Là giáo viên dạy bộ môn Tiếng Anh, chúng tôi luôn mong muốn học sinh của mình có thể hiểu bài một cách nhanh nhất, chủ động nhất, đặc biệt các em có thể vận dụng những kiến thức đã
Trang 1MỤC LỤC
Trang
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
2.3 Các giải pháp thực hiện 6
2.3.1.1 Xác định rõ mục tiêu tiết dạy và kiểu bài lên lớp 6 2.3.1.2.Thiết kế các hoạt động bổ trợ 6
i
Trang 2Phần 3 KẾT THÚC VẤN ĐỀ 14
ii
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GD - ĐT Giáo dục - Đào tạo
iii
Trang 4PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay, tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ phổ biến trên toàn thế giới và hơn bốn mươi quốc gia sử dụng nó như một ngôn ngữ chính và gần 400 triệu người dùng nó như một ngôn ngữ thứ hai trong giao tiếp Ở Việt Nam, tiếng Anh được xem là một ngoại ngữ chính trong các trường phổ thông hiện nay
Là giáo viên dạy bộ môn Tiếng Anh, chúng tôi luôn mong muốn học sinh của mình có thể hiểu bài một cách nhanh nhất, chủ động nhất, đặc biệt các em
có thể vận dụng những kiến thức đã học vào giao tiếp thực tế Muốn vậy, chúng ta cần phải đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho mỗi tiết lên lớp học sinh đều hứng thú học tập, tích cực rèn luyện và nhớ được bài ngay tại lớp Trong một tiết dạy, nhiệm vụ của giáo viên là truyền đạt đến học sinh một lượng kiến thức được thể hiện qua các phần mục trong sách giáo khoa và với bộ sách giáo khoa hiện nay đã được biên soạn theo hướng hiện đại, bắt kịp nhịp độ phát triển giáo dục chung của khu vực và thế giới Nội dung những chủ điểm cụ thể được trình bày theo các kĩ năng nhằm phục vụ mục đích của từng bài Để đạt được mục đích tiết dạy, nếu giáo viên chỉ đơn thuần giải quyết các yêu cầu của từng phần mục,làm theo hướng dẫn trong sách giáo viên hoặc chuẩn kiến thức kĩ năng, ít thiết kế hoạt động thì hiệu quả sẽ không cao do khả năng tiếp thu của học sinh không đồng đều Học sinh yếu sẽ không tiếp thu được kiến thức cơ bản, học sinh giỏi sẽ không có cơ hội đào sâu mở rộng kiến thức.Vì vậy việc thiết kế các hoạt động bổ trợ trung gian giúp học sinh có được nấc thang phù hợp với khả năng tiếp thu của mình, giáo viên sẽ giải quyết được khối lượng công việc một cách có hiệu quả nhất Qua quá trình giảng dạy tôi nhận thấy giáo viên thường soạn giáo án theo nội dung cơ bản của bài học, ít thiết kế các hoạt đông trung gian do ngại mất thời gian
Trang 5hoặc có lúc chưa đầu tư thời gian nghiên cứu mà vô tình giáo viên lại tạo ra hoạt đông không phù hợp, làm khó cho học sinh Từ đó tôi tìm ra cách giải quyết vấn đề là chú trọng vào công tác soạn giảng, thiết kế giáo án, tạo thêm những hoạt đông bổ trợ hợp lí với từng tiết dạy, với khả năng tiếp thu của học sinh, từng đối tượng học sinh và thời gian tiết học, với khối lượng công việc
cũng như nội dung và kiểu bài lên lớp Đó là lí do để tôi chọn đề tài “Thiết kế các hoạt động trung gian bổ trợ trong tiết học Tiếng Anh Trung học cơ sở”
1.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Để áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy có hiệu quả, với phạm vi đề tài này tôi đưa ra phạm vi nghiên cứu là thiết kế các hoạt động trung gian bổ trợ trong tất cả các tiết học tổng hợp cả bốn kĩ năng hoặc các tiết học theo từng kĩ năng: nghe, nói, đọc và viết
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Học sinh khối 6,7,8,9 trường THCS Phổ Vinh
Trang 6PHẦN 2
