1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phương pháp cho trẻ em làm quen với tác phẩm văn học

88 25,3K 100
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nắm bắt tác phẩm ở trẻ dường như phụ thuộc vào sự truyền thụ của giáo viên, ơ lứa tuổi này người ta chưa thể gọi việc cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm vãn học là việc lạy văn cho các e

Trang 1

BO V * I ' \ w U \J V V i \ I / WJ lAO

TRƯÒNG C A O Đ Ẳ N G sư PHẠM NHÀ TRỀ - MAU g i á o TW 1

NGUYỀN THỊ TUYẾT NHU NG - PHẠM THỊ VIỆT

NHÀ XUẢT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC G IA HẢ NỘI

Trang 2

BÔ <;i \o n r< \ \ BÃO TAO

T R Ư Ở N G C A O Đ Ẳ N G s ư P H Ạ M N H À T R Ẻ - M A U g i á o TW1

NGUYỄN THÍ TUYẾT NHUNG - PHẠM THỊ VIỆT

PHƯƠNG PHÁP CHO TRẺ LÀM QUEN

VỚI TÂC PHẨM v a n h ọ c

(In lẩn th ứ 4)

N H À XUẤT BÁN ĐẠI H Ọ C Q U Ố C G IA HÀ NỘ!

Trang 3

16 Hàng Chuôi - Hai Bà Trưng - Hà NÔI Đién thoại: (04) 9714896, (04) 7547936; Fax: (04) 9714899

E-mail nxb@ vnu.edu vn

★ ★ ★

Chiu tr á c h n hiêm x u ảt bản :

Ttmti biên tập PHẠM THANH Hưxc;

Chiu trá ch n hiêm nôi dung:

Sửa b à i tá i bản : NGUYẺN VÂN HÀ

PHƯƠNG PHÁP CHO TRẺ LÀM QUEN VỚI TÁC PHAM v ă n h ọ c

Trang 4

M ỤC LỤ C

B ài 1 Khái niệm, nhiệm vụ và ý nghĩa của việc cho trẻ

làm quen với văn học

I Khái niệm vê việc cho trè làm quen với tác phẩm

B ài 2 Đặc điểm cảm thụ tác phẩm văn học ỏ trẻ trước

tuổi đến trường phổ thông

I Một sô đặc điểm tâm lí có liên quan đến việc cảm

thụ tác phẩm văn học

II Đặc điểm cảm thụ thơ, truyện của trẻ trước tuổi

đến trường phô thông

Bài 3 Giới thiệu chương trình cho trẻ làm quen với tác

phẩm văn học

I Chương trình phát triển ngôn ngữ

II Chương trình “ làm quen với văn học’

VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC

B ài 1 Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học bằng

phương pháp dùng lòi nói

I Phương pháp đọc, kể diễn cảm tác phẩm

II Phương pháp đàm thoại

III Phương pháp giảng giải

Bài 2 Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học bằng

6 6

99

10

131315171717364347

474849

Trang 5

Bài 3 Phương pháp thực hành 51

I Phương pháp đọc, kể chuyện cho trẻ nghe không

II Phương pháp kể chuyện cho trẻ nghe và dạy trẻ

III Phương pháp đọc cho trẻ nghe và dạy trẻ đọc 58 thuộc lòng thơ, đọc thơ diễn cảm

Bài 4 Các hình thức cho trẻ làm quen với văn học 65

C hương I I I CÁC LOẠI BAI, LOẠI T IẾ T CHO T R Ẻ LÀM

Bài 1 Các loại bài, loại tiết dạy thơ, truyện cho trẻ từ

I Loại bài, loại tiết cho trẻ làm quen vâi thơ 71

II Loại bài, loại tiết kể chuyên cho trẻ nghe (24-36

B ài 3 Các loại bài, loại tiết dạy thơ, truyện cho trẻ từ

II Loại bài đọc chuyện, kể chuyện cho trẻ nghe

Bài 3 Hướng dẫn soạn giáo án cho trẻ làm quen với tác

Trang 6

Chương I

NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG

B ài 1Ề

CHO TRẺ LÀM QUEN VỚI VĂN HỌC

I KHÁI NIỆM VỂ VIỆC CHO TRẺ LÀM Q l EN VỚI TÁC PHAM VĂN HỌC

Trẻ trước tuổi đến trường phô thông có nhu cầu và khả nâng hiểu 'íược các tác phẩm ngắn gọn, nội dung không phức tạp, kết câu, ngôn ngữ dễ hiểu Tuy vậy, do hạn chê của độ tuồi này nên trẻ chưa lự mình tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm (trẻ chưa biết chữ), chưa tự hiểu đầy đủ vê giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của tác phẩm Việc nắm bắt tác phẩm ở trẻ dường như phụ thuộc vào sự truyền thụ của giáo viên, ơ lứa tuổi này người ta chưa thể gọi việc cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm vãn học là việc (lạy văn cho các

em mà gọi là "trẻ làm quen với văn học" “Làm quen’ chỉ ra mức độ tiếp xúc ban đầu của trẻ với văn học Thực chất của việc tiếp xúc nàv giáo viên sử dụng nghệ thuật đọc, kê diễn cảm, đê đọc thơ, kể chuyện cho trẻ nghe, giảng giải bằng mọi cách để giúp các em hiểu dược nội dung và hình thức của tác phâm Tivn cơ sô đó giáo viên

Trang 7

(lạv cho trẻ em đọc thuộc diễn cảm bài thơ, kể diên cảm các câu chuyện hoặc đóng kịch các tác phẩm văn học.

II NHIỆM VỤ CỬA VIỆC CHO TR Ẻ LÀM QUEN VỚI TÁC PHAM VĂN HỌC

1 Giúp trẻ biết rung động và yêu thích văn học, hào hứng và có nhu cầu tham gia vào các hoạt động văn học nghệ thuật (thích nghe đọc thơ, nghe kể chuyện, đọc thuộc thơ, kể lại chuyện, đóng kịch cho người khác xerrị)

2 Thông qua việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, chúng ta mờ rộng nhận thức về thê giối xung quanh, bổi dưỡng cho trẻ những tình cảm lành mạnh, những ước mơ cao đẹp, giúp trẻ cảm nhận được vẻ đẹp trong tự nhiên, trong quan hệ xã hội và vẻ đẹp của ngôn ngữ vãn học

3 Việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học góp phần phát trién ngôn ngữ cho trẻ: Dạy trẻ phát âm chính xác các âm tiếng mẹ

đẻ, làm giàu vốn từ, phát triển khả năng diễn đạt rõ ràng, mạch lạc

sú dụng ngôn ngữ giọng điệu phù hợp với dối tượng và hoàn cảnh giao tiếp

4 Rèn luyện kĩ nãng đọc, kể diễn cảm, thể hiện tác phẩm dưới các hình thức khác nhau

III Ý NGHĨA CỦA VIỆC CHO TR Ẻ LÀM QUEN VỚI TÁC PHAMVĂN HỌC

Vàn học là một loại hình nghệ thuật mà trẻ thơ đượe tiếp xúc ràt sớm Ngay từ tuổi ấu thơ,các em đã được làm quen với các giai điệu nhẹ nhàng, tha thiết của lời hát ru Lớn hơn một chút các câu chuyện dân gian, các tác phẩm thơ truyện hiện đại đã gieo vào lòng các em sự mến yêu với thê giới xung- quanh, giúp cho các em hiểu vế truyền thống lao độne, chiến á = u bển bỉ nhưng vô cùng anh dùnơ

Trang 8

của dân tộc Thơ truyện cũng dẫn dát các em đi khắp mọi miên đất nước, giới t hiệu cho các em những danh lam tháng cảnh như Đổng Đãng:

"Đông Đăng có p h ố Ki Lừa

Có nàng Tó Thị có chùa Tam Thanh",

hay “Sụ tích Vịnh Hạ Jjong”, chỉ cho các em xem những cây trái của Việt Nam, làm cho các em vui vầy với những con vật như: gà vịt, ngan, ngỗng, chích bông, tu hú, bồ các, chim ri, sáo sậu

Cùng với việc mở rộng nhận thức về thiên nhiên, truyện, thd còn mở rộng nhận thức cho các em về xã hội Qua đó trẻ em biêt được nỗi vất vả khó nhọc của người nông dãn để làm ra thóc gạo (Hạt gạo làng ta), quá trình sản xuất ra những đồ dùng, đồ chơi (Cái bát xinh xinh), truyền thông chông giặc ngoại xâm anh hùng của cha ông (Sự tích Hồ Gươm, Chú giải phóng quân) Những phong tục tập quán co truyền tôt đẹp cũng đến với tuổi thô qua những tác phẩm văn học: “Sự tích bánh trưng bánh dày' "Cây đào”

