Để giữ vững được uy tín cũng như thành công trong ngành xuất khẩu thực phẩm này, đồng thời bình ổn được cả thị trưởng tiều dùng nội địa, Công ty luôn cố gắng hoàn thiện mọi công tác liên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM THỊ NGỌC ĐIỆP
NGHIÊN CỨU TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI
LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐỒ HỘP HẠ LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM THỊ NGỌC ĐIỆP
NGHIÊN CỨU TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI
LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt i
Danh mục hình vẽ iii
Danh mục hộp iv
Danh mục bảng v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 11
1.1 Một số khái niệm cơ bản 11
1.1.1 Trách nhiệm xã hội 11
1.1.2 Người lao động trong doanh nghiệp 13
1.1.3 Thực hiện trách nhiệm xã hội 14
1.2 Thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động trong doanh nghiệp 17
1.2.1 Thực hiện trách nhiệm kinh tế đối với người lao động trong DN 17
1.2.2 Thực hiện trách nhiệm pháp luật đối với người lao động trong DN 19
1.2.3 Thực hiện trách nhiệm cam kết và trách nhiệm tự nguyện đối với người lao động 21
1.3 Tổ chức thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động trong DN 23
1.3.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động trong doanh nghiệp 23
1.3.2 Triển khai thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động trong doanh nghiệp 25
1.3.3 Đánh giá thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động trong doanh nghiệp 27
1.4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động trong doanh nghiệp 29
Trang 41.4.1 Pháp luật liên quan đến thực hiện TNXH đối với NLĐ 29
1.4.2 Quan điểm của nhà quản trị doanh nghiệp 30
1.4.3 Tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp 31
1.4.4 Văn hóa doanh nghiệp 33
1.4.5 Đặc điểm lao động của doanh nghiệp 33
1.4.6 Đặc điểm ngành kinh doanh 35
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 37
2.1.1 Mục đích 37
2.1.2 Cách thực hiện 37
2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 39
2.2.1 Mục đích 39
2.2.2 Cách thực hiện 39
2.3 Phương pháp quan sát trực tiếp 40
2.3.1 Mục đích 40
2.3.2 Cách thực hiện 40
2.4 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu 40
2.4.1 Mục đích 40
2.4.2 Cách thực hiện 41
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐỒ HỘP HẠ LONG 42
3.1 Tổng quan về Công ty cổ phần Đồ hộp Hạ Long 42
3.1.1 Quá trình hình thành, phát triển 42
3.1.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức 43
3.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2010 – 2013 45
3.2 Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động tại Công ty Cổ phần đồ hộp Hạ Long 46
Trang 53.2.1 Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội kinh tế đối với người lao
động tại công ty 46
3.2.3 Thực trạng thực hiện trách nhiệm cam kết và trách nhiệm tự nguyện đối với người lao động tại công ty 56
3.3 Thực trạng tổ chức thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động tại Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long 59
3.3.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch thực hiện TNXH đối với người lao động tại công ty 61
3.3.2 Thực trạng triển khai thực hiện TNXH đối với người lao động tại công ty 62
3.3.3 Thực trạng đánh giá thực hiện TNXH đối với người lao động tại công ty 62
3.4 Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố tới thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động tại Công ty CP Đồ hộp Hạ Long 64
3.4.1 Hệ thống các văn bản pháp luật về trách nhiệm xã hội đối với người lao động 64
3.4.2 Quan điểm của nhà quản trị doanh nghiệp 66
3.4.3 Tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp 67
3.4.4 Văn hóa doanh nghiệp 67
3.4.5 Đặc điểm lao động của công ty 69
3.4.6 Đặc điểm của ngành chế biến thực phẩm 70
3.5 Đánh giá chung 70
3.5.1 Thành công và nguyên nhân 70
3.5.2 Hạn chế và nguyên nhân 71
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CP ĐỒ HỘP HẠ LONG 73
4.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển của Công ty 73
Trang 64.1.1 Phương hướng đến 2020 73
4.1.2 Một số mục tiêu cụ thể 73
4.2 Quan điểm đẩy mạnh thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động tại doanh nghiệp 75
4.2.1 Thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động là nhiệm vụ tất yếu, là mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp 75
4.2.2 Thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động là công cụ nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 75
4.2.3 Thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động là hoạt động đầu tư của doanh nghiệp 76
4.2.4 Thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động là văn hoá doanh nghiệp 77
4.3 Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh thực hiện trách nhiệm xã hội đối với NLĐ tại Công ty CP Đồ hộp Hạ Long 78
4.3.1 Đẩy mạnh thực hiện nội dung trách nhiệm xã hội đối với NLĐ 78
4.3.2 Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện trách nhiệm xã hội đối với NLĐ 86
4.3.3 Đổi mới quan điểm của nhà quản trị về thực hiện TNXH đối với người lao động 90
4.3.4 Nâng cao trình độ nhận thức, năng lực của người lao động 91
4.3.5 Phát triển Văn hoá doanh nghiệp 95
4.3.6 Nâng cao năng lực của tổ chức công đoàn 96
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 ATLĐ An toàn lao động
2 ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động
3 BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
5 BHXHBB Bảo hiểm xã hội bắt buộc
6 BHXHVN Bảo hiểm Xã hội Việt Nam
13 CoC Code of Conduct (Bộ quy tắc ứng xử)
14 CSR Corporate Social Responsibility (Trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp)
Trang 820 LĐTBXH Lao động – Thương binh và Xã hội
30 WC Water closet (Nhà vệ sinh)
31 WTO World Trade Organization (Tổ chức Thương
mại thế giới)
32 XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
1 Hình 1.1 Mô hình kim tự tháp A.Carroll (1979) 13
2 Hình 1.2 Bản chất của thực hiện trách nhiệm kinh tế đối với NLĐ 16
3 Hình 1.3 Mô hình tổ chức thực hiện trách nhiệm xã hội 22
4 Hình 1.4 Các bước xây dựng kế hoạch thực hiện CSR đối với NLĐ 23
5 Hình 1.5 Các bước triển khai thực hiện CSR đối với NLĐ 24
6 Hình 1.6 Các công cụ pháp luật liên quan đến thực hiện CSR đối
7 Hình 1.7 Ảnh hưởng của đặc điểm lao động trong DN đến thực
10 Hình 3.3 Đánh giá của NLĐ về thực trạng xây dựng kế hoạch thực
11 Hình 3.4 Thực trạng đánh giá thực hiện CSR đối với NLĐ tại công ty 62
12 Hình 3.5 Ảnh hưởng của hệ thống các văn bản pháp luật đến thực
hiện TNXH đối với người lao động tại công ty 64
13 Hình 3.6 Ảnh hưởng của văn hóa công ty đến thực hiện TNXH đối
14 Hình 4.1 Giải pháp đấy mạnh thực hiện trách nhiệm kinh tế đối với NLĐ 77
15 Hình 4.2 Mô hình quản lý hệ thống chất lượng dựa trên quá trình 79
16 Hình 4.3 Mô hình quản trị thực hiện CSR đối với NLĐ trong DN 86
17 Hình 4.4 Quy trình đào tạo nâng cao năng lực của người lao động 92
Trang 10DANH MỤC HỘP
1 Hộp 1.1 Nội dung thực hiện trách nhiệm xã hội theo pháp
luật đối với người lao động trong doanh nghiệp 19
2 Hộp 3.1 Điểm trung bình đánh giá nhận thức của NLĐ đối
3 Hộp 3.2 Trích quy định về thời gian nghỉ ngơi 52
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 Thông tin cá nhân của NLĐ tham gia điều tra 37
2 Bảng 3.1 Đánh giá nhận thức của NLĐ về thực hiện trách
nhiệm xã hội kinh tế đối với NLĐ tại công ty 46
3 Bảng 3.2 Đánh giá về thực hiện trách nhiệm xã hội kinh tế
4 Bảng 3.3 Số liệu thu nhập bình quân của NLĐ tại Công ty 49
5 Bảng 3.4 Chi phí thực hiện trách nhiệm pháp luật tại Công ty 54
6 Bảng 3.5
Điểm trung bình nhận thức và đánh giá của NLĐ đối với thực hiện các trách nhiệm cam kết và tự nguyện
55
7 Bảng 3.6 Trình độ NLĐ tại Công ty CP Đồ hộp Hạ Long 68
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đê tài nghiên cứu
Thuật ngữ Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) mới chính thức xuất
hiện cách đây hơn 50 năm, khi H.R.Bowen công bố cuốn sách của mình với nhan
đề “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the
Businessmen) (1953) nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội Tuy nhiên, từ đó đến nay, thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau Một số người xác định “trách nhiệm xã hội hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và
kỳ vọng xã hội đang phổ biến” (Prakash, Sethi, 1975: 58 – 64) Một số người khác hiểu “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định” (Archie.B Carroll, 1979)
