DNTM)
TK 632 không có số dư
h) TK 641 – chi phí bán hàng có 7 TK cấp 2: như đã nêu ở trên
Kết cấu TK 641 dùng để tập hợp và kết chuyển CPBH thực tế phát sinh trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh
Bên Nợ: Tập hợp chi phí bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ
Bên Có:
- Các khoản ghi giảm chi phí bán hàng
- Kết chuyển chi phí bán hàng để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ
TK 641 không có số dư
i) TK 642 – chi phí quản lý doanh nghiệp có 8 TK cấp 2: như đã nêu ở trên
TK 642 dùng để tập hợp và kết chuyển chi phí quản lý kinh doanh, quản
lý hành chính và chi phí khác liên quan đến hoạt động chung của toàn doanh nghiệp
Bên Nợ:
- Các khoản chi phí QLDN thực tế phát sinh trong kỳ
- Trích lập và trích lập thêm khoản dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả
Bên Có:
- Các khoản ghi giảm chi phí QLDN
- Hoàn nhập số chênh lệch dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả đã trích lập lớn hơn số phải trích cho kỳ tiếp theo
- Kết chuyển chi phí QLDN để xác định kết quả kinh doanh
Trang 22- Thuế thu nhập doanh nghiệp của các năm trước phải nộp bổ sung
do phát hiện sai sót không trọng yếu của các năm trước được ghi tăng chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành của năm hiện tại
Bên Có:
- Số thuế thu nhập doanh nghiệp thực tế phải nộp trong năm nhỏ hơn số thuế thu nhập tạm phải nộp được giảm trừ vào chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành đã ghi nhận trong năm
- Số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp được ghi giảm do phát hiện sai sót không trọng yếu của các năm trước được ghi giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành trong năm hiện tại
- Kết chuyển chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành vào bên
Nợ TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh
TK 8211 không có số dư cuối kỳ
k) TK 911 – xác định kết quả kinh doanh
TK 911 dùng để xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp
Bên Nợ:
- Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ
- Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
- Chi phí tài chính trong kỳ
- Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho hàng tiêu thụ trong kỳ
- Chi phí khác trong kỳ
- Kết chuyển số lãi từ hoạt động kinh doanh trong kỳ
Bên Có:
- Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
- Doanh thu thuần hoạt động tài chính trong kỳ
- Thu nhập thuần khác trong kỳ
- Kết chuyển số lỗ từ hoạt động kinh doanh trong kỳ
TK này không có số dư
Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số tài khoản khác như: TK 111, 112,
131, 133, 136, 711, 811, 421…
1.3.1.3 Sổ kế toán sử dụng:
Để hạch toán nghiệp vụ bán hàng và xác định kết quả bán hàng, kế toán
sử dụng sổ kế toán có liên quan đến toàn bộ quá trình bán hàng, từ khâu kiểm
Trang 23kê đối chiếu số lượng thành phẩm nhập, tồn kho, giá thành thành phẩm nhập kho, giá bán thành phẩm xuất kho, tập hợp thuế GTGT đầu ra phải nộp cho Nhà nước, đến tình hình thanh toán khách hàng với đơn vị Vì vậy để thuận tiện cho công tác quản lý, kế toán bán hàng sử dụng các sổ tổng hợp và sổ chi tiết có liên quan đến toàn bộ quá trình tiêu thụ Số lượng các sổ tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và việc áp dụng hình thức tổ chức kế toán của từng đơn vị.+ Hình thức sổ kế toán Nhật ký chung: gồm Nhật ký chung; sổ cái các tài khoản liên quan; sổ chi tiết các tài khoản 511, 512, 131, 641, 642, 911…+ Hình thức sổ kế toán Nhật ký chứng từ: gồm sổ chi tiết số 3 (theo dõi các tài khoản 511, 521, 531, 532, 632, 911…); sổ chi tiết số 4 (theo dõi TK 131); bảng kê số 5 (tập hợp chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp); bảng kê số 10 (theo dõi TK157); bảng kê số 11 (theo dõi TK131); nhật ký chứng từ số 8 (theo dõi các TK 155, 156, 157, 131, 511, 521, 532,
sử dụng tờ kê khai thuế thuế hàng tháng (mẫu số 06/GTGT)
1.3.2 Trình tự kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng:
1.3.2.1 Sơ đồ kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng (theo phương pháp kê khai thường xuyên)
Trang 24(2): Hàng gửi đi bán xác định là tiêu thụ
(3): Thành phẩm, hàng hóa bán theo phương pháp trực tiếp
(4): Thành phẩm bán không qua kho
(5): Số tiền phải thu khách hàng, phải thu nội bộ và thuế GTGT phải thu.(6): Khi người mua hay đơn vị nội bộ thanh toán
(7): Doanh nghiệp bán hàng thu tiền ngay và số thuế GTGT phải thu(8): Kết chuyển giá vốn hàng bán tiêu thụ trong kỳ
(9): Kết chuyển chi phí bán hàng phân bổ cho hàng bán ra
(10): Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng bán(11): Kết chuyển chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành
(12): Kết chuyển doanh thu thuần về tiêu thụ
1.3.2.2 Sơ đồ trình tự kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng (theo phương pháp kiểm kê định kỳ):
Trang 25Sơ đồ 1.2
TK155;157 TK632 TK155;157
Kết chuyển giá vốn kết chuyển hàng
Thành phẩm tồn đầu kỳ hiện còn cuối kỳ
TK631 TK911 TK511
Giá thành thực tế kết chuyển trị giá vốn kết chuyển
SP sản xuất hoàn thành SP tiêu thụ trong kỳ doanh thu thuần
(1) Doanh số chiết khấu thương mại
(2) Kết chuyển chiết khấu thương mại vào cuối kỳ
(3) Doanh số hàng bán bị trả lại và giảm giá hàng bán
(4) Kết chuyển hàng bán bị trả lại và giảm giá hàng bán vào cuối kỳ
1.3.3 Trình tự kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp: 1.3.3.1 Sơ đồ trình tự kế toán chi phí bán hàng:
Trang 26TK133 TK331;111;112 (8a)
(3b): phân bổ giá trị thực tế vào chi phí bán hàng
(4): trích khấu hao TSCĐ dùng trong quá trình bán hàng
Trang 27(5a): Số dự phòng phải trả về chi phí sửa chữa, bảo hành sản phẩm hoặc
là số dự phòng phải trả cần trích lập thêm vào cuối kỳ
(5b): Hoàn nhập dự phòng phải trả về chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa
(6): Thành phẩm, hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng nội bộ trong đó nếu doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thì sẽ có thêm nghiệp vụ (6a).(7a): trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ dùng ở bộ phận bán hàng
(7b): chi phí sửa chữa TSCĐ thực tế phát sinh khi công việc hoàn thành(8): chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác phục vụ cho quá trình bán hàng
(9): các khoản giảm chi phí bán hàng thực tế phát sinh
(10): kết chuyển chi phí bán hàng sang TK 911 để xác định kết quả
1.3.3.2 Sơ đồ trình tự kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp:
(9)
TK331;111;112
(6) TK133 (nếu có)
Trong đó:
Trang 28(1): Tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý(2): Chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ, đồ dùng quản lý
(3): Trích khấu hao TSCĐ dùng chi bộ phận quản lý
(4): Thuế, phí, lệ phí phải nộp cho Nhà nước
(5): Trích lập chi phí dự phòng phải thu khó đòi
(6): Chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền và thuế GTGT phải nộp (7): Các khoản giảm chi phí quản lý doanh nghiệp
(8): Hoàn nhập số chênh lệch giữa số dự phòng phải thu khó đòi đã trích lập năm trước chưa sử dụng hết lớn hơn số phải trích lập năm nay
(9): Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp để xác định kết quả
(2): Thuế TTĐB, thuế XNK phải nộp (nếu có)
(3): Kết chuyển doanh thu bán hàng thuần
(4): Kết chuyển giá vốn cho hàng bán ra trong kỳ
(5): Kết chuyển chi phí bán hàng cho hàng bán ra trong kỳ
(6): Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp cho hàng bán ra trong kỳ(7): Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệphiện hành
Trang 29CHƯƠNG 2:
Thực trạng công tác hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán
hàng ở công ty TNHH NN một thành viên Giày Thượng Đình
2.1 Đặc điểm chung của công ty giày Thượng Đình:
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
Công ty TNHH Nhà nước một thành viên giầy Thượng Đình được thành lập từ tháng 1/1957 Tiền thân của công ty là Xí nghiệp X30 quân đội sáp nhập với một số cơ sở, công ty hợp doanh thành Xí nghiệp Giầy vải Thượng Đình Với lịch sử hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, Công ty đã trải qua một chặng đường không ngừng vươn lên tự đổi mới, phát triển và khẳng định mình Hiện nay Công ty TNHH Nhà nước một thành viên giầy Thượng Đình
là một công ty lớn của ngành công nghiệp Hà Nội có trụ sở chính tại:
277 đường Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội
Tên giao dịch của công ty: ZIVIHA.COMPANY
Tổng diện tích: 35000 m2Email: tdfootwear@fpt.vnWebsite: www.thuongdinh.com.vn
Điện thoại: (04)38544680 – (04)38544312
Fax: (04)38282063Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh:0104000224
Ngày cấp: 01/09/2005
Nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội
Loại hình doanh nghiệp: Công ty TNHH NN một thành viên
Người đại diện pháp lý: Ông Phạm Tuấn Hưng
Vốn đăng ký kinh doanh: 50 tỷ đồng
Ngành nghề kinh doanh chính: Sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu giày dép các loại
Quá trình hình thành và phát triển của Công ty có thể khái quát qua các giai đoạn sau:
Trang 30đơn sơ và điều kiện sản xuất khó khăn nên sản lượng sản xuất này còn thấp, khoảng 55.000 chiếc mũ/năm và trên 200.000 đôi giầy/năm.
Thời kỳ 1961 – 1972:
Tháng 1 năm 1961, xí nghiệp X30 chính thức chuyển giao sang Cục Công nghiệp Hà Nội Tháng 6 năm 1965, Xí nghiệp X30 tiếp nhận một đơn vị công tư hợp doanh sản xuất giầy, dép và đổi tên thành “Nhà máy Cao su Thụy Khuê” Quy mô của Xí nghiệp khi đó được mở rộng, sản lượng tăng đáng kể đạt 150% kế hoạch Cuối năm 1970, Nhà máy cao su Thụy Khuê sáp nhập với
XínghiệpGiầy vải Hà Nội cũ và đổi tên mới là: Xí nghiệp Giầy vải Hà Nội Thời điểm này sản phẩm của Xí nghiệp phong phú và đa dạng hơn: giày vải ngắn cổ, giầy vải cao cổ, giầy bata, giầy cao su trẻ em và đặc biệt đã có giầy Basket xuất khẩu theo Nghị định sang Liên Xô và Đông Âu cũ
Thời kỳ 1973 – 1987:
Hòa trong cao trào “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, toàn thể cán bộ công nhân xí nghiệp ra sức sản xuất, khắc phục khó khăn, góp phần nhỏ bé vào công cuộc giải phóng miền Nam, cùng đất nước đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội Tháng 6/1978, Xí nghiệp giầy vải Hà Nội hợp nhất với Xí nghiệp giầy vải Thượng Đình cũ và lấy tên là: Xí nghiệp giầy vải Thượng Đình Khi đó số lượng công nhân viên của Xí nghiệp đạt 3.000 người, qui mô sản xuất cũng được mở rộng với 8 phân xưởng, 10 phòng ban nghiệp vụ, sản lượng giầy đạt tới 2.4 triệu đôi /năm
gỡ khó khăn, chủ động tìm kiếm thị trường, khai thác nguồn vật tư, nguyên liệu, thiết kế thử và cải tiến mẫu mã sản phẩm… Ngoài những đôi giày Basket truyền thống, Phòng chế thử mẫu đã thiết kế nhiều loại giầy mới như: giầy Olimpia, Regetta, ED3… với chất lượng tốt, kiểu dáng đẹp và được xuất khẩu sang Cộng Hòa Dân chủ Đức và nhiều nước thuộc Xã hội Chủ nghĩa Bên cạnh đó, cơ sở vật chất của Xí nghiệp không ngừng được đầu tư, đổi mới
Trang 31Tuy nhiên đến năm 1991, hệ thống Chủ nghĩa Xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu cũ bị đổ vỡ đã đẩy Xí nghiệp rơi vào một tình thế hết sức khó khăn: mất thị trường xuất khẩu, trong khi đó thị trường nội địa lại chưa hình thành nên sản xuất bị đình trệ, số lượng công nhân nghỉ việc lên đến vài trăm người.
Từ năm 1992 đến nay:
Trước những khó khăn nêu trên, cuối năm 1991, đầu năm 1992, Xí nghiệp đã đưa ra một quyết định quan trọng: Xí nghiệp vay Ngân hàng ngoại thương, chính thức ký hợp đồng kinh tế với Đài Loan để hợp tác sản xuất kinh doanh trong đó phía Thượng Đình lo tổ chức sản xuất, quản lý doanh nghiệp, quản lý cán bộ, mua nguyên vật liệu trong nước, thủ tục xuất nhập khẩu còn phía đối tác lo thị trường xuất khẩu, cho vay vốn đổi mới thiết bị, công nghệ sản xuất… Phương án đúng đắn trên kết hợp với sự giúp đỡ có hiệu quả về vốn của Ngân hàng Ngoại thương và LEAPODEXIM nên sau 4 tháng ký kết, 3 dây chuyền sản xuất giầy vải hoàn chỉnh đã được lắp đặt tại Xí nghiệp giầy vải Thượng Đình Tháng 9/1992: Lô hàng đầu tiên của Xí nghiệp đạt tiêu chuẩn quốc tế được xuất sang thị trường Pháp và Đức
Ngày 8/7/1993: Được sự đồng ý của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà
Nội, phạm vi chức năng của Xí nghiệp đã được mở rộng: trực tiếp xuất nhập khẩu và kinh doanh giầy dép cũng như các nguyên liệu, máy móc, ngoài ra còn kinh doanh cả du lịch và dịch vụ, chính vì vậy Xí nghiệp được đổi tên thành: “Công ty Giầy Thượng Đình” thông qua giấy phép thành lập công ty 2556/QĐ ngày 8/7/1993 – Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, giấy phép đăng ký kinh doanh số 10847 cấp ngày 24/7/1993 do trong tài kinh tế thành phố Hà Nội cấp, giấy phép kinh doanh xuất khẩu số 2051013 loại hình doanh nghiệp Nhà nước
Tháng 7/2004, Công ty giầy Thượng Đình thành lập thêm nhà máy Giầy
da xuất khẩu Hà Nam tại khu công nghiệp Đồng Văn – Hà Nam
Tháng 8/2005 theo quyết định số 108/2005/QĐ ngày 26/07/2005 của Ủy
ban nhân dân thành phố Hà Nội công ty Giầy Thượng Đình chính thức đổi tên thành Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình
Hiện nay công ty có 1 chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh, 2 tổng đại
lý tại Hà Nội, Đà Nẵng và gần 50 đại lý tại các tỉnh, thành phố khác trong cả nước Sản phẩm của công ty có thế mạnh về chất lượng, chủng loại, mẫu mã,
Trang 32màu sắc, kiểu dáng, chiếm thị phần lớn trong nước và xuất khẩu, từng bước chinh phục những khách hàng khó tính như Nga, Pháp, Nhật, Đức, Italy, Bungari
Năm 1996 sản phẩm của Công ty đã đạt giải TOPTEN, là một trong 10 mặt hàng được người tiêu dùng yêu thích nhất do báo Đại Đoàn Kết đứng ra tổ chức.Đầu năm 1999 được cấp chứng chỉ ISO 9000 và 9002 của tổ chức QUAVERT ( cơ quan chứng nhận của tổng cục tiêu chuẩn và đo lường chất lượng Việt Nam ) và tổ chức PSB Singapore ( thành viên chính thức của tập đoàn chứng nhận quốc tế IQNET)
Ngày 26/02/2001 sản phẩm của Công ty đạt Giải vàng – Giải về chất lượng Việt Nam 2000 do bộ khoa học công nghệ và môi trường cấp, ngoài ra Công ty còn có nhiều giải thưởng khác nữa
Năm 2004, công ty đạt giải thưởng Cúp chân dung Bạch Thái Bưởi, cúp vàng Hà Nội, doanh nghiệp tiêu biểu
Năm 2005, Công ty đạt giải thưởng Hà Nội vàng cho sản phẩm giầy thể thao, 03 huy chương vàng cho 3 sản phẩm giầy thể thao tại Hội chợ Hà nội vàng hướng tới 1000 năm Thăng Long Hà Nội
Thương hiệu Giầy Thượng Đình được công nhận là một trong những thương hiệu mạnh năm 2004:2005 do phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức
Từ tháng 8/2005, Công ty chuyển đổi thành Công ty TNHH NN một thành viên giầy Thượng Đình, trực thuộc UBND thành phố Hà Nội Hiện tại Công ty có trên 2000 CBCNV và 7 dây chuyền sản xuất giầy dép hiện đại.Sản phẩm của Công ty luôn được người tiêu dùng bình chọn TOPTEN, liên tục được công nhận là Hàng Việt nam chất lượng cao từ năm 1996 đến 2006 (do Người tiêu dùng bình chọn - Báo Sài gòn tiếp thị tổ chức) Đạt nhiều huy chương vàng, bạc tại các Hội chợ triển lãm trong nước và quốc tế.Thương hiệu giầy Thượng Đình luôn được bình chọn là thương hiệu tiêu biểu của ngành công nghiệp Hà Nội và của cả nước (do thời báo kinh tế tổ chức).Năm 2006, 2007 nhãn hiệu Thượng Đình được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng quốc gia, thương hiệu Thượng Đình được công nhận là thương hiệunổi tiếng
Năm 2007, công ty vinh dự đón nhận huân chương độc lập hạng nhì
Trang 33Năm 2008, công ty được UBND thành phố Hà Nội công nhận là đơn vị thi đua xuất sắc, Đảng bộ công ty được công nhận trong sạch vững mạnh xuất sắc.