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Xuất phát từ vai trò vị trí của môn học Tiếng Anh trong trường THCS, nhằm nâng cao chất lượng dạy - học bộ môn và đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tạo được sự hứng thú trong học tập cho HS để các giờ học Tiếng Anh ngày càng đạt chất lượng cao nhất, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường, thực hiện xuất sắc nhiệm vụ năm học 2013-2014
Trên cơ sở thực hiện tốt các qui định của Đảng, Nhà nước và của ngành giáo dục Thực hiện tốt định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996), được thể chế trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị
số 14 (4-1999)
Luật Giáo dục, điều 28.2, đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động , sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh” Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực
cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa…”
Trang 7Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
cũng đã nêu : “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học ,đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập của học sinh.” [2,tr.19]
2.2 THỰC TRẠNG
Những thuận lợi và khó khăn chung của địa phương, trường và lớp tác động gián tiếp và trực tiếp đến chất lượng dạy học bộ môn Tiếng Anh
2.2.1 Những thuận lợi
Từ phía địa phương: Các ban ngành của xã rất quan tâm đến vấn đề giáo
dục ở địa phương Cùng với nhà trường chăm lo cơ sở vật chất cho nhà trường, tạo điều kiện để HS nghèo đến trường và góp quỹ phần thưởng khuyến khích HS học tập
Từ phía nhà trường: Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng nhà trường vẫn cố
gắng liên hệ chặt chẽ với địa phương và Hội PHHS tạo điều kiện để HS đến trường và có đủ phòng để học tập, động viên giáo viên lên lớp và hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục Huy động các tấm lòng vàng của nhân dân trong xã và
sự quan tâm của lãnh đạo Ngành GD - ĐT về một số thiết bị phục vụ giảng dạy như: 25 đầu máy vi tính và 01 đèn chiếu thông thường và một đèn chiếu kèm bộ thiết bị dạy học tương tác
Từ phía giáo viên: Giáo viên có trình độ đạt chuẩn chiếm tỉ lệ: 100%.
Trong đó, GV có trình độ trên chuẩn: 09/36 GV chiếm tỉ lệ 25%.Trong đó, có
02 GV tốt nghiệp đại học: 01chuyên ngành tin học và 01 chuyên ngành toán tin và 15 GV có máy tính xách tay và sử dụng soạn giảng bài giảng điện tử tương đối thành thạo (27,7%) Đặc biệt có một phó hiệu trưởng tốt nghiệp cao học chuyên ngành Tiếng Anh Đội ngũ GV trẻ, nhiệt tình, yêu nghề và luôn có ý thức học hỏi, nâng cao trình độ nghiệp vụ và chuyên môn
Trang 8Từ phía PHHS: Phần lớn PHHS đã hiểu rõ vai trò quan trọng trong công
tác giáo dục đối với tương lai sau này của con em Một số ít phụ huynh đã sắp xếp các công việc nhà và dành thời gian cho con học tập, tự tạo điều kiện để mua thêm sách tham khảo cho con và thường xuyên liên lạc với nhà trường về tình hình học tập và đạo đức của con mình Một số gia đình đã có máy vi tính
và nối mạng internet
Từ phía học sinh: Hầu hết các em đã có ý thức học tập, chuyên cần và biết
vâng lời Mặc dầu tỉ lệ HS khá và giỏi chưa cao nhưng có rải rác ở hầu hết các lớp Học sinh có tinh thần học hỏi, sáng tạo, yêu thích bộ môn Tiếng Anh
2.2.2 Những khó khăn
Địa phương xã Phổ Vinh là một xã vùng ven biển nên kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào nghề biển và nghề nông Mặc dù có sự quan tâm nhưng điều kiện kinh tế còn hạn chế vì thu nhập của người dân còn phụ thuộc vào sự thay đổi của thiên nhiên do tính đặc thù của nền kinh tế (tỉ lệ hộ nghèo vẫn chiếm tỉ lệ khá cao) Kinh tế mỗi hộ gia đình còn khó khăn nên nhiều gia đình không có điều kiện để trang bị thêm dụng cụ học tập và sách tham khảo cho con em mình cũng như tạo điều kiện cùng nhà trường tổ chức những loại hình hoạt động học tập để nâng cao chất lượng học tập của HS Một số ít PHHS chưa thật sự hiểu về công tác giáo dục, chưa xem trọng việc học của con em Phần nhiều HS sớm xem nhẹ việc học, chán học, muốn nghỉ học sớm vì không tìm thấy mục tiêu học tập lâu dài Các em học chỉ để biết đọc, biết viết tiếng mẹ
đẻ, và biết làm toán Các em chưa có ý thức về nhu cầu cần thiết của việc học Tiếng Anh và sử dụng Tiếng Anh trong cuộc sống hằng ngày Các em chưa
có động lực và hứng thú học Tiếng Anh
Chính vì vậy, tỉ lệ bình quân HS giỏi bộ môn Tiếng Anh là rất thấp và rất nhiều năm chúng tôi không có nguồn HS giỏi Tiếng Anh cho đội tuyển cấp Huyện và Tỉnh Thêm vào đó, tỉ lệ HS yếu kém tương đối cao
Xuất phát từ thực tế việc học và sử dụng Tiếng Anh của học sinh ở trường THCS Phổ Vinh còn nhiều hạn chế nên chúng tôi mong muốn giúp các em
Trang 9xác định mục tiêu học tập của bộ môn và từ đó các em có thái độ, biện pháp học tập và rèn luyện Tiếng Anh một cách hiệu quả; có động lực, hứng thú học Tiếng Anh và biết sử dụng tiếng Anh để giao tiếp Chúng tôi mong muốn chia
sẻ với các đồng nghiệp các giải pháp, các bước thực hiện nhằm đẩy nhanh và nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học môn tiếng Anh ở cấp THCS; đặc biệt
là khả năng thực hành 4 kĩ năng của HS, giúp học sinh phát huy tốt khả năng,
kĩ năng giao tiếp và sử dụng Tiếng Anh để phục vụ cuộc sống đáp ứng nhu cầu thực tế của thời đại
2.3 CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
2.3.1 Giải pháp chung
2.3.1.1 Xác định rõ mục tiêu tiết dạy và kiểu bài lên lớp
Để có được một giáo án tốt, điều cơ bản là giáo viên cần nắm rõ được mục tiêu của tiết dạy Mục đích yêu cầu và điều kiện cơ sở vật chất, đồ dùng học tập có thể làm được cho tiết dạy đó Từ đó ấn định được lượng công việc cần truyền tải, sử dụng phương pháp hợp lí Điều quan trọng ở đây là hiểu rõ tình hình, khả năng tiếp thu của từng đối tượng học sinh để tạo ra các hoạt động phù hợp, tạo ra những nấc thang trung gian giúp học sinh tiếp thu được kiến thức một cách tự nhiên, đi từ đơn giản đến phức tạp, từ những cái nằm trong khả năng đến những cái còn bỡ ngỡ và tiếp đến những cái còn mới mẻ
2.3.1.2.Thiết kế các hoạt động bổ trợ
Từ việc xem xét từng nội dung bài học, khả năng tiếp thu của từng đối tượng học sinh để đưa ra các thiết kế và thủ thuật hợp lí Thông thường các tiết dạy tiếng Anh THCS đều chủ yếu rèn các kĩ năng cho học sinh, các kĩ năng đều có điểm chung là thực hiện giáo án qua ba bước, nhưng mỗi kĩ năng đều có yêu cầu riêng
2.3.2 Giải pháp cụ thể
2.3.2.1 Đối với kĩ năng nghe
Đây là kĩ năng được sử dụng đầu tiên và là kĩ năng khó nhất trong hoạt động giao tiếp.Vì vậy giáo viên cần thiết kế hoạt động trung gian giúp các em
Trang 10làm quen với chủ đề bài nghe, chủ động trong công việc nghe hiểu, xác định
rõ yêu cầu của bài, khoanh vùng được kiến thức, đưa ra các dự kiến trả lời sát với đáp án của bài Mục đích của hoạt đông trung gian trong tiết nghe là giúp học sinh ôn lại kiến thức cũ, hướng các em vào chủ đề một cách nhẹ nhàng, hứng thú
Ví dụ: Ở phần 6/Unit 1-lớp 7 nếu thực hiện bài nghe theo cách thông thường thì rất khó cho đối tượng học sinh trung bình và yếu Để tạo một bậc thang trung gian hướng học sinh vào chủ đề, gần gũi với nội dung sắp nghe, giáo viên cho học sinh thực hành nhẹ nhàng những bức tranh của bài như:
- Cho học sinh hỏi đáp về nơi chốn: “ Where is the theater/ the market/ post office? or Tell the way to the theater from the school/ How far is it from… to…? Can you guess?”