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trước đây được coi là hoạt động không đóng góp cho doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.Tuy nhiên, một nghiên cứu mới của Marketing Charts đã chỉ ra điều ngược lại: 68% trong 250 giám đốc điều hành trên toàn thế giới được điều tra cho biết, CSR được xem như là một nguồn tăng trưởng doanh thu tiềm năng, chứ không phải là một vấn đề quy định hoặc từ thiện Hơn 50% các giám đốc điều hành được khảo sát cũng cho biết, các hoạt động CSR đã mang lại cho công ty của họ thêm lợi thế cạnh tranh, chủ yếu là do các hoạt động CSR mang lại nhiều phản hồi tích cực từ phía khách hàng và đối tác của doanh nghiệp
Thật vậy, trên thế giới, đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, trách nhiệm xã hội không còn là vấn đề xa lạ, thậm chí đã trở thành kim chỉ nam cho sự thành công của các doanh nghiệp bởi rất nhiều lợi ích rõ ràng mà nó đem lại
Trang 13như giảm chi phí, tăng doanh thu, tăng giá trị doanh nghiệp, giảm tỉ lệ nhân viên thôi việc, tăng năng suất và cơ hội tiếp cận các thị trường mới Hãy nhìn vào thành công của The Body Shop để thấy được giá trị của việc thực hiện trách nhiêm xã hội đối với sự thành công của doanh nghiệp Anita Roddick đã phá vỡ hầu hết mọi quy tắc kinh doanh khi cô khởi sự doanh nghiệp The Body Shop, tập đoàn hàng đầu của Anh về cung cấp các loại mỹ phẩm có nguồn gốc thiên nhiên Sản phẩm mà The Body Shop mang đến cho khách hàng phải là những sản phẩm được làm bằng những nguyên liệu và phương thức không gây hại cho môi trường Anita luôn hình dung ra một công ty có trách nhiệm và lương tâm với xã hội, cô đã từng phát biểu:
“Tôi ghét ngành làm đẹp Đó là một ngành chuyên đi bán những giấc mơ không thể trở thành hiện thực Nó lừa dối và khai thác tiền của phụ nữ Tôi chỉ muốn làm việc cho một công ty có đóng góp cho xã hội và là một phần của cộng đồng Tôi không chỉ muốn có một nơi để đầu tư mà còn muốn có một nơi để trao gửi niềm tin” Nhân viên của Anita cũng đồng quan điểm với người chủ và luôn cùng cô hướng đến các hoạt động cộng đồng, họ dành nửa ngày mỗi tháng giam gia các hoạt động tình nguyện xã hội, có những người còn tình nguyện sang Romania tham gia xây dựng trại trẻ mồ côi Chính bởi lý tưởng về trách nhiệm xã hội từ ngay những ngày đầu sáng lập của người phụ nữ tài ba này, The Body Shop đã nhanh chóng trở thành tập đoàn toàn cầu với hơn 1.500 cửa hàng trên khắp thế giới, với giá trị thương hiệu lên tới 500 triệu đô la trước khi Anita quyết định chuyển nhượng lại cho L’Oreal để dành thời gian và số tài sản tích luỹ được của mình lên đến 104 triệu đô la Mỹ làm
từ thiện Có thể nói, thành công của Anita với thương hiệu The Body Shop là minh chứng rõ ràng nhất cho những giá trị tuyệt vời mà việc thực hiện trách nhiệm xã hội
có thể đem lại cho một doanh nghiệp
Tại Việt Nam, trong hai thập niên gần đây, cụm từ “Trách nhiệm xã hội” cũng được nhắc đến nhiều hơn Ngày càng có nhiều doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của trách nhiệm xã hội và thành công với việc thực hiện các nội dung của trách nhiệm xã hội Vinamilk có thể coi là một trong những doanh nghiệp đi đầu trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội tại Việt Nam Vinamilk đã ban hành bộ
Trang 14“Chính sách Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp” cùng “Bộ quy tắc ứng xử” nhằm tuyên bố những quan điểm hoạt động và minh bạch hóa các cam kết về trách nhiệm của Vinamilk đối với xã hội, cộng đồng, và coi đó là kim chỉ nam cho tất cả các chính sách, quy chế, quy định và mọi quy trình hoạt động của Vinamilk.Với Vinamilk, trách nhiệm xã hội không phải là một áp lực từ bên ngoài mà là một phần sẵn có trong nguyên tắc kinh doanh, trong sứ mệnh hoạt động và được tích hợp vào tất cả các hoạt động của mình Quả thật, cho đến thời điểm này, không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của Vinamilk trong việc nâng cao các giá trị cộng đồng, tham gia các chương trình từ thiện xã hội vì mục tiêu phát triển một Việt Nam bền vững Trong ngành sữa Việt Nam, mặc dù trong những năm gần đây, đã có rất nhiều hãng sữa lớn nhỏ gia nhập ngành và có những thành công nhất định, nhưng không vì thế
mà dễ dàng làm lung lay vị trí số một của Vinamilk, bởi sự phát triển của Vinamilk
có nền móng vững chắc dựa trên những cam kết phục vụ lợi ích cộng đồng
Trách nhiệm xã hội tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay tuy không còn mới mẻ nhưng nhận thức về nó vẫn chưa đầy đủ cũng như những bài toán đặt ra về việc thực hiện thế nào cho hiệu quả, cho tốt vẫn chưa có những lời giải thích đáng Mai Linh Group trong những năm 2008 đã từng là hình mẫu của rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam bởi sự thành công cùng những bài học vẻ vang về thực hiện trách nhiệm đối với cộng đồng, chính sách đãi ngộ đối với nhân viên hay văn hoá doanh nghiệp Vậy mà chỉ chưa đầy 5 năm sau những ngày huy hoàng đó, người ta thấy Mai Linh tuyên bố phá sản Nhiều người cho rằng bởi việc Mai Linh đã “hoang phí”
và chịu nợ xấu bỏ ra quá nhiều tiền để “đánh bóng thương hiệu” bằng những khẩu hiệu trách nhiệm xã hội, cũng có những nhân viên cũ của Mai Linh nói rằng họ chẳng “được nhiều” như những gì báo chí, truyền thông vẫn “bóng bẩy” nói về Mai Linh Không biết câu chuyện nào là thật, nhưng trách nhiệm xã hội cần phải được thực hiện từ nhận thức đúng đắn về nó, cũng như có những xoay chuyển phù hợp với dòng xoay chuyển của xã hội
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bàn đến nhiều khía cạnh khác nhau của doanh nghiệp và làm thế nào để dung hoà được trách nhiệm đối với các đối
Trang 15tượng liên quan khác nhau để đưa ra được những quyết định đúng nhất vào hoạt động của doanh nghiệp luôn là bài toán khó Tuy nhiên, khi nhắc đến khái niệm
“Trách nhiệm xã hội” tại Việt Nam hiện nay, hầu hết các bài báo, các nghiên cứu trước đều chỉ tập trung đề cập đến khía cạnh trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp đối với vấn đề môi trường, khách hàng, mà ít đi sâu vào vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với Người lao động – nhân tố chiến lược quyết định năng lực canh tranh của các doanh nghiệp trong thời buổi kinh doanh hiện nay
Ngành chế biến đồ hộp du nhập vào Việt Nam từ những năm 1950 và phát triển ổn định theo sự phát triển của nền kinh tế chung Cho đến nay, chế biến đồ hộp
là một trong những ngành đóng góp khá lớn vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là đồ hộp thuỷ hải sản và đồ hộp rau củ quả Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long (Hạ Long Canfoco) được thành lập vào năm 1957 tại Hải Phòng và là cơ sở tiên phong của ngành chế biến thực phẩm tại Việt Nam Suốt gần 60 năm hoạt động, công ty vẫn liên tục dẫn đầu thị trường Việt Nam về xuất khẩu các mặt hàng thực phẩm đóng hộp sang Mỹ, Nhật và các nước châu Âu Để giữ vững được uy tín cũng như thành công trong ngành xuất khẩu thực phẩm này, đồng thời bình ổn được cả thị trưởng tiều dùng nội địa, Công ty luôn cố gắng hoàn thiện mọi công tác liên quan đến sản xuất, giám sát chất lượng và trách nhiệm xã hội đối với các bên liên quan để đạt đến các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 9001:2008, ISO 14001, ISO 22000, ISO 26000,…
Đặc biệt, trong những năm gần đây, Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Đồ hộp
Hạ Long đã nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện các trách nhiệm đối với xã hội, trong đó trách nhiệm xã hội đối với người lao động cũng được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu của công ty Công ty luôn cố gắng làm tốt hơn các chế độ đối với người lao động, đặc biệt trong bối cảnh Bộ Luật Lao Động 2012 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/05/2013 Tuy nhiên, vấn đề thực hiện trách nhiệm
xã hội đối với người lao động tại công ty vẫn chưa được văn bản hóa cụ thể và đầu
tư một cách bài bản, cũng như chưa có một đội ngũ chuyên trách đảm nhiệm công tác này
Trang 16Chính vì vậy, nhằm làm rõ tầm quan trọng của việc thực trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người lao động, qua đó giúp doanh nghiệp đưa ra những giải
pháp hoàn thiện công tác này, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu trách nhiệm xã hội đối với người lao động tại Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long”
Thực chất của việc thực hiện đề tài nghiên cứu là việc đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Thế nào là trách nhiệm xã hội và trách nhiệm xã hội đối với người lao động của doanh nghiệp?
