1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

HỆ THỐNG QUẢN lý môi TRƯỜNG DOANH NGHIỆP

35 306 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 275,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu này giới thiệu tình hình và những vấn đề chung, sau đó xem xét một cách kỹ lưỡng và chi tiết tất cả những công cụ chủ chốt trong quản lý môi trường ở doanh nghiệp, bao gồm: các

Trang 1

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HOÀ

KHOA CÔNG NGHỆ HOÁ

PHẠM THỊ HỮU KIỀU

TÀI LIỆU GIẢNG DẠY HỌC PHẦN

HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG DOANH NGHIỆP

DÙNG CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG

NGÀNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG

(LƯU HÀNH NỘI BỘ) PHÚ YÊN – 2011

Trang 2

Chương 1: Mở đầu

1.1 Khái quát về hệ thống quản lý môi trường doanh nghiệp

Quản lý môi trường ở doanh nghiệp

"Quản lý môi trường ở doanh nghiệp" là phân tích toàn diện về vai trò của doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường Tài liệu này giới thiệu tình hình và những vấn

đề chung, sau đó xem xét một cách kỹ lưỡng và chi tiết tất cả những công cụ chủ chốt trong quản lý môi trường ở doanh nghiệp, bao gồm: các hệ thống quản lý môi trường và các tiêu chuẩn quản lý môi trường; các chính sách môi trường, những nguyên tắc chỉ đạo và các quy định; hệ thống kiểm tra môi trường; đánh giá chu kỳ biến đổi; đánh giá công tác môi trường và báo cáo môi trường Tài liệu này chú trọngđến quản lý môi trường có hệ thống và cũng xem xét sự phối hợp hành động giữa chính quyền địa phương với các công ty cỡ vừa và nhỏ Sau đó, sẽ mở rộng ra để bàn

về công tác quản lý môi trường liên tục, tiến đến xây dựng một hồ sơ môi trường củadoanh nghiệp và tiếp tục theo hướng phát triển bền vững

Giáo dục môi trường trong các doanh nghiệp là một trong những nội dung, biện phápgiáo dục môi trường cộng đồng có ý nghĩa thực tiễn, sinh động và mang lại hiệu quả

rõ rệt trong việc nâng cao dân trí về bảo vệ môi trường cho cán bộ công nhân viênchức (CNVC) trong khối các doanh nghiệp của Hà Nội

Có thể nói rằng các doanh nghiệp vừa là nhân vừa là quả của vấn đề bảo vệ môitrường Đặc biệt là môi trường lao động Nếu không làm tốt việc bảo vệ môi trườngthì các yếu tố độc hại thoát ra sẽ làm ô nhiễm ngay trong môi trường của các doanhnghiệp và tất nhiên sẽ làm ô nhiễm tới các khu vực xung quanh trực tiếp hoặc giántiếp gây tác hại đến sức khỏe cộng đồng

Ngoài ra những thông tin về bảo vệ môi trường như tờ rơi, tranh cổ động, áp phíchtuyên truyền về Ngày Môi trường thế giới, Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơnv.v được dán trên các bảng thông tin đặt nơi có nhiều CNVC qua lại như nhà ăn,phòng họp, nhà căng tin v.v đã có tác dụng tốt trong việc truyền đạt những thôngtin về môi trường đến CNVC trong các doanh nghiệp Việc tổ chức phòng trào

"Xanh, Sạch, Đẹp" trong các doanh nghiệp là hướng CNVC vào những việc làm cụthể về bảo vệ môi trường trong thực tiễn sản xuất và cũng trên cơ sở đó nâng caothêm một bước về nhận thức bảo vệ môi trường cho CNVC và người lao động.Thông qua phong trào bảo vệ môi trường trong các doanh nghiệp, người lao động sẽ

tự giác làm chủ trong việc ngăn ngừa giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường tại nơi mìnhlàm việc và cũng ngăn ngừa sự ô nhiễm cho môi trường sống của dân cư xung quanhcác doanh nghiệp

Giáo dục môi trường trong các doanh nghiệp góp phần mang lại những hiệu quả vềbảo vệ môi trường và cũng mang lại nhiều lợi ích về kinh tế cho các doanh nghiệpnhư tạo ra những sản phẩm sạch có chất lượng cao, tăng thêm uy tín của sản phẩmđối với người tiêu dùng, môi trường lao động của doanh nghiệp cũng được cải thiệnhơn Vấn đề này càng quan trọng khi đất nước ta đang phát triển kinh tế theo xu

Trang 3

hướng hội nhập vào thị trường kinh tế thế giới Trong xu thế hòa nhập môi trườngtoàn cầu hóa hiện nay, thị trường của các nước có nền kinh tế phát triển chủ trươngkhông nhập khẩu những sản phẩm của các công ty, xí nghiệp không có biện pháp vềbảo vệ môi trường như tái chế chất thải, xử lý nước thải v.v với mục đích là bắtbuộc các doanh nghiệp phải làm tốt việc bảo vệ môi trường theo hướng phát triểnbền vững Đây là một vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý kinh tế cần có những quyếtđịnh đúng đắn đối với vấn đề phát triển bền vững của đất nước.

1.2 Hệ thống tổ chức quản lý môi trường doanh nghiệp ở Việt Nam

1.2.1 Lịch sử quản lý môi trường Việt Nam

Mỗi một hoạt động của con người đều có tác động đến tài nguyên Môi trường xungquanh chiều hướng thuận lợi hay không thuận lợi cho đời sống và phát triển của conngười Ngay từ xa xưa con người đã có những hình thức nhằm bảo vệ tài nguyênnhư hình thành các quy ước bảo vệ rừng đầu nguồn, hay lập các miếu thờ đề dựa vào

uy thế của thần linh nhằm ngăn cấm việc phá rừng…

Chỉ khi xã hội phát triển, nhờ tiến bộ khoa học và kỹ thuật mà kinh tế tăng trưởngnhanh, song tài nguyên cạn kiệt, cân bằng sinh thái bị đảo lộn, chất lượng môitrường sống suy thoái thì quản lý môi trường đã trở thành một hoạt động cụ thể củaquản lý Nhà nước Ở Việt nam công tác Quản lý môi trường đã được quan tâm đến

từ năm 1962, khi chúng ta thành lập vườn quốc gia Cúc phương

Năm 1986, lần đầu tiên ở Việt Nam , với sự hợp tác của các chuyên gia Liên HiệpQuốc, Hội Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), các nhà khoa học Việt Nam đã soạnthảo "chiến lược quốc gia bảo vệ thiên nhiên" Bản chiến lược có ý nghĩa như làkhởi đầu cho quá trình quản lý tài nguyên, môi trường ở Việt Nam Và cũng vào năm

1986 chương trình quốc gia nghiên cứu về tài nguyên và môi trường với sự cộng táccủa IUCN, đã đề xuất với Nhà nước CHXHCN Việt Nam một chiến lược quốc gia

về bảo vệ môi trường Trên cơ sở chiến lược này, trong các năm 1990 - 1991 một kếhoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững đã được Hội đồng Bộ trưởngCHXHCN Việt Nam chấp nhận và chính thức ban hành ngày 12 - 06 - 1991

Kế hoạch quốc gia đã xác định mục tiêu lớn về thể chế và tổ chức là"

- Thành lập cơ quan quản lý môi trường

- Xây dựng chính sách và luật pháp về môi trường

- Thành lập mạng lưới quan trắc môi trường

- Lập kế hoạch tổng hợp về sử dụng và phát triển tài nguyên

- Xây dựng các chiến lược phát triển lâu bền cho các ngành

- Đánh giá tác động môi trường

- Soạn thảo chiến lược môi trường và phát triển bền vững

Kế hoạch quốc gia cũng vạch ra 7 chương trình hành động:

- Quản lý phát triển đô thị và dân số

- Quản lý tổng hợp các lưu vực

- Kiểm soát ô nhiễm và chất thải

- Quản lý tổng hợp vùng ven biển

- Bảo vệ đa dạng sinh học

- Bảo vệ các vùng đất ngập nước

- Quản lý các vườn quốc gia và các khu bảo vệ

Trang 4

Một sự kiện quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ môi trường, đó là tháng 12 năm

1993, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá IX kỳ họp thứ IV đã thông qua luậtBảo vệ Môi trường Và ngày 18 tháng 10 năm 1973, Nghị định 175 CP đã ban hành

để hướng dẫn thi hành luật bảo vệ môi trường

Về tổ chức bộ máy quản lý môi trường, năm 1992 Bộ Khoa học, Công nghệ và Môitrường được thành lập, mà tiền thân của nó là UBKHKT Nhà nước, với chức năng làquản lý Nhà nước về môi trường

Các sở Khoa học - Công nghiệp - Môi trường các địa phương sau đó được thành lậpvới chức năng là quản lý Nhà nước về môi trường ở địa phương

Do yêu cầu nhiệm vụ của công tác quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệmôi trường phù hợp với xu thế phát triển của đất nước trong thời kỳ mới, tại kỳ họpthứ nhất, Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam khoá XI, ngày 05 tháng

8 năm 2002 đã quyết định thành lập Bộ tài nguyên và môi trường trên cơ sở 3 đơn vịchủ yếu hiện có gồm cục môi trường; tổng cục địa chính và tổng cục khí tượng thuỷvăn

Cho đến nay, ở Việt Nam đã hình thành hệ thống tổ chức Quản lý Nhà nước về Môi trường từ trung ương đến địa phương

1.2.2 Hệ thống tổ chức quản lý môi trường doanh nghiệp ở Việt Nam

Hệ thống tổ chức Quản lý môi trường ở Việt Nam theo quy định của luật Bảo vệ môitrường (điều 38) và nghị định 175 CP

- Theo nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước vềbảo vệ môi trường trong cả nước

- Bộ Khoahọc, Công nghệ và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thựchiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ theo chức năng, nhiệm

vụ và quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trườngthực hiện việc bảo vệ môi trường trong ngành và các cơ sở thuộc quyền quản lý trựctiếp

- Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương

- Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh,

thành phố trực thuộc Trung ương trong việc bảo vệ Môi trường ở địa phương Điều

39 luật Bảo vệ Môi trường cũng quy định: Hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ,

và quyền hạn của các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường do chính phủquy định

Như vậy trong thực tế từ trước tới nay hệ thống quản lý môi trường ở Việt Nam vừakết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ

Nhằm đáp ứng kịp thời về cơ cấu tổ chức và ổn định đi vào hoạt động của bộ tàinguyên và môi trường, ngày 11 tháng 11 năm 2002, thủ tướng chính phủ đã ký nghịđịnh của chính phủ ban hành số 91/2002/NĐ-CP về “Quy định chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường” Tại điều 1 của nghịđịnh này qui định về vị trí và chức năng của bộ đã chỉ rõ: “Bộ tài nguyên và Môitrường là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tàinguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn,

đo đạc và bản đồ trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thựchiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nứơc

Trang 5

trong lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường,khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật”

Tại điều 3 của nghị định này cũng quy định rõ cơ cấu tổ chức của bộ gồm hai bộphận cấu thành cơ bản, thứ nhất là các tổ chức giúp bộ trưởng thực hiện chức năngquản lý nhà nước gồm 16 bộ phận, thứ hai là các tổ chức sự nghiệp của bộ gồm 6 bộphận

Đối với các tổ chức giúp bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước gồm: vụđất đai; vụ đăng ký và thống kê đất đai; vụ môi trường; vụ thẩm định và đánh giá tácđộng môi trường; vụ khí tượng thuỷ văn;vụ khoa học-công nghệ; vụ kế hoạch-tàichính; vụ hợp tác quốc tế; vụ pháp chế; vụ tổ chức cán bộ; cục quản lý tài nguyênnước; cục địa chất và khoáng sản Việt nam; cục bảo vệ môi trường; cục đo đạc bảnđồ; thanh tra và văn phòng

Các tổ chức sự nghiệp thuộc bộ gồm: trung tâm khí tượng thuỷ văn quốc gia; trungtâm điều tra quy hoạch đất đai; trung tâm viễn thám; trung tâm thông tin; tạp chí tàinguyên và môi trường; báo tài nguyên và môi trường

Như vậy có thể khẳng định rằng, với chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức mới,vai trò quản lý Nhà nước về môi trường và tài nguyên thiên nhiên sẽ được tăngcường phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước

1.3 Các văn bản pháp lý hiện hành liên quan tới quản lý môi trường ở Việt Nam

1.3.1 Hệ thống chính sách và pháp luật về môi trường

Văn kiện Đại hội Đảng và Nghị quyết của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam có ýnghĩa chiến lược chỉ đạo toàn bộ côngtác bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Luật bảo vệ môi trường ban hành 1/1993 là cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho hoạtđộng bảo vệ môi trường

Ngoài luật bảo vệ môi trường, còn có một số luật khác liên quan đến môi trường,được ban hành trước và sau luật bảo vệ môi trường

1.3.2 Kế hoạch quốc gia về môi trường

Trang 6

Năm 1986, Việt Nam đã công bố "chiến lược quốc gia bảo vệ thiên nhiên Xuất bản

dự thảo Chiến lược quốc gia về bảo tồn (sửa đổi theo quyết định số 246/HĐBTngày 20/9/1985)

Năm 1991, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thông qua Kế hoạch Quốc gia về môi trường và Phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000 (chỉ thị 187/CT ngày29912/6/1991) Năm 2000, Trình Chính phủ Chiến lược quốc gia về Bảo vệ môitrường giai đoạn 2001 – 2010 (9/2000)

Các kế hoạch quốc gia về môi trường đề ra các mục tiêu về môi trường trong giaiđoạn và xây dựng chương trình hành động để đạt được mục tiêu đó

1.3.3 Nghị định của chính phủ

- Ngày 18 - 10 - 1994, Chính phủ ban hành NĐ 175 CP "Về việc hướng dẫn thi hành luật bảo vệ môi trường"

- 26 - 4 - 1996, Chính phủ ban hành NĐ 26/ CP "Xử phạt hành chính về vi phạm môitrường"

- Năm 1995, Tiêu chuẩn môi trường Việt Nam được ban hành

Ngoài ra, Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường đã có nhiều thông tư về hướngdẫn công tác Đánh giá tác động môi trường, về công tác thanh tra môi trường, cácquyết định liên quan khác đến lĩnh vực quản lý nhà nước về môi trường

1.3.4 Các chỉ thị, quyết định

- 25-6-1998 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam ra Chỉ thị CT/TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước

36-Thủ tướng chính phủ cũng đã có nh ững chỉ thị quan trọng như:

- Chỉ thị số 200/TTg ngày 29/4/1994 về đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trườngnông thôn

- Chỉ thị số 406/TTg ngày 8/8/1994 về việc cấm sản xuất và buôn bán pháo nổ

- Chỉ thị số 199/TTg ngày 3/4/1997 về những biện pháp cấp bách trong công tácquản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghịêp

- Chỉ thị số 29/1998 về tăng cường công tác quản lý việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và các chất hữu cơ gây ô nhiễm khó phân huỷ

Các quyết định đáng lưu ý liên quan đến quản lý nhà nước về môi trường trong thờigian vừa qua như:

- Quyết định số 07/TTg ngày 3/1/1997 về thành lập ban điều hành quốc gia Quỹ môitrường toàn cầu việt nam

- Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10/7/1999 về việc phê duyệt Chiến lượcquản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt nam đến 2020

- Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/7/1999 của thủ tướng Chính phủ về việcban hành Quy chế quản lý chất thải nguy hại

- Quyết định số 82/2002/QĐ-TTg ngày 26/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việcthành lập, tổ chức hoạt động của Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam

1.3.4 Sự tham gia của Việt Nam vào các công ước quốc tế về môi trường

Như tuyên bố của chính phủ Việt Nam tại Hội nghị thượng đỉnh RIO - 1992, ViệtNam cam kết bảo vệ môi trường của nước mình và hợp tác cùng các nước trong khuvực và trên thế giới để góp phần bảo vệ môi trường của khu vực và môi trườngchung của toàn cầu

Trang 7

Vì vậy, chúng ta coi trọng việc hợp tác về môi trường để nâng cao năng lực bản thân,nhằm giải quyết những vấn đề môi trường của mình và góp phần trong nỗ lực chungcủa thế giới

* Việt nam hợp tác với các tổ chức quốc tế và các chính phủ

Nhiều tổ chức quốc tế đã hợp tác và giúp đỡ nước ta dưới các hình thức viện trợ, các

dự án trợ giúp kỹ thuật, chủ yếu nhằm nâng cao năng lực của ta trong hoạch địnhchính sách, tìm hiểu và lựa chọn các biện pháp trong quản lý, điều hành, cũng nhưgiải pháp có tính công nghệ trong một số lĩnh vực về môi trường

Đó là các tổ chức như: UNDP, UNEP, FAO, WHO, UNICEP, WWF, IUCN… Việc hợp tác và trợ giúp quốc tế còn được thể hiện thông qua quan hệ song phương giữa chính phủ ta với các chính phủ như: Thuỵ Điển, Phần Lan, Liên Xô (trước đây),Pháp, Canađa, Hà Lan, CHLB Đức, Oxtraylia, Nhật Bản, Đan Mạch, Singapo, Thái Lan…

* Việt Nam tham gia các công ước quốc tế:

Nước ta đã tham gia các công ước quốc tế sau đây:

- Công ước liên quan đến bảo vệ các di sản văn hoá và tự nhiên thế giới 1972 Kýngày 19/10/1982

- Công ước IAEA về thông báo sớm sự cố hạt nhân, 1985 Ký ngày 29/9/1987

- Công ước về trợ giúp trong các trường hợp sự cố hạt nhân hoặc cấp cứu về

- Công ước của LHQ về sự biến đổi môi trường Ký ngày 26/8/1990

- Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm biển do tàu thuyền MARPOL Ký ngày29/8/1991

- Công ước về buôn bán quốc tế những loài động, thực vật hoang giã có nguy cơ bị

đe doạ 1973 (Công ước CITES) Ký ngày 20/1/1994

- Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô Zôn, 1987 Ký ngày 26/1/1994

+ Bản bổ sung Luân Đôn cho Công ước Luân Đôn, 1990

+ Bản bổ sung Copenhagen, 1992

- Công ước Viên về bảo vệ tầng Ô zôn, 1985 Ký ngày 26/4/1994

- Công ước của LHQ về Luật Biển, 1982 Ký ngày 25/7/1994

- Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu, 1992 Ký ngày 16/11/1994

- Công ước về Đa dạng sinh học (CBD), 1992 Ký ngày 16/11/1994

- Công ước Bazen về kiểm soát và vận chuyển qua biên giới chất thải nguy hại vàviệc loại bỏ chúng, 1989 Ký ngày 13/3/1995

- Công ước chống sa mạc hoá Ký kết 11/1998

- Tuyên ngôn quốc tế của Liên hợp quốc về sản xuất sạch hơn Ký ngày

Trang 8

phê duyệt và cho thực hiện những kế hoạch hoặc chương trình hành động có tínhquốc tế như:

* Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học của Việt Nam

* Chương trình quốc gia về biến đổi khí hậu

* Chương trình quốc gia nhằm loại trừ dần các chất làm suy giảm tầng Ô zôn

Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của tất cả mọi người Quản lý môi trường chính làphải giác ngộ, huy động và tổ chức tất cả mọi người thực hiện trách nhiệm đó, vì lợiích của bản thân mình, lợi ích của mọi người và lợi ích của các thế hệ tương lai Cũng chính vì vậy mà quản lý chất Nhà nước về bảo vệ môi trường không thể đơnđộc, chỉ dựa vào pháp luật và cưỡng chế mà cần có các hình thức quản lý xã hội phiNhà nước khác phải được phát huy và vận dụng

Trang 9

Chương 2: Khái quát về quản lý môi trường doanh

nghiệp

2.1 Định nghĩa về quản lý môi trường doanh nghiệp

Quản lý môi trường ở doanh nghiệp

"Quản lý môi trường ở doanh nghiệp" là phân tích toàn diện về vai trò của doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường Tài liệu này giới thiệu tình hình và những vấn

đề chung, sau đó xem xét một cách kỹ lưỡng và chi tiết tất cả những công cụ chủ chốt trong quản lý môi trường ở doanh nghiệp, bao gồm: các hệ thống quản lý môi trường và các tiêu chuẩn quản lý môi trường; các chính sách môi trường, những nguyên tắc chỉ đạo và các quy định; hệ thống kiểm tra môi trường; đánh giá chu kỳ biến đổi; đánh giá công tác môi trường và báo cáo môi trường Tài liệu này chú trọngđến quản lý môi trường có hệ thống và cũng xem xét sự phối hợp hành động giữa chính quyền địa phương với các công ty cỡ vừa và nhỏ Sau đó, sẽ mở rộng ra để bàn

về công tác quản lý môi trường liên tục, tiến đến xây dựng một hồ sơ môi trường củadoanh nghiệp và tiếp tục theo hướng phát triển bền vững

Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý môi trường

Theo một số tác giả, thuật ngữ về quản lý môi trường bao gồm hai nội dung chính:quản lý Nhà nước về môi trường và quản lý của các doanh nghiệp, khu vực dân cư vềmôi trường Trong đó, nội dung thứ hai có mục tiêu chủ yếu là tăng cường hiệu quảcủa hệ thống sản xuất (hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000) và bảo vệ sứckhỏe của người lao động, dân cư sống trong khu vực chịu ảnh hưởng của các hoạtđộng sản xuất

Phân tích một số định nghĩa, có thể thấy quản lý môi trường là tổng hợp các biệnpháp thích hợp, tác động và điều chỉnh các hoạt động của con người, với mục đíchchính là giữ hài hòa quan hệ giữa môi trường và phát triển, giữa nhu cầu của conngười và chất lượng môi trường, giữa hiện tại và khả năng chịu đựng của trái đất-“phát triển bền vững”

Như vậy, “Quản lý môi trường là một lĩnh vực quản lý xã hội, nhằm bảo vệmôi trường và các thành phần của môi trường, phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững

và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và xã hội” Quản lý môi trường được thựchiện bằng tổng hợp các biện pháp: luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, côngnghệ, xã hội, văn hóa, giáo dục Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tíchhợp với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra Việc quản lý môi trườngđược thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sảnxuất, hộ gia đình,

2.2 Mục tiêu quản lý môi trường

Mục tiêu của quản lý môi trường là PTBV, giữ cho được sự cân bằng giữaphát triển kinh tế xã hội và BVMT Nói cách khác, phát triển kinh tế xã hội tạo ratiềm lực kinh tế để BVMT, còn BVMT tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mớicho công cuộc phát triển kinh tế xã hội trong tương lai Tùy thuộc vào điều kiện tựnhiên, kinh tế xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng quốc gia,

Trang 10

mục tiêu quản lý môi trường có thể thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêngđối với mỗi quốc gia

Theo Chỉ thị 36 CT/TW của Bộ Chính trị, Ban chấp hành trung ương ĐảngCộng sản Việt Nam, một số mục tiêu cụ thể của công tác quản lý môi trường ViệtNam hiện nay là:

Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong cáchoạt động sống của con người Trong giai đoạn hiện nay, các biện pháp khắc phục vàphòng chống ô nhiễm chủ yếu là:

+ Thực hiện nghiêm chỉnh quy định của Luật Bảo vệ môi trường về báo cáo đánh giátác động môi trường trong việc xét duyệt cấp phép các quy hoạch, các dự án đầu tư.Nếu báo cáo đánh giá tác động môi trường không được chấp nhận thì không chophép thực hiện các quy hoạch, các dự án này

+ Đối với các cơ sở kinh doanh đang hoạt động, căn cứ vào kết quả đánh giá tácđộng môi trường, từ đó các bộ, các ngành, các tỉnh, các thành phố tổ chức phân loạicác cơ sở gây ô nhiễm và có kế hoạch xử lý phù hợp

+ Trong hoạt động sản xuất kinh doanh cần ưu tiên áp dụng các công nghệ sạch,công nghệ ít phế thải, tiêu hao ít nguyên liệu và năng lượng bằng cách trang bị, đầu

tư các thiết bị công nghệ mới, công nghệ tiên tiên, cải tiến và sản xuất các thiết bịtiêu hao ít năng lượng và nguyên vật liệu

+ Các khu đô thị, các khu công nghiệp cần phải sớm có và thực hiện tốt phương án

xử lý chất thải, ưu tiên xử lý chất thải độc hại, chất thải bệnh viện như: đốt rác thảibệnh viện ở nhiệt độ cao, xử lý nước thải bệnh viện

+ Thực hiện các kế hoạch quốc gia ứng cứu sự cố dầu tràn trên biển, kế hoạch khắcphục hậu quả chất độc hóa học dùng trong chiến tranh, quản lý các hóa chất độc hại

và chất thải nguy hại

- Hoàn chỉnh hệ thống văn bản luật pháp bảo vệ môi trường, ban hành các chính sách

về phát triển kinh tế xã hội phải gắn với bảo vệ môi trường, nghiêm chỉnh thi hànhluật bảo vệ môi trường

Để thực hiện mục tiêu trên cần quan tâm đến các biện pháp cụ thể:

+ Rà soát và ban hành đồng bộ các văn bản dưới luật, các quy định về luật pháp khácnhằm nâng cao hiệu lực của luật

+ Ban hành các chính sách về thuế, tín dụng nhằm khuyến khích việc áp dụng cáccông nghệ sạch

+ Thể chế hóa việc đóng góp chi phí bảo vệ môi trường: thuế môi trường, thuế tàinguyên, quỹ môi trường,…

+ Thể chế hóa việc phối hợp giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế với bảo vệ môitrường: trong các kê hoạch phát triển kinh tế xã hội phải có các chỉ tiêu, biện phápbảo vệ môi trường Tính toán hiệu quả kinh tế, so sánh các phương án phải tính toán

cả chi phí bảo vệ môi trường

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường từ Trung ương đến địaphương, công tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ về môi trường:

+ Nâng cấp cơ quan quản lý nhà nước về môi trường đủ sức thực hiện tốt các nhiệm

vụ chung của đất nước

+ Xây dựng mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia, vùng lãnh thổ và gắn chúngvới hệ thống các trạm quan trắc môi trường toàn cầu và khu vực Hệ thống này cóchức năng phản ánh trung thực chất lượng môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ

Trang 11

+ Xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu môi trường quốc gia, quy chế thu thập và traođổi thông tin môi trường quốc gia và quốc tế

+ Hình thành hệ thống cơ sở nghiên cứu và đào tạo cán bộ chuyên gia về khoa học vàcông nghệ môi trường đồng bộ, đáp ứng công tác bảo vệ môi trường của quốc gia vàtừng ngành

+ Kế hoạch hóa công tác bảo vệ môi trường từ trung ương đến địa phương, các bộ,các ngành

Thí dụ: kinh phí cho công tác bảo vệ môi trường trong ngân sách nhà nước, trong cácngành

- Phát triển đất nước theo các nguyên tắc phát triển bền vững được hội nghị Rio-92thông qua:

+ Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng

+ Cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người

+ Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất

+ Giữ vững trong khả năng chịu đựng của trái đất

+ Thay đổi thái độ, hành vi và xây dựng đạo đức mới vì sự phát triển bền vững + Tạo điều kiện để cho các cộng đồng tự quản lý lấy môi trường của mình

+ Tạo ra một cơ cấu quốc gia thống nhất thuận lợi cho việc phát triển bền vững + Xây dựng khối liên minh toàn thê giới về bảo vệ và phát triển

+ Hình thành và thực hiện đồng bộ các công cụ quản lý môi trường (luật pháp, kinh

tế, kỹ thuật công nghệ, các chính sách xã hội,…)

2.3 Các nguyên tắc chung về quản lý môi trường

Tiêu chí chung của công tác quản lý môi trường là đảm bảo quyền được sống trongmôi trường trong lành, phục vụ sự PTBV của đất nước, góp phần gìn giữ môi trườngchung của loài người trên trái đất Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môitrường bao gồm:

1 Hướng tới sự phát triển bền vững

Nguyên tắc này quyết định mục đích của việc quản lý môi trường Để giải quyếtnguyên tắc này, công tác quản lý môi trường phải tuân thủ những nguyên tắc củaviệc xây dựng một xã hội bền vững Nguyên tắc này cần được thể hiện trong quátrình xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, luật pháp và chính sách nhà nước,ngành và địa phương

2 Kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng dân cư trongviệc quản lý môi trường: Môi trường không có ranh giới không gian, do vậy sự ônhiễm hay suy thoái thành phần môi trường ở quốc gia, vùng lãnh thổ sẽ có ảnhhưởng trực tiếp tới quốc gia khác và các vùng lãnh thổ khác Để thực hiện đượcnguyên tắc này, các quốc gia cần tích cực tham gia và tuân thủ các công ước, hiệpđịnh quốc tế về môi trường, đồng thời với việc ban hành các văn bản quốc gia về luậtpháp, tiêu chuẩn, quy định Việc kết hợp các mục tiêu này được thực hiện thông qua

Trang 12

các quy định luật pháp, các chương trình hành động, các đề tài hợp tác quốc tế vàkhu vực

3 Quản lý môi trường xuất phát từ quan điểm tiếp cận hệ thống và cần được thựchiện bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và thích hợp

Các biện pháp và công cụ quản lý môi trường rất đa dạng: luật pháp, chiến lược, quyhoạch, kế hoạch, chính sách, khoa học, kinh tế, công nghệ, v.v Mỗi loại biện pháp

và công cụ trên có phạm vi và hiệu quả khác nhau trong từng trường hợp cụ thể Ví

dụ, để BVMT trong nền kinh tế thị trường, công cụ kinh tế có hiệu quả tốt hơn.Trong khi đó, trong nền kinh tế kế hoạch hóa thì công cụ luật pháp và chính sách cócác thế mạnh riêng Thành phần môi trường ở các khu vực cần bảo vệ thường rất đadạng, do vậy các biện pháp và công cụ BVMT cần đa dạng và thích hợp với từng đốitượng

4 Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc phải xử lýhồi phục môi trường nếu để xảy ra ô nhiễm

- Phòng ngừa là biện pháp ít tốn kém hơn xử lý, nếu để xảy ra ô nhiễm Ví dụ: phòngngừa bướu cổ bằng biện pháp sử dụng muối iốt ít tốn kém hơn giải pháp chữa bệnhbướu cổ khi nó xảy ra với dân cư

- Ngoài ra, khi chất ô nhiễm tràn ra môi trường, chúng có thể xâm nhập vào tất cả cácthành phần môi trường và lan truyền theo các chuỗi thức ăn và không gian xungquanh Để loại trừ các ảnh hưởng của chất ô nhiễm đối với con người và sinh vật,cần phải có nhiều công sức và tiền của hơn so với việc thực hiện các biện phápphòng tránh

5 Người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle - PPP)

Đây là nguyên tắc quản lý môi trường do các nước OECD đưa ra Nguyên tắc đượcdùng làm cơ sở xây dựng các quy định về thuế, phí, lệ phí môi trường và các quyđịnh xử phạt hành chính đối với các vi phạm về quản lý môi trường Dực trên nguyêntắc này, các nước đưa ra các loại thuế như thuế năng lượng, thuế cacbon, thuế SO2 Nguyên tắc trên cần thực hiện phối hợp với nguyên tắc người sử dụng trả tiền, vớinội dung là người nào sử dụng các thành phần môi trường thì phải trả tiền cho việc

sử dụng và các tác động tiêu cực đến môi trường do việc sử dụng đó gây ra Phí rácthải, phí nước thải và các loại phí khác là các ví dụ về nguyên tắc người sử dụng phảitrả tiền

2.4 Nội dung công tác quản lý môi trường

Nội dung công tác quản lý nhà nước về môi trường của Việt Nam được thể hiệntrong Điều 37, Luật Bảo vệ Môi trường, gồm các điểm:

• Ban hành và tổ chức việc thực hiện các văn bản pháp quy về bảo vệ môitrường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường

• Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường, kếhoạch phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự

cố môi trường

• Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, các công trình có liênquan đến bảo vệ môi trường

Trang 13

• Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạngmôi trường, dự báo diễn biến môi trường.

• Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các cơ

sở sản xuất kinh doanh

• Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường

• Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường,giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về bảo vệ môi trường, xử lý viphạm pháp luật về bảo vệ môi trường

• Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường

• Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực bảo vệmôi trường

• Thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

2 5 Công cụ quản lý môi trường

Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp hành động thực hiện công tácquản lý môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất Mỗi một công

cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại theo chức năng gồm: Công cụđiều chỉnh vĩ mô, công cụ hành động và công cụ hỗ trợ Công cụ điều chỉnh vĩ mô làluật pháp và chính sách Công cụ hành động là các công cụ có tác động trực tiếp tớihoạt động kinh tế - xã hội, như các quy định hành chính, quy định xử phạt v.v vàcông cụ kinh tế Công cụ hành động là vũ khí quan trọng nhất của các tổ chức môitrường trong công tác bảo vệ môi trường Thuộc về loại này có các công cụ kỹ thuậtnhư GIS, mô hình hoá, đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, quan trắc môitrường Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại theo bản chất thành các loại cơbản sau:

• Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốcgia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốcgia, các ngành kinh tế, các địa phương

• Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền củahoạt động sản xuất kinh doanh Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quảtrong nền kinh tế thị trường

• Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước

về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ônhiễm trong môi trường Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánhgiá môi trường, minitoring môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụngchất thải Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành côngtrong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào

Trang 14

Chương 3: Hệ thống quản lý môi trường cho doanh

nghiệp , tiêu chuẩn ISO 14000

3.1 Giới thiệu Hệ thống quản lý môi trường ISO 14000

Hệ thống quản lý môi trường là một cơ cấu quản lý về khía cạnh môi trường củacấu trúc quản lý tổng thể của một tổ chức (doanh nghiệp, công ty, xí nghiệp, cơ quan,đơn vị sản xuất,…), bao gồm các phương pháp tổ chức, các thủ tục, nguồn nhân lực,vật lực và những trách nhiệm … đủ khả năng thực thi môi trường trong suốt quátrình hoạt động của tổ chức, đánh giá tác động môi trường ngắn hạn và dài hạn củasản phẩm, dịch vụ và hoạt động của tổ chức mình

Hệ thống quản lý môi trường là thiết yếu, không thể thiếu được để tổ chức cókhả năng nhìn thấy trước sự tiến triển thực thi môi trường sẽ diễn ra và bảo đảm sựtuân thủ các yêu cầu quốc gia và quốc tế về bảo vệ môi trường Hệ thống quản lý môitrường thu được kết quả tốt khi mà công việc quản lý môi trường được tiến hànhcùng với các ưu tiên hàng đầu khác của tổ chức

Công nghiệp hóa nhanh và hiện đại đã đem lại cho người dân mức sống cao hơnnhưng mặt trái của nó là môi trường sống bị tàn phá, hủy hoại nghiêm trọng Số liệuthống kê của Cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm môi trường – Bộ Công an chothấy, tính đến giữa năm 2010, cả nước đã phát hiện 3.600 vụ vị phạm trong đó các vụ

xả nước không qua xử lý PGS.TS Nguyễn Đắc Hy – Viện trưởng Viện Sinh thái vàMôi trường cho rằng, trong câu chuyện làm ăn của doanh nghiệp Việt Nam, dù làdoanh nghiệp lớn hay nhỏ cũng có một “tá” các lợi ích đi kèm, tuy nhiên một trongnhững lợi ích có thể giúp doanh nghiệp phát triển bền vững và thực hiện bảo vệ môitrường thị lại không được nhiều doanh nghiệp mặn mà, thậm chí là né tránh”

Có nhiều ý kiến cho rằng bảo vệ môi trường là một hoạt động đầu tư tốn kém, để cólợi nhuận và lợi thế cạnh tranh về giá cả, doanh nghiệp phải “hoãn” vấn đề môitrường sang một bên Tuy nhiên, nếu có cách tiếp cận đúng và lựa chọn được phươngpháp hiệu quả, với một nguồn đầu tư thích hợp doanh nghiệp vẫn có thể đáp ứng tốtyêu cầu về bảo vệ môi trường

Tuy bảo vệ môi trường là một vấn đề còn mới, nhưng tỷ lệ thuận với tốc độ xuốngcấp của môi trường, các văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề này đã từng bướcđược hoàn chỉnh, thể chế hoá vào hầu hết các ngành luật

Hệ thống pháp luật quy định về bảo vệ môi trường ở nước ta từ năm 1993 đến nay đãđiều chỉnh tương đối đầy đủ các yếu tố tạo thành môi trường Các văn bản quy phạmpháp luật về bảo vệ môi trường đã quy định từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của

cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, quyền và nghĩa vụ cơ bản của mỗi

tổ chức, cá nhân trong khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường

Hệ thống tiêu chuẩn về môi trường cũng đã được ban hành, làm cơ sở pháp lý choviệc xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ thể trong việc bảo vệ môi trường Cácquy định pháp luật đã chú trọng tới khía cạnh toàn cầu của vấn đề môi trường

Trang 15

Thời gian vừa qua, một loạt hoạt động gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng của các

tổ chức, doanh nghiệp đã bị người dân, báo chí, các cơ quan chức năng phát hiện,thậm chí có doanh nghiệp đã phải tạm thời đóng cửa

Vấn đề môi trường đã và đang nhận được sự quan tâm đặc biệt lớn từ phía cơ quanquản lý và cộng đồng Đó sẽ là "biển cấm" đối với các doanh nghiệp thể hiện tráchnhiệm yếu trước vấn đề này

Hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14001:2004 là một công cụ hữu hiệu giúpdoanh nghiệp nâng cao năng lực kiểm soát đầu vào và quá trình sản xuất để giảmthiểu chất thải, chủ động phòng ngừa ô nhiễm môi trường thay vì đối phó thụ độngthực hiện các yêu cầu pháp lý Áp dụng ISO 14001 không chỉ nâng cao hình ảnhdoanh nghiệp trong con mắt khách hàng và người tiêu dùng mà còn giúp doanhnghiệp vượt qua những rào cản kỹ thuật khi thâm nhập vào thị trường nước ngoài Tuy nhiên, so với số lượng khoảng 6.000 doanh nghiệp đã được chứng nhận về hệthống quản lý chất lượng ISO 9001 thì số lượng các doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn

về quản lý môi trường còn rất nhỏ Điều này cho thấy tại Việt Nam, các doanhnghiệp/tổ chức vẫn chưa quan tâm đúng mức tới vấn đề môi trường và bảo vệ môitrường Có thể liệt kê ra đây một số khó khăn trong việc áp dụng ISO 14001:

Mặc dù có sự quan tâm trong công tác bảo vệ môi trường nhưng cho tới nay, Nhànước chưa có chính sách cụ thể và nhất quán để hỗ trợ/ ưu đãi các doanh nghiệptrong nước áp dụng hệ thống QLMT theo tiêu chuẩn ISO 14001 mà chủ yếu do áplực từ phía khách hàng Ngược lại mong thu hút đầu tư, nhà nước lại lới lỏng quản lýmôi trường với các doanh nghiệp FDI nước ngoài, đặc biệt là công tác thực thi yêucầu pháp luật trong bảo vệ môi trường còn thiếu hiệu quả, dẫn tới nản lòng và thiệtthòi cho những tổ chức quan tâm và đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường

Doanh nghiệp nước ngoài áp dụng ISO 14001 nhiều hơn là do đáp ứng yêu cầu củakhách hàng và chuỗi cung ứng và văn hóa tập đoàn và cũng không xuất phát từ ýthức đầu tư để bảo vệ môi trường nước sở tại Do đó việc áp dụng ISO 14000 nhiềukhi còn mang tính hình thức và đối phó VD, Vedan “giết” sông Thị Vải do xả nướcchưa qua xử lý nhưng thực tế Vedan vẫn có chứng chỉ ISO 14001

Khoản đầu tư cải thiện cơ sở vật chất lớn cũng là một trở ngại thúc đẩy doanh nghiệp

áp dụng ISO 14001 Muốn thực hiện ISO 14001, cần có những điều kiện tối thiểu: cơ

sở hạ tầng đáp ứng các yêu cầu để đảm bảo công tác quan trắc môi trường đạt yêucầu Cân đối với lợi nhuận ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay thì khoản đầu tưnày là một thách thức không nhỏ, do đó xuất hiện tình trạng nếu không thật sự cầnthiết (không có yêu cầu của khách hàng, để ký kết hợp đồng…) thì có doanh nghiệptrong nước không áp dụng ISO 14001 để tránh những khoản đầu tư nhất định

Ngoài ra, không kể đến chi phí cho việc vận hành của các hệ thống xử lý nước thải,khí thải và bồi dưỡng nguồn nhân lực cũng gân không ít tốn kém cho doanh nghiệptrong quá trình duy trì Đây cũng là nguyên nhân khiến một số doanh nghiệp mặc dù

có hệ thống xử lý nước thải, khí thải nhưng không vận hành thường xuyên mà chỉvận hành khi có đợt kiểm tra của cơ quan chức năng Tung Twang (Hải Dương) làmột VD điển hình

Trang 16

Một trong những yếu điểm dễ thấy của doanh nghiệp Việt Nam là vấn đề hoạch đinh,định hướng, việc định hướng pháp triển chung của doanh nghiệp còn yếu kém thìviệc định hướng cho hoạt động bảo vệ môi trường còn mờ nhạt hơn nữa.

Việc xây dựng chính sách môi trường đến nay vẫn rất hình thức và chung chung, đôikhi sử dụng luôn ý tưởng của chuyên gia tư vấn khiến cho chính sách môi trườngkhông nhất quán với chính sách phát triển dài hạn của doanh nghiệp Có nhiều tổchức áp dụng ISO 14001 nhưng cán bộ và công nhân không hiểu thậm chí không biếtđến chính sách môi trường thì không thể phát huy được sự tham gia của mọi ngườitrong công ty trong công tác bảo vệ môi trường

Khi lựa chọn và đưa ra các mục tiêu môi trường liên quan tới yếu tố môi trường quantrọng, tổ chức phải có trách nhiệm đảm bảo các mục tiêu này sẽ được thực hiện, qua

đó giảm thiểu tác động và hoạt động quản lý môi trường của tổ chức sẽ dần đượchoàn thiện

Tương tự như với chính sách môi trường, xác định mục tiêu một cách phù hợp, hiệuquả, vừa gắn kết với mục tiêu phát triển chung vừa nhất quán với chính sách môitrường lại là vấn đề nhiều tổ chức còn yếu

VD: được sự hướng dẫn của chuyên gia tư vấn, sau một năm, doanh nghiệp đã đạtđược mục tiêu môi trường đề ra năm đầu tiên, nhưng năm tiếp theo tư vấn đã rút đi,doanh nghiệp lại loay hoay không biết lựa chọn mục tiêu môi trường nào, hoặc lựachọn mục tiêu môi trường không khả thi (khó thực hiện hoặc tốn nguồn lực) hoặckhông nhất quán với chính sách môi trường đề ra

Lời khuyên cho những doanh nghiệp tránh khỏi tình trạng này là hãy tìm hiểu kỹ trước khi lựa chọn đối tác tư vấn, đặc biệt là những cam kết và phương pháp tiếp cận thực hiện dự án tư vấn để đảm bảo sao cho sau khi chuyên gia tư vấn đã rút đi, doanh nghiệp và các nhân sự chủ chốt có đủ năng lực để tự duy trì phát triển được

hệ thống QLMT đã được xây dựng.

Đánh giá nội bộ là một hoạt động quan trọng, cần được triển khai định kỳ nhằm xácđịnh hiệu lực cũng như tìm ra các cơ hội để cải tiến hiệu quả của hệ thống Quản lý.Tuy quan trọng như vậy nhưng hiện nay, hoạt động đánh giá nội bộ cũng là yếu điểmcủa các doanh nghiệp Một số nguyên nhân thường gặp:

 Sự quan tâm của lãnh đạo chưa thực sự đầy đủ và sâu sát,

 Không được hoặc không biết cách xây dựng chương trình đánh giá nội bộhiệu quả,

 Năng lực của đánh giá viên nội bộ không đáp ứng,

 Tâm lý cả nể trong quá trình đánh giá và lập báo cáo đánh giá,

 Đánh giá nội bộ mang tính hình thức, lấy lệ để có hồ sơ,

Trang 17

kế hoạch cụ thể cho việc huấn luyện đánh giá viên nội bộ một cách cụ thể và khả thi trong việc tích lũy kiến thức cũng như kinh nghiệm đánh giá.

Tóm lại, mặc dù việc áp dụng ISO 14001 ở các doanh nghiệp hiện nay chưa thực sựtương ứng với các vấn đề môi trường diễn biến ngày càng phức tạp, tuy nhiên vớinhững chính sách hỗ trợ của một số địa phương trong thời gian gần là cơ hội tốt chocác doanh nghiệp thực sự mong muốn áp dụng ISO 14001 một cách hiện quả để gópphần mang lại màu xanh cho thế giới

Một số chính sách của Nhà nước liên quan đến việc áp dụng ISO 14001:

Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt "Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng" (Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg)

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 về việc phê duyệt chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia năm 2010 và định hướng đến năm 2020

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ 26/2007/CT-TTg ngày 26/11/2007 về việc theo dõi, giám sát và đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về tài nguyên- môi trường và phát triển bền vững

UBND Thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3746/QĐ – UBND Quy định hỗ trợ doanh nghiệp, bệnh viện, cơ sở sản xuất trên địa bàn Thành phố

Hà Nội áp dụng hệ thống quản lý môi trường (HTQLMT) theo tiêu chuẩn ISO

14000 nhằm thúc đẩy việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 14000

Quảng Ninh và Hải Phòng là hai địa phương có mức hỗ trợ tương đối cao cho các doanh nghiệp trên địa bàn áp dụng ISO 14000.

3.2 Hệ thống quản lý môi trường ISO 14000

Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môitrường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quannhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường Mộtkhi chuẩn mực hoặc giới hạn các tác nhân gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn thì ở đó

có thể xem là bị ô nhiễm mặc dù chưa có bằng chứng về tác hại của các chất gây ônhiễm Tiêu chuẩn môi trường được quy định cụ thể cho từng vùng và không giốngnhau ở mọi nơi, mọi mục đích sử dụng Tiêu chuẩn môi trường xác định các mục tiêumôi trường và đặt ra các giới hạn số lượng hay nồng độ cho phép của các chất đượcthải vào khí quyển, nước, đất hay được phép tồn tại trong các sản phẩm tiêu dùng ISO 14000 là bộ tiêu chuẩn quốc tế về quản lý môi trường , có cấu trúc tương tựnhư bộ tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng ISO900, ISO 14001 có thể được ápdụng trong mọi loại hình doanh nghiệp, tổ chức, bất kể với qui mô nào Có gần 20tiêu chuẩn được công bố chính thức dưới dạng bản thảo trong nhóm tiêu chuẩn ISO14000

Ví dụ: ISO 14001: Hệ thống quản lý môi trường - Mô tả, hướng dẫn sử dụng

Ngày đăng: 04/08/2015, 11:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w