1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Proceedings VCM 2012 17 thiết bị kho điện cho hệ thống phát điện sức gió lưới hải đảo

8 394 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 691,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt Năng lượng gió là một trong những nguồn năng lượng tái tạo được nghiên cứu triển khai góp phần làm giảm sự tiêu thụ năng lượng hóa thạch, kìm hãm sự nóng lên toàn cầu. Lưới điện hải đảo có đặc điểm “lưới mềm” khi có sự kết hợp giữa nguồn năng lượng truyền thống từ nhiên liệu hóa thạch với năng lượng gió có đặc điểm cố hữu là sự không ổn định dẫn tới chất lượng điện năng thấp, do đó sự cần thiết phải có một thiết bị kho điện để đảm bảo chất lượng điện năng. Một giải pháp khả thi là sử dụng thiết bị kho điện tích hợp vào hệ thống phát điện sức gió lưới điện hải đảo sử dụng công nghệ tiên tiến với đặc điểm động học nhanh siêu tụ để có thể thực hiện các chức năng như: Trao đổi công suất với lưới, điều chỉnh điện áp tại điểm kết nối, nâng cao chất lượng và tính ổn định của hệ thống. Abstract: Wind power generation is one of renewable energy which save natural resources and lower the global warming speed. A negative aspect of the wind power generation is that the output voltage changes as the wind power changes. A potential solution for standalone power generation to smooth the output of the wind power generation is to use a hybrid energy system in parallel with energy storage. The potential integrated approach used a shuntconnected voltagesource converter with added supercapacitors as storage included on the DC link bus to enable fastdynamic energy storage for high power dynamic requirement. The system can: Exchange active power with the system; Regulate voltage at the point of common coupling; Increase power quality and system stability.

Trang 1

Thiết bị kho điện cho hệ thống phát điện sức gió lưới hải đảo:

Cấu trúc hệ thống, nguyên tắc làm việc và những vấn đề kỹ

thuật cần giải quyết Energy storage systems for stand-alone wind power generation: System topology, principles and technical conception

necessities

Phạm Tuấn Anh

Trường ĐH Hàng hải Việt Nam

e-Mail: phamtuananh@vimaru.edu.vn

Nguyễn Phùng Quang

Trường ĐH Bách khoa Hà nội e-Mail: quangnp-ac@mail.hut.edu.vn

Tóm tắt

Năng lượng gió là một trong những nguồn năng lượng tái tạo được nghiên cứu - triển khai góp phần làm giảm sự tiêu thụ năng lượng hóa thạch, kìm hãm sự nóng lên toàn cầu Lưới điện hải đảo có đặc điểm

“lưới mềm” khi có sự kết hợp giữa nguồn năng lượng truyền thống từ nhiên liệu hóa thạch với năng lượng gió có đặc điểm cố hữu là sự không ổn định dẫn tới chất lượng điện năng thấp, do đó sự cần thiết phải có một thiết bị kho điện để đảm bảo chất lượng điện năng Một giải pháp khả thi là sử dụng thiết bị kho điện tích hợp vào hệ thống phát điện sức gió lưới điện hải đảo sử dụng công nghệ tiên tiến với đặc điểm động học nhanh - siêu tụ để có thể thực hiện các chức năng như: Trao đổi công suất với lưới, điều chỉnh điện áp tại điểm kết nối, nâng cao chất lượng và tính ổn định của hệ thống

Abstract:

Wind power generation is one of renewable energy which save natural resources and lower the global warming speed A negative aspect of the wind power generation is that the output voltage changes as the wind power changes A potential solution for stand-alone power generation to smooth the output of the wind power generation is to use a hybrid energy system in parallel with energy storage The potential integrated approach used a shunt-connected voltage-source converter with added supercapacitors as storage included on the DC link bus to enable fast-dynamic energy storage for high power dynamic requirement The system can: Exchange active power with the system; Regulate voltage