- Các trách nhiệm xã hội doanh nghiệp cần thực hiện đối với NLĐ là gì?
- Cách thức tổ chức thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động?
- Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động của doanh nghiệp?
- Thực trạng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động tại Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long và các nhân tố ảnh hưởng?
- Công ty cần có giải pháp gì để việc đẩy mạnh thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động trở nên hiệu quả hơn?
2 Tình hình nghiên cứu
Trên thế giới, ngay từ những ngày đầu của khái niệm Trách nhiệm xã hội
đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về TNXH nói chung cũng như mối quan hệ giữa TNXH đối với người lao động nói riêng
Carroll, A B., (1979), trong cuốn A three-dimensional conceptual model of corporate Performance, Academy of Management Review 1979, Vol.4, No.4, 497-505 đã đưa ra mô hình khái niệm mô tả toàn diện các khía cạnh thiết yếu của hoạt động xã hội của doanh nghiệp Ðồng thời giải đáp các câu hỏi: (1) Trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp bao gồm những thành phần nào? (2) Tổ chức phải giải quyết các vấn đề xã hội như thế nào? (3) Mô hình của tổ chức đáp ứng xã hội là gì? Nghiên cứu “Measuring Corporate Social Responsibility:A Scale Development Study” của Duygu Turker năm 2008 với mục đích cung cấp một nguồn gốc, giá trị, và sự đo lường đáng tin cậy của CSR phản ánh trách nhiệm của
Trang 17một doanh nghiệp với các bên liên quan khác nhau Dữ liệu được thu thập từ 269 chuyên gia kinh doanh làm việc tại Thổ Nhĩ Kỳ Các kết quả phân tích cung cấp một cấu trúc bốn chiều của CSR, bao gồm cả trách nhiệm xã hội cho các bên liên quan, nhân viên, khách hàng, và chính phủ
Sean Valentine, Gary Fleischman (2007) với bài viết “Ethics Programs, Perceived Corporate Social Responsibility and Job Satisfaction” Tác giả sử dụng thông tin khảo sát thu thập từ 313 chuyên gia kinh doanh, và đề xuất nhận thức trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là trung gian hòa giải các mối quan hệ tích cực giữa luật đạo đức và việc làm hài lòng Kết quả chỉ ra rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hoàn toàn hoặc một phần làm trung gian tích cực liên kết giữa bốn biến của chưõng trình đạo đức và sự hài lòng công việc cá nhân, cho thấy rằng các công ty có thể tốt hơn nếu quản lý nhận thức đạo đức của nhân viên và thái độ làm việc với nhiều chính sách, một cách tiếp cận xác nhận trong các tài liệu đạo đức Cũng trong năm 2007, Daniel.G.Greening and Daniel.B Turban có bài viết:
“Corporate Social Performance As a Competitive Advantage in Attracting a Quality Workforce” Tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng mang tính chiến lược của yếu tố con người đối với sự thành công của một tổ chức và coi chất lượng nguồn nhân lực như một lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của doanh nghiệp Trong nghiên cứu này, tác giả cũng thực hiện một cuộc khảo sát đối với học viên tại một khoá học cao cấp về chiến lược quản trị và một cuộc khảo sát khác đối với các sinh viên năm cuối cũng như các sinh viên mới tốt nghiệp tại các trường đại học miền Trung Tây nước Mỹ Bảng khảo sát bao gồm 32 mô tả về tổ chức, người tham gia được yêu cầu đọc từng
mô tả và đưa ra lựa chọn những điểm mà một tổ chức hấp dẫn họ Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng các doanh nghiệp thực hiện tốt các nội dung trách nhiệm xã hội sẽ có sức hấp dẫn hơn đối với các ứng viên khi anh ta lựa chọn gửi đơn ứng tuyển
Suparn Sharma (PhD), Joity Sharma (PhD), Arti Devi, năm 2009 với bài viết
“Corporate social resbonsibility: The key role of human resource management” đã chỉ
ra sự cần thiết thực hiện trách nhiệm xã hội trong việc nuôi dưỡng, phát triển một văn hoá doanh nghiệp mạnh cũng như vị trí trung tâm của nó trong hoạt động quản trị của
Trang 18doanh nghiệp.Từ đó nghiên cứu đưa đến những tác động kết hợp của trách nhiệm xã hội đối với hoạt động quản trị nguồn nhân lực, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố hành vi của nhà quản trị, hướng mục tiêu đến sự thành công lâu dài của tổ chức Một cuộc khảo sát được thực hiện bởi tập đoàn Cherenson thông qua các phương tiện đại chúng và các công ty quảng cáo tuyển dụng năm 2002 đã chỉ ra: hai yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến danh tiếng của một tổ chức chính là cách mà nhân viên của họ được đối xử và số lượng sản phẩm, dịch vụ tổ chức đó tiêu thụ được Trong đó cũng đặc biệt chỉ ra, việc tạo lập các mối quan hệ tốt đối với nhân viên sẽ giúp tổ chức gặt hái được nhiều lợi ích hơn trong việc củng cố hình ảnh đại chúng, khuyến khích sự gắn bó của nhân viên và gia tăng sự ủng hộ từ phía cộng đồng Tracy Wilcox (2006): “Human resource development as a element of Corporate Social Responsibility”.Bài viết này bàn đến các khía cạnh của trách nhiệm xã hội và cách thức để đưa nó vào phát triển nguồn lực con người trong mỗi
tổ chức Bài viết cũng xem xét các tác động của sức mạnh kinh tế, chính trị trong sự ảnh hưởng của môi trường chính trị toàn cầu đối với sự thay đổi trong quan điểm phát triển nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp và đề xuất các nội dung đạo đức, trách nhiệm xã hội mà doanh nghiệp cần thực hiện để đẩy mạnh hiệu quả sử dụng nguồn lực con người trong tổ chức
Bài viết “Justice in the workplace: From the theory to practice” của Russel Cropanzano năm 2001 đã đưa ra cấu trúc công lý của một tổ chức, các khung tham chiếu cho sự công bằng trong mỗi doanh nghiệp Tác giả cũng chỉ ra ảnh hưởng sâu sắc của sự công bằng trong tổ chức đối với thái độ, nhận thức và cách hành xử của người lao động,
từ đó đề xuất các giải pháp tích cực đẩy mạnh hoạt động quản trị nguồn nhân lực
Tại Việt Nam, nghiên cứu về TNXH cũng không còn xa lạ, tuy nhiên hầu hết
là các nghiên cứu về TNXH nói chung, và TNXH trong mối quan hệ với khách hàng, với môi trường xã hội, mà ít các nghiên cứu về TNXH trong việc quản trị nội
bộ Một số tác phẩm, công trình nổi bật như:
Nghiên cứu của Nguyễn Ðình Cung, Lưu Minh Ðức: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp CSR – một số vấn đề lí luận và yêu cầu đổi mới trong quản lý
Trang 19nhà nước đối với CSR ở Việt Nam” Tác giả đã tiếp cận từ góc độ kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực nhờ đó tác giả thấy được những vấn đề tồn tại mà Việt Nam phải đối mặt trong lĩnh vực CSR.Ðồng thời đưa ra giải pháp để giải quyết các vấn
đề tồn tại, đổi mới tư duy quản lý nhà nước
Bài viết của Nguyễn Thị Thu Trang: “Trách nhiệm xã hội củadoanh nghiệp” trên trang Doanh nhân 360 (25/08/2008), theo tác giả để hàng hóa của Việt Nam có thể cạnh tranh về giá cả hay số lượng với đối thủ cạnh tranh thì cần phải có chìa khóa để quản lý doanh nghiệp một cách có trách nhiệm với xã hội, doanh nghiệp cần hiểu rõ về CSR mới đem lại tăng trưởng bền vững và lợi nhuận lớn hơn Ngô Vân Hoài: “Nghiên cứu chính sách trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ở Việt Nam” Tác giả đã đề cập đến quá trình thực hiện trách nhiệm xã hội tại các doanh nghiệp và các tổ chức liên quan tại Việt Nam, các chương trình chiến lược đã
và đang áp dụng, kết quả cũng như các thách thức phải đối mặt, từ đó kiến nghị các giải pháp đẩy mạnh hiệu quả của thực hiện TNXH tại Việt Nam
Phạm Nguyệt Minh (2013): Đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước đối với việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” chỉ ra các công cụ của Nhà nước nhằm quản lý việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm củng cố sức mạnh quản lý của nhà nước trong vấn đề này
Nguyễn Đình Tài, 2009 với đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng và đối với môi trường Việt Nam vì sự phát triển bền vững” đã đánh giá thực hiện TNXH của DN theo quan điểm vì sự phát triển bền vững đối với hai nhân tố hữu quan là người tiêu dùng và môi trường, từ đó đề xuất các giải pháp đẩy mạnh hiệu quả thực hiện TNXH tại doanh nghiệp
Nguyễn Ngọc Thắng, 2010 “Gắn quản trị nhân sự với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” Tác giả đã nêu lên quan điểm của mình về vấn đề trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội, tầm quan trọng của thực hiện chiến lược TNXH đối với các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp cũng như sự cần thiết gắn kết các hoạt động quản trị với
Trang 20TNXH, đặc biệt là hoạt động quản trị nguồn nhân lực Từ đó, tác giả cũng đề xuất các giải pháp cụ thể để lồng ghép các bước của Quản trị nhân sự vào chiến lược trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Ba bài tham luận tại Hội thảo “Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người lao động và cộng đồng” do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với Trung tâm Nhân quyền thuộc Trường Đại học Olso của Na Uy ngày 22 tháng 05 năm
2012 bao gồm: “Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc đảm bảo an sinh xã hội” (Lê Thị Hòa Thu, Khoa Luật, Đại học Quốc gia, Hà Nội); “Trách nhiệm của doanh nghiệp trong hỗ trợ địa phương đào tạo nghề và giải quyết việc làm” (Nguyễn Hữu Chí, Đại học Luật Hà Nội); và “Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc đảm bảo các điều kiện an toàn lao động” (Phạm Thúy Nga, Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt Nam) Cả ba tham luận này đều đề cập đến những vấn
đề cơ bản nhất đồng thời cũng là những vấn đề cốt lõi của việc thực hiện TNXH đối với người lao động tại doanh nghiệp
Lê Thanh Hà, 2006, “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong vấn đề tiền lương”, Báo Lao động xã hội, số 290, ngày 15/05/2006 Tác giả muốn đề cập tới vai trò của tiền lương như: các mức lương vừa thể hiện vị trí, công việc vừa thể hiện sự chia sẻ lợi ích giữa các tổ chức, các doanh nghiệp và người lao động vừa thể hiện sự phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân người lao động
Nguyễn Phương Mai, với luận án tiến sĩ: “Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp sản xuất và chế biến thực phẩm tại Việt Nam - Tiếp cận từ góc độ người tiêu dùng” đã làm rõ bức tranh tổng hợp về vấn đề TNXHDN trong ngành sản xuất và chế biến thực phẩm tại Việt Nam, từ đó đưa ra một số đề xuất với chính phủ, doanh nghiệp và người tiêu dùng nhằm thúc đẩy sự thực thi TNXH của doanh nghiệp trong ngành sản xuất và chế biến thực phẩm tại Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài là đề xuất các giải pháp đẩy mạnh thực hiện trách nhiệm
xã hội đối với người lao động tại Công ty Cổ phần đồ hộp Hạ Long
Trang 21Để thực hiện mục đích này, đề tài xác định nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:
Một là, hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện TNXH đối
với người lao động trong doanh nghiệp (khái niệm, nội dung, cách thức tổ chức, các nhân tố ảnh hưởng…)
Hai là, đánh giá thực trạng thực hiện TNXH đối với người lao động tại Công
ty Cổ phần đồ hộp Hạ Long
Ba là, trên cơ sở thực trạng, định hướng phát triển của doanh nghiệp, đề xuất
quan điểm và giải pháp đẩy mạnh thực hiện TNXH đối với người lao động trong doanh nghiệp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
(i) Đối tượng nghiên cứu: Thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động của doanh nghiệp
(ii) Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu thực tế được tiến hành tại Công
ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long
- Phạm vi về thời gian: Dữ liệu phục vụ nghiên cứu giới hạn chủ yếu trong khoảng thời gian từ 2008 đến hết năm 2013 và đề xuất giải pháp định hướng phát triển đến 2020
5 Bố cục luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và các danh mục từ viết tắt, danh mục hình vẽ, hộp, bảng biểu, nội dung của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1:Một số lý luận về thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao
động trong doanh nghiệp
Chương 2:Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động
tại Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long
Chương 4: Giải pháp chủ yếu đẩy mạnh thực hiện trách nhiệm xã hội đối
với người lao động tại Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long
Trang 22CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Trách nhiệm xã hội
Ngày nay, trách nhiệm xã hội (Corporate Social Responsibility - CSR) ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong hoạt động của các doanh nghiệp Mỗi tổ chức, doanh nghiệp, chính phủ, tuỳ thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển của mình lại chọn cho mình một định nghĩa về CSR dưới những góc độ riêng CSR khuyến khích các tổ chức xem xét lợi ích của xã hội bằng cách chịu trách nhiệm về những ảnh hưởng gây ra bởi các hoạt động của tổ chức đến khách hàng, nhân viên, cổ đông, cộng đồng và môi trường trong tất cả các khía cạnh Từ
đó có các biện pháp để cải thiện chất lượng cuộc sống cho người lao động và gia đình họ cũng như cho cộng đồng địa phương, xã hội
H.R.Browen là người đầu tiên đưa ra khái niệm về CSR vào năm 1953 trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của các doanh nhân” Nhưng chủ yếu trong giai đoạn này CSR chỉ bao gồm hai khía cạnh đó là luật phápvà kinhtế Đến năm 1955, người đầu tiên thực hiện CSR, có thể nói là ông Noris, CEO đầu tiên của công ty Control Data Norisđã phác thảo những ý tưởng đầu tiên về thực hiện CSR bằng việc chỉ racác doanh nghiệp nên sử dụng tài năng và nguồn lực của mình nhằm đáp ứng những nhu cầu của xã hội Tuy nhiên ông đã không thành công trong việc triển khai những ý tưởng của mình và United Way sau đó đã là người đã phát triển ý tưởng của Noris thành chiến lược thành công giúp doanh nghiệp gia tăng lợi thế cạnh tranh đồng thời phát triển cộng đồng lâu dài
Đến năm 1973, Keith Davis đưa ra một khái niệm khá rộng về CSR “CSR là
sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lí, kinh tế, công nghệ” Prakash,Sethi (1975) cho rằng
“trách nhiệm xã hội hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kì vọng xã hội đang phổ biến”, theo đó, trách nhiệm xã hội
Trang 23của doanh nghiệp chỉ dừng lại ở trách nhiệm với cổ đông và người lao động trong công ty, còn nhà nước phải có trách nhiệm với xã hội vì doanh nghiệp đã góp phần
có trách nhiệm với xã hội thông qua nộp thuế cho nhà nước Theo quan điểm này, bản chất của CSR gắn liền vai trò của DN trong mối tương quan với vai trò của nhà nhà nước khiến cho khái niệm CSR luôn biến đổi
Tuy nhiên, từ khi xuất hiện khái niệm “Triple bottom lines” (bao gồm sự phát triển về kinh tế, con người và tự nhiên) do John Elkington (1977) khởi xướng thì mọi thứ hoàn toàn thay đổi Theo đó, đối tượng tiếp cận và trách nhiệm của một doanh nghiệp được mở rộng ra bên ngoài phạm vi doanh số, lợi nhuận và kháchhàng, thêm vào đó doanh nghiệp còn phải có trách nhiệm với những ảnh hưởng của do các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó gây ra trên một khu vực địa phương cụ thể, cũng như trách nhiệm thể hiện sự đóng góp của mình như là một phần của cộng đồng dân cưđó Quan điểm này được Archie B Carroll phát triển thành tháp CSR vào năm 1979 với bốn thang bậc trách nhiệm bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp luật, cam kết và tự nguyện Và cho đến nay, mô hình kim tự tháp của Carroll vẫn là nền tảng cốt lõi cho hầu hết các DN khi tiếp cận khái niệm CSR và triển khai thực hiện
Như vậy, có thể thấy rõ, dù có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về CSR thì bản chất của khái niệm này vẫn xoay quanh những cam kết của DN đóng góp vào phát triển kinh tế bền vững thông qua việc đảm bảo lợi ích DN trong khuôn khổ pháp luật hiện hành cũng như lợi ích phát triển chung của toàn xã hội.CSR được coi
là một yếu tố quan trọng như những yếu tố truyền thống khác như chi phí, chất lượng và giao hàng trong kinh doanh CSR được lồng ghép vào chiến lược của DN
và trở thành điều kiện bắt buộc để DN tồn tại và phát triển Tuy nhiên, khái niệm CSR còn mới với nhiều DN tạiViệt Nam với năng lực quản lý, kiến thức chuyên môn trong thực hiện CSR ở DN còn hạn chế
Trong khuôn khổ đề tài này, trách nhiệm xã hội được tiếp cận dưới góc độ là
những cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững,
Trang 24thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đời sống cho người lao động và các thành viên trong gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội
1.1.2 Người lao động trong doanh nghiệp
Tại Việt Nam, theo Quy định tại Điều 3 Bộluật Lao động, người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động
Người lao động trong doanh nghiệp (NLĐ) là người có đủ điều kiện lao động theo quy định của luật pháp, được một doanh nghiệp cụ thể giao kết hợp đồng lao động trong đó quy định rõ thời gian, hình thức lao động phù hợp với pháp luật của địa phương cũng như các quy tắc ứng xử riêng của doanh nghiệp đó
Người lao động trong doanh nghiệp phải được đảm bảo các quyền lợi như trong giao kết với DN, đồng thời cũng có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với DN, góp phần vào mục tiêu chung Quyền lợi của NLĐ bao gồm các quyền lợi tối thiểu theo pháp luật, quy định tại Điều 5 Bộluật Lao động: quyền tự do chọn việc làm, học nghề, nâng cao trình độ, không bị phân biệt đối xử; chế độ lương, thưởng, phúc lợi; chế độ bảo hộ lao động, bảo đảm điều kiện làm việc an toàn; tham gia hoạt động công đoàn…; bên cạnh đó còn là các quyền lợi mà DN tự cam kết với NLĐ trong hợp đồng lao động (HĐLĐ)
Bên cạnh khái niệm người lao động, cũng tồn tại khái niệm về tập thể người lao động Đó là tập hợp có tổ chức của người lao động cùng làm việc cho một người
sử dụng lao động hoặc trong một bộ phận thuộc cơ cấu tổ chức của người sử dụng lao động
Cũng cần phân biệt khái niệm người lao động với tổ chức đại diện tập thể người lao động và tổ chức đại diện tập thể người sử dụng lao động Theo đó, tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở là Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở
Tổ chức đại diện tập thể người sử dụng lao động là tổ chức được thành lập hợp pháp, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động
Trang 251.1.3 Thực hiện trách nhiệm xã hội
Thực hiện trách nhiệm xã hội được hiểu là các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp đối với các bên hữu quan nhằm đảm bảo các cam kết trách nhiệm xã hội mà doanh nghiệp đề ra
Mô hình kim tự tháp của A.Carroll (1979) đề cập đến 4 khía cạnh của thực hiện CSR theo thứ bậc được đánh giá là có tính toàn diện và được áp dụng rộng rãi trong việc tiếp cận triển khai CSR Theo đó, CSR được ưu tiên thực hiện theo 4 mức trách nhiệm: Trách nhiệm kinh tế; Trách nhiệm pháp lý; Trách nhiệm cam kết;
và Trách nhiệm tự nguyện
Hình 1.1 Mô hình kim tự tháp A.Carroll (1979)
(Nguồn: Archie B.Carroll, A.B., 1991)
(i) Thực hiện trách nhiệm kinh tế: tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh,
hiệu quả và tăng trưởng, là điều kiện tiên quyết bởi DN được thành lập trước hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận Thêm vào đó, với vai trò là tế bào kinh tế căn bản của xã hội, việc thực hiện trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp cũng chính là nòng cốt cho đóng góp vào
sự phát triển chung của xã hội
(ii) Thực hiệntrách nhiệmpháp luật chính là một phần của bản “khế
ước” giữa DN và xã hội Mọi mục tiêu kinh tế DN theo đuổi đều
Trách nhiệm tựnguyệnTrách nhiệmcam kết
Trách nhiệm pháp luậtTrách nhiệm kinh tế
Trang 26phải nằm trong giới hạn của các quy tắc xã hội, được Nhà nước quy định dưới hình thức các văn bản pháp luật Trách nhiệm pháp
lý bao gồm 5 khía cạnh cơ bản: Điều tiết cạnh tranh, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh; Bảo vệ người tiêu dùng cụ thể thông qua việc tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn đối với sản phẩm đồng thời cung cấp chính xác thông tin về sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách hàng; Bảo vệ môi trường bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá - xã hội phi vật thể; An toàn và bình đẳng trong môi trường làm việc; Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái
Trách nhiệm pháp lý, bên cạnh trách nhiệm kinh tế là hai bộ phận
cơ bản không thể thiếu trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp DN không thể tồn tại lâu dài khi các hành vi của nó nằm ngoài khuôn khổ pháp luật nhà nước
(iii) Thực hiệntrách nhiệmcam kết là những quy tắc, giá trị được xã
hội chấp nhận nhưng chưa được “mã hóa” vào văn bản luật Ngoài việc tuân thủ pháp luật được coi là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra, DN còn cần phải thực hiện cả các cam kết ngoài luật như các chế độ riêng đối với người lao động, chăm sóc khách hàng, quan hệ với nhà cung ứng, cổ đông, đối thủ cạnh tranh… Trách nhiệm cam kết hay còn gọi là trách nhiệm đạo đức, vì nó nằm ngoài phạm vi pháp lý những vẫn thuộc phạm trù đạo đức mà xã hội mong đợi ở bất kỳ
DN nào khi tham gia nền kinh tế Các cam kết này thường được tuyên bố trong bản tuyên bố sứ mệnh như là các giá trị cốt lõi của doanh nghiệp, trong nội quy lao động, chiến lược kinh doanh hay bộ quy tắc văn hoá doanh nghiệp và được phổ biến rộng rãi đến các bên liên quan Trách nhiệm cam kết là tự nguyện, nhưng lại chính là trung tâm của TNXH
Trang 27(iv) Thực hiệntrách nhiệmtừ thiện là những hành vi của DN vượt ra
ngoài sự trông đợi của xã hội, như quyên góp ủng hộ cho người yếu thế, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng… Việc thực hiên trách nhiệm thực từ thiện là hoàn toàn tự nguyện đối với doanh nghiệp Ngay cả khi họ không thực hiện trách nhiệm này, họ vẫn được đánh giá là đã đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội trông đợi
Có thể coi mô hình kim tự tháp của A.Carroll chính là nền tảng cho rất nhiều nghiên cứu sau này Một số nghiên cứu đã cụ thể hoá việc thực hiện TNXH của DN bằng các quan điểm, hành động: đảm bảo được hoạt động của mình không gây ra những tác hại đối với môi trường sinh thái, tức là phải thể hiện sự thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất của mình, đây là một tiêu chí rất quan trọng đối với người tiêu dùng; Phải biết quan tâm đến người lao động, người làm công cho mình không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần, việc buộc người lao động làm việc đến kiệt sức hoặc không có giải pháp giúp họ tái tạo sức lao động của mình là điều hoàn toàn xa lạ với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; Phải tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ, không được phân biệt đối xử về mặt giới tính trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa trên sự công bằng về năng lực của mỗi người; Không được phân biệt đối xử, từ chối hoặc trả lương thấp giữa người bình thường và người bị khiếm khuyết về mặt cơ thể hoặc quá khứ của họ; Phải cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt, không gây tổn hại đến sức khoẻ người tiêu dùng, đây cũng là một tiêu chí rất quan trọng thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng; Dành một phần lợi nhuận của mình đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng đồng
Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, rào cản và thách thức cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm: nhận thức về khái niệm trách nhiệm xã hội còn hạn chế; năng suất bị ảnh hưởng khi phải thực hiện đồng thời nhiều bộ quy tắc ứng xử; thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã hội (đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ); sự
Trang 28nhầm lẫn do khác biệt giữa qui định của bộ quy tắc ứng xử và Bộ luật Lao động; và những quy định trong nước ảnh hưởng tới việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử Như vậy, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một vấn đề không
dễ dàng Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, các doanh nghiệp cần phải quan tâm