Văn học là một phương tiện giáo dục hiệu nghiệm Hình tượng văn học có sức mạnh lôi cuốn trẻ thơ Nó có tác động mạnh mẽ lên tình càm của các em Những bài học giáo dục đến với các em một cách tự nhiên, không gò bó, không mang tính giáo huấn bắt buộc Trẻ em nhận ra tình yêu thương của ông bà, cha mẹ đôi vối các em qua sự chăm sóc ân cần chu đáo: Bà quạt cho Tích Chu ngủ, có thức

ăn gì ngon bà nhường cho Tích Chu (truyện Tích Chu); Mẹ dặn bé phải đi dường thảng, phải đi theo mẹ, theo bầy (truyện Cô bé quàng khăn đỏ, truyện Chú vịt xám), từ đó các em cùng quý trọng, biết ơn ông l)à cha mẹ Trẻ thơ sẽ học ở các tác phẩm những hành dộng dẹp trong đôi xử với anh, chị em, với bạn bè Các em sẽ biết nhường nhịn, giúp đỡ người thân trong gia đỉnh cũng như bạn bẻ ngoài xã hội (Làm anh Bảy con quạ Hai chú bướm Đón bạn, Gấu qua cầu)

Trang 9

Những tình cảm lớn lao như yêu Tô quòc, yẽu đồng bào cũng dần được hình thành trong các em qua các tác phẩm: Thánh Gióng,

Sự tích Hồ Gươm, Sự tích trăm trứng

Ngoài ra, thơ, truyện còn dạy các em ý thức chăm chi lao động (Bà chúa Tuyết), lòng dũng cảm (Chú dp đen), sự khiêm tốn (Chú

gà trông kiêu căng) ,

Văn học góp phần không nhỏ vào việc giáo dục tham mỹ cho trẻ

em Các em cảm nhận những vẻ đẹp trong lịiôì quan hệ giữa người với người, vẻ đẹp trong các hành động cao thượng của các nhân vật trong tác phẩm Nhũng tác phẩm viết vê' đề tài thiên nhiên tạo cho các em sự rung cảm với vẻ đẹp của tự nhiên

Tiếp xúc với tác phẩm văn học, các em còn được làm quen với ngôn ngữ giàu đẹp của dân tộc Đây là điều kiện đê các em phát trien vôn từ rèn luyện cách nói diễn cảm, cách nói giàu hỉnh ảnh quen thuộc của cha ông như: cách nói so sánh ‘Trăng hồng như quả chín", cách nói nhân hoá “hoa yêu mọi người, nên hoa kết trái”, Không những thê ngay từ nhỏ các em đă làm quen với các thành ngữ: Bão tháng bảy mưa tháng ba, đi đến nơi về đến chôn và các kiểu câu miêu tả, câu cảm thán, câu hỏi

T óm lạ i : Văn học có ý nghĩa rất lớn với việc giáo dục trẻ thơ

Là những giáo viên chàm súc giáo dục trẻ,chúng ta cần biết lựa chọn và sử dụng một cách thích hợp các tác pbổra ván học để phát huy hết tác dụng rủa phương tiện này

Trang 10

4 C hú ý

Chú ý có chủ định ở trẻ chưa thật phát triển Trẻ thường chú ý

đến cái gì mình thích, chúng dễ bị phán tán chú ý vì chú ý có chủ định ở trẻ mới bắt đầu hình thành và không bền vũng Nắm được đặc điểm này, cô giáo cần phải biết cách gây hứng thú vổi trẻ để trẻ tập trung chú ý vào việc nghe cô kể, đọc tác phẩm

5 Tưởng tượng

Tưởng tượng cùa trẻ lúc đầu còn rất hạn chế, một mặt có tính chất tái tạo thụ động, mặt khác có tính chất không chủ định Đến

lứa tuổi mẫu, giáo sự tưởng tượng của các em không chỉ dừng ở tính

chất tái tạo mà còn có tính chất sáng tạo

II ĐẶC ĐIỂM CẢM THỤ TH d, TRUYỆN CỦA TR Ẻ TRƯỚC

TUỔI ĐẾN TRƯỜNG P H ổ THÔNG

Trẻ mẫu giáo chưa biết chữ, các em tiếp nhận tác phẩm văn học qua trung gian là giáo viên (ỏ trường), ngưòi lớn (ỏ nhà) Tác phẩm văn học lại là một văn bản nghệ thuật ngôn từ - một công trình nghệ thuật nên việc cảm thụ tác phẩm đôi với các em gặp nhiều khó khăn

Để giúp trẻ nhỏ cảm thụ được tác phẩm văn học, giáo viên cần lưu ý những đặc điểm sau đây:

Sự cảm thụ tac phẩm văn học ở trẻ là một quá trình thống nhất, trọn vẹn, dựa trên mếi liên hệ không ngừng giữa yếu tố nhận thức và cảm xúc Sụ cảm thụ tác phẩm cua trẻ phụ thuộc vào độ tuổi, vào kinh nghiêm và cá tính của chúng

Trang 11

Trong cảm thụ tác phẩm, các em không chỉ cảm thụ nội dung mà còn cảm thụ cả nghệ thuật của nó (đặc biệt là yếu tô ngôn ngữ: vần, nhịp điệu).

Với những câu chuyện kể, trẻ thường chú ý trước hết đến cốt truyện Chúng theo dõi xem câu chuyên diễn biến ra sao? Cái gì sẽ xảy ra? Kết cục như th ế nào?

Trẻ yêu thích và ghi nhớ rất nhanh nhũng câu chuyện kể có hình tượng kì vĩ, bay bổng, những câu chuyện có sự biến hoá kì

lạ, các sự kiện xảy ra nhanh

Các em có thể nhớ được nội dung các truyện ngắn và kể lại được tác phẩm một cách diễn cảm nhờ sự giúp đỡ của giáo viên Chúng cũng có thể “đóng kịch” được với nhũng tác phẩm văn học đã được nghe nay được chuyển thành kịch bản

Với những tác phẩm thơ: các em ưa thích những bài thơ có hình ảnh rực rỡ, giàu vần điệu Các em thuộc rất nhanh các bài thô có vần và đọc lại các bài này một cách diễn cảm

Dù là cảm thụ thơ hay truyện thì chúng ta cũng thấy rằng lúc đầu trẻ tham gia hồn nhiên trong quá trình tiếp nhận tác phẩm Các em chưa phân biệt hình tượng trong tác phẩm và hiện thực được nhà văn phản ánh Sau đó, khi dần lổn lên, tư duy, nhận thức phát triển, trẻ đã đứng ra ngoài tác phẩm để nhận xét, đánh giá Từ đó trẻ phân biệt được hình tượng nghệ thuật và hiện thực được tác giả thể hiện trong tác phẩm

Trang 13

- Tác phẩm vãn học được lựa chọn phải mang tính vừa sức: tác phẩm phải phù hợp với đặc điểm tâm lí, sinh lí của trẻ ỡ từng độ tuổi.

- Tác phẩm văn học đưdc lựa chọn phải mang tính giáo dục: nội dung của các tác phẩm luôn hướng trẻ tới những vẻ đẹp đích thực của đời sống xâ hội, giúp trẻ cảm nhận được nét đẹp tươi nguyên của các hiện tượng thiên nhiên , thông qua nội dung tác r.ìiâm giáo dục trẻ theo Năm điểu Bác Hồ dạy

- Tác phẩm vàn học được lựa chọn phải mang tính nghệ thuật

I CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIÊN NGÔN NGỬ

Chương trình phát triển ngôn ngữ là một trong những nội dung nằm trong chương trình chàm sóc - giáo dục trẻ từ 3 - 36 tháng ở nhà trẻ

Chương trình phát triển ngôn ở nhà trẻ được phân theo 3 lứa tuổi:

- Lứa tuổi từ 3 đến 12 tháng;

- Lứa tuổi tu 12 đến 2-1 thang;

- Lứa tuổi từ 21 đến 36 thang

Trang 14

Do đặc trưng của lứa tuổi nhà trẻ nên việc cho trẻ làm quen với văn học ở lứa tuổi này được coi là một trong những nội dung, hình thức để phát iriển ngôn ngữ cho các em Trẻ em chi có thể tiêp xúc với tác phẩm văn học khi chúng đã có một vôn ngôn ngữ nhất định