Từ một Xí nhiệp chuyên sản xuất quân trang phục vụ quân đội những năm 50 – 60 với công nghệ ban đầu hết sức thô sơ đến nay có thể nói Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình đã thực sự trở thành một doanh nghiệp có vị trí cao, vững chắc trong ngành công nghiệp nhẹ nước nhà với những dây chuyền sản xuất hiện đại, công nghệ tiên tiến Hàng năm công
ty sản xuất từ 4 đến 5 triệu đôi giầy hoàn chỉnh, trong đó khoảng 40% dành cho tiêu thụ trong nước còn 60% đôi giầy được xuất sang các thị trường nước ngoài như: Australia, Cuba, Nga, EU
Sự tăng trưởng của công ty trong những năm gần đây được biểu hiện qua một số chỉ tiêu như sau:
(Biểu 2.1): Kết quả sản xuất kinh doanh trong một số năm vừa qua
TT Chỉ tiêu Đơn
vị Năm 2008 Năm 2007 Tương đối Chênh lệch Tuyệt đối
1 Doanh thu bán hàng và cung
toán trước thuế " 2,820,027,343 800,650,000 2,019,377,343 252.22%
4 Lợi nhuận sau
Trang 34Qua bảng số liệu trên ta thấy doanh thu bán hàng của doanh nghiệp năm
2008 so với năm 2007 tăng, tăng từ 214,274 triệu lên 235,842 triệu tức là tăng 21,567 triệu đồng tương ứng 10.06 % Điều này chứng tỏ doanh nghiệp đã có nhiều cố gắng để chiếm lĩnh thị phần trên thị trường hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả Nhìn chung hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty không có biến động lớn, luôn duy trì được tốc độ phát triển, tạo đủ công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên, đầu tư đúng hướng, nắm được thị trường, tạo được uy tín về sản phẩm của công ty trên thị trường, đặc biệt là thị trường nước ngoài Mặc dù năm 2008 có nhiều biến động như thế nhưng công ty vẫn đảm bảo đủ việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, và mức lợi nhuận sau thuế vẫn tăng khá rõ Giá trị sản xuất công nghiệp tăng từ 225 tỷ đồng lên 230 tỷ đồng
2.1.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh:
2.1.2.1 Đặc điểm về sản phẩm, ngành nghề kinh doanh:
Công ty TNHH Nhà nước một thành viên giầy Thượng Đình là một doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn, tập trung, kinh doanh nhiều chủng loại sản phẩm , sản lượng sản xuất lên tới 5 triệu đôi/ năm với mục đích phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp được chia thành hai loại căn cứ vào phạm vi mặt hàng sản xuất, đó là sản phẩm giầy nội địa và sản phẩm giầy xuất khẩu theo yêu cầu của khách hàng nước ngoài Mặt hàng giầy dép có các loại: giầy bata, giầy bộ đội, giầy basket, giầy thể thao…Trong đó,mặt hàng giầy thể thao chiếm 30% cơ cấu hàng xuất khẩu của công ty với nhiều kiểu dáng, mẫu mã khác nhau, 70% còn lại là các loại giầy vải cao cấp, giầy thể dục nhịp điệu, giầy leo núi, giầy đá bóng
Ngoài ra, công ty còn nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu sản xuất, gia công, cung cấp các sản phẩm bảo hộ lao động như găng tay, mũ bảo hiểm, sản xuất các sản phẩm bằng cao su phục vụ công nghiệp
2.1.2.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất:
Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình tổ chức sản xuất theo các phân xưởng Các phân xưởng này có mối quan hệ với nhau trong quá trình giao bán thành phẩm Mỗi phân xưởng chỉ chịu trách nhiệm thực hiện một số bước trong quá trình sản xuất sản phẩm Các bộ phận, phân xưởng tổ chức thành một dây chuyền khép kín để sản xuất từng loại sản
Trang 35phẩm Quá trình sản xuất sản phẩm được diễn ra liên tục từ khâu đưa vật liệu vào cho đến khi hoàn thiện sản phẩm Hiện nay, công ty có 4 phân xưởng sản xuất chính:
- Phân xưởng bồi cắt: Đảm nhiệm 2 khâu đầu của quy trình công nghệ là
bồi tráng và cắt vải bạt Khi có lệnh sản xuất phát ra (cho một đơn đặt hàng nào đó), thì phân xưởng bồi cắt là phân xưởng đầu tiên thực hiện lệnh này Nhân viên phân xưởng nhận lệnh sản xuất và lên kho nhận vật liệu tùy theo từng đơn đặt hàng tương ứng với lệnh sản xuất để các bộ phận như mũ, giầy, pho hậu, pho mũ, nẹp oze… NVL của công đoạn này chủ yếu là vải bạt các màu, vải lót, mút xốp, mếch, bìa catton…NVL được chuyển đến máy bồi, máy bồi có chức năng kết dính các NVL này với nhau bằng một lớp keo dính, vải được bồi trên máy với nhiệt độ lò sấy từ 180 – 200 0 C và được bồi ở 3 lớp
là lớp mặt, lớp lót và lớp giữa Các tấm vải sau khi được bồi xong thì chuyển cho bộ phận cắt Tùy theo loại, kích cỡ, mẫu mã mà các chi tiết của giầy được pha cắt cho phù hợp Sau khi cắt xong, sản phẩm của phân xưởng được chuyển sang phân xưởng may để lắp ráp mũ giầy
- Phân xưởng may: nhận sản phẩm từ phân xưởng cắt và phụ liệu từ
kho và sẽ may các chi tiết thành mũ giầy hoàn chỉnh NVL chủ yếu ở công đoạn này là: vải; các loại phụ liệu như: chỉ, ođê, dây trang trí, chun… Quá trình may ở công đoạn này phải trải qua nhiều thao tác kỹ thuật liên tiếp như: can góc, may nẹp, kẻ chỉ… Bán thành phẩm hoàn thành ở phân xưởng này là
mũ giầy Việc tổ chức sản xuất ở phân xưởng may chia ra làm nhiều tổ, mỗi
tổ làm một vài loại giầy Trong tổ, mỗi công nhân đảm nhận một thao tác kỹ thuật như bồi keo, may…
- Phân xưởng cán: Có nhiệm vụ chế biến các hóa chất, sản xuất đế giầy
bằng
cao su NVL của phân xưởng là cao su, các hóa chất như Benzen, xăng công nghiệp, các loại bột màu… Bán thành phẩm ở công đoạn này là các đế giầy và được chuyển đến phân xưởng gò để lắp ráp giầy
- Phân xưởng gò: Đảm nhiệm khâu cuối cùng của quy trình công nghệ
sản xuất giầy, sản phẩm của khâu này là từng đôi giầy hoàn chỉnh Nguyên vật liệu của phân xưởng gò là mũi giầy nhận của phân xưởng may và đế giầy của phân xưởng cán Ngoài ra phân xưởng còn nhận các loại dây giầy, dây gai, dây xăng, giấy lót giây… Mũi giầy và đế giầy được chuyển đến bộ phận
Trang 36quét keo, sau đó qua dàn nhiệt, công nhân phân xưởng gò sẽ gò hình giầy theo phom giầy Tiếp đến là công đoạn dán đế, dán viền sau đó được đưa vào bộ phận lưu hóa để hấp ở nhiệt độ thích hợp khoảng 1300C trong vòng 3 – 4 giờ nhằm đảm bảo độ bền của giầy Sau khi giầy lưu hóa xong sẽ được chuyển đến bộ phận đóng gói để xâu dây và đóng hộp.
Ngoài các phân xưởng chính trên, còn có một phân xưởng sản xuất phụ phục vụ sản xuất đó là phân xưởng cơ năng, chịu trách nhiệm cung cấp điện, lắp đặt sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị, cung cấp hơi nóng, áp lực
Sản phẩm của công ty có chu kỳ ngắn, quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu liên tục nhưng ổn định và thuộc loại sản xuất với khối lượng lớn Trên dây chuyền có thể sản xuất giầy hàng loạt với các mã giầy khác nhau theo đơn đặt hàng hoặc theo thiết kế của công ty Ở mỗi giai đoạn sản xuất đều hình thành bán thành phẩm nhưng chỉ có thành phẩm mới được bán ra ngoài Quá trình sản xuất giầy có thể được khái quát qua mô hình sau:
Sơ đồ 2.1: Quy trình công nghệ sản xuất giầy vải
2.1.2.3 Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của công ty:
Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình là một đơn
vị kế toán độc lập có đặc điểm sản xuất tập trung với quy mô sản xuất lớn,
Bồi vải, bồi giả
Trang 37hoạt động định hướng theo nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nên Công ty đã xây dựng bộ máy quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng:
- Hệ thống trực tuyến bao gồm: Ban giám đốc công ty, giám đốc các xí nghiệp và các quản đốc phân xưởng
- Hệ thống chức năng bao gồm: Các phòng chức năng của công ty,Các phòng ban quản lý, các xí nghiệp, phân xưởng
Đứng đầu Ban Giám đốc là Giám đốc công ty chịu trách nhiệm chung về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, giám đốc trực tiếp chỉ đạo giám sát 3 phòng ban là phòng KD – XNK, phòng HCTC và phòng KTTC Tiếp theo là trợ lý Giám đốc và 4 Phó Giám đốc giúp việc cho Giám đốc và tham mưu điều hành các phòng ban còn lại Nhiệm vụ và chức năng cơ bản của các phó giám đốc phòng ban, phân xưởng trong công ty được phân công như sau:Phòng giám đốc kỹ thuật – công nghệ: điều hành hoạt động của trưởng phòng chế thử mẫu và trưởng phòng kỹ thuật công nghệ
Phòng giám đốc sản xuất – chất lượng: phụ trách quản lý các trưởng phòng kỹ thuật vật tư, phòng quản lý chất lượng, phòng tiêu thụ và các quản đốc phân xưởng
Phòng giám đốc thiết bị an toàn: phụ trách quản lý xưởng trưởng xưởng
cơ năng và phòng bảo vệ
Phòng giám đốc bảo hiểm xã hội – vệ sinh môi trường: phụ trách ban vệ sinh công nghiệp – vệ sinh môi trường và trạm y tế
Ở dưới là các phòng ban chức năng có nhiệm vụ tham gia đề xuất với Ban Giám đốc công ty những chủ trương, biện pháp tăng cường công tác quản
lý sản xuất kinh doanh và giải quyết những khó khăn vướng mắc trong công
ty theo quyền hạn và trách nhiệm của từng phòng ban, bao gồm
- Phòng Chế thử mẫu: có nhiệm vụ sản xuất thử các kiểu mẫu, đưa ra các
kiểu dáng giầy mới để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng hoặc thiết kế các kiểu mới theo yêu cầu của đơn đặt hàng
- Phòng Kỹ thuật, công nghệ: Chịu trách nhiệm về phần kỹ thuật trong
sản xuất sản phẩm dựa trên các kiểu mẫu do phòng chế mẫu cung cấp
- Phòng Quản lý chất lượng: Thực hiện chức năng kiểm tra từng quy
trình sản xuất, cũng như chất lượng sản phẩm ở mỗi công đoạn nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
Trang 38- Phòng Kế hoạch vật tư: Có nhiệm vụ đưa ra kế hoạch mua vật tư, kế
hoạch giá thành sản phẩm, xây dựng định mức vật tư
- Phòng Tiêu thụ: Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm hàng quí, phân tích
các thông tin về thị trường tiêu thụ để có các quyết định hợp lý
- Phòng Hành chính – tổ chức: Có chức năng tham mưu cho Giám đốc
về việc tổ chức bộ máy, việc quản lý lao động Bên cạnh đó phòng này còn có nhiệm vụ điều hành các mối quan hệ giữa các bộ phận trong và ngoài công ty
- Phòng Kế toán - Tài chính: Phòng này có nhiệm vụ hạch toán chi phí
kinh doanh của công ty và xác định nhu cầu về vốn, tình hình thực hiện và biến động các loại tài sản, vật liệu, sản phẩm trong công ty Phòng kế toán tài chính có nghĩa vụ báo cáo các Báo cáo kết quả kinh doanh và một số báo cáo tài chính khác trước Ban Giám đốc và cơ quan thuế
- Phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu: Có nhiệm vụ tìm kiếm thị trường
tiêu thụ sản phẩm, tìm hiểu thông tin về khách hàng để có chiến lược kinh doanh mới Phòng này còn thực hiện việc xuất khẩu sản phẩm và nhập các yếu tố sản xuất theo hợp đồng
- Phòng Cơ năng: Có nhiệm vụ bố trí điện nước, năng lượng phục vụ
cho quá trình sản xuất Thường xuyên kiểm tra đảm bảo an toàn tránh sự cố xảy ra, mặt khác tạo điều kiện phục vụ cho nhu cầu kịp thời không để xảy ra tình trạng gián đoạn sản xuất
- Phòng Bảo vệ: Thực hiện việc kiểm tra, bảo vệ mọi tài sản thuộc sở
hữu của công ty cũng như giữ gìn trật tự trị an nội bộ Công ty
- Ban Vệ sinh môi trường: Thực hiện công tác vệ sinh môi trường trong
toàn công ty, đảm bảo cho môi trường, cảnh quan công ty luôn sạch đẹp Mặt khác đảm bảo vệ sinh đời sống cho toàn bộ cán bộ công nhân viên trong công ty
- Trạm Y tế: Thực hiện các biện pháp cụ thể để phòng khám chữa bệnh
cho cán bộ, công nhân viên trong Công ty, thực hiện công tác Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Các phân xưởng chịu sự quản lý của phó giám đốc sản xuất Đây là bộ phận trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, là đầu mối quan trọng trong việc xúc tiến quá trình tiêu thụ sản phẩm
Trang 39Các phòng ban có chức năng nhiệm vụ riêng nhưng vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau trong đó Phòng Kế toán tài chính là trung tâm đầu mối của tất cả các phòng ban khác trong Công ty
Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của công ty được thể hiện qua sơ đồ 2.2 (trang bên)
2.1.2.4.Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của Công ty:
2.1.2.4.1 Hình thức tổ chức bộ máy kế toán:
Hiện nay, Công ty đang tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức kế toán tập trung Phòng Kế toán – Tài chính của công ty được trang bị 5 máy tính và
2 máy in Kế toán phụ trách phần hành nào thì đảm nhận luôn việc nhâp, xử
lý dữ liệu và trang in bảng biểu luôn phần hành đó Do đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán nên toàn bộ công việc kế toán từ việc lập chứng từ, ghi sổ chi tiết đến tổng hợp số liệu, lập báo cáo tài chính đều được thực hiện tại phòng kế toán của Công ty Công ty chỉ bố trí bộ phận thống kê ở mỗi phân xưởng để làm nhiệm vụ ghi chép những thông tin kinh tế ban đầu về NVL, sản phẩm, tiền lương sau đó định kỳ hoặc cuối tháng bộ phận này sẽ lập báo cáo theo từng chỉ tiêu gửi về phòng kế toán để các nhân viên kế toán ở đây tiến hành
xử lý số liệu và lập các sổ sách, báo cáo cần thiết
Phòng kế toán có 12 người, trong đó có 1 Kế toán trưởng, 2 kế toán phó kiêm kế toán tổng hợp, 1 thủ quỹ và 8 nhân viên kế toán còn lại thực hiện mọi nghiệp vụ kế toán phát sinh trong ngày
Trang 40Sơ đồ 2.2: Bộ máy tổ chức công ty TNHH Nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình
Giám đốc
Phó giám đốc Kỹ
thuật – công nghệ
Phó giám đốc sản xuất-chất lượng
Phó giám đốc thiết
bị và an toàn
Phó giám đốc BHXH - VSMT
Phòng
kế hoạch vật tư
Phòng quản
lý chất lượng
Phòng tiêu thụ
Phòng Hành chính-
Tổ chức
Phòng Kinh doanh-XNK
Phòng
Kế toán-Tài chính
Phòng bảo vệ
Ban vệ sinh
CN và MT
Trạm y tế
Phân xưởng
cơ năng
Phân
xưởng
cắt 1
Phân xưởng
cắt 2
Phân xưởng cán
Phân xưởng may giầy vải
Phân xưởng may giầythể thao
Phân xưởng
gò, baogói giầy vải
Phân xưởng
gò, baogói giầy thể thao