và thực hiện trách nhiệm xã hội, vì người tiêu dùng, nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức phi chính phủ trên toàn cầu ngày càng quan tâm hơn tới ảnh hưởng của việc toàn cầu hoá đối với quyền của người lao động, môi trường và phúc lợi cộng đồng Những doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội có thể
sẽ không còn cơ hội tiếp cận thị trường
1.2 Thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động trong doanh nghiệp
Thực hiện TNXH đối với NLĐ là các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm cam kết và trách nhiệm tự nguyện đối với người lao động
1.2.1 Thực hiện trách nhiệm kinh tế đối với người lao động trong DN
Hình 1.2.Bản chất của thực hiện trách nhiệm kinh tế đối với NLĐ
(Nguồn: Giáo trình quản trị nguồn nhân lực, Trần Kim Dung, 2011)
Bản chất của thực hiện trách nhiệm kinh tế đối với NLĐ chính là việc DN luôn cố gắng tối đa hoá lợi nhuận để tăng chi phí cho NLĐ hay nói cách khác là tăng tiền công NLĐ bằng ba hành động chủ yếu là: Tăng doanh số (thu nhập doanh
Tăng chi phí dành cho NLĐ (Tăng tiền công cho NLĐ)
Giảm chi phí quản lý
Tăng năng suất lao động
Tăng doanh số
Trang 29nghiệp); tăng năng suất lao động; tối thiểu hoá chi phí Ba hành động này phải được tiến hành đồng bộ và là ba mục tiêu song hành trong chiến lược kinh doanh của DN Tăng doanh số đồng nghĩa với việc DN phải mở rộng thị trường, định vị tốt sản phẩm và khách hàng của mình để có những cải tiến phù hợp, liên tục, đem đến cho khách hàng những trải nghiệm mới có giá trị, đồng thời bố trí, quản lý có hiệu quả kênh phân phối để đảm bảo sản phẩm đến được đúng người tiêu dùng bằng cách thức phù hợp nhất, tiện lợi nhất Bên cạnh đó, bằng việc áp dụng các bộ quy tắc quản trị, quản lý chất lượng phù hợp, chi phí quản lý được tối thiểu hoá, năng suất lao động được giám sát chặt chẽ hơn và được đánh giá đúng
Tiền công hay nói chính xác là thu nhập của NLĐ (bao gồm các khoản lương, thường, phúc lợi) chính là yếu tố nòng cốt của thực hiện trách nhiệm kinh tế đối với NLĐ.Tuy nhiên, trên thực tế, khái niệm và cơ cấu tiền công rất đa dạng ở các nước trênthế giới.Điều đó cho thấy sự phức tạp về tiền công thể hiện ngay trong quan điểmtriết lý về tiền lương Tiền công có thể có nhiều tên gọi khác nhau như thù lao laođộng, thu nhập lao động…
Ở Pháp sự trả công được hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, phụ khoản khác, được trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động
Ở Đài Loan, tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà người công nhân nhận được do làm việc, bất luận là lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng hoặc dùng mọi danh nghĩa khác để trả cho họ theo giờ, ngày, tháng, theo sản phẩm
Ở Nhật Bản, tiền lương là thù lao bằng tiền mặt và hiện vật trả cho người làm công một cách đều đặn, cho thời gian làm việc hoặc cho lao động thực tế, cùng với thù lao cho khoảng thời gian không làm việc, như là nghỉ mát hàng năm, các ngày nghỉ có hưởng lương hoặc nghỉ lễ Tiền lương không tính đến những đóng góp của người thuê lao động đối với bảo hiểm xã hội và quỹ hưu trí cho người lao động và phúc lợi mà người lao động được hưởng nhờ có những chính sách này Khoản tiền
Trang 30được trả khi nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động cũng không được coi là
tiền lương
Tại Việt Nam, trong nhiều năm qua, nhà nước luôn cố gắng cải cách các
chính sách tiền lương nhằm đáp ứng được nhu cầu của xã hội và phù hợp với nền
kinh tế đang phát triển nhanh Tuy nhiên, ngoài những thành công đã đạt được vẫn
còn những hạn chế và bất cập
1.2.2 Thực hiện trách nhiệm pháp luật đối với người lao động trong DN
Thực hiện TNXH pháp luật đối với NLĐ trước hết được hiểu là việc DN
tuân thủ các Công ước quốc tế liên quan đến NLĐ cũng như các quy định pháp luật
của nhà nước hiện hành trong mọi hoạt động từ tuyển dụng, ký kết hợp đồng, sử
dụng, đào tạo, phát triển lao động nhằm đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, đồng thời
hướng dẫn, tạo điều kiện cho họ thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật quy định
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã xây dựng cho mình một Bộluât Lao
động làm công cụ điều chỉnh các mối quan hệ giữa người lao động với các bên hữu
quan Các bộ luật này nhìn chung đều dựa trên nền tảng các quy ước trong các Công
ước quốc tếvề con người nói chung và về NLĐ nói riêng, phù hợp với điều kiện và
pháp luật của từng quốc gia đó Trên thế giới, nổi tiếng phải kể đến Luật Lao Động
của Mỹ, một bộ luật đồ sộ bao gồm rất nhiều cấu cấu phần là các đạo luật nhỏ bên
trong, được coi như là chuẩn mực về quy định trách nhiệm pháp lý giữa người sử
dụng lao động và người lao động Một điểm văn minh nổi trội có thể thấy ở Bộ luật
lao động của Mỹ là các đạo luật liên quan đến khoản hưu trí cho NLĐ, theo đó
người sử dụng lao động đóng một vai trò chủ chốt trong việc giúp người lao động
tiết kiệm cho hưu trí Khoảng một nửa số lao động do tư nhân tuyển dụng và hầu
hết các công chức nhà nước được chu cấp bởi một số kiểu kế hoạch tiền hưu trí
Người sử dụng lao động không bắt buộc phải đỡ đầu cho kế hoạch tiền hưu trí,
nhưng chính phủ khuyến khích họ làm như vậy bằng các khoản giảm thuế lớn nếu
họ tổ chức và đóng góp tiền hưu trí cho người lao động
Nhìn chung, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, đặc điểm dân số và các tính
chất địa phương, mỗi quốc gia sẽ có những tiếp cận khác nhau đối với vấn đề quyền
Comment [V1]: Phần này xem lại, có thể tận
dụng 1 số ý nhưng đang viết nhiều thứ ko liên quan
Trang 31và lợi ích của người lao động, tuy nhiên vẫn dựa trên một số điều luật cơ bản chung, bao gồm cácsố điểm cụ thể sau:
Hộp 1.1 Nội dung thực hiện trách nhiệm xã hội theo pháp luật đối với người lao
động trong doanh nghiệp
(i) Thực hiện ký kết Hợp đồng lao động (HĐLĐ);
(ii) Đảm bảo thời gian thử việc cho NLĐ;
(iii) Thực hiện đào tạo những nội dung bắt buộc đối với NLĐ như pháp luật lao động (PLLĐ), an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ), phòng cháy chữa cháy (PCCC)…;
(iv) Đảm bảo số ngày làm việc trên tuần đúng PLLĐ;
(v) Đảm bảo số giờ làm việc trong ngày đúng PLLĐ;
(vi) Đảm bảo thời gian làm thêm giờ theo đúng PLLĐ;
(vii) Đảm bảo thời gian nghỉ giữa giờ, nghỉ phép, nghỉ cuối tuần theo đúng PLLĐ;
(viii) Đảm bảo thực hiện tiền lương tối thiếu;
(ix) Đảm bảo trả tiền lương làm thêm giờ theo đúng PLLĐ;
(x) Đảm bảo trang bị bảo hộ lao động;
(xi) Đóng BHYT, BHXH cho NLĐ theo đúng PLLĐ;
(xii) Có khu vực vệ sinh riêng cho lao động nữ;
(xiii) Đảm bảo cho NLĐ khám sức khoẻ định kỳ;
(xiv) Không phân biệt trong tuyển dụng, bố trí, sắp xếp công việc;
(xv) NLĐ được tham gia tổ chức công đoàn, đoàn thể;
(Nguồn: Bộ luật Lao động Việt Nam 2012)
Đây cũng chính là nội dung thực hiện CSR theo pháp luật đối với người lao động mà học viên tiếp cận trong phạm vi của nghiên cứu này Song song với việc nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật về sử dụng lao động, trách nhiệm xã hội pháp luật cũng đề cập đến việc doanh nghiệp thường xuyên cập nhật các văn bản liên quan, đồng thời tuyên truyền kịp thời đến người lao động để họ
Trang 32nắm được quyền lợi, nghĩa vụ của mình, hướng dẫn họ thực hiện sống và làm việc theo pháp luật Từ đó, người lao động chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ của mình, phản hồi tích cực đến người sử dụng lao động thông qua năng suất lao động, thái độ làm việc, động cơ đến với DN,…
1.2.3 Thực hiện trách nhiệm cam kết và trách nhiệm tự nguyện đối với người lao động
Trách nhiệm cam kết và tự nguyện, bản chất đều là các trách nhiệm cao hơn luật, khác nhau cơ bản ở chỗ, trách nhiệm cam kết được DN cam kết với NLĐ bằng những văn bản cụ thể như trong Hợp đồng lao động, thoả ước lao động, nội quy hoặc cao hơn được DN tuyên bố với xã hội trong văn bản Văn hoá doanh nghiệp (VHDN) hay trong các tuyên bố sứ mệnh của DN, khi DN đã cam kết bằng văn bản,
DN bắt buộc phải thực hiện và chịu trách nhiệm trước NLĐ khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng; còn trách nhiệm tự nguyện không là những cam kết, nó được DN thực hiện hoặc không thực hiện tuỳ thuộc vào tình hình của DN trong những thời điểm cụ thể và ngay cả khi DN không thực hiện trách nhiệm này thì vẫn được đánh giá là đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội đối với NLĐ
Một số biểu hiện thường thấy của việc thực hiện các trách nhiệm cam kết và
tự nguyện tại các DN Việt Nam như:
(i) Đào tạo, phát triển, nâng cao trình độ cho NLĐ;
Thực tế, tại hầu hết các DN hiện nay, đào tạo, phát triển NLĐ là một phần cam kết cơ bản DN có chính sách đào tạo và phát triển tốt, hiệu quả, đúng lúc, đúng người sẽ chủ động hơn trong việc bố trí nhân lực tại các thời điểm DN cần
có sự thay đổi cho phù hợp với các biến động của thị trường, nền kinh tế Mặt khác, NLĐ được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, được trao vào tay những kỹ năng để làm chủ công việc, làm chủ cuộc sống của mình sẽ tự tin hơn trong công việc, gắn bó với tổ chức, nâng cao năng suất và đóng góp nhiều hơn cho xã hội
(ii) Mua sắm đồng phục: Tại một số các DN mà Văn hoá doanh nghiệp luôn được ưu tiên chú trọng thì việc nhân viên sử dụng đồng phục Công ty
Trang 33không còn là điều mới mẻ Việc sắm đồng phục cho nhân viên góp phần khuếch trương VHDN, giúp hình ảnh của DN đến gần hơn với khách hàng, đối tác
(iii) Bố trí xe đưa đón: Các DN mà trụ sở làm việc đặt tại các khu công nghiệp xa trung tâm luôn thường tự nguyện bố trí xe đưa đón NLĐ đi làm Việc làm này một phần hỗ trợ chi phí đi lại cho NLĐ, mặt khác NLĐ được đưa đón tập trung, đúng giờ, đảm bảo thời lượng và hiệu quả lao động
(iv) Chương trình chăm sóc sức khoẻ: tổ chức cho NLĐ khám bệnh, cấp phát thuốc chữa bệnh định kì
(v) Chương trình tập luyện thể thao, giải trí;
(vi) Chương trình hỗ trợ bữa ăn: tổ chức phòng ăn tập thể cung cấp suất ăn trưa cho NLĐ hoặc hỗ trợ tiền ăn trưa cho NLĐ
(vii) Chương trình hỗ trợ hoạt động đoàn thể;
(viii) Chương trình trợ cấp khó khăn đột xuất;
(ix) Tạo điều kiện cho NLĐ cân bằng giữa công việc và cuộc sống; (x) Tạo cơ hội cho NLĐ tham gia ý kiến
(xi) Có nơi lưu trú cho NLĐ;
(xii) Xây dựng nhà trẻ;
(xiii) …
Trong một số nghiên cứu, trách nhiệm cam kết được coi là trung tâm của CSR, bởicàng nhiều các cam kết DN chủ động thực hiện với NLĐ thì đồng nghĩa với quyền lợi NLĐ được hưởng từ CSR càng cao, hay nói cách khác DN càng thực hiện tốt hơn TNXH của mình Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn, việc thực hiện CSR tại các DN Việt Nam vẫn còn mới mẻ và chưa là ưu tiên, quan tâm hàng đầu thì hầu hết các DN lựa chọn cam kết ít hơn với NLĐ, các trách nhiệm ngoài pháp luật được thực hiện ít hay nhiều phụ thuộc vào tình hình của DN trong từng thời điểm nhất định
Trang 341.3 Tổ chức thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động trong DN
Hình 1.3 Nội dung tổ chức thực hiện trách nhiệm xã hội đối với NLĐ
(Nguồn: Giáo trình Quản trị học, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội)
Như đã đề cập, thực hiện CSR sẽ giúp DN đa ̣t được những lợi ích đáng kể bao gồm giảm chi phí, tăng doanh thu, tăng giá trị thương hiệu, giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, tăng năng suất và thêm cơ h ội tiếp c ận thi ̣ trường mới Kết quả khảo sát
500 doanh nghiệp lớn nhất Vi ệt Nam 2010 của Vietnamnet chỉ ra rằng vi ệc thực hiện CSR của các doanh nghi ệp này đã thực sự góp phần thu hút và giữ chân nhân sự tài năng cũng như nâng cao hình ảnh doanh nghi ệp trong cộng đồng Tuy nhiên, không phải DN nào cũng thành công khi tiếp cận và thực hiện CSR và việc tổ chức thực hiện sẽ đóng vai trò quyết định đến kết quả thực hiện CSR tại DN
1.3.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động trong doanh nghiệp
Xây dựng kế hoạch là khâu đầu tiên trong mô hình tổ chức thực hiện CSR, làm tiền đề cho việc triển khi thực hiện đồng thời là cơ sở cho việc đánh giá đo lường hiệu quả Xây dựng kế hoạch được tiến hành theoba bước cụ thể sau:
Xây dựng
kế hoạch
Trang 35Hình 1.4 Các bước xây dựng kế hoạch thực hiện CSR đối với NLĐ
(Nguồn: Giáo trình Quản trị chiến lược, Hoàng Văn Hải, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2010) Thứ nhất,xác định mục tiêu CSR: Các doanh nghiệp thực hiện CSR
thànhcông nhằm mục tiêu đẩy mạnh sự tuân thủ luật pháp quốc gia; Bảo đảm cho
các doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu kinh doanh lâu dài, bền vững và tăng
khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập; Xây dựng mối quan hệ lao động hài
hòa, giảm các rủi ro trong kinh doanh quốc tế như tranh chấp thương mại, bán phá
giá,… Do đó, doanh nghiệp thực hiện CSR không đơn thuần mang lại lợi ích kinh tế
mà còn có lợi ích xã hội và chính trị
Thứ hai, xây dựng các công cụ thực hiện CSR: Hiện nay trên thế giới có rất
nhiều các công cụ giúp thực hiện CSR Các công cụ này được chia thành 3 nhóm
chính, bao gồm: Quy tắc ứng xử của các tổ chức quốc tế như: ISO, Công ước ILO,
GC, OECD; Quy tắc ứng xử của của các tập đoàn đa quốc gia, các tổ chức hiệp hội
ngành nghề: Bộ Quy tắc ứng xử của Nike (Tập đoàn thể thao), Adidas (Tập đoàn
thời trang), FTA (Hiệp hội Ngoại thương); và Quy tắc ứng xử của các tổchức độc
lập như: SAI (Tổ chức Trách nhiệm xã hội Quốc tế), FLA (Nhượng quyền Thương
mại) Các doanh nghiệp sẽ cần thu thập đầy đủ các thông tin để lựa chọn thực hiện
Bộ Quy tắc ứng xử nào phù hợp nhất với doanh nghiệp của mình
Thứ ba, hoạch định ngân sách: Việc áp dụng các công cụ thực hiện CSR đi
đôi với việc DN cần bỏ chi phí để xây dựng những hệ thống hỗ trợ Do vậy, DN cần
có những hành động cụ thể trong việc hoạch định ngân sách cần thiết cho việc triển
khai CSR
Xác định mục
tiêu CSR
Xây dựng các công cụ thực hiện CSR
Hoạch định ngân sách thực hiện CSR
Comment [V2]:
Comment [V3]: Viết chi tiết theo ý này
Trang 361.3.2 Triển khai thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động trong
doanh nghiệp
Sau khi đã xây dựng được kế hoạch, DN cần triển khai thực hiện CSR theo
bốn bước:
Hình 1.5 Các bước triển khai thực hiện CSR đối với NLĐ
(Nguồn: Giáo trình Quản trị doanh nghiệp, Ngô Kim Thanh, 2013) Thứ nhất, tổ chức bộ máy thực hiện CSR: Để thực hiện CSR, DN cần có tổ
chực bộ máy nhân sự rõ ràng Trong đó, quy định cơ cấu tổ chức, quyền hạn và trách
nhiệm của các bên tham gia thực hiện CSR Cơ cấu tổ chức bộ máy thực hiện CSR
bao gồm Ban Giám Đốc, các cấp quản lý chuyển trách từng bộ phận chức năng của
DN, cấp quản lý bộ phận trực tiếp thực hiện TNXH và nhân viên thực hiện Vai trò
của Ban Giám Đốc là phê duyệt vai trò trách nhiệm của từng thành viên trong Ban
Giám Đốc về vai trò và chức năng của TNXH, tổ chức và tham gia Ủy ban thực hiện
TNXH, và đưa ra các quyết định liên quan đến việc thực hiện TNXH Vai trò của các
cấp quản lý bộ phận chức năng của DN là đảm bảo các quyết định của Ban Giám Đốc
liên quan đến thực hiện TNXH được thực hiện và tuân thủ ở từng hoạt động chức
năng Vai trò của cấp quản lý trực tiếp thực hiện TNXH có thể được tổ chức theo
hình thức tập trung hoặc phi tập trung Hình thức tổ chức tập trung thể hiện ở việc cấp
quản lý trực tiếp thực hiện TNXH sẽ có nhiệm vụ đưa ra chiến lược, thiết kế, phát
(i) Tổ chức bộ máy thực hiện CSR
(ii) Tổ chức truyền thông nội bộ vê
Trang 37triển và ban hành các nhiệm vụ thực hiện TNXH Hình thức tổ chức phi tập trung thể
hiện ở việc TNXH sẽ được chia tách ra từng hoạt động chức năng thực hiện TNXH
Thứ hai, tổ chức truyền thông nội bộ về thực hiện CSR.Tổ chức truyền thông
nội bộ là việc DN thực hiện tuyên truyền các chiến lược, chính sách hay chương trình
mới sau khi thay đổi tới toàn thểNLĐ trong công ty.Việc tổ chức truyển thông này có
thể được thực hiện thông qua ban lãnh đạo của bộ phận trực tiếp thực hiện CSR hoặc
từ chính người lao động, hoặc từ công đoàn của DN.Một số kênh truyền thông nội bộ
