Đề tài này không tham vọng giới thiệu một cách đầy đủ về Âm nhạc Quảng Ngãi cho học sinh, màthông qua những buổi sinh hoạt ngoại khóa, các em được tìm hiểu về các loại nhạc cụcủa dân tộc
Trang 1MỤC LỤC
NỘI DUNG TRANG
I TÓM TẮT……… ……… 2
II GIỚI THIỆU…… ……… 3
III PHƯƠNG PHÁP……… …… 4
1 Khách thể nghiên cứu ……….… 4
2 Thiết kế nghiên cứu ……… … 4
3 Quy trình nghiên cứu ……… 5
4 Đo lường và thu thập dữ liệu ………25
IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN BẠC KẾT QUẢ ……….…… ……25
V KẾT LUẬN VÀ KHIẾN NGHỊ ……….… …… 27
1 Kết luận……… ……… 27
2 Đề xuất và khuyến nghị ……… 27
VI TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 28
VII PHỤ LỤC CỦA ĐỀ TÀI……… 29
1 Đề và đáp án kiểm tra sau tác động……… 29
2 Bảng điểm ………30
Trang 2Trước hiện trạng đó, tôi luôn ấp ủ một đề tài nghiên cứu khoa học để ứng dụngtrong nhà trường nhằm đưa các em đến gần với Âm nhạc của địa phương hơn Tôi bắtđầu đi sưu tầm, thu thập những thông tin, tài liệu (bao gồm cả âm thanh và hình ảnh)
cần thiết cho việc nghiên cứu, và bắt đầu nghiên cứu với đề tài: “Giới thiệu Âm nhạc
Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS” Lớp 9 của
trường là đối tượng tôi lựa chọn để nghiên cứu vì mức độ cảm thụ âm nhạc cũng nhưkhả năng diễn đạt tốt nhất để cho kết quả khách quan nhất
Nghiên cứu được tiến hành ở hai lớp 9 trường THCS Bình Dương, lớp 9A làlớp thực nghiệm và lớp 9B là lớp đối chứng Lớp thực nghiệm được thực hiện họctập, giới thiệu Âm nhạc kết hợp trong chương trình ngoại khóa, gồm 4 buổi(1tiết/buổi), cụ thể:
- Tiết 1: Giới thiệu một số nhạc cụ dân tộc Quảng Ngãi
- Tiết 2: Giới thiệu một số làn điệu dân ca Quảng Ngãi
- Tiết 3: Giới thiệu một số nhạc sĩ nỗi tiếng của Quảng Ngãi cũng nhưnhững tác phẩm tiêu biểu của họ
- Tiết 4,5: Tập hát 2 bài hát, giao lưu hát dân ca và khảo sát tình hình nhậnthức của học sinh sau 4 tiết học)
Để kết quả trung thực và khách quan tôi sử dụng phép kiểm chứng T- test đểđánh giá trình độ trước và sau tác động và phép tính SMD để kiểm chứng Mức độ
Trang 3ảnh hưởng (ES) sau tác động Và kết quả cho thấy tác động có ảnh hưởng rất lớn đến
sự hiểu biết và nhận thức của các em học sinh lớp 9A trường THCS Bình Dương Từ
đó, Tôi sử dụng nội dung tác động này giới thiệu đến toàn bộ học sinh trong nhàtrường
II GIỚI THIỆU
Những năm gần đây, Âm nhạc trở thành một môn học chính thức trong nhàtrường Tiểu học và THCS Qua âm nhạc, giáo dục tình cảm, đạo đức và góp phầnhình thành nhân cách cho học sinh
Tuy vậy, trong thời gian gần đây, học sinh ở các trường THCS có nhận thứcchưa đúng hướng về bộ môn Âm
nhạc trong nhà trường, các em có
những biểu hiện lệch lạc thông qua
việc hát các bài hát không phù hợp
lứa tuổi, có nội dung không trong
sáng và không phù hợp với thuần
phong mĩ tục người Việt Nam
Chính vì lẽ đó , việc giới thiệu âm
nhạc dân tộc và âm nhạc địa
phương trong trường THCS là công việc cần thiết và cần được quan tâm hơn nữa,nhằm giáo dục thẩm mĩ phù hợp với bản sắc văn hóa và phát huy truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc
Nhạc sĩ Trương Quang Lục khẳng định: “ Âm nhạc truyền thống dân gian, haytiếng nói của cội nguồn bao giờ cũng là nguồn mỹ cảm làm rung động và đánh thứccon tim mọi người – Nó sẽ tồn tại và phát triển trong kho tàng tinh hoa văn hóa củanhân loại…”Và thật là thiếu sót, nếu như học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, màkhông được giới thiệu về bản sắc của quê hương trong lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt làcác làn điêu dân ca
Trong năm học vừa qua, tôi đã có lồng ghép, giới thiệu nội dung về âm nhạcđịa phương trong chương trình dạy học môn âm nhạc Tuy nhiên với thời lượng ít ỏi
Trang 4của phân môn Âm nhạc thường thức ở một số tiết, thì việc mở rộng kiến thức cũngchỉ ở một mức độ hết sức khiêm tốn, học sinh không có cơ hội tiếp cận với nhiều nộidung hay Tôi luôn trăn trở và ấp ủ một đề tài nghiên cứu khoa học, để truyền tảinhững nội dung mà mình thu thập được cho tất cả học sinh trong trường.
