Bởi vì việc dạy học giải toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán,được rèn luyện kĩ năng thực hành với những yêu cầu được thể hiện mộtcách đa dạng, p
Trang 12 Thiết kế nghiên cứu.
3 Qui trình nghiên cứu
4 Đo lường và thu thập dữ liệu
PHẦN IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
Trang 2
vị trí rất quan trọng và then chốt trong nội dung chương trình các môn học
mà các em học sinh được học Các kiến thức kĩ năng của môn toán ở tiểuhọc có nhiều ứng dụng trong đời sống, chúng rất cần cho người lao động, rấtcần thiết để học các môn học khác ở tiểu học và các lớp trên Làm thế nào
để các em học sinh giải được các bài toán ở nhiều dạng khác nhau là cả mộtvấn đề mà mỗi giáo viên chúng ta luôn trăn trở Bản thân giáo viên phải tìmtòi, suy nghĩ, đúc kết kinh nghiệm để sau mỗi bài học học sinh của mình đều
làm được bài tập là một điều hết sức cần thiết Bởi vì việc dạy học giải toán
ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán,được rèn luyện kĩ năng thực hành với những yêu cầu được thể hiện mộtcách đa dạng, phong phú Nhờ việc dạy học giải toán mà học sinh có điềukiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn phương pháp suy luận vànhững phẩm chất của người lao động mới Việc giải các bài toán có lời văn
là dịp để học sinh vận dụng một cách tổng hợp ngày càng cao các tri thức và
kỹ năng về toán tiểu học với kiến thức cuộc sống
Trong bốn mạch kiến thức ở môn Toán ở cấp tiểu học đó là Số học,Hình học và Đo lường và Giải toán có lời văn thì mạch kiến thức Giải toán
có lời văn chiếm khối lượng mạch Giải toán không nhiều (chiếm khoảng9%), song nó không chỉ giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển tư duytoán học nói chung mà còn là yếu tố chính trong việc hình thành và pháttriển tư duy trừu tượng, khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và cáchnhìn nhận thấu đáo trong cách giải quyết vấn đề của học sinh Bên cạnh đó,song song với việc trau dồi kiến thức, kĩ năng giải toán cơ bản cho học sinhthì còn giúp cho học sinh phương pháp suy luận, phương pháp lao động tốt,phương pháp tự học, phương pháp giải quyết các vấn đề, từ dó học sinh có
phương pháp tự học và phát triển trí thông minh sáng tạo Trong môn toán
ở cấp Tiểu học, các bài giải toán có lời văn có một vị trí hết sức quan trọngđược sử dụng để gợi động cơ tìm hiểu kiến thức mới nó yêu cầu học sinhphải vận dụng kiến thức của cả bài học vào để giải Toán lời văn đa số là cónội dung liên quan thực tế vì vậy khi giải các bài toán này học sinh được mởrộng thêm kiến thức các môn học khác Môn toán giúp học sinh nhận biếtcác mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiệnthực Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một số mặt của thếgiới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống Môntoán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ,
Trang 3phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề Nó góp phần pháttriển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, nó đóng gópvào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người laođộng như: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch,
phong phú như thế nào
2 Lý do chọn đề tài:
Trong những năm làm công tác quản lí tôi thầy chất lượng học tậpmôn Toán của các em học sinh ( nhất là học sinh lớp 4,5 ) chưa đạt cao sovới các môn học khác Với mong muốn làm sao để nâng cao chất lượnggiảng dạy trong nhà trường nói chung và giảng dạy môn toán nói riêng nêntôi muốn nghiên cứu đề tài này Bên cạnh bản thân tôi cũng may mắn đượctham gia các lớp bồi dưỡng giảng dạy môn Toán của Bộ trong chương trìnhthay sách nên tôi cũng phần nào nắm được một số phương pháp cơ bảntrong việc giảng dạy môn Toán ở cấp tiểu học, đặc biệt là phần Giải Toán cólời văn Theo tôi, trong các môn các em được học ở cấp Tiểu học thì mônToán chiếm vị trí rất quan trọng Bởi vì, môn Toán ở trường Tiểu học giúphọc sinh có những tri thức cơ sở, nền tảng về toán học, rèn luyện khả năngtính toán, suy luận, đồng thời góp phần rèn luyện các phẩm chất của mỗihọc sinh
Làm thế nào để các em học sinh giải được các bài toán ở nhiều dạngkhác nhau là cả một vấn đề mà mỗi giáo viên chúng ta luôn trăn trở Bảnthân giáo viên phải tìm tòi, suy nghĩ, đúc kết kinh nghiệm để sau mỗi bàihọc học sinh của mình đều làm được bài tập là một điều hết sức cần thiết.Bởi vì việc dạy học giải toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vậndụng những kiến thức về toán, được rèn luyện kĩ năng thực hành với nhữngyêu cầu được thể hiện một cách đa dạng, phong phú Nhờ việc dạy học giảitoán mà học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rènngôn ngữ giao tiếp, rèn phương pháp suy luận và những phẩm chất củangười lao động mới Việc giải các bài toán có lời văn còn là dịp để học sinhvận dụng một cách tổng hợp ngày càng cao các tri thức và kỹ năng về toán
tiểu học với kiến thức cuộc sống Xuất phát từ vị trí quan trọng của việc dạy
học giải toán ở tiểu học cũng như qua thực tế dự giờ thăm lớp của đồng
Trang 4nghiệp và việc được phân công giảng dạy một số tiết môn toán trong nhà
trường, tôi đã chọn đề tài: " Một số biện pháp dạy Giải toán có lời văn cho
học sinh tiểu học đạt hiệu quả" để nghiên cứu.
số công thức, trình bày câu lời giải chưa phù hợp với phép tính Các emchưa định hướng và tìm ra những cách giải nhanh nhất, chính xác nhất.Ngay cả người giáo viên giảng dạy cũng cần phải trau dồi kiến thức, tìm ranhững phương pháp giải nào hay nhất để giúp học sinh hiểu bài một cáchnhanh nhất Bên cạnh đó đôi lúc người giáo viên chưa đem hết khả năngnhiệt tình để truyền thụ kiến thức và áp dụng phương pháp dễ hiểu nhất chocác em nên trong quá trình học tập tiếp thu kiến thức mới thì hiệu quả đạtchưa được cao Qua việc dự giờ đồng nghiệp, tôi thấy giáo viên có sử dụngcác tranh ảnh trong SGK treo lên bảng lớp cho học sinh quan sát, mô tảxuông bằng lời nói Họ cố gắng đưa ra hệ thống câu hỏi gợi mở dẫn dắt họcsinh tìm hiểu vấn đề Học sinh tích cực suy nghĩ, trả lời câu hỏi của giáoviên, phát hiện và giải quyết vấn đề Kết quả là học sinh làm được bài nhưnghiểu chưa sâu sắc về bài, kĩ năng vận dụng vào thực tế chưa cao
2 Giải pháp thay thế:
Dạy và học tốt về giải bài toán có lời văn có ý nghĩa quyết định thànhcông của dạy và học môn toán Do đó người giáo viên phải xác định rõ mụctiêu của việc dạy giải các bài toán có lời văn cần phải đạt được các kiến thức
và kỹ năng sau:
a Học sinh nhận biết “cái đã cho” và “cái phải tìm” trong mỗi bài
toán, mối quan hệ giữa các đại lượng có trong mỗi bài toán chẳng hạn: Khidạy toán chuyển động đều thì mối quan hệ đó thể hiện ở quãng đường đibằng tích của vận tốc với thời gian đi đường
b Học sinh giải được các bài toán hợp với một số quan hệ thường
gặp giữa các đại lượng thông dụng
c Học sinh giải được một số loại toán điển hình như:
- Tìm số trung bình cộng của hai số hoặc nhiều số
- Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của chúng
Trang 5- Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của chúng.
- Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của chúng
- Bài toán về đại lường tỉ lệ thuận
- Bài toán về đại lượng tỉ lệ nghịch
- Bài toán cơ bản về chuyển động đều cùng chiều
- Bài toán cơ bản về chuyển động đều ngược chiều
- Toán về phần trăm
- Toán có nội dung hình học
d Biết trình bày bài giải đúng qui định (SGK)
Để đạt được những mục tiêu trên cần thông qua qua trình phát triểntừng bước, phải thực hiện thường xuyên, liên tục Người giáo viên cần quantâm đến tất cả các đối tượng học sinh trong lớp, kịp thời quan tâm giúp đỡ ( nhất là đối tượng học sinh yếu) để có những biện pháp và phương pháptruyền thụ kiến thức cho phù hợp
*Lưu ý:
Giải toán là một hoạt động gồm những thao tác: xác lập được mối liên
hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bàitoán, chọn phép tính thích hợp trả lời đúng câu hỏi của bài toán
Điều chủ yếu của việc dạy học giải toán là giúp học sinh tự tìm hiểuđược mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện bài toán
mà thiết lập các phép tính số học tương ứng, phù hợp Để tiến hành đượcđiều đó, việc dạy toán diễn ra theo 3 yếu tố sau:
- Thứ nhất: Hoạt động chuẩn bị cho việc giải toán
- Thứ hai: Hoạt động làm quen với việc giải toán
- Thứ ba: Hoạt động hình thành kĩ năng giải toán
Để học sinh nắm vững được các bước của quá trình giải toán tôi đã tiếnhành như sau:
a Hoạt động chuẩn bị cho việc giải toán:
Trước mỗi giờ toán tôi thường nghiên cứu kĩ bài toán Phần lớn các bàitoán đều có chủ đề liên quan tới các đại lượng và mối quan hệ giữa các đạilượng trong bài toán Vì thế, việc rèn kĩ năng thao tác qua việc học về phép
đo đại lượng là rất cần thiết cho việc giải toán
b Hoạt động làm quen với việc giải toán: Tiến hành theo 4 bước
Tìm hiểu nội dung bài toán
Tìm cách giải bài toán
Trình bày cách giải bài toán
Kiểm tra cách giải bài toán
Trang 6
* Tìm hiểu nội dung bài toán:
Việc tìm hiểu nội dung bài toán (đề toán) thường thông qua việc đọc đềtoán (dù bài toán cho dưới dạng lời văn hoàn chỉnh, hoặc bằng dạng tóm tắt,
sơ đồ.) học sinh cần phải đọc kĩ, hiểu rõ bài toán cho biết cái gì, cho biếtđiều kiện gì, bài toán hỏi gì? Khi đọc bài toán học sinh phải hiểu thật kĩ một
số từ, thuật ngữ quan trọng chỉ rõ tình huống toán học được diễn đạt theongôn ngữ thông thường,
Nếu trong bài toán có thuật ngữ nào học sinh chưa hiểu rõ, tôi hướngdẫn học sinh hiểu được nội dung và ý nghĩa của từ đó trong bài toán đanglàm Sau đó học sinh thuật lại bằng lời vắn tắt bài toán mà không cần đọc lạinguyên văn bài đó
* Tìm tòi cách giải toán;
Hoạt động tìm tòi cách giải bài toán gắn liền với việc phân tích các dữkiện, điều kiện và câu hỏi của bài toán nhằm xác định mối liên hệ giữachúng và tìm được các phép tính số học thích hợp
Hoạt động này thường diễn ra như sau:
* Minh họa bài toán bằng tóm tắt đề toán, dùng sơ đồ, dùng
lời
Sau khi hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán tôi hướng dẫn học sinh:
* Lập kế hoạch giải toán nhằm xác định trình tự giải quyết, thực hiệncác phép tính số học bằng việc đi từ câu hỏi của bài toán đến số liệu hoặc đi
từ số liệu đến các câu hỏi của bài toán
*Trình bày cách giải bài toán:
Hoạt động này bao gồm việc thực hiện các phép tính đã nêu trong kếhoạch giải toán và trình bày giải Mỗi bài đều có câu lời giải, phép tính, đáp
số
Sau khi tìm được lời giải, học sinh căn cứ vào từ khoá ở câu hỏi để chọnphép tính thích hợp cho bài toán, phép tính viết theo quy ước có ghi tên đơn
vị, ghi đáp số kèm theo đơn vị
c- Kiểm tra cách giải bài toán:
Việc kiểm tra này nhằm xem cách giải đúng hay sai chỗ nào để sửachữa, sau đó nêu cách giải đúng, ghi đáp số
Trang 7Phần kiểm tra cách giải bài toán này sẽ giúp các em hiểu được mìnhlàm đúng hay sai
Nhờ phần kiểm tra mà học sinh lớp tôi ít nhầm lẫn trong các dạng toán này
Vì vậy: Để học sinh giải được các bài toán có lời văn ở tất cả dạng thì việc trước tiên là cần phải làm thế nào để các em học sinh:
+ Xác định được bài toán đó thuộc dạng toán nào
+ Nắm vững công thức của từng dạng
+ Tìm ra các bước cơ bản để giải
* Dưới đây là một số dạng toán cơ bản:
- Giáo viên yêu cầu học snh đọc kỹ đề bài
- Hướng dẫn học sinh phân tích đề toán để các em biết được số cân nặngcủa 4 bạn: Mai, Hoa, Hưng, Thịnh lần lượt là: 36kg, 38kg, 40kg, 34kg vàtính được cân nặng của mỗi bạn
- Hướng dẫn tốm tắt bài toán
148 : 4 = 37 (kg)
Dạng 2: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó:
Khi học dạng toán này, điều trước tiên là làm thế nào để học sinh nắmđược những công thức cơ bản:
(1) Số lớn = Tổng + Hiệu
2
(2) Số bé = Tổng - Hiệu
2
- Sau khi nắm được những công thức cơ bản, lúc đó ta sẽ đưa ra một
ví dụ cụ thể để cho học sinh áp dụng Chẳng hạn như:
* VD 1: Tổng của hai số là 60, hiệu của hai số là 12 Tìm hai số đó?
Muốn làm được bài tập này thì ta cần thực hiện các bước như sau:
Trang 8* Bước 1: Đọc thông thạo bài toán, nắm dược số liệu.
* Bước 2: Tóm tắt đề bài theo sơ đồ:
* Bước 3: Phân tích đề bài:
+ Giáo viên giúp học sinh xác định xem bài toán cho biết gì? + Xác định xem bài toán yêu cầu gì?
+ Muốn giải bài toán này phải làm gì?
* Bước 4: Giải bài toán và thử lại.
- Thông thường, sau khi được hướng dẫn học sinh thường giải như sau:
Số lớn là: (60+12):2=36
Số bé là : ( 60-12):2=24
Làm thế này cũng đúng, không có gì sai nhưng như thế thì học sinh chưa có tíng suy luận cao Vì vậy, ta có thể hướng dẫn như sau để học sinh chỉ cần vận dụng hai công thức đó mà tính:
Giáo viên: Nếu các em tìm số lớn trước thì sau khi có số lớn em xem thử số lớn hơn số bé là bao nhiêu? Học sinh trả lời là 12
Giáo viên: Vậy các em chỉ việ lấy số lớn tìm được là 36 trừ đi 12 thì sẽ
ra số bé
Hoặc ngược lại, nếu tìm ra số bé trước thìesau khi tìm xong số bé các
em chỉ việc lấy số bé cộng với hiệu thì sẽ ra số lớn
Hay cũng có thể, Sau khi tìm được số lớn (hoặc số bé) các em chỉ việc lấy tổng trừ đi một số hạng đã biết thì sẽ tìm được số hạng kia
Gọi một học sinh lên giải theo cách giáo viên đã hướng dẫn
Từ hai công thức cơ bản đó, sau khi hướng dẫn học sinh lên giải bài toán trên ta có thể suy ra một số công thức liên quan yêu cầu học sinh phải ghi nhớ:
Trang 9VD 2: Tuổi bố và tuổi con cộng lại là 36 tuổi Bố hơn con 25 tuổi Hỏi
bố bao nhiêu tuổi, con bao nhiêu tuổi ?
* Bước 1: Yêu cầu học sinh đọc đề toán thông thạo, nắm được số
+ Bài toán yêu cầu gì? (Tìm tuổi bố, tuổi con?)
+ Bài toán thuộc dạng toán gì? (Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó)
+ Đâu là tổng? (36 tuổi)
+ Đâu là hiệu? (24 tuổi)
+ Tìm số lớn bây giờ chính là tuổi của ai? (Tuổi của bố) Số bé là tuổi của ai? (Tuổi của con)
+ Muốn tìm tuổi của bố ta làm thế nào? (36 + 12)
2
+ Muốn tìm tuổi của con ta làm thế nào? (Tuổi của bố trừ đi 24 hoặc tổng trừ đi tuổi của bố)
* Bước 4: Giải bài toán
Sau khi được giáo viên hướng dấn, phân tích, vận dụng ở VD1, học
sinh sẽ giải bài toán bằng nhiều cách khác nhau
Thực ra, bài toán này sỡ dĩ khó hơn bài toán trên là ở chỗ không nói
số lớn và số bé nữa mà là tuổi bố, tuổi con Nếu giáo viên giúp học sinh xác định số lớn thay bằng tuổi của ai? Số bé thay bằng tuổi của ai? Thì có lẽ họcsinh sẽ làm bài toán này dẽ dàng hơn
Dạng 3: Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó:
- Ở dạng toán này không có công thức tính như: “Tìm hai số khi biết
tổng và hiệu của hai số đó” Vì vậy, học sinh nhiều em còn lúng túng Muốnhọc sinh làm dạng toán này tốt, tôi đưa ra một quy trình giải như sau:
Trang 10được quy trình đó thì làm bài tập dạng này sẽ rất dễ dàng.
VD1: Một người bán 280 quả cam và quýt, trong đó số cam bằng 52 số quýt Tìm số cam, số quýt đã bán?
- Để giải bài toán này giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện theo cácbước sau đây:
+ Yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài
+ Hướng dẫn học sinh phân tích đề
+ Bài toán cho biết gì? (Bán được 280 quả cam và quýt Trong đó
số cam bằng số quýt)
+ Bài toán yêu cầu gì? (Tìm số cam, số quýt đã bán ?
+ Giáo viên yêu cầu học sinh xác định : Đâu là tổng ? (280) Đâu là tỉ ? (
5
2
)
+ Số cam bằng 52 số quýt vậy số cam chiếm mấy phần? (2 phần)
Số quýt chiếm mấy phần? (5 phần)
+ Đâu là số lớn? (số quýt) Đâu là số bé ? ( Số cam)
- Vậy muốn giải được bài toán này ta làm như thế nào?
* Bước 3: 7 phần ứng với bao nhiêu quả? (280 quả)
Vậy tìm giá trị của một phần ta làm thế nào?
280 : 7 = 40 (quả)
* Bước 4: Tìm số lớn (số quýt) Số bé (số cam).
+ Muốn tìm số quả cam ta làm như thế nào?
Lấy giá trị của một phần nhân với 2:
40 x 2 = 80 (quả)
+ Muốn tìm số quả quýt ta làm như thế nào?
Lấy tổng số quả cam và quýt trừ đi số quả cam vừa tìm được:
Trang 11VD2: Một hình chữ nhật có nửa chu vi là 125m Chiều rộng bằng 32
chiều dài Tìm chiều dài, chiều rộng hình chữ nhật đó?
- Đối với bài tập này thì việc quan trọng là giáo viên giúp học sinh nắm được nửa chu vi là gì? (Tức là một chiều dài và một chiều rộng)
Vậy nửa chu vi còn được gọi là tổng ( của chiều dài và chiều rộng)
- Để làm được bài tập này giáo viên hướng dận học sinh theo các ý như sau:
+ Tỉ số giữa chiều rộng và chiều dài là bao nhiêu? ( 32 )
Vậy chiều rộng chiếm mấy phần? (2 phần) Chiều dài chiếm mấy phần? (3 phần)
+ Đề bài yêu cầu làm gì? (Tìm chiều rộng và chiều dài của hình chữ nhật?)
+ Muốn tìm được chiều dài và chiều rộng của hình chữ nhật ta làm như thế nào? (Vẽ sơ đồ và giải)
- Học sinh dựa vào các bước cơ bản đã biết thì sẽ tìm rất nhanh
Dạng 4 Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ của hai số đó:
- Khi làm bài tập dạng này cũng tương tự như “Tìm hia số khi biết tổng và tỉ của hai số đó” Giáo viên đưa ra 4 bước cơ bản sau đây và yêu cầuhọc sinh nắm chắc:
Bước 1: Vẽ sơ đồ
Bước 2: Tìm hiệu số phần bằng nhau
Bước 3: Tìm giá trị của một phần
Bước 4 : Tìm số lớn, số bé
Trong quá trình làm bài tập của dạng này, các em học sinh thường
bỏ đi bước thứ 3 (tìm giá trị một phần) Sau khi vẽ sơ đồ xong, các em tìm hiệu số phần rồi tìm số lớn, số bé Việc này đáng tuyên dương Nhưng đối với các em học sinh yếu thì việc thực hiện đầy đủ các bước trên là vô cùng quan trọng giúp các em không bị nhầm lẫn giữa cái này với cái kia
VD: Hiệu của hai số là 30 Số thứ nhất gấp 3 lần số thứ hai Tìm hai số đó?
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đề
- Hướng dẫn học sinh phân tích đề
+ Bài toán cho biết gì? (Hiệu của 2 số là 30 Số thứ nhất gấp 3 lần
Trang 12- Sau khi giáo viên và học sinh đã phân tích xong đề toán thì sẽ đi vào từng bước giải cơ bản mà giáo viên đã đưa ra:
Hoặc có thể làm gộp như sau:
Bước 1, bước 2: Như ban đầu
Muốn tìm 42 của 40 ta làm như thế nào?
Học sinh trả lời lấy 40 nhân với 2 rồi chia cho 4 Thông thường, sau khi áp dụng quy tắc đó học sinh thường viết dưới dạng phân số mà không đưa về số
tự nhiên: 40 x 42 = 20
Vì thế tôi đã đưa ra một quy tắc giúp học sinh có cách giải như sau:
“Muốn tìm phân số của một số ta lấy số đó nhân với tử rồi đem chia cho mẫu số” Yêu cầu học sinh đọc thuộc và nhớ quy tắc Sau đó đưa bài tập áp dụng cụ thể
VD1: Một sân trường hình chữ nhật có chiều dài 120m, chiều rộng bằng 32
chiều dài Tính chiều rộng của sân trường?
* Bước 1: Đọc kĩ đề bài.
* Bước 2: Hướng dẫn học sinh tóm tắt:
Chiều dài: 120m
Trang 13Chiều rộng: 32 chiều dài
Chiều rộng: ….m ?
* Bước 3: Hướng dẫn học sinh phân tích đề:
- Bài toán cho biết gì? (Chiều dài 120m Chiều rộng bằng
3
2
chiều dài)
- Bài toán yêu cầu gì? (Tìm chiều rộng của hình chữ nhật?)
* Bước 4: Giải bài toán:
Chiều rộng của hình chữ nhật là:
120 x 32= 120 x 2 : 3 = 80 (m)
- Sau khi học sinh làm được bài tập này thì ta đưa ra một bài tập khácvới yêu cầu cao hơn, số liệu phức tạp hơn một chút để tăng thêm óc suy luậncủa học sinh
VD2: Ngày hôm qua bán được 240 kg gạo Ngày hôm nay bán được
3
2
số gạo ngày hôm qua Hỏi ngày hôm nay bán được bao nhiêu kg gạo?
- Hướng dẫn học sinh phân tích ví dụ và giải tương tự:
+ Bài toán cho biết gì? (Hôm qua bán được 240 kg gạo, hôm nay bán được 32 số gạo ngày hôm qua)
+ Bài toán yêu cầu gì? (Tìm số gạo ngày hôm nay bán được?) + Muốn tìm số gạo ngày hôm nay bán được ta làm thế nào? (Lấy sốgạo ngày hôm qua bán được nhân với 2 rồi chia cho 3)
+ Học sinh thực hiện giải bài toán
* Dạng 6: Tính chu vi, diện tích một số hình đã học :
- Dạng toán này giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng ký hiệutoán học : cách tóm tắt này thường ngắn gọn, xúc tích, được áp dụng với cácbài toán có liên quan đến các công thức cơ bản mà học sinh phải nhớ đượccác ký hiệu của từng đại lượng Song ở môn toán thường là các ký hiệu đốivới bài toán về hình học như:
S : diện tích P : chu vi
h : chiều cao a : độ dài đáy
…
VD Một mảnh đất trồng hoa hình bình hành có độ dài đáy 40 dm,
chiều cao 25 dm Tính diện tích mảnh vườn đó
Đối với bài toán trên học sinh có thể tóm tắt như sau :
Trang 14- Giáo viên phải rèn cho học sinh kỹ năng phân tích, suy luận trên sựtóm tắt bài toán để xác lập các phép tính sao cho phù hợp, cụ thể người giáoviên phải nêu ra hệ thống câu hỏi như: tìm số đó bằng cách nào ? làm phéptính gì ? làm thế nào để tìm được ?
- Lời giải trước mỗi phép tính thường là những câu ngắn gọn, sát với nội dung phép tính sắp trình bày
Bài giảiDiện tích mảnh đất trồng hoa hình bình hành là :
40 x 25 = 1000 (dm2 )
Đáp số: 1000 (dm2 )
- Giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự kiểm tra lại kết quả của bàitoán bằng cách hướng dẫn các em nhìn vào yêu cầu của bài toán và sự liênquan giữa các đại lượng, yếu tố, kết quả đã phù hợp với các điều kiện màbài toán đưa ra chưa ? các phép tính trong bài đã chính xác chưa ?
Trang 15PHẦN III PHƯƠNG PHÁP
1 Khách thể nghiên cứu:
* Học sinh:
Chọn học sinh của hai lớp 4A và 4B của trường tiểu học Bình Thới vì
cả hai lớp này đề có số lượng và chất lượng tương đối đều nhau Chọn ngẫunhiên mỗi lớp 20 học sinh theo thứ tự từ 5 đến 25
+ HS Lớp 4A (lớp thực nghiệm)
+ HS Lớp 4 B (lớp đối chứng)
Về ý thức học tập, tất cả học sinh hai lớp đều tích cực, chủ động
Về số lượng và chất lượng hai lớp này tương đương đều nhau
* Giáo viên:
1 Mai Thị Mỹ Hiền - giáo viên dạy lớp 4 A (lớp thực nghiệm)
2 Võ Thị Thu Ái - giáo viên dạy lớp 4 B (lớp đối chứng)
Cả hai cô giáo này đều là giáo viên giảng dạy nhiệt tình, có tay nghềvững vàng
2 Thiết kế nghiên cứu:
Chọn 20 học sinh lớp 4A là nhóm thực nghiệm và 20 học sinh lớp 4B
là nhóm đối chứng Tôi dùng bài kiểm tra trước tác động Kết quả cho thấytrung bình của hai nhóm có sự khác nhau, do đó tôi dùng phép kiểm chứngTTEST để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của hai nhómtrước khi tác động
Sử dụng các biện pháp:
dạy học(đối với học sinh tiếp thu chậm), phân tích, tư duy
3
O
Kết quả nhóm thựcnghiệm
+ Kết quả kiểm tra (O O1 , 2) làm bài kiểm tra tiết 38, tuần 8 của 2nhóm
+ Kết quả kiểm tra (O O3 , 4) kiểm tra kết quả về nhận biết, thông hiểu,vận dụng môn toán lớp 4 của học sinh 2 nhóm
3 Qui trình nghiên cứu:
- Soạn thiết kế bài dạy và tham khảo các bài giảng của đồng nghiệp
Trang 16- Tiến hành dạy thực nghiệm những tiết trên lớp của môn Toán.
- Vận dụng các phương pháp dạy học mới, tích cực trong quá trình dạyhọc giải toán cho học sinh
- Phân loại đối tượng và dạy phân hóa đối tượng để nắm bắt sự tiến
bộ của học sinh
- Phối kết hợp với phụ huynh trong việc nhận xét, đánh giá kết quảhọc tập của học sinh qua quá trinhg giảng dạy
- Thời gian dạy thực nghiệm tiết 37 tuần 8.
4 Đo lường và thu thập dữ liệu:
+ Công cụ đo lường: (đo kiến thức cho cả 2 nhóm đối chứng và tácđộng)
- Đề kiểm tra: được cấu trúc theo 3 mức độ: Nhận biết, Hiểu, Vậndụng
+ Phương pháp kiểm chứng: Đánh giá nhận xét kết quả học sinh vận
dụng tốt theo 3 mức độ
* Tiến hành kiểm tra và chấm bài
Sau khi thực hiện dạy xong bài học trên tôi tiến hành kiểm tra 1 tiết(nội dung kiểm tra được trình bày ở phần phụ lục)