thường được các DN sử dụng như họp tất cả nhân viên, họp nhóm, họp cá nhân, tổ
chức các sự kiện, nội san, sổ tay, bảng thông báo, thư viện của tổ chức, v.v và với
sự phát triển của công nghệ thông tin, thì mạng trao đổi thông tin trực tuyến, email,
website được DN tận dụng rất tốt cho truyền thông nội bộ Qua khảo sát của
www.winwin.vn, các kênh truyền thông nội bộ hiện nay đang được DN sử dụng
nhiều nhất là email (46%), họp toàn CBNV (21%), họp nhóm (17%) , trong khi
kênh được CBNV đánh giá là hiệu quả nhất là họp toàn CBNV (31%), họp nhóm
(30%), email (29%) Mỗi công cụ đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, tùy
vào đặc điểm DN mà có những sự lựa chọn khác nhau.Để truyền thông nội bộ hiệu
quả, DN cần phải kết hợp nhiều kênh và mở rộng sự tương tác giữa các đối tượng
Tùy theo đối tượng, nội dung trao đổi, mức độ quan trọng, mức độ khẩn của từng
công việc mà lựa chọn kênh truyền thông nào, phương thức ra sao để có thể đạt hiệu
quả cao nhất
Nội dung truyển thông bao gồm những hành động hoặc các ý tưởng mới
giúp nâng cao việc thực hiện CSR tại DN Ví dụ: mức độ hài lòng trong công việc
của NLĐ, an toàn lao động, đào tạo và phát triển cho cán bộ nhân viên, thời gian và
môi trường lam việc, v.v…
Thứ ba, tổ chức đào tại nhân lực thực hiện CSR:nhiệm vụ của giám đốc nhân
sự là phải cụ thể hóa tầm nhìn và cam kết của ban lãnh đạo bằng cách đưa ra những
xem xét, đánh giá về sự hiện diện của các hoạt động quản trị nhân sự trong quá trình
xây dựng và thực thi chiến lược CSR Các nội dung đào tạo chính bao gồm: giải
thích và định nghĩa về CSR, mối quan hệ giữa việc thực hiện CSR và việc đảm bảo
Comment [V5]: Viết chi tiết theo ý này
Comment [V6]: Viết chi tiết theo ý này
Trang 38phát triển bền vững của DN, các yêu cầu chính trong việc thực hiện và triển khai
chiến lược CSR của DN, Các tiêu chuẩn liên quan đến CSR như ISO 26000, vai trò
của các bên có liên quan trong CSR, các ý kiến và kỹ thuật giúp triển khai CSR hiệu
quả, các bước lên kế hoạch và triển khai CSR, cách thức tổ chức thực hiện báo cáo
thực hiện CSR Mục tiêu của việc đào tạo là giúp NLĐ có cơ hội trao đổi và thảo
luận về việc thực hiện TNXH trong DN, đánh giá việc tổ chức thực hiện CSR tại
DN, đảm bảo Ban lãnh đạo và NLĐ có thể hiểu những định nghĩa và cách thức cơ
bản thực hiện CSR
Thứ tư, tổ chức thực hiện quy tắc thực hành CSR:sau khi bộ máy tổ chức,
nhân sự, và truyền thông nội bộ về thực hiện CSR được tiến hành, bước cuối cùng
trong triển khai thực hiện TNXH đối với NLĐ trong DN là tổ chực thực hiện quy
tắc thực hành CSR Đây là bước mà NLĐ trong DN tiến hành áp dụng những gì
được đào tạo vào thực tế hoạt động kinh doanh của DN Việc áp dụng sẽ được thực
hiện dựa trên một số nguyên tắc chủ yếu: (i) các DN nên duy trì sự tự do hiệp hội và
công nhân hiệu quả của quyền thương lượng tập thể, (ii) xóa bỏ mọi hình thức lao
động cưỡng bức và bắt buộc, (ii) việc bãi bỏ lao động trẻ em, (iv) xóa bỏ phân biệt
đối xử về việc làm và nghề nghiệp
1.3.3 Đánh giá thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động trong
doanh nghiệp
Đánh giáthực hiện cũng là khâu quan trọng, không thể thiếu trong việc tổ
chức thực hiện CSR tại doanh nghiệp Việc đánh giá phải được thực hiện song song
trong quá trình triển khai thực hiện để nắm được những tích cực, hạn chế DN đang
gặp phải để khuyến khích, chỉnh đốn và có những thay đổi, bổ sung kịp thời
Đánh giá thực hiện CSR được tiến hành trên 5 bước cụ thể:
Một là xác định tiêu chuẩn đánh giá thực hiện CSR.DN cần thực hiện xác
định tiêu chuẩn đánh giá thực hiện CSR Các tiêu chuẩn này bao gồm: tỷ lệ vi phạm
các nguyên tắc CSR, mức độ vi phạm, mức độ hiểu biết của lãnh đạo về CSR, v.v…
Việc xác định các tiêu chuẩn đánh giá thực hiện CSR không chỉ là cơ hội để doanh
Comment [V7]: Viết chi tiết theo ý này
Trang 39nghiệp đưa ra các cam kết thực hiện CSR của doanh nghiệp, mà còn được xem như
việc doanh nghiệp đang lồng ghép các giá trị CSR vào văn hóa doanh nghiệp
Hai là đo lường kết quả thực hiện CSR.Những lợi ích và giá trị tăng thêm từ
việc thực hiện CSR cần được tính vào kết quả hoạt động của DN DN cần phải đo
lường và đánh giá các hoạt động CSR tại DN thường xuyên nhằm điều chỉnh và
khích lệ kịp thời các cá nhân, đơn vị có những đóng góp hiệu quả trong việc thực
hiện CSR cũng như biểu dương và giới thiệu những hình mẫu đến toàn thể nhân
viên Việc đo lương thực hiện CSR thông qua cơ chế báo cáo định kỳ do phòng
chức năng thực hiện CSR Các chỉ tiêu đo lường bao gồm các chỉ tiêu tài chính và
các chỉ tiêu phi tài chính Các chỉ tiêu đo lường tài chính bao gồm chi phi tiết kiệm
do hiệu quả từ hoạt động thực hiện CSR Các chỉ tiêu đo lường phi tài chính như sự
hài lòng của người lao động, và sự hài lòng của người lao động đối với các cấp quản
lý Việc tổ chức đo lường kết quả thực hiện CSR giúp đơn giản hóa quá trình ra
quyết định và giảm thiểu rủi ro trong quá trình thực hiện và triển khai CSR
Ba là thực hiện các biện pháp khắc phục, phòng ngừa.Sau khi kết quả thực
hiện CSR được cung cấp, DN cần đối chiếu kết quả thu được với những tiêu chuẩn đã
đề ra ban đầu Từ đó, nhận diện những vấn đề hay điểm yếu còn tồn tại trong bộ máy
thực hiện CSR Sau đó, DN cần lên kế hoạch chi tiết nhằm khắc phục điểm yếu cũng
như giảm thiểu những nguy cơ xuất hiện của những vẫn đề này trong tương lai
Bốn là xây dựng báo cáo, truyền thông sử dụng kết quả thực hiện CSR Sau khi
đưa ra các biện pháp khắc phục và phòng ngừa, việc đánh giá thực hiện TNXH cần được
đưa vào một báo cáo về thực hiện CSR nhằm giới thiệu đến nhân viên và công chúng
những cam kết của DN đối với CSR đã, đang và sẽ được tiếp tục thực hiện như thế nào
Năm là quản lý hồ sơ thực hiện.Kết thúc báo cáo đánh giá kết quả thực hiện
CSR, DN cần tiến hành lưu trữ hồ sơ liên quan đến đánh giá, lưu kho, và định kỳ
kiểm tra để đảm bảo các thông tin thu đươc có thể sử dụng lại khi cần thiết
Comment [V8]: Viết chi tiết theo ý này Comment [V9]: Viết chi tiết theo ý này
Trang 401.4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với
người lao động trong doanh nghiệp
1.4.1 Pháp luật liên quan đến thực hiện TNXH đối với NLĐ
Hình 1.6.Các công cụ pháp luật liên quan đến thực hiện CSR đối với NLĐ
trong doanh nghiệp
Tính đến tháng 5.2014, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã thông qua 189
công ước và 200 khuyến nghị Hiện Việt Nam đã gia nhập 21 công ước của ILO
Theo ông Hà Đình Bốn, Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Lao động Thương binh Xã
hội), so với một số quốc gia trong khu vực, số lượng công ước đã gia nhập của Việt
Nam ở mức trung bình; Nhật Bản phê chuẩn 41 công ước, Hàn Quốc phê chuẩn 24
công ước, Thái Lan phê chuẩn 14 công ước,… “Việc phê chuẩn các công ước đã
góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật để thực hiện các công ước đã phê chuẩn,
việc triển khai các quy định này cũng được quan tâm, đẩy mạnh Nhiều chương
trình quốc gia đã được ban hành và triển khai thực hiện Trong đó, trọng điểm là các
chương trình: chương trình hành động quốc gia về phòng chống buôn bán người;
chương trình quốc gia về an toàn vệ sinh lao động, chương trình hành
độngquốcgiavìtrẻem,…”
Việt Nam là quốc gia thứ ba ở Đông Nam Á và thứ năm ở Châu Á gia nhập
Công ước 187về Khung chính sách thúc đẩy an toàn vệ sinh lao động, sau
Singapore, Malaysia, Nhật Bản và Hàn Quốc
Trên phương diện pháp luật quốc gia,Việt Nam đã ban hành Bộ luật Lao
độngquy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và của người sử dụng lao
động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động, góp
Pháp luật Quốc tế
• Công ước và khuyến nghị của Tổ
chức lao động Quốc tế ILO
• Hiến chương, nghị quyết của các
khu vực kinh tế, nền kinh tế
Pháp luật lao động Quốc gia
•Bộ luật lao động 2012
•Các nghị định, thông tư, văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện
Comment [V10]: Viết chi tiết theo ý này