Như vậy học sinh đã làm quen với một số địa điểm, nơi chốn, đoán trước khoảng cách mà các em sắp nghe, nếu làm được phần này thì công việc ở phần nội dung chính sẽ nhẹ nhàng hơn Nhiệm vụ lúc này chỉ còn là nghe và nhận ra các khoảng cách từ đâu đến đâu và bao xa mà thôi
Một ví dụ khác ở phần A3- Unit 4- Lớp 7 đây là phần nghe lồng ghép trong tiết dạy nên rất khó cho giáo viên có thể thiết kế 3 phần Pre, While and Post Để học sinh dễ dàng tiếp cận bài, ta có thể thiết kế hoạt động trung gian đơn giản mà hiệu quả như sau:
Matching
1.Next to 2.Behind 3.In front of 4.In the middle of 5.At the corner
6 to the right of
a phía trước b.phía sau c.bên cạnh d.trong góc e.ở giữa
f bên phải
Như vậy để HS dễ dàng hơn trong việc nhận diện vị trí ,ta cho HS ôn lại các giới từ chỉ vị trí bằng bài tập đơn giản trên
2.3.2.2 Đối với kĩ năng nói
Trang 11Hoạt động nói là để rèn kĩ năng cơ bản song song với hoạt động nghe Thường thì học sinh ngại nói và sợ sai vì chưa tự tin Để thực hiện tốt phần này với cấu trúc bài soạn có 3 bước như thông thường, giáo viên nên thực hiện một số hoạt động tạo sự tự tin, và có sự lôi cuốn dẫn dắt đôi lúc là thiết kế theo dạng “game”
Ví dụ: Ở bài 8-Grammar Practice- Lớp 6 để học sinh ôn tập thì Present Progressive một cách hiệu quả ta có thể thiết kế thêm hoạt động
Mapped Dialogue: Yes/ No questions with Present Progressive:
X
?
? What …
Mapped dialogue
Example exchanges:
S1: Are you watching TV?
S2: No, I’m not.
S1: Are you listening to the radio?
S2: No, I’m not.
S1: …
Trang 12Với sơ đồ trên học sinh sẽ dễ dàng đặt câu hỏi và trả lời phù hợp
Ví dụ: ở bài 10, phần C4 – Lớp 6 trước khi cho học sinh nói, giáo viên nên đưa ra hoạt động trò chơi thi đua giữa hai đội với các nhóm từ theo bảng, dùng phấn khác màu ghi vào hai cột.
Chicken
Fish
Noodles
……….
Orange juice Lemon
Tea
………
Tiếp theo ta cho hai nhóm vận dụng theo bài dialogue Lúc này công việc rất đơn giản với học sinh vì các em mới được củng cố lại từ vựng, huy động được vốn từ phù hợp với yêu cầu của hoạt động
2.3.2.3 Đối với kỹ năng đọc hiểu
Với kỹ năng đọc hiểu thì việc giáo viên thiết kế hoạt động cho phần “Pre”
là rất quan trọng Nó vừa ôn lại được kiến thức cũ, vừa có mục đích dẫn dắt vào chủ đề và nội dung mới của bài
Ví dụ: Bài 5 – Lớp 9, chủ đề “Media” ta cho học sinh chơi trò network
read books watch TV
Activities in free time
play sports surf web
Ví dụ: Bài 7-A2- A letter from America, để học sinh dễ dàng đọc và tìm được các kì nghỉ của học sinh ở Mĩ, trước khi đi vào bài, giáo viên nên cho học sinh thảo luận theo nhóm để tìm các ngày nghỉ của học sinh ở Việt Nam
*Vacations of Vietnamese students:
- Independence Day
- Tet holiday
- Summer vacation.
- May Day
Trang 13- New Year
………
Ví dụ: Với Bài 4-A6- Lớp 7, để học sinh dễ dàng nhận ra sự khác nhau giữa trường học ở Mĩ và trường học ở Việt Nam, giáo viên có thể thiết kế thêm hoạt động ở phần Pre-reading: Open prediction “What do you know about schools in the USA ?” Look at the pictures and answer
Ở phần Post-reading để làm nổi bật sự khác nhau giáo viên nên thiết kế một bảng so sánh giữa hai hệ thống trường học: Differences between schools in the USA and schools in Vietnam.
- In Vietnam there is school uniform but in the USA there is no school
uniform
- In Vietnam, classes start at 7 o’clock but in the USA they start at 8.30
- In Vietnam, classes end at 11.00 in the morning but in the USA they end at 3.30 or 4.00 in the afternoon
- In Vietnam students have to go to school on Saturday but in the USA they don’t go to school
- In Vietnam students have lunch at home but in the USA they have lunch at school
Đến lúc này thì nhìn vào bảng so sánh học sinh sẽ dễ dàng tóm tắt được nội dung chính của bài