DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Sự khác nhau về bản chất của hỗ trợ giảm nghèo và bao cấp 10 Bảng 4.2 Thực trạng nhà ở của hộ nghèo trên địa bàn huyện Mỹ Hào 55 Bảng 4.3 Tình hình nhà ở của hộ ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ THU HIỀN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
HỖ TRỢ NHÀ Ở CHO HỘ NGHÈO TẠI HUYỆN MỸ HÀO,
TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ THU HIỀN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
HỖ TRỢ NHÀ Ở CHO HỘ NGHÈO TẠI HUYỆN MỸ HÀO,
TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60.62.01.15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN VIẾT ĐĂNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ
rõ nguồn gốc
Mỹ Hào, ngày 15 tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Thu Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực và cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của các tổ chức và cá nhân
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Viết Đăng, người thầy đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin được cảm ơn Viện đào tạo Sau đại học, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách đã tạo điều kiện để tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn: lãnh đạo Uỷ ban nhân dân huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên đã tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu, phòng Lao động – Thương binh & xã hội, phòng Thống kê, Uỷ ban nhân dân các xã Cẩm Xá, Thị Trấn Bần Yên Nhân, các phòng ban trên địa bàn huyện Mỹ Hào và các hộ gia đình nơi tôi nghiên cứu đã dành thời gian quý báu để tiếp chuyện và cung cấp số liệu, tư liệu để tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè và các thầy cô giáo đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Mỹ Hào, ngày 15 tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Thu Hiền
Trang 5PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỖ TRỢ NHÀ Ở
2.1.4 Nội dung nghiên cứu tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo 25
2.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện chương trình 28
Trang 6PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
4.1 Tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo trên địa
4.1.1 Khái quát về chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo ở huyện Mỹ Hào
4.1.2 Thực trạng thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo 52
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở
4.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của chương trình hỗ trợ nhà ở cho
Trang 74.3.3 Hoàn thiện việc bình xét hộ nghèo 83
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Sự khác nhau về bản chất của hỗ trợ giảm nghèo và bao cấp 10
Bảng 4.2 Thực trạng nhà ở của hộ nghèo trên địa bàn huyện Mỹ Hào 55 Bảng 4.3 Tình hình nhà ở của hộ nghèo trước khi có chương trình 57 Bảng 4.4 Bảng tổng hợp đối tượng thụ hưởng chương trình hỗ trợ nhà ở
Bảng 4.5 Tình hình huy động nguồn lực khi tham gia chương trình năm 2012 61 Bảng 4.6 Lượng vốn đã huy động để hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo tại huyện
Bảng 4.7 Tình hình 02 xã nghiên cứu hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo 66 Bảng 4.8 Bảng tổng hợp kinh phí hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo huyện Mỹ
Bảng 4.9 Tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo ở
Bảng 4.10 Tổng hợp kết quả thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo 71 Bảng 4.11 Nhận định về hiệu quả của việc thực hiện chương trình hỗ trợ nhà
Bảng 4.12 Tình hình các hộ nghèo sau khi tham gia chương trình 74 Bảng 4.13 Tác động của chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo đến y tế, giáo
Bảng 4.14 Kết quả huy động sự ủng hộ của cộng đồng trong thực hiện
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Sơ đồ: 2.1 Trình tự lập, phê duyệt đề án hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo 21
Sơ đồ: 2.2 Quy trình phân bổ nguồn vốn hỗ trợ làm nhà ở tới các hộ 24
Sơ đồ 4.1 Sơ đồ tổ chức thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo 45
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 11PHẦN I
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một vấn đề xã hội bức xúc hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam cũng như ở Hưng Yên nói riêng
Trên thế giới hiện nay có tới 1/4 dân số đang sống trong tình trạng đói nghèo Đói nghèo không chỉ làm cho hàng triệu người không có cơ hội được hưởng những thành quả văn minh tiến bộ của loài người mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội đối với sự phát triển, tàn phá môi trường sinh thái Vì vậy, nếu đói nghèo không được giải quyết, thì không một mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế, cũng như quốc gia đặt ra như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, hoà bình ổn định, bảo đảm các quyền con người được thực hiện Cũng như các nước trong khu vực và trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn đặt con người là vị trí trung tâm của sự phát triển, coi xoá đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội
Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới, kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh, đời sống đại bộ phận nhân dân đã được nâng lên một cách rõ rệt Xóa đói giảm nghèo từ chỗ là phong trào (giai đoạn 1990-1997) đến năm 1998 đã trở thành một chương trình mục tiêu quốc gia Qua 7 năm thực hiện phong trào
và 10 năm thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm đáng kể, bình quân mỗi năm giảm 2% Tuy nhiên một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt là ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa vẫn đang chịu cảnh đói nghèo, chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sống
Nghèo đói là vấn đề toàn cầu Trong nhiều chương trình nghị sự Liên Hiệp quốc đã thảo luận vấn đề này và kêu gọi thế giới chống đói nghèo Ngày 17/10 là
ngày Liên Hiệp quốc chọn là ngày “Thế giới chống đói nghèo” và ở Việt Nam UBTW MTTQ và cũng chọn đó là ngày phát động quỹ “Vì người nghèo”
Trang 12“Có an cư mới lạc nghiệp” đó là phong tục truyền thống lâu đời của
người dân Việt Nam Xoá đói giảm nghèo là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng
bộ, chính quyền các cấp, là nhu cầu cần thiết và chính đáng của người dân; đây
là nhiệm vụ lâu dài, trọng tâm, thường xuyên trong phát triển kinh tế- xã hội của địa phương
Thực hiện chính sách đổi mới từ nửa cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế xã hội Tỷ lệ đói nghèo chung của nước ta từ 58,1% năm 1993 xuống còn 14,18% năm 2008 Việt Nam được coi là một trong những nước đang phát triển thành công nhất thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực xoá đói giảm nghèo
Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện Uỷ- UBND huyện,
sự tham gia tích cực của UBMTTQ huyện, các đoàn thể, doanh nghiệp và sự
nỗ lực của nhân dân, kinh tế- xã hội của huyện đã từng bước phát triển Các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội được thực hiện đồng bộ, hiệu quả cơ bản đã bao phủ được đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, hộ nghèo đặc biệt khó khăn của huyện Phong trào xoá đói giảm nghèo được triển khai sâu rộng, thu hút sự tham gia của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức kinh tế, lực lượng vũ trang, cộng đồng, các tầng lớp dân cư
Trong những năm qua, huyện nhà đã được sự quan tâm hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước, các cấp chính quyền bằng nhiều hình thức, nhiều chương trình như: Cho người nghèo vay vốn sản xuất kinh doanh, phát triển chăn nuôi, nước sạch, nhà ở, đặc biệt là chương trình hỗ trợ xây dựng nhà ở cho người nghèo Với
phương châm: “Nhà nước hỗ trợ, cộng đồng giúp đỡ, hộ dân tham gia đóng góp
để xây dựng nhà ở” Đây là một chính sách an sinh, mang ý nghĩa nhân văn sâu
sắc của Nhà nước, góp phần nâng cao tính hiệu quả của công tác xoá đói giảm nghèo bền vững của cả nước cũng như của tỉnh, của huyện Đến hết năm 2013
Trang 13chương trình đã mang lại nhiều đổi thay trên quê hương Mỹ Hào, đặc biệt là sự cải thiện đáng kể về cơ sở hạ tầng và cuộc sống của nhân dân Kết quả thực hiện chương trình huyện Mỹ Hào đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu trên giao hỗ trợ
hộ nghèo về nhà ở Năm 2013 tỷ lệ hộ nghèo trong toàn huyện chỉ còn 3,5 %
Để thấy rõ được chương trình hỗ trợ xây dựng nhà ở cho người nghèo tôi lựa
chọn đề tài: “ Nghiên cứu tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo tại huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm góp phần thực hiện xóa đói, giảm nghèo, đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ hộ nghèo ở huyện Mỹ Hào- tỉnh Hưng Yên
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo Đánh giá thực trạng tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho
hộ nghèo trên địa bàn huyện Mỹ Hào- tỉnh Hưng Yên
Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo ở huyện Mỹ Hào- tỉnh Hưng Yên
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo trên địa bàn huyện Mỹ Hào- tỉnh Hưng Yên
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi về thời gian
- Số liệu thứ cấp: thu thập số liệu, báo cáo các năm 2011, 2012, 2013
- Số liệu sơ cấp: thu thập tình hình của các hộ trong năm 2011,2012, 2013
Trang 141.3.2.2 Phạm vi về không gian
Đề tài nghiên cứu tại huyện Mỹ Hào- tỉnh Hưng Yên trong đó tập trung nghiên cứu tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo tại 2 đơn vị trọng điểm là Thị Trấn Bần Yên Nhân và xã Cẩm Xá
1.3.2.3 Phạm vi về nội dung
Tập trung nghiên cứu tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho
hộ nghèo và đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện hiệu có quả chương trình này ở huyện Mỹ Hào- tỉnh Hưng Yên
Trang 15PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
HỖ TRỢ NHÀ Ở CHO HỘ NGHÈO
2.1 Cơ sở lý luận về hỗ trợ nhà ở
2.1.1 Hộ nghèo và hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo
* Khái niệm về hộ nghèo
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như
sau: "Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại
Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta”
Theo Nguyễn Thị Hoa (2010), chính sách xoá đói giảm nghèo có thể được hiểu đó là những quyết định, qui định của Nhà nước được cụ thể hoá trong các chương trình, dự án cùng với nguồn lực, các thể thức, qui trình hay
cơ chế thực hiện nhằm tác động vào các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích cuối cùng là xoá đói giảm nghèo
Theo Đỗ Kim Chung (2010), hỗ trợ giảm nghèo là quá trình sử dụng cơ chế chính sách, nguồn lực của Chính phủ, của các tổ chức kinh tế - xã hội
Trang 16trong và ngoài nước để hỗ trợ cho quá trình xoá đói giảm nghèo thông qua thực hiện các cơ chế chính sách, các giải pháp đầu tư công để tăng cường năng lực vật chất và nhân lực tạo điều kiện cho người nghèo và vùng nghèo có cơ hội phát triển nhanh và bền vững, giải quyết các vấn đề nghèo đói có tính vùng, từng nhóm mục tiêu và xây dựng tính bền vững và tự lập cho cộng đồng Hỗ trợ nhà
ở cho hộ nghèo là một trong những cách thức để hỗ trợ giảm nghèo
Theo Trần Chí Thiện (2006), hộ nghèo là những hộ gia đình có hoàn cảnh sống khó khăn và thiếu thốn về điều kiện vật chất Họ không được thoả mãn những nhu cầu tối thiểu của con người để duy trì cuộc sống như cơm ăn chưa no, áo không đủ mặc, nhà cửa không che được mưa nắng
Theo Vũ Ngọc Thư (2014) Chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo là một trong những chương trình xoá đói giảm nghèo quan trọng Nó mang tính
đa chiều, có thể tác động trực tiếp đến giảm sự nghèo đói cho người dân và tác động gián tiếp thông qua những hiệu ứng trung gian Chương trình góp phần thực hiện các quan điểm và nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước: đảm bảo công bằng xã hội, đoàn kết các dân tộc, tương trợ giúp nhau cùng phát triển Chương trình giúp cho các hộ nghèo có nhà ở
ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững góp phần cải thiện đời sống cho người nghèo, đóng góp tích cực cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo của đất nước, từng bước nâng cao đời sống của người dân, hướng tới mục đích đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, giảm khoảng cách giàu nghèo, phát triển kinh tế - xã hội
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho
Trang 17những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc 1997)
Đối với Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian từ 1993 đến cuối năm 2005
Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27
tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói
và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005", thì những hộ gia đình có thu nhập bình
quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo,
ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000đồng/người/tháng (2.400.000đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo,
ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Từ những năm 1990 tư duy về xóa đói giảm nghèo đã tràn ngập trong các tài liệu về phát triển nông thôn ở Đông Nam Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng Sau cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ vào năm 1997, tất cả các nước Đông Nam Á đã cam kết sử dụng những thước đo mới cho việc giảm nghèo Đói nghèo, theo thuyết hiện đại hóa, liên quan mật thiết đến sự kém phát triển, lạc hậu của vùng nông thôn Thuyết hiện đại hóa cho rằng, một phần nguyên nhân của sự kém phát triển xuất phát từ phân bổ đất đai và cải cách ruộng đất là nhân tố quan trọng trong chiến lược giảm nghèo đối với người dân nông thôn trong hiện đại hóa nông nghiệp
Trang 18Xét theo quan điểm của trường phái hiện đại hóa thì Việt Nam được xác định là một xã hội truyền thống với nền văn minh tiểu nông cổ truyền độc canh cây lúa, thủ công lạc hậu, chủ yếu là tự cấp tự túc Vì vậy, Việt Nam cho rằng cần thiết phải thực hiện các giải pháp phát triển tổng hợp về kinh tế- xã hội nhằm tạo ra những bước phát triển mới trong tiến trình đến hiện tại từ truyền thống Nhìn lại quá trình phát triển 25 năm qua, Việt Nam được coi là một trường hợp đặc biệt của sự chuyển đổi xã hội hỗn hợp thông qua mối tương tác giữa các chính sách phát triển và chính sách giảm nghèo
Tiến trình này sử dụng nguồn lực trong bối cảnh cụ thể của chính sách “đổi
mới” được thực hiện vào cuối những năm 1980 Cơ sở của chính sách này là
sự phân chia lại đất đai được thực hiện vào cuối những năm 1950 ở miền Bắc và ở miền Nam vào cuối những năm 1975
Ngoài ra, bắt đầu từ những năm 1990, có rất nhiều các tổ chức quốc tế vào Việt Nam với mục đích giúp Việt Nam xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế- xã hội như Ngân hàng Thế giới ( WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Liên hợp quốc (UNDP), các tổ chức phi chính phủ ( NGOs), Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) Thuyết hiện đại hóa được các tổ chức này vận dụng và xem như sự đổi mới trong phát triển, nhất là trong xóa đói, giảm nghèo Trong thời gian này, Liên hợp quốc đã gợi ý cho Việt Nam một khung
lý thuyết nhằm phát triển năng lực để xóa đói, giảm nghèo Xuất phát từ nhận định có 5 nguyên nhân chính gây ra tình trạng nghèo đói ở Việt Nam, nhất là ở nông thôn: thứ nhất là do khác biệt về địa lý, ngôn ngữ, xã hội và thông tin; thứ hai là không được tiếp cận với nguồn lực sẵn có như đất đai, tín dụng, kỹ thuật; thứ ba là thiếu sự tham gia của nhân dân vào quá trình hoạch định và thực hiện các chương trình của Chính phủ về kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa; thứ tư là những rủi ro nghiêm trọng do bão lụt, sâu hại, bệnh tật, sinh con ngoài ý muốn; thứ năm là tính thiếu bền vững về tài chính và môi trường Để khắc phục 5 nguyên nhân chính này, Liên hợp quốc cho rằng, Việt Nam cần phải xác định
Trang 19hệ thống các nhân tố bao gồm: (i) phân bổ đất đai hợp lý; ( ii) nâng cấp hạ tầng
cơ sở nông thôn; (iii) bảo đảm công ăn việc làm ổn định cho người lao động; (iv) hoàn thiện nền tài chính vi mô; (v) bảo đảm các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế Bên cạnh đó, hệ thống này phải bảo đảm những nguyên tắc về kinh tế- xã hội mà Ngân hàng Thế giới đã nêu ra; đó là một nền móng pháp luật, một môi trường chính sách lành mạnh bao gồm sự ổn định kinh tế vĩ mô, tiếp đến là đầu tư vào con người và kết cấu hạ tầng, cuối cùng là bảo vệ những người dễ bị tổn thương và bảo vệ môi trường thiên nhiên
Nhìn chung sau 25 năm, tăng trưởng kinh tế đã có những tác động mạnh đến sự chuyển đổi cơ cấu xã hội lao động- nghề nghiệp ở Việt Nam Điều này đã tác động mạnh đến năng lực thị trường và phân tầng mức sống ( giàu- nghèo) ở nông thôn Sự đột biến xuất hiện ở quy mô hộ gia đình và người lao động biết tận dụng thời cơ mới để phất lên, song mức độ ổn định rất bấp bênh Bên cạnh đó, đặc điểm nổi bật của quá trình đổi mới thời gian qua
là chuyển đổi không đều; mức sống chung của cả nước tăng lên liên tục trong quá trình đổi mới nhưng mức sống trung bình của nông thôn chưa bằng một nửa mức sống trung bình của đô thị; nông thôn phía Nam và đồng bằng vẫn giàu có hơn nông thôn phía Bắc và miền núi Mức nghèo nói chung là thấp,
đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa Tình trạng “nghèo đói” ở Việt Nam vẫn tồn tại
thách thức mọi nỗ lực can thiệp về chính sách của Chính phủ cũng như của cộng đồng thế giới Dường như những giải pháp giảm nghèo mà Việt Nam đã
và đang tiến hành vẫn chưa phù hợp, chưa tác động đến nguyên nhân gốc rễ của nghèo đói của các vùng miền trong cả nước
Trong một thời gian dài, các nhà kinh tế và nhiều nhà nghiên cứu đã định nghĩa giàu nghèo theo quan điểm định lượng, tức là đưa ra một chỉ số để
đo lường chủ yếu nhằm đơn giản hoá việc hoạch định chính sách
Trang 20Bảng 2.1 Sự khác nhau về bản chất của hỗ trợ giảm nghèo và bao cấp
• Là làm thay một công việc nào
đó, sự can thiệp trực tiếp vào hoạt
động kinh tế - xã hội nào đó thông
qua trợ giá hay cho không
• Được thực hiện chủ yếu thông
qua hệ thống giá cả
• Thường làm nhiễu loạn hệ thống
giá cả
• Ít tính đến nhóm mục tiêu
• Giảm an sinh xã hội, giảm dịch
chuyển tài nguyên, tạo nhiễu loạn giá
cả, tạo cầu thừa, lạm dụng nguồn lực,
không tiết kiệm, kém hiệu quả, tăng
gánh nặng tài chính quốc gia
• Là những hành động, chủ trương thực hiện sự giúp đỡ một nhóm mục tiêu nhất định, thông qua hỗ trợ vật chất, phát triển nhân lực, thể chế và tổ chức
• Được thực hiện chủ yếu không thông qua hệ thống giá cả
• Ít làm nhiễu loạn hệ thống giá cả
• Tính đến nhóm mục tiêu của hỗ trợ
• Phát huy những tác động ngoại ứng tích cực, khắc phục tác động của ngoại ứng tiêu cực như các hoạt động đầu tư kinh doanh làm suy thoái môi trường
+ Một số quan điểm về "nghèo":
- Hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu á-Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9-1993 tại Bangkok, Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về
nghèo như sau: "Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả
mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương”
- Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm:"Con người bị coi là
nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại,
Trang 21rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng Khi đó họ không thể có những
gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực."
- Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995
đưa định nghĩa về nghèo:"Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp
hơn dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại."
- Còn nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình
"Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam-1995" đã đưa ra định nghĩa:"Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế."
Vậy tiêu chí để xác định nghèo ở nước ta là:
- Xác định giàu nghèo là một việc khó vì nó gắn với từng thời điểm, từng quốc gia, và được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau Ở nước ta, từ khi
có chủ trương xoá đói giảm nghèo, các cơ quan trong nước và quốc tế đã đưa
ra những chuẩn mực để xác định tình hình đói nghèo Đó là: chuẩn mực của
bộ lao động thương binh xã hội, chuẩn mực của Tổng cục Thống Kê, chuẩn mực đánh giá của Ngân Hàng Thế Giới để có cơ sở xây dựng chương trình xoá đói giảm nghèo phù hợp với tập quán và mức sống ở nước ta hiện nay
2.1.2 Vai trò của chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo
Chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo là một hình thức của hỗ trợ giảm nghèo Hỗ trợ giảm nghèo là chủ trương phổ biến của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển và chậm phát triển vì những lý do cơ bản sau: Thứ nhất, nghèo đói và suy dinh dưỡng vẫn tồn tại ở hầu hết các nước Thứ hai, người nghèo không thể tự vươn lên nếu thiếu sự hỗ trợ từ chính phủ, xã hội và cộng đồng Người nghèo thường khó tự thoát nghèo nếu không có sự
hỗ trợ Họ thường rơi vào vòng luẩn quẩn: thiếu kiến thức, thiếu vốn, năng suất thấp, đói ăn, tàn phá tài nguyên thiên nhiên, suy thoái môi trường, sản
Trang 22xuất khó khăn dẫn đến làm tăng nghèo đói Thứ ba, thực hiện hỗ trợ giảm nghèo là phát huy các tác động của ngoại ứng tích cực, hạn chế ngoại ứng tiêu cực, khắc phục tính không hoàn hảo của thị trường Thứ tư, hỗ trợ giảm nghèo
sẽ đảm bảo thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội, ổn định chính trị và xã hội
Chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo là một trong những chương trình xoá đói giảm nghèo quan trọng Nó mang tính đa chiều, có thể tác động trực tiếp đến giảm sự nghèo đói cho người dân và tác động gián tiếp thông qua những hiệu ứng trung gian Chương trình góp phần thực hiện các quan điểm và nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước: đảm bảo công
bằng xã hội, đoàn kết các dân tộc, tương trợ giúp nhau cùng phát triển
Chương trình giúp cho các hộ nghèo có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững Chương trình không chỉ góp phần cải thiện đời sống cho người nghèo mà còn đóng góp tích cực cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo của đất nước, từng bước nâng cao đời sống của người dân, hướng tới mục đích đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, giảm khoảng cách giàu nghèo, phát triển kinh tế - xã hội
2.1.3 Đặc điểm của việc hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo
* Tổ chức tham gia hỗ trợ
Hỗ trợ cho hộ nghèo, đời sống khó khăn là các hoạt động tổng hợp lồng ghép của Chính phủ và các tổ chức khác:
Chính phủ nước ta đã xây dựng nhiều chương trình để hỗ trợ cho các
hộ nghèo như chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo 2006 – 2010, chương trình 134, chương trình 135 giai đoạn I, II, chương trình 30a…
Các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, Hội Chữ thập đỏ cũng tích cực thực hiện giúp đỡ hỗ trợ cho người nghèo
Các tổ chức phi chính phủ trên thế giới và trong nước cũng tham gia vào các chương trình dự án hỗ trợ cho người nghèo
Trang 23Các tổ chức kinh tế - xã hội như các doanh nghiệp, các đoàn thể xã hội, các hội nghề nghiệp đều có hoạt động nhằm hỗ trợ cho người nghèo
Cộng đồng dân cư cùng nơi sinh sống với người nghèo Cộng đồng này gồm có dòng họ, hàng xóm cùng nhau tích cực phát huy tinh thần tự quản, tự lập, giúp đỡ các hộ nghèo
Các đối tượng hỗ trợ giảm nghèo khá rộng nên cần có tổ chức hoạt động lồng ghép hiệu quả ở địa phương, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực
và hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững
* Đối tượng được hỗ trợ
Để hướng tới mục tiêu xoá đói giảm nghèo bền vững và nhanh chóng, việc hỗ trợ giảm nghèo nhằm vào các đối tượng chủ yếu như sau:
Người nghèo: là nhóm mục tiêu cuối cùng mà việc hỗ trợ giảm nghèo hướng tới Do đó, các biện pháp hỗ trợ cần phải hướng tới tạo điều kiện cho người nghèo được đáp ứng các nhu cầu cơ bản
Hộ nghèo: là các hộ có mức thu nhập bình quân dưới ngưỡng nghèo đói theo quy định của Chính phủ hay của địa phương Đây là đơn vị cơ bản để tính mức độ đói nghèo trong cộng đồng dân cư ở Việt Nam Việc hỗ trợ thông qua hộ có nhiều ưu điểm: một là, hộ là đơn vị cơ bản cuối cùng của cộng đồng; hai là, hộ là tế bào kinh tế gắn kết thành viên trong gia đình để thực hiện các hoạt động sản xuất và tái sản xuất kinh doanh; ba là, đơn vị hộ tiện lợi cho việc quản lý hành chính khi tiến hành các biện pháp hỗ trợ
Thôn, bản nghèo: ở nhiều vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo có nhiều thôn bản có tỷ lệ hộ nghèo khá cao Phần lớn là do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, khan hiếm tài nguyên Vì vậy, cần phải có sự
hỗ trợ để giảm nghèo
Xã nghèo: tỷ lệ xã nghèo ở một số địa phương cũng rất cao nếu ở cấp thôn bản sự hỗ trợ giảm nghèo chưa đủ điều kiện để cả xã xoá đói giảm nghèo
Trang 24Huyện nghèo: nếu chỉ tập trung giải quyết vấn đề xoá đói giảm nghèo ở cấp hộ, thôn bản, xã thì vẫn chưa đảm bảo cho giảm nghèo bền vững Vì vậy, đối tượng hỗ trợ giảm nghèo còn bao gồm cả cấp huyện
Vùng nghèo: các vấn đề nghèo đói có tính vùng do có sự khác nhau về nguồn tài nguyên Ở nước ta tỷ lệ nghèo còn cao ở các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên do đó các biện pháp hỗ trợ giảm nghèo không thể chỉ mang tính chung chung mà phải có các chương trình giảm nghèo mang tính vùng
Vì vậy, Chính phủ nước ta đã có các chương trình miền núi Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ… để giải quyết vấn đề có tính vùng
Đối tượng hỗ trợ cụ thể của chương trình hỗ trợ nhà ở là hộ nghèo Căn
cứ vào tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong từng thời kỳ mà Chính phủ ra Quyết định về việc ban hành chuẩn hộ nghèo áp dụng cho từng giai đoạn Năm 2005, Chính phủ ra Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2006 – 2010 Theo nội dung của Quyết định thì hộ nghèo là những hộ như sau:
• Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
• Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Năm 2011, Chính phủ ra Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2011 – 2015 Theo nội dung của Quyết định thì hộ nghèo, hộ cận nghèo là những hộ như sau:
• Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
• Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
• Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng
Trang 25• Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
Phần lớn các hộ nghèo ở khu vực miền núi là đồng bào dân tộc thiểu
số Theo khái niệm truyền thống thì đồng bào dân tộc là những đồng bào thuộc dân tộc thiểu số trong cơ cấu dân số nói chung của một nước Họ có những đặc trưng về phong tục tập quán và thường sống ở các vùng miền núi, nơi khai thác điều kiện tự nhiên còn dễ dàng Khái niệm về vùng đồng bào dân tộc và miền núi cơ bản là đồng nhất với nhau Tức là, nói tới vùng đồng bào dân tộc là đồng nghĩa với vùng miền núi và ngược lại Tuy nhiên ở một
số quốc gia trong đó có Việt Nam có một bộ phận đồng bào dân tộc không sống ở miền núi mà sống ở vùng đồng bằng nhưng chiếm tỷ trọng nhỏ nên
dân tộc và miền núi còn có những điểm khác nhau tuy không lớn
Vùng đồng bào dân tộc và miền núi có các cộng đồng dân cư với những phong tục tập quán và bản sắc văn hoá riêng Những bản sắc văn hoá riêng trong sản xuất và sinh hoạt của các dân tộc làm phong phú thêm bản sắc dân tộc của đất nước Đó là tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc và trong từng cộng đồng dân tộc, cần cù trong lao động sản xuất, các kinh nghiệm khai thác tài nguyên rừng và canh tác trên đất dốc, những nghề thủ công truyền thống như rèn, đúc, dệt thổ cẩm với các loại sản phẩm đa dạng và có giá trị văn hoá cao, các loại hình nhà ở độc đáo gắn với điều kiện địa phương và tập quán dân tộc Tuy nhiên, tập quán du canh du cư, đốt rừng làm nương rẫy, tệ nạn tảo hôn, cưới hỏi tốn kém, ma chay, chữa bệnh mê tín dị đoan… đã ảnh hưởng không
nhỏ tới đời sống của đồng bào dân tộc
Xã thuộc vùng dân tộc và miền núi được xác định theo 3 khu vực: Xã khu vực III là xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất; xã khu vực II là
xã có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn nhưng đã tạm thời ổn định; xã khu vực I là các xã còn lại
Xã khu vực III:
Trang 26Có từ 1/3 số thôn đặc biệt khó khăn trở lên
- Có tỷ lệ hộ nghèo từ 55% trở lên
- Công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu: Thiếu hoặc có nhưng còn tạm bợ
từ 6/10 loại công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu trở lên
- Các yếu tố xã hội: Có ít nhất 3 trong 4 yếu tố sau:
+ Chưa đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở
+ Chưa đủ điều kiện khám chữa bệnh thông thường Trên 50% số thôn chưa có y tế thôn
+ Trên 50% số hộ chưa được hưởng thụ và tiếp cận với hệ thống thông tin đại chúng
+ Trên 50% cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở chưa có trình độ từ
Xã thuộc khu vực II:
- Không có hoặc có dưới 1/3 số thôn đặc biệt khó khăn
- Có tỷ lệ hộ nghèo từ 30% đến dưới 55%
- Về kết cấu hạ tầng thiết yếu: Thiếu hoặc có nhưng còn tạm bợ từ 3/10 loại công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu trở lên
- Các yếu tố xã hội: Có ít nhất 3 trong 4 yếu tố sau:
+ Chưa đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở
+ Từ 10 đến dưới 50% số thôn chưa có y tế thôn nhưng đã cơ bản đảm bảo các điều kiện khám chữa bệnh thông thường
Trang 27+ Trên 80% số hộ thường xuyên được hưởng thụ và tiếp cận với hệ thống thông tin đại chúng
+ Từ 30% cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở chưa có trình độ từ sơ cấp trở lên
- Điều kiện sản xuất: Đã bắt đầu hình thành các vùng sản xuất hàng hóa, hầu hết đồng bào đã áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Đã có hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư đến thôn
- Địa bàn cư trú: Các xã liền kề hoặc thuộc các thành phố, thị xã, thị trấn, các khu công nghiệp, các trung tâm huyện lỵ, cửa khẩu phát triển, các xã có điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thuận lợi cho phát triển sản xuất và đời sống
Ngân sách trung ương hỗ trợ để xây dựng nhà ở theo đối tượng quy định Việc hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo bảo đảm công khai, công bằng và minh bạch, phù hợp với phong tục tập quán của mỗi dân tộc, vùng, miền, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, phù hợp với điều kiện thực tiễn và gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương
Nhà nước hỗ trợ, cộng đồng giúp đỡ, hộ gia đình tham gia đóng góp để xây dựng được một căn nhà cho hộ nghèo, giúp hộ nghèo có nhà ở kiên cố, từng bước nỗ lực thoát nghèo
Trang 282.1.4 Nội dung nghiên cứu tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo
2.1.4.1 Chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo
Chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo được triển khai trên phạm vi
cả nước Thực hiện chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở nhằm mục đích cùng với việc thực hiện các chính sách thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010, Nhà nước trực tiếp hỗ trợ các hộ nghèo để
có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống; góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững
Đối tượng được hỗ trợ về nhà ở theo chương trình này là đối tượng có
đủ ba điều kiện sau:
Là hộ nghèo (theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010), đang cư trú tại địa phương, có trong danh sách hộ nghèo do Ủy ban nhân dân cấp xã quản
lý tại thời điểm Quyết định này có hiệu lực thi hành
Hộ chưa có nhà ở hoặc đã có nhà ở nhưng nhà ở quá tạm bợ, hư hỏng, dột nát, có nguy cơ sập đổ và không có khả năng tự cải thiện nhà ở
Hộ không thuộc diện đối tượng được hỗ trợ nhà ở theo quy định tại Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn và theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác
Thực hiện ưu tiên hỗ trợ trước cho các đối tượng theo thứ tự sau đây:
• Hộ gia đình có công với cách mạng
• Hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số
• Hộ gia đình trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai
• Hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn (già cả, neo đơn, tàn tật…)
Trang 29• Hộ gia đình sinh sống trong vùng đặc biệt khó khăn
2.1.4.2 Công tác tuyên truyền
Công tác tuyên truyền nhằm truyền bá, giáo dục, giải thích để nâng cao
về nhận thức; bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, xây dựng thành niềm tin; thúc đẩy mọi người hành động một cách tự giác, nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra
Công tác tuyên truyền các chính sách của Đảng, Nhà nước là hoạt động
có mục đích, có kế hoạch nhằm phổ biến, giải thích về chính sách, làm cho người dân hiểu rõ nội dung của các chính sách Công tác tuyên truyền có vị trí rất quan trọng Muốn đạt được sự nhất trí, đồng thuận cao trong nhận thức và hành động, thực hiện được các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ đã đề ra thì phải có sự hiểu rõ và ủng hộ của người dân Song, để có được điều đó, việc đầu tiên là phải tuyên truyền, giải thích, phổ biến cho người dân về nội dung, vai trò và ý nghĩa của các chính sách của Nhà nước Chỉ như vậy, họ mới có thể nhận thức đúng, hành động đúng và đạt hiệu quả cao
2.1.4.3 Việc bình xét các đối tượng thụ hưởng
Việc bình xét các đối tượng thụ hưởng trong chương trình là bước đầu tiên của quá trình thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo Việc bình xét là việc làm xác định các hộ gia đình đáp ứng đủ các tiêu chuẩn để nhận được
Trang 30hỗ trợ làm nhà ở Việc bình xét hộ nghèo được hỗ trợ làm nhà ở là bước quan trọng để xác định chính xác đối tượng mà chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo hướng tới, tránh việc bỏ sót, nhầm lẫn đối tượng được hỗ trợ và sự chồng chéo với các chính sách, chương trình hỗ trợ khác Tổ chức bình xét công khai là
đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân, thực hiện việc “Dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra” đảm bảo sự công bằng cho các hộ gia đình cần hỗ trợ
Các địa phương sẽ công bố công khai các tiêu chuẩn và tiến hành bình xét hộ nghèo được hỗ trợ làm nhà ở dưới sự giám sát của nhân dân Việc bình xét hộ nghèo được tiến hành từ cấp thôn, tổ dân phố và người dân trực tiếp bình xét Việc bình xét có sự tham gia của Ban giảm nghèo - việc làm xã, thị trấn và Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn
Ủy ban nhân dân cấp xã, thị trấn tổng hợp danh sách số hộ cần hỗ trợ, đồng thời lập danh sách các hộ có nhu cầu vay vốn báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện Uỷ ban nhân dân huyện kiểm tra, tổng hợp, lập kế hoạch và trình lên Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét và phê duyệt
2.1.4.4 Lập kế hoạch hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo
Lập kế hoạch để thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo là bước xác định mục tiêu cụ thể, đối tượng hướng tới của chương trình, đề ra nhiệm vụ cần thực hiện và giải pháp để hoàn thành mục tiêu, dự trù về nguồn lực cần thiết và công tác tổ chức để triển khai thực hiện chương trình Việc lập kế hoạch là rất cần thiết để làm căn cứ cho việc tổ chức thực hiện, là tiêu chuẩn để đánh giá kết quả đạt được của việc thực hiện chương trình Việc lập kế hoạch giúp cho các đơn vị quản
lý, tổ chức nắm rõ được mục đích hướng tới, nội dung công việc và tiến độ để hoàn thành công việc Việc lập kế hoạch được tiến hành từ cấp huyện, tỉnh cho tới Trung ương để làm căn cứ cho quá trình triển khai thực hiện chương trình
Uỷ ban nhân dân huyện lập kế hoạch hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo trên địa bàn huyện và trình tỉnh phê duyệt quyết định kế hoạch hàng năm Kế hoạch hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo bao gồm các nội dung: mục tiêu của kế hoạch, danh sách
Trang 31các đối tượng thụ hưởng chương trình, các đối tượng có nhu cầu vay vốn, dự toán kinh phí hỗ trợ, kế hoạch phân bổ nguồn vốn, thời gian để hoàn thành mục tiêu đề ra Căn cứ kết quả bình xét các hộ thụ hưởng chương trình do các huyện gửi lên và dự toán kinh phí do Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư báo cáo, Uỷ ban nhân dân tỉnh sẽ tổng hợp, phê duyệt đề án và dự toán nhu cầu kinh phí thực hiện trên cơ sở các văn bản hướng dẫn và gửi Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Chính sách Xã hội và các Bộ, ngành liên quan để tổng hợp trình Chính phủ, Quốc hội quyết định
Sơ đồ: 2.1.Trình tự lập, phê duyệt đề án hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo
Trung ương: các Bộ, ngành tổng hợp kế hoạch và dự toán ngân sách, báo cáo Thủ tướng Chính phủ để trình Quốc hội phê duyệt
Cấp tỉnh: lập và phê duyệt đề án hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở trên địa bàn, gửi đề án về Trung ương
Cấp huyện: Uỷ ban nhân dân huyện kiểm tra, tổng hợp, lập kế hoạch và trình lên Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét và phê duyệt
Cấp xã: Ủy ban nhân dân cấp xã tổng hợp danh sách số hộ được hỗ trợ, đồng thời lập danh sách các hộ có nhu cầu vay vốn báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện
Cấp thôn, bản, tổ dân phố: tổ chức bình xét đối tượng và phân loại
ưu tiên theo đúng quy định, đảm bảo công khai, minh bạch
Trang 322.1.4.5 Huy động vốn hỗ trợ làm nhà ở cho hộ nghèo
Thực hiện chương trình 167/CP, Ngân sách Trung ương hỗ trợ
7.200.000đ/ hộ Đối với những hộ dân thuộc diện đối tượng được hỗ trợ nhà ở
đang cư trú tại các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn quy định tại Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 3 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn thì ngân sách trung ương hỗ trợ 7 triệu đồng/hộ Các địa phương có trách nhiệm hỗ trợ thêm ngoài phần ngân sách trung ương hỗ trợ và huy động cộng đồng giúp đỡ các hộ làm nhà ở
Hộ dân có nhu cầu, được vay tín dụng từ Ngân hàng Chính sách xã hội
để làm nhà ở Múc vay tối đa 8 triệu đồng/hộ, lãi suất vay 3%/năm Thời hạn vay là 10 năm, trong đó thời gian ân hạn là 5 năm Thời gian trả nợ là 5 năm, mức trả nợ mỗi năm tối thiểu 20% tổng số vốn đã vay
Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện phương thức ủy thác cho vay từng phần qua các tổ chức chính trị- xã hội hoặc trực tiếp cho vay Đối với phương thức cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị- xã hội, việc quản lý vốn bằng tiền, ghi chép kế toán và tổ chức giải ngân đến người vay do Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện Ngân sách địa phương bố trí vốn đối ứng không dưới 20% so với vốn ngân sách trung ương bảo đảm, đồng thời huy động thêm các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện mục tiêu, chương trình này
Đối với các địa phương có khó khăn về ngân sách (phải nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương) thì ngân sách trung ương hỗ trợ bổ sung phần vốn đối ứng cụ thể theo các mức sau: 20% cho các địa phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương trên 70% dự toán chi cân đối ngân sách địa phương năm 2008; 15% cho các địa phương nhận bổ sung từ 50-70% dự toán chi cân đối ngân sách địa phương năm 2008; 10% cho các địa phương nhận bổ sung dưới 50% dự toán chi cân đối ngân sách địa phương năm 2008
Trang 33Ngân sách Chính sách xã hội bảo đảm kinh phí cho các hộ dân thuộc diện đối tượng vay theo mức quy định Nguồn vốn cho vay do ngân sách trung ương cấp 5% còn lại do Ngân sách xã hội huy động Ngân sách trung ương cấp
bù chênh lệch lãi suất cho Ngân hàng Chính sách xã hội theo quy định
Vốn huy động từ quỹ “Ngày vì người nghèo” do Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động và từ các Doanh nghiệp, các nhà hảo tâm đóng góp, vốn huy động của cộng đồng, dòng họ và của chính hộ gia đình được hỗ trợ
2.1.4.6 Sử dụng vốn hỗ trợ làm nhà ở cho hộ nghèo
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư cân đối, bố trí vốn từ Ngân sách trung ương cho các địa phương trong kế hoạch và dự toán ngân sách; bố trí vốn cho Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay theo quy định Các địa phương thực hiện công tác lập dự toán, quản lý, cấp phát, thanh toán, quyết toán theo hướng dẫn của Bộ Tài chính
Căn cứ số vốn được phân bổ từ ngân sách Trung ương, vốn ngân sách địa phương, vốn do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam huy động phân bổ cho địa phương và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân bổ cho cấp huyện, đồng thời gửi danh sách vay vốn cho Ngân hàng Chính sách
Xã hội để thực hiện cho vay
Đối với những hộ dân được hỗ trợ từ nguồn vốn do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam huy động
mà mức hỗ trợ chưa đủ so với mức vay theo quy định thì được vay theo số còn thiếu Căn cứ số vốn được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân bổ, Ủy ban nhân dân cấp huyện phân bổ vốn hỗ trợ cho cấp xã Việc quản lý, cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồn vốn hỗ trợ áp dụng theo hướng dẫn của Bộ Tài chính Đối với vốn vay, hộ dân trực tiếp ký khế ước vay vốn theo quy định của Ngân hàng Chính sách Xã hội
Trang 34Sơ đồ: 2.2 Quy trình phân bổ nguồn vốn hỗ trợ làm nhà ở tới các hộ
2.1.4.7 Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chương trình
Giám sát thực hiện chương trình là việc các cơ quan có trách nhiệm thực hiện theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động nhằm kịp thời tác động để chương trình được thực thi đúng hướng, đúng đối tượng Cơ quan, đơn vị phụ trách giám sát phải có mặt thường xuyên, liên tục theo dõi quá trình thực hiện
để kịp thời đưa ra những nhắc nhở, khuyến cáo, đề nghị, hỗ trợ tạo điều kiện cho việc thực hiện chương trình diễn ra thuận lợi và đem lại kết quả và hiệu quả tích cực
Kiểm tra việc thực hiện chương trình là việc các cơ quan có trách nhiệm xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của các cơ quan, đơn vị triển khai và thực hiện chương trình Kiểm tra là để làm
Trung ương: Quốc hội và Chính phủ phê duyệt vốn hỗ trợ từ ngân
sách trung ương
Tỉnh: Uỷ ban nhân dân tỉnh căn cứ tổng số vốn từ các nguồn lập
phân bổ chi tiết cho các huyện, giao dự toán cho các huyện
Huyện: Uỷ ban nhân dân huyện quyết định phân bổ và thông báo cho
Xã, thị trấn: Ủy ban nhân dân cấp xã, thị trấn thông báo đến từng hộ
dân về mức hỗ trợ
Trang 35rõ, tìm cho ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân khách quan, chủ quan từ đó đề ra hướng xử lý, khắc phục, rút kinh nghiệm
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo
2.1.5.1 Nguồn kinh phí
Kinh phí là một trong những vấn đề quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự thành công của một chương trình Điều này thể hiện ở nguồn huy động, số lượng, tính kịp thời và cơ cấu phân bổ nguồn vốn cho các mục tiêu Chương trình chỉ có thể thực hiện được khi kinh phí được huy động đầy đủ từ những nguồn vững chắc Hơn nữa, kinh phí còn cần được tính toán để phân bổ hợp
lý mới có thể đảm bảo tính hiệu quả, tránh lãng phí
2.1.5.2 Năng lực của cán bộ địa phương
Các cán bộ địa phương là những người trực tiếp thực hiện, cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Nhà nước Chính vì vậy, năng lực của cán bộ địa phương là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của các chương trình
Sự linh hoạt, chủ động, tích cực của các cán bộ địa phương là nhân tố đảm bảo cho các chương trình tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả tối ưu, đảm bảo cho các đối tượng được hỗ trợ đúng, đầy đủ
Ngược lại, sự yếu kém trong năng lực của cán bộ địa phương sẽ trở thành rào cản lớn cho đường đi của các chương trình, làm giảm hiệu quả của chương trình, không đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của người dân
2.1.5.3 Đặc điểm của hộ nghèo
Hộ nghèo là những đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội Họ thiếu thốn nhiều về điều kiện vật chất Do hoàn cảnh sống khó khăn nên các hộ nghèo có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất: là các hộ nghèo thiếu thốn phương tiện sản xuất, đặc biệt là đất đai Đại bộ phận các hộ nghèo là dân tộc thiểu số sinh sống ở nông thôn, khu vực vùng sâu vùng xa, những nơi cô lập về địa lý và xã hội, chịu nhiều thiên tai
Trang 36Thứ hai: là thu nhập của họ thường rất thấp, không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu về ăn, mặc, ở Nhà cửa thường tạm bợ, thiếu thốn các
đồ dùng, đồ đạc có giá trị thấp, hư hỏng
Thứ ba: là các hộ nghèo thường không có vốn hoặc có rất ít vốn Thêm vào đó còn có những hộ gia đình có các khoản nợ khó có khả năng trả Phần lớn thu nhập của họ là từ sức lao động của chính họ Phần lớn các thành viên trong gia đình thiếu việc làm hoặc việc làm không ổn định, thu nhập thấp và bấp bênh do trình độ văn hoá thấp
Thứ tư: là họ thường có trình độ giáo dục thấp do không đủ điều kiện
để đi học, sức khoẻ yếu do không có điều kiện chăm sóc, tuổi thọ không cao
do làm việc vất vả trong thời gian dài lại không có điều kiện chăm sóc sức khoẻ Gia đình đông con, có người cao tuổi không còn khả năng lao động
Thứ năm: là do đời sống khó khăn, trình độ hiểu biết thấp nên những người thuộc hộ nghèo có tâm lý tự ti, chán nản, cho rằng gia đình không đủ khả năng để có thể nâng cao chất lượng cuộc sống Điều này dẫn đến tình trạng một
số bộ phận người nghèo dễ sa vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè
Những đặc điểm nói trên cũng là những khó khăn mà đa số các hộ nghèo gặp phải, để họ có thể vượt lên trở ngại và thoát nghèo thì sự giúp đỡ của xã hội và Chính phủ là rất cần thiết Sự hỗ trợ của cộng đồng là động lực
to lớn giúp người nghèo có thể thay đổi cuộc sống và hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn, mọi người có được đời sống ấm no, hạnh phúc hơn
2.1.5.4 Sự ủng hộ của cộng đồng
Sự ủng hộ của cộng đồng là động lực to lớn giúp cho bất cứ một chủ trương, chính sách nào cũng có thể được thực hiện dễ dàng và đạt được kết quả tốt đẹp Sự đoàn kết, đồng tâm của người dân là chìa khoá đảm bảo cho
sự thành công của mọi chính sách, chương trình Khi nhân dân cùng nhau đóng góp công sức, của cải, tích cực giúp đỡ tương trợ nhau sẽ là nguồn lực mạnh mẽ đẩy lùi đói nghèo
Trang 37Đánh giá đúng vai trò của quần chúng nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là bí quyết thắng lợi của mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta Nhận thức được sức mạnh to lớn của đại đoàn kết toàn dân và biết cách phát huy sức mạnh sẽ là động lực to lớn để nước ta thành công trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
Để có được sự ủng hộ của cộng đồng trong các chương trình xoá đói giảm nghèo cũng như các chủ trương, chính sách khác thì cách tốt nhất là thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động để người dân hiểu và ủng hộ Khi nhân dân đồng lòng nhất trí và hiểu được ý nghĩa của chủ trương, chính sách thì người dân sẽ tự nguyện hăng hái tham gia, phát huy sức mạnh to lớn của tinh thần đoàn kết Từ đó mọi chủ trương, chính sách dù có gặp khó khăn đến đâu cũng đều có thể vượt qua nhờ sức mạnh đoàn kết của nhân dân
2.2 Cơ sở thực tiễn về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo
2.2.1 Kinh nghiệm hỗ trợ nhà ở của một số địa phương
* Huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ
Là huyện miền núi nghèo, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ
hộ nghèo chiếm khá cao so với một số huyện khác trong tỉnh, trong đó có hàng trăm hộ nghèo sống trong nhà tạm Xác định rõ việc xóa nhà tạm cho người nghèo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, những năm qua Đảng
bộ huyện Đoan Hùng đã lãnh đạo các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, các ngành, cơ quan, đơn vị huy động sức mạnh tổng hợp tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ này Kết quả, chỉ sau 3 năm thực hiện cuộc vận động, huyện Đoan Hùng đã hoàn thành mục tiêu xóa xong 173 nhà tạm cho các hộ nghèo với tổng kinh phí 1,412 tỷ đồng, bình quân mỗi nhà trên 8 triệu đồng Trong
đó nguồn vốn huy động từ ngân sách 71,484 triệu đồng, quỹ vì người nghèo 395,426 triệu đồng, các cơ quan đơn vị ủng hộ 14,9 triệu đồng, từ cộng đồng dân cư 264,077 triệu đồng, huy động từ gia đình, dòng họ 665,64 triệu đồng Phát huy thành tích đạt được, ban vận động các cấp tiếp tục rà soát, tiếp tục
Trang 38vận động giúp đỡ số hộ nghèo có nhà tạm phát sinh mới nên từ năm 2005 đến nay toàn huyện đã hỗ trợ cải thiện 102 nhà ở cho hộ nghèo, trị giá 663 triệu đồng Như vậy bằng hình thức xây dựng nhà đại đoàn kết và hỗ trợ cải thiện nhà ở đến nay huyện Đoan Hùng đã xóa xong nhà tạm cho 275 hộ nghèo
* Huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình:
Năm 2003, tỷ lệ hộ nghèo ở huyện Quảng Ninh theo chuẩn cũ là 11.7% năm 2004, chiếm 8.6%, năm 2005 tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới là 32.4%, năm
2006 là 27.5%, năm 2007 là 25.06%, đến 6 tháng đầu năm 2008 là 23% Để thực hiện có hiệu quả kế hoạch, được sự hướng dẫn của Sở lao động Thương binh -
xã hội tỉnh Quảng Bình, huyện Quảng Ninh đã thống kê được 598 nhà tạm cần được hỗ trợ Để từng bước xoá nhà tạm, Uỷ ban MTTQ huyện cũng đã phối hợp với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội như Hội cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội nông dân ở các cấp tổ chức tuyên truyền, vận động sâu rộng trong toàn thể nhân dân, phân công cho các thành viên phụ trách từng địa bàn cụ thể để tham mưu, giúp đỡ các địa phương triển khai chương trình, đặc biệt là các địa phương còn gặp nhiều khó khăn
Căn cứ vào trong 4 năm qua (từ năm 2003 - 2007) toàn huyện đã huy động đóng góp được hơn 2 tỷ đồng, hỗ trợ làm 785 căn nhà trong đó nguồn vốn
do ngân sách của tỉnh hỗ trợ là hơn 1 tỷ đồng, UBMTTQ tỉnh và các ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh hỗ trợ 339 triệu đồng Từ các nguồn vốn đã huy động được, từ năm 2003 đến nay, huyện Quảng Ninh đã sửa chữa xây dựng lại nhà
và xoá được 785 căn nhà cho bà con với tổng kinh phí là 558 triệu đồng
2.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện chương trình
Từ những kinh nghiệm thực tiễn về thực hiện chương trình trên phạm vi
cả nước và ở một số địa phương có thể nhận thấy chương trình đã đạt được một
số kết quả nhất định góp phần ổn định tình hình chính trị, tạo điều kiện cho các
hộ nghèo ổn định cuộc sống, từng bước giúp người dân xoá đói giảm nghèo hiệu quả Vì vậy, có thể nói chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở là một chủ trương đúng đắn và kịp thời đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân
Trang 39Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng kể nhưng chương trình vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định đòi hỏi sự nỗ lực khắc phục từ cả phía Chính phủ, chính quyền địa phương và sự hợp tác cố gắng phấn đấu của chính người dân
Một là chương trình khi được triển khai cần có sự phối hợp giữa các cấp, các ngành để triển khai hoạt động một cách đồng bộ trong việc hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình và trong việc kiểm tra, giám sát thực hiện chương trình Đặc biệt là đối với các đơn vị trực tiếp chỉ đạo thực hiện chương trình Đơn vị chỉ đạo cần quan tâm xem xét đến chương trình cho phù hợp với đời sống và nguyện vọng của người dân
Hai là chương trình phải được triển khai dựa trên nguyên tắc công khai, dân chủ và minh bạch trong việc tiến hành bình xét các hộ nghèo cũng như triển khai thực hiện việc hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo
Ba là quá trình triển khai chương trình cần phải có sự kết hợp tổ chức thực hiện với các chương trình, chính sách khác của địa phương để tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp chương trình đạt được hiệu quả cao hơn Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở có thể lồng ghép với việc phát động các hoạt
động khác ở địa phương như cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh” hay cuộc vận động “Vì người nghèo”
Những bài học rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn nêu trên sẽ là cơ sở để chương trình có thể phát huy tốt hơn và khắc phục kịp thời những khó khăn gặp phải trong quá trình triển khai chương trình Đồng thời là bài học cho cả những chương trình khác đang và sẽ thực hiện
- Các công trình nghiên cứu trên đề cập đến vấn đề đói nghèo dưới các góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo tại huyện Mỹ Hào dưới góc độ kinh tế chính trị Vì vậy, đề tài mà tác giả lựa
chọn để nghiên cứu không trùng với các công trình nghiên cứu đã công bố
Trang 40PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Mỹ Hào là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Hưng Yên Diện tích tự nhiên của huyện là 7.910,96ha, dân số toàn huyện đến hết năm 2011 là 97.733 người Toàn huyện có 12 xã và 01 thị trấn Mỹ Hào có trên 13km trên Quốc lộ 5 và nằm sát tuyến đường sắt nối Thủ độ Hà Nội với các thành phố Hải Dương, Hải Phòng đồng thời có thể đi liên hệ với các tỉnh, thành phố trong cả nước thuận tiện bằng tuyến đường quốc lộ 39, trục đường 196, đường 198 vì vậy rất thuận tiện cho việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội
Phía Bắc giáp huyện Văn Lâm;
Phía Nam giáp huyện Ân Thi
Phía Đông giáp huyện Cẩm Giàng và Bình Giang (tỉnh Hải Dương)
Phía Tây giáp huyện Yên Mỹ
Bản đồ 3 . 1: Bản đồ hành chính huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên