1. Quyết định mở ngành Quản trị kinh doanh khách sạn du lịch – một hướng đi đúng đối với Trường Đại học Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hóa. 2. Ứng dụng phương pháp giảng dạy và nghiên cứu của Khu vực học trong ngành Việt Nam học. 3. Vấn đề nâng cao chất lượng CBQL, giảng viên giảng dạy Đại học tại trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa 4. Giải pháp đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo tại Khoa Nghiệp vụ Du lịch giai đoạn 2012 – 2020 5. Chuẩn đầu ra ngành học Quản trị kinh doanh – vấn đề cần quan tâm khi xây dựng đề cương chi tiết 6. Nâng cao chất lượng hướng dẫn du lịch thông qua học tập các môn chuyên ngành 7. Nâng cao chất lượng cán bộ giảng viên là một trong những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Văn hóa – Thể thao và Du lịch Thanh Hóa. 8. Một số yêu cầu đối với giảng viên cố vấn tại Trường Đại học Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hóa 9. Nâng cao chất lượng dạy – học ngoại ngữ tại trường Đại học Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hóa 10. Một số vấn đề về du lịch bền vững bổ xung cho học phần Môi trường và phát triển trong chương trình Đào tạo Việt Nam học. 11. Xây dựng môi trường văn hóa – du lịch Thanh Hóa trong hội nhập, phát triển 12. Bàn về vấn đề văn hóa kinh doanh du lịch tại Thanh Hóa 13. Đổi mới phương pháp Xemina các môn Lý luận chính trị nhằm đạt hiệu quả cao trong đào tạo theo học chế tín chỉ 14. Giải pháp phát triển ngành Việt Nam học ở Trường Đại học Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hóa. 15. Vai suy nghĩ về vai trò trợ giảng trong giáo dục đại học theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hóa. 16. Rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống cho sinh viên trong kinh doanh khách sạn – Nhà hàng. 17. Một số vấn đề đặt ra trong đào tạo theo hình thức học chế tín chỉ 18. Bàn về quá trình hình thành kỹ năng giảng dạy đại học và vấn đề hoàn thiện kỹ năng giảng dạy đại học của giảng viên Trường Đại học Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hóa. 19. Ứng dụng công nghệ thông tin trng giảng dạy môn văn học dân gian ở chương trình đào tạo đại học ngành Việt Nam học 20. Một số vấn đề công tác đánh giá và tự đánh giá giảng viên trong trường đại học 21. Thực hành hướng dẫn du lịch trên đối tượng thăm quan một số yếu tố quan trọng góp phần hình thành kỹ năng bền vững cho sinh viên 22. Đào tạo lĩnh vực du lịch tại trường Đại học Văn hóa – Thể thao du lịch Thanh Hóa – cơ hội và thách thức 23. Nhân lực du lịch là nguồn lực để phát triển du lịch 24. Sự cần thiết của định hướng nghề nghiệp cho sinh viên 25. Nâng cao chất lượng giảng dạy học phần lịch sử tư tưởng triết học cho sinh viên ngành Việt Nam học ở Trường Đại học Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hóa 26. Giải pháp chất lượng đào tạo ngành chế biến món ăn ở trường Đại học Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hóa. 27. Bàn thêm về một số kỹ năng hướng dẫn du lịch cho sinh viên chuyên ngành Văn hóa Du lịch
Trang 1MU ̣C LỤC Trang
Quyết định mở ngành Quản trị kinh doanh khách sạn du lịch – một
hướng đi đúng đối với Trường Đại học Văn hóa – Thể thao – Du lịch
Thanh Hóa
Ứng dụng phương pháp giảng dạy và nghiên cứu của Khu vực học
trong ngành Việt Nam học
Vấn đề nâng cao chất lượng CBQL, giảng viên giảng dạy Đại học
tại trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa
Giải pháp đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo tại Khoa Nghiệp
vụ Du lịch giai đoạn 2012 – 2020
Chuẩn đầu ra ngành học Quản trị kinh doanh – vấn đề cần quan
tâm khi xây dựng đề cương chi tiết
Nâng cao chất lượng hướng dẫn du lịch thông qua học tập các môn
chuyên ngành
Nâng cao chất lượng cán bộ giảng viên là một trong những biện
pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Văn
hóa – Thể thao và Du lịch Thanh Hóa
Một số yêu cầu đối với giảng viên cố vấn tại Trường Đại học Văn
hóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hóa
Nâng cao chất lượng dạy – học ngoại ngữ tại trường Đại học Văn
hóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hóa
Một số vấn đề về du lịch bền vững bổ xung cho học phần Môi
trường và phát triển trong chương trình Đào tạo Việt Nam học
Đổi mới phương pháp Xemina các môn Lý luận chính trị nhằm đạt
hiệu quả cao trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Trang 2
NGUYỄN THỊ TRÚC QUỲNH 61
Giải pháp phát triển ngành Việt Nam học ở Trường Đại học Văn hóa
– Thể thao – Du lịch Thanh Hóa
Vai suy nghĩ về vai trò trợ giảng trong giáo dục đại học theo hệ
thống tín chỉ ở trường Đại học Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thanh
Bàn về quá trình hình thành kỹ năng giảng dạy đại học và vấn đề
hoàn thiện kỹ năng giảng dạy đại học của giảng viên Trường Đại
học Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hóa
Ứng dụng công nghệ thông tin trng giảng dạy môn văn học dân gian
ở chương trình đào tạo đại học ngành Việt Nam học
Một số vấn đề công tác đánh giá và tự đánh giá giảng viên trong
trường đại học
Thực hành hướng dẫn du lịch trên đối tượng thăm quan một số yếu
tố quan trọng góp phần hình thành kỹ năng bền vững cho sinh viên
Đào tạo lĩnh vực du lịch tại trường Đại học Văn hóa – Thể thao du
lịch Thanh Hóa – cơ hội và thách thức
Nâng cao chất lượng giảng dạy học phần lịch sử tư tưởng triết học
cho sinh viên ngành Việt Nam học ở Trường Đại học Văn hóa – Thể
thao – Du lịch Thanh Hóa
Giải pháp chất lượng đào tạo ngành chế biến món ăn ở trường Đại
học Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hóa
Bàn thêm về một số kỹ năng hướng dẫn du lịch cho sinh viên
chuyên ngành Văn hóa - Du lịch
Trang 3LêI NãI §ÇU
Khoa Nghiệp vụ Du lịch có sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượngcao, đáp ứng nhu cầu xã hội không chỉ cho Thanh Hóa mà cả các tỉnh thành khác, đặcbiệt là khu vực Bắc Trung Bộ và Nam Sông Hồng Với sự phát triển của kinh tế, vănhóa, xã hội và những biến động lớn mang tính toàn cầu, nhu cầu của con người vềhưởng thụ các giá trị do hoạt động du lịch mang lại ngày càng cao Các lĩnh vực kháckhi phát triển chú trọng đến yếu tố kỹ thuật, công nghệ, riêng đối với lĩnh vực du lịch,yếu tố "lao động truyền thống" (con người trực tiếp tham gia lao động) luôn được coitrọng và không thể thay thế Trên thực tế, nhân lực ngành du lịch chưa đáp ứng đủ nhucầu của xã hội cả về số lượng và chất lượng Chính vì vậy, CBGV khoa Nghiệp vụ Dulịch luôn ý thức được trách nhiệm của mình trong việc đào tạo đội ngũ nhân lực du lịch,trăn trở, tìm tòi các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại khoa
Với nhận thức trên, đồng thời thực hiện nội dung, kế hoạch công tác năm 2012,
và chuẩn bị cho hội thảo cấp trường "Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học tại trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa", khoa Nghiệp vụ Du lịch tổ chức hội thảo khoa học cấp khoa "Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại khoa Nghiệp vụ Du lịch" Hội thảo này nhằm mục đích khuyến khích cán bộ, giáo viên nhà
trường tham gia diễn đàn khoa học, từ đó tập hợp các ý kiến, trao đổi của cán bộ giảngviên, cán bộ quản lý nhà trường để tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả đàotạo các ngành lĩnh vực du lịch đáp ứng yêu cầu xã hội
Ban tổ chức đã mời đông đảo cán bộ giảng viên nhà trường viết bài cho hộithảo Sau một thời gian triển khai, Ban tổ chức đã nhận được 27 bài tham luận, trong
đó tập trung trao đổi về giải pháp nâng cao chất lượng các ngành đang tào tạo, mởngành mới, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, tạo sức hút đối vớisinh viên và xây dựng thương hiệu ngành nghề đào tạo
Ban Tổ chức rất trân trọng sự nhiệt tình, tâm huyết của cán bộ giảng viên thamgia hội thảo Ban Tổ chức rất mong sẽ tiếp tục nhận được các ý kiến trao đổi để tiếp tụcnâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo tại khoa để có thể đóng góp nhiều hơn cho sựnghiệp đào tạo nhân lực du lịch, góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triểncủa nhà trường giai đoạn 2012-2020
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 6 năm 2012
BAN TỔ CHỨC
Trang 5QUYÕT §ÞNH Më NGµNH QU¶N TRÞ KH¸CH S¹N DU LÞCH
MéT H¦íNG §I §óNG §èI VíI TR¦êNG §¹I HäC V¡N HãA,
THÓ THAO Vµ DU LÞCH THANH HãA
Ths Lê Thị Bưởi
Đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh khách sạn Du lịch hiện nay đã trở thành sự lựachọn của nhiều nhà đầu tư bởi tính hấp dẫn và khả năng mang lại lợi nhuận cao Tuynhiên, một thực tế cho thấy là kết quả kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Du lịch hiệnnay vẫn chưa hiệu quả Đặc biệt là trong bối cảnh ảnh hưởng của cuộc khủng hoảngkinh tế toàn cầu như hiện nay thì nhiều doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp
du lịch nói riêng đã và đang đứng trước bờ vực phá sản Một trong những nguyên nhântrên chủ yếu là do các chủ doanh nghiệp đang còn yếu và thiếu rất nhiều về trình độ, kỹnăng quản lý, không có khả năng hoạch định và xây dựng cho mình được chiến lượckinh doanh hiệu quả trước sự biến động của môi trường cạnh tranh đầy khốc liệt Đểđáp ứng được nhu cầu này, hàng năm một số trường Đại học, Cao đẳng trên cả nướcđã đào tạo được một số lượng nhất định nhân lực quản trị kinh doanh khách sạn du lịchnhưng do nhiều nguyên nhân dẫn đến con số lao động này vẫn chưa đáp ứng đượcnhu cầu xã hội cả về lượng và chất Nắm bắt được thực trạng trên Trường Đại học Vănhóa Thể thao và du lịch Thanh Hóa quyết định mở ngành học Quản trị khách sạn dulịch trong năm 2012 là một hướng đi đúng đắn và có tính khả thi cao Mục tiêu của việc
mở ngành nhằm đáp ứng một lực lượng lao động du lịch, đặc biệt là nhân lực quản lýdoanh nghiệp du lịch cho cả nước nói chung và khu vực Bắc Trung Bộ và Nam SôngHồng nói riêng – đây là khu vực có tiềm năng du lịch phát triển, có sức hút du lịch mạnh
mẽ và tăng trưởng nhanh
Có thể khẳng định rằng việc mở ngành Quản trị khách sạn du lịch là một hướng
đi đúng đắn và có tính khả thi vì đây là một ngành mà nhu cầu xã hội đang rất cần.Minh chứng cho vấn đề này là mối quan hệ biện chứng tất yếu của xu hướng phát triển
du lịch với cơ cấu số lượng và chất lượng nguồn nhân lực du lịch Xu hướng nhân lực
du lịch ngày càng đòi hỏi cao về trình độ, kỹ năng quản lý, kỹ năng nghề nghiệp hướngtới đạt chuẩn nhưng cần có mức độ tinh tế và nhạy cảm trong quản lý, điều hành, phục
Trang 6giai đoạn
Mặt khác, Trường Đại học Văn hóa Thể thao và Du lịch Thanh Hóa là trường Đạihọc đầu tiên trên cả nước có tên trường mang nội hàm du lịch, điều này cũng là yếu tốthuận lợi để cho mọi người nhận biết nhiều hơn về tính chuyên nghiệp trong đào tạo dulịch của một trường đai học Hơn thế nữa, Khu vực Bắc Trung Bộ và Nam Sông Hồngcũng là một thị trường tiềm năng về nguồn tuyển sinh đầu vào mà Thanh Hóa lại là tỉnhnằm gần trung điểm của các tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ và Nam Sông Hồng, giao thông đilại thuận tiện… nên cũng là một lợi thế để hấp dẫn và thu hút người học nhiều hơn
Trang 7Tuy nhiên, việc đáng bàn ở đây là làm như thế nào để chúng ta mở được ngànhQuản trị kinh doanh chuyên ngành Quản trị khách sạn du lịch trong năm 2012 và thựchiện đào tạo trong năm 2013 Đây là mục tiêu căn bản của nhà trường trong năm nay nóichung và cũng là nỗi trăn trở, mong muốn của toàn thể cán bộ giảng viên Khoa nghiệp vụ
Du lịch nói riêng Thông qua hội nghị này tác giả muốn đưa ra một số giải pháp chuẩn bịgiúp cho công tác mở ngành được thành công để chúng ta cùng bàn luận
Thứ nhất, Giải pháp về đội ngũ giảng viên: Để mở ngành được thành công
thì việc đầu tiên cần phải nói đến là đội ngũ giảng viên, đây là một yếu tố quan trọngkhông thể thiếu trong quá trình mở ngành cũng như thực hiện đào tạo Do vậy, chúng
ta phải đảm bảo một đội ngũ giảng viên đầy đủ cả về số lượng và chất lượng để sẵnsàng tiếp cận xây dựng chương trình khung, biên soạn tốt các chương trình chi tiết, bàigiảng thuộc lĩnh vực mình phụ trách nhằm đáp ứng yêu cầu của Bộ Giáo dục và đàotạo trong giai đoạn đầu mở ngành và thu hút được người học trong giai đoạn thực hiệnđào tạo tiếp theo
Về số lượng, hiện tại bộ môn Quản trị khách sạn nhà hàng đang có một NCSQuản trị kinh doanh sẽ tốt nghiệp vào cuối năm 2012 và 02 thạc sĩ quản trị kinh doanh,
01 cao học quản trị kinh doanh, như vậy là đã đảm bảo được yêu cầu của Bộ Giáo dụctrong giai đoạn mở ngành Về chất lượng, đa số các giảng viên đang còn trẻ tuy kinhnghiệm thực tiễn còn thiếu và yếu nhưng chúng ta có một lợi thế là sự nhiệt huyết vàkhả năng tư duy tiếp cận vấn đề khoa học lại rất nhanh, nhạy bén với cơ chế thị trường
và có sức bật tốt Tuy nhiên, lĩnh vực quản trị kinh doanh là một lĩnh vực đào tạo cònkhá mới đối với trường Đại học Văn hóa Thể thao và Du lịch Thanh Hóa nên toàn thểcán bộ giảng viên tham gia giảng dạy tại bộ môn Nghiệp vụ Quản trị kinh doanh du lịch,đặc biệt là nhóm giảng viên chuyên ngành cần phải quyết tâm và tiếp tục tự đào tạonâng cao năng lực hơn nữa để đảm bảo tốt mục tiêu mở ngành và thực hiện đào tạođáp ứng nhu cầu xã hội
Yếu tố đội ngũ giảng viên ở đây còn thể hiện ở sự đoàn kết, ý chí và sự quyếttâm vượt qua mọi khó khăn để đạt đến đích cuối cùng là mở được ngành trong năm
2012 Cùng nhau nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao để đảm bảo tiến
độ thực hiện việc mở ngành
Thứ hai, Giải pháp dự báo được cơ sở thẩm định để tạo dựng mối quan hệ
và mời chuyên gia tư vấn giúp đỡ.
Ngay từ bây giờ nhà trường cần phải dự báo được cơ sở nào sẽ thẩm địnhchương trình mở ngành của mình để có kế hoạch tìm hiểu, làm quen, tìm cơ hội để tạodựng mối quan hệ trước Mời các chuyên gia có năng lực và uy tín của chính cơ sởthẩm định để giúp đỡ và tư vấn cho nhà trường trong quá trình xây dựng chương trình
mở ngành Làm được điều này thì chúng ta mới có nhiều cơ hội và giảm bớt các hạnchế trong hồ sơ mở ngành, giúp cho việc mở ngành được thuận lợi và thành công
Trang 8Thứ ba, Giải pháp về lộ trình làm hồ sơ mở ngành: Chúng ta cần phải tham
khảo và bám sát các quy định, hướng dẫn của bộ để hoàn thiện đầy đủ các yêu cầu mà
Bộ đưa ra Xây dựng chương trình khung phù hợp với yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đàotạo nhưng cũng phải đảm bảo tính tiên tiến, hiện đại đó là nên linh hoạt hóa chươngtrình sao cho chương trình sát hợp với nhu cầu thực tế Bởi vì, nội dung chương trìnhđào tạo có vai trò là điều kiện tiên quyết đảm bảo thành công của đào tạo gắn với nhucầu của doanh nghiệp Vì vậy, khi xây dựng chương trình mở ngành chúng ta cần phảiđảm bảo 30% khối lượng kiến thức mà Bộ bắt buộc, còn 70% khối lượng mô đun kiếnthức thì nên linh động đưa vào chương trình các môn mang tính kỹ năng và kỹ năngmềm để đảm bảo đào tạo sinh viên ra trường đáp ứng tốt được nhu cầu xã hội
Thứ tư, giải pháp về tài chính: Để thực hiện được các giải pháp trên th́ì yếu tố
không thể thiếu đó là tài chính Tài chính sẽ giúp chúng ta giải quyết rất nhiều vấn đềtrong quá trình mở ngành, từ khâu chi phí in ấn cho đến khâu chi phí đối ngoại,… tất cảđều cần phải có tài chính thì chúng ta mới thực hiện được Vì vậy, nhà trường cần phải
có kế hoạch trích một nguồn kinh phí nhất định dành riêng và sẵn sàng cho việc mởngành
Với một số giải pháp trên hy vọng rằng sẽ góp phần giúp cho việc mở ngànhQuản trị kinh doanh chuyên ngành Quản trị khách sạn du lịch thành công trong năm
2012 và thực hiện đào tạo trong năm 2013./
L.T.B
Trang 9øng dông ph¬ng ph¸p nghiªn cøu vµ gi¶ng d¹y
cña khu vùc häc trong ngµnh viÖt nam häc
Ths Lưu Thị Ngọc Diệp*
Việt Nam học hay nghiên cứu Việt Nam (Việt Nammese Studies) là khoa họcliên ngành nghiên cứu về đất nước, con người Việt Nam dựa trên những yếu tố chuyênngành như Địa lý, Lịch sử, Ngôn ngữ, Văn hóa, Kinh tế hoặc theo tính liên ngành củakhu vực học Khoa học nghiên cứu Việt Nam ra đời nhằm đem lại những hiểu biết toàndiện và đặc trưng về đất nước và con người Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển nộitại, đồng thời cũng tăng cường thúc đẩy giao lưu và hợp tác quốc tế giữa Việt Nam vớiquốc gia trên thế giới
Việt Nam học với tư cách như một ngành của Khu vực học, lấy không gian vănhóa – xã hội Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu Bước chuyển căn bản của Việt Namhọc hiện đại là đi từ tập hợp của các chuyên ngành nghiên cứu Việt Nam sang ViệtNam học liên ngành Việt Nam học ở trường Đại học Văn hóa, Thể Thao và Du lịchThanh Hóa đào tạo theo định hướng văn hóa – du lịch cũng không nằm ngoài hệ thốngđào tạo và nghiên cứu Việt Nam học trong cả nước Để đạt được bước chuyển về chấtlượng đó, ứng dụng phương pháp nghiên cứu và giảng dạy của Khu vực học vào ViệtNam học được xem như vấn đề có tính chất quyết định
1 Mối quan hệ giữa Việt Nam học và Khu vực học
Mối quan hệ giữa Việt Nam và Khu học học (chủ yếu là Đông Nam Á học, ĐôngPhương học) là mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể, giữa tính dân tộc và tính nhânloại Khu vực học lấy chủ thể là con người với các đặc trưng về văn hóa, kinh tế, xã hộitheo cách tiếp cận tổng hợp và lịch sử, trên một không gian văn hóa nhất định Nhưvậy, Khu vực học lấy không gian văn hóa lớn làm đối tượng nghiên cứu nên sẽ cónhiều quy luật khái quát hơn, còn Việt Nam với tư cách là không gian văn hóa nhỏ thì
cụ thể, sinh động và phong phú hơn
Khái niệm Khu vực học hoàn toàn mang tính tương đối, có thể khu vực nhỏ chỉ
là một làng xã, cũng có thể khu vực rộng lớn với tới cả châu lục Dù to hay nhỏ, kíchthước thế nào, khi đã nghiên cứu dưới góc độ Khu vực học thì nội dung, phương phápluận, cách tiếp cận đều nhất quán Đặc biệt là khi xây dựng các chiến lược và kế hoạchphát triển vùng hiện nay, khái quát đặc trưng vùng, người ta thường chú ý nhiều hơntới điều kiện tự nhiên, tài nguyên và hiện trạng kinh tế, xã hội, mà ít chú ý tới đặc trưngvăn hóa, truyền thống Vì vậy khi nghiên cứu và giảng dạy Việt Nam học dưới góc độ
“Khu vực học” cần nghiên cứu toàn diện, tổng thể để có thể đem lại một bức tranhchung của toàn khu vực, song cần thiết phải làm nổi bật được nét riêng của bản sắcViệt Nam
Trang 102 Ứng dụng phương pháp nghiên cứu của Khu vực học trong ngành Việt Nam học
Với tư cách là một bộ phận của ngành Khu vực học, Việt Nam học có phươngpháp tiếp cận phù hợp là phương pháp của ngành Khu vực học
Ngành khoa học độc lập nào cũng cần có đủ 3 điều kiện cơ bản: xác định đượcđối tượng riêng của mình, mục đích nghiên cứu, và phương pháp nghiên cứu Trênphương diện phương pháp luận, Khu vực học cũng như nhiều môn khoa học xã hộikhác có thể vận dụng các hệ phương pháp cơ bản như phương pháp duy vật biệnchứng và phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp hệ thống - cấu trúc, phươngpháp so sánh Nhưng ngoài ra, Khu vực học có những cách tiếp cận đặc thù, khônggiống với các ngành khác, mà chỉ với những cách tiếp cận đặc thù đó nó mới đem lạikết quả nghiên cứu đáng tin cậy Khu vực học có hai cách tiếp cận đặc thù là: tiếp cậntừ góc độ sinh thái học và cách tiếp cận liên ngành
- Phương pháp sinh thái học
Cách tiếp cận sinh thái học vốn dĩ ra đời ở nước Đức, đặc biệt là các công trìnhcủa nhà địa lý học F Ratzel Ratzel quan niệm quốc gia như một cơ thể sống, có khởisinh, trưởng thành và suy vong Mỗi một bộ phận của quốc gia đều như các bộ phậncủa một thể hữu cơ Ví dụ: trong công trình Địa lý, chính trị (năm 1906), ông cho rằngbiên giới quốc gia không khác gì cơ quan xúc giác của cơ thể
- Cách tiếp cận liên ngành:
Khu vực học được xem là một lĩnh vực nghiên cứu liên ngành (InterdisciplinaryStudies) chính là bởi tính tổng thể và phức hợp của các hiện tượng ở một hay các khuvực mà người ta nghiên cứu Các hiện tượng thuộc nhiều bình diện khác nhau đóthường xuyên liên quan, tác động và ràng buộc lẫn nhau Bức chân dung của khu vựckhông thể nào chân thực và đầy đủ được nếu người ta chỉ chú trọng một khía cạnh nào
đó Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là không thể phân nhỏ Khu vực học ra thành
những chuyên ngành hẹp khác nhau Vì vậy, Khu vực học không những là một môn khoa học liên ngành, mà còn ngày càng trở thành một lĩnh vực đa ngành
(Multidisciplinary Studies) – hợp thể của nhiều phân ngành hẹp khác nhau Trong Khuvực học, người ta cũng có thể vận dụng hệ phương pháp riêng (của đơn ngành) để đisâu vào một lĩnh vực hẹp của Khu vực học
3 Ứng dụng phương pháp giảng dạy Khu vực học trong ngành Việt Nam học
Giảng dạy Việt Nam học với tư cách là một bộ phận của Khu vực học, giảngviên cần lưu ý tới một số vấn đề:
Thứ nhất, giảng viên cần tăng cường chất lượng cho các buổi xemina, nghiên
cứu cụ thể để sinh viên tập dượt nghiên cứu khoa học, đồng thời ứng dụng những lýthuyết khu vực vào nghiên cứu một trường hợp cụ thể ở địa phương, đất nước mình
Trang 11Lấy ví dụ đơn cử như trường hợp vận dụng nghiên cứu khu vực của lực lượng đôngđảo các nhà khoa học Nhật Bản và Việt Nam chỉ để nghiên cứu một làng nhỏ như BáchCốc (Nam Định) Vì vậy sinh viên có thể bắt tay vào nghiên cứu tổng thể một làng, mộtxã hoặc một vùng, miền ở Việt Nam để làm rõ hơn những lý thuyết được học.
Thứ hai, Việt Nam học là một khoa học liên ngành vì vậy giảng viên phải không
ngừng trau dồi để có vốn kiến thức sâu rộng về khoa học xã hội và hiểu biết về khoahọc tự nhiên, phân tích được mối quan hệ giữa các mặt tự nhiên và xã hội ở Việt Nam.Từ đó, giúp người học có cái nhìn khái quát, toàn diện về tự nhiên, môi trường sinhthái, lịch sử, văn hóa – xã hội, kinh tế của đất nước
Thứ ba, giảng viên giúp người học thấy được những tương đồng và khác biệt,
những ưu và nhược điểm của Việt Nam khi đặt trong nghiên cứu đối sánh với các quốcgia và khu vực trên thế giới Qua đó, người học có thái độ nghiên cứu khoa học kháchquan, tránh tình trạng rơi vào chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi hay ngược lại là chủ nghĩa cựcđoan phê phán dân tộc mình
Thứ tư, giảng viên phải định hướng cho người học nhận thức được sứ mệnh
của nghiên cứu văn hóa khu vực nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng Nghiên cứuvăn hóa khu vực và đất nước phải góp phần ngăn chặn những thế lực và văn hóamang tính bá quyền, độc chiếm tương lai gần của nhân loại
4 Một số thành tựu nghiên cứu Việt Nam học từ góc độ Khu vực học
Áp dụng phương pháp liên ngành vào nghiên cứu trường hợp Đường Lâm,Bách Cốc, Cổ Loa, ngành Việt Nam học đã đạt được những thành tựu rực rỡ
Từ năm 2000, theo định hướng khu vực học, một chương trình điều tra về nhà ởdân gian ở cả ba vùng Bắc, Trung, Nam Việt Nam đã được thực hiện Trên cơ sở kếtquả điều tra, làng Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội) được lựa chọn là điểm nghiên cứusâu theo định hướng khu vực học Sau đó, một kế hoạch nghiên cứu liên ngành lịch
sử, khảo cổ, văn hóa, xã hội học, kiến trúc đã triển khai nhằm tìm hiểu một cách đầy đủ
về lịch sử, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của Đường Lâm Kết quả nghiên cứutổng hợp này trở thành cơ sở quan trọng cho việc đánh giá và công nhận Đường Lâm
là làng cổ đầu tiên ở Việt Nam vào tháng 5/2006 Các kết quả nghiên cứu liên ngànhngoài việc giúp định hướng bảo tồn lâu dài làng cổ Đường Lâm còn là tiền đề thuận lợicho việc nghiên cứu và bảo tồn các làng cổ khác của Việt Nam
Bên cạnh đó, khi nói tới nghiên cứu làng xã Việt Nam bằng phương pháp củaKhu vực học không thể không kể tới nghiên cứu Bách Cốc – một làng cổ thuộc huyện
Vụ Bản, Nam Định Chương trình nghiên cứu Bách Cốc do Hội nghiên cứu làng xã ViệtNam của Đại học Quốc gia Tokyo, Nhật Bản triển khai nghiên cứu cùng với sự hợp táccủa Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội Hợp tácnghiên cứu Bách Cốc kéo dài 13 năm với sự tham gia đa lĩnh vực của cả Việt Nam vàNhật Bản Chỉ trong vòng 10 năm đầu, từ 1993 đến 2002, riêng phía Nhật Bản đã có
Trang 12176 người từ 17 trường đại học với nhiều lĩnh vực như sử học, xã hội học, nhân loạihọc, địa lý, khảo cổ học, kinh tế học tham gia Chương trình được đánh giá là mộtchương trình nghiên cứu cấp quốc tế về tính qui mô và đa dạng
Từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX, trong quá trình nghiên cứu thực địa, cácnhà khoa học nhận thấy nhu cầu tổ chức nghiên cứu liên ngành để có những hiểu biếttoàn diện về Cổ Loa Bước đầu, Cổ Loa đã được nhìn nhận, nghiên cứu trong một tổngthể không gian văn hóa – lịch sử, với sự kết hợp giữa các chuyên ngành lịch sử, ngônngữ học, dân tộc học, địa lý học và đặc biệt là khảo cổ học
Đối với ngành Việt Nam học ở trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịchThanh Hóa, sinh viên được đào tạo theo hướng văn hóa – du lịch nên những thành tựucủa công tác giảng dạy và nghiên cứu Việt Nam học cung cấp cho người học nhữngkiến thức tổng hợp về Việt Nam Những kiến thức đó không đơn thuần là phép tínhcộng các đặc điểm riêng biệt mà là sự xâu chuỗi và thẩm thấu về chiều sâu những giátrị Việt Nam Người học sẽ vận dụng sáng tạo những kiến thức lĩnh hội được phục vụcho công tác du lịch hoặc nghiên cứu văn hóa sau khi tốt nghiệp
Như vậy, có thể thấy Việt Nam học hiện đại mà chúng ta đang hướng tới là mộtkhoa học mang tính chất liên ngành cao Từ những tri thức có được do các khoa họcchuyên ngành cung cấp, các sinh viên Việt Nam học vận dụng phương pháp liên ngànhcủa Khu vực học, hợp tác làm việc theo nhóm, cuối cùng chính họ sẽ là những ngườiđưa ra bức tranh toàn diện nhất, những nét đặc trưng cơ bản nhất của đất nước và conngười Việt Nam./
L.N.D
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia,
Việt Nam học – Kỷ yếu hội thảo Quốc tế lần thứ nhất, T.I, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2000
[2] Trần Lê Bảo, Khu vực học và Nhập môn Việt Nam học, Nxb Giáo dục Việt
Nam, Hà Nội, 2009
[3] GS.TS Trương Quang Hải, Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Việt Nam học và
Khoa học phát triển, Khu vực học và phân vùng lãnh thổ, Kỷ yếu hội thảo khoa học
Quốc tế: “Khu vực học: Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu”, Hà Nội,
2006 [8] Lương Văn Kế, Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại học KHXH & NV, Khu vực học và Quốc tế học: Những khía cạnh phương pháp luận, Bài giảng chuyên đề tại
Khoa Quốc tế học, trường Đại học KHXH & NV
[4] Trịnh Cẩm Lan, Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại học KHXH & NV, Liên ngành trong nghiên cứu khu vực, Kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc tế: “Khu vực học: Cơ
sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu”, Hà Nội, 2006
Trang 13[5] GS Yumio Sakurai, Khu vực học là gì? Bài giảng chuyên đề tại Viện ViệtNam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008.
[6] TS Phan Phương Thảo, Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại học KHXH &
NV, Nghiên cứu Việt Nam từ góc độ khu vực học, một số thành tựu và triển vọng, Kỷ
yếu hội thảo khoa học Quốc tế: “Khu vực học: Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương phápnghiên cứu”, Hà Nội, 2006
[7] Ngô Đức Thịnh: Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nxb Trẻ,
Thành phố Hồ Chí Minh, 2004
Trang 14VÊN §Ò N¢NG CAO CHÊT L¦îNG C¸n bé qu¶n lý,
GI¶NG VI£N GI¶NG D¹Y §¹I HäC T¹I TR¦êNG §¹I HäC
V¡N HO¸, THÓ THAO Vµ DU LÞCH THANH HO¸
Ths Nguyễn Văn Dũng
Thực tiễn của các trường đại học đã chứng minh, giảng viên là nhân tố quantrọng nhất quyết định đến chất lượng đào tạo và thương hiệu của một cơ sở đào tạo.Trong trường đại học, ngoài việc đào tạo bậc đại học còn có chức năng đào tạo sau đạihọc Vì vậy, đào tạo giảng viên có trình độ chuẩn và trên chuẩn là yêu cầu bắt buộc đốivới các trường Đại học, trong đó đặc biệt chú trọng ưu tiên cho đào tạo TS, PGS, GS
Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa cũng không nằmngoài quy luật chung đó Hiện nay, đội ngũ Giảng viên cơ hữu của nhà trường là 130(Trong đó có 1 TS, 13 NCS, 60 Ths, còn lại là Cử nhân) Đội ngũ Giảng viên như vậy làrất thiếu về số lượng và không đủ chuẩn về chất lượng để chuẩn bị cho giảng dạy đạihọc, đặc biệt là đội ngũ Giảng viên có trình độ TS
1 Những thách thức hiện nay là:
- Chuẩn hóa trình độ Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng phụ trách đào tạo vàNCKH BGH theo điều 35-38 của Điều lệ Trường Đại học, ban hành kèm Quyết định số:58/2010/QĐ -TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính Phủ (Hiệu trưởng và các PHTphụ trách đào tạo, NCKH phải là tiến sĩ, thâm niên giảng dạy đại học 5 năm)
- Trưởng khoa, trưởng Bộ môn chuyên ngành phải có trình độ tiến sĩ
- Giảng viên dạy đại học bắt buộc có trình độ thạc sĩ chuyên ngành được đào tạođúng môn dạy, nếu môn gần phải có công trình nghiên cứu đảm bảo yêu cầu môn dạy.Giảng viên đứng lớp phải qua sát hạch điều kiện: biên soạn ĐCCT môn dạy, ĐCCT bàigiảng được Bộ môn kiểm tra đánh giá đạt yêu cầu
- Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giảng viên dựa trên 3 tiêu chí: chất lượngNCKH, giảng dạy và giờ chuyên môn
- Tất cả các bộ môn học đều có ít nhất 01 tiến sĩ chịu trách nhiệm chính
Như vậy, với quy mô hiện nay 6 ngành đại học, chuẩn bị mở 5 ngành đại họctrong năm 2012, trường cần ít nhất 15 TS trong giai đoạn 2012 – 2020 Trong đó, ítnhất chúng ta cũng phải có 4-5 PGS để đào tạo trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ Đây là nhữngthách thức vô cùng to lớn
Trang 15- Giảng viên phải tích cực tham gia nghiên cứu khoa học: nghiên cứu đổi mớinội dung, phương pháp giảng dạy từ chính môn dạy của mình; tham gia các đề tài cáccấp; tham gia các hội nghị, hội thảo Khoa và Bộ môn tạo điều kiện cho giảng viên say
mê, hứng thú với NCKH ( Tổ chức tư vấn, định hướng, sinh hoạt chuyên môn, ximena)
- Giảng viên tăng cường ý thức tự đào tạo Đây là vấn đề quan trọng nhất quyếtđịnh chất lượng giảng viên Tự đào tạo gồm đọc, tham khảo tài liệu, thu thập thông tinliên quan đến bài giảng, ngành đào tạo; tham khảo đồng nghiệp, học các thầy cô giáo,HSSV
2.2 Tăng cường đào tạo sau đại học, ưu tiên đào tạo TS, PGS, GS:
- Hàng năm tổ chức các lớp tạo nguồn NCS từ GV có trình độ Ths Mời các GS,PGS, TS phương pháp nghiên cứu khoa học, hướng dẫn các nghiên cứu viên tiếp cậnnhững vấn đề dự định nghiên cứu phù hợp chuyên ngành
- Ưu tiên cho giảng viên học NCS để giảng dạy đại học, ngành đào tạo đúngchuyên ngành từ bậc Đại học, Thạc sỹ; cần có chế độ đãi ngộ khác so với GV họcNCS để đủ chuẩn cho chức danh CBQL
- Các giảng viên đã đậu NCS cần có lộ trình tự đào tạo, đặt ra các mục tiêu trởthành PGS, GS
- Hợp đồng liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo theo mục tiêu của nhà trườngđối với những ngành cần
2.3 Đảm bảo tích cực mời PGS, GS, nhà khoa học có uy tín trong nước, nước ngoài đến trường giảng dạy và NCKH:
- Có chính sách tích cực thu hút nhà khoa học, PGS, GS, TS có kinh nghiệmđến trường giảng dạy, NCKH , tăng cường các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo vàNCKH
- Phòng QLĐT, Phòng QLKH- HTQT cần có chương trình hợp tác liên kết đàotạo với các trường Đại học nước ngoài Thông qua hợp tác đào tạo, chúng ta có thểđưa giảng viên sang học tập nghiên cứu, giúp giáo viên cảm nhận được không khí họctập cũng như môi trường nghiên cứu khoa học của trường bạn
- Nên mời giảng viên các giảng viên có trình độ TS, PGS, GS biên chế trực tiếptại khoa, bộ môn và tham gia đào tạo giảng viên, giảng dạy một số học phần khó
- Nên có hình thức Giáo sư kiêm nhiệm (chuyên gia trong công đào tạo nghiêncứu sinh, giảng dạy nhưng họ không nhận lương của cơ sở Đại học), Giáo sư danh dự( chức danh dành cho các nhà khoa học có công trong việc xây dựng và phát triển họcthuật do các cơ sở Đại học trao tặng như là một cách ghi nhận công trạng) trongtrường Đại học (phải được biên chế tại các khoa, bộ môn) Điều này sẽ mang lại lợi ích:giúp nhà trường đào tạo Giảng viên nhanh nhất, tạo thương hiệu, uy tín cho nhà trường
Trang 16do các Giáo sư mang lại Vấn đề này đã được nhiều trường Đại học làm: Đại học QuốcGia Hà Nội; Đại học Sài Gòn
Trên đây là một số vấn đề về nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL, giảng viêndạy đại học tại Trường Đại học Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thanh Hoá./
N.V.D
Trang 17GI¶I PH¸P §æI MíI Vµ N¢NG CAO CHÊT L¦îNG §µO T¹O
T¹I KHOA NGHIÖP Vô DU LÞCH GIAI §O¹N 2012 -2020
Ths Lê Thanh Hà
Khoa Nghiệp vụ Du lịch (NVDL) có sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực du lịch chấtlượng cao không chỉ cho Thanh Hóa mà cả các tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ vàNam Sông Hồng Vì vậy mà đội ngũ cán bộ giảng viên khoa luôn trăn trở, tìm tòi nhữnggiải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo tại khoa, đáp ứng nhu cầu xã hội Mặc dùtrong thời gian qua, khoa đã đạt được những kết quả bước đầu như: Chương trình đàotạo liên tục được bổ sung, chỉnh sửa cho sát hợp với nhu cầu thực tiễn; Khoa đã thiếtlập được mối quan hệ tương đối tốt với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh tạođiều kiện cho sinh viên thực tập; 100% sinh viên của khoa sau tốt nghiệp đều đượctuyển dụng đúng ngành, nghề và được các cơ sở sử dụng đánh giá có kiến thức nềntảng, năng động và có lòng nhiệt huyết, yêu nghề Tuy nhiên, nhìn chung chất lượngđào tạo trong những năm qua chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớncủa xã hội cả về số lượng và chất lượng
Xuất phát từ thực tiễn trên, việc đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo củakhoa giai đoạn 20120-2020 là một việc hết sức cần thiết, với mục tiêu đổi mới cơ bản
và toàn diện hệ thống các chuyên ngành đào tạo Du lịch, tạo sự đột phá và chuyểnbiến cơ bản về chất lượng và quy mô đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồnnhân lực du lịch, đưa công tác đào tạo Du lịch của trường từng bước hội nhập với quốcgia và quốc tế, góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triển của nhà trườnggiai đoạn 2012-2020
1 Hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác đào tạo tại khoa NVDL thời gian qua
Thực tế cho thấy, chất lượng đào tạo tại khoa NVDL vẫn còn thấp, hiệu quả đàotạo chưa cao, nhân lực đào tạo còn yếu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ Từ nhữngnghiên cứu và khảo sát thực tiễn tại các cơ sở sử dụng nguồn nhân lực du lịch trên địabàn tỉnh Thanh Hóa như Công ty cổ phần uống Dạ Lan, Khách sạn Sao Mai, khách sạnLam Kinh, khách sạn Phù Đổng, khách sạn Bộ Xây dựng, Khách sạn Bộ Tài chính, Công
ty lữ hành quốc tế Hữu Nghị, Thế hệ trẻ, Hồ Thành, Tây Nguyên, Các doanh nghiệpđều đánh giá nguồn nhân lực du lịch đã qua đào tạo hiện nay đang còn yếu về chấtlượng, cụ thể là các kỹ năng nghề như: nghiệp vụ buồng, bàn, bar, bếp, lễ tân, hướngdẫn du lịch , thêm vào đó văn hóa giao tiếp và trình độ ngoại ngữ còn hạn chế
Khoa Nghiệp vụ Du lịch
Trang 18Cơ cấu ngành nghề và quy mô đào tạo tại khoa NVDL vẫn chưa thực sự đápứng nhu cầu của xã hội Hiện nay, khoa mới chỉ triển khai đào tạo ngành Việt Nam học(chuyên ngành văn hoá – du lịch), ngành tiếng Anh Thương mại – Du lịch Các chuyênngành được đào tạo chủ yếu ở đây là hướng dẫn viên du lịch, kỹ thuật viên buồng, bàn,bar, bếp và lễ tân So với hệ thống 13 kỹ năng nghề tiêu chuẩn của Tổng cục Du lịch
(1- Nghiệp vụ Buồng, 2- Nghiệp vụ Lễ tân, 3 - Nghiệp vụ Nhà hàng, 4 - Nghiệp vụ An ninh khách sạn, 5 - Kỹ thuật chế biến món ăn Âu, 6 - Kỹ thuật làm bánh Âu, 7- Kỹ thuật chế biến món ăn Việt Nam, 8 - Nghiệp vụ đặt giữ buồng khách sạn, 9 - Nghiệp vụ Quản
lý khách sạn nhỏ,10 Nghiệp vụ Đại lý Lữ hành, 11 Nghiệp vụ Điều hành Tour, 12 Nghiệp vụ đặt giữ chỗ Lữ hành, 13 - Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch) thì cơ cấu đào tạo
-hiện tại của khoa NVDL là quá mỏng Các ngành còn gặp khó khăn trong công táctuyển sinh, chưa thực sự thu hút người học Công tác tuyển sinh đang còn quan tâmđến số lượng là chính, chưa chú trọng đến chất lượng thí sinh, do vậy chất lượng đầuvào quá thấp, khả năng đào tạo ra những nhân sự chất lượng cao là rất khó khăn
Chương trình đào tạo các chuyên ngành tại khoa NVDL còn thiếu sự linh hoạt,nặng phần lý thuyết, chưa thực sự chú trọng đến phần thực hành Mặc dù đã có cốgắng nhiều trong việc bổ sung, chỉnh sửa khung chương trình đào tạo đảm bảo tiêntiến, khoa học và sát hợp với yêu cầu thực tiễn, nhưng nhìn chung chương trình họcđang còn dàn trải mà chưa nhấn đậm nghề nghiệp Sinh viên vẫn phải dự học các giờ
lý thuyết quá nhiều, chưa tập trung cho công tác thực hành rèn luyện kỹ năng nghề.Phương pháp giảng dạy và học tập còn chậm đổi mới và chưa hiện đại Một số mônhọc chưa có giáo trình chuẩn và tiên tiến để giảng dạy
Đội ngũ giảng viên đang còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng Hiện tại,khoa NVDL mới chỉ có 05 giảng viên chuyên ngành, còn lại là các giảng viên giảng dạykhối kiến thức cơ sở ngành Hầu hết giảng viên chuyên ngành là giảng viên giảng dạy
lý thuyết; số giảng viên, chuyên gia hướng dẫn thực hành thiếu và yếu; giảng viên cótrình độ cao và chuyên gia đầu ngành thiếu nghiêm trọng; một bộ phận giảng viên chưathực sự tích cực tham gia nghiên cứu khoa học
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học chưa đáp ứng được yêu cầu Hiệnnay, mới chỉ có phòng thực hành chế biến món ăn là được đầu tư khá đầy đủ, còn lạicác phòng thực hành các nghiệp vụ khác như buồng, bàn, bar, lễ tân do điều kiện củanhà trường nên chưa được quan tâm đầu tư đúng mức Trong thời đại công nghệthông tin hiện nay, nghiệp vụ lễ tân ở hầu hết các khách sạn đều được thực hiện trênphần mềm Nhưng do nhà trường chưa đầu tư phần mềm lễ tân cho sinh viên thựchành nên sinh viên khi ra trường lúng túng và nhìn chung là chưa thể đảm nhiệm tốtnghiệp vụ lễ tân Đối với nghiệp vụ buồng, nhà trường mới chỉ đầu tư 02 phòng thựchành với trang thiết bị đạt chuẩn của khách sạn 1 sao Do vậy, khi được tuyển dụng vềcác khách sạn 3 sao, 4 sao như Sao Mai, Phù Đổng, Lam Kinh sinh viên còn bỡ ngỡ
Trang 19và mất khá nhiều thời gian để tiếp cận với các trang thiết bị hiện đại ở những nơi này.
Để khắc phục tình trạng này, thời gian qua khoa NVDL đã kết nối với các doanh nghiệp
du lịch lớn ở tỉnh tạo điều kiện cho sinh viên của khoa xuống cơ sở thực tập theochương trình đào tạo nhưng hiệu quả vẫn chưa đạt yêu cầu
2 Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo tại khoa NVDL
Hiện nay, Du lịch đang được các cấp, các ngành ở Thanh Hóa quan tâm đầu tư
để phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn cho tỉnh nhà Hiện tại, Thanh Hóa có 1.087doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch Trong đó, số cơ sở lưu trú du lịch trên 500với 11.150 phòng, trong đó 55 khách sạn được xếp hạng 1-4 sao Do vậy rất cần nguồnnhân lực du lịch đặc biệt là nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao để các doanh nghiệpnày xây dựng thương hiệu và phát triển Theo đó, số lượng cán bộ nhân viên cần đượcđào tạo gian đoạn 2012-2020 dự báo khoảng trên 31.000 người, bình quân mỗi nămphải đào tạo 1.400 người và phải đào tạo chuyên nghiệp đủ 13 kỹ năng nghề du lịchcho tổng lực lượng lao động trên Bên cạnh đó, mỗi năm phải bồi dưỡng ngắn hạn vàgiáo dục cộng đồng lao động bán chuyên nghiệp tại các khu, điểm du lịch Điều này chothấy nhu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực du lịch 2012-2020 là rất lớn
Như vậy, khoa NVDL đang đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng là thách thứclớn, phải làm sao nhanh chóng đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhucầu xã hội, vươn lên đóng vai trò chủ đạo trong đào tạo nhân lực du lịch cho tỉnh nhà
Vì vậy, chúng tôi xin đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao chấtlượng đào tạo các chuyên ngành tại khoa NVDL giai đoạn 2012-2020 như sau:
Một là, nghiên cứu đổi mới chương trình đào tạo và phương thức đào tạo Tậptrung đào tạo nguồn nhân lực lao động chất lượng cao cho đủ 13 kỹ năng nghề du lịchtheo quy định của Tổng cục Du lịch Việt Nam Trong đó chú trọng đào tạo nhóm ngànhNghiệp vụ Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, hướng dẫn viên du lịch nội địa, kỹ thuật chếbiến món ăn, nghiệp vụ lễ tân, buồng, bar và nhóm ngành dịch vụ giải trí- văn hóa.Chương trình đào tạo cần xác định đa dạng và đa cấp học Trong đó cấp đào tạo đạihọc chú trọng năng lực quản lý khách sạn, nhà hàng, lữ hành, mục tiêu cần đạt lànguồn lực làm quản lý, giám đốc theo một phương thức tiên tiến, đảm bảo chuẩn quốc
tế Chương trình đào tạo cao đẳng, trung cấp, kỹ thuật viên cần chú trọng đến thựchành nghề, trong đó lĩnh vực chế biến món ăn, hướng dẫn du lịch, tiếp thị du lịch, dịch
vụ du lịch cần được coi trọng Nhà trường cần có đủ xưởng, khách sạn, nhà hàng thựchành… mới đảm bảo chất lượng đào tạo lĩnh vực đặc biệt này
Thứ hai, tập trung củng cố và xây dựng đội ngũ CBGV chất lượng cao Trongbất kì lĩnh vực hoạt động nào, nhân tố con người cũng giữ một vai trò hết sức quantrọng và mang tính quyết định Với quá trình đào tạo, đó là nhà quản lý giáo dục và độingũ giảng viên Vì vậy, để đổi mới và phát triển thì nhà trường cần quan tâm xây dựng
Trang 20đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý chuyên ngành Du lịch đủ về số lượng, có phẩmchất đạo đức tốt và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao và phươngpháp giảng dạy tiên tiến, hiện đại, đáp ứng yêu cầu cấp bách trong thời kỳ đổi mới Đểlàm được điều này, nhà trường cần tiến hành rà soát đội ngũ cán bộ, giảng viên về sốlượng, trình độ và cơ cấu đội ngũ phân bổ theo từng chuyên ngành Từ đó xây dựng kếhoạch dài hạn và ngắn hạn trong việc tuyển dụng mới, cử giảng viên đi đào tạo nângcao trình độ ở các cơ sở đào tạo trong nước, thậm chí ở nước ngoài; tăng cường cửcán bộ giảng viên tham dự các lớp tập huấn bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ sư phạm, lý luận chính trị và ngoại ngữ; có khả năng tham dự Hội thi giáoviên giỏi khối ngành Du lịch các cấp Triển khai các chương trình đào tạo và bồidưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý theo định kỳ Bêncạnh việc củng cố, phát huy nội lực đội ngũ giảng viên hiện có, khoa cũng cần phảinăng động hơn trong việc huy động các chuyên gia giỏi, có uy tín trong lĩnh vực du lịchtrong và ngoài tỉnh tham gia đào tạo
Thứ ba, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất Trong điều kiện có thể, đề nghị nhàtrường quan tâm đầu tư hơn nữa trang thiết bị cơ sở vật chất phục vụ cho công tácgiảng dạy và học tập trong môi trường đào tạo chuẩn, mang tính chuyên nghiệp, chấtlượng cao và hội nhập quốc tế Cụ thể là đầu tư các cơ sở vật chất gắn với đặc thùngành như buồng, bàn, bar, bếp, lễ tân và các trang thiết bị khác theo tiêu chuẩn tiêntiến Thiết nghĩ, đây cũng là một yếu tố thu hút người học Việc xây dựng mô hìnhdoanh nghiệp trong nhà trường như công ty lữ hành trường, khách sạn trường, nhàhàng trường cũng là một trong những giải pháp của khoa, để vừa là nơi thực hành chosinh viên, vừa tăng nguồn thu cho nhà trường
Thứ tư, đảm bảo mối liên hệ chặt chẽ giữa nhà trường – doanh nghiệp Khoacần tích cực hơn nữa trong việc triển khai các hoạt động nhằm phối hợp với doanhnghiệp du lịch để thực hiện đào tạo theo nhu cầu, theo đơn đặt hàng của các doanhnghiệp Hàng năm, nhà trường gửi sinh viên đến thực tập, thực tế tại các doanh nghiệp
du lịch Mô hình này sẽ tạo động lực học tập cho sinh viên Sinh viên sớm được thamgia lao động sẽ cảm thấy phấn khởi, tay nghề được nâng cao, từ đó mà thêm yêu nghềmình đã chọn và cũng có nhiều cơ hội việc làm hơn sau khi tốt nghiệp Đặc biệt, từnhững phản biện của doanh nghiệp về chất lượng lao động mà nhà trường có nhữngđiều chỉnh về chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo cho sát hợp với thựctiễn hơn Sự liên kết này sẽ giúp các doanh nghiệp du lịch đảm bảo nguồn nhân lực kếcận từ việc lựa chọn những sinh viên đúng tiêu chuẩn của doanh nghiệp khi còn ngồitrên ghế nhà trường để kịp thời hỗ trợ, bồi dưỡng Đồng thời, các doanh nghiệp nàycòn có được một lực lượng lao động “part - time” để giải quyết tình trạng thiếu nguồnnhân lực trong thời gian hiện tại
Trang 21Thứ năm, tranh thủ tốt nhất sự hỗ trợ của các cấp, các ngành về khuyến khíchphát triển đào tạo nhân lực du lịch như: cơ chế chính sách đối với cơ sở đào tạo nhânlực du lịch, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ giảng viên, cơ chế đối vớingười học,
Cuối cùng, chúng tôi thiết nghĩ rằng ngoài sự nỗ lực của tập thể CBGV khoa,cần có sự quan tâm, phối hợp đồng bộ của các phòng, ban chức năng trong trường thìkhoa NVDL mới có thể thực hiện thành công các giải pháp nhằm đổi mới và nâng caochất lượng đào tạo giai đoạn 2012-2020./
L.T.H
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Appllo Education and Training (2009), Phân tích nhu cầu đào tạo.
2 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tập hợp tham luận Hội thảo quốc gia lần thứ II về Đào tạo nhân lực du lịch theo nhu cầu xã hội, Hà Nội, tháng 8 năm 2010.
3 Doãn Văn Phú (2011), Du lịch Thanh Hóa – một năm nhìn lại, Báo Văn hóa –
đời sống
4 Lê Văn Tạo (2010), Nghiên cứu tiềm năng sản phẩm văn hóa du lịch Thanh Hóa, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa, Sở KHCN Thanh Hóa.
Trang 22CHUÈN §ÇU RA NGµNH HäC QU¶N TRÞ KINH DOANH DU LÞCH VÊN §Ò CÇN QUAN T¢M KHI X¢Y DùNG §Ò C¦¥NG CHI TIÕT
Ths Trần Nhật Hải
Xây dựng đề cương chi tiết học phần là phần quan trọng trong quá trình xâydựng chương trình giáo dục của các đơn vị đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầuxã hội
Nâng cao chất lượng đào tạo là vấn đề cấp thiết và quan trọng của các cơ sởđào tạo Trong nhiều năm qua, trường Đại học Văn hoá, Thể thao và Du lịch ThanhHoá (tiền thân là trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật Thanh Hoá) đã tập trung nhiềunguồn lực (nhân lực và vật lực) cộng với nỗ lực trên nhiều hình thức khác nhau nhằmđổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng đào tạo Nhiều hoạt động thiếtthực đã được thực hiện như đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường cơ sở vậtchất, phòng thí nghiệm, tài liệu, giáo trình phục vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảngviên cũng như xây dựng, cập nhật chuẩn đầu ra và chương trình chi tiết học phần theohướng tiếp cận với tri thức hiện đại, thực tiễn và đáp ứng yêu cầu xã hội
Bộ môn Quản trị kinh doanh du lịch được thành lập với mục đích đào tạo nguồnnhân lực trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn – du lịch trong trường Đại học Văn hoá,Thể thao và Du lịch Thanh Hoá cũng không nằm ngoài quy trình xây dựng chuẩn đầu
ra khi hoàn thiện đề cương chi tiết học phần trong nhà trường
Thuật ngữ “Chuẩn đầu ra” xuất phát từ thuật ngữ dịch từ tiếng Anh: learningoutcomes, student outcomes Về mặt ngữ nghĩa, việc dịch từ các thuật ngữ tiếng Anhnhư vậy là chưa tương ứng hoàn toàn trong trường hợp này Hiện tại có nhiều địnhnghĩa về chuẩn đầu ra và các định nghĩa này đều không khác nhau nhiều Tuy nhiên,định nghĩa chuẩn đầu ra cũng có nhiều người chấp nhận và phổ biến hiện nay như sau:
“Chuẩn đầu ra là tuyên bố về những gì người học sẽ biết, sẽ có thể làm hoặc thể hiệnsau khi hoàn thành môn học/chương trình học” Điều đáng chú ý ở đây trong định nghĩa
này là những gì mà người học đạt được (biết, làm) chứ không phải là ý muốn của người dạy Là những gì mà người học có thể thể hiện ở cuối quá trình học tập.
Khác với mục đích rộng và chung chung, mục tiêu chuẩn đầu ra nghiêng về ý đồcủa người dạy, chuẩn đầu ra nói về kỳ vọng người học đạt được và thể hiện được.Người ta ví chuẩn đầu ra như một đồng tiền chung để trao đổi, công nhận lẫn nhautrong nước cũng như quốc tế Khi xây dựng chuẩn đầu ra đối với các ngành học nóichung và ngành quản trị kinh doanh nói riêng phải đảm bảo chuẩn đầu ra là có thể đolường được Chuẩn đầu ra có ảnh hưởng đến đề cương học phần và phương pháp
Khoa Nghiệp vụ Du lịch
Trang 23giảng dạy của giảng viên Một chuẩn đầu ra được xây dựng tốt sẽ giúp cho người dạy
và người học dễ đạt được mục tiêu môn học hơn Chuẩn đầu ra là tuyên bố về những
gì người học sẽ biết, sẽ có thể làm hoặc thể hiện sau khi hoàn thành môn học, chươngtrình học Chuẩn đầu ra là những gì mà người học đạt được (biết và làm) chứ khôngphải là ý muốn của người dạy; Những gì mà người học có thể thể hiện ở cuối quá trìnhhọc tập Chuẩn đầu ra phải được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau:
• Chuẩn đầu ra cho khối ngành
• Chuẩn đầu ra cho chuyên ngành
• Chuẩn đầu ra cho học phần
• Chuẩn đầu ra cho khóa tập huấn
• Chuẩn đầu ra cho 1 chương/mục trong học phần
Điển hình như:
Trong tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam – nghiệp vụ điều hành Tourcũng đã quy định về tiêu chuẩn nghề về kiến thức đối với nhà cung cấp gồm:
a/.Kiến thức về các hãng hàng không
Biết về cơ cấu chuyến bay của hãng hàng không nội địa, lịch bay và giá vé bay,tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng
Biết cách liên hệ với hãng hàng không để đặt vé
Lấy được các thông tin chính xác về lịch bay và tần xuất bay thực tế
Có thể áp dụng các chi tiết của hợp đồng trong việc đặt vé các chuyến bay chokhách du lịch
b/ Kiến thức về các hình thức vận chuyển khác
Biết về mạng lưới đường sắct Việt Nam, chi tiết về dịch vụ, cách tiếp cận cácnguồn thông tin cập nhật và cách đặt chỗ
Biết về hệ thống phà và phương tiện vận chuyển sông và biển có sẵn ở Việt Nam
c/ Kiến thức về các cơ sở lưu trú
Biết chi tiết về các nhà cung cấp dịch vụ lưu trú của công ty và các dịch vụ của
họ, cách tiếp cận thông tin và cách đặt phòng
Biết thông tin về các khách sạn, nhà nghỉ, khu nghỉ
d/ Kiến thức về các đơn vị cung cấp dịch vụ ăn uống
Biết các thông tin về các nhà cung cấp dịch vụ đồ ăn, uống của công ty và cácdịch vụ của họ, biết cách tiếp cận thông tin và cập nhật đặt chỗ
Biết thông tin về giá cả, điều khoản thanh toán, điều kiện và thủ tục đặt mua
e/ Kiến thức về hoạt động mua sắm, văn hoá, giải trí và các dịch vụ khác.
Trang 24Đánh giá được các sản phẩm được bán và giá tại các điểm dừng của công ty.Hiểu biết kinh nghiệm về mua sắm khác nhau mà khách hàng du lịch của cáccông ty sẽ yêu cầu.
Biết về các trung tâm chính có thể đáp ứng được nhu cầu tìm kiếm của khách hàng.Hiểu biết về các hoạt động văn hoá, giải trí được đưa vào trong chương trình dulịch của công ty
Kiến thức chung về tất cả các hoạt động văn hoá và giải trí có thể thoả mãn nhucầu của khách hàng
Kiến thức chung về tất cả các dịch vụ bổ sung có thể cung cấp cho khách hàng
Đề cương chi tiết học phần được biên soạn bởi giảng viên hoặc nhóm giảngviên giảng dạy học phần đó Đề cương chi tiết học phần nhằm giúp người học hìnhdung được lượng kiến thức cần đạt được và kế hoạch học tập của học phần Khi xâydựng đề cương cần đảm bảo thể hiện chuẩn đầu ra của học phần, chuẩn về kiến thứcngười học tiếp thu trong quá trình học tập, kỹ năng người học thực hiện và thái độ nghềnghiệp mà người học có được sau khi kết thúc học phần
Đề cương chi tiết học phần là kim chỉ nam dùng để thực thi dạy - học của giảngviên và phải được công khai ở phòng quản lý đào tạo, khoa đào tạo, các khoa liên quan
và đặc biệt là người học được biết để cùng quản lý và học tập Trước khi giảng dạy,giảng viên (kể cả giảng viên thỉnh giảng) có trách nhiệm xây dựng, đề cương chi tiếthọc phần và trình bộ môn và khoa quản lý phê duyệt Giảng viên giảng dạy học phần
có trách nhiệm cung cấp đề cương chi tiết học phần cho sinh viên trước hoặc ngaytrong buổi lên lớp đầu tiên, đưa lên website cá nhân và nộp Phòng Đào tạo (bản giấy
và bản điện tử) để theo dõi
Đề cương chi tiết học phần cần phải thể hiện được địa điểm thực hành và thờigian thực hành trong quá trình học tập của người học tại cơ sở đào tạo và các cơ sởliên kết đào tạo hoặc các cơ sở kinh doanh hoạt động ngoài thị trường mà nhà trườngliên hệ
Đề cương chi tiết học phần phải được cập nhật thường xuyên hàng năm(thường là cuối học kỳ 2) để đảm bảo lượng kiến thức mới cần bổ sung và cập nhậtnhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy và học Đề cương chi tiết họcphần có thể được coi như là 1 bản “hợp đồng” giữa người dạy và người học
Đề cương chi tiết học phần gồm các nội dung sau đây: Thông tin chung về họcphần, thông tin về giảng viên, thông tin về lớp học, địa điểm và thời gian dạy - học, mô
tả học phần, mục tiêu học phần, nội dung học phần, tài liệu tham khảo, đánh giá, lịchtrình dạy - học, lịch kiểm tra - đánh giá và yêu cầu đối với sinh viên
Giáo dục và đào tạo trong nhà trường chú trọng đến việc đáp ứng được nhu cầucủa xã hội và yêu cầu của người học ‘Việc học’ trở thành trung tâm của việc đào tạo,
Trang 25lấy kết quả học tập làm đích hướng đến cho mọi hoạt động trong nhà trường Hoạtđộng quản lý đào tạo cũng không ngoài nằm định hướng này Hiện tại khi nói về việclàm thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo, bất cứ ai cũng đều nói đến việc đổi mớigiảng dạy, đổi mới về phương pháp biên soạn chương trình giảng dạy, đề cương chitiết dung trong giảng dạy, nhưng chắc chắn trong mỗi chúng ta đều có chút ít hoài nghi
về việc đổi mới này Chính vì vậy, nâng cao chất lượng đào tạo đòi hỏi thực hiện nhiềuhoạt động thiết thực và đồng bộ, trong đó hiểu và xây dựng chuẩn đầu ra cũng như đềcương chi tiết học phần là rất quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy vàhọc tập trong trường đại học./
T.N.H
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Tổng cục Du lịch (Hội đồng cấp chứng chỉ nghiệp vụ du lịch Việt Nam), Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam (VTOS) – Nghiệp vụ điều hành Tour, (trang 75-85)
2 Khoa CN Thực phẩm – ĐH Nha Trang, Phương hướng phấn đấu giảng viên
Bộ môn ĐBCL và ATTP, Khoa CN Thực phẩm để góp phần xây dựng đội ngũ nhà giáo vững mạnh - BM ĐBCL và ATTP.
Trang 26n©ng cao chÊt lîng híng dÉn DU LÞCH th«ng quA HäC TËP C¸C HäC PHÇN CHUY£N NGµNH
Ths Hà Đình Hùng 1
Du lịch tuy là một ngành non trẻ nhưng phát triển khá mạnh mẽ ở Việt Nam Dulịch được coi là một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Nội dung kinh tế, kinhdoanh, dịch vụ, đã được khẳng định trong quá trình hoạt động của ngành này Tuynhiên, càng ngày, giới chuyên môn càng nhận thức rõ hơn rằng, du lịch rất gắn với vănhóa Thực tế, phần lớn các tour du lịch đều gắn với mục đích văn hóa Như vậy, có sựgắn kết giữa kinh tế và văn hóa trong ngành du lịch Vì thế ngành du lịch được coi làmột ngành tổng hợp
Về nhân sự, ngành du lịch đòi hỏi những người có kiến thức và năng lực đaphương diện, nghĩa là những người đó có thể hoạt động được trong các lĩnh vực khácnhau của ngành
Như vậy, một ngành tổng hợp sẽ đòi hỏi phải có một ngành đào tạo tổng hợp, đó
là hệ quả tất yếu trong mối quan hệ cung cầu giữa thực tế đời sống và giáo dục - đàotạo Đứng trước một ngành nghề tổng hợp như thế, các Nhà trường không thể chuyênmôn hóa một cách rời rạc được
Mặt khác, trong tình hình thực tiễn hiện nay, hệ thống hướng dẫn viên du lịch,một trong những đội ngũ quan trọng trong hoạt động khai thác du lịch lại chưa có trình
độ tương xứng, hoặc thiếu do nhu cầu của thị trường tương đối cao Thực trạng nàygặp ở cả hướng dẫn viên nội địa và hướng dẫn viên quốc tế, ngoại ngữ vẫn là một ràocản lớn đối với các nhân lực trong hoạt động này Theo số liệu thống kê của Tổng cục
du lịch năm 2010 thì lượng du khách nước ngoài đến Việt Nam đã đạt con số hơn 5triệu lượt người nhưng lượng hướng dẫn viên được cấp thẻ chính thức thì chưa đến
6000 người Con số này thể hiện sự thiếu hụt lớn về nguồn hướng dẫn viên hiện nay,
đặc biệt là cho các ngôn ngữ “hiếm” [1 Nguồn: Báo điện tử an ninh thủ anninhthudo.com]
đô-Một thực trạng đang tồn tại nữa là chất lượng đào tạo chuyên ngành du lịch hiệnnay ở Việt Nam còn đang gặp nhiều bất cập Phân ngành hướng dẫn du lịch thườngđược đặt trong mã ngành Việt Nam học (nghiên cứu Việt Nam), mà chưa đứng độc lậpthành một ngành Chưa kể đến chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy đangcòn nhiều hạn chế tồn tại, và mặc dù nhu cầu thị trường tương đối cao trong vài nămtrở lại đây thì các sinh viên chuyên ngành hướng dẫn du lịch vẫn không tìm được việclàm do không đáp ứng được yêu cầu chính của nghề nghiệp, tức là hướng dẫn khôngđạt yêu cầu
1 Khoa Nghiệp vụ Văn hóa
Trang 27Với cách đặt vấn đề như trên, chúng tôi thấy rằng, muốn đào tạo hệ thốnghướng dẫn viên du lịch tốt, đảm bảo yêu cầu của thị trường, thì ngay từ trong trườngĐại học, sinh viên phải được trang bị kiến thức, kỹ năng đảm bảo để có thể trưởngthành nghề một cách nhanh chóng, có khả năng tác nghiệp cao, đáp ứng được các tiêuchuẩn tương đối khắt khe của nghề.
Trở lại vấn đề đào tạo kỹ năng hướng dẫn, chúng tôi tạm không đề cập đến cáccông tác nghiệp vụ của nghề hướng dẫn (nên có một chuyên luận riêng cho vấn đềnày) mà chỉ tập trung giải quyết vấn đề chính là làm sao, bằng cách nào để tạo ra mộthướng dẫn viên du lịch có kiến thức nền tảng tốt, hình thành được bản lĩnh nghềnghiệp vững vàng trong tác nghiệp Đây là một vấn đề cần thiết, vì rằng, thực tế côngtác đào tạo hướng dẫn viên du lịch đã thấy, lỗ hổng và sự bài bản trong kiến thức củalực lượng này rất yếu, chưa được đảm bảo Các kiến thức lịch sử văn hóa, thông sửchưa sâu, thậm chí các kiến thức được gọi là cơ bản, thường thức vẫn đang còn hời
hợt Nhiều trường hợp, hướng dẫn viên không phân biệt được thời Lê sơ và thời Lê Trung Hưng, thời Mạc hoặc lộn lẫn giữa các thời kỳ với nhau Hiện tượng phổ biến là
nhầm lẫn về xuất thân, vai trò của các danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc Chẳnghạn, rất ít hướng dẫn viên biết rõ các tướng lĩnh, công thần của nhà Lê sơ trong khởi
nghĩa Lam Sơn như Nguyễn Chích, Nguyễn Nhữ Lãm, Lê Văn An, Phạm Văn Sảo, Lưu Nhân Chú, Lê Sát, Lê Sao, Lê Ngân, Đinh Liệt, Trịnh Khả Với nhiều danh nhân cách
mạng nổi tiếng thì còn mù mịt hơn Nhiều trường hợp sinh viên khi thực hành hướngdẫn di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật tại các điểm du lịch nổi tiếng không biếtthuyết trình gì với khách tham quan Những biểu hiện trong kiến trúc nghệ thuật như bố
cục kiến trúc chữ Đinh, chữ Công, Nội Công ngoại quốc; kiến trúc tiền Thần hậu Phật, Tiền Phật hậu Thánh; các cấu kiện kiến trúc rường, bẩy, kẻ, đầu đao, tàu mái, lá mái, bờ giải, bờ guột, đầu kìm, đấu kê; đồ thờ trong di tích như Chấp Kích, Bát Bửu, Lỗ Bộ, Chuông khánh, Long ngai, Hương án, Bài vị không hề biết đến Thậm chí các đề tài
chạm khắc gỗ (vốn là trung tâm thâm diễn nghệ thuật trong kiến trúc gỗ truyền thống)
như Tứ Linh, Tứ quý, Tứ Thời hay các linh vật như Long Mã, Hổ Phù, Nghê, Lân, Chim, Thú nhầm lẫn lung tung, không chỉ ra được tên gọi chính xác chứ chưa nói đến việc
làm thế nào chỉ ra tinh thần, giá trị cốt lõi trong nghệ thuật truyền thống dân tộc Có sinhviên còn không phân biệt được các loại hình kiến trúc nghệ thuật, tín ngưỡng tôn giáo,lịch sử văn hóa, cách mạng kháng chiến, danh lam thắng cảnh, di tích khảo cổ Trường
hợp điển hình nhất vẫn là nhầm lẫn các tên gọi Chùa, Đình, Đền, Miếu, Am, Phủ, Điện cũng không biết các thiết chế tín ngưỡng tôn giáo kia thờ những ai, mục đích gì.
Đây là một vấn đề thực sự báo động, nhất là đối với sinh viên học trong các trường cóđào tạo chuyên ngành hướng dẫn du lịch Rất khó tìm thấy những sinh viên có bản lĩnhthực sự trong hướng dẫn, nhất là các mảng về di tích, thắng cảnh, công trình lưu niệm.Hiện tượng phổ biến trong cách hướng dẫn các di tích, thắng cảnh của sinh viênthường là đọc thuộc các nguồn tài liệu sẵn có từ mạng Internet, báo chí, tài liệu, sách
Trang 28chuyên ngành một cách rập khuôn, mang nặng tính hình thức Vì thế trong khi hướngdẫn, tác nghiệp thường không tránh khỏi sự khiên cưỡng, nhàm chán
Những vấn đề trên, hầu hết thường gặp phải đối với hầu hết các giảng viêngiảng dạy các môn chuyên ngành trong chuyên ngành du lịch Có điều, trước khi nhìnnhận vai trò của các giảng viên giảng dạy những học phần cốt lõi hướng dẫn (nhưNghiệp vụ hướng dẫn du lịch) thì cần nhìn nhận một cách khách quan, trực diện vấn đề
hơn đối với hầu hết các học phần liên quan đến nghiệp vụ hướng dẫn du lịch như: Di tích và danh thắng Việt Nam, Mỹ thuật và kiến trúc Việt Nam, Phân vùng văn hóa, Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Sân khấu học, làng xã Việt Nam, Tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam, Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, Địa lý du lịch, Văn học dân gian Việt Nam, Tiếng Anh chuyên ngành du lịch Những học phần này, tuy không đào tạo
trực tiếp công tác hướng dẫn nhưng lại trở thành nền tảng (gần như rất quan trọng) đểtạo thành một hướng dẫn viên du lịch giỏi
Như trên đã nhận dạng, thực tế phần lớn hoạt động du lịch ở Việt Nam, các tour
du lịch đều gắn với mục đích văn hóa Đây là một điều thực tế và du lịch Việt Nam đangchủ yếu khai thác trên hệ thống di sản văn hóa kết tinh hàng ngàn năm mà cha ông đểlại Như vậy, hãy xem những sinh viên đang được đào tạo chuyên ngành hướng dẫn
du lịch trong Nhà trường mà khi tác nghiệp không biết nói gì, hướng dẫn gì trước các disản văn hóa thì thật nghiêm trọng Hướng dẫn du lịch không khó, cái khó là chúng ta cótrang bị đủ kiến thức (mới dừng ở mức nền tảng) cho sinh viên hay không Vấn đề này
là trách nhiệm của các giảng viên chuyên ngành và việc phân định nội dung chủ yếucho từng học phần là tối quan trọng Các học phần cần lưu ý để tránh trùng lặp, giảiquyết nhiều nội dung giống nhau trong nhiều học phần mà đáng lẽ ra sinh viên có thểđược tiếp nhận một khối lượng tri thức rộng rãi hơn, phong phú hơn qua nhiều mônhọc có hướng tiếp cận khác nhau Xuất hiện nhiều học phần tuy học nhiều, khối lượngkiến thức lớn mà vẫn thiếu, vẫn hổng; thừa là vì đã được dạy trong các học phần khác,thiếu là bởi cái mới trong học phần chưa thấy xuất hiện Nhưng cũng có hiện tượng, tuynhiều vấn đề tri thức xuất hiện trong nhiều học phần nhưng sinh viên hướng dẫn du lịchcũng không nắm được như đã liệt kê các cá biệt ở trên Vấn đề này, nên xem lại cáchthức, phương pháp giảng dạy của giảng viên Thực trạng chung đối với nhiều nhómmôn lý luận áp dụng trong giảng dạy chuyên ngành hướng dẫn du lịch vẫn là thuyếttrình thuần túy, rất cổ điển Giảng viên lên lớp giờ lý luận, phổ biến hết các nội dungtrong chương trình, rất ít thực tiễn, thực tế (dù là lý luận nhưng với nhiều học phần gắnvới đào tạo kỹ năng vẫn cần thực tế, thực tiễn) Để thay đổi vấn đề này, cần nâng caotinh thần cống hiến hơn nữa trong giảng dạy đối với mỗi giảng viên Các giảng viên cầnnhận thức lại và chú ý hơn trong giảng dạy đối với những chuyên ngành lấy hiệu quảthực tế làm thước đo như hướng dẫn du lịch Chẳng hạn, thay bằng thuyết trình thuầntúy, trong nhiều học phần, giảng viên có thể cùng với sinh viên tham gia khảo sát trựctiếp hoặc nhiều nhóm môn gần có thể tổ chức cùng tham gia khảo sát một lần (có mụctiêu cụ thể đạt được) để sinh viên nhận diện sinh động, trực quan hơn các kiến thức đã
Trang 29được truyền thụ Ví dụ: khi giảng về văn hóa các dân tộc Việt Nam đối với ngườiMường, người Thái được biểu hiện thông qua trang phục, nhà ở, nhạc cụ, sắc thái tínngưỡng, lễ hội, tập quán giảng viên có thể kết hợp với nhiều học phần trong chuyênngành như: di tích-danh thắng; mỹ thuật kiến trúc; tín ngưỡng tôn giáo, phân vùng vănhóa để đạt được mục tiêu theo yêu cầu Mặt khác, thông qua đó, sinh viên cảm thấygần gũi hơn với bài giảng và lưu giữ kiến thức ổn định, lâu dài hơn bằng các bài tựluận, tự nghiên cứu, các bài viết công bố sau khi tự điền dã, khảo sát
Thực tế công tác giảng dạy tại trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịchThanh Hóa nhiều năm qua, chúng tôi thấy rằng, thay đổi phương pháp giảng dạy vàhọc tập các môn chuyên ngành có tác động không nhỏ trong thói quen tiếp thu tri thứccủa sinh viên Nếu mỗi giảng viên chuyên ngành và sinh viên nhận thức được vấn đềnày, sẽ có không ít trường hợp tạo được bản lĩnh nghề ngay từ trong Nhà trường saukhi hoàn thành các môn chuyên ngành
Trên đây là gợi mở một vài vấn đề trong học tập và giảng dạy các môn chuyênngành phục vụ nâng cao chất lượng kỹ năng hướng dẫn du lịch của sinh viên Việt Namhọc Hy vọng rằng, trong tương lai còn có nhiều hơn nữa những sáng kiến của giảngviên để tăng cường hiệu quả thực tế cho chuyên ngành hướng dẫn du lịch./
H.Đ.H
Trang 30nâng cao chất lợng giảng viên là một trong những biện pháp nhằm nâng cao chất lợng đào tạo tại trờng đại học
văn hóa, thể thao Và du lịch thanh hóa
Ths Hoàng Thị Huợ̀
Trường Đại học Văn húa - Thể thao - Du lịch Thanh Húa là một trong những cơ
sở đào tạo đại học “trẻ” trong hệ thống giỏo dục đại học Chớnh vỡ vậy, để tạo được sứchỳt và sự cạnh tranh của xã hội trước hết trường phải đỏp ứng đầy đủ tiờu chuẩn củamột trường đại học theo quy định của Bộ giỏo dục đào tạo Bờn cạnh đấy trường cũnphải tạo được thương hiệu về chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo tốt lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố đặc biệt là đội ngũgiảng viờn Vỡ trong mụi trường giỏo dục thỡ giảng viờn là cơ sở, là hạt nhõn và là nhõn
tố quyết định cho toàn bộ quỏ trỡnh đào tạo Mà quỏ trỡnh đào tạo ấy cú đạt hiệu quảcao hay khụng lại phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của giảng viờn
Nhận thức được vị trớ, tầm quan trọng của người giỏo viờn trong giai đoạn mới.lãnh đạo Trường Đại học Văn húa, Thể thao và Du lịch Thanh Húa luụn xỏc định yếu tốnõng cao chất lượng giảng viờn là trọng tõm và là nguồn động lực thức đẩy nõng caochất lượng đào tạo, đồng thời rất quan tõm đến cụng tỏc bồi dưỡng giảng viờn Cụngtỏc bồi dưỡng giảng viờn được thực hiện bằng nhiều biện phỏp khỏc nhau, đỳc kếtnhững bài học kinh nghiệm và tỡm ra cỏc giải phỏp cú tớnh khả thi cao nhằm nõng caochất lượng đội ngũ giảng viờn như: Thực hiện chủ trương thạc sĩ húa đội ngũ giảngviờn được thấm nhuần tới từng giảng viờn, từng bộ mụn, từng khoa đào tạo Nhàtrường tớch cực mở, gửi đi đào tạo lớp tập huấn đào tạo theo chứng chỉ, lớp nghiệp vụ
sự phạm cho giảng viờn mới, lớp nghiệp vụ chuyờn ngành sõu cho cỏc giảng viờn dạynghề, giỏm sỏt chặt chẽ cụng tỏc dự giờ của giảng viờn và sinh hoạt bộ mụn và cụngtỏc tự đào tạo của giảng viờn…
Điều này, được thể hiện rõ qua sự nõng cấp về trỡnh độ chuyờn mụn của độingũ giảng viờn cũng như kết quả nghiờn cứu khoa học của giảng viờn trong toàntrường Năm 2011 nhà trường đã cú 161 CBGV cơ hữu trong đú cú 126 giảng viờn, 06tiến sĩ, 13 nghiờn cứu sinh, 62 thạc sĩ …tỷ lệ giảng viờn cú trỡnh độ trờn đại học trongtoàn trường là 63%
Ngoài ra, trường cũn đạt những thành tớch trong cụng tỏc nghiờn cứu khoa họcnhư: Cú 40 giảng viờn cú cụng trỡnh lao động sỏng tỏc nhận giải thưởng của hội Vănhọc Nghệ thuật TW, giải thưởng VHNT trung ương, địa phương và giải thưởng của cỏc
tổ chức nước ngoài, Cú 150 sỏng kiến đổi mới lao động, đổi mới phương phỏp dạy –học của giảng viờn cú giỏ trị tớch cực trong quỏ trỡnh đổi mới, phỏt triển nhà trường,
Khoa Nghiệp vụ Du lịch
Trang 31Phát hành 18 số tập san thông tin khoa hoc, Biên soạn 280 tập bài giảng / 280 họcphần cho 16 ngành, đã và đang thực hiện 10 đề tài NCKH cấp tỉnh, cấp bộ, có 720 bàiviết của giảng viên đăng tải trên các tập san khoa học của trường và báo chí khác…
Những thành tích đạt được đã nêu ở trên trong công tác đào tạo, bồi dưỡng giảngviên đã đóng góp tích cực trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của các khoa đào tạo
và của Nhà trường nhưng bên cạnh đó còn có một số tồn tại cần khắc phục như:
1 Để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, nhà trường luôn chú trọng tínhtoàn diện, bồi dưỡng giảng viên cả về tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên mônnghiệp vụ và phương pháp, năng lực sư phạm
2 Các tổ bộ môn sinh hoạt chuyên môn chưa sâu về bình giảng phát triểnnhững phương pháp dạy học tích cực, thời gian sinh hoạt tổ môn chỉ xoay quanh việc
dự giờ - thao giảng, nhận xét ưu khuyết điểm hồ sơ sổ sách… Tổ chức sinh hoạt nhiềukhi mang tính hành chính chiếu lệ Nội dung sinh hoạt nghèo nàn chưa đa dạng hìnhthức, chưa làm cho giáo viên thấy được lợi ích của buổi sinh hoạt chuyên môn Kếhoạch sinh hoạt tổ chưa được thông báo trước cho tổ viên chuẩn bị nội dung góp ý
3 Giảng viên phải tự xây dựng kế hoạch học tập nâng cao trình độ chuyên mônhàng năm, hàng tháng Đặc biệt chú ý tới kế hoạch học tập nâng cao trình độ trênnhiều hình thức như tự bồi dưỡng, công tác dự giờ, sinh hoạt bộ môn, tham gia các lớphọc nâng cao trình độ, nghiệp vụ theo yêu cầu của Nhà trường Khoa, bộ môn yêu cầutổng kết việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tíchcực, chủ động sáng tạo của HSSV Nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ môn: Hướng hoạtđộng của tổ chuyên môn đi vào chiều sâu chuyên môn, nghiệp vụ và giáo dục đạo đức,phong cách nhà giáo cho giảng viên Kèm cặp giúp đỡ đội ngũ giảng viên trẻ nâng caodần trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm trong công tác GVCV và công tácnghiên cứu khoa học Tăng cường công tác kiểm tra và hiệu lực kiểm tra đối với cáchoạt động của khoa, tổ môn Đặc biệt là công tác bồi dưỡng giảng viên và công tácquản lý giảng dạy của các bộ môn chuyên ngành Kế hoạch sinh hoạt bộ môn đượcthông báo trước hai ngày cho toàn thể giảng viên để chuẩn bị nội dung góp ý
4 Nghiên cứu khoa học là điều kiện không thể thiếu được đối với quá trình nângcao chất lượng giáo viên
Nghiên cứu khoa học là một yêu cầu tất yếu đối với giảng viên, là thành tốkhông thể thiếu trong việc hình thành phương pháp dạy - học mới trong các trường đạihọc Chúng ta có thể khẳng định, người dạy thật sự giỏi phải là người biết làm nghiêncứu khoa học, có nhiều công trình nghiên cứu khoa học Đặc biệt là trong giai đoạnhiện nay, tri thức của con người phát triển như vũ bão, hàng loạt tri thức của con ngườiđược “ra đời” và khám phá nhanh chóng Nghiên cứu khoa học có tác dụng tốt chongười dạy ở nhiều lĩnh vực như: người dạy sẽ có những điều kiện sàng lọc kiến thứcmột cách chắn chắn và khoa học để truyền tải nội dung, hướng dẫn cho người học tìm
Trang 32kiếm thông tin, kiến thức một cách khoa học nhất; tạo cho giảng viên một bản lĩnhchuyên môn nói chung và một bản lĩnh khoa học (có nhiều thực tế thuyết phục, cónhiều thông tin chắc chắn, đáng tin cậy do chính mình nghiên cứu ra để bổ sung bàigiảng một cách logíc, rõ ràng và thuyết phục); Thường xuyên nghiên cứu khoa học,giảng viên rất nhạy bén với các vấn đề dạy học, những nội dung liên quan đến chuyênmôn Họ không chỉ biết phát hiện những vấn đề trong lớp, trong trường mà còn pháthiện, nhận biết, khái quát được những vấn đề trong giáo dục và thực tiện cuộc sống.
Do vậy, việc nghiên cứu khoa học là một vấn đề tất yếu trong hoạt động giáo dục củangười dạy Để làm tốt được vấn đề này thì bản thân người dạy cần phải vượt qua khókhăn, không ngừng rèn luyện, tự nghiên cứu, học hỏi bổ sung kiến thức để theo kịpvới xu hướng phát triển của ngành Các giáo viên có thể tham gia các đề tài khoa họccủa trường …
5 Chất lượng cuộc sống giảng viên cũng là một trong những nhân tố có ảnhhưởng lớn tới chất lượng nâng giảng viên Mức lương chưa đáp ứng nhu cầu đời sốnghàng ngày thì dễ xảy ra tình trạng “chân ngoài dài hơn chân trong”, vì giảng viên cũngphải sống và có trách nhiệm với gia đình Chình vì vậy, nhà trường nên tạo điều kiên tốtnhất có thể về tài chính để CBGV có thể yên tâm và chuyên tâm hơn trong công tácnâng cao chất lượng đào tạo
6 Tự bản thận của giảng viên phải ý thức được vấn đề nâng cao chất lượnggiảng viên là trách nhiệm và nhiệm vụ của bản thân vì “Thầy giỏi về chuyên môn và đạođức sẽ sản sinh ra những trò giỏi” Thầy giáo giỏi cả về chuyên môn, nghiệp vụ sưphạm và lòng yêu nghề, thiết tha với lý tưởng đạo tạo thế hệ trẻ, là tầm gương sángtrong nghề nghiệp và cho xã hội…
Như vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ trênnhiều phương diện khác nhau, nhưng trong đó nâng cao chất lượng của giảng viên
được xem là một nội dung trọng tâm, hang đầu Vì đúng như ai đó đã từng nói “Sự khác biệt về năng lực của giảng viên sẽ tạo ra sự khác biệt về chất lượng đào tạo”./.
H.T.H
Trang 33một số yêu cầu đối với giảng viên cố vấn tại
trờng đại học văn HóA, THể THAO Và DU LịCH THANH HóA
CN Lờ Thị Hương
Sinh thời chủ tịch Hồ Chớ Minh đã núi: “Một năm bắt đầu từ mựa xuõn, đời ngườibắt đầu từ tuổi trẻ”, nhà nước ta xem giỏo dục là quốc sỏch hàng đầu, là nghề khụngcho phộp tạo ra phế phẩm Giỏo dục trong nhà trường bắt đầu từ tuổi trẻ, từ thế hệ trẻ
Vỡ vậy trong nhà trường vai trũ của người giỏo viờn đặc biệt là giỏo viờn cố vấn(GVCV) cú vai trũ,chức năng và nhiệm vụ hết sức quan trọng trong việc đào tạo thế hệtrẻ Mục đớch của giỏo dục là đào tạo ra những con người cú lẫn đức và tài phục vụ choxã hội ngày càng phỏt triển
Nhận thức được tầm quan trọng của GVCV trong sự nghiệp giỏo dục đào tạo núichung và trong Trường Đại học Văn húa –Thể thao – Du lịch Thanh Húa núi riờng Bảnthõn tụi là một GVCV tuy chưa cú nhiều năm kinh nghiệm trong nghề nhưng theo tụi đểlàm tốt cụng việc của một người GVCV và cú thể đào tạo ra được những sinh viờntrưởng thành cú ớch cho xã hội thỡ người GVCV cần phải đạt được những yờu cầu sau
1 Yờu cầu về phẩm chất.
Phẩm chất của của người GVCV được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu Mỗithầy cụ phải là một tấm gương sỏng cho HSSV noi theo Nhưng đối với GVCV thỡ yờucầu đú lại được đặt ra với mức độ cao hơn, toàn diện hơn Khụng chỉ tạo ra đực sựngưỡng mộ đối với HSSV mà GVCV cũn là nơi để cỏc em tõm sự chia sẽ niềm vui nỗibuồn, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cỏc em trong cuộc sống
Một GVCV cú thể là giảng viờn bộ mụn trực tiếp đứng trờn lớp giảng dạy nhưngcũng cú thể khụng là giảng viờn tham gia giảng dạy,cho dự ở bất cứ cương vị nào thỡGVCV ngoài việc trang bị cho mỡnh những kiến thức cần thiết cho việc giảng dạy,những hiểu biết kinh nghiệm về cuộc sống thỡ người GVCV phải luụn luụn rốn luyện vàđạt được những phẩm chất đạo đức cú tớnh chuẩn mực Từ cơ sở đú người GVCV mới
cú thể nhắc nhở, uốn nắn được sinh viờn, đặc biệt là sinh viờn cỏ biệt Đụi khi ngườiGVCV khụng cần giỏo dục sinh viờn bằng hành động mà chỳng ta cú thể giỏo dục sinhviờn bằng hỡnh ảnh bản thõn của GVCV, vỡ vậy mỗi một hành vi, cử chỉ, lời núi, thúiquen của GVCV cũng luụn được rốn luyện và hoàn thiện trong mắt sinh viờn.Khụng chỉvậy GVCV phải là người cú tấm lũng biết cảm thụng, chia sẽ với những khú khăn củasinh viờn, giải quyết được những nguyện vọng thấu đỏo của sinh viờn Trong lớp GVCVphải như người anh, người chị, cha mẹ thứ hai phải biết yờu thương, quan tõm để sinhviờn cú thể hoàn toàn tin tưởng nhờ cậy được Cũng qua đú mà GVCV cú thể nắm bắt
Khoa Nghiệp vụ Du lịch
Trang 34được đặc điểm hoàn cảnh, năng lực hoạt động, sở trường của từng sinh viên để pháthuy trí tuệ và chấn chỉnh kịp thời những thiếu hụt của sinh viên Đặc biệt đối với nhữngsinh viên cá biệt hay những sinh viên thiếu vắng đi tình cảm của cha, mẹ, thiếu sự quantâm của gia đình thì sự quan tâm của GVCV có một sức mạnh cảm hóa mạnh mẽ.
GVCV cũng cần nhận thức rõ giáo dục con người là cả một quả trình không
có điểm cuối cùng Vì thế người GVCV không được chủ quan, nóng vội Trước mọi sailầm, vi phạm của sinh viên điều đầu GVCV cần bình tĩnh, bao dung và độ lượng, xemxét sự việc vấn đề để tìm ra hướng giải quyết thấu tình đạt lý Đôi khi một câu nói vôtình, một sự trách phạt nôn nóng thiếu cân nhắc cũng để lại nỗi ám ảm khôn nguôitrông lòng sinh viên
Chính vì vậy phẩm chất của một GVCV phải được hội tụ bởi nhiều nhân cáchmới làm nên một phẩm chất đạt chuẩn mực và phẩm chất đó phải được GVCV luônluôn rèn luyện, học hỏi không ngừng nâng cao nhận thức và hoàn thiện bản thân mìnhhơn nữa trong cuộc sống cũng như trong cách nhìn nhận của sinh viên
2 Yêu cầu về kỹ năng.
Một GVCV không chỉ có phẩm chất đạo đức chuẩn mực mà một yêu cầu cũnghết sức quan trọng đó chính là kỹ năng nắm vững tâm lý sinh viên
Trong bối cảnh giáo dục đổi mới hiện nay nói chung và trong trường Đại học Vănhóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hóa nói riêng chúng ta phải đối mặt với rất nhiều vấn
đề và thực trạng phải suy nghĩ: Như hiện tượng sinh viên bỏ học ngày càng tăng, quan
hệ tình dục trước hôn nhân, sinh viên đánh nhau Trước thực trạng đó là một GVCVtrước hết chúng ta phải có trách nhiệm với sinh viên lớp mình chủ nhiệm, phải tìm hiểuđược nguyên nhân từ đâu Để làm được điều đó thì một biện pháp quan trọng đó làGVCV phải hiểu rõ được tâm lý của từng sinh viên và sự thay đổi tâm lý của sinh viên.Khi các em trở thành bước vào ngưỡng cửa của trường đại học cũng là lúc các em bắtđầu trưởng thành và bước qua các giai đoạn biến đổi tâm lý của thời học sinh Các emkhông còn là những đứa trẻ con cần được an ủi, dỗ dành và chăm sóc, nhưng cũngchưa thực sự trở thành người lớn để tự mình có thể giải quyết mọi tình huống Đểkhẳng định mình, các em thường có những hành xử bột phát, bất ngờ mà chính bảnthân các em chưa ý thức đầy đủ hậu quả sẽ đến Vì vậy một sự định hướng đúng đắnkhi các em đang còn ngồi trên ghế nhà trường giúp các em hình thành tính cách mainày là điều hết sức quan trọng Các em đến trường không chỉ lình hội kiến thức tronghọc tập mà các em cần được trao đổi về chính bản thân, về những gì chân – thiện – mỹtrong cuộc sống Đó chính hành trang để các em có thể bước vào đời và trở thành mộtcông dân có ích cho xã hội
Đằng sau tất cả mọi kiến thức, kỹ năng thì một yêu cầu không thể thiếu củangười GVCV chính là cái “tâm” của người giảng viên Không có một tấm lòng thì mọicông việc chỉ là hình thức và như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói : “Người có tài mà không
Trang 35có đức là người vô dụng” Công việc mà người GVCV làm được nó chỉ như là mệnhlệnh mà thiếu đi trái tim của người thầy cô giáo.
3 Giảng viên cố vấn phải là một nhà tâm lý.
Ngoài yêu cầu về phẩm chất, kỹ năng, năng lực chuyên môn GVCV phải là mộtnhà tâm lý giỏi, thấu hiểu những suy nghĩ, tâm tư cũng như nguyện vọng của sinh viênmình Đôi khi GVCV phải đặt mình vào vị trí của sinh viên để hiểu được hành vi và thái
độ của sinh viên Việc răn đe, xử lý sinh viên phải mang tính giáo dục không được xâmhại đến sức khỏe và danh dự của sinh viên Một nhà tâm lý tốt thì mọi vấn đề dù trongtrường hợp nào cũng sẽ được giải quyết thấu tình đạt lý, làm cho sinh viên ngày càngtôn kính và yêu mến thầy cô giáo hơn Không những vậy vừa là GVCV vừa là nhà tâm
lý thì người giảng viên có thể làm cho sinh viên hoàn toàn tin tưởng để bày tỏ mọi tâm
sự mà các em không thể chia sẽ cùng ai và ngược lại từ đó GVCV có thể tư vấn chocác em được rất nhiều vướng mắc mà các em gặp phải trong cuộc sống
Nói chung để trở thành một người GVCV mẫu mực, đạt hiệu quả cao trong côngviệc của mình thì người GVCV cần phải hội tụ đầy đủ cả ba yêu cầu nói trên Công tácGVCV không khó nhưng cũng không phải dễ, bởi lẽ nó chứa đựng cái tâm cao cả củangười giảng viên Vì vậy mỗi chúng ta khi đã là một GVCV chúng ta khồng nên coi nhẹ
và thờ ơ với công việc và trách nhiệm của mình với sinh viên Nếu như chúng ta nhậnthức và thực hiện tốt công tác GVCV thì sẽ đạt hiệu quả cao trong sự nghiệp giáo dụccũng như sự nghiệp phát triển của đất nước “ Vì lợi ích mười năm trồng, vì lợi ích trămnăm trồng người" /
L.T.H
Trang 36nâng cao chất lợng dạy – học ngoại ngữ tại
trờng đại học văn HóA, THể THAO Và DU LịCH THANH HóA
Ths Nguyễn Thị Hồng Lờ
Việt Nam đang đứng trước thỏch thức to lớn trong quỏ trỡnh hội nhập vàokhu vực và thế giới với mục tiờu thực hiện thành cụng sự nghiệp cụng nghiệp húa -hiện đại húa, xõy dựng và phỏt triển đất nước trong thời đại bựng nổ cụng nghệthụng tin Trong bối cảnh đú, ngoại ngữ trở thành cụng cụ hội nhập cần thiết khụngthể thiếu của con người Ngoại ngữ núi chung và tiếng Anh núi riờng cú vai trũ, vị trớquan trọng khụng chỉ đối với sự nghiệp giỏo dục đào tạo mà cũn cả cho sự phỏttriển của đất nước Tuy nhiờn, hiện nay chất lượng dạy và học Ngoại ngữ ở cỏctrường cả nước núi chung và Trường Đại học Văn húa – Thể thao – Du lịch ThanhHoỏ núi riờng chưa thực sự đạt hiệu quả như mong muốn Điều này do nhiềunguyờn nhõn chủ quan cũng như khỏch quan Trong bài viết này, tỏc giả xin đỏnhgiỏ thực trạng việc dạy - học Ngoại ngữ đồng thời đưa ra một số giải phỏp nhằmnõng cao chất lượng dạy - học Ngoại ngữ tại Trường Đại học Văn húa – Thể thao –
Du lịch Thanh Hoỏ
1 Thực trạng viợ̀c dạy - học Ngoại ngữ tại Trường Đại học Văn húa – Thể thao – Du lịch Thanh Húa.
1.1 Thuận lợi:
- Về phớa nhà trường: Nhận thức được tầm quan trọng của Ngoại ngữ núi
chung và tiếng Anh núi riờng, nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho cỏc giảngviờn Ngoại ngữ đi học chuẩn hoỏ nõng cao trỡnh độ chuyờn mụn Chương trỡnh đàotạo đã được chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo học chế tớn chỉ tạo điềukiện cho sinh viờn cú thờm thời gian học tập, nghiờn cứu sõu hơn cỏc học phần
- Về phớa giảng viờn: Hiện nay, Bộ mụn Ngoại ngữ cú 06 giảng viờn đều cú
trỡnh độ chuyờn mụn đạt chuẩn (02 NCS, 03 thạc sỹ, 01 cao học), cỏc giảng viờn cútuổi đời trẻ, yờu nghề, nhiệt tỡnh trong cụng tỏc, luụn cố gắng tỡm tũi và đổi mớiphương phỏp giảng dạy phự hợp với cỏc đối tượng học sinh, sinh viờn
- Về phớa sinh viờn: Một bộ phận sinh viờn đã ý thức được tầm quan trọng
của Ngoại ngữ đối với xã hội, đối với bản thõn nờn đã cố gắng nhiều và cú thỏi độ
Khoa Nghiệp vụ Du lịch
Trang 37động cơ học tập đúng đắn Việc học Tiếng Anh ngày càng được sự quan tâm ủng
hộ của gia đình và xã hội Chất lượng học tập cũng có sự cải thiện rõ rệt
1.2 Khó khăn:
- Về phía nhà trường: Trường mới được nâng cấp lên Đại học từ tháng
7/2011 đến nay nên việc đầu tư cơ sở vật chất cho việc dạy và học nói chung, họcNgoại ngữ nói riêng còn nhiều hạn chế Hiện nay, các lớp học phần Ngoại ngữđang còn phải học chung giảng đường với các học phần khác, đặc biệt là học cùnggiảng đường với các học phần Thanh nhạc, nhạc cụ Điều này ảnh hưởng lớn đếnchất lượng học các học phần Tiếng Anh Bên cạnh đó, do điều kiện cơ sở còn thiếuthốn nên các kỹ năng Tiếng Anh như nghe, nói, ngữ âm còn chưa được học trong
phòng dạy ngoại ngữ (language lab)
Thời lượng học Ngoại ngữ đối với các lớp không chuyên là 07 tín chỉ/ 02 họcphần Các lớp không chuyên chỉ học trong năm đầu tiên, năm thứ 2-3 không họcngoại ngữ Đặc trưng của bộ môn Ngoại ngữ và đặc biệt đối với tiếng Anh là phải
có sự thực hành thường xuyên, liên tục và cả một quá trình lâu dài, vì vậy sau khikết thúc học phần tiếng Anh cơ bản, đa phần sinh viên không còn sử dụng Ngoạingữ nên vốn kiến thức không được nâng cao mà còn tụt hậu đi
- Về phía giảng viên: Các giảng viên luôn nỗ lực tự nghiên cứu, đào tạo để
nâng cao trình độ chuyên môn, tuy nhiên do ở Thanh Hoá hiện nay không có cáckhoá tập huấn nâng cao trình độ cho các giảng viên Ngoại ngữ theo chuẩn quốc tế.Các giảng viên chưa được tham gia các lớp bồi dưỡng ngắn hạn đồng thời không
có cơ hội được giao lưu, học hỏi kinh nghiệm từ các trường bạn Đặc biệt, cácgiảng viên Ngoại ngữ gần như không có điều kiện giao tiếp với giáo viên bản ngữnhư các trường đại học, cao đẳng khác
- Về phía sinh viên: Bên cạnh những học sinh có hứng thú học ngoại ngữ
vẫn còn không ít sinh viên cảm thấy không thích học hoặc cảm thấy khó khăn trongviệc học bộ môn này Nhiều sinh viên chưa nhận thức được vai trò, vị trí của môntiếng Anh, cho rằng đây không phải là bộ môn chuyên ngành, có cũng được màkhông cũng chẳng sao Do đó thiếu động cơ, phương pháp học tập đúng đắn, cònthụ động trong học tập
Bên cạnh đó chất lượng Ngoại ngữ đầu vào của sinh viên không đồng đều,chỉ có một bộ phận sinh viên đã từng học Tiếng Anh ở các cấp THCS, THPT (chủyếu là sinh viên đến từ thành phố, các vùng ngoại ô, khu vực các thị trấn trong tỉnh)
Kỹ năng nghe, nói của sinh viên còn yếu do ở các trường phổ thông các giáo viênchủ yếu tập trung vào cung cấp ngữ pháp, từ vựng và các kỹ năng đọc, viết phục vụ
Trang 38cho các kì thi học kỳ và tốt nghiệp mà không chú trọng phát triển các kỹ năng nghe,nói cho học sinh Vì vậy, cùng với đặc điểm ngại tiếp xúc nên phần lớn sinh viêncòn rất dè dặt khi tham gia xây dựng bài trên lớp, chủ yếu sử dụng tiếng Việt trongquá trình giao tiếp do đó hiệu quả đạt được trong các bài học chưa cao Có thểkhẳng định rằng, vốn kiến thức và kỹ năng ngoại ngữ của sinh viên thấp là mộttrong những rào cản lớn trong quá trình giao tiếp tại lớp học
2 Giải pháp nâng cao dạy - học Ngoại ngữ tại Trường Đại học Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hoá
Từ những thuận lợi và khó khăn trong việc dạy - học Ngoại ngữ tại trườngĐại học Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hoá, tác giả xin đưa ra một số giảipháp để nâng cao chất lượng dạy - học Ngoại ngữ:
2.1 Về phía nhà trường:
Nhà trường cần đầu tư ít nhất 2-3 phòng học ngoại ngữ (language lab) theođúng chuẩn cho sinh viên có cơ hội thực hành các kỹ năng như nghe, nói, ngữ âm.Đối với các học phần Tiếng Anh cơ bản, các kỹ năng khác như đọc, viết thì phải bốtrí phòng học ở một giảng đường riêng dành cho các môn lý luận, cách biệt với cáclớp học phần Thanh nhạc, nhạc cụ
Trong tầm nhìn đến năm 2015, nhà trường nên chuyển việc đào tạo ngoạingữ tại trường sang đào tạo cấp chứng chỉ Hiện nay ở một số trường đại học trongnước đã đào tạo cấp chứng chỉ Ngoại ngữ tại trường Để làm được điều này trướchết đối với sinh viên khoá đầu khi bắt đầu nhập học sẽ trải qua một kì thi sát hạchtrình độ Ngoại ngữ để tiến hành phân loại trình độ sinh viên, sau đó sắp xếp sinhviên theo các lớp học phần cấp chứng chỉ A, B hay C tuỳ theo kết quả kì thi sáthạch Điều này tạo điều kiện cho những sinh viên có trình độ khác nhau có thể họcđúng với trình độ của họ, tiếp tục, kết nối được với kiến thức đã có, tránh được sựnhàm chán ở người học, không phải lặp lại những điều đã học trước khi vào trường
và quy định việc sử dụng các giáo trình tiếng Anh khác nhau phù hợp với trình độcủa từng lớp học
Bên cạnh đó, chúng ta cần quy định chuẩn đầu ra của sinh viên đối với môntiếng Anh Chẳng hạn như quy định đối với sinh viên hệ Cao đẳng chính quy phảihoàn thành chứng chỉ A, sinh viên hệ đại học chính quy phải hoàn thành chứng chỉ
B môn ngoại ngữ làm điều kiện thi tốt nghiệp thì sẽ kích thích quá trình tự học củahọc viên, không chỉ trong thời điểm đang học ngoại ngữ mà cả khi môn học này kếtthúc, học viên vẫn phải và muốn tự học tiếng Anh để đảm bảo về điều kiện vănbằng, chứng chỉ tiếng Anh của mình Sau khi kết thúc chương trình học Ngoại ngữ,
Trang 39nhà trường tiến hành cấp chứng chỉ A, B hay C cho sinh viên Chứng chỉ này sẽgiúp cho sinh viên có được cơ hội tốt hơn khi xin việc làm sau khi ra trường.
Tăng cường và mở rộng hình thức hợp tác quốc tế trong đào tạo Ngoại ngữ:Bước đầu chúng ta nên thu hút các tình nguyện viên nước ngoài (các sinh viên tốtnghiệp lớp 12 ở các nước bản ngữ đi tình nguyện đến giảng dạy Ngoại ngữ chocác nước không phải là ngôn ngữ chính) đến giảng dạy một số kỹ năng Ngoại ngữnhư nghe, nói… ở trường để giúp cho cả sinh viên và học viên có điều kiện giaotiếp với người bản ngữ Đối với kế hoạch đào tạo Ngoại ngữ lâu dài tại trường,chúng ta sẽ tiến tới việc mời các giảng viên nước ngoài tới giảng dạy tại trường ởmột số môn học và đặt vấn đề hợp tác với các trường Đại học trong khu vực chosinh viên sang học tại trường hoặc tham gia các khoá tập huấn vào hè do cáctrường tổ chức
Đối với việc đào tạo giảng viên Ngoại ngữ, nhà trường nên dành một phầnkinh phí đào tạo để phấn đấu đến năm 2015 mỗi năm có ít nhất 01 giảng viên Ngoạingữ được đi tham quan học tập, bồi dưỡng chuyên môn ngắn hạn (1-3 tháng hè) ởcác nước có sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ chính như: Úc, Singapore,Canada… Điều này sẽ nâng cao năng lực chuyên môn đặc biệt là khả năng giaotiếp theo đúng chuẩn quốc tế của các giảng viên Ngoại ngữ
2.2 Về phía giảng viên:
Các giảng viên luôn phải nỗ lực tự nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyênmôn, năng lực nghiên cứu khoa học Hiện nay, nhà trường đang trong giai đoạnchuyển sang hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ nên bản thân mỗi giảng viênphải nhận thức rõ tầm quan trọng cũng như ưu điểm của hình thức đào tạo này,tiếp cận và đổi mới phương pháp giảng dạy một cách nghiêm túc, tích cực để giờhọc đạt hiệu quả cao nhất
Ngoại ngữ là một môn học đặc biệt do đó nếu mỗi giảng viên không có ýthức tự nỗ lực trau dồi sẽ bị tụt hậu so với sự phát triển cũng như xu thế toàn cầuhoá của xã hội Trong tình hình khó khăn bước đầu của nhà trường trong quá trìnhmới nâng cấp lên đại học như hiện nay, các giảng viên Ngoại ngữ cần tự nỗ lực xâydựng cho mình lộ trình phấn đấu nâng cao năng lực chuyên môn, đổi mới phươngpháp giảng dạy
Vì vốn ngoại ngữ của sinh viên còn tương đối thấp và chưa đồng đều nêngiảng viên có thể phân chia sinh viên thành từng nhóm, cặp với các cấp độ khácnhau, đồng thời thiết kế các nhiệm vụ phù hợp với từng nhóm đối tượng Bên cạnh
đó để khắc phục tình trạng sinh viên nói tiếng Việt trong quá trình giao tiếp, thực
Trang 40hành các bài tập nói thì giảng viên phải quan sát, giúp đỡ, tạo ra các topic thú vịnhằm thu hút sinh viên vào trong bài thực hành và đồng thời thiết kế bài tập phùhợp với trình độ sinh viên Giảng viên phải tạo được sự hứng thú trong các giờ học,tạo động cơ học tập tích cực cho sinh viên, đặc biệt là các sinh viên dân tộc thiểu
số, tạo môi trường giao tiếp ngay trong lớp học và có thể bên ngoài giờ học.Khuyến khích sinh viên nói tiếng Anh càng nhiều càng tốt, có như vậy mới nhanhchóng cải thiện vốn từ vựng, từ đó sinh viên có thêm tự tin khi phát biểu
Đối với Bộ môn Ngoại ngữ, Bộ môn xác định việc nâng cao chất lượng dạy học Ngoại ngữ tại trường là nhiệm vụ trọng tâm, tiên quyết Bộ môn xác định phấnđấu đến năm 2013 có 100% giảng viên đạt chuẩn thạc sỹ trở lên, năm 2015 có ítnhất 03 giảng viên có trình độ tiến sỹ chuyên ngành, 02 giảng viên NCS Để làmđược điều này, ngay từ bây giờ bộ môn xây dựng lộ trình cho các giảng viên phấnđấu, hàng tháng có tổ chức hội nghị chuyên đề bàn về việc nâng cao chất lượngdạy - học Ngoại ngữ tại trường Đặc biệt, Bộ môn luôn khuyến khích các giảng viêntham gia nghiên cứu khoa học, xác định nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ bắt buộcđối với mỗi giảng viên giảng dạy Đại học Bộ môn đang nghiên cứu xây dựng bộ đềthi trắc nghiệm chuẩn cho việc thi và chấm tiếng Anh toàn trường trên hệ thống máytính Điều này sẽ giúp cho việc đánh giá chất lượng học của sinh viên chính xác vàđảm bảo hơn
-2.3 Về phía sinh viên:
Bản thân mỗi sinh viên phải tự định hướng mục tiêu học tập cho sinh viênnhư học ngoại ngữ để làm gì? Nó có ích lợi gì cho công việc trong tương lai? Mộtkhi sinh viên trả lời được những câu hỏi như vậy thì động cơ học tập của các em sẽđược xác đinh rõ ràng hơn Phải luôn nâng cao tinh thần tự giác, xác định rõ động
cơ và mục đích học tập và huy động hết mọi năng lực để đạt được mục đích đó.Biết tạo ra niềm say mê trong học tập, chủ động nghiên cứu nội dung trước, vấn đềchưa rõ, chưa hiểu phải hỏi bạn hay giảng viên, không nên có tâm lý e ngại, giấudốt
Để nâng cao chất lượng dạy - học Ngoại ngữ thì sự nỗ lực tự học, nghiêncứu của sinh viên là điều kiện tiên quyết Sinh viên phải chú trọng đến phong cách
và các chiến lược học tập để có thể tìm ra những phương pháp học tập hiệu quảnhất Hiện nay, sinh viên phải thay đổi thái độ học thụ động của mình, cụ thể là bớtphụ thuộc vào giảng viên và chịu trách nhiệm cho việc học của mình Muốn pháttriển khả năng học Ngoại ngữ thì ngoài giờ học trên giảng đường, sinh viên có thểthực hành thêm các dạng bài tập trên các website học Ngoại ngữ ở thư viện