Du lịch hiện nay được coi là một trong những ngành công nghiệp năng động nhất trên thế giới. Du lịch vừa là văn hóa, vừa là kinh tế, Luật Du lịch đã xác định: “Phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường; phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái; bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch” . Đối với Thanh Hóa, việc phát triển kinh tế du lịch phải thể hiện bản sắc văn hóa, sắc thái văn hóa tỉnh Thanh, muốn vậy du lịch phải phát huy lợi thế di sản văn hóa đã kết tinh thành giá trị và sự phong phú đặc sắc của các vùng miền trong tỉnh để khai thác bền vững và hợp lý. Trên thực tế hiện nay, du lịch Thanh Hóa còn chưa tương xứng với vị trí và tiềm năng du lịch địa phương. Vậy làm thế nào để phát huy hết các giá trị mà thiên nhiên và lịch sử đã ban tặng cho Thanh Hóa thành một hệ thống sản phẩm du lịch – văn hóa đặc biệt hấp dẫn du khách, góp phần phát triển kinh tế – xã hội Thanh Hóa? Việc tiến hành nghiên cứu chuyên đề “Thực trạng, tiềm năng nhóm sản phẩm văn hóa phi vật thể truyền thống ở Thanh Hóa (lễ hội, phong tục, tín ngưỡng)” sẽ góp phần giải đáp một phần vấn đề đó.
Trang 1Mở đầu
Du lịch hiện nay đợc coi là một trong những ngành công nghiệp năng động nhất
trên thế giới Du lịch vừa là văn hóa, vừa là kinh tế, Luật Du lịch đã xác định: “Phát triển
du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, x hội vàã
môi trờng; phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hớng du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái; bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch” 1
Đối với Thanh Hóa, việc phát triển kinh tế du lịch phải thể hiện bản sắc văn hóa,sắc thái văn hóa tỉnh Thanh, muốn vậy du lịch phải phát huy lợi thế di sản văn hóa đãkết tinh thành giá trị và sự phong phú đặc sắc của các vùng miền trong tỉnh để khai thácbền vững và hợp lý
Trên thực tế hiện nay, du lịch Thanh Hóa còn cha tơng xứng với vị trí và tiềm năng
du lịch địa phơng Vậy làm thế nào để phát huy hết các giá trị mà thiên nhiên và lịch sử
đã ban tặng cho Thanh Hóa thành một hệ thống sản phẩm du lịch – văn hóa đặc biệthấp dẫn du khách, góp phần phát triển kinh tế – xã hội Thanh Hóa? Việc tiến hành
nghiên cứu chuyên đề “Thực trạng, tiềm năng nhóm sản phẩm văn hóa phi vật thể truyền thống ở Thanh Hóa (lễ hội, phong tục, tín ngỡng)” sẽ góp phần giải đáp một
phần vấn đề đó
1 Mục 1, Điều 5 Luật Du lịch.
Trang 2Chơng 1
phi vật thể truyền thống ở Thanh Hoá
( Lễ hội, phong tục, tín ngỡng)
Theo Luật di sản văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá“là sản phẩm tinh thần có giá
trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đợc lu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, đợc lu truyền bằng miệng
và các hình thức lu giữ, lu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn họcnghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xớng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ
hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác”1 Theo định nghĩa trên, xứ Thanh có một kho tàng các giá trị văn hóa phi vật thể vôcùng phong phú và đặc sắc Vấn đề đặt ra là yếu tố nào đã tạo nên hệ thống giá trị đó
và đặc trng của nó ra sao? Giải đáp đợc câu hỏi này sẽ tạo cơ sở cho việc nhận dạngcác giá trị văn hóa phi vật thể Thanh Hóa để đa chúng vào hoạt động du lịch nhằm pháttriển kinh tế – xã hội của tỉnh
1.1 Tổng quan chung về văn hoá phi vật thể Thanh Hóa (lễ hội, phong tục, tín ngỡng)
Theo GS Trần Quốc Vợng: “Xứ Thanh là vị trí địa – chiến lợc, địa – chính trị, địa – văn hóa quan trọng của Việt Nam” 2 Điều đó đã làm cho các giá trị văn hóa vật thể cũng
nh phi vật thể Thanh Hóa vô cùng phong phú và có những nét độc đáo riêng, khẳng
định đợc giá trị to lớn trong kho tàng văn hóa truyền thống Việt Nam
1.1.1 Thanh Hóa là mảnh đất còn lu giữ đợc nhiều thành tựu văn hóa phi vật thể độc đáo, đặc sắc và đa dạng đợc tiềm ẩn và lu truyền trong nhân dân
Thanh Hóa có kho tàng văn học dân gian phong phú và đợc ghi dấu ấn bằngnhững tác phẩm đặc sắc Ngời Việt với truyền thuyết về các vị thần khổng lồ nh: ông B-
ng, ông Lau, ông Vồm… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc Cớc
xẻ đôi thân mình cứu giúp dân biển… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C Các dân tộc thiểu số Thanh Hóa còn lu giữ nhiều
tác phẩm văn học dân gian đặc sắc Sử thi Đẻ đất, Đẻ nớc gồm 2 vạn câu của ngời
M-ờng, phản ánh chân thật quan niệm về nguồn gốc hình thành, phát triển loài ngời, quátrình đấu tranh chinh phục thiên nhiên, gây dựng cuộc sống, chống kẻ thù xâm l ợc Các
truyện thơ út Lót – Hồ Liêu, Nàng Nga – Hai Mối của ngời Mờng … có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C ú Thêm, Khăm,
Phanh của ngời Thái, … có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C là những bản tình ca phản ánh tình yêu lứa đôi, cuộc sống,khát vọng của ngời lao động Những tác phẩm này không chỉ thể hiện ớc vọng chinhphục tự nhiên mà còn phản ánh hiện thực lịch sử, xã hội Thanh Hóa buổi đầu sơ khai.Chính chúng đã tạo thành linh hồn, tạo nên tính thiêng cho các trò diễn, hát x“là sản phẩm tinh thần có giá ” ớngtrong lễ hội, sinh hoạt văn hóa, tín ngỡng xứ Thanh thêm lôi cuốn
Thanh Hóa là mảnh đất sản sinh nhiều làn điệu dân ca đặc sắc: Khặp (Thái),
X-ờng rang, Bọ meẹng (MX-ờng), Pả dung (Dao)… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C và các khúc hát giao duyên, dân ca nghi
lễ, hát đối đáp, hát ru… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C của ngời Việt Nhiều làn điệu dân ca mang sắc thái đặc trngriêng của Thanh Hóa mà không nơi nào khác có đợc: Hò sông Mã thể hiện rõ nét đặc
điểm tâm lý, tính cách, đặc trng lao động sản xuất của ngời dân xứ Thanh qua tiết tấukhẩn trơng, mạnh mẽ và một hoạt cảnh lãng mạn của những vũ điệu lao động của“là sản phẩm tinh thần có giá ”
con ngời, giữa một nền cảnh và một hòa âm dữ dội của sông nớc; múa đèn Đông Anh
1 Luật Di sản văn hóa và các văn bản hớng dẫn thi hành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr7
2
Trang 3là một chuỗi minh họa các biểu tợng văn hóa nông nghiệp, hội hè; Hát khúc (TĩnhGia), hát chèo thờ (Nông Cống), chèo cạn (Hoằng Hóa), chèo chải (Thọ Xuân, ĐôngSơn, Thiệu Hóa… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C)
Hệ thống trò chơi, trò diễn của xứ Thanh cũng ra đời khá sớm và ngày càng hoàn
thiện, đạt tới trình tự nghi thức cao Ngời Việt có trò Xuân Phả (Thọ Xuân); trò Ngũ Bôn(Đông Sơn); trò Chiềng, trò Chụt (Yên Định); múa đèn, chạy chữ ở Thiệu Hóa, TPThanh Hóa; chèo chải, tế nữ quan đợc tổ chức ở nhiều vùng, miền trong hội làng, lễ hộidầu xuân Bên cạnh các trò chơi, trò diễn dân gian của ngời Kinh, thì trò chơi, trò diễncủa các dân tộc thiểu số cũng rất phong phú nh: trò diễn Pồn Pôông của ngời Mờng; tròmúa quạt, múa nón, trò diễn Kin Chiêng boóc mạy của ngời Thái; múa bắt rùa, múachuông của ngời Dao; múa ô, múa khèn của ngời Mông Những trò diễn này đã tạonên nét độc đáo, sức lôi cuốn, hấp dẫn của các lễ hội truyền thống
Lễ hội Thanh Hóa đa dạng về loại hình và số lợng, thực sự trở thành điểm nhấn
trong sinh hoạt văn hóa xứ Thanh Những lễ hội văn hóa, lịch sử tại đền Bà Triệu, LêHoàn, khu di tích lịch sử Lam Kinh, đền thờ Quang Trung; lễ hội dân gian tại đền thờMai An Tiêm, Nghè Sâm; lễ hội tín ngỡng - tôn giáo tại chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh,cầu Ng (Hậu Lộc), lễ hội đền Sòng, phố Cát, đền Hàn… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C đã cuốn hút đông đảo côngchúng giao hòa trong sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, tín ngỡng, hớng con ngời vơn tới cáichân, thiện, mỹ
Về tín ngỡng, xứ Thanh gần nh hội tụ đầy đủ các tín ngỡng và tôn giáo bản địa
cũng nh ngoại nhập Đặc biệt, nơi đây có các tôn giáo tín ngỡng độc đáo nh: tín ngỡngthờ thần Độc Cớc, thờ Tổ nớc, thờ Trống Đồng, thờ Đông Hải Đại Vơng, Tứ vị Thánh N-
ơng Không nơi đâu nh xứ Thanh lại xuất hiện Nội đạo An Đông đợc vua Lê, chúa Trịnhphong là nội đạo chính tông, dùng các phép thuật để chữa bệnh, trừ tà Còn đạo Mẫu ởThanh Hóa đã phát triển rộng khắp hình thành nên những trung tâm thờ tự lớn nh đềnSòng – Phố Cát, Phủ Na
1.1.2 Vị trí và đặc điểm tự nhiên tạo cho các giá trị văn hóa phi vật thể Thanh Hóa yếu tố mở, mang tính trung gian chuyển tiếp nhng vẫn giữ đợc nét đặc sắc riêng.
Thanh Hóa ở vào vị trí khá đặc biệt của đất nớc Là điểm kết nối giữa vùng Bắc Bộ
rộng lớn với khu vực miền Trung dài và hẹp, có đờng biên giới với nớc bạn Lào và có ờng bờ biển dài 120km Thanh Hóa đồng thời nằm trên các tuyến giao lu quan trọng của
đ-hệ thống đờng quốc tế và quốc gia nh: tuyến đờng sắt Thống Nhất, quốc lộ 1A, quốc lộ10; đờng 15A và đờng Hồ Chí Minh xuyên suốt vùng Trung du Miền núi của tỉnh; có đờng
217 nối Thanh Hóa với tỉnh Hủa Phăn của Lào Với vị thế đó, Thanh Hóa có nhiều điềukiện thuận lợi để giao lu văn hóa theo trục Bắc – Nam và trục Đông – Tây, tạo nên sự đadạng, phong phú và độc đáo trong văn hóa truyền thống
Thanh Hóa là một trong số ít tỉnh, thành của nớc ta có đầy đủ các yếu tố tự nhiên
đặc trng của cả nớc: rừng núi, trung du, đồng bằng, biển Chính vì vậy, Cố Thủ tớng
Phạm Văn Đồng đã ví Thanh Hóa nh hình ảnh của đất nớc Việt Nam thu nhỏ lại Sự đadạng các yếu tố tự nhiên tất yếu dẫn đến sự đa dạng văn hóa mà phong tục tập quán,tục trò, tín ngỡng và lễ hội cổ truyền là những biểu hiện sinh động Nhà địa lý học Lê BáThảo coi đồng bằng châu thổ sông Mã nh là sự lặp lại của đồng bằng châu thổ SôngHồng ở Bắc Bộ cả về phơng diện hệ thống đồi núi bao bọc thợng nguồn đến lợng phù
sa bồi đắp ở hạ lu, độ cao đồng bằng châu thổ Tuy nhiên, ở Thanh Hóa đồi núi chiếm
tỷ lệ lớn bao gồm 3/4 diện tích đất đai cả tỉnh, một số mạch núi kế tiếp mạch núi vùng
Trang 4Tây Bắc chạy sát ra biển, nên ở Thanh Hoá, cảnh quan đồng bằng, biển và rừng núi nốikết và cận kề nhau hơn, làm tăng tính chất rừng và biển của đồng bằng, chứ không "xarừng, nhạt biển" nh đồng bằng châu thổ Bắc Bộ Với miền Trung, xứ Thanh là sự mở
đầu, trớc nhất cho một mô hình sinh thái kết hợp chặt chẽ giữa đồng bằng, miền núi vàbiển cả Chính điều đó đã làm văn hóa truyền thống xứ Thanh rất đa dạng vừa mangtính chung thống nhất với văn hóa Việt Nam và văn hóa vùng Bắc Bộ nhng vẫn mangtính khác, biệt lập
Chính vì vậy, trong ý thức hệ t tởng, tín ngỡng Thanh Hóa ta bắt gặp nhiều hiện ợng đồng nhất với đồng bằng Bắc Bộ Một hệ thức luận từ tích truyện thánh B ng, ôngVồm, ông Tu Na cho đến Từ Thức, thần Độc Cớc (truyền thuyết ở Thanh Hóa) là mộthình thức tơng đồng với các tích truyện: Thánh Tản Viên, Sơn Tinh - Thủy Tinh, TiênDung - Chử Đồng Tử (truyền thuyết ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ) cho chúng tathấy rõ sự kết nối đó
t-Thanh Hóa cũng có sự giao lu với bên ngoài từ khá sớm Từ hàng ngàn năm trớcCông nguyên, ngời Việt cổ vùng hạ lu sông Mã đã theo con sông này giao lu với đồngbào của mình vùng Bạch Hạc (Việt Trì) và xa hơn nữa là vùng Tây Bắc Việt Nam từ rấtsớm Cũng men theo sông này ngời Việt cổ tiến xuống đồng bằng và chắc chắn cónhững giao lu với các tộc ngời Mã - Lai đa đảo Bằng sự tích Mai An Tiêm, huyền thoạithần Độc Cớc cho phép chúng ta nhìn nhận và liên hệ đến các vấn đề trên Đối vớivăn hóa Trung Quốc, Thanh Hóa có chịu ảnh hởng ở nhiều mặt, thể hiện rõ nét nhấttrong hệ t tởng Nho giáo chi phối nhiều hoạt động văn hóa, đợc minh chứng trongnhiều chi tiết nghi thức tế lễ trong lễ hội và trò diễn dân gian Huyền tích về dấu chânPhật trên mỏm đá Trờng Lệ ở biển Sầm Sơn là biểu hiện của sự giao lu văn hóa với ấn
Độ từ rất sớm Trong khúc hát Hải trình của ng“là sản phẩm tinh thần có giá ” dân Bạch Câu, Nga Sơn bắt gặpnhững giai điệu Chăm có trống Vả phụ họa Làn điệu dân ca Chăm cũng đ ợc thấpthoáng trong câu hát đò dọc của trai đò sông Mã Đáng quan tâm là những khúc ca,lời thoại, ṿ điệu trong trò diễn Xuân Phả: Chiêm Thành, Ai Lao, Ngô Quốc, Hoa Lan… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc Ccho thấy sợ giao lu và hội nhập trong dân ca, dân ṿũ xứ Thanh có từ xa xa
Tuy vậy, yếu tố văn hóa ngoại nhập không làm cho văn hóa bản địa bị biến
dạng, trái lại văn hóa bản địa bao giờ cũng mang tính trội, khi tiếp xúc, giao lu với văn
hóa bên ngoài lại làm cho văn hóa bản địa tiếp nhận và tái tạo thêm những yếu tốphong phú, mới lạ, phù hợp với tâm hồn, tình cảm con ngời nơi đây mỗi khi nghiên cứu
kỹ lỡng các phong tục tập quán, tín ngỡng, lê hội Thanh Hóa chúng ta sẽ thấy đợc
Sông Mã không chỉ là con sông lớn nhất ở Thanh Hóa mà còn là con sông có vị trí
quan trọng đối với lịch sử – văn hóa – xã hội của đất nớc Theo tác giả Trần Lâm Biền:
“Khi nói đến văn minh sông Hồng mà không quan tâm đến con sông M thì nền vănã
minh này trở nên khập khiễng … có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C ” 1 Sông Mã bắt nguồn từ Tuần Giáo - Lai Châu theo
h-ớng tây bắc - đông nam chảy đến Chiềng Khơng qua đất Lào và trở về đất Việt Nam tại1
Trang 5Mờng Lát - Thanh Hóa qua các huyện Quan Hóa, Cẩm Thủy, Vĩnh Lộc, Yên Định,Hoằng Hoá, cuối cùng đổ ra biển với ba cửa sông lớn: cửa Lạch Trờng (sông Lạch Tr-ờng), cửa Càn (nhánh sông Hoạt), cửa Lạch Sung (sông Lèn) Các chi lu chính củasông Mã gồm Nâm Lệ, suối Vạn Mai, sông Luồng, sông Lò, sông Bởi, sông Cầu Chầy,sông Hoạt, sông Chu Cũng giống nh sông Hồng ở Bắc Bộ, sông Mã là cái trục chính, làlinh hồn của Thanh Hóa Một mặt, sông Mã bồi đắp nên đồng bằng rộng lớn, màu mỡ
mà mức độ rộng lớn và phì nhiêu của nó chỉ đứng sau châu thổ sông Hồng và sông CửuLong Mặt khác, do Thanh Hóa bị chắn hai đầu bởi dãy núi Tam Điệp ở phía Bắc và dãyHoàng Mai ở phía Nam, nên sự thông thơng, trao đổi và cả sự di c xa kia chủ yếu theocon dòng sông chính – sông Mã Sông Mã là đờng thông thơng huyết mạch giữa miềnven biển, đồng bằng với thợng lu ở phía Tây Trên con sông này, lâm thổ sản đợcchuyên chở từ miền núi về miền xuôi và hàng thủ công, hải sản từ đồng bằng lên miềnnúi Các đoàn thuyền tấp nập ngợc xuôi nối liền các chợ ven bờ sông Sông Mã khôngchỉ là huyết mạch kinh tế mà còn là con sông chuyên chở văn hóa, tạo nên hai bên bờnhững hiện tợng văn hóa phong phú, đa dạng và kỳ thú Có thể nói, sông Mã chính lànhân tố quan trọng nhất hình thành giá trị bản sắc văn hóa xứ Thanh
Nhiều đền thờ với nhiều lễ tục, phản ánh các tín ngỡng cổ xa của ngời Việt trongcác làng xã ở hai bên bờ sông Mã, sông Chu, sông Lãng Giang Đó là các lễ tục đềnMối, đền Mng, đền ối, nghè Sâm thờ Đức Thánh Ngũ Vị, tức cha con Lê Ngọc, là quanThái thú quận Cửu Chân thời nhà Tùy đã có công chống quân xâm l ợc nhà Đờng thế
kỷ VI Lễ hội làng Vạc thờ các vị Cao sơn đại vơng, Linh Quang đại vơng, Tô Đại Luvới nhiều thần tích kỳ thú về những vị nhân thần có công dựng nớc, đánh giặc, có đứccao giúp đời Nhóm di tích, truyền thuyết ven sông Mã còn góp phần cấu thành nhữnggiá trị văn hóa đặc trng Đó là các tích truyện, huyền thoại về các thánh Lỡng, có đếnchín chín làng dọc theo dòng sông Mã từ ngã ba Bông đến xã Vĩnh Quang đều có
“là sản phẩm tinh thần có giá ”
đền thờ Ông Lễ hội thánh Tến có đền thờ ở làng ích Hạ (Hoằng Hóa); truyền thuyết
về ông Bng và ông Vồm thi sức mạnh siêu nhiên, có khả năng khai thiên lập địa Một
t liệu dân gian đậm yếu tố sử học, chứng minh sự thống nhất với nhà nớc của các VuaHùng là Lễ hội ở đền Hổ Bái, huyện Yên Định, có nội dung về truyền thuyết Hùng
Trinh Vơng con trai thứ 11 của Lạc Long Quân, đến vùng hạ l u sông Mã để “chọn đất lập giang Bộ, một vùng phiên dậu của nhà nớc Văn Lang phía Nam”, ngày nay tục lễ
vẫn còn bảo lu tại vùng Thiệu Hóa, Yên Định
1.1.4 Các giá trị văn hóa phi vật thể Thanh Hóa mang nhiều yếu tố “biển” hơn hẳn vùng Bắc Bộ.
Biển Thanh Hóa thuộc vịnh Bắc Bộ, có nhiều tài nguyên hải sản, khoáng sản.
Theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, biển Thanh Hóa có vẻ mặn mòi , biển“là sản phẩm tinh thần có giá ” “là sản phẩm tinh thần có giá ”
hơn so với biển ở các tỉnh phía bắc nh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng,Quảng Ninh Bờ biển Thanh Hóa dài 102km trải qua 6 huyện thị, tiếp giáp với biển NinhBình ở phía Bắc và Nghệ An ở phía Nam Chất biển của Thanh Hoá không chỉ thể hiện
ở đờng bờ biển và dải "cồn cát duyên hải", mà còn ở dấu tích của giới hạn của các vụngbiển mà nay châu thổ đã lấp đầy Các mạch núi ăn sất ra biển và giao thơng biển vớiphơng thức "măng, tre đa xuống, cá chuồn đa lên" đã đem đến cho đời sống vật chất vàtinh thần của ngời dân mỉn ngợc vời mỉn biển từ bao đời nay luôn có mối quan hệ gắnbó
Biển u đãi nhiều cho con ngời nhng biển cũng luôn tiềm tàng những hiểm họakhôn lờng Đứng trớc biển, con ngời thấy mình nhỏ bé, sợ hãi Đó chính là nguồn gốc
Trang 6của những phong tục, tập quán, tín ngỡng, lễ hội của c dân ven biển nhằm chế ngự nỗi
sợ hãi trớc biển Tín ngỡng thờ thần Độc Cớc ở vùng biển Sầm Sơn Tại hòn Cổ Giải, có
đền thờ thần Độc Cớc, một biểu tợng phân thân biển - đất liền khá kỳ thú, thể hiện ớcvọng chinh phục biển của dân chài nhng còn ngập ngừng, sợ hãi trớc biển Tại phíaNam cửa Lạch Trờng (địa phận Sầm Sơn) có di tích và lễ hội đền Bà Triều và đền thờ
Tứ vị Thánh nơng, tại cửa Lạch Bạng có di tích thờ Đức Ông và đền thờ Tứ vị Thánh n
-ơng Lễ hội làng Cự Nham (Sầm Sơn) thờ Tứ vị Thánh nơng là thần biển với sự tích:hoàng hậu triều Nam Tống bị ngời Nguyên bức hại nhảy xuống biển tự vẫn, trôi dạtvào cửa Cờn Nghệ An (cũng nh 13 làng khác ven biển ở huyện Quảng Xơng đều có
đền thờ Nam Hải Phúc Thần là Tứ vị Thánh nơng trên), cũng cho thấy sự tiếp nhậnmột cách cởi mở, khoan dung các giá trị văn hóa của các dân tộc khác của ng ời Việt
xa ở vùng này Các đền thờ đại vơng Nam Hải (thần cá Voi) là một tín ngỡng của cáccộng đồng phơng Nam, cũng khá phổ biến ở các vùng biển Quảng X ơng, Tĩnh Gia,Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa Nhìn chung, các thần tích và lễ hội dân gian đã phần nàophản ánh đời sống tinh thần, vật chất, đặc trng văn hóa của Xứ Thanh
1.1.5 Phong tục, tín ngỡng, lễ hội Thanh Hóa là biểu hiện sinh động của
Là nơi sinh tụ từ rất sớm của ngời Việt cổ, Thanh Hóa có điều kiện hình thành vàbảo lu đợc nhiều giá trị văn hóa truyền thống Có thể có một số địa phơng là nơi pháthiện đợc một số di chỉ khảo cổ học là minh chứng sự phát triển lịch sử Việt Nam, nh nghiếm có vùng đất nào lại có đầy đủ những mốc nổi tiếng đánh dấu các giai đoạn pháttriển lớn của lịch sử dân tộc, từ tối cổ đến hiện nay nh Thanh Hóa, làm cho vùng đất này
từ thiên nhiên đến văn hóa đều thấm đợm màu sắc lịch sử Ngời ta đã phát hiện ởThanh Hóa những di chỉ khảo cổ nổi tiếng, liền mạch thuộc hầu hết các thời đại khảo cổhọc lớn của nớc ta thời tiền sử và sơ sử: từ đồ đá cũ sơ kỳ (núi Đọ), thời kỳ đá cũ (di chỉHang Con Moong), đá mới (Đa Bút), đồng đá (Hoa Lộc), văn hóa đồng thau (ĐôngSơn) Mặt khác, di vật của nhiều thời kỳ phát triển xã hội đã đ ợc tìm thấy trong một số
di chỉ có hiện tợng xếp chồng lên nhau theo thứ tự thời gian lớp dới có niên đại cổ hơnlớp trên, chứng tỏ dân c xứ Thanh nối tiếp nhau tồn tại, phát triển khá liên tục ThanhHóa là nơi phát hiện ra một trong ba trung tâm của nền văn hóa Đông Sơn trên đấtViệt: Trung tâm sông Hồng (Bắc Bộ), trung tâm sông Cả (Nghệ An) và trung tâm sôngMã (xứ Thanh) Vì lẽ đó, có thể khẳng định Thanh Hóa cùng với đồng bằng châu thổBắc Bộ là cái nôi hình thành dân tộc Việt Nam, quốc gia Việt Nam và nền văn hóa ViệtNam ở Thanh Hóa có thể gặp những mô thức huyền thoại về vua Hùng, Thánh TảnViên, Thánh Gióng, An Dơng Vơng, Mỵ Châu – Trọng Thủy của vùng đồng bằng Bắc
Bộ đợc địa ph“là sản phẩm tinh thần có giá ơng hóa ở đây ”
Thanh Hóa là mảnh đất tơng đối ổn định trong lịch sử, không bị chia cắt hànhchính nh các địa phơng khác Bản đồ hành chính Thanh Hóa qua các thời kỳ lịch sử vềcơ bản vẫn đợc giữ nguyên với các tên gọi khác nhau nh: Cửu Chân, Tợng Quận, áiChâu, Thanh Đô, Thanh Hoa Tuy một số quận huyện có nhập, tách và vùng đấtThanh Hóa ngoại đợc tách ra thành tỉnh Ninh Bình, song đại bộ phận lãnh địa, ranh giới
xứ Thanh đã đợc xác lập ổn định từ thời Bắc thuộc cho đến bây giờ Có lẽ tính ổn định
về hành chính (tất nhiên sự ổn định này là hệ quả của sự thống nhất về tự nhiên, lịch sử,văn hóa) đã tạo điều kiện cho các tập tục, tín ngỡng, lễ hội Thanh Hóa có sự thốngnhất, mang đặc trng riêng không nhầm lẫn với bất cứ vùng miền nào
Trang 7Cũng nh đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa là nơi con ngời tụ c và khai phá từ rất sớmtạo nên những làng xã cổ truyền Đây chính là cái nôi chứa đựng những giá trị văn hóatruyền thống đặc sắc Làng xã chứa đựng trong lòng nó lễ hội dân gian, những tục trò,phong tục tập quán, tín ngỡng Sự cổ xa của làng ở Thanh Hóa đợc biểu hiện một phầnqua các tên gọi là Kẻ , Xá , Vạn , ph“là sản phẩm tinh thần có giá ” “là sản phẩm tinh thần có giá ” “là sản phẩm tinh thần có giá ” “là sản phẩm tinh thần có giá ờng Kẻ là tên gọi khá cổ của làng, xuất” “là sản phẩm tinh thần có giá
hiện với tần suất khá nhiều ở Thanh Hóa, thậm chí còn đậm đặc hơn cả Bắc Bộ là vùngvốn có nhiều làng cổ Mặt khác, do Thanh Hóa là một tỉnh có địa hình đa dạng nên xét
về nghề nghiệp và một số đặc trng xã hội, làng ở Thanh Hóa cũng khá đa dạng nh làngthuần nông, làng thủy cơ chuyên nghề đánh cá hay kết hợp đánh cá với nông nghiệp,làng có nghề thủ công, làng khoa cử… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C Sự cổ xa của làng cùng với sự phong phú về loạihình làng truyền thống đã tạo cho các lễ hội, phong tục, tập quán, tục trò, tín ng ỡng ởlàng Thanh Hóa có tính vừa phong phú, đa dạng, vừa đặc sắc
Thanh Hóa là đất thang mộc , đất quân v“là sản phẩm tinh thần có giá ” “là sản phẩm tinh thần có giá ơng , hơn một nửa thời gian tồn tại của”
chế độ phong kiến Việt Nam (thế kỷ X – XX), đứng đầu bộ máy cai trị quốc gia là ng ời
xứ Thanh (Lê Đại Hành thế kỷ X - XI, Hồ Quý Ly cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, Lê Thái
Tổ và các vua thời Lê sơ thế kỷ XV - XVI, vua Lê và chúa Trịnh thế kỷ XVI-XVIII, cácvua triều Nguyễn thế kỷ XIX – XX) Một số chức vụ chủ chốt trong triều đình phong kiến
nh Tể tớng, Tham tụng, Thợng th lục bộ cũng đều có mặt ngời Thanh Hóa Xứ Thanh
đồng thời cũng là kinh đô của các triều đại Hồ (Tây Đô), Lê Sơ (Lam Kinh), thời LêTrung Hng (kinh đô Vạn Lại) Đặc điểm nổi bật này đã đem đến cho xứ Thanh sự ảnh h-ởng và tiếp cận với văn hóa, tôn giáo tín ngỡng chính thống, đặc biệt là Nho giáo khiếnvăn hóa xứ Thanh bên cạnh tính dân dã còn mang cả tính bác học Mặt khác, do có vịtrí và địa thế quan trọng, các tập đoàn phong kiến thất thế hay muốn khởi nghiệp đềumuốn chọn Thanh Hóa làm căn cứ phòng thủ; con ngời, vật lực thờng bị huy động tối đacho chiến tranh tạo nên những giá trị đặc sắc trong lễ hội, tục trò, tín ngỡng
Là đất phát vơng của các triều đại Tiền Lê, Hồ, Lê sơ, Lê Trung hng, chúa Trịnh,chúa Nguyễn, chịu ảnh hởng trực tiếp của văn hóa cung đình và du nhập các kiểu cáchlối sống của kinh đô, thế nhng xứ Thanh lại không nằm cận kề Thăng Long hay kinh đôHuế mà nằm ở ngoại trấn, vùng ngoại vi của trung tâm văn hóa chính trị của đất nớc Vìvậy, trình độ phát triển kinh tế – xã hội có phần thấp hơn, những ảnh hởng giao lu vănhóa với khu vực và Trung Hoa có phần bị hạn chế, xứ Thanh còn lu giữ lại nhiều yếu tốvăn hóa Việt cỏ hơn vùng Bắc Bộ, chốn kinh kỳ Đó cũng là nguyên nhân làm choThanh Hóa có những biểu hiện hóa thạch ngoại biên về văn hóa nhiều hơn hẳn nơikhác
Địa thế và lịch sử đã để lại cho Thanh Hóa hàng nghìn di tích lịch sử - văn hóa.Theo thống kê của Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hoá năm 2006, ThanhHóa có 1.535 di tích, danh thắng, di chỉ khảo cổ, trong đó 137 di tích xếp hạng quốc gia,
467 di tích xếp hạng cấp tỉnh ở đó không chỉ chứa đựng những giá trị văn hóa vật thểquý giá và đặc sắc, mà chính ở các di tích này còn tiềm ẩn nhiều giá trị văn hóa phi vậtthể tiêu biểu nh: thần tích, huyền thoại, tục ngữ, ca dao, lễ tục, lễ hội, văn hóa ẩm thực,các nghi lễ, tục kiêng khem… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C gắn với các nhân vật đợc thờ phụng
Một yếu tố quan trọng tạo nên những sắc thái văn hóa độc đáo trong tín ngỡng, lễhội Thanh Hóa chính là hệ thống các nhân vật đợc thờ phụng Đó là những nhân vậthuyền thoại, hoặc mang tính lịch sử, hoặc cả hai Đó là các nhân vật khổng lồ có sứcmạnh phi thờng xẻ núi lấp biển, những Ông Gióng đánh giặc Ân, An Dơng Vơng xâythành, Mỵ Châu - Trọng Thủy, các vi Thánh Cao Sơn Đại vơng, Tứ Vị Thánh Nơng,
Trang 8Thánh Lứng, Thanh Bng cùng hàng trăm vị Thành Hoàng nửa huyền thoại, nửa lịch sử.Bên cạnh đó là những nhân vật lịch sử Bà Triệu, Dong Đình Nghệ, Lê Hoàn, Lê PhụngHiểu, Lê Lợi, Trần Khát Chân Đôi khi, những nhân vật lịch sử này, do tầm vóc lớn laocủa họ đã đợc tâm thức dân gian đồng nhất với các vị thần khổng lồ nh trờng hợp LêPhụng Hiểu đợc lồng ghép trong nhân vật thần thoại ông Bng và hàng loạt các vị ThànhHoàng nửa lịch sử, nửa huyền thoại khác Những yếu tố vừa huyền thoại, vừa lịch sử
này đã đợc khắc ghi trong tâm thức của nhân dân và đợc tái hiện thông qua các lễ hội, phong tục và tín ngỡng, nó trở thành một thứ tình yêu quê hơng đất nớc đã đợc linh
thiêng hóa, tín ngỡng hóa Những nhân vật này đã trở thành linh hồn cho những tục lệ,tín ngỡng, lễ hội trong làng xã cổ truyền Đặc biệt, những lễ hội gắn với những nhân vậtlịch sử nổi tiếng thờng có quy mô vợt ra khỏi phạm vi của làng trở thành lễ hội của cảvùng, thu hút không chỉ ngời dân trong tỉnh mà cả du khách ngoài tỉnh và nớc ngoàitham dự
Về c dân, ngoài ngời Kinh (Việt) sinh sống ở đồng bằng còn có các dân tộc thiểu
số khác: Mờng, Thái, Dao, H Mông, Khơ Mú, Thổ, thuộc các nhóm ngôn ngữ: Việt M’Mông, Khơ Mú, Thổ, thuộc các nhóm ngôn ngữ: Việt – M –
-ờng, Môn – Khơ Me, Thái – Tày, Mông – Dao, sinh sống chủ yếu ở miền núi, trên địabàn các huyện Mờng Lát, Quan Sơn, Quan Hóa, Bá Thớc, Thạch Thành, Cẩm Thủy,Ngọc Lặc, Lang Chánh, Thờng Xuân, Nh Xuân, Nh Thanh Mỗi dân tộc đó đến ngàynay còn bảo lu nhiều giá trị văn hóa đặc sắc về tín ngỡng, phong tục, lễ hội, góp phầnlàm phong phú thêm sắc thái văn hóa xứ Thanh
Có thể nói Thanh Hóa hội tụ đầy đủ những yếu tố thuận lợi để hình thành mộtvùng văn hóa dân gian đa dạng cả về tự nhiên và lịch sử, kinh tế, xã hội Phong tục, tậpquán, tín ngỡng, lễ hội Thanh Hóa vì thế mà vô cùng đa dạng, phong phú và có nhữngnét đặc sắc riêng Đó là một tiềm năng không nhỏ có thể khai thác đ a vào hoạt động dulịch, góp phần phát triển kinh tế – xã hội tỉnh nhà
1.2 Những đặc trng và tiềm năng về lễ hội, tục trò, tín ngỡng truyền thống Thanh Hoá.
1.2.1 Lễ tục, Lễ hội
Lễ hội đối với ngời dân Việt Nam xa gần nh là một sinh hoạt cộng đồng rộng lớnnhất và duy nhất Khi cha có những hình thức sinh hoạt tinh thần nh chèo, tuồng tổ chứcdiễn ở sân đình lôi cuốn đông đảo dân làng đi xem, mà các hình thức sân khấu này mớichỉ xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVIII, thì lễ hội tổ chức hàng năm là dịp dân làng đợc hòamình vào với cộng đồng Theo GS Trần Lâm Biền l“là sản phẩm tinh thần có giá ễ hội, nếu nh không còn thì khó mà tởng
tợng nổi, xã thôn nh trở về miền hoang dã, lấy gì để cân bằng cho một năm đầy vất vả, chohoà hợp yêu thơng và phần nào bản sắc sẽ dễ tàn phai, làm cạn mòn lòng yêu quê hơng
nguồn cội… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C”1
Lễ tục, lễ hội xứ Thanh có từ thời xa xa gắn liền với việc tập hợp và tổ chức các lực lợng
để chiến đấu và sản xuất, thể hiện nhu cầu cân bằng đời sống tâm linh, sáng tạo và hởngthụ các giá trị văn hóa của cộng đồng dân làng Lễ hội xứ Thanh mang sắc thái của nền vănminh nông nghiệp, gắn với tín ngỡng dân gian thờ thần thánh và những ngời có công với dânlàng, đất nớc Lễ hội truyền thống xứ Thanh rất đa dạng và là nơi lu giữ lâu dài các tục lệ,dân ca, diễn xớng, trò diễn dân gian phong phú và độc đáo
Về số lợng, Theo Lê Huy Trâm – Hoàng Anh Nhân, số điểm có lễ hội trên tỉnh Thanh Hóa đợc tính nh là đơn vị lễ hội với tiêu chí của mỗi đơn vị là có thần tích, có lệ tục, có thời
1 Trần Lâm Biền, Hội xuân vài dòng suy ngẫm, Tập san TTKH trờng CĐ VHNT Thanh Hóa, tr 13
Trang 9gian hội và lễ, có trò diễn riêng, mang màu sắc địa phơng văn hóa làng (có thể phân biệt với làng khác) con số lên đến trên 50 đơn vị1 Theo thống kê của Sở Văn hóa – Thể thao – Dulịch Thanh Hóa, toàn tỉnh Thanh Hóa hiện nay có 160 lễ hội truyền thống liên quan đến ditích lịch sử, danh thắng đợc nhà nớc công nhận, 50 lễ hội liên quan đến tín ngỡng tôn giáo.Trên tổng số 5757 làng, bản, khu phố có 1/3 làng, bản, khu phố tổ chức lễ hội hàng năm Sovới các địa phơng khác đó là con số quả là không nhỏ, đã thu hút hàng triệu du khách đếntham dự Nhiều lễ hội có ý nghĩa lớn về mặt lịch sử, văn hóa, có tác dụng tích cực trong việcgiáo dục truyền thống yêu nớc và khôi phục phát triển những nét đẹp trong sinh hoạt vănhóa cổ truyền Hàng năm, ở khắp các địa phơng trên toàn tỉnh đều tổ chức long trọng vàtrang nghiêm các lễ hội đặc trng của từng địa phơng để đáp ứng một phần đời sống tinhthần, tâm linh của ngời dân, đồng thời còn để phục vụ mục đích phát triển du lịch Lễ hội ởThanh Hóa rất phong phú và đa dạng, mang nhiều màu sắc đặc trng của từng tập tục, lề thóiriêng biệt.
Về thời gian, cũng nh những vùng miền khác trên cả nớc, do đặc trng của nền kinh tế
nông nghiệp, lễ hội Thanh Hóa diễn ra nhiều nhất vào những khoảng thời gian nông nhàn
nh sau tết vào tháng giêng mùa xuân hoặc vào tháng 7, tháng 8 mùa thu (xuân thu nhị kỳ)
Về không gian, cũng nh các địa phơng khác trong nớc, lễ hội Thanh Hóa chủ yếu diễn
ra trong không gian làng Lễ hội là biểu hiện sinh động nhất, là tổng hợp lịch sử văn hóalàng Tất cả từ tín ngỡng, phong tục tập quán… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C của làng đều đợc thể hiện trong lễ hội ởThanh Hóa có những lễ hội đợc mở rộng phạm vi nh nhiều làng giao chạ trong lễ hội songviệc mời chạ cũng khép kín trong phạm vi làng, do làng tự lo liệu Cũng có Đền thờ đợcquốc tế (tức là đ
“là sản phẩm tinh thần có giá ” ợc triều đình ban chỉ dụ, cử quan về chủ trì cuộc tế) song lễ hội vẫn chỉ
diễn ra trong không gian làng Có một số lễ hội mở ra trong không gian lớn hơn: Hội vùng.
Cả vùng (gồm nhiều làng) cùng thờ chung một Thánh và trong kỳ lễ hội thì các làng về đền
chính, nghè chính để tế thánh ở Thanh Hóa có nhiều nghè có tên là nghè Ba Làng, nghè Tứ Thôn (tức là nghè thờ Thành Hoàng chung của nhiều thôn làng) nhng bao giờ cũng có làng
làm hạt nhân Cũng có lễ hội lấy Tổng (tức nhiều làng) làm không gian lễ hội nh lễ hội đềnthờ Trần Nhật Duật ở Văn Trinh thuộc tổng Văn (Quảng Xơng), Đền Tam Tổng thờ Thánh L-ỡng Trần Khát Chân ở huyện Vĩnh Lộc Nghè Sâm là nghè thờ Cao hoàng ở làng Viên Khê(Đông Sơn) là Nghè hàng Tổng (tức tổng Thạch Khê) gồm 3 xã 9 thôn thuộc Kẻ Rủn x a Vàongày hội tế, các làng trong tổng chia nhau các phần việc, cử làng đăng cai việc chủ trì tếThánh để mở hội
Về cấp độ, lễ hội xứ Thanh rất đa dạng và phong phú, Theo Lê Huy Trâm – Hoàng
Anh Nhân, Thanh Hóa có các dạng lễ hội từ sơ khai đến các hoạt động lễ hội phát triển cao
- Cấp độ hoạt động tục lệ: loại lễ hội này còn rất thô sơ theo tục và theo lệ nhằm thực
hiện một tín ngỡng từ xa xa truyền lại mà ngời thực hiện về sau không hề biết đến nguồngốc, nguyên nhân, chỉ nhắm mắt làm theo song bỏ đi thì không đợc Có thể kể đến tục chơiHang Lãm (huyện Thờng Xuân); tục chơi Chợ Chuộng (Đông Sơn), chợ Hoàng (Nga Sơn),chợ Chìa (Tĩnh Gia); tục chơi chợ Tình duyên của ngời Mờng (Cẩm Thủy)
- Cấp độ lễ tục: hoạt động lễ hội ở cấp độ này vẫn còn gắn với tục nhằm bộ lộ một
mong muốn của cả cộng đồng song không còn chỉ là hoạt động tục lệ nữa Phần lễ ở đây đãthành quy củ, đợc ghi trong các khoán ớc của làng, còn phần Hội đã có trò diễn (tuy còn thôsơ) và trở thành nghĩa vụ của các thành viên trong làng Lễ tục làng Thiết Đanh là một ví dụtiêu biểu Sở dĩ không gọi là lễ hội vì hoạt động này hoàn toàn theo tục: năm nào trong làng
1 Lê Huy Trâm – Hoàng Anh Nhân (2001), Lễ tục, lễ hội truyền thống xứ Thanh, Nxb Văn hóa dân tộc, tr.10
Trang 10không có cố ông nào vào tuổi 60 thì phải kéo chò Chụt để mong không có tai ách cho làng.Trò Chụt có thể 2 – 3 năm làm một lần, cũng có thể mơi lăm năm mới làm lại.
- Cấp độ lễ hội: là cấp độ hoàn chỉnh nhất của hội làng miền xuôi Cấp độ lễ hội thể
hiện đầy đủ 5 thành tố trong cấu trúc lễ hội: Thành Hoàng – Thần tích – Thần điện – Tục lệ
và Trò diễn, hội đủ các yếu tố của phạm vi lễ hội (thời gian, không gian, nội dung ý nghĩa vàvăn hóa làng) Nó thỏa mãn đầu đểu nhu cầu hội hè đình đám của ng ời nông dan và biểuhiện cao nhất tín ngỡng nông nghiệp, lễ nghi nông nghiệp trong các xóm làng xa Những lễhội điển hình ở Thanh Hóa là lễ hội Lam Kinh, lễ hội đền Bà Triệu, lễ hội đền Sòng, lễ hội
đền Độc Cớc, lễ hội Phủ Na
Về loại hình, có thể phân lễ hội Thanh Hóa thành những loại hình nổi trội sau:
- Lễ hội tín ngỡng: Thờng là tín ngỡng dân gian, thờ các thần thánh nh thờ thành
hoàng, thờ Mẫu, thờ các thần liên quan đến các hoạt động kinh tế nh nông nghiệp, lâm
nghiệp, ng nghiệp… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C
Những lễ hội tiêu biểu của nhóm này phải kể đến lễ hội xã Thiệu Trung, tởng niệm ông tổnghề đúc đồng Khổng Minh Không, lễ hội xã Quảng C ở Sầm Sơn tởng niệm bà Triều – tổ snghề dệt săm xúc, lễ hội đình Phú Khê xã Hoằng Phú Hoằng Hóa Tổ nghề hát– Hoằng Hóa Tổ nghề hát… … có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C
Các lễ hội gắn với tín ngỡng thờ mẫu nh lễ hội Phố Cát ở Thạch Thành, lễ hội đềnSòng ở thị xã Bỉm Sơn, lễ hội Phủ Na (Xuân Du – Nh Thanh)
- Lễ hội lịch sử: thờng gắn với việc tởng niệm các nhân vật lịch sử của dân tộc đã có
công trong việc đấu tranh, giữ gìn và bảo vệ tổ quốc nh lễ hội đền Bà Triệu (Hậu Lộc), lễ hộiLam Kinh (Thọ Xuân), lễ hội Lê Hoàn (Thọ Xuân) Đây là các lễ hội th… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C ờng đợc tổ chức côngphu, quy mô vợt ra khỏi phạm vi của tỉnh, có tác dụng thu hút khách du lịch trên phạm vitoàn quốc
- Lễ hội dân gian gắn với truyền thuyết: hiếm có một vùng quê nào lại có nhiều truyền
thuyết thấm đậm chất nhân văn nh ở Thanh Hóa Đó là truyền thuyết Từ Thức gặp Giáng
H-ơng gắn với lễ hội Từ Thức (Nga Sơn); truyền thuyết Mai An Tiêm và quả da đỏ gắn với lễhội Mai An Tiêm (Nga Sơn); truyền thuyết Thần Độc Cớc, hòn Trống Mái ở núi Trờng Lệ,truyền thuyết cửa Thần Phù ở Nga Sơn; truyền thuyết ông Vồm ở Thiệu Hóa, trạng Quỳnh ở
Hoằng Hóa… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C
Những lễ hội còn tồn tại trên đất Thanh Hóa đến ngày nay là kết quả của một quá trìnhtiếp diễn và biến đổi văn hóa phong phú trải qua hàng nghìn năm Ban đầu chủ yếu là cácsinh hoạt tục lệ, mang màu sắc văn hóa tín ngỡng, trong quá trình ngời dân xứ Thanh thamgia vào tiến trình lịch sử dân tộc, đặc biệt có nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của n ớc nhàthuộc mọi giai đoạn lịch sử diễn ra trên đất Thanh Hóa khiến lễ hội Thanh Hóa có xu h ớnglịch sử hóa rõ rệt, những lễ hội mang màu sắc tín ngỡng dần dần bị biến đổi trở thành lễ hộilịch sử
1.2.2 Trò diễn dân gian
Lễ hội truyền thống ngoài chức năng thỏa mãn về tâm linh tín ngỡng của ngời dân đểcầu mong một cuộc sống bình yên, sung túc còn có một chức năng quan trọng khác: chứcnăng giải trí – giúp ngời dân cân bằng sau một mùa vụ vất vả với bao lo toan và tạo ranhững cơ hội để bày tỏ yêu thơng Các trò diễn chính là yếu tố thực hiện đợc chức năng giảitrí của lễ hội
Trò diễn có mặt trong hầu hết các hội làng ở nớc ta, tuy nhiên có thể khẳng định rằng,không nơi nào còn bảo lu kho tàng trò diễn dân gian điển hình và phong phú nh ở ThanhHóa Số lợng trò diễn trong lễ hội ở Thanh Hóa rất lớn, có khi trong một trò lại bao gồm nhiều
Trang 11trò diễn hợp lại, do vậy tính ra phải tới hàng trăm trò diễn khác nhau Ví nh trò Láng (hay tròXuân Phả) gồm 8 trò: trò Kéo hội, trò Chạy giải, trò Chèo thuyền, trò Hoa Lang, trò ChiêmThành (trò Xiêm), trò Ai Lao (trò Lào), trò Ngô Quốc (trò Ngô), trò Lục hồn nhung (Tú Huần).Trò Bôn (Kẻ Bôn, xã Đông Thanh, Đông Sơn, Thanh Hóa) gồm 6 trò: đấu cờ ngời, Tiên cuội(Tiên phờng), Trò thủy (Thủy phờng), Trò Ngô (Ngô phờng), Trò Hà Lan (Hà Lan phờng), TròLăng Ba Khúc… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C Nhiều trò diễn đặc sắc khác nh trò chụt trong lễ hội làng Thiết Đanh, trò
đánh bài điếm ở lễ hội làng Duy Tinh (Văn Lộc, Hậu Lộc), trò đánh hát thị lập, trò đánh cờngời, trò thi bơi ở lễ hội làng Cự Nham; trò múa lân ở làng Vạc… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C Hiếm nơi nào trên đất nớcViệt Nam đã hình thành những trung tâm, nơi mà các trò diễn đậm đặc hơn, có các trò lớn và
điển hình Đông Sơn là một trung tâm trò diễn tiêu biểu Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã thấytrong trò diễn dân gian Thanh Hóa những yếu tố tiền sân khấu Đó là các tích đã bắt đầu“là sản phẩm tinh thần có giá ”
hình thành các cốt truyện, đó là những lời thoại của nhân vật khi diễn xớng với những mâuthuẫn và giải quyết mâu thuẫn mang tính kịch tính, đó là tính cách của một số nhân vật đãbắt đầu hình thành nh thằng Ngô, con đĩ, các nhân vật Sĩ, Nông, Công, Thơng … có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C
Trò diễn ở Thanh Hóa không chỉ phong phú về số lợng mà nội dung phản ánh cũng rất
đa dạng
Các trò diễn phản ánh nội dung lịch sử nh: Trò Láng (Xuân Phả), tái hiện lại mối quan
hệ bang giao giữ nớc ta với các nớc láng giềng trong lịch sử; trò Ngô Triệu giao quân trong lễhội đền Bà Triệu tái hiện lại cuộc chiến đấu chống quân xâm lợc phơng Bắc trong cuộc khởi
nghĩa Bà Triệu… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C
Các trò diễn liên quan tới các phong tục của làng nh trò Chụt ở làng Thiết Đanh đợc tổ
chức khi năm đó làng không có cụ ông nào thọ 60 tuổi để cầu cho làng không bị tai ách; trònấu cơm thi ở nhiều làng; trò Vật cù trong lễ hội làng Vạc
Các trò diễn nhằm rèn luyện trí tuệ, sức khỏe và tạo không khí sôi nổi trong lễ hội nh
trò đánh cờ ngời, trò đánh bài điếm, trò bơi thuyền có trong nhiều lễ hội; trò kéo hội, trò chạygiải trong hội làng Xuân Phả
Các trò diễn hát xớng, gi i bày tâm tã tình cảm nh trò diễn Pồn Pông của dân tộc Mờng
và trò diễn Kim chiêng boóc mạy của dân tộc Thái
Trò diễn hình thành và tồn tại trong môi trờng lễ hội, nếu tách riêng trò diễn thì vẫn cóphần vui tơi, nhng mất đi yếu tố tâm linh vô cùng quan trọng Các trò diễn luôn phải đợc đanxen cùng các nghi lễ, phong tục tạo nên tính tổng thể của lễ hội, nh thế lễ hội nói chung vàtrò diễn nói riêng mới có thể tồn tại và sống đợc lâu dài trong nhân dân
1.2.3 Tín ngỡng
Về tín ngỡng dân gian, có thể nói trên đất nớc Việt Nam có bao nhiêu tôn giáo tín ngỡngthì ở xứ Thanh cũng có bằng ấy tôn giáo tín ngỡng đợc ngời dân ở nơi đây ngỡng vọng vàchiêm bái Tuy nhiên, mỗi một tôn giáo tín ngỡng ở Thanh Hóa đều mang những nét riêng, đặcsắc không nhầm lẫn với vùng miền nào Trên tổng thể, hoạt động tín ngỡng Thanh Hóa cũng
có nhiều đặc điểm độc đáo so với các vùng miền khác trong cả nớc
Tín ngỡng Thanh Hóa mang đậm dấu ấn của tín ngỡng cổ đại Đông Sơn Văn hóa
Đông Sơn là một nền văn hóa rực rỡ mà nhiều thành tựu to lớn của nó đã đ ợc khẳng định Lànơi phát tích của nền văn hóa đó, nhiều tín ngỡng cổ đại Đông Sơn đã hình thành và in dấu
đậm nét, đến ngày nay vẫn còn lu lại vết tích trong các cộng đồng dân c, đặc biệt là các dântộc thiểu số Dấu ấn đậm nét nhất của tín ngỡng cổ đại Đông Sơn còn lu lại đến ngày naytrên đất Thanh Hóa chính là những biểu hiện của tín ngỡng phồn thực sẽ đợc trình bày kỹ l-ỡng hơn ở phần sau (những tín ngỡng điển hình)
Trang 12Tín ngỡng thờ thần là tín ngỡng phổ biến ở nhiều nơi trên đất nớc Việt Nam Thanh Hóa
là mảnh đất vừa có nhiều yếu tố huyền thoại vừa mang đậm dấu ấn lịch sử qua từng triều đạiphong kiến Chính vì vậy số lợng thần đợc thờ ở Thanh Hóa so với cả nớc không hề nhỏ Nét
độc đáo của tín ngỡng thờ thần ở Việt Nam cũng nh ở Thanh Hóa là ở một làng, một ngôi
đền, ngôi chùa, một nơi thờ cúng không chỉ thờ độc tôn một thần mà có nhiều thần, có khi cảthiên thần, nhiên thần, nhân thần, lại có cả những yếu tố, nhân vật thờ cúng giao l u, ảnh h-ởng với các tín ngỡng, tôn giáo khác của dân tộc nh Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo Sự thờcúng đa dạng đó không hề mâu thuẫn và pha tạp mà có sự thống nhất chung trong nguyên
lý cao nhất là mục đích cầu mong sự bình yên, tốt lành, mong các thần đem lại cuộc sốnghạnh phúc nhất cho con ngời
Đối với ngời Việt ở miền xuôi, hầu hết các nhiên thần đều đã bị phong kiến hóa, việcsùng bái, thờ cúng các thần tự nhiện chủ yếu còn bảo lu đợc tính nguyên sơ, hồn nhiên ở cácdân tộc thiểu số miền núi, biểu hiện qua việc thờ thần núi, thần đá, thần cây, thần sấm, thầnsông nớc… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C Đồng thời, là sự tiếp nối của vùng đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa còn đọng lạitín ngỡng thờ ngời khổng lồ siêu việt: Độc Cớc, ông Tu, ông Vồm, thánh Bng, Cao Sơn, CaoCác, Sơn tiêu Độc Cớc, Cao Sơn Lập Thạch, Sạ Sơn
Là mảnh đất nhiều chiến tranh loạn lạc, gắn bó với sự thịnh suy của nhiều triều đạiphong kiến, thần ở Thanh Hóa phần lớn đều là những vị anh hùng dân tộc, những con ngờigắn với những bớc phát triển của đất nớc, quá trình dựng làng, giữ nớc… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C mà võ tớng chiếm
tỷ lệ lớn Trớc hết đó là các vua chúa: Bà Triệu, Lê Hoàn, Vua Đinh, Nhà Hồ, Nhà Lê, NhàNguyễn – chúa Nguyễn, chúa Trịnh Tiếp đến là các anh hùng giết giặc: Trần Khát Chân,
Lý Thờng Kiệt, Dơng Đình Nghệ, Lê Phụng Hiểu, Lê Lợi, Nguyễn Phục, Lê Cốc, Lê Ngọc,Nguyễn Chích, Quận Mãn, Trịnh Khả Có những trờng hợp độc đáo, nhân vật lịch sử đã đợc
đồng nhất với nhân vật huyền thoại để đợc nâng cao về tầm vóc trong tâm thức dân gian Đó
là trờng hợp Lê Phụng Hiểu – một nhân vật lịch sử có thật đã đợc lồng ghép tài tình với ôngBng – một nhân vật khổng lồ thần thoại để trở thành Thánh Tến – một vị thánh riêng củangời dân Thanh Hóa
Điểm đặc biệt nhất là rất nhiều ngời có công với làng xã, đất nớc đã đợc nâng lên thànhThánh Thần là do triều đình phong tặng Thánh mới thực sự là tín ng ỡng mà ngời dân xứ
Thanh tôn thờ Thanh Hoá là một trong những địa phơng tôn thờ nhiều vị Thánh nhất trong
n-ớc (12 vị) Trong quan niệm của ngời dân Thanh Hóa nói riêng và cả nn-ớc nói chung, Thánh
là bậc cao minh nhất, không bị lực lợng nào điều khiển, kiềm thúc, có nhiều quyền năng sẵnsáng diệt quỷ trừ tà, tạo đợc những cơn gió lành, ma ngọt đem lại mùa màng tơi tốt, cuộcsống yên vui cho dân làng Sách ” Địa chí Thanh Hóa liệt kê 11 (thực chất là 12) vị Thánh đ-
ợc thờ ở Thanh Hóa là: Thánh Độc, Thánh Bng (Thánh Tến), Thánh Cu, Thánh Lỡng (hai vịkhác nhau), Thánh Mẫu, Thánh Nơng, Thánh Tản, Thánh Quản, Thánh Trần, Thánh Khổng,Thánh Hẹ Mời hai vị Thánh đợc nhân dân Thanh Hóa tôn vinh và thờ phụng, có vị tầm cỡquốc gia nh Thánh Tản, Thánh Trần, Thánh Mẫu , có vị là Thánh riêng của ng… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C ời dân ThanhHóa làm cho bức tranh thờ cúng ở Thanh Hóa có mảng màu riêng Nhân vật Thánh Lỡng tồntại rất phổ biến ở Thanh Hóa, đợc thờ phụng ở nhiều nơi Tục thờ thánh Lỡng liên quan đến
tín ngỡng thờ giọt máu rơi với lời kể : Thánh Lỡng ôm đầu nhảy lên ngựa phi, đến bờ sông Cổ
Định thì hóa, chỗ nào có giọt máu rơi thì chỗ ấy lập đền thờ Sau này có Thánh L ỡng TrầnKhát Chân và Thánh Lỡng Đoàn Thợng là các nhân vật lịch sử thời Trần bị nạn rơi đầu cũngtiềm nhập vào Thánh Lỡng tham xung tá quốc Vì vậy, hiện tợng Thánh Lỡng là một hiện t-ợng văn hóa độc đáo của Thanh Hóa trong tổng thề văn hóa Việt
Trang 13Một nét đặc sắc khác của tín ngỡng thờ thần ở Thanh Hóa là tín ngỡng thờ nữ thần, thờMẫu (cửu thiên huyền nữ (cô Chín), Tứ vị Thánh Nơng, Bà Triệu, Lê Thị Ngọc Dao ) Theo
sách Thanh Hóa ch thần lục thì ở Thanh Hóa, số nữ thần đợc thờ cúng ít hơn hẳn nam thần
(173 nữ thần so với 770 nam thần) nhng lại rất đáng chú ý Tục thờ Nguyệt Nga công chúatôn thần (67 làng thờ – tập trung ở hai huyện địa đầu Thanh Hóa là Hà Trung và Tĩnh Gia),cùng với việc thờ các công chúa các triều: Trần, Lê, Chiêm Thành… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C ở những nơi non xanhnớc biếc, sơn kỳ thủy tú gắn với tín ngỡng thờ nữ thần – mang ý nghĩa cội nguồn tự nhiêntrong tâm thức dân gian
Do có bờ biển dài, nhiều cửa sông ở Thanh Hóa còn có tín ngỡng thờ thần Biển vànhững vị thần gắn với nghề nghiệp biển khơi ở Thanh Hóa có nhiều vị thần biển với tên gọikhác nhau : Đông Hải Đại Vơng, Tứ Vị Thánh Nơng, Tô Đại Liêu tôn thần, Độc cớc tôn thần,
Không thể không kể đến một hiện tợng độc đáo của Thanh Hóa trong khuynh hớng tôn
giáo đó là hiện tợng các “đạo nội”:
Thanh Hóa đợc ghi nhận là quê hơng thứ hai của đạo Mẫu sau Phủ Giày (Nam Định)
Sách Thanh Hóa ch thần lục (năm 1903) cho biết ở Thanh Hóa có 48 làng thờ Liễu Hạnh công chúa ở 11 huyện Nhng sách Địa chí Thanh Hóa ghi nhận đến năm 1920, việc thờ
Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã phát triển mở ra nhiều phủ, đền khắp tỉnh Thanh Hóa Riêng ở”
Vĩnh Lộc, Yên Định, đến trớc năm 1945, hầu nh các làng có nghè thờ Quản gia Đô bác thì
đồng thời cũng có phủ thờ Mẫu, và một số làng ở hai huyện này vì kiêng kỵ nên đã gọi mẹ là
mệ Sự phát triển của đạo Mẫu ở Thanh Hóa không chỉ phản ánh quy luật phát triển chung
“là sản phẩm tinh thần có giá ”
của tín ngỡng thờ Mẫu ở Việt Nam mà còn nói lên tính độc đáo trong văn hóa tín ng ỡng củangời Việt ở Thanh Hóa
Về Đạo Đông hay Nội đạo tràng , Nội đạo đến nay vẫn còn nhiều ý kiến đánh giá“là sản phẩm tinh thần có giá ” “là sản phẩm tinh thần có giá ” “là sản phẩm tinh thần có giá ”
không thống nhất nhng có thể khẳng định nó là đạo phù thủy, một môn phái thuộc đạo giáo“là sản phẩm tinh thần có giá
nguyên thủy Trung Quốc (Hoàng Tuấn Phổ) Pháp thuật là của đạo phù thủy, danh x” ng làcủa đạo Phật Tuy nó cha hội tụ đầy đủ các yếu tố cần thiết để trở thành một đạo nội theo“là sản phẩm tinh thần có giá ”
đúng nghĩa một tôn giáo, nhng phải thấy vị trí quan trọng của nó trên con đờng kết tập vàphát triển lâu dài của phái đạo Nội Việt Nam; đúng nh“là sản phẩm tinh thần có giá ” nhận định của Tạ Chí Đại Trờng:
Dù sao thì nhìn vào tập họp đạo Nội ở Thanh Hóa cũng khiến ta nghĩ tới đạo Cao Đài sau
“là sản phẩm tinh thần có giá
này khi loại trừ những khác biệt do thời đại đa đến1”
Cuộc Sùng Sơn đại chiến, theo Tạ Chí Đại Tờng một mặt là bởi bản chất ma thuật“là sản phẩm tinh thần có giá
trấn áp của hệ thống thầy pháp, mặt khác biểu lộ sự đối kháng nội địa và biển khơi2” Cònviệc Liễu Hạnh công chúa bị thầy pháp đánh thua, nhng lại không mất uy thế nhờ Phật cứu,nghiễm nhiên trở thành đệ tử nhà Phật phản ánh sự hội nhập của các khuynh h“là sản phẩm tinh thần có giá ớng phơng
sĩ / phù thủy / đồng cốt ở cuối thế kỷ XVIII có dáng kết thành vào đầu thế kỷ sau
1 Tạ Chí Đại Trờng, Thần Ngời và Đất Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2006, tr.191.
2 Tạ Chí Đại Trờng, Thần Ngời và Đất Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2006, tr.194
Trang 14Có thể thấy rằng, cuộc xung đột và giải pháp cho cuộc xung đột này là một bớc ngoặttrong quá trình dung hợp giữa tín ngỡng thờ Mẫu dân gian (đến lúc này đã dung hợp nhiềuyếu tố Đạo giáo) với tín ngỡng Phật giáo; hay cũng có thể nói là một bớc ngoặt trên con đờngdân gian hóa lâu dài hàng nghìn năm của Phật giáo; tạo nên sự hòa hợp tuyệt vời giữanhững nhân tố nội sinh và ngoại lai (Nho, Phật, Đạo) nhằm đáp ứng nhu cầu mới của xã hộitrong những hình thức tín ngỡng, tôn giáo này.
Nh vậy, bức tranh sinh hoạt tín ngỡng của ngời dân Thanh Hóa rất phong phú đa dạng,
về mục đích không nằm ngoài quan hiệm có thờ có thiêng, có kiêng có lành , nh“là sản phẩm tinh thần có giá ” ng vợt lêntrên hết, sâu sắc hơn, bản chất hơn chính là sự thể hiện lòng biết ơn uống n“là sản phẩm tinh thần có giá ớc nhớ nguồn”
vốn là một phẩm chất cao đẹp của ngời Việt Nam
Tóm lại, hệ thống loại hình di sản văn hóa phi vật thể: tín ngỡng, phong tục, lễ hội cổ
truyền ở Thanh Hóa hết sức phong phú, đa dạng, giàu giá trị và bản sắc, mặc dù có nhữngthăng trầm nhng liên tục đợc kế thừa và sáng tạo, thể hiện truyền thống lịch sử – văn hóalâu đời và sức sống mạnh mẽ của con ngời xứ Thanh Đặc biệt, qua hệ thống loại hình di sảnvăn hóa này, chúng ta có thể thấy rõ mối quan hệ giao lu ảnh hởng mạnh mẽ về văn hóagiữa các dân tộc cộng c trên địa bàn Thanh Hóa, đặc biệt là quan hệ gắn bó truyền thống lâudài giữa ba dân tộc Việt, Mờng, Thái
Trang 15Chơng 2
Đánh giá thực trạng về tiềm năng nhóm sản phẩm văn hoá
phi vật thể truyền thống ở Thanh Hoá
(Lễ hội, phong tục, tín ngỡng truyền thống)
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về văn hóa phi vật thể Thanh Hóa
Trong các tài liệu giới thiệu chung về lễ hội Việt Nam, số lễ hội Thanh Hóa đ ợc giớithiệu chiếm một tỷ lệ rất nhỏ:
Trong sách Lễ hội Việt Nam (PGS Lê Trung Vũ – PGS TS Lê Hồng Lý, Nxb Văn hóa thông tin, 2005) giới thiệu 304 lễ hội của các tỉnh thành trong nớc và 8
lễ hội các nớc Đông Nam á So sánh tỷ lệ các lễ hội trong nớc đợc giới thiệu
trong sách theo địa phơng ta có bảng sau:
Theo bảng thống kê trên ta thấy địa phơng có nhiều lễ hội đợc giới thiệu trong sách là:
Hà Nội, Phú Thọ, Hà Tây, Bắc Giang, Thái Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Tp Hồ Chí Minh, Nam
Định
Trang 16Thanh Hóa trong đó có 7 lễ hội đợc kể đến với tên gọi là: 1 Hội kẻ Đanh, kẻ Lào; 2.Hội đền Lê Phụng Hiểu; 3 Hội kẻ Rỵ; 4 Hội kẻ Chè; 5 Lễ hội đền Bà Triệu; 6 Hội đền vuaLê; 7 Trò chèo cạn và tục bơi trải ở Tam Tổng
Trong sách Tín ngỡng, phong tục và những kiêng kỵ dân gian Việt Nam (phần Phụ lục) (Tác giả ánh Hồng, Nxb Thanh Hóa, 2004) giới thiệu lễ hội trong cả nớc theo từng tháng,
trong đó có một số lễ hội Thanh Hóa nh: Hội chọi voi ở Chiềng (Yên Định), Hội trò Xuân Phả(Thọ Xuân), Hội đền Bà Triệu (Hậu Lộc), Hội đền Sòng (Bỉm Sơn), Hội Tam Tổng (Vĩnh Lộc).Những tài liệu trên cha phải là tất cả các kênh thông tin phản ánh lễ hội Thanh Hóatrong hệ thống lễ hội cả nớc Đó cũng cha phải là những kênh thông tin thật sự chính xác, tuynhiên, từ đó chúng ta có thể rút ra những nhận xét sau:
- Thanh Hóa là địa phơng có số lễ hội đợc nhắc đến thuộc loại trung bình trong cả nớc
- Số lễ hội Thanh Hóa đợc nhắc đến trong các công trình nghiên cứu chung về lễ hộiViệt Nam không thống nhất và không tiêu biểu Điều này có thể đợc lý giải do một số nguyênnhân: Hoặc bản thân lễ hội Thanh Hóa cha có những điển hình gây đợc dấu ấn đối với cả n-ớc; hoặc sự nghiên cứu về lễ hội Thanh Hóa cha đầy đủ; hoặc sự quảng bá lễ hội Thanh Hóa
đối với du khách cha thực hiện tốt Trong nghiên cứu đề tài, chúng tôi thiên về hai nguyênnhân sau Phần sau của chuyên đề sẽ cho thấy Thanh Hóa có một hệ thống lễ hội phongphú và không phải không có những điển hình ghi dấu ấn đối với cả nớc
Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa Thanh Hóa đã có một số
công trình nghiên cứu về lễ hội Thanh Hóa Tiêu biểu là 2 tập sách Lễ tục – lễ hội truyền thống xứ Thanh do các tác giả Lê Huy Trâm va Hoàng Anh Nhân biên soạn Trong hai tập
sách, các tác giả đã lựa chọn, khảo cứu 24 lễ tục, lễ hội tiêu biểu Tuy nhiên, chính tác giả
cũng đã nhận thấy chỗ cha thỏa đáng của công trình: “cha thể khảo tả các Lễ tục, Lễ hội truyền thống ở Thanh Hóa Cho nên việc họn khảo tả các Lễ tục và Lễ hội ở đây tất yếu cũng rơi vào tình trạng ngẫu nhiên, làm cho việc phân loại có phần phiến diện, ch a thỏa
đáng”… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C và “cha khảo tả loại lễ hội tôn giáo” 1
Đặc biệt, công trình khoa học cấp tỉnh Nghiên cứu di sản văn hóa truyền thống Thanh Hóa (hệ thống loại hình di sản: tín ngỡng, phong tục, lễ hội cổ truyền) do trờng Đại học Hồng
Đức tiến hành đã nghiên cứu về tín ngỡng, phong tục, lễ hội truyền thống Thanh Hóa mộtcách có hệ thống và khá đầy đủ Tuy nhiên, vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóaphi vật thể trong việc phát triển kinh tế – xã hội hiện đại cha đợc đề cấp đến một cách tơngxứng
Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Trung ơng V (khóa VIII) về xây dựng nềnvăn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa
đã rất chú trọng đến nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trong đó có việc điều tra, s utầm, nghiên cứu văn hóa phi vật thể trong toàn tỉnh, đặc biệt đối với miền núi – nơi sinh tụcủa đồng bào các dân tộc thiểu số Một số phong tục, tập quán, trò diễn, lễ hội đã đợc phụcdựng thành công nh: lễ tục Kin chiêng boóc mạy (dân tộc Thái), lễ tục Pồn Pôông (dân tộcMờng), lễ hội Khai hạ, lễ hội Mờng Khô, lễ tục làm vía kéo xi (ngời Mờng), lễ tục cấp sắc (ng-
ời Dao), lễ hội Đình Thi (ngời Thổ)… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C Các trang phục truyền thống cũng đợc su tầm để bảotồn và trng bày Bên cạnh đó, các giá trị văn hóa phi vật thể khác đang tồn tại cũng đ ợcnghiên cứu, loại bỏ những yếu tố lạc hậu, mê tín dị đoan để tiếp tục phát huy
Tuy nhiên, công tác su tầm, nghiên cứu về văn hóa phi vật thể Thanh Hóa còn quá ít
và cha thật chuẩn xác, kho tàng văn hóa phi vật thể Thanh Hóa còn đang bị vùi lấp, chỉ mới
1 Lê Huy Trâm – Hoàng Anh Nhân (2001), Lễ tục – lễ hội truyền thống xứ Thanh, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội
Trang 17khơi lên đợc một phần nhỏ cha đáng kể Những tài liệu su tầm đợc cần phải so sánh, đốichiếu, biên soạn cẩn thận trớc khi ban hành Những tác phẩm xuất bản cần kết hợp nhiều
hình thức: văn bản, tranh ảnh, phim… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C
Theo định kỳ hai năm một lần, Thanh Hóa tổ chức Liên hoan ngày hội văn hóa các dân tộc Trong liên hoan, đồng bào 7 dân tộc trong tỉnh đã tổ chức biểu diễn những làn điệu dân
ca, dân vũ, trò diễn độc đáo của dân tộc mình và giao lu, học hỏi lẫn nhau Tham gia lễ hộicòn có sự góp mặt của các tỉnh bạn (Hòa Bình) và nớc bạn (tỉnh Hủa Phăn – CHDCND Lào)
Cho tới năm 2010, Thanh Hóa đã 13 lần tổ chức Liên hoan ngày hội văn hóa các dân tộc,
đây là hoạt động có hiệu quả nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể củatỉnh nhà Đồng thời liên hoan còn mang ý nghĩa là một lễ hội mới trên nền tảng lễ hội truyềnthống của dân tộc
2.2 Những lễ hội, tín ngỡng điển hình
2.2.1 Những lễ hội điển hình
Hớng nghiên cứu của đề tài đợc xác định không phải là nghiên cứu thuần túy về lễ hội
mà chỉ lựa chọn một số lễ hội gắn với các di tích và tour du lịch văn hóa Thanh Hóa đểnghiên cứu sâu với ý tởng phục dựng về mặt t liệu, trình thức, giá trị nghệ thuật – văn hóagắn với thần tích, xuất xứ
Việc miêu tả kỹ lỡng lễ hội là cần thiết, tuy nhiên do đặc điểm mục tiêu nghiên cứu của
đề tài là xây dựng SPVHDL cho nên chúng tôi lựa chọn giải pháp miêu tả kỹ hơn một số bìnhdiện tiêu biểu trong tế lễ, nghi lễ thờ cúng, trình thức biểu đạt tâm linh tín ngỡng và có thể bổsung những trò diễn dân gian vốn có nhằm khẳng định sức hấp dẫn của lễ hội
Có thể kể đến một số lễ hội tiêu biểu ở Thanh Hóa nh sau:
* Lễ hội Lam Kinh:
Lễ Hội Lam Kinh (từ 20-22/8 âm lịch hàng năm) là lễ hội truyền thống suy tôn công laocủa nghĩa quân Lam Sơn gắn với vị thế của ngời anh hùng dân tộc Lê Lợi, là điểm nhấn đậmnét trong sinh hoạt văn hoá của Xứ Thanh Lễ hội này cũng nổi tiếng cả nớc và ăn sâu vàotâm thức ngời Việt với sự tích hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi Lễ hội Lam Kinh là một“là sản phẩm tinh thần có giá ”
trong những lễ hội lịch sử đã trở thành quốc lễ cùng với lễ hội đền Hùng (Phú Thọ), lễ hội Hai
Bà Trng (), lễ hội Trờng Yên (Ninh Bình), lễ hội Tây Sơn (), lễ hội đền Bà Triệu (Thanh Hóa).Sau 10 năm kháng chiến gian khổ, năm 1428 cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hoàn toànthắng lợi Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, đặt lại quốc hiệu Đại Việt,
mở đầu cho triều đại Lê sơ hng thịnh và kéo dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam với
26 đời vua và trị vì đợc 354 năm
Cũng giống nh các triều đại trớc, để tỏ lòng tôn kính đối với tổ tiên, các vua triều Lê sơ
đã cho xây dựng trên quê hơng mình một khu điện, miếu thờ và lăng tẩm có quy mô lớn ởLam Sơn, đợc gọi là Tây Kinh hay Lam Kinh và coi đây là kinh đô thứ hai của nớc Đại Việt d-
ới thời Lê sơ
Qua những tài liệu và sách vở ghi chép, lễ hội Lam Kinh xa đợc tổ chức vào tháng hai
âm lịch hàng năm chứ không phải vào ngày 21, 22, 23 tháng tám âm lịch nh hiện nay:
Hăm mốt Lê Lai Hăm hai Lê Lợi Hăm ba giỗ mụ hàng dầu
Lễ hội xa đợc tổ chức hàng tháng trời từ khi vua và các quần thần xa giá về Lam Kinh
bái yết sơn lăng đến khi trở lại Đông Kinh, chứ không phải chỉ trong ba ngày nh hiện nay: Hai
Trang 18mốt Lê Lai / Hai hai Lê Lợi / Hai ba giỗ mụ hàng dầu … có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C Lễ hội xa có quy mô quốc tế của triều
đình nhà Lê với không gian lễ hội rộng lớn (cả tỉnh Thanh) và thời gian lễ hội dài (hàng thángtrời) Nó khác hẳn với hội làng chỉ diễn ra trong không gian hẹp và thời gian ngắn
Tham gia lễ hội Lam Kinh, du khách còn đợc tận hởng một không gian thoáng đãngcủa khu rừng nguyên sinh, đợc đắm mình trong phong cảnh sơn thủy hữu tình và tham quancác điểm di tích nổi tiếng, đặc biệt là khu lăng mộ bia Vĩnh Lăng – tấm bia đ ợc đánh giá làmột trong những tấm bia lớn và đẹp nhất Việt Nam
Lễ hội Lam Kinh vốn là một lễ hội cung đình, theo nghi thức tế lễ cũng đình thời Lê docác đại thần soạn định theo điển lễ chứ không phải là lễ hội giân dan thờng gặp ở các làngquê Thời Lê, Nho giáo rất đợc đề cao, do vậy tục hát rí ren, thể hiện tín ngỡng phồn thựctrong quan niệm thẩm mỹ của dân gian đã bị các quan đại thần – nho học bài bác, coi đó làthói dâm dục của chốn thôn quê cần loại bỏ khỏi lễ hội Lam Kinh Cùng với việc tế lễ theo
cách thức quy định chặt chẽ, nhà vua sai chế ra các điệu vũ: Bình Ngô phá trận, Ch hầu lai triều … có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C âm nhạc có đánh trống đồng … có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C nghi thức tế lễ cung đình
Theo Phan Huy Chú, các trò diễn Bình Ngô phá trận, Ch hầu lai triều là những trò
đậm nét dân gian đợc thực hiện xen kẽ trong một số lễ tế ở điện Lam Kinh, khi các vua thời
Lê sơ về bái yết Sơn Lăng vào rằm tháng giêng hàng năm, sau đó bị coi là thứ trò diễn củatiện dân, bị loại bỏ Nhng, ở các làng quê Thọ Xuân, Thanh Hóa, nhất là các làng xã gầnkhu Lam Sơn vẫn bảo lu cho đến ngày nay
Theo Lê Huy Trâm, trò Tú Huần và một số trò chơi đồng dạng khác ở Lam Kinh, trai
gái ngồi xếp chéo chân tay, kết thành hoa nụ, vừa hát vừa phụ họa với ng ời nhảy múaxung quanh, hình ảnh dân gian trên gợi ký ức về một xã hội nông nghiệp thanh bình ở thời
Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông và ngày nay ở các vùng quê Thọ Xuân - Thanh Hóa trẻ emvẫn còn chơi các trò hát múa đồng giao có hình ảnh tơng tự
Sau khi nhà Lê sơ sụp đổ, lễ hội Lam Kinh tha vắng dần và rơi vào quên lãng, khôngcòn đợc tổ chức theo nghi lễ cung đình Lễ hội Lam Kinh chỉ còn một phần ảnh xạ qua lễ hội
đền Lê ở làng Bố Vệ trong triều Nguyễn, nhng không thể so sánh đợc với lễ hội Lam Kinh xa.Tại Lam Kinh, tuy không đợc triều đình tế lễ hàng năm nh xa, nhng với sự hớng về cội nguồnnhằm tôn vinh triều đại nhà Lê và những anh hùng dân tộc đã làm rạng danh cho non sông
đất nớc và quê Thanh, nhng nhân dân Thanh Hóa đã dân gian hóa lễ hội Lam Kinh đọng lại
trong lễ hội đền vua Lê ở làng Cham, xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân và ở làng Kiều Đại, Bố
Vệ, phờng Đông Vệ, TP Thanh Hóa ngày nay Việc chuyển lịch lễ tiết từ tháng hai sangtháng tám âm lịch nh hiện nay cũng là phù hợp với tâm thức dân gian
Trong quy hoạch chiến lợc phát triển du lịch Thanh Hóa giai đoạn 2010 – 2020 đã xác
định lễ hội Lam Kinh là sản phẩm cốt lõi mang tính chiến lợc tạo ra nam châm chính thu hútkhách đến Thanh Hóa Khu di tích Lam Kinh xứng đáng với giá trị lịch sử và giá trị văn hóathời Lê của Đại Việt Các giá trị này chỉ có thể hiện hữu, phát huy đợc và để lại cho các thế
hệ mai sau khi nó đợc tôn tạo vào tái hiện.l
Trang 19núi dài và cao nh ngày nay Chú bé sống trong tình yêu thơng đùm bọc của dân làng và cósức khỏe phi thờng Ngày ấy, có một loài thủy quái mũi đỏ xuất hiện từ biển Đông tràn vàophá phách, quấy nhiễu làm cho làng xóm xơ xác tiêu điều Chàng trai xin dân làng rèn mộtchiếc búa đồng để diệt bọn quỷ Đỏ chàng cầm búa theo bè ra biển đánh cá, bọn quỷ Đỏxông vào bè đều bị chàng chém chết Nhng bọn quỷ rất tinh quái, hôm nào chàng trai ra khơithì chúng kéo vào đất liền làm hại dân làng, hôm nào chàng ở lại đất liền chúng lại hùa nhau
ra khơi vây các bè lới để ăn thịt đoàn ngời đánh cá Chàng chai đã dùng búa đồng xẻ đôithân mình: một nửa trấn ở trong làng, một nửa canh giữ ngoài biển khơi, bọn quỷ đỏ bị đuổi
đánh tơi bời Cảm phục lòng dũng cảm và nhân ái của chàng, Ngọc Hoàng cho vời chàng lênthiên đình để phong chức tớc nhng chàng nhất quyết xin ở lại trần gian giúp dân chúng, NgọcHoàng liền phong chàng làm Thánh và bản cho phẩm trật đợc nhân dân đời đời tôn vinh thờphụng, hơng khói Truyền thuyết và tín ngỡng thờ thần Độc Cớc là một nét độc đáo ở vùngbiển Sầm Sơn, thể hiện quá trình ngời Việt nơi đây tiến ra biển nhng còn ngập ngừng và sợhãi trớc biển
Đền thờ Độc Cớc tọa lạc trên mỏm núi Sầm Sơn nhô ra biển Nhân dân gọi nơi xây đền
là Hòn Cổ Giải – là mỏm cực đông của dãy núi Trờng lệ, phía Tây là những thắng cảnh nổitiếng nh Hòn Trống Mai, chùa Cô Tiên
Việc tế lễ ở đền Độc Cớc hầu nh diễn ra quanh năm song tập trung phần nhiều vào
tháng giêng, tháng hai, tháng năm âm lịch Lệ tế lễ có hai hình thức: Tiểu tế và Đại tế Tiểu
tế có Tế mộc dục vào 30 tháng chạp (lễ tắm tợng), Tế giao thừa (vào đêm giao thừa), Tế mở cửa đền vào 13 tháng giêng âm lịch để khách thập phơng đợc vào lễ thánh trong năm mới,
Tế cơm mới khi thu hoạch xong mùa màng Các kỳ Đại tế gồm có:
- Tế Chàm Lợn: vào mồng năm tháng giêng
- Tế Chàm Trâu: vào mồng sáu tháng giêng
- Tế Bốc thăm: vào mồng bảy tháng giêng để bốc thăm nhà làm Xám Lợn, Xám Trâu
- Tế Cầu Cát: vào mồng năm tháng ba để cầu may mắn, bình yên cho cả làng
- Tế Xám tạ: vào ngày mời hai tháng ba với ý nghĩa các Nhà Xám làm xong nghĩa vụ,trong năm đợc thánh phù hộ làm ăn khá giả nên làm lễ tạ thánh đã ban lộc
Các kỳ đại tế do làng Núi tổ chức tại đền Thợng Ngoài ra còn có hai đại tế trong lễ hội
do 4 làng: Sầm Thôn, Lơng Trung, Cá Lập, làng Hới thuộc xã Lơng Niệm tổ chức chung là lễcầu ma và lễ kỳ phúc cầu yên Hai lễ hội này tổ chức với quy mô lớn, thu hút nhiều ng ời thamgia, tạo nên nét văn hóa đặc sắc vùng Sầm Sơn
án th, bên bên đặt hoa quả
Cỗ bánh chng bánh giày là cỗ thi giữa các làng Mỗi làng cử một cụ cao niên vào chấmgiải Bốn làng đem cỗ lên đền Thợng tế cầu ma, các cụ già trong ban giám khảo cùng dânlàng thảo luạn và chọn ra những cỗ bánh đợc giải là những chiếc bánh đúng kích thớc, bột
Trang 20trắng mịn, dẻo và miềm Định giải xong cỗ đợc rớc vào đền để tế thánh Tế xong cỗ làng nào
đem về làng ấy
Lễ kỳ phúc
Lễ kỳ phúc đợc tổ chức vào 12, 13, 14 tháng hai âm lịch vào những năm Tý, Ngọ, Mão,Dậu do các làng lần lợt đăng cai Trong ba ngày lễ hội, làng đến lợt đăng cai phải chịu mọiphí tổn và sắm lễ vật đầy đủ để tế ngoài nghi thức tế thần, các làng còn tổ chức các trò chơi
nh đánh vật, bơi chải, đánh cờ ngời và đặc biệt là tổ chức rớc kiệu Các làng rớc kiệu thànhhoàng làng mình về đình làng đăng cai để tế Nghi thức rớc kiệu cũng có điểm đăcọ biệt:kiệu bà Triều đợc rớc đi đầu, kiệu thần Độc Cớc đợc rớc tiếp theo, sau đó mới đến kiệu cácthần của 8 thôn đợc xếp theo trình tự các bậc Thợng thợng đẳng, Thợng đẳng và Trung đẳng
là chị Trong giây lát bà Triều đã dệt lại tấm lụa nh cũ trong khi Độc Cớc mới nặn đợc cái đầutrâu Độc Cớc thua phải làm em tôn bà Triều là chị Từ sự tích ấy, khi tổ chức rớc kiệu lễ vật,trên kiệu bà Triều là tấm lụa trắng tinh nguyên, lễ vật trên kiệu thần Độc C ớc là một cái đầutrâu Khi rớc kiệu, kiệu Bà Triều đi trớc, kiệu Độc Cớc đi sau nhng thỉnh thoảng vẫn tạt lên đểngó kiệu Bà Triều Lễ r
“là sản phẩm tinh thần có giá ” ớc kiệu vừa trang trọng, đông vui, sắc màu sặc sỡ thu hút đông đảonhân dân trong vùng đến dự
Theo sách "Thanh Hoá ch thần lục" tỉnh Thanh Hoá có tới 52 nơi có đền, miếu thờ thần
Độc Cớc thuộc các huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Yên Định, Quảng Xơng, ĐôngSơn Trong các đền thờ ở các địa điểm nói trên, đền Độc Cớc ở Sầm Sơn nổi tiếng hơn cả là
do gắn với thắng cảnh Sầm Sơn Vào những ngày đầu năm, nhân dân trong vùng sau khi cúngbái ở các Chùa, Phủ "trên rừng" nh đền Cửa Đạt, Phủ Na đều "xuống biển" dâng lễ ở đền
Độc Cớc, đền Cô Tiên để cầu may mắn Đặc biệt từ khi thắng cảnh Sầm Sơn trở thành khu dulịch nghỉ mát nổi tiếng, thu hút du khách trong nớc và quốc tế thì đền Độc Cớc và lễ hội đền
Độc Cớc cũng là một điểm quan trọng trong hành trình du lịch xứ Thanh
* Lễ hội đền bà Triệu
Lễ hội đền Bà Triệu gắn với tên tuổi của Triệu Thị Trinh - vị anh hùng dân tộc thời đầucông nguyên của đất nớc đã khởi binh chống lại nhà Hán tại vùng núi Na Câu nói của bà đã
đợc lu truyền muôn đời: “là sản phẩm tinh thần có giáTôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở
biển Đông, đánh đuổi giặc Ngô ra khỏi giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom l ng làm tỳ thiếp cho ngời ta”
Hình tợng Bà Triệu không chỉ đợc ghi dấu trong sử sách mà còn đợc hóa thân đẹp đẽtrong truyền thuyết, ca dao Hình ảnh của bà khi ra trận đợc lu lại vô cùng đẹp đẽ: mặc áo“là sản phẩm tinh thần có giá
giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cỡi voi trận đôi khi kỳ vĩ ” “vú dài ba thớc” – là một sự
tôn kính sức mạnh và khả năng siêu thực của bà làm cho quân Ngô kinh hoàng mỗi khi giáp
Trang 21trận Biết bà là ngời con gái ái khiết úy ô (yêu cái trong sạch, ghét cái nhơ bẩn), quân giặc
đã phải dùng đến cách dùng đội quân 100 tên không một mảnh giáp che thân để giao chiếnkhiến Bà thấy bị làm nhục, lui quân và thất trận Bà đã tuẫn tiết tại núi Tùng Sơn, làng Bồ
Điền (thuộc địa phận Hậu Lộc ngày nay) vào ngày 21/2 năm Mậu Thìn (248) Để t ởngnhớ công ơn của bà, nhân dân quanh vùng đã lập đền thờ bà tại núi Bần (còn gọi là núiGai), xây lăng mộ bà tại núi Tùng Sơn và làng Bồ Điền đã dựng ngôi đình lớn ở giữa làng
để quanh năm hơng khói thờ phụng bà Tơng truyền, Bà Triệu đã hiển linh, giúp Lý Nam
Đế đánh thắng giặc Lâm ấp quấy rối phơng Nam
Lễ hội đền bà Triệu là lễ hội lich sử, đ ợc diễn ra liên tục từ sáng ngày 19 đến 24tháng 2 âm lịch hàng năm Phần hội và phần lễ đ ơc đan xen vào nhau, trong lễ có hội,trong hội có lễ, không phân chia nh các lễ hội khác
Điểm nhấn trong lễ hội là việc rớc bóng từ đến chính qua lăng rồi về đình làng và từ
đình làng rớc trở về đền chính Trong khi rớc kiệu, cứ đi một đoạn là kiệu lại quay tròn - ngời
ta gọi là kiệu bay , tạo nên một sự kiện lạ trong hình thức r“là sản phẩm tinh thần có giá ” ớc kiệu ở các lễ hội nói chung
Có ngời gọi đây là một hiện tợng lên đồng tập thể, bởi vì những ngời khiêng kiệu nói rằng họ
nh say trong khi khiêng, họ không điều khiển đợc hành động của mình
Trong những ngày hội, quanh đền Bà Triệu lúc nào cũng tấp nập, đông vui, ngoài tế
lễ còn có các trò đấu vật, leo dây, thổi cơm thi, đánh cờ t ớng, đặc biệt là có hầu bóng.Buổi hầu bóng này gọi là "giá đồng Bà Triệu " Giá đồng này khác với các giá đồng tại cácphủ Mẫu, không kéo dài và không có truyền phán gì Trang phục của ng ời ngồi giá đồngcũng khác, thờng mặc quần áo đỏ, thắt lng xanh, giắt kiếm ngang lng, bên ngoài khoắc
áo choàng đỏ, đầu chít khăn nhiều nếp, nhiều màu sắc Ngời ngồi đồng chỉ ban trầu hoặcrợu cho ngời xung quanh Có những lúc việc hầu bóng ở đền Bà Triệu bị coi là mê tín dị
đoan do việc không am hiểu văn hóa, lịch sử Nhng đến nay, với việc Nhà nớc công nhậnlăng và đền thờ Bà Triệu là di tích lịch sử, nét sinh hoạt văn hóa này đang đ ợc khôi phụcvới đúng bản chất và ý nghĩa của nó
Đặc biệt, trớc ngày lễ hội, tại làng Phú Điền còn diễn ra hội "Ngô Triệu giao quân" làmột hình thức nhằm tạo ra dấu ấn sâu đậm trong tâm thức các thế hệ về chiến công oanhliệt của Bà Triệu Trai làng chia làm hai phe dùng gậy tre đánh trận giả, phe nào thắng đ ợcgọi là quân Bà Triệu, phe nào thua phải rút chạy đợc gọi là quân Ngô Cuộc giao tranh diễn
ra đến tra rồi cả hai bên hòa vào nhau để đi rớc kiệu vua Bà Buổi tra hôm ấy mọi ngời đều
ăn đồ nguội để tởng nhớ việc ra trận phải ăn lơng khô, buổi tối các nhà mới làm cơm mờinhau ăn uống linh đình coi nh đang mở tiệc khao quân
Nh vậy, lễ hội đền bà Triệu là lễ hội lịch sử, nó đợc hình thành trên một sự kiện lịch sử
có thật, nhằm tỏ lòng tôn kính của ngời đơng thời Đồng thờ, lễ hội đã tạo ra một hoạt độngvăn hoá làm sống lại lòng yêu nớc, ý chí kiên cờng, bất khuất và tài năng xuất chúng của BàTriệu – một vị nữ anh hùng dân tộc để làm gơng cho muôn đời con cháu mai sau noi theo
Lễ hội đền Bà Triệu là lễ hội về một nữ thánh đặc biệt trong lịch sử dân tộc Việt đầucông nguyên, một hoạt động có tính kết nối quốc gia và quốc tế với du lịch Sầm Sơn- LamKinh - Lễ hội đức thánh mẫu Liễu Hạnh ở đền Sòng (Bỉm Sơn) Đây là điểm tài nguyên dulịch nhân văn quan trọng đối với nghiên cứu lịch sử, dân tộc học và cũng là đối t ợng đặc biệtcho du lịch văn hóa trên phạm vi cả nớc
* Lễ hội rớc nớc ở chùa Báo Ân
Lễ hội rớc nớc ở chùa Báo Ân gắn liền với mảnh đất làng Bồng Thợng – một làng cổcủa xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc ở đây có nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng đợc xếp
Trang 22hạng cấp quốc gia (Phủ Trịnh, Nghè Vẹt, đền thờ quốc công Hoàng Đình ái) và cấp tỉnh(Lăng mộ Triết vơng Trịnh Tùng, đền thờ quận công Hoàng Đình Phùng, đền thờ Đờng côngQuang Lộc, chùa Báo Ân).
Là vùng đất có nhiều di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng, Bồng Thợng có nhiều lễ hội lớn
in đậm truyền thống văn hóa còn lu giữ đến ngày nay, nh lễ hội Phủ Trịnh (Giỗ Thái vơng Trịnh Kiểm) vào 17, 18-2 âm lịch hàng năm, với đầy đủ nghi thức tế lễ để tởng nhớ công đức của 12 vị chúa nhà họ Trịnh Tại di tích Nghè Vẹt có lễ hội Ky Thần vào ngày 14-11 âm lịch
Đặc biệt, lễ hội R“là sản phẩm tinh thần có giá ớc nớc ” ở chùa Báo Ân với nhiều nghi lễ Phật giáo, mang đậm nét văn
hóa truyền thống vùng sông nớc đã đợc quỹ Ford tài trợ thông qua dự án “Khôi phục tiếng hát, chèo thuyền trên sông” năm 2005
Lễ hội rớc nớc ở chùa Báo Ân đợc tổ chức từ 27 đến 29 tháng 2 âm lịch hàng năm thuhút nhiều khách thập phơng tham dự Lễ hội diễn ra ở khu vực chùa và trên dòng sông Mãvới nghi lễ thuyền rồng ra giữa dòng sông Mã lấy nớc Trớc khi diễn ra lễ chính ở chùa Báo
Ân là đêm hội hoa đăng (tối ngày 27-2) tại bế n đò Hoành trên dòng sông Mã thơ mộng.Những chiếc thuyền, bè chở ngời và đèn nến lung linh đua nhau chạy sáng trng cả một vùngsông nớc Ngời ngồi trên thuyền vừa hát trống quân, vừa hát đối với thuyền bên, vang vọngcả một khoảng không gian huyền ảo Thuyền chạy lớt trên mặt sông đến giữa dòng nớc biếcgọi là vụng Quần Tiên thì những chiếc đèn hoa sen đợc thả trên sông, theo dòng nớc xoáynhẹ chạy quanh vụng, rồi mới xuôi dòng sông Mã ra biển lớn Chính lễ đợc diễn ra sángngày 28-2, là lễ R“là sản phẩm tinh thần có giá ớc nớc chùa Báo Ân Sau l ” ễ rớc kiệu Mẫu qua ngõ Vạn, ngõ Chùa, đếnNghè Vẹt lên chân núi Báo, sang khe Mang Cá đến R“là sản phẩm tinh thần có giá ớc bóng v ” ề chùa Báo Ân là đến
phần R“là sản phẩm tinh thần có giá ớc nớc Trên b ” ến Báo Ân, hàng trăm ngời dân trong trang phục rực rỡ sắc màu,trên 5 chiếc thuyền rồng lớn Đi đầu là thuyền Phật lấy nớc (chở lộng vàng, cờ quạt và 12 ng-
ời nữ mặc áo tứ thân, đi hài trắng, đầu đội các mâm hoa quả, mang theo bình sứ hình bầudục để đựng nớc; thuyền Mẫu đi thứ hai gọi là thuyền cô Ba Tho“là sản phẩm tinh thần có giá ải g” ồm các ngời nữ ăn
mặc lễ hội có phờng bát âm chơi nhạc làm nền cho các cô hát, múa; theo sau hai thuyền
tr-ớc là thuyền chở các cô, các cậu, tiếp đến là thuyền chỉ huy và thuyền sau cùng chở giámsát việc lấy nớc Đoàn thuyền chèo ra giữa sông Mã, trong sự reo hò, cổ vũ của đông đảo dukhách về dự lễ hội, sau đó thuyền qua hòn đá Bàn, vợt hòn đá Ngốc, rẽ lái sang ngang, lợn
ba vòng đến hòn đá giữa dòng sông thì cắm nêu dừng thuyền Ngày 29-2 lễ hội kết thúctrong phần tế tạ (ngày hóa của Mẫu)
Ngày nay, trong các ngày diễn ra lễ hội tại làng Bồng Thợng, chính quyền và các đoànthể xã Vĩnh Hùng đã tổ chức nhiều trò chơi, trò diễn dân gian truyền thống của địa phơng nh
đẩy gậy, kéo co, thi đấu thể thao
* Lễ hội đền Lê Bố Vệ
Đền Lê Bố Vệ dợc xây dựng năm 1805 thời vua Gia Long trên đất làng Bố Vệ, gần Cầu
Bố (TP Thanh Hóa) Hiện nay có nhiều lý do giải thích việc vua Gia Long cho xây dựng khu
đền này Gọi là đền Lê Bố Vệ là để phân biệt với đền Lê làng Cham trên đất Lam Sơn – ThọXuân Lam Kinh đã từng diễn ra nhiều lần lễ hội có quy mô lớn mỗi khi nhà vua và các quan
từ Thăng Long về bái yết sơn lăng Sau nhiều biến cố lịch sử, Lam Kinh trở nên đổ nát,hoang phế nên lễ hội làng Cham ngày càng mai một Lễ hội đền Lê Bố Vệ đ ợc tập trung thuhút nhiều nơi hớng về nơi đây là Thái miếu thờ các vua Lê, để tởng nhớ cuộc khởi nghĩa LamSơn và gần 400 năm dới chế độ phong kién triều Lê một thời huy hoàng Ngày nay, di tích
đền Lê Bố Vệ và lễ hội nơi đây trở thành điểm du lịch thu hút nhiều đoàn tham quan trong n
-ớc và quốc tế
Trang 23Hàng năm, ở đền Lê Bố Vệ có 2 lễ chính Lễ hội xuân diễn ra vào các ngày rằm thángGiêng Lễ hội chính diễn ra vào các ngày 20, 21, 22 tháng Tám âm lịch Về ý nghĩa, lễ hộixuân cầu cho ma thuận gió hòa, dân làng no ấm Lễ hội chính là lễ tởng nhớ ngày mất củavua Lê Thái Tổ và Lê Lai
Về nghi thức tế lễ, hai lễ này đều đợc tiến hành các bớc giống nhau nhng quy mô thì lễhội chính hơn hẳn Lễ hội chính xa kia đợc tổ chức quy mô hoành tráng vào các năm Tý,Ngọ, Mão, Dậu Cũng vào những năm này, tại kinh đô Huế, triều đình cũng làm lễ tế NamGiao (tế trời đất), là một trong những quốc tế to nhất trong các triều đại phong kiến Cácquan tiến hành tế lễ phải ở riêng, ăn chay, giữ mình thanh tịnh nhiều ngày trớc Các nghithức tế lễ đợc tiến hành nghiêm trang, long trọng Ngày 21 tháng Tám âm lịch giỗ Trung Túcvơng Lê Lai có dâng lễ vật và đèn nhang Tơng truyền khi sắp mất, Lê Lợi dặn con cháu vàquần thần tổ chức lễ giỗ Lê Lai trớc giỗ mình một ngày để tri ân ngời anh hùng liều thân cứuchúa Hằng năm đến ngày này, nhân dân Thái Bằng quê hơng Lê Lai đem lễ vật tới đền Lê
Bố Vệ để làm giỗ Lê Lai Ngày 22 tháng Tám là ngày Đại tế giỗ Lê Lợi, đ ợc tổ chức theo hìnhthức quốc tế vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu Các năm bình thờng không tổ chức đại tế thìdân làng Bố Vệ tổ chức thắp hơng dâng lễ vật cúng giỗ
Sau khi tế lễ xong tổ chức vui chơi hội hè Lễ hội đền Lê Bố Vệ truyền thống có các tròkéo chữ, trò phá trận và tung cù
Trò kéo chữ diễn ra trên bãi áng cách đền Lê gần 1km, khi diễn trong tháng Giêng thì
xếp 4 chữ “là sản phẩm tinh thần có giáThởng xuân đồng lạc , còn nếu chạy chữ trong ngày giỗ tháng tám thì kéo bốn”
chữ: “là sản phẩm tinh thần có giáThiên hạ thái bình ”
Trò phá trận tiếp ngay sau trò kéo chữ Các con trò xếp thành hai hàng, một bên là
quân ta, một bên là quân Ngô dàn trận đánh nhau tạo ra không khí rất sôi động, tởng nhớ lạicác trận đánh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Trò tung cù là trò vui có tính thợng võ, thể thao, nhng cũng có ngời cho rằng đây là trò
tợng trng cho chiến thắng bêu đầu tớng giặc Cù đợc bện bằng rơm bọc giẻ bên ngoài, cóphết một lớp sơn Trong tiếng trống rộn rã, ngời đầu trò tung cù lên, đám đông xông vàohứng cớp và cố gắng ném lọt vào chiếc giỏ treo trên ngọn tre
Lễ hội đền Lê Bố Vệ hiện nay trở thành một điểm hấp dẫn du khách ở TP Thanh Hóa
* Lễ hội đền Sòng:
Lễ hội đền Sòng mở từ mồng 10 đến 26 tháng hai âm lịch
Đền Sòng thuộc phờng Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn Đây là một trung tâm tín ngỡng nổitiếng của Đạo Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ cùng Phủ Giày (Nam
Định) Theo truyền thuyết, đền Sòng là nơi Liễu Hạnh công chúa hiển thánh sau lần giángtrần lần thứ ba ở Phố Cát, Thạch Thành, vì vậy nơi dây đợc con là một trong hai "thánh đ-ờng" thiêng nhất của đạo Mẫu (cùng với Phủ Giày) Từ tính thiêng và tin Thánh Mẫu sẽ phù
hộ độ trì nên ngời đến cầu cúng, lễ bái rất đông Thời Lê – Trịnh, do tín ngỡng thờ Mẫu mới
ra đời, có n hiều triết lý trái với quan niệm Nho giáo nên có đôi lúc chính quyền phong kiến
đã ra lệnh phá dỡ đền sòng và đền Phố Cát – nơi đạo Mẫu ở Thanh Hóa hng thịnh nhất,
nh-ng vì nhân dân rất sùnh-ng bái nên sau khi bị tàn phá đền vẫn mọc lên Tại đây còn l u truyền
truyền thuyết về cuộc "Đại chiến Sùng Sơn" giữa nữ thần Liễu Hạnh với Tiền Quan Thánh
của Nội Đạo Tràng và sau đó là sự dàn xếp, giảng hòa của Đức Phật để Đạo Mẫu, Đạo
Đông, và Đạo Phật cùng song song tồn tại Đó chính là biểu hiện của "tam giáo đồng nguyên" trong lịch sử ở Thanh Hóa nói riêng và trong nớc nói chung.
Trang 24Đến thời Nguyễn, nữ thần Liễu Hạnh chính thức đợc triều đình ban sắc là "mẫu nghithiên hạ" Từ đó, đạo Mẫu đã phát triển rộng khắp và nhanh chóng ở các vùng của đồngbằng Bắc Bộ Hai trung tâm thờ Mẫu lớn nhất và nổi tiếng nhất là Phủ Giày (Nam Định) và
Đền Sòng – Phố Cát Tuy nhiên, trong tâm thức dân gian, đền Sòng xứ Thanh vãn là
"thiêng" nhất
Nhất vui là hội Phủ Giày Vui thì vui vậy cha tày (bằng) Sòng Sơn
Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh
đồi Ba Dội, từ Ba Dội lại về đền Sòng Trong cuộc rớc bóng nh vậy, ngời khắp mọi nơi đổ về
xếp hàng đi sau kiệu đông đến hàng vạn ngời Sức mạnh tâm linh mà Mẫu truyền cho đã
làm cho bất kỳ ai, kể cả ngời già đều đủ sức trèo lên đèo Ba Dội Những cuộc rớc bóng nhvậy đã thành thông lệ từ xa, không cần phải thông báo, vận động mà tất cả đều tham gia với
sự tự nguyện theo quan niệm ai đợc đi rớc bóng thì Đức Thánh Mẫu sẽ phù hộ
Thông thờng ngời đến dự lễ hội đền Sòng còn đi đến luôn đền Phố Cát – nơi nữ thầnLiễu Hạnh giáng trần lần thứ ba Đây cũng là khu vực danh lam thắng cảnh nổi tiếng với m ờitầng thác và rừng đại ngàn có nhiều hang động Vì vậy, cuộc hành h ơng đến "thánh địa" của
đạo Mẫu là một cuộc hành trình trọn gói từ đền Sòng đến Phố Cát – một cung đ ờng chỉ cáchnhau 15, 16 cây số Khi nói đến lễ hội đền Sòng, ngời ta vẫn thờng nói là lễ hội đền Sòng –Phố Cát là vì thế
Hiện nay, cả đền Sòng và đền Phố Cát đều đợc trùng tu, phục hội Lễ hội đền Sòng –Phố Cát mở ra một tiềm năng du lịch tín ngỡng vô cùng to lớn tại xứ Thanh Nếu đợc đầu t vàquan tâm đúng mức thì chắc chắn đây sẽ là một trung tâm sinh hoạt văn hóa tinh thần tiêubiểu của cả nớc
* Hội làng Xuân Phả
Lễ hội làng Xuân Phả diễn ra trong hai ngày mồng 10 và 11 tháng 2 âm lịch
Làng Xuân Phả thuộc xã Xuân Trờng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Đây là vùng
đất có bề dày lịch sử, có nhiều di tích lịch sử văn hóa phản ánh quá trình đấu tranh cải tạothiên nhiên, dựng làng lập xóm, chống giặc ngoại xâm, tiêu biểu là Nghè Đệ nhất (thờ thiênthần Đại Hải Long Vơng); Nghè Đệ Nhị (thờ thần Cao Minh Linh Quang) đã phù giúp Lê Lợi
và nghĩa quân Lam Sơn thoát khỏi vòng vây của giặc Minh; đền Đệ Tam (thờ những ng ờidân trong làng đi theo Lê Lợi khởi nghĩa bị tử trận), chùa Tạu (Hồi Long tự thờ Phật); nhà thờThiên Chúa giáo (nhà thờ xứ Láng)
Lễ hội Xuân Phả là một giá trị văn hóa phi vật thể đặc sắc sóng đôi cùng những giá trịvăn hóa vật thể tạo nên một văn hóa truyền thống Xuân Phả phong phú nổi tiếng xứ Thanh
Đặc sắc nhất trong lễ hội là hệ thống trò diễn dân gian đặc sắc gọi là trò làng Láng Cao dao
Thanh Hóa có câu: “ăn bánh với giò không bằng xem trò làng Láng”
Trang 25Từ xa xa, lễ hội làng Xuân Phả chỉ có 3 trò diễn: trò kéo hội, trò chạy giải, trò chèothuyền múa nan Đến thế kỷ XV, có thêm 5 trò nữa là trò Hoa Lang, Ai Lao, Chiêm Thành,
Tú Huần và trò Ngô Quốc Các trò này đều mô phỏng việc các nớc lân bang đến tiến cống
và chúc mừng vua Đại Việt Theo qui định của làng, mỗi giáp đảm nhận diễn một trò: giápThợng, Trung, Trờng múa trò Hoa Lang (còn gọi là trò ba giáp); giáp Giữa múa trò Tú Huần;giáp Đoài múa trò Chiêm Thành; giáp Đông múa trò Ai Lao; giáp Yên múa trò Ngô Quốc.Tuy chỉ diễn ra 2 ngày mồng 10 và 11 tháng 2 nhng không khí tập luyện, chuẩn bị đã kéo dài
từ trớc khiến cho không khí trong làng lúc nào cũng tng bừng, rộn rã
Lễ hội Xuân Phả vốn là lễ hội dân gian, càng về sau càng có chiều hớng phát triểnthành lễ hội lịch sử Có lẽ do vùng c dân này không những nằm trên đại bàn hoạt động củanghĩa quân Lam Sơn mà còn rất gần với khu vực trung tâm là Lam Kinh Chính vì vậy tròXuân Phả giàu chất cung đình, mà lễ hội Xuân Phả đạm đặc không khí lịch sử Hệ thống tròdiễn Xuân Phả đã dung nạp, hội tụ đợc nhiều loại hình nghệ thuật múa, hát, âm nhạc, trangphục, biểu diễn… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C Chính sự hội tụ này phần nào làm mờ yếu tố cung đình trong trò diễn, nh-
ng vẫn khiến ta có cảm tởng nó rất gần với khúc múa Ch hầu lai triều – một tác phẩm cung
đình đầu tiên của nớc ta đợc sáng tác vào thời Lê Thái Tông (1437) Ngời dân Xuân Phả luôntrân trọng, nâng niu giữ gìn hệ thống trò diễn của mình, coi đó là bảo vật cha ông truyền“là sản phẩm tinh thần có giá ”
lại Đội trò Xuân Phả đã đợc mời đi biểu diễn nhiều nơi ở Huế, Sài Gòn, Hà Nội, phục vụcông cuộc kháng chiến cứu nớc Ngày nay, đội trò Xuân Phả đợc tham dự trong những ngàyhội văn hóa lớn của dân tộc ở Hà Nội, Huế và trong những ngày lễ kỷ niệm anh hùng dân tộc
Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê Lợi của Thanh Hóa … có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C
đó có Lê Khôi – danh tớng của khởi nghĩa Lam Sơn và quan lớn Triệu Tờng – thủy tổ triềuNguyễn; Đền Mẫu là khu vực đền phủ trung tâm có tính chất bao trùm, chi phối toàn bộ hệthống thờ của đạo Mẫu khu vực này; Đền Cô Chín thờ Mẫu Thiên; Miếu thờ chúa ThợngNgàn; Nơi thờ Thánh Tản Viên Điều đặc biệt ở cụm di tích này là sự hiện diện của một lớpvăn hóa tín ngỡng đã có mặt ở vùng đất này từ trớc khi có sự du nhập của đạo Mẫu Đó là
lớp tín ngỡng thờ thần núi Tản Viên và Mẹ Âu Cơ - một tín ngỡng nguyên thủy của ngời Việt
cổ mà nhóm c dân Mờng Hòa Bình mang đến đây ngay từ lúc vừa đặt chân đến đây c trú(vào năm 1858) để thành lập ra các chòm, bản ở Xuân Du Khi đạo Mẫu du nhập đến vùng
đất này, ngời Việt không giám bài bác hoặc vứt bỏ tín ngỡng thiêng của ng“là sản phẩm tinh thần có giá ” ời Mờng, mà tráilại còn duy trì và dựa vào đó để tồn tại song hành cho đến bây giờ Vì vậy Mẹ Âu Cơ đã đ ợc
đa vào cung nhất của Phủ Na để thờ chung với Thánh Mẫu Liễu Hạnh Đó là sự độc đáo củatín ngỡng thờ Mẫu ở Phủ Na mà ở các vùng, miền khác trong tỉnh, trong n ớc rất ít gặp, nóilên sự đan xen giữa lễ tục và tập quán của ngời Mờng – Việt Sự đan xen này đợc thể hiện
trong cuộc rớc kiệu ở ngày hội rớc bóng Ngoài kiệu bát cống và kiệu Long đình do các nam trong trang phục ngời Kinh khiêng còn có kiệu võng do 8 phụ nữ khênh với trang phục Mờng
rực rỡ
Mỗi năm ở cụm di tích Phủ Na có 3 kỳ lễ hội:
Trang 26- Lễ hội tháng giêng: diễn ra suốt tháng giêng âm lịch, du khách khắp nơi về vùng đấtPhủ Na để cầu lộc, cầu tài, cầu bình yên… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C Dòng ngời trẩy hội theo một chu trình là lên rừng(với Phủ Na), rồi xuống biển (có thể là đền Cô Tiên ở Sầm Sơn, hay đền Tứ vị Thánh Nơng ởLạch Bạng) Sự đông đảo của du khách và không gian thiêng khiến nhiều ngời lầm tởngtháng giêng là lễ hội Phủ Na Thực ra Phủ Na một năm chỉ có hai kỳ hội chính vào tháng ba
và tháng tám âm lịch Vì vậy dân gian ở đây mới có câu: Tháng Tám giỗ Cha, Tháng Ba giỗ Mẹ.
- Lễ hội tháng ba: kéo dài từ ngày mồng 1 đến ngày 12 âm lịch (trong đó đêm 30 rạngmồng 1 là thời điểm mở cửa đền Đến này 12 là rớc bóng và kết thúc một kỳ hội)
- Lễ hội tháng tám: kéo dài từ mồng 1 đến ngày 16 âm lịch (trong đó đêm 30 rạngmồng 1 là lễ mở cửa đền và ngày 16 là ngày rớc bóng và kết thúc kỳ hội)
Trong các ngày hội ở Phủ Na chỉ có ngày rớc bóng Mẹ là mới tập trung thành đoàn đểrớc kiệu Còn tất cả những ngày hội khác thì khách hành h ơng đến cầu cúng tự do ở tất cả
hệ thống thờ, nhng chủ yếu vẫn là chỗ trung tâm đền Mẫu Họ đến lễ bái tự do theo bản hội,hoặc theo tốp năm ba ngời, có khi chỉ một mình… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C Trong những ngày hội, có lúc vì quá đôngkhông vào đợc trong đền, ngời ta còn phải đứng ở sân để bái vọng vào Nhng thờgn thì aicũng muốn chen vào để đặt đợc lễ và khấn bái tại chỗ thì mới đợc toại nguyện Ngoài nhữngngời đến để cầu cúng còn có nhiều nam thanh nữ tú đến để chơi hội và du ngoạn cảnh trí
đền đài, thác suối và rừng cây của ngàn Na Trong đền còn có hầu bóng và cúng lễ theo bàibản Trong không gian thiêng trong đền thờ, các điệu hát văn, trống, phách, đàn, nhị, sáovang lên lúc dồn dập, lúc thánh thót, ngân nga đã làm cho cuộc diễn xớng trong hầu bóngthêm sinh động
Chính cái thiêng và cái đẹp ở Phủ Na đã tạo trong con ng“là sản phẩm tinh thần có giá ” “là sản phẩm tinh thần có giá ” ời niềm tin và cảm xúc vềmột ngày mai tơi sáng, tốt đẹp hơn, đó chính là sức hấp dẫn, lôi cuốn du khách khắp nơi về
dự hội Đi lễ hội Phủ Na du khách còn đợc hòa mình vào hành trình tìm về cội nguồn: lênrừng thăm mẹ Âu Cơ, sau đó xuống biển để dâng hơng dâng lễ vật cho bố tổ Lạc Long Quân
mà hiện thân là thần Độc Cớc ở đền thờ Độc Cớc (Sầm Sơn)
* Lễ hội Lê Hoàn:
Lễ hội Lê Hoàn gắn với tên tuổi của vị vua sáng lập triều Tiền Lê Về quê h ơng nơi sinh
ra Lê Hoàn đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi, nhng đất Xuân Lập (huyện Thọ Xuân) chắcchắn gắn với sự trởng thành và sự nghiệp của ông Lễ hội Lê Hoàn trên quê hơng ông là đểtởng nhớ vị vua có công lao phá Tống bình Chiêm, bớc đầu xác lập và củng cố chế độ phongkiến tập quyền ở Việt Nam
Lễ hội Lê Hoàn đợc tổ chức hàng năm vào 3 dịp: mồng 8 tháng 3 âm lịch (húy nhật);
17 tháng 7 âm lịch (sinh nhật) và lễ tế tổ tiên trong ngày Tết Nguyên Đná với lễ tế Bánh
ch-ng Trong phần lễ, đại diện chính quyền địa phơng đọc chúc văn ca ngợi công đức của vị vuagây dựng nghiệp Tiền Lê Cácnghi thức rớc kiệu, dâng hơng, tế lễ, cúng tế diễn ra long trọng.Trong phần hội thờng tổ chức các chơng trình biểu diễn văn hóa, văn nghệ dân tộc truyền
thống, đấu vật, đánh đu, cờ tớng, thi đấu các môn võ thuật truyền thống… có công tạo ra núi non, sông suối, ruộng đồng, thần Độc C
Lễ hội Lê Hoàn thu hút hàng vạn ngời của các huyện xung quanh và du khách cả nớc
về tham dự Đền thờ Lê Hoàn đã đợc xếp hạng quốc gia năm 1991
* Lễ hội Mai An Tiêm:
Đợc tổ chức từ ngày 12 đến 14 tháng 3 âm lịch hàng năm tại xã Nga Phú, huyện NgaSơn Đây là lễ hội dân gian gắn với truyền thuyết quả d“là sản phẩm tinh thần có giá a đỏ , nói về công sức khai hoang”
và thành quả lao động của ngời dân thông qua hình ảnh nhân vật Mai An Tiêm Lễ hội còn