at the point of common coupling; Increase power quality and system stability

Chữ viết tắt

D-G Diesel – Generator

ESS Energy Storage System

WTG Wind Turbine Generator

WDHS Wind Diesel Hybrid System

SC Supercapacitor

Đối với khu vực hải đảo, hệ thống điện năng chủ

yếu được cung cấp từ những tổ hợp Diesel –

Generator (D–G) Trong những năm gần đây, sự

phát triển nhanh chóng của những nguồn năng

lượng tái tạo như: gió, mặt trời,… đã dẫn tới xu

hướng tích hợp thêm các hệ thống phát điện sử

dụng sức gió, pin mặt trời,… vào trong hệ thống

năng lượng khu vực hải đảo Ưu điểm chính của

năng lượng tái tạo là ít gây ô nhiễm môi trường, giảm sự tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch Hạn chế của năng lượng tái tạo là khu vực lắp đặt đặc thù, giá thành xây lắp cao và sự bất ổn định về mặt công suất dẫn tới phải có giải pháp cân bằng điện năng, đảm bảo chất lượng và độ tin cậy của hệ thống

điện

Trang 2

Một hệ thống điện năng có sự kết hợp của một vài

nguồn năng lượng như minh họa trên hình H.1

được gọi là hệ thống năng lượng lai (Hybrid

Power Systems) [1, 2] Đó là sự vận hành kết hợp

giữa những thiết bị: Thiết bị phát điện sức gió, pin

mặt trời, thiết bị tích trữ năng lượng, thiết bị biến

đổi và điều khiển dòng năng lượng Với đặc trưng

giàu tài nguyên gió, hơn thế nữa là sự phát triển

tương đối hoàn thiện của công nghệ phát điện sức

gió, năng lượng gió được xem là sự bổ sung lý

tưởng cho hệ thống phát điện khu vực hải đảo

nhằm giảm sự tiêu hao nhiên liệu, nâng cao tuổi

thọ hệ thống D – G

(MidWest of the US) [3]

Tuy nhiên, năng lượng gió với đặc điểm cố hữu là

tính thất thường, biến động nhanh (hình H.2) đòi

hỏi phải có biện pháp kỹ thuật phù hợp để đảm

bảo chất lượng điện năng Thiết bị kho điện ESS

chính là một giải pháp giúp ổn định công suất,

đảm bảo chất lượng và độ tin cậy, tăng dung lượng

điện năng phối ghép với lưới đặc biệt là lưới điện

hải đảo (vận hành ở chế độ độc lập, mang tính chất

lưới mềm)[4] Thiết bị kho điện sử dụng siêu tụ

hứa hẹn khả năng đáp ứng phù hợp với hệ thống

phát điện sức gió do khả năng phóng nạp nhanh,

mật độ công suất lớn, tuổi thọ cao

Các hệ thống Hybrid thường được thiết kế cho

lưới điện khu vực hải đảo công suất hàng MW cho

tới lưới điện nhỏ của một hộ tiêu thụ công suất vài

kW Hệ thống trên 100 kW thông thường sử dụng

lưới AC, bao gồm: D–G, thiết bị phát điện sử năng

lượng tái tạo, thiết bị kho điện Hệ thống dưới 100

kW thường kết hợp giữa lưới AC và DC Những

hệ thống dưới 5kW sử dụng lưới DC thường chỉ

bao gồm những phụ tải DC công suất nhỏ (ví dụ:

Các trạm repeater viễn thông) Một cách tổng quát,

các thành phần có thể có của hệ thống Hybrid có

thể được minh họa trên hình H.3 [2]

lưới ốc đảo sử dụng năng lượng tái tạo

Hệ thống lai giữa thiết bị phát điện sức gió (Wind Turbine Generator – WTG) với thiết bị phát điện

sử dụng diesel (D-G) được gọi là Wind Diesel Hybrid System (WDHS) Sự kết hợp giữa máy phát sức gió với máy phát diesel nhằm mục đích phát huy tối đa năng lượng từ gió đồng thời vẫn duy trì được sự phát điện liên tục với chất lượng đảm bảo Nếu một hệ thống WDHS có khả năng dừng hẳn tổ hợp D-G thì được gọi là hệ thống có

tỷ lệ năng lượng gió cao Hệ thống này có 3 chế độ vận hành: Chỉ Diesel (Diesel Only – DO), Diesel kết hợp với gió (Wind Diesel – WD) và chỉ gió (Wind Only – WO) Ở chế độ DO, các tổ hợp D-G cung cấp công suất tác dụng và phản kháng theo yêu cầu phụ tải Việc phân chia tải, điều chỉnh điện áp, tần số được thực hiện bởi việc điều chỉnh tốc độ các diesel và điều chỉnh dòng kích từ các máy phát ESS cũng có thể tham gia và quá trình điều phối dòng năng lượng để đảm bảo hiệu suất của các D-Gs lớn nhất Ở chế độ WD, các WTGs chia sẻ công suất với các D-Gs thực hiện chức năng điều chỉnh điện áp và tần số lưới Lúc này, thiết bị ESS được sử dụng để hỗ trợ quá trình điều tiết dòng năng lượng giữa các WTGs và D-Gs để tránh hiện tượng công suất ngược đối với các

D-Gs Ở chế độ WO, không có D-G nào hoạt động, chỉ có các WTGs cung cấp công suất cho lưới để thực hiện chức năng điều chỉnh điện áp và tần số Lúc này cần phải có ESS hỗ trợ việc điều khiển dòng công suất để đảm bảo chất lượng điện năng của các WTGs Như vậy, vai trò của ESS là tương đối quan trọng trong việc hỗ trợ các thiết bị phát điện WTGs, D-Gs để đảm bảo chất lượng điện năng, nâng cao hiệu suất làm việc

Năng lượng có thể được tích lũy năng lượngdưới

ba hình thức: Điện cơ (Electromechanical, ví dụ như: bánh đà, khí nén,…), điện hóa (Electrochemical, ví dụ như: acqui, tế bào nhiên liệu Fuel Cell), điện (Electrical, ví dụ như: tụ điện,

Trang 3

cuộn dây) ESS có thể bao gồm một hoặc một vài

thiết bị tích lũy năng lượng kết hợp với thiết bị

biến đổi năng lượng sang dạng điện năng và điều

tiết dòng công suất Như vậy đòi hỏi ESS cần thiết

phải được lựa chọn công nghệ tích trữ năng lượng,

hệ thống thiết bị biến đổi năng lượng phù hợp

cùng với các phương pháp điều khiển có hiệu quả

đối với lưới điện Nội dung này sẽ được phân tích

kỹ ở mục 3

gió[5, 6]

Thiết bị phát điện sức gió phổ biến hiện này đều

sử dụng một trong số các nguyên lý máy phát

được minh họa trên hình H.4 Động học của hệ

thống điều khiển một turbine gió bao gồm cả quá

trình nhanh và chậm Công suất được điều khiển

dựa trên hệ thống khí động học và giá trị đặt sao

cho tối đa công suất đầu ra Hai hệ thống điện và

cơ phối hợp với nhau Điều khiển bộ biến đổi công

suất phía máy phát nhằm mục đích tối đa hóa công

suất đầu ra và đảm bảo sự vận hành không bị phá

hủy của máy phát Điều khiển bộ biến đổi công

suất phía lưới nhằm đảm bảo các chỉ tiêu chất

lượng điện năng yêu cầu, đồng bộ với lưới, điều

chỉnh hướng dòng công suất

Do đặc điểm lưới điện hải đảo là lưới yếu (weak

grid), điện áp rất dễ bị dao động do tác động của

sự thay đổi phụ tải hoặc nguồn phát nên việc hòa

năng lượng từ máy phát sức gió vào lưới sẽ bị hạn

chế về dung lượng để tránh làm biến động biên độ

điện áp vượt quá ngưỡng cho phép Ý tưởng cơ

bản điều khiển công suất là sử dụng một bộ đệm

(buffer) để phóng/nạp số lượng công suất phù hợp

mà không làm biến động điện áp tại điểm kết nối –

thiết bị kho điện

ESS được phân loại theo nhiều cách khác nhau

Tùy theo ứng dụng mà ESS cần phải đáp ứng về

công suất cũng như thời gian giải phóng năng

lượng phù hợp như minh họa trên hình H.5 Ví dụ

như: Ứng dụng quản lý năng lượng yêu cầu ESS

phải có dung lượng lớn, thời gian giải phóng có

thể kéo dài hàng giờ; ứng dụng chuyển nguồn yêu

cầu dung lượng thấp hơn, thời gian giải phóng

năng lượng có thể kéo dài cỡ vài phút; ứng dụng

nâng cao chất lượng điện năng và độ tin cậy, ESS

phải có khả năng giải phóng năng lượng nhanh (cỡ mili giây) [1, 3]

giải phóng năng lượng theo lĩnh vực ứng

dụng của ESS[1]

Các công nghệ tích trữ năng lượng được nghiên cứu ứng dụng và triển khai cho đến nay có gặp như:

 Nhóm điện năng (Electrical energy storage): Siêu tụ (Supercapacitors – SC hay Ultracapacitor - UC); Cuộn dây từ trường siêu

dẫn (Superconducting magnetic energy storage-SMES)

 Nhóm cơ năng (Mechanical energy storage):

Bánh đà (Fywheels); Thủy điện tích năng (Pumped hydroelectric storage – PHS); Khí nén (Compressed air energy storage – CAES)

 Nhóm hóa năng (Chemical energy storage):

Pin-Acqui (Batteries: lead-acid, nickel metal

hydride, lithium ion, zinc bromine, vanadium redox); pin nhiên liệu (fuel cells, molten carbonate fuel cells – MCFCs; Metal -Air batteries)

Mỗi công nghệ có những đặc điểm riêng phù hợp với những lĩnh vực ứng dụng đặc thù khác nhau như thể hiện trên hình H.6 Những công nghệ ở góc trên bên phải như PHS, CAES, FC-HS phù hợp với yêu cầu dung lượng lớn và thời gian giải phóng dài Ngược lại, những công nghệ ở góc dưới bên trái như là SCs, SMES, Flywheels phù hợp với yêu cầu công suất lớn với thời gian xả nhanh cho các ứng dụng về nâng cao chất lượng và tính ổn định của hệ thống

Trang 4

Các nghiên cứu về ứng dụng các công nghệ tích

trữ năng lượng đã được công bố trong thời gian

gần đây có thể tìm thấy ở [7-12] Các tác giả đã

xuất phát từ cấu trúc hệ thống phát điện sức gió

như đã trình bày trên hình H.4, sau đó tích hợp

thêm vào WTG một hoặc một vài công nghệ tích

trữ năng lượng

Hầu hết các công bố đều nhằm vào các hệ thống

mà WTGs nối với lưới cứng hoặc chỉ xem xét ở

mức độ đơn lẻ WTG mà chưa xem xét hệ thống

phát điện sức gió đối với lưới hải đảo cũng như

ảnh hưởng của việc công tác song song giữa nhiều

WTGs kết hợp với nhiều D-G Trong nội dung tiếp

theo, tác giả giới thiệu một cấu trúc hệ thống dự

định nghiên cứu có sử dụng thiết bị kho điện để

đảm bảo chất lượng điện năng đối với lưới điện

khu vực hải đảo

sức gió khu vực hải đảo

Những lưới điện hải đảo được vận hành ở chế độ

độc lập và vận hành ở chế độ độc lập và có đặc

điểm lưới mềm: Điện áp rất kém ổn định và khó

đồng bộ giữa các thành phần của Việc điều khiển

lưới đòi hỏi phải sử dụng thiết bị kho điện, thiết bị

điều độ điều độ năng lượng và truyền thông giữa

các thành phần [6]

Để đảm bảo chất lượng điện năng, công nghệ tích

trữ năng lượng đòi hỏi phải có động học nhanh để

đáp ứng được sự biến động bất thường của gió

Như đã phân tích ở trên, công nghệ tích trữ năng

lượng phù hợp và khả thi nhất ở thời điểm hiện tại

được tác giả lựa chọn để nghiên cứu là siêu tụ -

Supercapacitors với một số ưu điểm vượt trội như:

Mật độ công suất rất cao, thời gian nạp/xả cực

nhanh, tuổi thọ làm việc lâu dài Hạn chế cơ bản là

điện áp mỗi đơn vị (cell) thấp nên phải sử dụng kết

hợp nhiều cells để nâng cao điện áp làm việc dẫn

tới yếu tố chi phí giá thành lớn Cấu trúc tổng thể

thiết bị kho điện được trình bày trên hình H.7

Thiết bị kho điện được Supercapacitor ESS

(SCESS) cấu thành bởi ba thành phần: Phần tử tích

trữ năng lượng sử dụng siêu tụ (Supercapacitors –

Ultracapacitors); bộ biến đổi DC/DC trao đổi năng

lượng hai chiều (Bidirectional) và bộ nghịch lưu DC/AC cũng có khả năng trao đổi năng lượng theo hai chiều

Kho điện được thiết kế sử dụng tụ DLC (Maxwell boostcap capacitors) Tụ DLC rất tiện cho các ứng dụng đòi hỏi xả lượng điện năng lớn trong thời gian ngắn nhờ có điện trở trong nhỏ Tụ có tuổi thọ cao và chi phí bảo dưỡng thấp Vì điện áp công tác tối đa của mỗi tụ chỉ là 2,7V nên sẽ phải mắc nối tiếp một lượng lớn tụ để đạt được điện áp cần thiết Tùy thuộc lượng điện năng cần đuợc nạp vào kho ta có thể mắc song song nhiều nhánh tụ DLC

Tụ DLC phải được giám sát điện áp và nhiệt độ chặt chẽ cũng như phải có giải pháp cân bằng điện

áp trên từng tụ khi ghép thành bộ tụ để đảm bảo vận hành an toàn cho hệ thống

lưới AC

Nghịch lưu Inverter là bộ biến đổi sử dụng van IGBT Khi điện áp lưới ổn định nghĩa là: khi chức năng kho điện không cần thiết, nghịch lưu có thể hoạt động như bộ lọc tích cực, giúp cải thiện hệ số công suất cũng như chất lượng điện lưới Khi cần công suất lớn có thể mắc song song nhiều nghịch lưu Ưu điểm khi vận hành ở chế độ lọc tích cực: Cải thiện hệ số công suất, loại trừ điều hòa bậc cao, hạn chế tổn thất trên lưới, tăng hiệu suất truyền tải điện năng

Chopper ghép nối nghịch lưu với kho điện (bản chất là dàn siêu tụ) có chức năng biến đổi giảm áp (buck converter) khi nạp vào kho và chức năng biến đổi tăng áp (boost converter) khi xả điện hỗ trợ lưới Giới hạn dòng nạp/xả khi điện áp quá thấp nhằm hạn chế tổn hao và quá trình phát nhiệt Khi công suất lớn có thể mắc song song nhiều bộ biến đổi DC/DC

SCESS được ghép với lưới điện ở những vị trí như hình H.8 theo hai phương án: Tập trung (Centralize) hoặc phân tán (Decentralize) [6] Với phương án bù tập trung, bộ biến đổi công suất của thiết bị kho điện phải được thiết kế với công suất lớn tương ứng với dung lượng kho điện dẫn tới

Trang 5

khó khăn về mặt kỹ thuật chế tạo Do đó phương

án bù phân tán được lựa chọn Với phương án bù

phân tán, thiết bị kho điện được ghép với lưới

ngay tại đầu ra của các WTGs hoặc ghép với điểm

sử dụng để thực hiện chức năng điều phối dòng

năng lượng

SCESS điều tiết công suất tác dụng thông qua việc

nạp/phóng của siêu tụ Hơn nữa, việc điều tiết

công suất phản kháng sẽ giúp ổn định điện áp tại

điểm đấu nối Việc điều khiển độc lập hai thành

phần công sất là yêu cầu bắt buộc Yêu cầu điều

khiển đó được thực hiện thông qua hai bộ biến đổi

được trình bày dưới đây

Có hai vòng điều khiển sẽ phải được giải quyết là

vòng điều khiển dòng điện (phía bên trong) của

các khâu nghịch lưu Iinv và mạch chooper Ichopper để

can thiệp và các biến điều khiển vòng ngoài bao

gồm điện áp một chiều Vdc link, điện áp tại điểm

Vpcc, và công suất tác dụng của SCESS [13-15]

Diesel

3~

Village

G 3~

G

3~

Village

0.4/22 KV 0.4/22 KV

G

3~

0.4/22 KV

22/0.4 KV

D-Decentralize

Bù phân tán

C-Centralize

Factory

Airport

G 3~

đảo

Khâu nghịch lưu (mô hình đơn giản được thể hiện

trên hình H.9) hoạt động như một nguồn áp có

điều khiển Trong mô hình này, bỏ qua sự ảnh

hưởng của sóng hài dòng điện, các yếu tố như

khâu lọc đầu ra, biến áp nối lưới cũng không được

xem xét

Hệ phương trình toán học mô tả khâu nghịch lưu

như sau:

pcca

V

d

dt

        (1)

Để thuận lợi cho việc thiết kế điều khiển, phép biến đổi Park được sử dụng để đưa các đại lượng xoay chiều trong (1) về dạng tín hiệu một chiều như (2)

pccd invd

V I d

dt

w w

 

 

(2)

Sơ đồ cấu trúc thiết kế khâu điều chỉnh dòng điện được thể hiện ở hình H.10

1

RLs

1

RLs

L

 L

+

-+

pcc d

V

+

-pcc q

V

inv q

I

inv d

I

ˆ

ˆ.L

ˆ

ˆ.L

+

ˆ

pcc d

V

ˆ

pcc q

V

+ +

-+ Controller

inv d

R

Controller

inv q

R

*

inv d

I

*

inv q

I

+

+

-Current Controller System Model

inv d

I

inv q

I

lưu

Khâu điều chỉnh được thiết kế đảm bảo chất lượng điều khiển chính xác với động học nhanh nhất để phục vụ quá trình điều khiển của các mạch vòng bên ngoài Ở đây khâu điều chỉnh có thể được thiết kế trên miền tần số với cấu trúc PI hoặc miền thời gian gián đoạn với phương pháp thiết kế dead-beat

Đối với mạch Chopper, sơ đồ cấu trúc như hình H.11 được mô tả với hệ phương trình toán học như (3)

Chopper

VDC Link

Vstorage

L chopper

i choper

Để điều khiển ichopper có nhiều phương pháp thiết

kế điều khiển như: thiết kế điều khiển tuyến tính với bộ điều khiển P hoặc điều khiển phi tuyến với

Trang 6

một số phương pháp như: Điều khiển trên cơ sở

nguyên lý hệ phẳng Flatness Based, hệ thụ động

Passivity-based,… khi xem xét các yếu tố phi

tuyến của Chopper như: ảnh hưởng của độ bão hòa

từ cuộn dây, sự thay đổi các tham số của phần tử

tích trữ năng lượng theo chế độ công tác,…

d

dt

d

dt

(3) Nếu giải quyết tốt bài toán điều khiển các đại

lượng dòng điện Inverter và Chopper sẽ là điều

kiện tiên quyết để thực hiện vấn đề điều khiển sau

đây:

 Điều khiển giữ ổn định điện áp một chiều

Vdc Link:

Việc điều khiển giữ ổn định Vdc Link được thực

hiện thông qua điều khiển Ichopper theo phương trình

(4)

   (4)

Khi giả sử tổn hao Plosses=0 ta thu được:

2

1

d

dt

Nếu thực hiện tuyến tính hóa phương trình (5)

quanh điểm làm việc của điện áp Vstorage ta có:

2

1

  (7)

Sơ đồ cấu trúc phục vụ thiết kế điều khiển như

hình H.12

out

storage

P V

ˆ ˆ

out

storage

P V

2.

.

storage

dc link

V

link

dc

V

R

2 link

dc

V

2

link ref

dc

 Điều khiển ổn định điện áp tại điểm kết

nối Vpcc

Khả năng điều chỉnh điện áp tại điểm kết nối phụ

thuộc và trở kháng của lưới Việc điều chỉnh được

thực hiện thông qua thành phần dòng điện ngang

trục của nghịch lưu Iinvq

a

pcc

V

b

pcc

V

c

pcc

V

c

inv

I

b

inv

I

a

inv

I

source

R

source

L

source

R

source

L

source

R

source

L

a

source

V

b

source

V

c

source

V

Inverter

Vpcc a R

L Vpcc b R

L Vpcc c R

L

C

VDC Link

I inv a

I inv b

I inv c

V inv a

V inv b

V inv c

Đơn giản hóa mọi yếu tố phi tuyến như ảnh hưởng của biến áp, sự đóng cắt của van bán dẫn,…

ta có mối quan hệ:

pccc

d

dt

V

Thực hiện biến đổi Park, bỏ đi thành phần thứ tự 0, biến đổi Laplace, định nghĩa độ chênh điện áp rơi trên trở kháng của lưới là ΔV thì ta có mối quan hệ với các thành phần dòng điện nghịch lưu như sau:

2

2 2

source source

source source source

source

source source

R

s

L

s L

R s L

w

w w

w w

2 ( )

rce

q source

source source

source

V s R

s

s L

w

(9)

Điện áp rơi trên trở kháng nguồn phụ thuộc cả vào hai thành phần dòng điện dọc trục và ngang trục của nghịch lưu Tuy nhiên ở tần số thấp, sự liên hệ giữa thành phần xen kênh Iinv-q lớn hơn nhiều sự ảnh hưởng trực tiếp của Iinv-d nên việc điều chỉnh điện áp Vpcc chỉ được thực hiện thông qua thành phần ngang trục Iinv-q Bộ điều khiển ở đây có thể được tổng hợp theo nhiều phương pháp khác nhau như: thiết kế trên miền tần số theo tiêu chuẩn nào

đó hoặc thiết kế điều khiển số Mặt khác, tham số trở kháng nguồn là biến động không thể dự đoán nên cần thiết phải có giải pháp điều khiên thích nghi để điều chỉnh tham số của bộ điều khiển Vấn đề điều chỉnh công suất tác dụng bản chất là tính toán lượng đặt công suất cho khâu nghich lưu

để ổn định công suất hệ thống nằm trong giới hạn cho phép Thành phần công suất tác dụng được điều khiển thông qua dòng Iinv-d Đối với lưới ốc đảo Hybrid, công suất tác dụng được sinh ra do hai nguồn phát là D-G và WTGs Ba chế độ làm việc của hệ thống điện gió lai diesel như đã giới thiệu ở

Trang 7

phần 2, SCESS đều tham gia vào quá trình điều

phối dòng công suất để cân bằng giữa nguồn phát

và phía tiêu thụ Phương pháp xác định lượng đặt

công suất cho inverter có thể áp dụng là: sử dụng

khâu lọc để loại bỏ những biến động tần số cao, sử

dụng kết hợp với phương pháp điều khiển dự báo

dựa trên dữ liệu thống kê về biểu đồ gió trong

ngày, theo mùa, theo năm,…hay dữ liệu thống kê

về biến động phụ tải để tính toán lượng đặt tối ưu

Bắt kịp xu hướng ứng dụng, triển khai những hệ

thống phát điện sử dụng năng lượng tái tạo đặc

biệt là năng lượng gió, bài viết này đã giới thiệu về

sự cần thiết như một yếu tố bắt buộc phải trang bị

cho hệ thống phát điện sức gió lưới điện hải đảo

thiết bị kho điện để đảm bảo chất lượng điện năng

Những nguyên tắc làm việc cơ bản cũng như cơ sở

thiết kế điều khiển hệ thống cũng đã được trình

bày và gợi mở hướng giải quyết

Tài liệu tham khảo

[1] J K Kaldellis: "Stand-alone and hybrid wind

energy systems," ed: Woodhead Publishing Limited,

2010

[2] J F Manwell, A Rogers, G Hayman, C T

Avelar, J G McGowan, U Abdulwahid, and K Wu:

"Hybrid2-A hybrid system simulation model," June

30, 2006

[3] EPRI-PAC-Coporation: "EPRI-DOE Handbook

Supplement of Energy storage for grid connection

wind generation applications," ed: US Department of

Energy, 2004

[4] David Connolly: "A Review of Energy Storage

Technologies For the integration of fluctuating

renewable energy," ed: University of Limerick, 2010

[5] R Teodorescu, M Liserre, and P Rodríguez:

(2011) Grid Converters for Photovoltaic and Wind

Power Systems

[6] N P Quang: "Hệ thống năng lượng sức gió lai

dành cho hải đải đảo," in Giải pháp đấu nối và hoạt

động hỗn hợp gió - Diesel vào lưới điện Quốc gia và

lưới điện độc lập trên đảo, Thành phố Hồ Chí Minh,

2012

[7] K Yoshimoto, T Nanahara, and G Koshimizu:

"Analysis of data obtained in demonstration test

about battery energy storage system to mitigate

output fluctuation of wind farm," in Integration of

Wide-Scale Renewable Resources Into the Power

Delivery System, 2009 CIGRE/IEEE PES Joint

Symposium, 2009, pp 1-1

[8] N Mendis, K M Muttaqi, S Sayeef, and S

Perera: "Application of a hybrid energy storage in a

remote area power supply system," in Energy

Conference and Exhibition (EnergyCon), 2010 IEEE International, 2010, pp 576-581

[9] L Barote and C Marinescu: "Storage analysis for stand-alone wind energy applications," in Optimization of Electrical and Electronic Equipment (OPTIM), 2010 12th International Conference on,

2010, pp 1180-1185

[10] C N Rasmussen: "Improving wind power quality with energy storage," in Sustainable Alternative Energy (SAE), 2009 IEEE PES/IAS Conference on, 2009, pp 1-7