Do vậy, trong chương trình này trẻ từ 12 đến 36 tháng tuổi mói được làm quen với thơ và chuyện kể

- Trẻ từ 12 đến 24 tháng được làm quen với loại thể đồng dao

và thơ ngắn, dễ hiểu

Nội dung chủ yếu được đề cập tới trong các bài thơ viết cho lứa tuổi này là giới thiệu với các em về các loài động vật gần gũi Đó là những chú gà gáy ò ó o o“vào buổi sáng (Gà gáy), là những chú chim hót líu lo (chim hót) hoặc chú cá vàng quàng khăn lụa Cá vàng) Một sô bài đồng dao, thơ nói đến tình cảm mẹ con Những bài thơ dành cho lứa tuổi này phổ biến là loại thơ ba, bốn chữ, giau vần điệu, đặc biệt thường xuyên có sự láy lại từ Do vậy, nó rất phù hợp với khả năng tiếp thu của trẻ Phương pháp dạy chủ yếu là đọc thơ cho trẻ nghe,

- Trẻ từ 24 đến 36 tháng được làm quen với đồng dao, thơ và kể chuyện Ngoài những tác phẩm do tác giả trong nước viết, trẻ ỏ độ tuổi này còn được làm quen với một số tác phẩm dịch của nưốc ngoài hoặc được biên soạn lại dựa trêri nội dung tác phẩm nưâc ngoài Thơ truyện cho các em không chỉ đề cập đến các hiện tượng

tự nhiên mà nhiều truyện, thơ đã hướng các em vào việc tìm hiểu những vấn đề xã hội, nhằm hình thành ở các em những tình câm hành vi đạo đức tôt đẹp như: biết vâng lời người lớn, biết giúp đỡ bạn khi gặp khó khăn (ĩhỏ ngoan Đôi bạn nhỏ), biết lễ phép !Cháu chào ông ạ), lòng dũng cảm (Con cán), biết yêu lao động (Cây táo) Truyện viết cho các em phải ngắn gọn, nội dung dễ hiểu, kết câu rõ ràng, sử dụng nhiều hình thúc đối thoại

Trang 15

II CHƯƠNG TRÌNH “LÀM QUEN VỚI VĂN HỌC”

Chương trình làm quen với văn học là một trong những nội dung nằm trong chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ mẫu giáo từ 3 đến 6 tuổi

Chương trình “làm quen vói văn học’ được phân chia theo 3 độtuổi:

có những tác phẩm dùng đê dạy ở mọi lúc, mọi nơi

Chương trình “làm quen vói văn học" ổ mẫu giáo đã được đưa vào nhiều thê loại: ca dao, đồng dao, truyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, tnivện ngắn hiện đại thơ Số lượng các tác phẩm vàn học dân gian được tuyển chọn vào chương trình với một tỷ lệ thích hợp, nhằm dẫn dắt các em trở vể với đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của cha ông vả trở vê với cội nguồn của dân tộc Một số các tác phẩm vãn học nước ngoài được dịch, được biên soạn lại cũng có trong chương trình Với những tác phẩm ấy trẻ em ngay từ nhỏ đã có điều kiện tiếp xúc với nhiều nền vãn hoá của các nước trên thê giới

Trang 16

Nội dung chương trình "làm quen vối văn hoc' ỏ dộ tuổi mẫu giáo đa dạng và phong phú hơn nhiểu so với chương trình của nhà trẻ ơ độ tuổi ọày các em được tiếp xúc với những tác phẩm nói vê truyền thông lao dộng, truyền thống đánh giặc ngoại xám (Sơn Tinh, Thuỷ Tinh Thánh Gióng, Sự tích Hổ Gươm), về những sinh hoạt của chính các em ở trường và ở nhà (Ai ngoan hơn Giúp mẹ )

Có những tác phẩm truyền đến các em những tri thức khoa học (Cô Mây Chú đỗ con )

Trang 17

và phương pháp giảng giải.

I PHƯƠNG PHÁP ĐỌC, KỂ DIEN c ả m t á c PHAM

1 K h ái n iệm vế n gh ệ th u ậ t d ọ c, k ể tá c p h ẩ m v ăn h ọ c

cho trẻ

Chúng ta cảm thụ ngôn ngữ nghệ thuật bằng cách đọc và nghe Khi đọc, ta cảm thụ trực tiếp, khi nghe, ta cảm thụ gián tiếp qua nhân vật trung gian giữa tác giả và người nghe

Đọc và kể chuyện là một hoạt động ctã có từ lâu dời Người đọc

kê sử dụng mọi sắc thái giọng của mình và các phương tiện dọc kê biểu cảm khác nhau làm cho tácỊphẩirr tẠị 'n£'irg"l'iOi».EỊ p cho tác phẩm một bức tranh ám thanh

Trang 18

Cóng việc của người đọc người kể là một công việc có trách nhiệm cao trước tác giả cũng như người nghe.

Khi trình bày một tác phẩm nghệ thuật, người đọc người kô truvền đạt lại những suy nghĩ và tình cảm của tác giả Nhiệm vụ của người đọc, người kể là giúp người nghe nhìn thấy cái đă nghe, làm cho những bức tranh và hình ảnh tương ứng noi lên chân thực

và đập vào mắt, gợi lẽn những tình cảm và cảm xúc nhất định

2 Sự k h á c n h au giữ a d ọ c v à k ể

Đọc là sự truyền đạt trung thành với tác phẩm (nhìn vào truyện, thơ), không thêm, bớt không thay đôi dù chỉ một từ, một câu để trẻ tiếp nhận nguyên vẹn nghệ thuật của tác phẩm

Chứng ta cần lưu ý là việc sử dựng ngôn ngữ của mình không

có nghĩa là tuỳ tiện thêm bớt hoặc cắt xén làm tác phẩm đến vối trẻ một cách thiêu trọn vẹn không đảm bảo tính khoa học Nếu người

kể không có đủ vốh ngôn ngữ cần thiết và thiếu linh hoạt thì khi kể cần bám chắc, nắm chác ngôn ngữ của tác phẩm, đặc biệt ỏ những đoạn đôì thoại sinh động và ỏ nhũng ngôn từ có tính nghệ thuật cao

Vi d ụ : Đoạn đôĩ thoại sau đây trong truyện ke của lớp mẵu

giáo nhõ thi nên giữ nguyên:

“Gếu> đen ^tk'ửa:

Trang 19

Thỏ Náu dang ngủ tỉnh dậy gắt gỏng hỏi

- Ai dấy?

- Bốc Gấu Đen dây Mưa to quá cho bác trú nhờ một đêm

Thỏ Nâu không dậy mở cửa Nó càu nhàu:

Không t.rú được đâu! Bác lớn quá! Bác làm đổ nhà cháu mất thôi!”

Ngôn ngữ người kể thường linh hoạt hơn so với người đọc, vì thế có sự khác nhau khi thể hiệr ỆT:ong

Theo kinh nghiệm của nhiều giáo viên, đọc thường hiệu quà hơn kể Vì nhiều khi đọc chúng ta không sử dụng được các biện pháp hỗ trợ nên giọng đọc phải thật hay thật truyền cảm mới thu hút được ngưòi nghe

Ví d u : Đọc bài thơ “Em yêu nhà em” ỏ lớp mẫu giáo nhỡ:

C hang đâu bằn g chính nhà em :

Có đàn chim sé bên thềm líu lo,

Có nàng g à m ái hoa mơ, Cục ta, cục tác k h i vừa đ ẻ xong,

Có bà chuối m ật lưng ong,

Có ông ngô bắp râu hồng như tơ;

Có ao m uông với cá cờ,

Em là chi Tấm đợi chơ Bủng lén,

Có đầm ngào ngat h o a sen, Ech con học nhạc, d ế mèn ngâm thơ,

Dù đi xa thật là xa, Chăng đâu vui được như nh.à của em.

(Đ o à n T h i L a m L u \ ên )

Nói như vậy không có nghĩa là khi kể chuvện khóm: đòi hỏi giong hav mà khi kể cô giao cển sử dụng Ịỉhh hoạt các 1'ịệrr pháp hỗ

Trang 20

trợ Trong giờ kể chuyện chúng ta có thể sử dụng thuận lợi các phương tiện khác nhau đê hỗ trợ cho giọng kể của mình như: tranh, ảnh, mô hình, rôi tay Còn ở giờ đọc, việc sử dụng các phương tiện như rôi tay, tranh ảnh khó hơn nêu không nói là hạn chế Như vậy giọng kể trong giờ học chiếm ưu thế rõ hơn giờ đọc.

3 Y êu cầ u về p h ư ơn g pháp d ọ c, k ê d iễ n cả m tá c

Ví d u : Bài thơ “Mèo đi câu cá"

Anh em m èo trắng Vac g iò đi câu

Em ngói bờ ao Anh ra sông cái Hiu hiu gió thối Buồn ngủ qu á chừng Meo an h ngã lưng Ngủ luôn m ột giấc Long riêng thầm chác

Đi I CÓ e m rồ i!

Trang 21

Mèo em đan g ngói Thấy bầy thỏ bạn Đùa vui m úa lượn Vui qu á là vui Mèo nghĩ ố thôi Anh câu cũng đủ Nghĩ rồi hớn hớ

N hập bọn Via chơi Lúc ông m ặt trời Xuống núi đi ngủ Đôi mèo hối h ả Quay về lều gian h Gió em, g iỏ anh Không con cá nhỏ

Cả h ai nhăn nhó Cùng khóc m eo meo.

(T h á i H o à n g L in h )

Đê chiếm được sự chú ý và lòng tin của người nghe, giọng dọc phải diễn cảm và có súc thuyết phục Điều ấy chỉ có được khi đã chuẩn bị kĩ lưỡng tác phẩm Trong quá trình chuẩn bị, người đọc, người kể phải nhập tâm vào tác phẩm toi mức độ có thể truyền đạt

rả thái độ của mình đôi với những điều không nói ra Như thê những tình cảm của ngưòi dọc mới truyển sang dược cho người

nghe

b X ác d in h c á c h đ o c , c á c h k ê

Nuưòi đọc người kê tác phẩm nhớ kĩ là phải trinh bày mót cách nghệ thuật trong bửc tranh ám thanh đó khi miêu tà sự kiện, hành

Trang 22

vi, cảm xúc của nhân vật, tránh trình bày theo lối tự nhiên chủ nghía Chảng hạn như: khóc thật, kêu thật, vui cười hô hố, tay vung bừa bãi Tất cả rihững cái đó sẽ làm giảm chất lượng trình bày làm người nghe quên chú ý đến nội dung tác phẩm Điều này đối vối người đọc, người kể cho đối tượng trẻ em cần phải đặc biệt chú ý.

Trong quá trình nghiên cứu, tác phẩm phải vạch ra những phương pháp truyền đạt nghệ thuật, phương tiện chủ yếu là dùng

âm thanh Âm thanh truyền cảm tác phẩm là giọng đọc, giọng kể Tất cả những ngữ điệu muôn vẻ và sắc thái trầm bổng phong phú của giọng đọc, giọng kể, nhịp điệu phù hợp với nội dung sẽ góp phần vào việc tạo ra dược bức tranh có sức thuyết phục về tác phẩm đó

Có nghía là nhiệm vụ của người đọc, người kể phải khéo léo sử dụng toàn bộ kho tàng sắc thái giọng nói của mình Các thù thuật của việc đọc, kể diễn cảm tác phẩm ta sẽ bàn kĩ ở phần sau

c L u y ê n đ o c , k ê d i ễ n c ả m

Dù trình bày theo kiểu nào (đọc sách, đọc thuộc lòng, kể thuộc lòng), dù tác phẩm đó thuộc thể loại gì thì người đọc hoặc kể cũng phải chuẩn bị tốt khâu này Hầu hết trong mọi trường hợp muốn kể lại được, người đọc phải biết từng từ trong tác phẩm Nếu lúc đọc thuộc hoặc kể mà vẫn còn phải nhớ lại bài thì sức thuyết phục sẽ

£fum, chất lượng truyền đạt sẽ hạn chế

Giáo viên cần đọc thầm (đọc bàng mát) vài lần toàn bộ tác phẩm, sau đó đọc lại một cách diễn cam, chú ý thể hiện ngữ điệu, giọng đọc phù hợp Vcìi nhản vật, ngắt giọng hoặc nhấn mạnh vào các

tử đoạn cần thiết đã được đánh dấu

Dù đọc hay kể giáo viên cũng phải nắm vững tác phẩm tốt nhất là thuộc tác phẩm Những bài vãn, thơ viết cho các em trước ti.õi rti học thưòng khôns dài lắm và ' ùng dễ nhớ nên \-iộr ti uvền

Trang 23

đạt đúng từng chữ khi kể sẽ giữ được phong cách và tính toàn vẹn của toàn bài.

4 N hừ ng th ủ th u ậ t cơ b ả n k h i đọc vả k ể c h u y ệ n văn

h ọc

Việc nắm vững những thủ thuật (nghệ thuật) đọc, kể chuyện văn học diễn cảm là một trong những nhiệm vụ rèn luyện tay nghề của cô giáo trong ngành mầm non Nắm vững được những thủ thuật đọc, kể diễn cảm sẽ giúp cô giáo mầm non sử dụng được toàn

bộ kho tàng sắc thái của giọng mình để truyền đạt tác phẩm đến cho trẻ một cách có hiệu quả cao nhất

a C ầ n n ấ m v ữ n g t h a n h d iê u c ơ b ả n c ủ a t á c p h á m

v ă n h o c

Chúng ta có nhiêu tác phẩm văn học khác nhau: Truyện co tích, truyện ngụ ngôn, thơ tự sự, thơ trữ tình phụ thuộc vào những thể loại ấy mà thanh điệu cơ bản khi trình bày lúc trầm tĩnh, khi hào hùng hoặc tươi vui, buồn rầu

Theo định nghĩa chung thì thanh điệu cơ bản của một tác phẩm

là thanh âm (âm thanh); nó tựa hồ như một cái nền, trên đó người ta xây dựng nên những bức tranh, những sự kiện riêng biệt và những nhân vật tham gia vào các sự kiện đó

Thanh điệu cơ bản do nội dung và hình thức quy định Chẳng hạn thơ trữ tình khác thơ tự sự, truyện cười khác truyện cổ tích Trong từng tác phẩm, từng bài thơ (chủ đề tư tưởng, nội dung), tuỳ theo phong cách ngôn ngữ của tác phẩm để định ra các thanh ám cơ bản khi trình bày

Ví dụ: Khi đọc bài tho trữ tình của Puskìn:

T ôi y êu em Tôi \i'U em đến nay chừng có thê

Ngọn lứa tình chưa hắn đ ã tàn p h ai

Nhưng không đê em bận lòng thêm nữa

Trang 24

H ay hon em p h ả i gỢn bóng u h oài

Tôi yêu em âm thầm khôn g hy vọng

L úc rụt rè, khi h ậm hực lòng ghen

Tôi yêu em, yêu chăn thành, đ ằ m thắm

Cầu cho em được người tình như tôi đ ả yêu em.

(T h u ý T o à n dịch)

Bài thơ trong sáng, giản dị và dễ hiểu, bộc lộ một tình yêu thật đẹp đẽ và cao thượng, nồng nhiệt nhung không hề vị kỷ Một tình yêu chân thành say đắm và cũng đời thường như bất cứ ai ở trong cuộc sống Sự lúng túng, rụt rè không nói nên lời và thậm chí có cả ghen tuông - biểu hiện cao nhất của tính ích kỷ có thể chấp nhận được Nhưng tình yêu của Puskin ở đời thường mà không tầm thường Tình yêu vị tha mà không hê ích kỷ, cao thượng mà không thấp hèn Nhân vật trữ tình ỏ trong bài thơ tỏ tình một cách cao đạo

và có văn hoá, yêu tha thiết và mãnh liệt đấy, nhưng không muốn làm cho người tình phải u buồn Nếu như có thể thì chủ thể của sự

tỏ tình xin gánh chịu ở cuối bài thơ:

"Cầu chứ em được người tình n hư tôi đ ã yêu em ".

Đây là một cách nói, kiểu nói khiêm nhường, tê nhị Là một lòi

từ chối đê khảng dịnh một tình yêu mãnh liệt, thể hiện lòng mong muốn cho ngưòi mình yêu có một tình yêu đẹp và chân thành

Xác định thanh điệu cơ bản lúc trình bày tác phẩm là hết sức quan trọng Nếu chúng ta xác định nhầm thanh điệu sẽ dẫn đến trinh bày sai lạc chu đề tư tưởng của tác phẩm và do đó không giúp cho người nghe (nhât là các cháu mầm non) hiểu đúng đắn nội dung tác phẩm và sẽ làm hiệu quả của những giờ văn học ấy không cao

Ví dụ bài thơ “Tôi yêu em” của Puskin đọc vối âm thanh buồn man mác, giọng tliiêt tha trìu mến, chậm rãi rõ ràng

Muôn lìm được thanh điệu cơ bản của tác phẩm, cô giáo mầm non cán phải tìm hiểu kĩ tác phẩm bằng cách đọc nhiều lẩn Cổ tập trung suy nghĩ itê tim ra chủ ý của tác giả, đọc kì dể nắm được chu

Trang 25

dể tư tưởng, nội dung nghệ thuật của tác phẩm, dể trên cơ so xác định thanh âm cơ bản khi trình bày cho phù hợp Trong chương trình văn học dành cho ngành mầm non, chúng ta bất gặp sự phong phú vê thể loại văn vần, có cả tục ngữ, ca dao, đồng dao, các thể thơ mới, lục bát, thơ ba chữ, năm chữ v ề văn xuôi chúng ta có thế kê đên các loại truvộn: truvên rổ tích, truyền thuyết, truyện đồng thoại các truyện hiện đại kể vể người tôt, việc tôt , và truyện dịch từ văn học nước ngoài Sự phong phú

về thể loại đòi hỏi chúng ta phải tìm ra được thanh điệu cơ bản cho tác phẩm khi trình bày Ví dụ khi cô kể chuyện “Chú vịt xám" ở lớp mẫu giáo nhõ, chủ đề là tác giâ phê phán chú vịt xám không vâng lời mẹ, cô kê với thanh điệu cơ bản êm nhẹ, vui tươi (đoạn đầu chậm rãi, rõ ràng) có rất nhiều loại thanh điệu: thanh điệu dùng thê hiện niềm tự hào, tình yêu tha thiết tha với tô quốc, với lãnh tụ Ví dụ khi ta đọc bài “Sáng tháng năm’' của Tố Hữu:

B ac Hồ đ o là lòng ta yên tĩnh

Ôi, người ch a đ ôi m ắ t m ẹ h iền sa o

G iọng của Người, k h ô n g p h ả i sấm trên cao

T hấm từng tiếng, âm vào lòn g m ong ước

Cun nghe B ác, tưởng nghe lời non nước.

Tiếng ngàv Xưa và cả tiếng m a i sau.

B ác H ồ đõ, chiếc á o nâu g iả n d ị

Màu của quê hương bển b ỉ đ ậ m đ à

Ta bên Người, Người toả sá n g trong ta

Ta bỗng h/ìi ỏ bên Người m ột chut

Đoạn thơ trôn đọc với thanh âm co bản là tran ¿ trọng Tác giá ÜUÎ găm lònp kính yêu sự liguons I1 1 Ộ trưổc pham chất dạo

Trang 26

đức giản dị nhưng rất vĩ đại của Bác Hồ vị cha già kính yêu của dân tộc ta.

Trong chương trinh văn học mẫu giáo có bài 'Ong Lê Nin của Nguyễn Hồng Kiên, bài "Ánh mát Bác Hồ" của Trần Đình Tuân v.v

Loại thanh điệu vui tươi được trình bày trong các tác phẩm miêu tà thiên nhiên nhộn nhịp, tình cảm vui sướng, hân hoan Thanh điệu vui tươi thường được sử dụng rộng rải trong vãn học mẫu giáo vì nó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ thơ Đọc bài thơ "Trẻ vui trẻ cười":

T rè VUI trẻ cười Kĩu cà kĩu kịt

C him LUI ch im cười

R iu ra ríu rít

G ió vui, g ió cười

T rong thông vi vút

H oa VUI, h o a cười

T rong càn h trăn g m uốt

L ứ a vui, lứa cười

Trang 27

vui tươi, nhí nhành Thanh điệu vui tươi náo nhiệt được thể hiện trong bà ị "Kể cho bé nghe' của Trần Đăng Khoa:

Ngoài ra còn có loại thanh điệu buồn du dương, man mác Loại này thường gập trong thơ trữ tình ít gặp trong văn học mẫu giáo

T óm la i : Trong các loại thanh điệu cơ bản được sử dụng

trong việc đọc, kể diễn cảm tác phẩm thì thanh điệu vui tươi, thanh điệu êm nhẹ thường được sử dụng nhiều đối với em nhỏ trước tuổi đến trường Do đó, nhiệm vụ của các cô giáo mầm non khi đọc, kê diễn cảm tác phẩm văn học cho trẻ nghe là phải nghiên cứu kĩ tác phẩm đê lỊịnh ra đúng thanh âm cơ bản, từ đó định ra cách trình bày phù hợp

b Cẩn nắm v ữ n g n g ữ đ iêu

Ngũ điệu giọng là toàn bộ sắc thái đa dạntí trong giọng của người đọc người kể, để bor lộ những tình cám và ý nghĩ cùa người kẽ người đọc giúp c.hõ họ vẽ ra được những hình tượng nghệ thuật Ngữ điệu giọnt; đónÊC vai trò quan trong trong V1ỘC

Trang 28

trình bày tác phẩm và nhò có ngữ điệu mà người đọc có thê tác động mạnh đến các xúc cảm của người nghe, khiến người nghe

có được những rung cảm đứng đắn, lành mạnh Nhờ có ngũ điệu nên người đọc tạo cho người nghe hiểu thấu nội dung, tư tưởng của tác phẩm Ngưòi nghe phải suy nghĩ về sô phận các nhân vật cùng chia sẻ với nhản vật niềm vui và nỗi buồn của họ Ngũ điệu càng hết sức cần thiết đối với các cháu trong việc cảm thụ tác phẩm thông qua giọng kể (đọc) của cô Ngữ điệu của cô giúp các cháu hiểu đúng V nghĩa của bài văn biết được cá tính, tâm trạng, hành vi của nhán vật, thông qua đó mà giáo dục các cháu lòng yêu, ghét đúng đắn vối từng loại nhân vật Nhờ ngũ điệu người đọc tác phẩm còn có thể minh họa những hình tượng trong thơ như bài thơ “Cháu thể phấn đấu suốt đời”, “Mẹ ốm” của Trần Đăng Khoa, bài “Chân cò” của Nhược Thuỷ Mỗi bài đọc với ngừ điệu giọng khác nhau Cuộc sông đã sản sinh ra cả một kho ngữ diệu trong hoạt động giao tiếp của con người Kho ngữ điệu có đủ các loại vô cùng phong phú: vui, buồn, hóm hỉnh,

âu yêm độc ác

Muôn cho sắc thái ngữ điệu được phong phú, người ta thường sử dụng các vếu tố: cưòng độ giọng, ngắt hơi, lên giọng, xuống giọng và âm sác về chất của giọng Để có thể sử dụng tốt các yếu tố nêu trôn của ngữ điệu, giáo viên cần nghiên cứu kĩ tác phẩm, xác định đúng ngữ điệu của tác phẩm, trên các nền thanh điệu cơ ban ấy mà xác định ngừ điệu cho thích hợp

Đôi với tác phẩm thơ cần xem xét đó là loại thơ gi (tụ sự trữ tình, miêu tà hay trào phúng ) mồi loại cần chọn giọng đọc cho thích hợp Yỏi những bài thơ vui dí dỏm phải đọc với ngữ điệu hóm hỉnh Ví dụ bài thơ "Ông mật t ròi" ỏ lớp mẫu máo nhỏ đọc với ngữ điệu hóm hỉnh là rất hợp

28

Trang 29

Đối với chuyện kể, cô giáo cần phải phân biệt từng loại truyện từ đơn giản hay hiện dại đồng thoại Mỗi ỉoại truvện có đặc điểm riêng, có nội dun-' phản ánh riêng và hệ thống nhân vật, ngôn ngữ cũng riêng Các cô giáo mầm non phải biết dựa vào đó để định ra được ngữ điệu tương ứng Cô cần phải hiểu đặc điểm, tính cách nhân vật một cách đầy đủ, thấu đáo, có như vậy mới có the giúp cho các cháu không những hiểu được các nhân vật đã nói gì mà còn hiểu rõ chúng nói như th ế nào?

Ví dụ khi kể chuyện “Dê con nhanh trí” cho các cháu lớp mẫu giáo nhỡ nghe, cô cần chu ý đến íính cách, đặc điếm của từng nhân vật để xác định ngữ điệu cho đúng Trong chuyện kê

cả dê mẹ và chó sói đều nói câu: “Con chó sói hung ác, đuôi co nó đi” với dê con Đó là tín hiệu mẹ về gọi cửa, nhưng tình huống không bình thường là ở chỗ con chó sói nấp gần đấy, nó đã nghe được câu ấy, và nó quyết định đánh lừa dê con để ăn thịt Vậy khi cô mẫu giáo kể cho các cháu nghe, cô không thể dùng cùng một ngũ điệu để kể với trẻ rằng đây là dê mẹ nói, chó sói nói,

mà bản thân cô phải giúp trẻ biết được con chó sói đã nói câu đó vói giọng như thê nào? Dê mẹ nói ra sao? Dê mẹ hiền lành, dịu dàng, giọng nói thanh và trong, vậy ngữ điệu, âm sắc giọng của

cô phải thể hiện được điều đó Sói hung ác, gian ngoan, xảo quyệt và lừa đào, giọng sói Ồm Ồm Cô cũng phải thể hiện được

sự gian giảo trong giọng nói của con sói: con sói vừà cô bắt chước cho giống giọng dê mẹ vừa không giấu được vẻ gian ngoan xảo quyệt, giọng nói cần bộc lộ tính cách ấy

Khi dùng ngữ điệu để trình bày tác phẩm, chúng ta cần tránh sự lạm dụng vì sự lạm dụng ngữ điệu sẽ dẫn đên sụ cường điệu các từ ngữ trong tác phẩm, do vậy mà tính truyền cảm và sức thuyết phục của tác phảm sẽ bị yêu (ti c ầ n chli ý những đoạn trung tâm của tác phẩm Nhũng đoạn phụ có thố dùng

Trang 30

ngữ điệu thông báo bình thường để làm nổi bật nhũng đoạn cần thiết Cô lựa chọn ngữ điệu đúng phù hợp với tư tưởng, chủ đề tác phẩm thì sẽ làm cho các cháu cảm thụ thơ, truyện dễ dàng hơn, hiểu tôt hơn và cô sẽ giúp các cháu trình bày tác phâm một cách rõ ràng, sinh động hơn.

c C á ch n g ắ t g iọ n g

Ngát giọng là cách ngừng nghỉ, dừng lại giây lá t khi đọc, kể

để bộc lộ ý tứ của bài đọc (kể) tác phẩm văn học

Ngắt giọng chiếm một vị trí đặc biệt trong việc đọc (kể), việc ngắt giọng đúng sẽ tăng sức truyền cảm của tác phẩm khi trình bày Nếu ngắt giọng sai sẽ dẫn đến việc hiểu lầm ý tứ của bài

Có ba loại ngắt giọng mà chúng ta cần chú ý

Loại thứ nhất là ngắt giọng lôgic, đó là những chỗ dừng lại giữa các nhóm tù' có ý nghĩa liên quan với nhau Dấu hiệu của ngắt giọng lôgic là các loại dấu: dấu chấm , dấu phẩy, dấu hai chấm Loại ngắt giọng lôgic được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp của cc-n ngưòi trong đọc (kể) tác phẩm văn học Nhờ ngắt giọng lôgic chúng ta hiểu ý nghĩa của câu nói một cách đầy đủ hơn, rõ ràng hơn Sau dấu chấm nghỉ lâu hơn sau dấu phẩy Việc ngừng nghỉ khi đọc phải thực hiện nhịp nhàng, linh hoạt

để đảm bảo trọn vẹn ý nghĩa của đoạn văn, bài văn

Loại ngắt giọng thứ hai là ngắt giọng tâm li có tác dụng truyền cảm bắt nguồn từ trạn g thái tâm hồn, bàng th ái độ cùa người đọc (kể) ra, nó phản ánh sáng tạo của người dọc (kể) Nêu ngắt giọng lôgic phục vụ trí tuệ thì ngắt giọng tâm lí phục vụ cho tình cảm Không có ngắt giọng tâm lí, câu sẽ không có sức sống Sụ im lặng có tốc dụng truyền cảm đó chính !à ngắt giọng tâm lí Ta có thể ngắt giọng tâm lí bất cứ chỗ nào trong câu nói

nó có thể hoặc không trùng với ngắt giọng lôgic Khi dọc (kể) truyện "Dê con nhanh trí”., đoạn con chó sói đến gõ rủa nhà dê

Trang 31

con, lần thử nhất dê con định ra mỏ cửa vì nghe đúng câu mẹ dặn Đây là chi tiêt mà các cháu hồi hộp nhất - hồi hộp chờ đời đến căng thẳng về tâm lí, tình cảm cho nên cô có thể sử dụng ngắt giọng tâm lí sau từ “nhưng sao nó thấv tiếng gọi Ồm Ồm chứ không phải tiếng mẹ” và dê con quyết định điều tra thêm

Sự ngắt trong tâm lí ở đoạn trên sẽ có tác dụng truyền cảm mạnh mẽ đến với trẻ Một ví dụ khác khi đọc bài thơ “Hoa dại" của Trần Đăng Khoa ta có thể ngắt giọng tâm lí sau câu “Cái nắng trưa hè dịu lại”, hoặc sau câu “Ai bâo em là hoa dại" Sự ngắt giọng tâm lí ở những câu trên làm người nghe rung động trong suy nghĩ, vì quãng đường chói nắng ngày nào, bây giờ có cây hoa tự mọc, tự nở và việc hoa nờ đã có sự thay đổi về chất: thanh bình hơn đẹp hơn lên và vui vẻ khi có ngưòi qua, kẻ lại Hoa dại đã làm cái việc bình thưồng “Mầm hoa đội đất nhô lẽn - Cái náng trưa hè dịu lại” th ật đáng quýcho đời, đáng tràn trọng biết bao nhiêu

Ngắt giọng tâm lí còn được sử dụng sau khi kể (đọc) xong một tác phẩm văn học, để bài thơ, câu chuyện còn lắng đọng lại trong tâm hồn người nghe Ớ đây, chúng ta cần phải lưu ý ngắt giọng tâm lí tác động rất m ạnh đến tình cảm người thưởng thức tác phẩm văn học, vì vậy cần tránh lạm dụng đặc biệt các cô giáo mầm non, vì lạm dụng nhiều sẽ dẫn đến tình trạng làm mất tính sắc bén của ngắt giọng tâm lí không đảm bảo được tính nhất quán của nội dung tác phẩm

Loại thứ ba là ngắt giọng thơ ca thư ờng đặt ỏ cuối câu đọc Nhò có ngắt giọng này, nhịp thơ được giữ vững Mỗi câu thơ thường có nhịp thơ cùng vổi vần tạo nên nhịp điệu của thơ Đọc diễn cảm thd ca trước tiên phải tìm ra được nhịp thơ B ài thơ

“Em yêu nhà em” ở lớp mẫu giáo nhỡ:

C hang đâu bằn g ch ín h n hà em

Có đàn chim s ẻ / bèn thềm líu lo

Trang 32

Có đ àn g à m á i h o a m ơ

Cục ta / cục tác / k h i vừa đ è xong

Có b à ch u ối m ậ tIlư n g ong

Có ông ngô b ắ p / r â u h ồn g n hư tơ

Có a o m u ốn g / với cá cờ

Em làm ch ị T ấm / đợi ch ờ bốn g lên

Toàn bài đọc với nhịp điệu vừa phải và có thay đổi thanh trong các câu từ là ta phải ngắt giọng trong các câu thơ: câu số 4 (2/2/4) câu số 6 (4/4), câu 7 (3/3), câu 10 (4/4) lâu hơn bình thường

d N h ịp d iệ u là m ột tr o n g n h ữ n g y ế u t ố c ủ a n g ủ điệu,

là p h ư ơ n g tiện c ù a tín h tru y ền c ả m n g h ệ th u ậ t

Nhịp điệu là sự thể hiện của giọng đọc nhanh hay chậm, khẩn trương hay vừa phải Nhịp diệu do nội dụng tác phẩm quy định Khi trình bày tác phẩm, cần phải lựa chọn nhịp điệu cho phù hợp và thay đòi từng đoạn trong tác phẩm khi cần thiết Người đọc (kể) biết sử dụng các sắc thái khác nhau của nhịp điệu, sẽ đem lại cho giọng nói một sức m ạnh đặc biệt Bởi lẽ trong khi truyền thụ tác phẩm mà chỉ sử dụng một nhịp điệu đều đều thì tác phẩm sẽ trở nên khô héo, không có sức sông, đặc biệt vối đối tượng trê từ 1 đến 6 tuổi, do nhận thức và ngôn ngữ

có đặc điểm riêng nèn sức cảm thụ vãn học còn chậm Chính vì vậy việc sử dụng nhịp điệu vừa phải trong trin h bày tác phẩm

là phù hợp với các em Ví dụ khi đọc bài thơ “Em yêu nhà em' ỏ lớp mẫu giáo nhỡ bài thơ miêu ta cảnh vật tươi đẹp, phong phú

và đầm ấm trong ngôi nhà của be - Tù đó toát lên tìn h cảm trìu mền thiết tha của bé đối vỏi cành vật và ngôi nhà bé ỏ khi đoc

Trang 33

bài thơ phải đọc với nhịp diệu vừa phải toàn bài và có thay đôi nhanh, chậm trong các câu thơ:

"Cục ta, cục tác, k h i vừa đ ẻ xong'

"Có a o m u ôn g với cá cờ '

"Êch con h ọc n hạc, d ế m èn n gâm thơ"

Đặc biệt khi đên hai' câu thơ cuối cùng của bài cần đọc chậm rãi, diễn cảm:

"Dù đ i x a th ậ t là xa

C h an g đ â u vui được n hư nhà củ a em "

Đọc chậm rãi với truvện kê “Bác gấu đen và hai chú thỏ”, khi đến đoạn gấu đi trong rừng, trời mưa bị ướt lướt thướt, cô cần kể chậm rãi, khoan thai cho phù hợp với cái dáng nặng nề, chậm chạp của gấu Nhưng đến đoạn Thỏ Nâu gắt gỏng thì ngũ điệu phải cao hơn và nhịp điệu phải nhanh hơn

Nhìn chung khi ta đợc (kể), quy tắc sử dụng của toàn bài là nhịp điệu vừa phải: “Không nhanh quá, không chậm quá" Còn nhịp điệu chậm dùng để trình bày các hình tượng thần thoại, hình tượng nhân vật nặng nề, ục ịch hoặc những đoạn diễn tả hành động chậm chạp, tâm trạng buồn hay nghi hoặc

Nhịp điệu nhanh, khi trình bày những hành động nhanh,

sự vui vẻ, sôi nổi

e C ư ờ n g độ củ a g iọ n g

Cường độ của giọng là độ vang, độ hoàn chỉnh của giọng, là khả năng điều chỉnh giọng làm cho nó có thể tạo ra được các bậc tha-ng chuyển độ vang từ to đến nhỏ, và ngược lại từ nhỏ ra to Cường độ của giọng là một trong những yếu tố của ngủ điệu, phụ thuộc vào nội dunạ; tác phẩm Dựa vào đặc điếm, tính cách của nhân vật ta có t’ẴK'i định được cường độ giọng lúc trình bày

Trang 34

Ớ độ tuổi từ 1 đến 6 tuổi ta nên đọc (kể) với cỡ giọng trung binh,

có cường độ vừa nhưng giọng phải vang và sâu Khi ke chuyện cho các cháu, các cô giáo mầm non cần chú ý sử dụng cường độ giọng cho thích hợp Với chuyện kể cô tích thì thường bắt đầu bằng "Ngày xửa ngày xưa ” cô kể với nhịp điệu chậm , nhỏ, nhẹ, gợi cho các cháu hồi tưong về dĩ vãng xa xăm của xã hội loài người Đồng thời sử dụng cường độ của giọng cùng cần chú

ý đến sô lượng thính giả và địa điểm của lớp học Sô lượng dông thì ta dùng giọng đọc (kể) to, nếu là phòng học rộng hoặc địa điểm ngoài trời thì giọng cũng phải to hơn khi đọc (kể) trong phòng nhỏ

Trong việc đọc (kể) diễn cảm tác phẩm văn học có năm yếu tô' đã được trình bày tương đôi kĩ Chúng ta tách ra từng yếu tố cho tiện việc nghiên cứu Nhưng thực tế tấ t cả các yếu tố, các thủ thuật đều có liên quan m ật thiết với nhau, không thể tách ròi nhau, nhiệm vụ của các cô giáo mầm non nói riêng và các nhà su phạm nói chung phải nắm th ậ t chắc và sử dụng lmh hoạt các thủ pháp đó để nâng cao ch ất lượng những giò vãn học

f T ư thê, c ủ c h ỉ và n ét m ă t

Ngoài những thủ thuật âm thanh để đọc (kể) diễn cảm tác phẩm văn học thì sức truyền cảm của âm thanh, giọng nói sẽ được nhân lên gấp nhiều lần nếu như nó được kết hợp chặt chẽ, hài hoà với sự biểu lộ trên tư thế, cử chỉ, nét m ặt của người đọc(kể)

f l , T ư t h ế

Người đọc (kểĩ cần giữ sao cho tư thê của m ình được tự nhiên, thoải mái không gò bó, tránh đi lại lăng xăng trước măt người nghe Thông thường với các cháu nhà tre mẫu giáo chúng ta thưòng ngồi kẻ chuyện, đọc truyện hoặc đọc thơ cho trẻ nghe

Trang 35

f2 N ét m ặt

Nét mặt của người trình bày tác phẩm văn học rất quan trọng cho việc truyền cảm tác phẩm, v ẻ mặt của người đọc (kể) giúp cho người nghe dễ dàng tiếp thu được ý nghĩa của tác phẩm Nét m ặt người đọc (kể) phải thể hiện làm sao cho phù hợp với nội dung bài thơ, câu chuyện Nếu là câu chuyện vui, nét mặt người truyền thụ phải lộ vẻ hân hoan chào đón Nếu là cáu chuyện buồn, người trình bày phải biểu lộ nét mặt buồn rầu, thương cảm Tuy nhiên, không nên gắng sức biểu hiện một cách giả tạo, vẻ mặt phải tự nó xuất hiện khi đọc, khi kể mới có thể giúp trẻ cảm thụ sâu sắc nội dung và hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, v ẻ m ặt thờ ơ, lãnh đạm, không biểu lộ gi cả là một điều cần hết sức trán h trong khi đọc (kể) tác phẩm, nhất là khi kể (đọc) cho trẻ nghe, vì như th ế nó làm cho trẻ nhỏ không nhận thức được ý nghĩa của tác phẩm một cách đầy đủ và trọn vẹn Tuy vậy, giáo viên chúng ta cũng cần phải chú ý, đây là loại nghệ thuật dùng âm thanh, giọng nói để truyền cảm là chủ yếu, vì vậy nên tránh lạm dụng nét mặt, làm như vậy ngưòi cảm thụ tác phẩm sẽ ít chú ý đến ngôn ngữ ngưòi truyền đạt

/3 Cử chỉ

Cử chỉ là động tác sửa tay, cũng là một trong những phương tiện sử dụng vào việc đọc (kể) tác phẩm Cử chỉ phải phù hợp với sự xúc động trong tâm hồn người đọc Cử chỉ của người đọc (kê) dùng để biểu lộ thái độ của họ đối với tác phấm các nhân vật, các sự kiện được miêu tả trong tác phẩm Ta không nên lặp

đi, lặp lại cử chỉ một cách thường xuyên, vì như vậy sẽ làm mất

đi sức biếu cảm và ta cùng không nên dùng cử chỉ đe thay thê lời nói mà chỉ nên dùng để hỗ trợ cho lòi nói mà thôi Muôn sử

Trang 36

dụng tư thế, cử chỉ, nét mặt cho phù hợp, các cô giáo nên nghiên cứu kĩ tác phẩm.

K ế t lu â n : Phương pháp đọc (kể) diễn cảm tác phẩm văn

học cho trẻ nghe là một công việc vừa khoa học vừa nghệ thuật, đòi hỏi ở mỗi người giáo viên (đặc biệt các cô giáo mầm non) phải công phu rèn luyện với sự nỗ lực rất cao Trong quá trình dạy truyện thơ cho trẻ từ 1 đến 6 tuổi đòi hỏi người giáo viên mầm non phải tích cực tích luỹ được những kinh nghiệm riêng của bản thân mình, để góp phần nâng cao chất lượng của những giờ đọc thơ (kể chuyện) cho trẻ

II PHƯƠNG PH ÁP ĐÀM THOẠI

1 K h á i n iệm

Kinh nghiệm sư phạm tốt còn thể hiện việc sử dụng phương pháp đàm thoại khi cho trẻ làm quen vổi tác phẩm văn học, không những không ảnh hưởng tới sức truyền càm của chuyện

kể, đọc thơ mà còn góp phần phát triển ngôn ngữ cho trê, giúp trẻ hiểu, nhớ được câu chuyện, các bài thơ hoặc các từ khó, từ mới trong tác phẩm văn học Đàm thoại là thông qua các câu hỏi (là sự trao đôi giữa cô và trẻ), cô hỏi, trẻ trả lời để tăng cường tư duy cho trẻ, hướng trẻ vào việc tri giác các vật thật, các hiện tượng ở môi trường xung quanh, các vấn đề nội dung, các giá trị nghệ thuật trong tác phẩm văn học, tẩi hiện lại những cái đã tri giác, hệ thống hoá các kiến thức đã biết và dẫn đến các kết luận một cách tổng quát Ví dụ trong bài thơ "Chu giải phóng quân' sau khi cô đọc diên cảm cho trẻ nphe nhiều lần, cô tién hành đàm thoại với trẻ nhằm mục đích iĩiãi thích cho trò tù khó trong bài thri "Chu giải phóng quân", cô có thể hỏi trẻ:

Trang 37

- Chú giải phóng quân là ai các cháu nhỉ?

(Là các chú bộ đội, các c hú bộ đội đánh giặc rất giỏi, các chú

bộ đội đội mũ tai bèo, vành mũ hơi rộng)

Hoặc khi cho tré học bài thơ “Hoa kết trái”, cô đọc mẫu (đọc thật diễn cảm từ 1 đến 3 lần), cô có thể đặt câu hỏi trao-đoi với trỏ giúp trẻ nhớ tác phẩm Cô hỏi trẻ:

- Cỏ vừa đọc bài thơ gì? (Hoa kết trái)

Hoa kết trái là thè nào? (Cô giải thích luôn: hoa kết trái là hoa kết thành quả)

Đàm thoại giúp trẻ nhớ tác phẩm (nhớ câu chuyện) đe sau này trẻ có thể kê lại chuyện Trong trường hợp này các câu hỏi dược sử dụng có tính chất tái hiện nội dung câu chuyện Trong phương pháp đàm thoại không chỉ đóng khung trong việc giai thích từ khó, hay hệ thông các câu hỏi nhằm tái hiện nội dung câu chuyện mà còn có thể trao đôi xung quanh các yếu tô nghệ thuật của tác phẩm

Ví dụ cô hỏi trẻ: Hoa lựu đỏ như th ế nào9 Các cháu có thê

t rã lời bằng nhiêu cách

- Hoa lựu đỏ như đốm lửa

- Hoa lựu phói chang

Hoặc với câu chuyện "Dê con nhanh trí” có hỏi trẻ:

Giọng chó sói như th ế nào? (Ôm Ồm nhưng nhẹ nhàng vì

nó bắt chước giọng dê mẹ để lừa dê con)

Giọng dê mẹ như th ế nào? (Giọng dê mẹ nhẹ nhàng, âuvòm)

Trang 38

Bây giờ cháu bắt chưốc giọng chó sói giả dê mẹ xem có giông không nào? (Cạch,.cạch, cạch! Chó sói hung ác, đuổi cổ nó

đi ).

Trong khi cô dạy trẻ kể chuyện, cô có th ể hỏi trẻ nội dung đánh giá giọng kể của bạn mình, đặc biệt ở nhũng phần diễn cảm Nhủng công việc trao đổi như vậy rất bổ ích, giúp trẻ hưóng về hình thức của tác phẩm, từ đó có tác dụng làm giàu vốn từ nghệ thuật và các phưdng tiện biểu cảm ngôn ngữ của trẻ Vậy khả năng cảm thụ bài văn không thể tự có mà phải qua ^ tích luỹ, tìm tòi Phương pháp đàm thoại giúp trẻ cảm thụ được các bài thơ, câu chuyện một cách đầy đủ cả nội dung và hình thức

2 C ác yêu cầu khi sử dụng phướng pháp đàn? thoại

Muốn tiến hành đàm thoại tốt, trẻ phải có các ấn tượng khi quan sát, nghe kể chuyện (đọc thơ) Nếu thiếu các ấn tượng này

và thiếu sự tích luỹ sô' lượng các mối quan hệ th ì không thể tiến hành hệ thống hoá và tổng quát hoá cái đã tri giác được

Khi tiến hành đàm thoại phải dựa vào đặc điểm lứa tuổi của trẻ dể xác định nội dung đàm thoại, xác định thời gian kéo dài, xác định cảu hỏi cụ thể và nhất là các kết luận trừu tượng đến mức độ nào

Ví dụ khi sử dụng đàm thoại ở lớp bé, chủ yếu là việc nói chuyện cụ thể để tích luỹ và làm chính xác thêm các kiến thức nên thường tiến hành đàm thoại trực quan dùng m ẫu vật tranh ảnh, búp bê v.v Còn ỏ lớp nhỡ, lớp lân sử dụng phương pháp đàm thoại tổng quát nhiều hờn Ớ đây đôì tượng đàm thoai thường là t)ong cuộc sống xã hội Để tiến hành chươnơ pháp đàm thoại có kết quả tôt, cần phải xác định cụ thê các nhiệm vu38

Trang 39

íiảng dạy va giáo dục tự do lựa chọn nội (lung giảng dạy Khi -iên hành (tàm thoại, đầu tiên ta đặt câư hỏi để tre nhớ lại các

ấn tượng, các kiến thức và tạo ra sự thích thú với đề tài đàm thoại Đàm thoại theo các cáu hỏi cô giáo đưa ra, có sự chuẩn bị trước đe làm chính xác hơn các biểu iượng của trẻ Khi đàm thoại nên để trẻ tự nói theo tư duy nhưng không được lạc đề Mỗi câu hỏi dể hai, ba trẻ trả lời, với nhùng trè nhút nhát, ít nói lúc drill nên (lặt câu hỏi dễ, sau đó dần dần mới đặt câu hỏi khó hơn

Yêu cầu đôi vối cãu hỏi đàm thoại:

Câu hòi phải cụ thê, gán liền với đê tài đàm thoại Câu hỏi được đưa ra để trẻ độc lập suy nghĩ, không gợi ý trưốc Hệ thông câu hỏi đảm bảo Iôgic để hướng tới kết luận và phát triển tư duy lôgic cho trò Đặc biệt lưu ý câu hỏi, không nên đưa ra cùng một lúc và để cập tới tất cả các khía cạnh của đề tài cũng không nên đặt quá nhiều câu hỏi làm trò mất tập trung, không suy nghĩ

Ví dụ ke "Cây táo thần' ỏ mẫu giáo nhỡ khi giới thiệu hài

cô giao dặt câu hỏi để hỏi trè:

C âu 1: Các cháu có yêu r;w bạn trong lỏp không?

39

Trang 40

C âu 2: Các cháu có cho các bạn củng chơi đồ chơi và ngồi ăn

cùng bàn không?

Cô nói 'T h ê mà có một bạn đuổi không cho các bạn chơi dưới gốc cây táo và không cho các bạn ăn quả táo trên cây Vì bạn ấy muôn ăn táo một mình, muôn chơi một mình dưới gốc cây táo đấy! Đe xem sau này bạn ấv có hôi hận về việc làm của mình không? Ai đã giúp bạn nhận ra lỗi? Các con hãy nghe cô

kể chuyện “Cây táo thần” nhé”!

Với tác phẩm trẻ dã biết (học sang tiết 2 - 3 ) việc, đàm thoại

ở đây chủ yếu hướng vào việc gợi nhớ lại tác phẩm

Ví dụ khi cô dạy trẻ học thuộc lòng bài thơ, đọc thơ diễn câm bài “Em yêu nhà em" ở mẫu giáo nhõ, cô giới thiệu và đọc hai câu cuối của bài thơ:

"Dù đi xa thật là xa

C h ắn g đ â u vui được n h ư n hà c ủ a em "

Rồi cô hỏi trẻ: Hai câu thơ cô dọc nói về ai, trong bài thơ nào? Cô nói: hôm nay cô dạy các con học thuộc lòng và đọc diễr cảm bài thơ “Em yêu nhà em' Các con chú ý nghe cô đọc nhé!

b Đ à m thoai d ê h iể u tá c p h ả m

Phần đàm thoại nảy phụ thuộc vào tiết học của bài dạy Với tác phẩm kể, đọc lần đầu (mối), không chỉ đơn giản cô đặt câu hỏi, trẻ trả lòi, mà khi đàm thoại cô giáo cần đặt câu hỏi kết hợp với giảng giải (có nghĩa là khi kể chuyện, yêu câu trẻ hiểu nội dung chính của chuyện kể) Sau đó cô nêu câu hỏi - trẻ có thể trả lời được, hoặc chưa trả lời tốt cô đi vào củng cô bàng cách trích dẫn để giúp trẻ hiểu nội dung chính (tên tác phẩm , chủ đề

tư tưởng

Ví d ụ : sau khi cô kể mẫu chuyện “Quả bầu tiên' cho mẫu

giáo lớn từ mót ctên hai lần, cô hỏi trẻ

Ngày đăng: 05/08/2015, 18:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w