Với những lí do trên, tôi mạnh dạn lựa chọ đề tài “Giới thiệu Âm nhạc Quảng
Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS ” Đề tài này không
tham vọng giới thiệu một cách đầy đủ về Âm nhạc Quảng Ngãi cho học sinh, màthông qua những buổi sinh hoạt ngoại khóa, các em được tìm hiểu về các loại nhạc cụcủa dân tộc, được nghe và cảm nhận những làn điệu dân ca phổ biến, được tìm hiểumột số nhạc sĩ nổi tiếng cũng như các tác phẩm tiêu biểu của các nhạc sĩ ở QuảngNgãi
Rất mong sự ủng hộ và đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô!
III PHƯƠNG PHÁP
1 Khách thể nghiên cứu:
“Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở
trường THCS”
1.1 Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 25/08/2014 đến 30/12/2014.
1.2 Địa điểm: Trường THCS Bình Dương
1.3 Đối tượng nghiên cứu: Lớp 9A và lớp 9B trường THCS Bình Dương
(Hai lớp này được Nhà trường phân chia khá tương đồng về số lượng,năng lực, ý thức học tập và giới tính
Bảng 1:Giới tính, tình hình học tập của học sinh
1.4 Nội dung nghiên cứu: “Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương
trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS”
2 Thiết kế nghiên cứu:
Tôi chọn 2 lớp: Lớp 9A là nhóm thực nghiệm và lớp 9B là nhóm đối chứng
Trang 5Tôi khảo sát mức độ hiểu biết về Âm nhạc Quảng Ngãi cũng như cảm nhận vềdân ca nói chung của học sinh để làm bài kiểm tra trước tác động Quy định của
bộ môn Âm nhạc là đánh giá Đạt(Đ) và Chưa đạt(CĐ) nên để tiện sử dụng phépkiểm chứng TTEST (đo mức độ chênh lệch), tôi dùng hình thức ghi điểm để đánhgiá học sinh Sau đây là kết quả của 2 nhóm trước khi tác động:
Bảng 2: Kết quả kiểm tra trước tác động
Sử dụng thiết kế 2:
Bảng 3: Kiểm tra trước và sau tác động đối với 2 nhóm
* Ghi chú : X (Được học cơ bản 5 tiết chương trình ngoại khóa về Âm nhạc Quảng Ngãi)
Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép tính SMD để kiểm chứng Mức độ ảnh hưởng(ES) sau tác động
3 Quy trình nghiên cứu:
3.1.Chuẩn bị bài của giáo viên :
- Thiết kế một kế hoạch bài giảng (Tiết 14 – Lớp 9), có sử dụng phần liên hệ Âmnhạc mang âm hưởng dân ca Quảng Ngãi (cụ thể 2 bài: Em là cô gái Bình Sơn;Bình Sơn quê mẹ), 5 kế hoạch ngoài giờ lên lớp có giao lưu âm nhạc, dân ca,nhưng không giới thiệu âm nhạc Quảng Ngãi
- Thiết kế 5 kế hoạch ngoài giờ lên lớp để giới thiệu về âm nhạc Quảng Ngãibằng trình chiếu slide, thực hiện ở nhóm thực nghiệm Các nội dung trên đượcthiết kế dựa trên phần mềm Encore 5 , Finale, Adobe Audition 3, Video,
Trang 6photoshop, và các trang wetsile cũng như các tài liệu (được nêu rõ trong phần
VI Tài liệu tham khảo)
3.2 Tiến hành thực nghiệm :
Thời gian dạy học môn âm nhạc vẫn tuân thủ theo quy chế chuyên môn, riêng tiếtsinh hoạt ngoại khóa(SHNK) của 2 nhóm theo lịch của Nhà trường Cụ thể:
của Việt Nam và trên thế giới
11/09/2014 SHNK/9B Buổi chiều Ôn lại tất cả các bài hát dân ca trong
chương trình Âm nhạc THCS
biểu về Quảng Ngãi
trình Âm nhạc THCS
tra sau tác động
hưởng dân ca
3.3 Nội dung thực nghiệm (Nội dung này nên trình chiếu bằng phần mềm
powerpoit):
3.3.1. Giới thiệu một số nhạc cụ dân tộc của Quảng Ngãi (Có đĩa CD kèm theo)
a Nhạc cụ của người Việt
Cũng như những vùng đồng bằng khác ở nước ta, người Việt của tỉnh QuảngNgãi cũng có các loại nhạc cụ dân tộc khá đa dạng về chủng loại, như đàn cò (nhị),trống cơm (phạn cổ), kèn tiểu (tiểu quân), đàn bầu (độc huyền cầm), đàn tranh (đànthập lục), trống tiểu, sênh, phách, sinh tiền, chập chõa, bồng bồng Các loại nhạc
cụ này được sử dụng trong các môi trường diễn xướng khác nhau, như hát bài chòi,hát sắc bùa, hát bả trạo, hát đám tang
Dưới đây là một số nhạc cụ phổ biến:
* Đàn cò:
Trang 7Đàn cò (còn gọi là đàn nhị)làm bằng gỗ gụ haytrắc Bầu cộng hưởng gọi là bát nhị Bát nhịhình ống rỗng lòng, dài khoảng 13,8 cm, mộtđầu bịt da trăn hay da kỳ đà Cần đàn trònkhông có phím, đầu dưới cắm xuyên qua bầuđàn, đầu trên gọi là Thủ đàn Thủ đàn hình đầucon cò, có gắn hai trục gỗ tròn để lên dây, cókhi trục đàn được chạm khắc cầu kỳ Ngựa đànlàm bằng tre hay gỗ dài 1 cm đặt khoảng giữamặt da Khuyết đàn còn gọi là "Cữ đàn" là mộtsợi tơ xe néo vào 2 dây đàn Cữ đàn có tác dụng điều chỉnh độ cao thấp của âmthanh Khi đưa cữ đàn xuống là làm ngắn quãng dây phát âm, đàn có giọng cao Khiđẩy cữ đàn lên, làm dài quãng dây phát âm, đàn có giọng trầm Cung vĩ làm bằngtre, hoặc gỗ được uốn cong hình cánh cung, người ta mắc vĩ như dây cung Vĩ đànđặt giữa hai dây, khi đàn vĩ cọ xát vào dây phát ra âm thanh.
* Trống cơm:
Từ thế kỷ 10, trống cơm đã xuất
hiện ở Việt Nam Trước khi đánh trống
người ta thường lấy cơm nghiền nát, trét
vào giữa mặt trống để định âm, do đó
trống này gọi là trống cơm
Trống cơm có 2 mặt trống hình
tròn bằng nhau, đường kính khoảng 15 – 17 cm Mặt trống bịt da, đường viền buộcbằng sợi mây hay da (dây xạ) kéo từ đầu trống này sang đầu trống kia để chỉnh độcăng giữa 2 mặt trống Tang trống bằng gỗ hình ống tròn dài khoảng 56 – 60 cm, haiđầu hơi khum lại, đường kính ở tang trống đoạn giữa lớn hơn đường kính mặt trống
diễn tả tốt tình cảm buồn, sâu sắc Tùy theo chất cơm trét mặt trống âm thanh phát ra
sẽ có chất lượng tốt hay xấu tương ứng
Trang 8* Đàn Bầu:
“…Cung thanh là tiếng mẹ , cung trầm là giọng cha ”
Trong kho tàn văn hóa âm nhạc dân tộc Việt
Nam, đàn bầu được coi là nhạc cụ độc đáo và hấp
dẫn nhất Tiếng đàn du dương, trầm lắng khiến ai
đã nghe một lần thì thật khó quên
Đàn bầu hay còn gọi là độc huyền cầm,
thuộc hị dây gẩy, chỉ có một dây, gảy bừng que hoặc miếng gẩy Thân đàn hình hộpdài , đầu nhỏ hơn cuối Thành đàn làm bằng gỗ cứng Đáy đàn và mặt đàn làm bằng
gỗ nhẹ Mặt đàn hay uống cong phồng lên Đáy đàn có hai lỗ thoát âm Bầu đàn làmbằng nửa quả bầu khô cắt đáy hoặc bằng gỗ tiện theo hình Bầu ở đàn lồng vào giữavòi đàn nơi buộc dây đàn Que đàn làm bằng que và song vót nhọn
Nói về đàn bầu, có rất nhiều ý kiến trái chiều về lịch sử của nó Không ai biếtchính xác đàn bầu xuất hiện ở nước ta từ khi nào, chỉ biết rằng, đàn bầu có mặt hầuhết trong các dàn nhạc dân tộc, và cũng là một trong những nhạc cụ độc tấu tuyệt vờinhất trong kho tàng âm nhạc dân tộc Việt Nam
* Đàn tranh:
Đàn tranh còn gọi là đàn thập lục, lànhạc cụ của nguười Việt Đàn thuộc họdây chi gảy Vì có 16 dây nên đàn còn
có tên chữ là Thập lục
Nguồn gốc Đàn Tranh Việt Nam là đàn
Tranh giống như đàn sắt Từ Trung
Quốc truyền sang nước Việt có thể từđời Nhà Trần Tuy nhiên, đàn tranh đãthành nhạc cụ hoàn toàn mang tính dântộcViệt Nam vì đã được người Việt ưadùng, truyền từ đời này đến đời kia hằng 7-8 trǎm nǎm, phù hợp với quan điểm thẩm
mỹ của người Việt, và nói rõ ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam
Trang 9Đàn Tranh hình hộp dài Khung đàn hình thang có chiều dài 110–120 cm Đầulớn rộng khoảng 25–30 cm là đầu có lỗ và con chắn để mắc dây Đầu nhỏ rộmgkhoảng 15–20 cm gắn 16 khoá lên dây chéo qua mặt đàn Mặt đàn làm bằng ván gỗ
ngô đồng dày khoảng 0,05 cm uốn hình vòm Ngựa đàn (còn gọi là con nhạn) nằm ở
khoảng giữa để gác dây và có thể di chuyển để điều chỉnh âm thanh.Dây đàn làmbằng kim loại với các cỡ dây khác nhau
Ngày xưa dùng dây tơ Khi biểu diễn nghệ nhân thường đeo 3 móng gẩy vàongón cái, trỏ, & giữa để gẩy Móng gẩy làm bằng các chất liệu khác nhau như kimloại, sừng hoặc đồi mồi.Đàn Tranh trong trẻo, sáng sủa thể hiện tốt các điệu nhạc vuitươi, trong sáng
Đàn Tranh ít thích hợp với những tính cách trầm hùng, khoẻ mạnh Đàn Tranhthường được sử dụng để độc tấu, hòa tấu, đệm cho ngâm thơ, hát, tham gia trong cácdàn nhạc tài tử, phường bát âm, dàn Nhã Nhạc và các dàn nhạc dân tộc tổng hợp
*Sênh tiền:
Sênh tiền là nhạc cụ gõ độc đáo, xuấthiện ở Việt Nam ít nhất vài trăm nămnay Tên cổ của nó là phách sâu tiền hayphách quán tiền (sênh trong tiếng Nôm
là phách) Cũng có tên khác là sinh tiền.Nhìn chung, nhạc cụ này là một loạisênh có gắn những đồng tiền vào nêngọi là sênh tiền
Sinh tiền gồm có 3 thanh gỗ cứng (thường là gỗ trắc hay gỗ cẩm lai) Thanh
gỗ thứ nhất và thanh gỗ thứ hai được nối liền bằng một sợi dây da ngắn Thanh thứnhất trên đầu có 2 cây đinh nhỏ, mỗi đinh xuyên qua lỗ 3 đồng tiền, đầu đinh có núm
để giữ các đồng chinh không rớt ra khi đánh Mặt thanh thứ nhất (dưới 2 cây đinh) có
1 đoạn dài khoảng 13 cm gồm 10 hàng răng cưa lồi lõm, khía theo chiều ngang.Thanh thứ hai giống như thanh thứ nhất nhưng chỉ có 1 cây đinh gắn các đồng tiền
Cả hai thanh này có phần cuối cùng bằng gỗ, không răng cưa, dùng để làm tay cầm
Trang 10Hai thanh dài khoảng 28 cm, ngang khoảng 3 cm dày khoảng 8mm, còn thanh thức
ba ngắn hơn, dài khoảng 20 cm Thanh thứ ba ngắn hơn một ít, có khứa răng cưa bêncạnh, cạnh trái khứa từ đầu đến giữa, cạnh phải từ đầu đến cuối Sênh tiền được dùngtrong dàn nhạc cung đình, chầu văn, ca Huế, bát âm, hát sắc bùa và hát ả đào Người
ta dùng nó để hòa tấu, giữ nhịp hoặc làm đạo cụ múa
b Nhạc cụ của đồng bào dân tộc
thiểu số:
Nhạc cụ của người dân tộc
thiểu số ở Quảng Ngãi chủ yếu được
chế tác bằng chính bàn tay của các
nghệ nhân dân gian, chủ yếu là dựa
vào kinh nghiệm, bằng tai nghe, tay
làm, mắt thấy, và sự trao truyền từ
đời này sang đời khác Ngoại trừ các bộ chiêng, còn lại hầu hết các loại nhạc cụ đềulàm bằng những vật liệu sẵn có như: Đàn Brook, đàn k’lông buk, đàn rơ đoang, sáo
máp, sáo tà lía, sáo avố, đàn gió, đàn nước…… Người dân tộc thiểu số ở QuảngNgãi sử dụng các nhạc cụ dân gian để chơi trong những lúc rỗi rãi, trên nhà sàn, hoặcngoài nương rẫy, cũng có khi được sử dụng trong các hội mùa, hội ăn trâu, để ru conngủ, để tỏ tình Tiêu biểu có các loại nhạc cụ sau:
*Đàn Brook:
Là một loại đàn phổ biến của nhiều dân tộc ở
vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, với các tên gọi
hơi khác biệt chút ít, như brook, bro, vrook Ở
Quảng Ngãi, lợi đàn này được dân tộc người H’rê
sử dụng nhiều nhất Đàn brook có bầu đàn bằngtrái bầu phơi khô, được khoét ruột; cần đàn là mộtống lồ ô hoặc ống nứa dài khoảng 60 - 70cm, cóđường kính khoảng 3 - 4cm; các phím đàn là
Trang 11những thẻ gỗ cây gạo hoặc bằng cật mây; có 2 dây, gồm một dây chồng (kxi klô) và một dây vợ (kxi kri) Đàn brook dành cho nam giới, dùng để chơi các giai điệu mang
tính tự sự, mô phỏng tiếng chiêng, có khi còn để ru con ngủ
* Sáo Tà lía:
Là loại sáo dọc, có 6 lỗ, tương tự sáo tà lía của người Hrê,
dùng để thổi lúc đêm khuya hoặc ra rừng, ra rẫy, có khi
còn để hòa tấu với các nhạc cụ khác
* Chiêng:
Chiêng là loại nhạc cụ phổ biến của người dân tộc thiểu số Việt Nam nói cung và ở Quảng Ngãinói riêng Đồng bào dân tộc người H’rê, Cor, và Cadong điều có loại nhạc cụ này Người Ca Dong có hai bộ chiêng là chiêng hnăng và chiêng hlênh.Chiêng hnăng là bộ chiêng gồm 7
chiếc, có âm trầm vang, không có núm (chiêng bằng) Chiêng được đánh bằng dùi ở mặt trong, chỉ dùng trong lễ ăn trâu, ít khi dùng trong những trường hợp khác, là loại chiêng do đàn ông lớn tuổi sử dụng
* Đàn kloong pút:
Là loại đàn giống như đàn và pút (pênh pút)
của người Hrê, nhưng có từ 2 - 5 ống nứa
Cách chơi kloong pút của người Ca Dong
cũng giống cách chơi đàn và pút hay đàn a
khung của người Hrê Đây là loại đàn dành
cho nữ giới, chủ yếu chơi trong những lúc rỗi rãi hoặc hội hè
Trang 12* Sáo A máp:
Là loại sáo nhỏ, bằng triêng rừng, cólưỡi gà, tương tự a mó của người Hrê,nhưng dài hơn Trong cộng đồng người
Cor hiện có rất nhiều người biết chơi amáp, đặc biệt là các nghệ nhân ở TràPhong (huyện Tây Trà), như bà Hồ ThịVui, Hồ Thị Bảy Hai nghệ nhân này
có thể song tấu nhiều bài a máp khác nhau, như ru con, đánh thức con dậy, khuyêncon đi làm rẫy, đi bẫy thú
* Đàn rơđoang:
Đàn rơđoang là một loại nhạc cụ họ dây kéo, cónơi gọi là k’ny Đàn chỉ có một dây, được làmbằng gân thú, hoặc dây dứa, dây tơ, dây nilông,dây kẽm Cung kéo là một thanh tre, hoặc nứanhỏ (dùng để kéo) Cần đàn là một ống nứa dàikhoảng 40 - 50cm, có 4 - 5 phím bằng sáp ong.Một sợi chỉ được buột chặt từ phía dưới thân đànnối với một miếng kim loại Khi diễn tấu, ngoài việc dùng cung kéo để kéo vào dâyđàn, người diễn còn ngậm vào miếng kim loại để tạo nên một sự cộng hưởng âmthanh từ khoang miệng Đàn rơđoang cũng chỉ dành cho đàn ông, dùng để chơi cácgiai điệu tự sự vào những lúc nhàn rỗi, hoặc mối mai vợ chồng
* Sáo đất:
Sáo làm bằng đất sét thổi nghe réo rắt, du dương,
trầm bổng Người H’re ở huyện miền núi Sơn Hà
gọi là sáo tà vố Đó là tiếng lòng của dân tộc H’re,
Trang 13bởi thông qua tiếng sáo người thổi mở lòng mình với mọi người, nhất là những đôitrai gái yêu nhau.
3.3.2. Giới thiệu một số làn điệu dân ca Quảng Ngãi:(Có đĩa CD kèm theo)
a. Dân ca của người Việt:
Trong suốt nhiều thế kỷ định cư trên vùng đất Quảng Ngãi, người Việt ở vùngđất này đã dùng nhiều loại hình dân ca để bày tỏ tình cảm, thái độ của mình trướcthiên nhiên, trước sự đổi thay của lịch sử và đời sống xã hội, để tỏ tình, để ru con, đểnói về tình cha mẹ, nghĩa xóm giềng Căn cứ vào hình thức diễn xướng, có thể tạmchia loại hình nghệ thuật diễn xướng của người Việt ở Quảng Ngãi thành các thể loại:
hò, hát, lý
* Đối với thể loại hò có thể chia thành hai loại như sau:
- Hò trên cạn có các thể loại: hò giã gạo, hò
đầm nền, hò đi cấy, hò xay lúa, hò tát nước,
hò đạp xe nước, hò giã vôi, hò đẩy che mía
Tất cả các loại hò này là những sinh hoạt văn
hóa văn nghệ thường gắn liền với môi trường
hoạt động sinh hoạt, sản xuất trên ruộng lúa, ruộng mía, trên rẫy, trong nhà, ngoàisân, bến bãi, sân đình Tiết tấu, giai điệu của từng điệu hò phù hợp với hoạt độngsinh hoạt hoặc lao động sản xuất, như vòng quay của cối xay lúa, vòng quay của xeđạp nước, nhịp chày giã gạo, nhịp chân đầm nền, nhịp tay cấy lúa
- Hò trên sông nước là loại hò thường được sử dụng trong sinh hoạt, lao động sản
xuất trên sông, trên biển Hò trên sông nước có các loại: hò chèo thuyền, chèo đò, hògiựt chì, hò ba lý, hò mái ba, hò mái nhì, hò
mái nhặt Trong các loại hò này, có loại tiết
tấu lúc khoan nhặt (nên còn gọi là hò khoan),
lúc trầm lúc bổng, lúc khỏe khắn, nhanh,
chắc, như hò chèo thuyền, hò chèo đò trên
các dòng sông Trà Bồng, Trà Khúc, sông
Trang 14Vệ ; có loại mạnh mẽ, dồn dập như hò giựt chì, hò kéo lưới, hò hụi ; có loại vuinhộn, sảng khoái, như hò ba lý, hò mái nhì, hò mái ba
* Thể loại lý:
Lý là một thể loại dùng trong sinh hoạt ca hát dân gian được nhiều người ưathích Cấu trúc của giai điệu lý rất chặt chẽ, hoàn chỉnh từ giai điệu, lời ca, nhịp Lýthường được dùng trong các loại hình dân ca nghi lễ, như hát sắc bùa, hát bả trạo, hòđưa linh, hoặc các loại hình sân khấu truyền thống, như các vở tuồng cổ Ở QuảngNgãi, có các điệu lý phổ biến như: lý vẽ rồng, lý tang tít, lý con chuồn chuồn, lý nămcanh, lý thương nhau, lý mừng xuân Trong các vở tuồng cổ, các điệu lý thườngđược các nhân vật thuộc tầng lớp dưới sử dụng để bày tỏ thái độ oán trách đối vớitầng lớp trên (như các bài lý năm canh, lý thương nhau ) Trong hát bả trạo, thường
sử dụng các bài lý tang tít, lý năm canh Trong múa hát sắc bùa thường sử dụng cácbài lý, như lý mừng xuân, lý vẽ rồng, lý năm canh (trong phần múa hát giúp vui)
* Thể loại hát:
Người Việt ở Quảng Ngãi có nhiều loại hát khác nhau Nếu nhìn dưới góc độnội dung thể hiện thì có các loại hát: hát nhân ngãi, hát huê tình Nếu theo chứcnăng thì có hát ru, hát khóc (nay không còn), hát mừng tuổi (dùng trong hát sắcbùa) Nếu theo mục đích diễn xướng thì có hát sắc bùa, hát bả trạo Nếu theophương thức diễn xướng thì có hát ống, hát lô tô, hát bài chòi
- Hát ru: là điệu hát của bà, của mẹ, của chị, và cả của ông, của cha dùng để ru
con, ru cháu Nhịp điệu khoan thai, lúc trầm lúc bổng, bao giờ cũng bắt đầu bằng từ
"ầu ơ "
Ầu ơ
Ngó lên trên trời, trời cao lồng lộng
Ngó ra ngoài biển, biển rộng thinh thinh
Ngó vô trong dạ buồn tình
Đêm nằm nước mắt (ầu ơ) nhỏ như bình trà
nghiêng
Đêm nằm nước mắt (ầu ơ) triền miên
Trang 15Áo em năm vạt (à) ướt liền cả năm (à ơ)
Bà Phù Thị Sẻ - Thôn Tây, An Vĩnh, Lý Sơn hát -Hát bài chòi: Hát bài chòi là một hình thức ca hát dân gian phổ biến ở vùng Nam
Trung Bộ Cách đây vài chục
năm về trước, tại Quảng Ngãi,
hội hát bài chòi có mặt ở hầu
hết các làng xã trong tỉnh, nhất
là ở các làng xã ven biển vào
mỗi dịp Tết Nguyên đán, có khi
bắt đầu từ khoảng 20 tháng
Chạp đến hết Rằm tháng Giêng
Ngày nay, ở một vài nơi cũng
còn tổ chức hội bài chòi, trên 9 chòi và cả hội bài chòi chiếu, nhưng thường chỉ bắt
đầu từ 26 - 27 tháng Chạp đến mùng 4 mùng 5 Tết
Giai điệu của bài chòi thường theo lối hát thông thường, như nói thơ, nói vè, và cũng
có lúc vận dụng cả các điệu xuân nữ, xàng xê, hò Quảng Nói chung, bài chòi là mộthình thức diễn xướng dân gian mang tính tổng hợp, như hát, hô, nói, khua trống, mõ, nhạc đệm, diễn trò Nhờ những yếu tố tích cực của hình thức diễn xướng này mà bài chòi bước lên sân khấu chuyên nghiệp lẫn không chuyên nghiệp, từ độc tấu, song tấu đến ca kịch, từ những bài ca đơn lẻ đến vở diễn dài hơi Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những bài thơ nôm na được sáng tác cho lối hát bài chòi, đã thực
sự lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân, và góp phần tuyên truyền đường lối chủ trương của Đảng, của Cách mạng Chính bài chòi đã làm nên những tên tuổi các nghệ
sĩ là người Quảng Ngãi: Lệ Thi, Hữu Ích, Bích Liên, Nguyễn Văn Khánh
- Hát bả trạo:
Hát bả trạo còn gọi là chèo
bả trạo, có nơi gọi là chèo bá
trạo, là một hình thức diễn xướng
dân ca nghi lễ, diễn ra vào mỗi
Trang 16dịp tế Cá Ông, hoặc khi Cá Ông lụy, là một bộ phận của nghi lễ thờ cúng Cá Ông củacác vạn chài ven biển Quảng Ngãi.Đội chèo bả trạo thường có 15 - 17 người, trong
đó có một Tổng lái, một Tổng thương, một Tổng mũi, và còn lại là các con trạo Mộtchương trình hát bả trạo diễn ra trong thời lượng 90 đến 120 phút ngay tại sân lăngthờ Cá Ông hoặc ngoài bãi biển Nội dung chính một bài bả trạo theo trình tự: phầnđầu kể về chuyện ngư dân đi làm biển, rồi bị sóng to gió lớn; khi thuyền sắp đắm,đức Ngư Ông xuất hiện và ra tay cứu giúp, đưa thuyền về nơi an toàn; phần tiếp theo
là hát múa kể về công đức Cá Ông, suy tôn Ông; phần cuối là hát các bài vè, bài lýgiúp vui
Người giữ vai trò lĩnh xướng một cuộc hát bả trạo là Tổng mũi, có sự giúp sứccủa Tổng thương và Tổng lái Các con chèo xô theo từng đoạn và múa các động tácnhư đang chèo thuyền (nên còn gọi là chèo cạn) Giai điệu các bài bả trạo thườngđược sử dụng là nói lối, hò chèo thuyền, hò kéo lưới, hò kéo neo, hò giựt chì, hò máingơi, nam xuân, nam ai , và các bài lý, như lý tang tít, lý vãi chài Nhờ sự tích hợpnhiều giai điệu, làn điệu, có nói lối, có hát, có múa, có diễn, có sênh, trống và dànnhạc phụ đệm phụ họa, và có thể xem, hát bả trạo là một loại hình diễn xướng mangtính tổng hợp (như hát sắc bùa, hát bài chòi)
Hiện nay, nhiều làng, vạn ven biển Quảng Ngãi, hàng năm vào dịp tế Cá Ôngcòn tổ chức hát bả trạo, như vạn Đông Yên (Bình Dương, huyện Bình Sơn), vạn CùLao - Mỹ Tân (Bình Chánh, huyện Bình Sơn), vạn Tuyết Diêm (Bình Thuận, huyện
Bình Sơn) Cách đây vài năm, vạn Thạch Bi (Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ) cũng tổchức lại đội bả trạo để diễn trong lễ tế tại lăng Ông, và nghĩa tự của vạn vào lệ tếxuân và lệ tế thu
* Hát sắc bùa:
Hát sắc bùa là một hình thức diễn
xướng dân gian mang tính chất nghi lễ
-phong tục, chủ yếu diễn ra vào dịp Tết
Nguyên đán Trước năm 1945, nhiều làng xã
ven biển thuộc các huyện Tư Nghĩa, Mộ Đức,
Đức Phổ có hát sắc bùa Đến nay, vì nhiều lý
do khác nhau, tục hát sắc bùa chỉ còn ở xã
Trang 17Đức Phong (huyện Mộ Đức), các xã Phổ An, Phổ Cường, Phổ Khánh, Phổ Thạnh(huyện Đức Phổ), mà trong đó tiêu biểu nhất là ở Phổ An.
Thời gian đội bùa lưu diễn thường bắt đầu từ đêm trừ tịch đến hết tháng Giêng,không chỉ trong một làng, xã mà còn đi diễn ở nhiều nơi, đặc biệt là ở những làng, xãdọc ven biển Quảng Ngãi, có khi đi tận Bình Định hoặc Quảng Nam Chính tính chấtlưu diễn này mà hát sắc bùa được xem là một hình thức diễn xướng mang tính bánchuyên nghiệp.Biên chế một đội sắc bùa (còn gọi là phường bùa, đội bùa) thường có
11 người, trong đó có một ông cái kiêm chơi trống tầm vinh (còn gọi là tùng dinh, làmột dạng trống cơm), một ông phụ cái, một ông chơi đàn cò, một ông chơi kèn tiểu,một ông chơi phách, và 6 nữ làm quân xô Quân xô thường chỉ từ 12 - 16 tuổi
Nội dung chính của hát sắc bùa là chúc mừng năm mới cho gia chủ (trong giađình mời đội bùa đến biểu diễn), làm các thủ tục xua quỷ, trừ tà, tống cựu, nghinhtân, hát múa mừng năm mới Về nghệ thuật, hát sắc bùa là một hình thức diễn xướngmang tính tổng hợp: hát, múa, diễn trò, nhạc đệm , hết sức phong phú về làn điệu,lời ca, trong đó có nhiều giai điệu phổ biến của dân ca miền Nam Trung Bộ, dân caQuảng Ngãi
Hiện nay, ở Quảng Ngãi có một số đội hát sắc bùa, nhưng tiêu biểu nhất là đội sắcbùa Phổ An (huyện Đức Phổ) Có nghệ nhân thuộc hơn 50 làn điệu hát sắc bùa khácnhau, đó là nghệ nhân dân gian Lê Công Lịch
b. Dân ca của đồng bào dân tộc thiểu số :
*Dân ca H’rê:
Dân ca Hrê có giai điệu trong sáng, tình
cảm và thang âm phong phú, nên nhiều nhạc
sĩ đã mượn làn điệu từ dân ca Hrê để phát
triển thành những ca khúc Dân ca Hrê có
giai điệu trong sáng, tình cảm và thang âm
phong phú, nên nhiều nhạc sĩ đã mượn làn
điệu từ dân ca Hrê để phát triển thành những
ca khúc nổi tiếng, như: Phan Huỳnh Điểu với Bóng cây kơnia (thơ Ngọc Anh), Nhật
Trang 18Lai với Thương anh cán bộ, Cánh chim pôngkle, Hái rau tặng anh bộ đội, Phan Quývới Chiều sông Rhe (thơ Nguyễn Ngọc Trạch) Các loại hình dân ca chính củangười Hrê ở Quảng Ngãi bao gồm: ta lêu (ca lêu), ca choi (ca chơi), ta jeo, vađhôcon trong đó nỗi tiếng nhất là khúc ta lêu.
Ta lêu (ở huyện Sơn Hà, và những vùng dưới của huyện Sơn Tây gọi là ca lêu),
là điệu hát kể, có tính chất tự sự Người Hrê thường dùng ta lêu để hát kể cho concháu nghe bên bếp lửa nhà sàn, trên rẫy vào mùa chờ thu hoạch Có hai dòng ta lêu
là ta lêu cổ và ta lêu mới
Ta lêu cổ, là loại ta lêu có hệ thống bài bản vốn được truyền từ đời này sangđời khác Loại ta lêu này có các đề tài như: kể về các loài vật, cây cối; kể về các anhhùng huyền thoại của cộng đồng tộc người, về các vị thần linh, về những con ngườitài trí, dũng cảm Đây là loại ta lêu có cốt truyện nên khi hát kể ta lêu, người Hrê
gọi là cà eng, vì có những bài ta lêu được các nghệ nhân Hrê hát suốt cả đêm Trongcác truyện cổ dân gian của người Hrê thường có những đoạn xen bằng văn vần, đóchính là những khúc ta lêu cổ
Ta lêu mới, là loại ta lêu mới được sáng tác trong giai đoạn chống Pháp, chống
Mỹ và cả sau ngày hòa bình, thống nhất đất nước Nội dung chính của loại ta lêunày là ca ngợi Đảng, Bác Hồ, bộ đội; tình đoàn kết Kinh - Thượng, mối tình gắn bógiữa quân và dân; ca ngợi cuộc sống mới, về tinh thần hăng say lao động, sản xuất
và đặc biệt là về tình yêu đôi lứa
* Dân ca của người Cor:
Dân tộc Cor ở Quảng Ngãi còn bảo lưu
nhiều loại hình dân ca, khá đa dạng và phong
phú, có những sắc thái riêng như: điệu xà ru,
cà lu, A giới, a lát, cà lùa…Phổ biến nhất làn
điệu sau xà ru:
Xà ru là điệu hát có giai điệu trong
sáng, mượt mà, theo lối tự sự, có kể, có tâm tình, có nói bóng gió, lời hát thường từ
sự ứng khẩu của mỗi người Trai gái hay dùng xà ru để hát tỏ tình, trong rừng quế