[11] C Abbey and G Joos: "Supercapacitor Energy Storage for Wind Energy Applications," Industry Applications, IEEE Transactions on, vol

43, pp 769-776, 2007

[12] A Abdelkafi, L Krichen, and A Ouali:

"Control and energy management of a hybrid power source including WECS-FC-SC," in Systems, Signals and Devices (SSD), 2011 8th International Multi-Conference on, 2011, pp 1-7

[13] A M Leon: "Advanced Power Electronic For Wind-Power Generation Buffering," University Of Florida, 2005

[14] R Sebastián and R P Alzola: "Simulation of

an isolated Wind Diesel System with battery energy storage," Electric Power Systems Research, vol 81,

2011

[15] G Mandic and A Nasiri: "Modeling and simulation of a wind turbine system with ultracapacitors for short-term power smoothing," in Industrial Electronics (ISIE), 2010 IEEE International Symposium on, 2010, pp 2431-2436

Nguyễn Phùng Quang Sau

khi tốt nghiệp phổ thông Chu Văn An năm 1970, đi du học tại Đức (TU Dresden, viết tắt: TUD) Tháng 9/1975 tốt nghiệp Dipl.-Ing (Uni.) tại TUD về truyền động điện tự động Tháng 11/1991 bảo vệ luận án Dr.-Ing với đề tài về

“Áp nhanh mômen quay cho

động cơ xoay chiều ba pha nuôi bởi biến tần nguồn áp”

Trong 4 năm 1992-1995 làm việc tại công ty REFU Elektronik Metzingen với nhiệm vụ phát triển thế hệ biến tần mới điều khiển trên cơ sở phương pháp tựa theo từ thông rotor, tháng 4/1994 bảo vệ và nhận bằng Dr.-Ing habil thuộc lĩnh vực

“Điều khiển tự động truyền động điện xoay chiều

ba pha” Firmware điều khiển đã được cài đặt

trong các biến tần REFU 402 Vectovar, RD500 (REFU Elektronik), Simovert 6SE42, Master Drive MC (Siemens)

Trang 8

Ba năm 1996-1998 là giảng viên tại TUD và tháng

10/1997 được TUD công nhận là Privatdozent

Tháng 1/1999 quay về Việt Nam và là giảng viên

của ĐHBK Hà Nội từ đó đến nay Tháng 2/2004

được TUD phong Honorarprofessor, tháng

11/2004 nhận chức danh Phó Giáo sư và 11/2009

Giáo sư về Tự động hóa của ĐHBK Hà Nội

Trong hơn 10 năm ĐHBK Hà Nội đã hướng dẫn

70 kỹ sư, 45 thạc sĩ, hướng dẫn 9 NCS (1 NCS

người Đức của TUD), trong số đó 5 NCS đã bảo

vệ thành công Là tác giả / đồng tác giả của hơn

110 bài báo, báo cáo hội nghị trong và ngoài nước

Là tác giả / đồng tác giả của 7 đầu sách chuyên

khảo và tham khảo, trong đó có 3 quyển bằng

tiếng Đức và 1 quyển tiếng Anh “Vector Control

of Three-Phase AC Machines – System

Development in the Practice” xuất bản 2008 tại

nhà xuất bản Springer

Các lĩnh vực nghiên cứu: điều khiển truyền động

điện, điều khiển chuyển động và robot, điều khiển

vector cho các loại máy điện, điều khiển điện tử

công suất, điều khiển các hệ thống năng lượng tái tạo (sức gió, mặt trời), hệ thống điều khiển số, mô hình hóa và mô phỏng

Phạm Tuấn Anh tốt

nghiệp hệ đào tạo

chính quy kỹ sư Điện

tự động công nghiệp

(2005), nhận bằng Thạc sỹ khoa học về

Tự động hóa (2009)

của trường Đại học Hàng hải Việt nam –

cơ quan công tác từ năm 2005 cho đến nay Từ tháng 2/2011 là Nghiên cứu sinh chuyên

ngành Thiết bị và hệ thống điều khiển tự động tại

Đại học Bách khoa Hà Nội

Các lĩnh vực nghiên cứu: Hệ thống điều khiển

số, điều khiển điện tử công suất, điều khiển máy điện, hệ thống năng lượng tái tạo

Ngày đăng: 05/08/2015, 07:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm