Một số tiêu chí cơ bản để đánh giá năng lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh ngành in: .... Một số tiêu chí cơ bản để đánh giá năng lực đội ngũ quản lý nhà nước đối với hoạt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN KIÊN
NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÀNH IN
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN KIÊN
NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÀNH IN
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, và có kế
thừa các công trình nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Kiên
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH I
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÀNH IN 7
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG Về Sự HÌNH THÀNH CủA NGÀNH IN: 7
1.1.1 Lịch sử ngành in và các công nghệ in: 7
1.1.1.1 Khái quát về lịch sử ngành in thế giới: 7
1.1.1.2 Lịch sử hình thành in ấn tại Việt Nam: 9
1.1.1.3 Công nghệ in ấn và các đặc điểm chính: 11
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của hoạt động kinh doanh ngành in ở Việt Nam 13
1.1.2.1 Khái niệm về hoạt động kinh doanh ngành in: 13
1.1.2.2 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh ngành in ở Việt Nam: 14
1.1.2.3 Vai trò hoạt động kinh doanh ngành in ở Việt Nam: 16
1.2 Năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh ngành in: 16
1.2.1 Khái niệm về năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh ngành in: 16
1.2.2 Một số tiêu chí cơ bản để đánh giá năng lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh ngành in: 21
1.2.2.1 Chủ thể quản lý nhà nước đối với kinh doanh ngành in: 21
1.2.2.2 Một số tiêu chí cơ bản để đánh giá năng lực đội ngũ quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh ngành in: 21
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý ngành in: 24
1.3.1 Các nhân tố nội bộ ngành: 24
1.3.1.1 Số lượng cơ sở in 24
1.3.1.2 Thiết bị, công nghệ và vốn 24
1.3.1.3 Nguồn nhân lực: 26
1.3.2 Các nhân tố ngoài ngành: 27
Trang 51.3.2.1 Thể chế chính trị và mô hình tổ chức thực hiện quản lý nhà nước:27
1.3.2.2 Môi trường kinh tế vĩ mô: 29
1.4 Kinh nghiệm quản lý hoạt động kinh doanh ngành in với một số nước trong khu vực ASEAN: 30
1.4.1 Thái Lan: 30
1.4.2 Malaysia: 32
1.4.3 Singapore: 34
1.4.4 Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÀNH IN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 -2013 37
2.1 THựC TRạNG HOạT ĐộNG KINH DOANH NGÀNH IN ở VIệT NAM 37 2.1.1 Mô hình tổ chức, loại hình hoạt động và loại hình sản phẩm kinh doanh ngành in 37
2.1.2 Hoạt động kinh doanh ngành in ở Việt Nam: 41
2.2 Hoạt động quản lý nhà nước đối với kinh doanh ngành in của Việt Nam 46 2.2.1 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh ngành in 46
2.2.1.1 Mô hình tổ chức: 46
2.2.1.2 Nguồn nhân lực quản lý nhà nước về ngành in: 48
2.2.3 Nội dung quản lý hoạt động kinh doanh ngành in 55
2.2.3.1 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về chuyên môn, nghiệp vụ:55 2.2.3.2 Công tác quản lý nhà nước qua công tác thanh tra, kiểm tra: 56
2.2.3.3 Sự phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong quản lý hoạt động in 61
2.3 Đánh giá những thành công và hạn chế trong quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh ngành in 62
2.3.1 Những thành tựu đã đạt được: 62
2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân: 63
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÀNH IN TRONG 65
GIAI ĐOẠN TỚI 65
Trang 63.1 Bối cảnh và mục tiêu phát triển ngành in và định hướng chung đến năm
2020: 65
3.1.1 Bối cảnh và xu thế phát triển sản phẩm và công nghệ ngành in 65
3.1.2 Mục tiêu phát triển ngành in: 66
3.1.3 Định hướng chung đến năm 2020: 67
3.2 Giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh ngành in 67
3.2.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 67
3.2.1.1 Hoàn hiện hệ thống pháp luật: 67
3.2.1.2 Hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý: 69
3.2.1.3 Xây dựng đội ngũ nguồn nhân lực: 72
3.2.1.4 Tăng cường hoạt động giám sát, kiểm tra ………… ………72
3.2.1.5 Tăng cường và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế: 74
3.2.2 Đối với Hiệp hội in 75
3.2.2.1 Kiện toàn mô hình tổ chức: 75
3.2.2.2 Nâng cao chất lượng công tác hội viên: 76
3.2.2.3 Xây dựng chiến lược sản phẩm của ngành in: 77
3.2.2.4 Tăng cường đầu tư về công nghệ và vốn cho hoạt động ngành in: 78 KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 84
Trang 81
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Hoạt động in có vị trí, vai trò quan trọng trong sản xuất ra các sản phẩm có
in Thông qua các công cụ, thiết bị ngành in để nhân bản với số lượng lớn, tùy ý, nhằm mục đích phổ biến, tuyên truyền đến nhiều đối tượng làm thay đổi tư duy, nhận thức con người, phục vụ đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của đất nước Với những công cụ thiết bị ngày càng hiện đại thì việc nhân bản với số lượng lớn là rất nhanh, đáp ứng ngày một nhiều hơn nhu cầu về in cho xã hội Tuy nhiên, nếu hoạt động in không được quản lý tốt thì tác hại của nó là vô cùng lớn đến tình hình an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội
Hiện nay, hoạt động in đang được điều chỉnh bằng hai khung pháp lý không thống nhất, in xuất bản phẩm được điều chỉnh bởi Luật Xuất bản năm 2004 (Luật xuất bản sửa đổi 2012) và in các sản phẩm không phải xuất bản phẩm được điều chỉnh bằng Nghị định số 105/2007/NĐ-CP ngày 21/6/2007 của Chính phủ Sau khi Luật Xuất bản năm 2004 - 2012, Nghị định số 105/2007/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2007 và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động in ra đời đã tác động đến toàn bộ các hoạt động trong lĩnh vực in Việc xã hội hóa hoạt động in đã làm thay đổi căn bản từ những tư duy phụ thuộc nhiều về chính trị, tư tưởng, văn hóa chuyển sang một nhận thức mới thông thoáng hơn, cân bằng hài hòa giữa hai nhiệm vụ quan trọng là vừa phục vụ nhiệm vụ chính trị, vừa sản xuất kinh doanh để tái đầu tư, phù hợp với quy luật phát triển của từng thời kỳ Nhà nước thay đổi phương thức quản lý, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động in, nhằm thu hút nguồn lực đầu tư của xã hội để phát triển ngành in, phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy có nhiều cơ chế cởi mở thông thoáng hơn, nhưng hoạt động in vẫn được coi là ngành nghề kinh doanh
có điều kiện, bởi nó vẫn là công cụ, phương tiện để sản xuất những sản phẩm có nội dung văn hóa, tư tưởng
Trang 92
Do được cởi mở hơn về hàng lang pháp lý nên số lượng cơ sở in được thành lập mới tăng rất nhanh Trước năm 2004, cả nước có 162 cơ sở in (tất cả đều của nhà nước), đến nay tăng lên khoảng 1.500 cơ sở in (thuộc mọi thành phần kinh tế), giải quyết việc làm cho gần 5 vạn lao động trong ngành Về công nghệ in được chuyển đổi từ in typo với những thiết bị cũ kỹ, thô sơ, lạc hậu sang
in offset hiện đại hơn, in ra các sản phẩm có chất lượng hoàn hảo hơn, giá trị gia tăng nhiều hơn, đáp ứng thời gian nhanh gấp nhiều lần Một số cơ sở in lớn đã đầu tư được máy in hiện đại có giá trị gần một trăm tỷ đồng/chiếc, sánh ngang với các nước trong khu vực và một số nước phát triển trên thế giới Số lượng máy in offset được nhập vào Việt Nam đến nay có khoảng hơn 2000 chiếc, chưa
kể thiết bị trước và sau in
Sản lượng trang in tiêu chuẩn hàng năm của toàn ngành tăng nhanh, trên 10%/năm Ngành in đã đáp ứng hầu hết nhu cầu in trong nước và bước đầu tiếp cận thị trường thế giới, nhận in gia công cho nước ngoài với chất lượng kỹ thuật
in đa dạng, phức tạp ở trình độ cao Đặc biệt, đã đầu tư được 8 điểm in báo Đảng với những công nghệ, thiết bị, kỹ thuật cao, được phân bố phù hợp theo vùng, lãnh thổ, có khả năng đáp ứng nhanh nên các địa phương trong cả nước, kể cả một số vùng sâu, vùng xa đã có được báo Đảng trong ngày Đã hình thành mạng lưới in quốc gia gồm 2 trung tâm và 8 trọng điểm về in
Do các quy định về thành lập cơ sở in thông thoáng, dễ dàng nên số lượng
cơ sở in tăng nhanh, dẫn đến cung vượt cầu, thị trường cạnh tranh gay gắt, nhà nước chưa có biện pháp quản lý hữu hiệu, nạn in lậu xuất bản phẩm, in giả giấy
tờ quản lý nhà nước, in giả bao bì, nhãn hàng hóa, giấy tờ có giá gia tăng Nhiều cá nhân không có nghề, không có kinh nghiệm vẫn bỏ tiền đầu tư theo xu hướng đám đông, sau một thời gian hoạt động không hiệu quả, khó cạnh tranh, phải giải thể, gây thiệt hại cho cá nhân và xã hội Thành lập nhiều cơ sở in ảo, không có thật làm ảnh hưởng đến việc thống kê nội lực toàn ngành dẫn đến việc hoạch định chính sách, xây dựng quy hoạch, đầu tư phát triển kém hiệu quả
Trang 103
Nhiều cơ sở in nhập khẩu thiết bị quá cũ, không đảm bảo chất lượng sản phẩm
in và làm ảnh hưởng đến môi trường Một số hoạt động in bị buông lỏng quản lý
do thiếu cơ chế hành chính, dẫn đến khó kiểm soát, vi phạm pháp luật gia tăng Tình trạng các cơ sở in không thuộc diện cấp phép hoạt động in, khi thành lập và hoạt động, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động in không biết, kể cả địa chỉ nơi sản xuất cũng không nắm được Các quy định về hồ sơ và thủ tục cấp phép thành lập cơ sở in quá đơn giản, dễ dãi dẫn đến nhiều cá nhân thành lập cơ sở in
ảo Chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật về thiết bị in nên việc nhập khẩu thiết bị cũ là không thể kiểm soát, vì vậy không tránh khỏi thiết bị quá cũ (rác của nước ngoài) được nhập khẩu vào Việt Nam làm ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường
và nền công nghiệp nước nhà
Bên cạnh đó, Nghị định số 105 lại không bao quát hết các hoạt động in các sản phẩm không phải xuất bản phẩm, nên công tác quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương đều rất khó khăn, nạn in lậu, in trái phép ngày một gia tăng Một mặt là do thiếu công cụ, thiếu chế tài, mặt khác nguồn lực quản lý cũng chưa đáp ứng được với yêu cầu thực tiễn Vì vậy, việc lựa chọn đề tài
nghiên cứu “Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh
ngành in ở Việt Nam” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Ngành in là một lĩnh vực kinh doanh tương đối đặc thù ở Việt Nam, do đó các nghiên cứu trong lĩnh vực in ấn nói chung và hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực này là không nhiều, chủ yếu là các bài báo trên tạp chí hoặc báo chí Nội dung các công trình này chủ yếu đề cập đến các tồn tại, hạn chế trong lĩnh vực in, bất cập trong hệ thống pháp luật của Việt Nam Trong khi đó, các công trình nghiên cứu Khoa học thì thường tập trung vào lĩnh vực xuất bản phẩm, một sản phẩm của quá trình in ấn, có thể liệt kê một số công trình sau:
Trang 11Đề tài “Nghiên cứu hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm tại TP Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” là đề tài cấp Bộ do bà Trần Thị Thu thuộc Trường Đại Học Văn Hóa Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm hoàn thành vào năm 2009 Đề tài phân tích vai trò của hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm đối với xã hội và thực trạng của hoạt động này trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần tham vấn cho các doanh nghiệp, cơ quan, ban ngành chức năng trong việc đề ra giải pháp, chủ trương chính sách phù hợp, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm đúng hướng và hiệu quả Đề tài cũng đã phân tích tình hình kinh doanh xuất bản phẩm tại TP Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Đề tài “Thực trạng pháp luật trong quản lý nhà nước về xuất bản ở Việt Nam và những đổi mới trong cơ chế thị trường định hướng XHCN” được hoàn thành năm 2008 do TS Bùi Đức Thọ hướng dẫn cũng đề cập đến vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước về xuất bản, quản lý Nhà nước bằng pháp luật trên các lĩnh vực khác nhau của xuất bản và thực trạng, phương hướng cũng như
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu: Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh ngành
in
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: tìm câu trả lời cho các câu hỏi sau:
- Quản lý hoạt động kinh doanh ngành in có cơ sở khoa học và đặc điểm riêng biệt gì?
- Thực trạng năng lực quản lý hoạt động kinh doanh ngành in ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Để nâng cao năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh ngành in thì cần các giải pháp nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về năng lực
quản lý nhà nước đối với hoạt động ngành in ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn
2008-2013 và đề xuất giải pháp từ nay cho đến năm 2020
Trang 136
5 Phương pháp nghiên cứu
Để luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài, luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê có chọn lọc kết hợp với phương pháp so sánh kết quả trên cơ sở vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Trong quá trình phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn cũng như đánh giá tính khả thi của các giải pháp, luận văn còn sử dụng các bảng biểu, sơ đồ minh họa để làm tăng tính trực quan và sức thuyết phục của đề tài Các số liệu được sử dụng trong luận văn được lấy từ các báo cáo của Hiệp hội ngành in, Cục xuất bản giai đoạn 2007 đến nay
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, danh mục các từ viết tắt, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về năng lực quản lý nhà nước về hoạt động
kinh doanh ngành in
Chương 2 Thực trạng năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh
ngành in ở Việt Nam giai đoạn 2008-2013
Chương 3 Một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước về hoạt
động kinh doanh ngành in trong giai đoạn tới
Trang 141.1.1.1 Khái quát về lịch sử ngành in thế giới:
In ấn bắt đầu xuất hiện và phát triển đầu tiên ở Trung Quốc Kĩ thuật in khối dùng gỗ sơ khai đã bắt đầu phổ biến ở thế kỉ thứ 6 Sách cổ nhất được in còn tới ngày nay sử dụng kĩ thuật in khối tinh vi có từ năm 868 SCN (kinh Kim Cương) Đến thế kỉ thứ 12 và 13, các thư viện ở Ả Rập và Trung Quốc đã có tới hàng chục nghìn bản sách
Sự phát triển của in ấn là một bước đột phá trong phổ biến tri thức: nhà in
đã được dựng lên ở Venice năm 1469 và tới năm 1500 thành phố này đã có tới
417 thợ in Năm 1470, Johann Heynlin lập nhà in ở Paris Năm 1476, nhà in được lập ở Anh quốc bởi William Caxton; năm 1539, một người Ý tên là Juan Pablos đã lắp đặt một nhà in được nhập về ở Thành phố Mexico, Mexico Stephen Day xây dựng nhà in đầu tiên của Bắc Mĩ ở vịnh Massachusetts năm
1628, và là người góp phần lập nên nhà xuất bản Cambridge
Máy in dùng kỹ thuật offset và thạch bản đầu tiên ra đời ở Anh khoảng năm
1875 và đã được thiết kế để in lên kim loại Trống offset làm bằng giấy các tông truyền hình ảnh cần in từ bản in thạch bản sang bề mặt kim loại Khoảng 5 năm sau, giấy các tông được thay bằng cao su
Người đầu tiên áp dụng kỹ thuật in offset cho in ấn trên giấy có thể là Ira Washington Rubel năm 1903 Ông đã tình cờ nhận thấy mỗi khi một tờ giấy không được đưa vào máy in thạch bản của ông một cách đúng nhịp, bản in thạch bản in lên trống in được bọc bằng cao su, và tờ giấy cho vào tiếp theo bị dính 2 hình: bản in thạch bản ở mặt trên và bản in do dính từ trống in ở mặt dưới Rubel
Trang 158
cũng nhận thấy hình ảnh in từ trống in cao su nét và sạch hơn vì miếng cao su mềm áp đều lên giấy hơn là bản in bằng đá cứng Ông đã quyết định in thông qua các tấm bằng cao su Độc lập với Rubel, hai anh em Charles Harris và Albert Harris cũng đã phát hiện ra điều này và chế tạo máy in offset cho Công ty
In ấn Tự động Harris
Các thiết kế của Harris, phát triển từ máy in gồm các trống quay, rất giống hình vẽ trong bài Nó gồm một trống bản in tiếp xúc chặt với các cuộn mực in và nước Một trống cao su tiếp xúc ngay bên dưới trống xếp chữ Trống in ở bên dưới có nhiệm vụ ấn chặt tờ giấy vào trống cao su để truyền hình ảnh Ngày nay,
cơ chế cơ bản này vẫn được dùng, nhưng nhiều cải tiến đã được thực hiện, như thêm in hai mặt hay nạp giấy bằng cuộn giấy (thay vì các miếng giấy)
Trong những năm 1950, in offset trở thành kỹ thuật in phổ biến nhất cho in
ấn thương mại, sau khi nhiều cải tiến đã được thực hiện cho bản xếp chữ, mực in
và giấy, tối ưu hóa tốc độ in và tuổi thọ các bản xếp chữ Ngày nay, đa số in ấn, gồm cả in báo chí, sử dụng kỹ thuật này
Ở khâu sau in các máy móc, thiết bị có hệ thống điện tử tự động, cài đặt chương trình được sử dụng Đã có hàng loạt máy liên hợp đóng sách, các loại máy gia công sản phẩm khác nhau như máy bế, dán, máy đóng dán bao bì liên tục, máy gấp, máy khâu, máy vô bìa keo, máy nhủ vàng, bạc…Kỹ thuật máy tính xuất hiện đã làm đảo lộn hoàn toàn ngành công nghiệp in trên toàn thế giới Trong những năm 90 của thế kỷ 20, ngành in đã có những phát triển công nghệ quan trọng Ở thời điểm này, một đặc điểm của công nghệ in đáng chú ý là sự liên kết giữa 3 công đoạn trong kỹ thuật in là trước in – in – sau in, nổi bậc là kỹ thuật “Computer-to” và các nguyên vật liệu mới phục vụ cho kỹ thuật này
Cùng với công nghệ in ấn bằng kĩ thuật in ốp sét – offset, hiện nay các kĩ thuật in phổ biến khác gồm in nổi (dùng chủ yếu trong các cuốn Catalogue), in
Trang 161.1.1.2 Lịch sử hình thành in ấn tại Việt Nam:
Nghề in bản gỗ khắc ra đời ở kinh thành Thăng Long từ thời nhà Lý cách nay hơn 800 năm Đến thế kỷ XV, dưới triều Lê sơ, Thị lang bộ Lễ kiêm Bí thư giám học sinh Lương Như Học, từng hai lần đi sứ sang Trung Quốc đã nghiên cứu thêm kỹ thuật in khắc gỗ về dạy nghề cho dân làng quê ông ,từ đó ông được tôn thờ làm tổ sư nghề in Giữa thế kỷ XIX, khi Pháp xâm chiếm Sài Gòn và du nhập kỹ thuật in ty pô, nghề in bản gỗ khắc vẫn tiếp tục được sử dụng vì bấy giờ chữ quốc ngữ la tinh chưa phổ biến rộng rãi Nghề in chữ đúc (typô) đầu tiên du nhập vào Việt Nam năm 1861 tại Sài Gòn sau đội quân xâm lược của đô đốc Pháp Bonard Xưởng in này đưa từ Paris sang, gồm máy, chữ, mực, giấy và 4 công nhân Pháp
Những thập niên đầu thế kỷ XX, chữ quốc ngữ phổ biến mạnh hơn trước, công việc dịch thuật, sáng tác văn học nhiều thể loại rất phong phú đã kích thích
mở rộng thị trường sách báo quốc ngữ, đòi hỏi một sự phát triển đột biến của ngành in, nhất là sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất Cùng với tư bản Pháp, nhiều nhà tư sản Việt, Hoa ở Sài Gòn đã sớm chen chân kinh doanh trên lĩnh vực này như: Phát Toán (1909) J.Việt (1917), J Nguyễn Văn Viết et fils (1922),
Á Đông - Chợ Lớn (1923), Quan Đồng Âm - Chợ Lớn (1923), Xưa nay (1926), Bảo tồn (1927)
Trang 17kỹ thuật in kém nhiều so với các nhà in của tư bản ngoại quốc
- Giai đoạn 1952-1975: Đây là thời kỳ tạo dựng nền móng, hình thành và từng bước phát triển nền xuất bản cách mạng Thời kỳ này đã xuất bản được 31.215 tên sách với 529.384.562 bản
- Giai đoạn 1976-1985: Sau khi đất nước thống nhất, các xuất bản phẩm xuất bản đã góp phần có hiệu quả trong việc khôi phục và phát triển kinh tế, phản ánh cuộc đấu tranh về sự lựa chọn con đường XHCN Sau khi đất nước thống nhất, các xuất bản phẩm đã góp phần có hiệu quả trong việc khôi phục và phát triển kinh tế Số sách xuất bản 22.000 tên sách với 533.362.000 bản
- Giai đoạn 1986-2001: Đây là thời kỳ đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các xuất bản phẩm đã góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nâng cao dân trí, phát triển kinh tế Tốc độ phát triển của ngành năm sau cao hơn năm trước Năm 2001, xuất bản, phát hành tăng gấp 3,2 lần về bản; in tăng 4,4 lần về trang in so với năm 1986
- Giai đoạn 2002 - nay: Đây là thời kỳ phát triển vượt bậc của ngành xuất bản, các xuất bản phẩm đã phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới và hội nhập quốc
tế của đất nước, làm giàu thêm các giá trị văn hoá Việt Nam Từ những tổ chức nhỏ bé ban đầu ở chiến khu Việt Bắc, hiện nay cả nước đã có 64 nhà xuất bản, khoảng 1.500 cơ sở in và khoảng 13.700 nhà sách, hiệu sách, trung tâm sách…;
119 công ty phát hành sách cấp tỉnh thuộc lĩnh vực thông tin – truyền thông, văn hóa, giáo dục – đào tạo; 75 công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh xuất bản phẩm
Trang 1811
1.1.1.3 Công nghệ in ấn và các đặc điểm chính:
In ấn là quá trình tạo ra chữ và tranh ảnh trên các chất liệu nền như giấy, bìa các tông, ni lông, vải bằng một chất liệu khác gọi là mực in In ấn thường được thực hiện với số lượng lớn ở quy mô công nghiệp và là một phần quan trọng trong xuất bản Các phương pháp in ấn cơ bản hiện nay: In offset, flexo, ống đồng v.v là những khái niệm còn xa lạ đối với rất nhiều người, tuy nhiên để hiểu những vấn đề cơ bản đó của kỹ thuật in và các phương pháp in chính hiện nay cũng không phải là việc khó khăn
- In typo: Đây là phương pháp in đầu tiên và cổ xưa nhất, được phát minh
bởi người Trung Quốc nhưng người Đức (Johan Gutenberg) mới là người được công nhận là ông tổ ngành in Về nguyên lý, in typo là phương pháp in cao, tức
là trên khuôn in typo, các phần tử in (hình ảnh, chữ viết) nằm cao hơn các phần không in Khi in, chúng ta chà mực qua bề mặt khuôn in, các phần tử in nằm cao hơn nên sẽ nhận mực và sau đó khi ép in, mực sẽ truyền qua bề mặt giấy in tạo thành hình ảnh, chữ cần in Một ví dụ gần gũi đó là con dấu (mộc), trên con dấu hình ảnh được khắc nổi cao hơn phần xung quanh, khi đóng dấu ta sẽ ấn nó vào tăm-bông để lấy mực, sau đó đóng "kịch" một phát thế là xong Khuôn in typo cũng được khắc nổi lên như con dấu, tuy nhiên nó được chế tạo từ kim lọai (hợp kim chì) bằng quá trình ăn mòn axít, các chữ viết thì được đúc thành các con chữ riêng lẻ, sau đó sẽ được sắp lại bằng tay thành từng bộ khuôn của từng trang sách (cho nên mới gọi là công đoạn sắp chữ) Phương pháp in typo sắp chữ hiện nay không còn được sử dụng do sản lượng thấp, lạc hậu và độc hại (chữ in được đúc từ hợp kim chì là một kim loại độc hại) nên đã được thay thế bằng nhiều phương pháp hiện đại hơn Một số ứng dụng khác của in typo như in số nhảy, ép chìm nổi, ép nhũ bạc, vàng vẫn còn được sử dụng Máy in typo ở Việt Nam được cải tiến thành máy bế đặt tay ứng dụng rất hiệu quả
- In flexo: In flexo bắt nguồn từ chữ flexible, nghĩa là mềm dẻo Khuôn in
flexo cũng thuộc dạng khuôn in cao như in typo, tuy nhiên nó được chế tạo từ
Trang 1912
chất dẻo (cao su hoặc nhự photopolymer) bằng quá trình phơi quang hóa Phương pháp in này được sử dụng rộng rãi để in các lọai nhãn decal, bao bì hoặc thùng carton In ống đồng: In ống đồng về nguyên lý nó là phương pháp in lõm, tức là trên khuôn in, hình ảnh hay chữ viết (gọi là phần tử in) được khắc lõm vào
bề mặt kim loại Khi in sẽ có 2 quá trình: Mực (dạng lỏng) được cấp lên bề mặt khuôn in, dĩ nhiên mực cũng sẽ tràn vào các chỗ lõm của phần tử in, sau đó một thiết bị gọi là dao gạt sẽ gạt mực thừa ra khỏi bề mặt khuôn in, và khi ép in mực trong các chỗ lõm dưới áp lực in sẽ truyền sang bề mặt vật liệu Khuôn in ống đồng có dạng trục kim loại, làm bằng thép, bề mặt được mạ một lớp đồng mỏng, phần tử in sẽ được khắc lên bề mặt lớp đồng này nhờ axít hoặc hiện đại hơn là dùng máy khắc trục Sau đó bề mặt lớp đồng lại được mạ một lớp crôm mỏng để bảo vệ nên có người lại nói đây là phương pháp in ống crôm chứ không phải in ống đồng
- Trục in (khuôn in) ống đồng: In ống đồng được ứng dụng trong ngành in
bao bì màng nhựa, đơn cử như bao đựng OMO, Viso, bánh kẹo Bibica, hay cà phê Trung Nguyên v.v tất cả đều được in bằng phương pháp in ống đồng
- In lụa: Đây là phương pháp in bình dân, đơn giản, rẻ tiền và dễ đầu tư,
nhưng nếu chịu khó làm vẫn có thể thu được lợi nhuận cao
- In offset: Đây là phương pháp in phổ biến nhất và cũng là phương pháp in
được nhắc đến nhiều nhất đối với những người làm design thiết kế Nguyên lý của phương pháp in này đơn giản nhưng khó hình dung nếu chưa được tay sờ mắt thấy "hiện vật" In offset là phương pháp in theo nguyên lý in phẳng, tức là trên khuôn in hình ảnh, chữ viết và những vùng không in đều có độ cao bằng nhau (khi nhìn lên bề mặt tấm bản in ta chỉ thấy nó phẳng lì như tờ giấy, không thấy chìm nổi gì hết) Người ta đã ứng dụng sự đẩy nhau giữa dầu và nước Khuôn in làm từ một tấm nhôm mỏng (khoảng 0.3mm), trên khuôn in, phần trắng (không in) có bề mặt là nhôm, còn phần tử in (hình ảnh, chữ viết) được cấu tạo từ một loại nhựa đặc biệt gọi là nhựa diazô Lớp nhựa này có tính
Trang 20bề mặt vật liệu in sẽ cho ra hình ảnh cần in
- In nhân bản (Roneo, Duplicating): nội dung cần in được "đục thủng" trên
vật liệu truyền in là Stencil (trong máy quay roneo cổ xưa) hoặc trên Master (máy in siêu tốc bây giờ) bằng phương pháp cơ học hoặc quang - nhiệt học để tạo nên bản mẫu Khi quá trình in được tiến hành là lúc mực in được ép (roneo) hoặc hất văng lên (in siêu tốc) bản mẫu và đi qua phần tử "đục thủng" để truyền sang giấy Ở những nước nghèo như Việt Nam, Trung Quốc, các nước châu Phi , máy in roneo vẫn còn được dùng trong việc in tài liệu đơn giản Hiện đại hơn thì dùng máy in siêu tốc kỹ thuật số, chất lượng sản phẩm từ loại máy này gần bằng in offset (nếu in đơn màu) Ưu điểm của phương pháp này là chế bản đơn giản, ít độc hại (gần như không độc hại), in số lượng rất linh hoạt (như in lụa) tốc độ in rất nhanh (7800 tờ/giờ) Tuy nhiên nhược điểm của nó mực phải mua của chính hãng nên giá thành mực trên trang in còn cao Màu sắc hạn chế trong một số màu nhất định Giá máy còn cao so với mặt bằng giá nói chung ở nước ta
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của hoạt động kinh doanh ngành in ở Việt Nam
1.1.2.1 Khái niệm về hoạt động kinh doanh ngành in:
Hoạt động kinh doanh ngành in là hoạt động sản xuất, kinh doanh có điều kiện Tổ chức, cá nhân hoạt động in phải có Giấy chứng nhận đăng ký kinh
Trang 2114
doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Nghị định số 08/2001/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2001 của Chính phủ quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện
Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu cơ sở in tham gia in sản phẩm là vàng mã, phải đăng ký loại vàng mã dự định in với Sở Văn hoá - Thông tin sở tại
Ngoài các quy định tại khoản 1 Điều này, cơ sở in còn phải bảo đảm các điều kiện sau:
- Phải có Giấy phép hoạt động in khi tham gia hoạt động in sản phẩm báo chí, tem chống giả;
- Phải có văn bản thỏa thuận của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành
có thẩm quyền khi tham gia in các sản phẩm: Chứng minh thư; hộ chiếu; văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân;
- Giám đốc hoặc chủ sở hữu cơ sở in phải là công dân Việt Nam, có đăng
ký hộ khẩu thường trú tại Việt Nam khi cơ sở in tham gia in các sản phẩm quy định trên
1.1.2.2 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh ngành in ở Việt Nam:
Thực tế hoạt động kinh doanh của các cơ sở in ở Việt Nam được chia làm một số nhóm cơ bản như: Các cơ sở in thuộc Đảng, Bộ, Ban, Ngành từ Trung Ương tới địa phương; các cơ sở công lập; các cơ sở in dân doanh hay các cơ sở
in có vốn đầu tư nước ngoài Trong đó mỗi loại hình cơ sở in có các đặc điểm riêng tạo nên sự đa dạng cho bức tranh sinh động về hoạt động kinh doanh ngành in ở Việt Nam
Các cơ sở in của Đảng, Bộ, Ngành trung ương vẫn được đầu tư tốt với
những trang thiết bị hiện đại, tiên tiến, nhiều dây chuyền tự động, khép kín đảm bảo được việc in báo, tạp chí và các ấn phẩm cao cấp khác với số lượng lớn,
Trang 2215
nhiều màu, chất lượng ngày một cao, thời gian giao hàng nhanh, thuận lợi hơn trong sản xuất kinh doanh
Cơ sở in sự nghiệp công lập (nội bộ hoặc có thu), các cơ sở in này được
tổ chức và hoạt động theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ đã duy trì và phát huy tốt vai trò phục vụ nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và tham gia vào thị trường, đáp ứng một phần nhu cầu văn hóa đọc của nhân dân,
đóng góp với ngân sách quốc gia
Các cơ sở in địa phương tuy chịu nhiều tác động của cơ chế thị trường
nhưng vẫn luôn xác định phục vụ nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế xã hội
là nhiệm vụ hàng đầu Cho đến nay hầu hết các đơn vị in địa phương tuy đã được đầu tư tốt hơn, nhưng vẫn khó khăn Thị trường ấn phẩm nhỏ bé, nguồn công việc tại chỗ ít, khó khai thác công việc từ ngoài tỉnh Thiếu vốn vẫn là nguyên nhân chính hạn chế đầu tư nâng cao năng lực sản xuất làm cho nhiều cơ
sở in khó phát triển Tuy nhiên, có một số công ty đã mạnh dạn đổi mới, đầu tư thiết bị, tìm kiếm thị trường, áp dụng nhiều biện pháp cạnh tranh để giữ vững và phát triển sản xuất
Các cơ sở in dân doanh tiếp tục có những bước đột phá trong tiếp cận thị
trường, đầu tư công nghệ, tìm kiếm nhân lực và định hướng sản phẩm linh hoạt hơn Nhiều cơ sở in trong hơn 3 năm qua đã mạnh dạn đầu tư nhiều tỷ đồng cho những trang thiết bị hiện đại Đặc biệt, có những cơ sở in nhỏ, năng lực tài chính hạn chế đã cùng nhau hùn vốn để đầu tư thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất, tăng sức cạnh tranh
Cơ sở in có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục đầu tư khai thác thị trường in
bao bì, nhãn hàng hoá có chất lượng cao Nguồn vốn đầu tư tuy có giảm so với những năm trước và có lúc chững lại, nhưng các cơ sở in này vẫn duy trì được năng lực cạnh tranh, có nguồn việc ổn định và đáp ứng tốt hơn nhu cầu về sản phẩm in
có chất lượng cao
Trang 2316
1.1.2.3 Vai trò hoạt động kinh doanh ngành in ở Việt Nam:
Trong công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay, Đảng và Nhà nước đã đề ra những mục tiêu nhằm đưa nền công nghiệp của chúng ta tiến tới công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước để theo kịp trình độ khoa học kỹ thuật của các nước trong khu vực Trong đó ngành in đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiến lên của đất nước, phục vụ kịp thời nhu cầu văn hoá, chính trị, xã hội của nhân dân Hoạt động của ngành in đã thích nghi dần và đứng vững trước thử thách của cơ chế thị trường Hội nghị liên ngành in toàn quốc 1992 đã tập trung trí tuệ đánh giá những ưu điểm, đồng thời phê phán những sai lệch, chỉ ra những yếu kém và nêu những biện pháp đồng bộ đưa ngành in phát triển đúng hướng Trong từng đơn vị, cơ sở cũng đã có bước đổi mới về công tác tổ chức, quản lý cũng như về trang thiết bị để đáp ứng nhu cầu văn hoá, thông tin ngày càng tăng của xã hội, nhất là đang trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, thị hiếu đòi hỏi ngày càng cao Điều đó đã góp phần thúc đẩy cho công cuộc đổi mới đất nước Nền kinh tế được chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường tạo nên sự tăng trưởng về mọi mặt, đời sống của nhân dân đã được cải thiện vì thế văn hoá tinh thần cũng dần được nâng cao hơn Do vậy công tác tuyên truyền văn hoá như: xuất bản, in, phát hành còn phải có những bước phát triển mạnh, các cơ sở in đã hoàn thành nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước góp phần tích cực đưa những tiến bộ của khoa học thế giới vào nền văn hoá của nước ta Thông qua
những ấn phẩm như sách, báo, tạp chí, v.v nhằm nâng cao dân trí ở mọi miền
1.2 Năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh ngành in:
1.2.1 Khái niệm về năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh ngành in:
Trước hết, muốn hiểu rõ khái niệm về năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh ngành in ta cần tìm hiểu một số khái niệm sau:
Thứ nhất đó là khái niệm về năng lực:
Trang 2417
Năng lực được con người sử dụng ở nhiều phương diện như: Năng lực công tác, năng lực sản xuất, năng lực quản lý điều hành Theo cuốn Gốc và nghĩa của từ tiếng Việt thông dụng thì năng lực được chia thành hai vế: “Năng”
là làm nổi việc; “lực” là sức mạnh Năng lực được hiểu là sức mạnh làm nổi việc Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành thì năng lực được hiểu là “khả năng làm việc tốt” Còn theo đại từ điển Tiếng Việt do nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin phát hành thì ta có thể hiểu theo 2 nghĩa: 1 Năng lực là những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì Ví dụ: Năng lực tư duy của con người; 2 Năng lực là khả năng để thực hiện tốt một công việc Ví dụ: Có năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức
Tóm lại, tác giả sử dụng khái niệm: năng lực là khả năng của con người
để thực hiện tốt công việc hay làm việc có hiệu quả cao
Thứ hai là một số khái niệm về quản lý và quản lý nhà nước:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật Nói cách khác, quản lý là
sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích đúng ý chí của người quản
lý và phù hợp với quy luật khách quan
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể định hướng điều hành, chi phối…để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định với hiệu quả cao nhất Theo nghĩa rộng, Quản lý nhà nước là hoạt động của toàn thể bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại Như vậy, hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước (Quốc hội, chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, hội đồng nhân nhân, ủy ban nhân dân, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân các cấp…) đều là hoạt động Quản lý nhà nước
Trang 2518
Theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các cơ quan hành chính của nhà nước (Còn gọi là cơ quan quản lý Nhà nước) thực hiện để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước
Như vậy, Quản lý nhà nước là hình thức biểu hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, đó là tính chính trị của Quản lý nhà nước và quyền lợi chính trị của nhân dân Từ khái niệm Quản lý nhà nước như trên chúng ta hiểu rằng không phải quản lý nào cũng là quản lý nhà nước, và nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội không có nghĩa là các cơ quan quản lý nhà nước điều chỉnh mọi khía cạnh của đời sống xã hội , mà chỉ điều chỉnh các khía cạnh do luật định
Với quan niệm trên, quản lý nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt, thể hiện ở các đặc trưng sau:
Một là, Quản lý nhà nước mang tính chất quyền lực nhà nước Quản lý
nhà nước được thực hiện dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước mang tính mệnh lệnh đơn phương đòi hỏi phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người bình đẳng, không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái với các quyết định quản lý Quản lý đất nước trước hết bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng đạo lý Pháp luật là thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, phải được thống nhất quản lý trong cả nước Tuân theo pháp luật là chấp hành chủ trương chính sách của Đảng Việc quản lý bằng pháp luật đòi hỏi các cơ quan, các cán bộ, công chức trong tổ chức và hoạt động điều hành phải căn cứ vào luật, làm theo đúng quy trình pháp luật, phải đảm bảo nguyên tắc pháp chế và phải kết hợp đúng đắn giữa pháp lý và đạo lý Pháp luật
là công cụ quản lý của Nhà nước vì thế để quản lý Nhà nước đối với xã hội có hiệu quả thì pháp luật phải đúng đắn, nghĩa là pháp luật phải xuất phát từ đường
Trang 2619
lối chính trị trong từng thời kỳ, phải phù hợp với các quy luật khách quan, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của đất nước
Hai là, quản lý Nhà nước mang tính tổ chức và điều chỉnh là chủ yếu Tổ
chức là một khoa học về sự thiết lập các mối quan hệ xã hội giữa con người, giữa các tập thể để thực hiện một quá trình quản lý xã hội Tổ chức được hình thành do nhu cầu quản lý, nó phải hoạt động và hoạt động có hiệu quả Trong quản lý Nhà nước chức năng tổ chức là quan trọng vì không có tổ chức thì không quản lý được Nhà nước phải tổ chức hợp lý để mỗi người đều có một vị trí tích cực và đóng góp với xã hội Quản lý nhà nước nhằm tác động, điều chỉnh bằng pháp luật và các quyết định, quản lý dưới hình thức các quy chế, tiêu chuẩn, biện pháp… nhằm tạo sự phù hợp giữa các chủ thể và khách thể quản lý, tạo sự cân bằng, cân đối giữa các mặt hoạt động của các quá trình xã hội và hành
vi hoạt động của con người
Ba là, quản lý Nhà nước mang tính khoa học, kế hoạch Hoạt động quản lý
nhà nước là hoạt động mang tính chủ quan của con người dựa trên những yêu cầu khách quan Vì vậy, quản lý Nhà nước phải mang tính khoa học, chủ động, sáng tạo trong việc điều hành, phối hợp, huy động mọi lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp để tổ chức lại nền sản xuất xã hội và cuộc sống của con người trên địa bàn mình theo sự phân công, phân cấp, đúng thẩm quyền, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Trong quản lý Nhà nước được quyền năng động, sáng tạo
để tổ chức thực hiện pháp luật nhưng không trái với đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Quản lý Nhà nước cũng cần phải có mục tiêu chiến lược, có chương trình, kế hoạch để thực hiện mục tiêu Vì vậy, đòi hỏi các
cơ quan quản lý Nhà nước phải có kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm Có chỉ tiêu định hướng chủ yếu, có biện pháp cân đối để thực hiện chỉ tiêu, để hoàn thành có hiệu quả các chương trình mục tiêu chiến lược của Nhà nước
Bốn là, hoạt động quản lý Nhà nước mang tính ổn định và liên tục Sự tác
động của quản lý Nhà nước phải thực hiện liên tục, thường xuyên, các quyết định
Trang 2720
quản lý nhà nước phải tương đối ổn định, tránh sự thay đổi quá nhanh chóng và phải được giữ gìn Đây là một đặc điểm quan trọng thể hiện tính trách nhiệm của Nhà nước đối với xã hội, với nhân dân Nhà nước là người thay mặt cho nhân dân, là công cụ mạnh mẽ của nhân dân lao động thực hiện quyền chính trị Do đó mọi quyết định quản lý phải phù hợp với lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân Chỉ như vậy và khi đạt được như vậy thì các quyết định quản lý Nhà nước mới có hiệu lực và hiệu quả, mới trở thành hiện thực cuộc sống
Các nội dung quản lý nhà nước đối với kinh doanh ngành in:
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành in
- Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về hoạt động in trình
cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền
- Cấp, thu hồi Giấy phép hoạt động in
- Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về hoạt động in
- Quản lý công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong hoạt động in
- Quản lý hợp tác quốc tế trong hoạt động in
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động in
- Thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật trong hoạt động in
Từ các khái niệm và nội dung trên đây, ta có thể đưa ra được khái niệm cụ thể về năng lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh ngành in đó là khả năng của cán bộ quản lý quản lý nhà nước về ngành in thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản (bao gồm các lĩnh vực: xuất bản; in; phát hành xuất bản phẩm); chỉ đạo, hướng dẫn phát triển sự nghiệp xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm theo đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đạt hiệu quả cao nhất
Trang 2821
1.2.2 Một số tiêu chí cơ bản để đánh giá năng lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh ngành in:
1.2.2.1 Chủ thể quản lý nhà nước đối với kinh doanh ngành in:
Như đã trình bày ở phần trên, Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh ngành in, trực tiếp quản lý bên dưới có cơ quan quản lý về ngành in nói chung và ngành xuất bản nói riêng Ở Việt Nam là Bộ Thông tin và Truyền thông, cụ thể là Cục Xuất bản, in và phát hành Đây là cơ quan trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản (bao gồm các lĩnh vực: xuất bản; in; phát hành xuất bản phẩm); chỉ đạo, hướng dẫn phát triển sự nghiệp xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm theo đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Đối với các địa phương, tỉnh thành, một số chức năng quản lý ngành in được phân cấp cho Sở Thông tin và Truyền thông
1.2.2.2 Một số tiêu chí cơ bản để đánh giá năng lực đội ngũ quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh ngành in:
Các tiêu chí cơ bản để đánh giá năng lực đội ngũ quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh ngành in bao gồm: Phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ
kỹ năng chuyên môn và phương pháp quản lý nhà nước
Thứ nhất, về phẩm chất chính trị là tiêu chí quan trọng nhất, quyết định đến năng lực quản lý nhà nước của đội ngũ quản lý tất cả các ngành nói chung
và đội ngũ quản lý hoạt động kinh doanh ngành in nói riêng Phẩm chất chính trị chính là động lực tinh thần thúc đẩy họ luôn cố gắng vươn lên hoàn thành nhiệm
vụ được giao hay nói cách khác là hoàn thành nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất Phẩm chất chính trị cũng là yêu cầu cơ bản nhất đối với đội ngũ cán bộ quản lý
và đặc biệt là đội ngũ quản lý ngành in do đặc thù hoạt động in là ngành bao hàm giá trị văn hóa cao, nhạy cảm và có nhiệm vụ chính trị, an ninh cũng như góp phần đẩy mạnh xây dựng phát triển kinh tế - xã hội Phẩm chất chính trị đòi
Trang 2922
hỏi đội ngũ quản lý ngành in phải thấm nhuần chủ nghĩa Mac – Lê Nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quán triệt đường lối chủ chương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có tinh thần cương quyết đấu tranh chống tiêu cực xã hội như: tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hóa, sa sút về đạo đức lối sống chạy theo địa vị danh lợi, tranh giành kèn cựa lẫn nhau dẫn đến mất đoàn kết nội bộ, dối trá, lười biếng, suy thoái về tư tưởng chính trị Hay cụ thể hơn là ngăn chặn các biểu hiện làm ăn phi pháp, các hoạt động sản xuất in trái phép như việc in và truyền bá các sản phẩm văn hóa phẩm độc hại, in lậu ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống văn hóa của nhân dân, đi ngược với đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta gây mất an ninh, ổn định xã hội
Thứ hai, về trình độ bao gồm: trình độ học vấn, trình độ quản lý hành chính nhà nước và trình độ chuyên môn nghiệp vụ
- Trình độ học vấn (Trình độ văn hóa) không phải là yếu tố duy nhất quyết định hiệu quả hoạt động của đội ngũ quản lý hoạt động ngành in nhưng đây là tiêu chuẩn quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động của đội ngũ này
Nó là nền tảng cho việc nhận thức, tiếp thu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; là tiền đề tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, các quy định của pháp luật, cản trở việc thực hiện chức năng nhiệm vụ Do đó, trình độ học vấn là tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực quản lý nhà nước của các cán bộ quản lý ngành in
- Trình độ quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước là hệ thống tri thức khoa học về quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước Đó là những kiến thức đòi hỏi các nhà quản lý phải có để giải quyết các vụ việc cụ thể gặp phải trong quá trình điều hành, quản lý Quản lý vừa là hoạt động khoa học, vừa là hoạt động nghệ thuật, cho nên yêu cầu đội ngũ quản lý ngành
in phải am hiểu sâu sắc về kiến thức quản lý và phải vận dụng linh hoạt các kiến thức đó vào giải quyết những vụ việc cụ thể Thực tế cho thấy
Trang 3023
trong quá trình quản lý chỉ dựa vào kinh nghiệm thôi chưa đủ mà phải được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước, để quan đó nâng cao năng lực quản lý nhà nước Hiện nay hạn chế lớn nhất của đội ngũ quản lý ngành in chính là trình độ quản lý nhà nước, để nâng cao năng lực quản lý nhà nước thì cần phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho đội ngũ cán bộ này
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ được hiểu là những kiến thức chuyên môn sâu về một lĩnh vực nhất định được biểu hiện qua những cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học Đây là những kiến thức mà đội ngũ quản lý không thể thiếu khi giải quyết công việc của mình Đối với đội ngũ quản lý ngành in thì trình độ chuyên môn còn đòi hỏi mức độ am hiểu về nghề cao Họ sẽ quản lý tốt hơn nếu đã có các độ chuyên môn nhất định và đặc biệt quá trình đào tạo đó gắn với chuyên môn ngành in, thông thạo về thiết bị cơ bản của ngành in, hiểu được cơ bản thế nào là quy trình in hay cơ chế vận hành, tổ chức hoạt động của các cơ sở in mà mình quản lý Nếu thiếu các kiến thức này các cán bộ quản lý chắc chắn sẽ lúng túng trong việc giải quyết công việc, công việc sẽ khó hoàn thành, hiệu quả quản lý nhà nước sẽ thấp
Thứ ba, về phương pháp quản lý nhà nước
Phương pháp quản lý nhà nước của đội ngũ quản lý ngành in là cách thức mà
họ sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh ngành in đạt hiệu quả cao nhất
Các phương pháp quản lý nhà nước được chia thành hai nhóm:
- Nhóm thứ nhất: Các phương pháp chủ yếu của khoa học quản lý gồm: Phương pháp giáo dục tư tưởng, phương pháp tổ chức, phương pháp kinh
tế, phương pháp hành chính
Trang 3124
- Nhóm thứ hai: Các phương pháp của các môn khoa học khác được sử dụng trong quản lý nhà nước gồm: Phương pháp kế hoạch hóa, phương pháp thống kê, phương pháp toán học, phương pháp xã hội học
Ngoài ra, còn có các yếu tố như sức khỏe, tác phong làm việc, kiến thức thực tế cũng có ảnh hưởng tới năng lực quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ quản lý hoạt động kinh doanh ngành in
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý ngành in:
1.3.1 Các nhân tố nội bộ ngành:
1.3.1.1 Số lượng cơ sở in
Số lượng cơ sở in có những biến động mạnh và theo chiều hướng tích cực hơn do có sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường, nhưng vẫn có chiều hướng gia tăng Song song với một số cơ sở in được đầu tư tốt ra đời là các cơ
sở in cũ kỹ, lạc hậu về công nghệ thiết bị, không đáp ứng được yêu cầu của thị trường đã phải giải thể chuyển sang kinh doanh ngành nghề khác Các cơ sở in
có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu vẫn sản xuất mảng sản phẩm bao bì, nhãn hàng hóa chất lượng cao, tuy vẫn tiếp tục được đầu tư, nhưng không nhiều, có lúc chững lại, cầm chừng
1.3.1.2 Thiết bị, công nghệ và vốn
Thời kỳ suy thoái kéo dài suốt mấy năm qua và lãi suất ngân hàng quá cao
đã ảnh hưởng không ít đến việc đầu tư phát triển của ngành in Việt Nam Theo
số liệu khảo sát của 127 đơn vị thì tổng vốn đầu tư năm 2012 của các đơn vị này
là 578 tỷ đồng, tương đương 28 triệu USD, trong đó chủ yếu ở Hà Nội 20%, TP HCM 62%, các khu vực còn lại chỉ 18% mà phần lớn cũng ở các địa phương khu vực phía Nam Điều đó ít nhiều minh họa cho tấm bản đồ phân bố lực lượng
in của nước ta hiện nay Thực ra lượng vốn đầu tư của toàn ngành năm qua lớn hơn nhiều bởi ngoài các đơn vị đã khảo sát, chỉ tính riêng 2 công ty là My Lan Group và Viettel số vốn đầu tư đã xấp xỉ con số kể trên, trong đó công ty Mỹ
Trang 3225
Lan đã đầu tư tới 20 triệu USD Trong các năm tới, nếu tình hình kinh tế cải thiện hơn, lãi suất ngân hàng giảm hơn nữa và để bảo đảm tăng sản lượng từ 5 đến 10% thì ngành in nước ta cần số vốn đầu tư từ 100 triệu đến 200 triệu USD mỗi năm
Phần lớn số vốn kể trên đầu tư cho máy móc, thiết bị Ở những cơ sở in lớn có nguồn việc tương đối dồi dào và có chiến lược phát triển rõ rệt, đã mạnh dạn đầu tư máy mới và hiện đại Phần lớn các nhà in vừa và nhỏ, nhất là ở các địa phương đầu tư chủ yếu bằng máy móc đã qua sử dụng, đầu tư rẻ, nhanh thu hồi vốn Nhiều doanh nghiệp tư nhân với sự năng động và sáng tạo đã sử dụng những thiết bị cũ để tạo ra những sản phẩm metalize, spot UV, hiệu ứng bóng - sần và những hiệu ứng đặc biệt đáp ứng yêu cầu của khách hàng đối với văn hóa phẩm hoặc bao bì
Việc chuyển đổi công nghệ trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực nhưng cũng đầy thử thách Khâu trước in, chuyển đổi từ CTF sang CTP đang diễn ra khá nhanh và mang lại hiệu quả Hầu hết các cơ sở in lớn đã được trang bị từ 1 đến 3 máy CTP, một số cơ sở in địa phương cũng mạnh dạn đầu tư CTP Chế bản flexo và ống đồng cũng không còn khó khăn như trước nhờ đầu
Trang 33Công nghệ in kỹ thuật số chưa phát triển và đang luẩn quẩn như một mô hình in gia công số lượng ít, các doanh nghiệp in kỹ thuật số đang hoạt động cầm chừng và phải kết hợp với in Offset để tồn tại
Tuy việc đầu tư có chọn lọc hơn, nhưng vẫn còn trùng lặp, thiếu sự đa dạng tạo nên sự chuyên biệt hóa về công nghệ và sản phẩm nên đa số cơ sở in mang dáng dấp của một nhà in tổng hợp, vừa gây lãng phí vốn đầu tư, vừa tạo thêm sức ép trong cạnh tranh ở phân khúc thị phần sản phẩm truyền thống, bỏ ngỏ khá nhiều khoảng trống của thị trường để cho các doanh nghiệp có vốn nước ngoài chiếm lĩnh Số lượng nhà in chuyên biệt chiếm quá ít, đây chính là nguyên nhân
cơ bản của sự cạnh tranh gay gắt hiện nay, tạo nên một thực trạng trớ trêu là vừa thừa lại vừa thiếu về năng lực công nghệ
Theo một số liệu thống kê khác của 717 cơ sở in, tính đến cuối năm 2010, tổng giá trị thiết bị in khoảng: 4.770 tỷ đồng, tổng giá trị nhà xưởng khoảng 1.033 tỷ đồng
1.3.1.3 Nguồn nhân lực:
Theo số liệu công bố gần đây, số lượng lao động toàn ngành hiện nay khoảng 50.000 người trong đó số lao động không qua đào tạo chính quy chiếm tỉ trọng lớn (gần 60%) nên chất lượng lao động chưa cao, năng suất lao động thấp Trong số 5 vạn lao động chỉ có 80% số đó là công nhân lao động trực tiếp, còn lại làm công tác quản lý và lao động gián tiếp, mỗi năm số người đến tuổi về hưu chiếm 5% Như vậy, hàng năm ngành in cần bổ sung ít nhất 2000 người
Trang 3427
mới cơ bản đáp ứng được nhu cầu thực tế Song mỗi năm con số được đào tạo mới chỉ dừng ở 1.213 người Đó là chưa kể đến việc số lao động cần thêm do sự thay đổi công nghệ và mức độ tăng trưởng của ngành in hàng năm Các cơ sở đào tạo nhân lực cho ngành hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu bổ sung và thay thế của các doanh nghiệp, không chỉ do thiếu các cơ sở đào tạo mà còn do không có đầu vào Các cơ sở đào tạo đều cho biết hiện nay cơ số chiêu sinh còn thấp hơn rất nhiều so với khả năng đào tạo của các trường mặc dù chi phí đào tạo không cao Rất ít doanh nghiệp đầu tư kinh phí cho khâu đào tạo, không tự
cử người đi học nghề mà chờ sẵn nguồn cung cấp từ các trường hoặc săn đón lao động từ các doanh nghiệp khác, trong khi việc chiêu sinh của các trường đang rất khó khăn do xã hội không mấy quan tâm đến việc học nghề in như nhiều ngành nghề phổ thông khác Qua khảo sát, hầu hết các doanh nghiệp in đều bức xúc về công tác đào tạo không đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao Nhiều nơi đã đầu tư hàng chục tỷ đồng cho máy móc thiết bị nhưng chất lượng lao động không đáp ứng nên hiệu quả đầu tư thấp, gây lãng phí và chậm thu hồi vốn Ở khu vực miền Trung và miền Tây Nam Bộ vẫn chưa có cơ sở đào tạo mặc dù có nhu cầu thực sự Theo thống kê của 717 cơ sở in thì số lao động được đào tạo đang làm việc tại các cơ sở in có trình độ cao rất thấp Trên đại học: 0,7%; đại học, cao đẳng: 13,85%; trung cấp: hơn 16%; công nhân bậc 2 đến 5: 32%, bậc 6 đến 7: 8,64%
Thu nhập bình quân toàn ngành hiện nay khoảng 6 triệu đồng/người/tháng,
ở các địa phương chỉ hơn 4 triệu đồng, ở mức trung bình so với mặt bằng chung của xã hội Do ít đầu tư vốn, chất lượng lao động và thu nhập thấp nên các nhà
in địa phương càng khó khăn về nguồn công việc, trong khi nhiều đơn hàng lớn, đòi hỏi chất lượng cao lại đổ dồn về các trung tâm in lớn
1.3.2 Các nhân tố ngoài ngành:
1.3.2.1 Thể chế chính trị và mô hình tổ chức thực hiện quản lý nhà nước:
Trang 3528
Bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện những nhiệm vụ chiến lược
và các chức năng của nhà nước vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Các cơ quan nhà nước rất đa dạng, nhiều chủng loại Nhưng thông thưng bộ máy Nhà nước nói chung bao gồm ba loại cơ quan: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp Ở nước ta tồn tại hệ thống các cơ quan:
1 Cơ quan quyền lực Nhà nước (Quốc hội là cơ quan lập pháp và HĐND
là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương);
2 Chủ tịch nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3 Các cơ quan hành chính NN, tức là cơ quan hành pháp (đứng đầu hệ thống này là Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước đối vơí các ngành, lĩnh vực, các UBND cấp tỉnh, huyện, xã và tương đương, các cơ quan chuyên môn của UBND các cấp )
4 Các cơ quan xét xử (Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, Toà án quân sự và các Toà án khác theo luật định)
5 Các cơ quan kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự) Tất cả các cơ quan Nhà nước tạo thành bộ máy Nhà nước Bộ máy Nhà nước là hệ thống thống nhất các cơ quan Nhà nước và liên hệ chặt chẽ vơí nhau theo một cơ chế đồng bộ Mỗi cơ quan Nhà nước là một khâu (mắt xích) không thể thiếu của bộ máy Nhà nước Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước tuỳ thuộc vào hiệu lực, hiệu quả hoạt động của từng cơ quan Nhà nước
Trang 3629
Sơ đồ 1.1: Mô hình cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế tổng thể
1.3.2.2 Môi trường kinh tế vĩ mô:
Những tác động mang tính quốc tế :
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu từ năm 2008 đến nay vẫn chưa chấm dứt, nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ đang bị hạ bậc tín dụng, cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu đang tiềm ẩn những bất ổn, nhiều khu vực kinh
tế lớn của thế giới, kể cả Trung Quốc đang bị lạm phát hoành hành
Những thiên tai lớn của thế giới trong các năm qua đều gây tác động tiêu cực trực tiếp đến ngành công nghiệp in Trận động đất tháng 02/2010 tại Chilê làm giảm lượng cung bột giấy toàn thế giới và làm giá giấy tăng vọt sau đợt tăng giá dữ dội vào tháng 6/2008 Động đất và sóng thần tại Nhật Bản vào tháng 03/2011 lại tạo nên một đợt khan hiếm giấy nữa do nhiều nhà máy giấy bị thiệt hại nghiêm trọng, đến nay vẫn chưa thể phục hồi hoàn toàn Các loại nguyên liệu khác của ngành in, đặc biệt là mực in, phim và hóa chất tăng giá khá mạnh do giá dầu và chi phí môi trường, chi phí vận chuyển tăng cao
Những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong ngành Công nghệ Thông tin là
kỳ tích của nhân loại trong đầu thế kỷ 21, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế và xã hội trên toàn cầu, mặt khác các phương tiện truyền thông hiện đại
Chủ Tịch Nước
Chính Phủ Quốc Hội
Các Bộ, UBND các cấp
Tư Pháp
Trang 3730
đã trở thành đối thủ cạnh tranh nặng ký và lâu dài của truyền thông in vốn phát triển liên tục và mạnh mẽ trong nhiều thế kỷ qua
Những yếu tố tác động trong nước :
Việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO vào năm
2007 đã tạo điều kiện tốt hơn cho việc hội nhập kinh tế và ngược lại sức ép của thị trường quốc tế cũng tác động trở lại thị trường Việt Nam
Luật Doanh nghiệp 2005 tạo sự bình đẳng hơn giữa các loại hình doanh nghiệp và thuận lợi hơn cho việc thành lập doanh nghiệp mới, kể cả các doanh nghiệp nước ngoài
Luật Xuất bản 2004 - 2012 và các văn bản dưới luật ban hành vào các năm tiếp theo đã thông thoáng hơn so với trước đây, tạo môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động doanh nghiệp xuất bản, in và phát hành
Chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước tuy có nhiều tiến bộ nhưng còn thiếu đồng bộ và nhất quán Tình trạng lạm phát và giá cả tăng cao, lãi suất tín dụng ngân hàng khó chấp nhận như hiện nay là những thử thách không nhỏ cho các doanh nghiệp ngành in phần lớn có quy mô còn khá nhỏ
1.4 Kinh nghiệm quản lý hoạt động kinh doanh ngành in với một số nước trong khu vực ASEAN:
1.4.1 Thái Lan:
Thái Lan có lịch sử lâu dài trong công nghiệp in ấn In ấn thường được phân loại thành in thương mại và in bao bì Nó được xếp vào 5 ngành công nghiệp hàng đầu trên thế giới về sản xuất và giá trị thu nhập Ngành công nghiệp in ấn phát triển mạnh ở các nước phương Tây như Mỹ, Anh, Canada, Pháp và một số nước Châu Á như Nhật và Trung Quốc Với tổng giá trị 702 tỷ đô la Mỹ, cao hơn so với năm 2009, riêng doanh thu in bao bì là 510,192 tỷ đô la Doanh số trong 2 năm tới của mảng in ấn thương mại sẽ giảm còn 170 tỷ đô la trong khi
Trang 38Trước khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997, các công ty in Thái Lan chỉ phục vụ thị trường Thái Lan và ưu tiên cho thị trường Thái vì nó dễ làm hơn là xuất khẩu Họ đã hưởng lợi nhuận cao vì không có các nhà in nước ngoài cạnh tranh Đây là bài học đắt giá không chỉ cho ngành công nghiệp in ấn mà còn cho các ngành khác Sau khi mức tiêu thụ của thị trường Thái Lan giảm mạnh do tỷ
lệ thất nghiệp cao, nhiều công ty giải thể, các hoạt động kinh doanh thất bại… nó
đã ảnh hưởng đến yêu cầu in ấn và khối lượng thấp hơn so với thời kỳ hái ra tiền
Trang 3932
trước năm 1997 Chỉ nhà in chất lượng cao với vòng quay vốn tốt mới có thể quản trị sản xuất và tìm kiếm đơn đặt hàng xuất khẩu để khai thác công suất máy móc và tận dụng nguồn lực Một số nhà in đã chấp nhận đơn hàng để cho máy hoạt động thậm chí với mức lãi thấp hơn so với các công việc địa phương tại thời điểm đó Một số thu được lợi nhuận cao và tập trung chủ yếu vào phần xuất khẩu hơn là tiêu thụ ở thị trường Thái Lan vì họ chọn sản phẩm in chất lượng cao chứ không phải là sản phẩm in ấn bình thường với giá rẻ Một số nhà in chọn cơ cấu sản phẩm với tỉ lệ 50 : 50 giữa thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước Nhiều công ty vừa và nhỏ không thể theo kịp và từ từ giảm vốn và một số phải ngừng kinh doanh Các nhà in lớn cố gắng học hỏi, cải tiến và nghiêm khắc tuân thủ Tiêu chuẩn Quốc tế để khuếch trương hình ảnh chất lượng
và xem in ấn xuất khẩu là cơ hội tương lai của họ Trong những năm gần đây, các cơ quan quản lý nhà nước đang hướng đến cải tiến nhiều hơn về tổ chức quản
lý sản xuất để đạt được các tiêu chuẩn phương Tây và yêu cầu công việc sản phẩm in ấn phải có chứng chỉ FSC (Hội đồng bảo vệ Rừng) Thời gian đầu giấy được sản xuất từ cây trồng có chứng nhận FSC đều được sản xuất ở các nước phương Tây chứ không phải tại Thái Lan Sau đó khách hàng đòi hỏi có chứng chỉ FSC sản xuất tại Thái Lan để quản lý dễ dàng hơn
1.4.2 Malaysia:
Malaysia cho rằng ngành công nghiệp in là một trong những ngành quan trọng tiêu biểu cho ngành công nghiệp thông tin và truyền thông So với truyền thông điện tử, các sản phẩm in cho giá thành rẻ nhất và là một dạng truyền đạt
và phổ biến thông tin trực tiếp nhất Nó hết sức tiện lợi và dễ dàng Thêm nữa, ngôn từ được in ra là phương tiện truyền đạt chính trên các bao bì thực phẩm và các sản phẩm hàng tiêu dùng Nhiều người dự đoán rằng sự phát triển của ngành công nghiệp in sẽ đi xuống trong thập kỷ trở lại đây vì ngành truyền thông điện
tử đang dần chiếm lĩnh vị trí của ngành in Trong thực tế, ngành in vẫn giữ vai trò quan trọng và vẫn đang là cơ hội kinh doanh sinh lợi trong ngành công
Trang 40số lượng công nhân toàn ngành khoảng 23,000 lao động
Có 147 công ty đã đáp ứng theo Bản quyền Sản xuất (Manufacturing Licence) của MITI trong quá trình sản xuất, phần lớn các công ty in đã đầu tư công nghệ CtP Việc sử dụng công nghệ này đã giúp gia tăng sản lượng cũng như chất lượng và giảm thiểu lãng phí
Các công ty in Malaysia được khuyến khích cải tiến bằng cách cộng tác với các đối tác nước ngoài đã có tiếng trên thị trường Họ cần phải hiệu quả hơn, cải tiến nhiều hơn, tháo vát hơn và chuyển hướng dịch vụ để tạo ra vị trí thích hợp cho mình trong cuộc cạnh tranh với thị trường nước ngoài Các công ty in nội địa của Malaysia không phụ thuộc vào các khách hàng nước ngoài để nắm thế chủ động mà rất năng động trong thị trường dịch vụ in ấn quốc tế Để trở thành một đối thủ cạnh tranh trên trường quốc tế, các công ty in Malaysia và nhân viên của họ phải được chuẩn bị sẵn sàng thay đổi để thích nghi với môi trường bên ngoài Để nhanh chóng đáp ứng được thách thức, họ cần phải được cập nhật các
kỹ năng của người công nhân hiện nay, tiếp thu các kỹ thuật mới bằng cách tham gia vào các khóa học về chuyên ngành in có cấp chứng chỉ, văn bằng hoặc trình độ cao nhất có thể thông qua các tổ chức đào tạo chuyên ngành tại Malaysia