1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai tại Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia

59 306 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 526,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuthế này không loại trừ bất kỳ quốc gia nào và tất cả đều đang quan tâm đếnviệc dùng thông tin tri thức nói chung, thông tin khoa học và công nghệmới nói riêng để tạo thế cạnh tranh tươ

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Hiện nay cuộc cách mạng công nghệ thông tin đang diễn ra sôi động,tác động sâu sắc và trực tiếp đến mọi mặt hoạt động kinh tế xã hội, làmthay đổi một cách căn bản tư duy, lối sống, phương thức làm việc và giải trítrong mọi lĩnh vực cuộc sống của hầu khắp quốc gia trên thế giới, mở ramột thời kỳ phát triển mới của nhân loại đang bước vào thế kỉ 21 Sự pháttriển từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp, tiến lênnền văn minh thông tin và trí tuệ, mà sự phát triển của nó là sự phát triển từnền kinh tế công nghiệp truyền thống sang nền kinh tế thông tin Đó là sựhình thành của nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức (KnowledgeEconomy), mà đôi khi người ta còn gọi là nền kinh tế dựa trên tri thức(Knowledge Based Economy) hay nền kinh tế số hoá (Digital Economy),nền kinh tế thông tin (Information Economy) hoặc là nền kinh tế học hỏi(Learning Economy) Tuy có nhiều tên gọi khác nhau nhưng đều nhằmdiễn đạt một nội dung cơ bản: ngày nay sản xuất và truyền tải thông tin - trithức trở nên quan trọng hơn nhiều so với sản xuất và phân phối hàng hoácông nghiệp Từ nền kinh tế vật thể sang nền kinh tế phi vật thể thì tỷ lệ laođộng trí óc trong mỗi sản phẩm làm ra ngày càng cao Trong cơ cấu GDP,giá trị gia tăng, lao động và tư bản, hơn 70% sẽ do các lĩnh vực hoạt độngcủa con người có hàm lượng trí tuệ cao quyết định Khác với nền kinh tếcông nghiệp, ở đó hàng hoá vật thể được sản xuất hàng loạt là chủ yếu, củacải vật chất là sở hữu của một số Ýt người và nhu cầu của mỗi cá nhân là

có giới hạn: trong nền kinh tế tri thức, sản phẩm thông tin tri thức đóng vaitrò quan trọng nhất Chúng là sở hữu của rất nhiều người và nhu cầu củamỗi cá nhân sẽ là vô hạn Ngược lại với của cải vật chất, càng nhiều ngườidùng thì giá trị càng thấp, trong khi giá trị của thông tin - tri thức càng caokhi càng có nhiều người sử dụng

Trang 2

Việc hình thành nên những xã hội thông tin đang có chiều hướng lanrộng ngày càng mạnh mẽ và mang tính quốc tế Xu thế đó là xu thế "toàncầu hoá" nhanh chóng hiện nay đã tạo ra những cơ hội to lớn và đồng thờicũng tạo ra những thách thức to lớn cho các nước đang phát triển, đang tìmđường công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế và xã hội của mình Xuthế này không loại trừ bất kỳ quốc gia nào và tất cả đều đang quan tâm đếnviệc dùng thông tin tri thức nói chung, thông tin khoa học và công nghệmới nói riêng để tạo thế cạnh tranh tương đối của họ hoặc cũng là để khẳngđịnh chỗ đứng của họ trong một thị trường toàn cầu đa dạng và năng động.Việt Nam cũng là một trong những nước không nằm ngoài xu hướng đó.Với Nghị quyết 49/CP được ban hành vào năm 1993, Chính phủ đãkhẳng định quyết tâm "phổ cập văn hoá thông tin" trong xã hội nhằm tạomôi trường thuận lợi cho việc chuẩn bị hướng tới một "xã hội thông tin".Gần đây nhất, Nghị quyết lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng(Khoá VIII) đã khẳng định hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ cập kiếnthức khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá.Đây là một cơ hội, nhưng đồng thời cũng là một thách thức lớn đối với hoạtđộng thông tin của Việt Nam.

Tuy nhiên hiện nay việc áp dụng hệ thống thông tin mới trong việcphục vụ nghiên cứu và triển khai của mỗi cơ quan là khác nhau, tuỳ thuộcvào nguồn tin, đối tượng người dùng tin, khả năng tài chính, khả năng nhânlực Sự khác nhau này có thể phân biệt căn cứ vào mức độ tự động hoácác công đoạn của quy trình hoạt động thông tin tư liệu, tập trung ở côngđoạn lưu trữ và hoạt động phục vụ nghiên cứu và triển khai Có rất nhiềubiện pháp tăng cường công tác thông tin khoa học và kỹ thuật Việt Namnhư là củng cố và xây dựng mạng lưới các cơ quan thông tin tư liệu của cácTrung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ lớn Trong mạng lưới thôngtin này Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia (Sau đây gọitắt là Trung tâm KHTN & CNQG) là một trong những cơ quan thông tin

Trang 3

quan trọng, phục vụ đắc lực cho hoạt động nghiên cứu khoa học và triểnkhai công nghệ Những thành tựu mà các cán bộ khoa học của trung tâmKHTN & CNQG đạt được trong năm qua là không nhỏ tuy nhiên, trong xuthế phát triển mới của thời đại, Trung tâm KHTN & CNQG vẫn còn một sốtồn tại nhất định Xu hướng phát triển đương đại đòi hỏi các cơ quan thôngtin phải nắm bắt nhanh chóng và làm chủ những thành tựu mà cách mạngthông tin mang lại - đặc biệt là thông tin khoa học và công nghệ, trong đó

có hoạt động thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai Chỉ có như vậy,hiệu quả phát triển kinh tế xã hội mới được đảm bảo và đẩy nhanh tiến độhoà nhập của Việt Nam với cộng đồng các nước trong khu vực và trên thếgiới Để đáp ứng tốt yêu cầu đó, hoạt động của Trung tâm KHTN & CNQGcần được nghiên cứu và đổi mới và hoàn thiện Việc hoạt động phục vụnghiên cứu và triển khai và từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm tăngcường đổi mới hoạt động của Trung tâm KHTN & CNQG một cách toàndiện, đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn phục vụ sự nghiệp công nghiệphoá hiện đại hoá của đất nước

Là mét sinh viên chuyên ngành Thông tin học và Quản trị Thông tin,với sự say mê, ham học hỏi, tìm tòi những vấn đề mới mẻ của ngành nên

em đã mạnh dạn nhận đề tài khoá luận " Đổi mới Hệ thống Thông tin phục

vụ nghiên cứu và triển khai tại Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Côngnghệ Quốc gia" Với mong muốn vận dụng những kiến thức và kỹ năngtiếp thu được trong học tập vào việc tìm hiểu thực tế hoạt động của một cơquan nhằm củng cố và hoàn thiện những kiến thức đã học để có thể pháthuy chúng một cách có hiệu quả nhất trong công tác sau này

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về hoạt động Thông tin phục vụnghiên cứu và triển khai tại Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệQuốc gia

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.

Trang 4

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.

Luận văn dựa trên những căn cứ lý luận khoa học của chủ nghĩa duyvật biện chứng và duy vật lịch sử, những chủ trương của Đảng và Nhànước về phát triển Thông tin để khảo sát, điều tra và nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phân tích hệthống, tổng hợp tài liệu, điều tra, khảo sát bằng phiếu thăm dò, thống kê sácxuất, phỏng vấn, so sánh và đánh giá

5 ý nghĩa của luận văn.

6 Bố cục của luận văn.

Luận văn được kết cấu gồm: Lời nói đầu, 3 chương nội dung, kết luận,danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục

Chương I:Tổng quan về hoạt động thông tin phục vụ nghiên cứu và triển

khai tại trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia

1.1 Hoạt động nghiên cứu và triển khai tại trung tâm KHTN & CNQG.1.2 Vai trò của hệ thống thông tin khoa học trong việc phục vụ hoạt độngnghiên cứu và triển khai cuả trung tâm KHTN & CNQG

1.3 Đặc điểm người dùng tin của Trung tâm KHTN & CNQG

Trang 5

1.4 Sự cần thiết phải đổi mới hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu vàtriển khai tại Trung tâm KHTN & CNQG.

Chương II: Hiện trạng hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu triển khai tại

Trung tâm KHTN & CNQG

2.1 Hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu triển khai của Trungtâm KHTN & CNQG

2.2 Hoạt động thông tin phục vụ nghiên cứu triển khai củaTrung tâm KHTN & CNQG

Chương III: Những giải pháp nhằm đổi mới hệ thống thông tin phục vụnghiên cứu và triển khai tại trung tâm KHTN & CNQG

3.1 Nhận xét và đánh giá về hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu triểnkhai của Trung tâm KHTN & CNQG

3.2 Những giải pháp nhằm đổi mới

3.2.1 Đổi mới cơ chế quản lý

3.2.2 Tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ

3.2.3 Tăng cường nguồn lực thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai.3.2.4 Đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ thông tin nghiên cứu và triển khai.3.2.5 Tạo nguồn đầu tư tài chính

3.2.6 Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế vÒ thông tin

3.2.7 Giải pháp nhằm hoàn thiện về công nghệ thông tin trong hoạt độngphục vụ nghiên cứu và triển khai

Trang 6

CHƯƠNG I

Tổng quan về hoạt động thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai tại

trung tâm KHTN & CNQG

1.1 HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TẠI TRUNG

TÂM KHTN & CNQG

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển.

Trong bối cảnh của cuộc cách mạng KH & CN đương đại, các nướcđang phát triển nếu tạo lập được những chiến lược đúng đắn, những chínhsách khôn ngoan thì sẽ có nhiều cơ hội "đi tắt", "hội nhập" Ngược lại, nếukhông nhanh chóng xây dựng được cơ sở hạ tầng về công nghiệp đủ mạnh,không có năng lực nội sinh vững vàng về KH & CN để có thể đối phó đượcvới những thách thức của "một thế giới cạnh tranh quyết liệt" thì mục tiêu

"bắt kịp" sẽ khó trở thành hiện thực Trong công cuộc cạnh tranh ráo riếthiện nay khi tiến vào thế kỷ XXI, KH & CN được sử dụng như một nguồnsinh lực cơ bản nhất, nhằm tạo ra một năng lực cạnh tranh của mỗi quốcgia, tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm Đây là cơ hội, đồngthời cũng là thách thức đối với nền KH & CN Nước ta

Hầu hết các quốc gia phát triển và nhiều quốc gia đang phát triểnđều có Viện hàn lâm Khoa học, Trung tâm Khoa học Quốc gia Một sốViện hàn lâm Khoa học đã có lịch sử thành lập trên 100 năm và là niềm

tự hào của dân tộc họ Song cùng với các quốc gia đó thì ở Việt Nam, từđầu thập kỷ 60 Đảng và Chính phủ đã có chủ trương xây dựng một trungtâm Khoa học quốc gia với sự giúp đỡ của Liên Xô Viện nghiên cứuKHTN (Tiếng Nga viết tắt là Nhiki) đã được xây dựng trên diện tích 8,5

ha ở Nghĩa Đô Năm 1975, với nghị định 118/CP của Chính phủ, ViệnKhoa học Việt Nam đã được thành lập trên cơ sở Viện Nhiki Viện cónhiệm vụ nghiên cứu hầu hết các lĩnh vực khoa học tự nhiên để phục vụ

Trang 7

nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước Lúc này Viện Khoa học ViệtNam là cơ quan khoa học lớn nhất của cả nước, phát triển theo hướngxây dựng thành Viện hàn lâm khoa học Việt Nam như Nghị quyết 37 của

Bộ chính trị Cùng với tiến trình đi lên của đất nước, Viện KHVN đã đẩymạnh và mở rộng các hướng nghiên cứu mới Nhiều Viện chuyên ngành,nhiều trung tâm, phòng nghiên cứu, phòng thí nghiệm đã dược thành lập.Lực lượng cán bộ có lúc lên tới 2.800 người thuộc biên chế hành chính

sự nghiệp và hơn 300 người thuộc diện hợp đồng dài hạn Số lượng cácđơn vị nghiên cứu và triển khai tới năm 1960 là 60 đơn vị cùng với 40đài, trạm, trại, bảo tàng mẫu vật (thuộc các lĩnh vực vật lý địa cầu, địa

lý, hải dương học, sinh thái tài nguyên ) được bố trí từ vùng núi đếnvùng ven biÓn, hải đảo và các trung tâm kinh tế ở 3 miền Bắc, Trung,Nam Viện KHVN đã thiết lập được quan hệ hợp tác KHKT với nhiềuviện Hàn lâm khoa học, nhiều trung tâm Khoa học Quốc gia Cán bộ củaviện KHVN hầu hết có trình độ đại học trở lên, đa số được đào tạo rất cơbản ở nhiều nước có trình độ khoa học tiên tiến Viện KHVN thực sự làmột Trung tâm khoa học lớn nhất của cả nước bao gồm nhiều việnnghiên cứu chuyên ngành thuộc hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoahọc tự nhiên Đây là thế mạnh giúp viện KHVN có thể tập trung lựclượng nghiên cứu, đánh giá tổng hợp việc sử dụng tài nguyên thiên nhiêncủa đất nước [phụ lục 1]

Để có thể đáp ứng những đòi hỏi mới của thực tế khách quan trên, phùhợp với cơ chế quản lý mới của nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa Viện KHVN được tổ chức lại thành Trung tâm Khoa học Tựnhiên và Công nghệ Quốc gia theo Nghị định 24/CP ngày 22/05/1993 củaChính phủ Đây là tổ chức khoa học và công nghệ lớn nhất của đất nước vềlĩnh vực nghiên cứu khoa học tự nhiên và triển khai công nghệ

Trang 8

Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia (sau đây viếttắt là Trung tâm KHTN & CNQG) là cơ quan trực thuộc chính phủ, hoạtđộng theo qui chế được thủ tướng chính phủ phê duyệt.

Trung tâm có chức năng tổ chức và thực hiện các hoạt đông nghiêncứu về khoa học tự nhiên và công nghệ theo các hướng trọng điểm của Nhànước, nhằm tạo ra và triển khai các công nghệ tiên tiến có ý nghĩa quantrọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế và xã hội của nước ta Trung tâmKHTN & CNQG có nhiệm vụ và quyền hạn (trích Nghị định 24/CP ngày22/5/1993): [24]

1 Tổ chức các hoạt đông nghiên cứu về khoa học tự nhiên và công nghệtheo hướng trọng điểm của Nhà nước, triển khai, ứng dụng các kết quảnghiên cứu và các công nghệ mới vào sản xuất và đời sống xã hội

a) Nghiên cứu những vấn đề khoa học cơ bản hiện đại làm cơ sở cho việcphát triển các hướng công nghệ mới

b) Nghiên cứu tổng hợp về các nguồn tài nguyên thiên nhiên và điều kiện

tự nhiên của đất nước để xây dựng cơ sở khoa học cho việc lập quihoạch, kế hoạch cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và củatừng vùng lãnh thổ

c) Nghiên cứu tạo ra những công nghệ mới, sản phẩm mới nhằm nâng caotrình độ công nghệ của những ngành sản xuất quan trọng của đất nước.d) Tham gia với các ngành, các địa phương trong việc chuyển giao côngnghệ, thẩm định các trình độ công nghệ, xét duyệt luận chứng kinh tế -

kỹ thuật các công trình lớn, quan trọng của Nhà nước và địa phương

2 Xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho hoạt động nghiên cứukhoa học và triển khai công nghệ của Trung tâm

3 Tham gia đào tạo cán bộ KH & CN, nhất là cán bộ có trình độ cao

4 Tham gia việc hoạch định chính sách phát triển KH & CN của đất nước

5 Thực hiện hợp tác về KH & CN với nước ngoài theo các qui định hiệnhành của Nhà nước

Trang 9

6 Quản lý tổ chức, biên chế, tài sản, kinh phí của Trung tâm theo các quyđịnh hiện hành của Nhà nước.

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm KHTN & CNQG được trình bày trong Phụ lục 2.

 Khối A gồm 17 viện nghiên cứu chuyên ngành với 252 phòng thínghiệm, 9 phân viện độc lập, một hệ thống trên 50 đài, trạm quan trắc,trại thí nghiệm và 6 bảo tàng tự nhiên

 Khối B gồm 7 đơn vị chức năng Đây là các cơ quan quản lý Nhà nước

và giúp việc cho giám đốc trung tâm KHTN & CNQG

 Khối C gồm 15 doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo quy định338-HĐBT ngày 20/11/1991 và một số doanh nghiệp của các bộ đượcthành lập theo thoả thuận giữa lãnh đạo Trung tâm KHTN&CNQG vớicác bộ liên đới

Trung tâm KHTN & CNQG hiện có đội ngũ cán bộ và công chức là

2400 người trong đó có 538 Tiến sỹ, 108 Tiến sỹ khoa học, 60 Giáo sư, 162Phó Giáo sư và trên 1200 cán bộ có trình độ Đại học và cao đẳng Số cán

bộ có trình độ đại học trở lên trực tiếp làm nghiên cứu khoa học và triểnkhai tại viện nghiên cứu chuyên ngành là 1995 người chiếm tỉ lệ 84,4%.Nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học công nghệ là nhiệm vụchính của Trung tâm KHTN & CNQG Do sớm nắm bắt những mục tiêunhiệm vụ mới trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá đÊt nước,Trung tâm KHTN & CNQG đã thực hiện thành công nhiều chương trìnhnghiên cứu, chương trình ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuậtvà côngnghệ vào thực tiễn Chỉ tính riêng trong 5 năm (1995 - 2000) các đơn vịnghiên cứu của Trung tâm KHTN & CNQG đã tham gia 37 đề tài cấp Nhànước, 29 đề án điều tra cơ bản, 152 đề tài nghiên cứu cơ bản và 5 nhiệm vụtrong chương trình Biển Đông - Hải Đảo, 110 kết quả nghiên cứu khoahọc- công nghệ đã được sử dụng trong thực tế Ngoài ra, còn có hàng nghìnkết quả được công bố trong các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước,

Trang 10

trong các hội nghị, hội thảo toàn quốc và quốc tế Ngoài những hướngnghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và công nghệ nói chung hiện naytrung tâm KHTN & CNQG đang tập trung vào 8 hướng nghiên cứu khoahọc - công nghệ ưu tiên có tầm cỡ chiến lược quốc gia:

 Công nghệ thông tin

 Công nghệ sinh học

 Khoa học vật liệu

 Sinh thái và môi trường

 Tài nguyên sinh học và các hợp chất thiên nhiên

 Biển và công trình biển

 Kỹ thuật điện tử, thiết bị khoa học và tự động hoá

 Dự báo, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai

Tám hướng nghiên cứu khoa học và công nghệ ưu tiên nói trên là cơ

sở cho việc lựa chọn hàng trăm các đề tài và nhiệm vụ cấp trung tâm củaTrung tâm KHTN & CNQG Thêm vào đó nó còn giúp cho việc phân loạicác đề tài dự án của trung tâm, từ đó xác định rõ hơn mục tiêu và yêu cầuđối với kết quả và sản phẩm của đề tài thuộc từng loại, và làm cơ sở choviệc bố trí cơ cấu đầu tư cho các loại trong tổng kinh phí nghiên cứu vàphát triển của trung tâm Đáp ứng được yêu cầu đề tài của cấp trung tâm làphải có quy mô tương đối lớn về mặt nội dung, lực lượng cán bộ tham gia,phương tiện tài chính và thiết bị cần để thực hiện Ngoài công tác nghiêncứu khoa học, thực hiện chủ trương gần nghiên cứu với đào tạo, các việncủa Trung tâm KHTN & CNQG đều đăng ký đào tạo sau đại học Các cơ

sở đào tạo của Trung tâm KHTN & CNQG đã đào tạo hàng trăm Thạc sỹ,Tiến sỹ và Tiến sỹ khoa học cho các cơ sở nghiên cứu và các trường đạihọc Nhiều cán bộ đã tham gia giảng dạy giáo trình hay hướng dẫn nghiêncứu sinh tại các trường đại học Chủ trương đó cũng xuất phát từ tư tưởng

cơ bản trong đường lối chiến lược về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công

Trang 11

chức nhà nước trong thời kỳ mới - thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước của Đảng ta.

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của trung tâm KHTN & CNQG.

Nắm bắt được tầm quan trọng của thông tin KH&CN trong sự nghiệpnghiên cứu khoa học nên ngay sau khi vừa ra đời (1975) Ban lãnh đạo ViệnKHVN đã ra quyết định thành lập phòng thông tin tư liệu nằm trong khốichức năng của Viện vào năm 1976

Năm 1982, căn cứ vào yêu cầu phát triển trong lĩnh vực hoạt độngthông tin khoa học và kỹ thuật của Viện KHVN, Trung tâm Thông tinKhoa học được thành lập trên cơ sở phòng thông tin tư liệu Trung tâmTTKH là cơ quan thông tin khoa học đầu ngành của viện KHVN có chứcnăng làm TTKH phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và quản lý nghiêncứu khoa học của viện, giúp Ban lãnh đạo Viện KHVN quản lý mạng lướithông tin khoa học của Viện Thời kỳ này Trung tâm TTKH chỉ có hai bộphận chính: Phòng thông tin, Phòng thư viện - lưu trữ và một tổ Hànhchính tổ chức Trung tâm TTKH có các nhiệm vụ sau:

1 Thu thập, xử lý, phân tích tổng hợp, lưu trữ các loại hình tin, tài liệu, tưliệu KHKT…có liên quan với công tác nghiên cứu khoa học của Viện

2 Thông báo và cung cấp thường kỳ hoặc theo chuyên đề cho các đơn vịnghiên cứu, chương trình TTKH có liên quan với yêu cầu tin mới nhất

và chính xác nhất

3 Tạo điều kiện và giúp đỡ để cán bộ tra cứu có thể tra cứu những tài liệu,

tư liệu, tin KH…một cách thuận tiện và nhanh chóng

4 Tổ chức các hoạt động và quản lý công tác thư viện

5 Xây dựng và phát triển cơ sở in của Viện KHVN

6 Hợp tác trao đổi TTKH & KT với các cơ quan thông tin KHKT ở trong

và ngoài nước góp phần tăng cường tiềm lực công tác TTKH của Viện

7 Tiến hành cải tiến nghiệp vụ về công tác TTKH ngày càng tiến bộ vàtham gia đào tạo cán bộ TTKH

Trang 12

8 Quản lý mạng lưới TTKH của Viện.

Để phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và hướng phát triển của Trung tâmKHTN & CNQG trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,tháng 7/ 1993 Giám đốc trung tâm KHTN & CNQG có quyết định chuyểnTrung tâm TTKH trực thuộc Viện KHVN thành trung tâm TTTL trực thuộcTrung tâm KHTN &CNQG Trung tâm KHTN & CNQG là một trongnhững đầu mối trong Mạng thông tin quốc gia, Trung tâm TTTL có nhữngchức năng và nhiệm vụ chính sau đây{38.1}

1 Giúp lãnh đạo trung tâm KHTN & CNQG thống nhất quản lý mạng lướithông tin và tư liệu KH&CN ở mọi dạng thuộc Trung tâm KHTN &CNQG: thu thập, lưu trữ, xử lý và phổ biến

2 Phục vụ tài liệu KH&CN ở dạng sách, tạp chí, tập san và các vật mangtin khác cho các nhà khoa học của Trung tâm KHTN & CNQG

3 Cung cấp các thông tin mới về thành tựu KH & CN cho lãnh đạo, cán

bộ khoa học thuộc Trung tâm KHTN & CNQG

4 Thực hiện các đề tài nghiên cứu về nghiệp vụ nhằm nâng cao tiềm lựcthông tin KH & CN của Trung tâm KHTN & CNQG

5 Nghiên cứu xây dựng dự báo, chiến lược và quản lý khoa học

6 Tổ chức, biên tập, in Ên, xuất bản và phát hành các Ên phẩm KH & CNcủa Trung tâm KHTN & CNQG theo đúng luật xuất bản và những quyđịnh về bảo mật của nhà nước

7 Thực hiện các dịch vụ về thông tin, sở hữu trí tuệ, dịch thuật, tổ chứctriển lãm, hội thảo khoa học, quảng cáo các sản phẩm KH & CN của cácđơn vị thuộc Trung tâm KHTN & CNQG

8 Tổ chức công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tinđại chúng

Nghị định 24/CP ngày 22/5/1993 của Chính phủ về việc thành lậpTrung tâm KHTN & CNQG trên cơ sở tổ chức lại Viện KHVN với chứcnăng chủ yếu là “Tổ chức và thực hiện các hoạt động nghiên cứu về khoa

Trang 13

học tự nhiên và công nghệ theo các hướng trọng điểm của nhà nước, nhằmtạo ra và triển khai các công nghệ tiên tiến có ý nghĩa quan trọng đối với sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội của nước ta” đã đặt ra những yêu cầu vànhiệm vụ mới cho hoạt động thông tin tư liệu KH & CN của Trung tâmTTTL trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mức độ đápứng thông tin đối với NDT tại Trung tâm khoa học phải được Trung tâmTTTL thực hiện trên cơ sở hiệu quả tối đa, bao gồm: lượng thông tin tối đa,

độ tin cậy thông tin tối đa, và trong thời hạn ngắn tối đa Để thực hiện được

3 tiêu chí này, Trung tâm TTTL phải tiến hành đồng bộ 3 nội dung sau:

 Xây dùng một nguồn lực thông tin đầy đủ về số lượng, phong phú vềnội dung và đa dạng về hình thức

 Nguồn lực thông tin này phải được xây dựng căn cứ vào những nhu cầuđích thực của NDT tại Trung tâm TTTL

 Trong bối cảnh mới, NDT tại Trung tâm KHTN & CNQG không chỉ đòihỏi các nhu cầu của mình phải được đáp ứng một cách đầy đủ và chínhxác mà còn phải nhanh chóng

1.2 VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN TRONG VIỆC PHỤC VỤHOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TẠI TRUNG TÂMKHTN & CNQG

Từ nửa sau thế kỷ XX cho tới thập kỷ 90, nhân loại đã và đang chứngkiến những thay đổi thay đổi to lớn và cực kỳ sâu sắc trong mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội Những biến đổi to lớn đó đã làm thay đổi hoàn toàncục diện của đời sống, chính trị, kinh tế và xã hội trên quy mô toàn cầu.Trên thực tế, sự vận động của hội loài người đang tiếp cận với một bướcngoặt vô cùng to lớn Để chuyển sang một thời đại mới về chất - đó là thờiđại chí tuệ mà động lực của thời đại này là cuộc cánh mạng khoa học côngnghệ mới [14.1] Không giống như các cuộc cách mạng trước đó, trongcuộc cách mạng KH & CN mới lần này, thế mạnh tuyệt đối của các yếu tố

Trang 14

sản xuất truyền thống như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sức lao động

rẻ và dồi dào giảm dần và chỉ còn mang ý nghĩa tương đối Việc xuất hiệncác ngành có hàm lượng khoa học và công nghệ cao (gọi tắt là ngành côngnghệ cao) với sức cạnh tranh cực kỳ to lớn đã đưa chất xám, thông tin vàtiềm lực KH &CN lên vị trí hàng đầu Kể từ thập kỷ 90 trở đi, vai trò thenchốt của KH&CN nhất là của các ngành công nghệ cao đã hoàn toàn mang

ý nghĩa sống còn đối sự phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốcphòng đối với mỗi quốc gia và được đưa lên hàng quốc sách

Trong những thập kỷ gần đây, người ta đã nhận thấy tốc độ đổi mớitrong KH & CN tăng vô cùng nhanh, cũng vì vậy, thời gian từ lúc phátminh ra một công nghệ mới, một sản phẩm mới đến khi đưa ra sản xuất đạitrà và thời gian tồn tại trên thị trường của các sản phẩm ngày càng được rútngắn Trong các ngành công nghiệp năng động nhất như vi điện tử và viễnthông, hơn 50% sản phẩm tồn tại trên thị trường tin học dưới 5 năm Mộtnửa số dược phÈm có mặt trên thị trường dưới 10 năm Những thành tựkhoa học kỹ thuật không những đã làm tăng gấp bội thể lực, nối dài cácgiác quan (như trong các giai đoạn trước) mà còn nâng cao khả năng tưduy, vượt giới hạn sinh học của con người [22.5] Điều này đã buộc cácnhà nghiên cứu phải tìm cách nắm bắt các thông tin KH&CN mới nhất,hiện đại nhất Thông tin khoa học công nghệ là chất liệu không thể thiếuđược trong hoạt động và nghiên cứu KH&CN Sở dĩ như vậy vì lao độngKH&CN là lao động mang tính sáng tạo, tìm kiếm cái chưa biết do đó cóthể thành công và cũng có thể thất bại Sự thất bại trong nghiên cứuKH&CN có thể do nhiều nguyên nhân với các mức độ khác nhau Nhưngmột trong những nguyên nhân Êy là do thiếu những thông tin cần thiết và

đủ tin cậy xử lý những vấn đề được đặt ra trong nghiên cứu Ngoài ra hoạtđộng nghiên cứu khoa học là một loại hoạt động đặc thù của con ngườinhằm thu thập những thông tin khoa học mới trên cơ sở những thông tin màloài người đã tính luỹ được Thiếu thông tin không thể có hoạt động

Trang 15

nghiên cứu khoa học Thông tin KH&CN được coi là chìa khoá của mọihoạt động sáng tạo và trở thành một nhân tố không thể thiếu được trongchiến lược phát triển KH&CN Đó chính là tầm quan trọng không thể phủnhận của thông tin KH&CN Sự thành bại trong việc nghiên cứu KH&CNcủa các nhà khoa học một phần tuỳ thuộc vào khả năng với tới các nguồnthông tin phù hợp, phản ánh đúng hiện trạng và xu thế phát triển của đấtnước và khu vực đặc biệt là trong lĩnh vực KH&CN Các nguồn lực thôngtin KH&CN được tổ chức và khai thác tốt sẽ là các nhân tố quyết định chocông việc nghiên cứu KH&CN.

Mặt khác, một trong số các đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạngKH&CN hiện đại là sự xâm nhập nhanh chóng và tác động mạnh mẽ củacác quá trình thông tin vào mọi hoạt động của đời sống, kinh tế, xã hôi, là

sự trưởng thành và sự phát triển của ngành công nghiệp thông tin, là xu thếchuyển hướng sang xã hội thông tin có tính toàn cầu Thông tin hoá xã hộiđược quan niệm là quá trình cải biến đặc biệt toàn bộ hoạt động kinh tế xãhội Làm cho các hoạt động này có tính giá trị, sáng tạo, trí tuệ và hiệu quảhơn trên cơ sở tăng cường hàm lượng thông tin trong các quá trình và kếtquả hoạt động [28.1] Kết quả của quá trình thông tin hoá xã hội đưa chúng

ta bước vào kỷ nguyên của một xã hội mới: xã hội thông tin Chóng ta đangsống trong thời đại bùng nổ thông tin Nếu trước năm 1500, châu Âu sảnxuất sách với tốc độ 1000 cuốn/năm Điều này có nghĩa là cần một thế kỷ

để sản xuất 100.000 cuốn sách Vào đầu những năm 50, bốn thế kỷ rưỡi sau

đó, tốc độ tăng vọt với 120.000 cuốn sánh trên một năm ở châu Âu Vàonăm 1960, chỉ một thập kỷ sau, tốc độ đã thực hiện một bước nhảy có ýnghĩa khác, những gì cần một thế kỷ để thực hiện thì nay chỉ cần bảy thángrưỡi Và vào giữa những năm 60, số sách xuất bản trên thế giới là 1000cuốn mỗi ngày Có thể nói số sách vở in ra tương đương với tốc độ conngười phát hiện ra kiến thức mới Ngày nay, số lượng tạp chí và bài báokhoa học đang tăng gấp đôi [1.20] Tổ chức khoa học giáo dục và liên hợp

Trang 16

quốc đã thống kê: Trên toàn thế giới đã xuất bản 111.950 loại Ên phẩmđịnh kỳ (1990) và 53650 tờ báo, trong đó nhật báo là 8.250 tờ Tổng lượngphát hành mỗi ngày hơn 833 triệu số (1993) Mỗi ngày trên thế giới cókhoảng 20000 công trình khoa học được công bè [33.8] Số lượng tạp chí

và bài báo khoa học cứ 10 năm lại tăng lên gấp đôi- trung bình mỗi nămtăng 600 triệu trang [20.49] Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng củalượng thông tin đã làm nảy sinh một vấn đề mới đối với những nhà nghiêncứu: không phải bất cứ thông tin nào đã tích lũy được đều có giá trị và độcần thiết như nhau Hệ số chung của việc sử dụng một các có hiệu quảkho tàng thông tin do nhân loại tích luỹ được đang có khuynh hướng giảm

đi rõ rệt Người ta đã ước tính bằng 1/2 thời gian làm việc của nhà nghiêncứu khoa học phải dành cho việc tìm hiểu thông tin và xử lý các thông tinthu được

Nhận thức rõ vai trò của hoạt động thông tin phục vụ nghiên cứu vàtriển khai đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đối với sựnghiệp phát triển khoa học và công nghệ nói riêng, Đảng và Nhà nước ta đãban hành một số chủ trương và chính sách nhằm thúc đẩy công tác này.Gần đây nhất, Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ươngĐảng khoá VIII đã khẳng định hoạt động thông tin tuyên truyền và phổ cậpkiến thức KH&CN là một trong 8 giải pháp để thực hiện chiến lược pháttriển KH&CN trong thời kỳ công nghệ hoá và hiện đại hoá Trong đó đãnêu rõ [9.74]

"Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ cấp kiến thức khoa học và công nghệ.

Đẩy mạnh tuyên truyền phổ cập tri thức khoa học Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, khoa học xã hội và nhân văn nói chung, những hiểu biết thường thức về khoa học tự nhiên và công nghệ, bảo vệ môi trường trong nhân dân, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng núi, vùng dân tộc Ýt

Trang 17

người, hình thành lối sống văn mình và sự lành mạnh của môi trường

xã hội.

Đẩy mạnh các dịch vụ thông tin KHCN về lãnh đạo quản lý, nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ ở các doanh nghiêp, đặc biệt là các thông tin công nghệ.

Phát triển và quản lý tốt mạng lưới thu thập, sử lý thông tin về KHCN nước ngoài."

Đối với hoạt động thông tin KH&CN ở nước ta nói chung, và vớiTrung tâm KHTN&CNQG nói riêng đây là định hướng chiến lược cực kỳquan trong, phù hợp với xu thế phát triÓn chung của thế giới và đặc thùphát triển của đất nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá.1.3 ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI DÙNG TIN CỦA TRUNG TÂM KHTN & CNQGCùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, quá trình bùng

nổ thông tin cũng đang diÔn ra trên phạm vi toàn thế giới Con người vớinhững nhu cầu tin ngày càng phong phú, đa dạng có những tác động khôngnhỏ tới hoạt động của cơ quan thông tin có thể nói việc thoả mãn nhu cầutin là yếu tố quyết định chất lượng hoạt động thông tin tư liệu Nhận thứcđược điều này, cũng như các cơ quan thông tin khoa học, vấn đề nghiêncứu người dùng tin và nhu cầu tin tại trung tâm luôn đặt lên hành đầu.NDT là yếu tố cơ bản giữ vai trò quan trọng trong bất kỳ Hệ thốngthông tin nào Điểm xuất phát của dây chuyền thông tin được bắt đầu dựavào đối tượng NDT và cũng chính họ là nhân tố cuối cùng để đánh giá chấtlượng hoạt động của cả Hệ thống NDT là cơ sở cho việc định hướng cáchình thức phổ biến thông tin Nếu không có NDT, giao lưu thông tin khôngthể thực hiện được NDT là yếu tố tương tác giữa hai chiều với các đơn vịthông tin Điều này được thể hiện qua hai khía cạnh Thứ nhất, NDT đượccoi là đối tượng phục vụ, họ vừa là khách hàng tiếp nhận thông tin, vừa làngười sản sinh ra thông tin mới Thứ hai, NDT được coi là người sản xuấtmột phần "nguyên liệu thông tin" cho hoạt động của cơ quan KHTN &

Trang 18

CNQG, họ là lực lượng đưa thông tin vào thực tế sản xuất mặt khác họ làmcho tài nguyên thông tin phong phú giàu có hơn lên nguồn thông tin củacác cơ quan thông tin Như vậy, NDT là yếu tố thúc đẩy hoạt động tự độnghoá thông tin, đồng thời là yếu tố chi phối hoạt động này

NDT được cung cấp những sản phẩm và dịch vụ thông tin có chấtlượng sẽ tạo ra nguồn tin có giá trị và với những nguồn tin có giá trị Êycác cơ quan thông tin sẽ lại tạo ra những sản phẩm thông tin có chất lượnghơn Như vậy, vai trò khách hàng - người sản xuất của NDT có mối quan

hệ nhân quả Tuy nhiên chỉ có vai trò khách hàng của người dùng tin là trựctiếp tác động tới sự sống còn của các cơ quan thông tin với nhu cầu tin cụthể của mình, NDT là nhân tố quyết định nội dung thông tin, kênh thông tincần được sử dụng trong hoạt động thông tin

Trung tâm KHTN & CNQG là trung tâm nghiên cứu khoa học và ứngdụng triển khai công nghệ lớn nhất trong cả nước Hàng năm, cán bộ củaTrung tâm KHTN & CNQG tham gia nghiên cứu một khối lượng khá lớncác chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Trung tâm (cấp Bộ) cũngnhư các dự án, đề án hợp tác với nước ngoài Từ năm 1991 - 1998 Trungtâm KHTN & CNQG đã thực hiện 15 dự án và 280 đề tài khoa học cấpNhà nước, 746 đề tài nghiên cứu cấp Bộ, 56 đề tài khoa học điều tra cơbản

Theo những số liệu thống kê mới nhất chỉ trong vòng 5 năm (1996 2000) Trung tâm KHTN & CNQG có 110 kết quả nghiên cứu khoa học vàcông nghệ đã dược triển khai ứng dụng vào thực tế, thực hiện 152 đề tàinghiên cứu cơ bản, 29 dự án điều tra cơ bản, 05 dự án, đề án trong chươngtrình Biển Đông, Hải Đảo, 17 dự án sản xuất thử nghiệm cấp Trung tâm, 19

-dự án sản xuất thử nghiệm và chuyển giao công nghệ từ quỹ phát triển củaTrung tâm KHTN & CNQG, 129 Dự án, đề án hợp tác quốc tế với hơn 20nước trong đó đa số là các nước phát triển Bên cạnh các đề án, dự án, đề

Trang 19

án cấp nhà nước và trung tâm hàng năm các cán bộ của Trung tâm KHTN

& CNQG còn thực hiện hàng trăm đề tài nghiên cứu cấp cơ sở

Do hàng năm thực hiện một khối lượng công việc lớn như vậy nênNDT tại trung tâm KHTN & CNQG đa số đều là những cán bộ có trình độchuyên môn cao, có khả năng đảm nhận được các khâu nghiên cứu cơ bản,điều tra cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, sản xuất thử nghiệm và tham gia giảiquyết vấn đề bức xúc về KH & CN của đất nước cũng như một số vấn đềmôi trường toàn cầu như công nghệ chất thải, công nghệ sạch, phát thải khínhà kính Phần đông những cán bộ khoa học này được đào tạo từ Liên Xô,Cộng hoà Dân chủ Đức và các nước Xã hội Chủ nghĩa trước đây Từ saunăm 1992, một số cán bộ KH & CN trẻ dược đào tạo từ các nước côngnghiệp phát triển như Đức, Pháp, Nhật Bản Nhiều nhà khoa học củaTrung tâm KHTN & CNQG được cộng đồng quốc tế mời nghiên cứu phốihợp về khoa học hoặc giảng bài tại các trường đại học quốc tế

Những con số thống kê cho thấy lực lượng NDT thực tế tại Trung tâmKHTN & CNQG rất mạnh, cả về chất lượng Đây là một yếu tố rất quantrọng đối với hoạt động của trung tâm KHTN & CNQG

Về trình độ ngoại ngữ, theo số liệu điều tra mới đây của Trung tâmKHTN & CNQG thì có tới 85% NDT sử dụng được 1 đến 2 ngoại ngữ,15% sử dụng 3 ngoại ngữ Những ngoại ngữ chính mà NDT sử dụng làNga, Anh, Pháp, Đức Thời gian trung bình NDT tại đây dành cho việcnghiên cứu tư liệu chiếm khoảng 20 - 30% tổng số thời gian Họ vừa làNDT tại Trung tâm TTTL

Qua điều tra khảo sát và căn cứ vào chức năng công việc của NDTchúng tôi nhận thấy đội ngũ NDT của Trung tâm KHTN & CNQG có thểchia thành 3 nhóm chính như sau:

a Nhóm 1 Cán bộ quả lý kiêm công tác nghiên cứu (15% tổng số cán bộ)

bao gồm:

Trang 20

 Ban Giám đốc Trung tâm KHTN & CNQG và lãnh đạo các Việnchuyên nghành.

 Lãnh đạo các Vụ, phòng, ban của các vụ chuyên ngành trực thuộc Trungtâm KHTN & CNQG

 Cán bộ quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học và triển khai cấp Trungtâm KHTN & CNQG và Nhà nước

NDT thuộc nhóm này có 2 đặc điểm cơ bản:

- Trước hết họ là những người điều hành các công việc và bộ máy hànhchính, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của cơ quan, bộphận mà họ quản lý Họ là những người ra quyết định hoặc chuẩn bị raquyết định ở các cấp khác nhau Họ có nhiệm vụ vạch ra phương hướng,xây dựng kế hoạch, tổ chức và giám sát việc triển khai công tác chung chocác bộ phận trong Trung tâm KHTN & CNQG Mặc dù chỉ chiếm15% sốcán bộ nhưng NDT ở nhóm này lại là những chủ thể đặc biệt trong hoạtđộng thông tin của Trung tâm TTTL Để lãnh đạo, quản lý tốt họ khôngnhững cần những thông tin đầy đủ, chính xác trong nội bộ trung tâmKHTN & CNQG, mà còn cần sử dụng và xử lý thường xuyên các thông tinchung về chính trị xã hội

- Khoảng 80% số cán bộ lãng đạo tại nhóm này có trình độ tối thiểu từTiến sĩ trở lên rất nhiều người trong số họ là những giáo sư, tiến sĩ khoahọc, viện sỹ, chuyên gia đầu ngành Bên cạnh công tác lãnh đạo, quản lý,hầu hết họ vẫn tiếp tục làm công tác nghiên cứu khoa học 60% số cán bộthuộc nhóm này trực tiếp làm chủ nhiệm, quản lý đề tài từ cấp Viện, cấpTrung tâm đến cấp Nhà nước Tuy nhiên, do đảm đương công tác quản lýnên NDT nhóm này rất bận rộn và thời gian họ dành cho việc nghiên cứutài liệu không nhiều (10-20% quỹ thời gian nghiên cứu, quản lý)

b Nhóm 2 Cán bộ làm công tác nghiên cứu khoa học:

Đây là lực lượng NDT chủ chốt của Trung tâm KHTN & CNQG Sốcán bộ này có trình độ đại học trở lên và trực tiếp làm nghiên cứu khoa học

Trang 21

và triển khai tại viện nghiên cứu chuyên ngành Thời gian NDT nhóm nàydành cho việc nghiên cứu tài liệu tương đối nhiều (20-40% quỹ thời giannghiên cứu).

Người làm nghiên cứu khoa học ngày nay không chỉ cần có kiến thứcsâu về một lĩnh vực mà phải có hiểu biêt rộng về nhiều lĩnh vực khác nhất

là những hiểu biết về kinh tế - xã hội, về sản xuất và đời sống Ngoài trithức lý luận phải có kiến thức thực tế về lĩnh vực chuyên môn của mình, có

kỹ năng thực hành, biết kết hợp nghiên cứu với sản xuất và thị trường đặcbiệt là phải có sự nhạy bén phát hiện các vấn đề của sản xuất, nhu cầu của

xã hội để từ đó vạch ra các hướng nghiên cứu thích hợp Do vậy, NDTnhóm này là những NDT rất năng động và tích cực Họ là những ngườithường xuyên tạo ra các thông tin mới qua các công trình, kết quả nghiêncứu được công bố, họ là những "khách hàng" thân thiết của Trung tâmTTTL và các cơ quan thông tin khác

c Nhóm 3 Học viên Cao học và nghiên cứu sinh tại các cơ sở đào tạo Thạc

sỹ và Tiến sỹ của Trung tâm KHTN & CNQG

Thực hiện chủ trương gắn nghiên cứu với đào tạo, các Viện của Trungtâm KHTN & CNQG đề đăng ký xin đào tạo Tiến sỹ (phó Tiến sỹ cũ), một

số Viện được phép đào tạo Thạc sỹ trong 5 năm qua, các cơ sở của Trungtâm KHTN & CNQG đã đào tạo được hàng trăm Tiến sỹ, Thạc sỹ choTrung tâm KHTN & CNQG, các cơ quan nghiên cứu và các trường đạihọc Nhũng hoc viên này bao gồm những cán bộ đang trực tiếp làm việc tạiTrung tâm KHTN & CNQG và cán bộ của các cơ quan ngoài theo học Đây

là những người dùng tin rất quen thuộc của Trung tâm TTTL Đa số họ còntrẻ (nhất là các học viên cao học), trình độ chuyên môn chưa cao, sử dụng1-2 ngoại ngữ trong đó tiếng anh là chủ yếu Thời gian người dùng tinnhóm này dành cho việc nghiên cứu tài liệu khoảng 30% quỹ thời giannghiên cứu, học tập Họ sử dụng tư liệu chủ yếu là phục vụ cho công táchọc tập hiện tại

Trang 22

1.4 SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỔI MỚI HỆ THỐNG THÔNG TIN PHỤC VỤ NC-TK.

Việc áp dụng hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai mới

là nhu cầu tất yếu khách quan của Trung tâm KHTN & CNQG bởi 2 lý dosau đây:

a Lý do chủ quan:

- Trung tâm KHTN & CNQG là một trong những đầu mối quan trọngtrong hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai do đó việc ứngdụng hoạt động nghiên cứu và triển khai mới vào trong hoạt động củaTrung tâm KHTN & CNQG là hết sức cần thiết

- Trung tâm TTTL là một trong những trung tâm thuộc Trung tâm KHTN

& CNQG ở đó có nguồn tài liệu khổng lồ và đa dạng rất cần ứng dụngCNTT để tự động hóa việc xử lý thông tin, tìm tin và trao đổi thông tin, tựđộng hóa lưu trữ và quản lý thông tin, gắn liền với hoạt động xây dựng cơ

sở dữ liệu nhằm phục vụ hiệu quả nhất cho hoạt động nghiên cứu khoa học

và triển khai của Trung tâm KHTN & CNQG

- NDT của Trung tâm chủ yếu là cán bộ khoa học, đội ngũ NDT có trình

độ cao, có thể tiếp nhận thông tin tự động hoá một cách dễ dàng nhanhchóng & thuận tiện

b Lý do khách quan:

- Nhu cầu giao lưu, trao đổi trong hoạt động nghiên cứu khoa học trongkhu vực và quốc tế ngày một phát triển Để phục vụ cho hoạt động nghiêncứu khoa học và triển khai cần thiết phải đổi mới và tăng cường tin hochóa, kết nối các mạng máy tính để NDT có thể tra cứu cập nhật thông tintrên mạng nhanh chóng và chính xác

- Yêu cầu hào nhập với công nghệ và kỹ thuật của các cơ quan trongTrung tâm KHTN & CNQG Hệ thống thông tin KH & CN quốc gia đòihỏi Trung tâm KHTN & CNQG là cơ quan hàng đầu của Hệ thống trongviệc áp dụng công nghệ tiên tiến để quản trị và phục vụ thông tin, xứng

Trang 23

đáng với tầm vóc một Trung tâm thông tin đầu ngành trong lĩnh vực hoạtđộng phục vụ ngiên cứu và triển khai.

- Xu thế hội nhập khu vực và quốc tế về hoạt động thông tin phục vụnghiên cứu và triển khai nói chung và trong lĩnh vục đảm bảo thông tin chonghiên cứu khoa học nói riêng, đòi hỏi Trung tâm phải nhanh chóng hiệnđại hoá để có đủ năng lực khai thác và trao đổi thông tin KHCN nói chung

và thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai nói riêng với các hệ thốngthông tin khu vục và quốc tế

CHƯƠNG II

HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG THÔNG TIN PHỤC VỤ

NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TẠI TRUNG TÂM KHTN & CNQG

2.1 HỆ THỐNG THÔNG TIN PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂNKHAI TẠI TRUNG TÂM KHTN & CNQG

Trang 24

góp đáng kể vào hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệcủa Trung tâm KHTN & CNQG.

1 Hệ thống quản lý:

Lãnh đạo Trung tâm TTTL Giám đốc Giám đốc Trung tâm TTTLdoGiám đốc Trung tâm KHTN & CNQG bổ nhiệm và có những quyền hạnsau:

Thống nhất quản lý mạng lưới thông tin KH&CN trong Trung tâmKHTN & CNQG; Tham dự các cuộc họp của Lãnh đạo và Hội đồng Trungtâm KHTN & CNQG có liên quan đến thông tin; Quản lý cán bộ theo phâncấp của Trung tâm KHTN & CNQG tuyển chọn, sắp xếp, đánh giá cán bộtheo chế độ chính sách và các quy định hiện hành của Nhà nước; Kiến nghịthành lập hoặc giải thể các phòng nghiệp vụ, phòng nghiên cứu và các đơn

vị trực thuộc; lý kết các hợp đồng dịch vụ thông tin, in Ên, xuất bản các Ênphẩm KH&CN

Giám đốc Trung tâm TTTL chịu trách nhiệm trước Trung tâm KHTN

Các Phó giám đốc có trách nhiệm giúp Trung tâm TTTL trong việclãnh đạo chung công tác của Trung tâm TTTL, chịu trách nhiệm trướcGiám đốc Trung tâm TTTL về phần công tác được phân công phụ trách và

Trang 25

được quyền quyết định những vấn đề thuộc phạm vi và quyền hạn đượcgiao.

Các trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Giám đốc về việc quản lýcông việc và nhân sự của mình

2 Hệ thống tư vấn:

Tư vấn cho Giám đốc Trung tâm TTTL trong việc lãnh đạo và điềuhành hoạt động của trung tâm là các bộ phận sau:

 Trung tâm Thông tin Tư liệu KH&CNQG (24 lý Thường Kiệt)

 Hội đồng khoa học Trung tâm TTTL

 Chi ủy Trung tâm TTTL

 Ban chấp hành công đoàn Trung tâm TTTL

 Ban tranh tra nhân dân Trung tâm TTTL

Trang 26

3 Hệ thống nghiệp vụ:

Bao gồm những bộ phận sau:

3.1 Thư viện khoa học: ( là thành viên của mạng lưới Thư viện Việt Nam)

- Bổ sung và lưu trữ sách, tạp chí khoa học- công nghệ Phục vụ độc giả

- Cung cÊp tài liệu sao chụp cho các thư viện trong hệ thống của trungtâm KHTN & CNQG

- Trao đổi tư liệu với các thư viện nước ngoài Triển lãm sách và tạp chí

Số lượng cán bộ: 8 người

3.2 Phòng lưu trữ tư liệu khoa học

- Thu thập và lưu trữ các tư liệu vÒ kết quả nghiên cứu khoa học và côngnghệ, kết quả điều tra cơ bản của Trung tâm KHTN & CNQG

- Thông báo danh mục và phục vụ bạn đọc các tài liệu chọn lọc

- Tin học hoá các kết quả nghiên cứu, điều tra khảo sát được lưu trữ tại phòng

Số lượng cán bé: 4 người

3.3 Phòng thông tin khoa học công nghệ

- Biên tập các bản tin chọn lọc KH&CN

- Cung cấp thông tin KH&CN cho lãnh đạo và cán bộ nghiên cứu thuộcTrung tâm KHTN & CNQG

- Thực hiện các đề tài nghiên cứu về nghiệp vụ thông tin khoa học kỹthuật, tổ chức các seminar chuyên môn để nâng cao nghiệp vụ

- Tin học hoá các kết quả nghiên cứu, điều tra, khảo sát được thực hiện ởtrung tâm KHTN & CNQG

Số lượng cán bộ: 5 người

3.4 Phòng sở hữu công nghiệp

- Tổ chức và quản lý mạng lưới dịch vụ patent trong trung tâm KHTN &CNQG Cung cấp dịch vụ patent cho các đề án và chương trình nghiêncứu Thu thập tư liệu patent và giải pháp kỹ thuật làm thủ tục đăng kývới các cơ quan Nhà nước để bảo vệ quyền tác giả

- Biên tập, phổ biến, chọn lọc, lưu trữ và khai thác các tư liệu về patent

Trang 27

Số lượng cán bộ: 7 người

3.5 Phòng tạp chí khoa học

- Biên tập và phát hành các tạp chí khoa học và công nghệ (hiện đangxuất bản 9 tạp chí khoa học trong đó có 3 tạp chí phát hành bằng tiếngAnh)

Số lượng cán bé: 8 người

3.6 Phòng quản lý xuất bản

- Tư vấn việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước ở trung tâm KHTN

& CNQG về lĩnh vực xuất bản các tài liệu KH&CN

- Thực hiện xin phép xuấy bản, phát hành các tài liệu KH&CN của trungtâm KHTN & CNQG

- Tổ chức in Ên và phát hành các Ên phẩm đã được Nhà nước cấp phép

Số lượng cán bộ: 3 người

3.7 Ban nghiên cứu dự báo chiến lược và quản lý khoa học

- Tổ chức công tác nghiên cứu, soạn thảo dự báo và chiến lược khoa học

- Phối hợp với các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài trung tâm KHTN

& CNQG nghiên cứu về tổ chức, tiềm lực và chính sách khoa học, gópphần xây dựng các quy chế, quy định về quản lý khoa học của trungtâm KHTN & CNQG

- Đảm bảo thông tin cho công tác nghiên cứu soạn thảo dự báo chiếnlược và quản lý khoa học

- Nghiên cứu chiến lược phát triển các hướng khoa học và công nghệ ưutiên

- Nghiên cứu về quản lý và tổ chức nhằm phát triển các cơ sở nghiên cứu

và triển khai

Số lượng cán bộ: 10 người

3.8 Ban Nghiên cứu và quản lý Lịch Nhà nước

Trang 28

- Tổ chức và chỉ đạo nghiên cứu các vấn đề về lịch trong toàn quốc Tổchức thẩm định và đánh giá các công trình nghiên cứu về lịch ViệtNam.

- Tính toán và cung cấp các số liệu lịch hành năm cho các nhà xuất bản,thành lập bảng đối chiếu âm và dương chính thức của Nhà nước

- Phối hợp với Bộ VHTT tổ chức quản lý công tác xuất bản lịch trongphạm vi toàn quốc

Số lượng cán bộ: 5 người

3.9 Bộ phận lưu trữ tư liệu biển

- Thu thập và lưu trữ các tư liệu về kết quả nghiên cứu khoa học và côngnghệ biển, kết quả điều tra cơ bản Chương trình nghiên cứu biển

- Thông báo danh mục và phục vụ bạn đọc các tài liệu chọn lọc

Số lượng cán bộ: 3 người

3.10 chương trình thông tin quy hoạch vùng

- Cung cấp những hiểu biết mới nhất (các dữ liệu cơ bản) về tài nguyênthiên nhiên và môi trường tự nhiên Việt Nam trên từng vùng lãnh thổ

và toàn quốc theo các yêu cầu phục vụ cho việc xây dựng và phát triểnkinh tế - xã hội

- Soạn thảo và Ên hành các xuất bản phẩm theo nhiệm vụ trên

Số lượng cán bộ: 6 người

3.11 Bé phận Thông tin tài nguyên môi trường

- Cung cấp thông tin tài nguyên - môi trường cho lãnh đạo và cán bộnghiên cứu thuộc trung tâm KHTN & CNQG

- Thực hiện các đề tài nghiên cứu về thông tin - môi trường, tổ chức cácseminar chuyên môn để nâng cao nghiệp vô

Số lượng cán bộ: 3 người

3.12 Phòng quản lý tổng hợp

- Theo dõi và phối hợp việc quản lý toàn diện việc hoạt động của trungtâm TTTL

Trang 29

- Quản lý vật tư, thiết bị, nhân lực, tài chính Tư vấn cho lãnh đạo trungtâm TTTL về công tác tổ chức cán bộ, đào tạo và hợp tác khoa học.

- Cung cấp các dịch vụ và phổ biến thông tin KH&CN, chụp ảnh, làmphim khoa học, tổ chức các hội nghị, triển lãm khoa học và công nghệ

Số lượng cán bộ: 5 người

Tất cả các phòng nghiệp vụ kể trên không hoạt động một cách cứngnhắc mà có phối hợp, trao đổi và hợp tác với nhau dưới sự chỉ đạo thốngnhất của Giám đốc trung tâm TTTL

Sơ đồ cơ cấu tổ chức Trung tâm TTTL được trình bày trong phụ lục 3.

Qua sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm TTTL cho thấy giữa các bộphận nhìn chung đã có sự liên hoàn chặt chẽ với nhau, đảm bảo mối quan

hệ thông suốt trong môi trường quản lý Quyền hạn và trách nhiệm của các

bộ phận được quy định tương đối cụ thể, rõ ràng Giữa các bộ phận cùngcấp có mối liên kết với nhau trong một hệ thống mở có phân công, phânnhiệm cụ thể nhưng vẫn đảm bảo được sự liên kết giữa các bộ phận cấuthành nhằm triển khai thực hiện thành công có hiệu mục tiêu đã nêu ở trên,đảm bảo phù hợp với mục đích, chức năng và nhiệm vô chung của Trungtâm TTTL nói riêng và của Trung tâm KHTN & CNQG nói chung Tuyvậy, tổ chức không phải là một cái gì đó bất biến Cùng với sự phát triểncủa Trung tâm KHTN & CNQG, tổ chức của Trung tâm TTTL còng thayđổi không ngừng theo những quy luật của nó Trong quá trình vận động,Trung tâm TTTL sẽ tự điều chỉnh sao cho phù hợp với yêu cầu của Trungtâm KHTN & CNQG và của chính bản thân Trung tâm TTTL trong từnggiai đoạn nhất định

2.1.2 Đội ngũ cán bộ

Trung tâm TTTL là cơ quan đầu mối của Trung tâm KHTN & CNQG

20 năm hoạt động, cùng với sự phát triển của Trung tâm TTTL, đội ngũcán bộ của Trung tâm tăng lên nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất lượng.Lúc mới thành lập (1982) biên chế của Trung tâm TTTL có 31 người trong

Ngày đăng: 04/08/2015, 07:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Đội ngũ cán bộ của Trung tâm TTTL - Đổi mới hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai tại Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia
Bảng 1. Đội ngũ cán bộ của Trung tâm TTTL (Trang 31)
Bảng 3. Thống kê thành phần tài liệu công bố của Trung tâm TTTL - Đổi mới hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai tại Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia
Bảng 3. Thống kê thành phần tài liệu công bố của Trung tâm TTTL (Trang 39)
Bảng 5. Tổng hợp đề tài nghiên cứu của Trung tâm KHTN & CNQG - Đổi mới hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai tại Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia
Bảng 5. Tổng hợp đề tài nghiên cứu của Trung tâm KHTN & CNQG (Trang 41)
Bảng 6. Tổng hợp các thành tựu nghiên cứu KH & triển khai CN của Trung - Đổi mới hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai tại Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia
Bảng 6. Tổng hợp các thành tựu nghiên cứu KH & triển khai CN của Trung (Trang 42)
Bảng 7. Bảng so sánh (tương đối) thực trạng thu thập tài liệu lưu trữ - Đổi mới hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai tại Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia
Bảng 7. Bảng so sánh (tương đối) thực trạng thu thập tài liệu lưu trữ (Trang 43)
Bảng 8. Các cơ sở dữ liệu của Trung tâm TTTL - Đổi mới hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai tại Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia
Bảng 8. Các cơ sở dữ liệu của Trung tâm TTTL (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w