nghiên cứu hoàn thiện phân loại giáo dục đào tạo và danh mục nghề nghiệp
Trang 1Tổng cục Thống kê
Báo cáo tổng kết
đề tài cấp tổng cục
Nghiên cứu hoàn thiện bảng phân loại giáo dục-đào tạo
và danh mục nghề nghiệp
Chủ nhiệm đề tàI: cn phạm thị hồng vân
6168
30/10/2006
Trang 2Giới thiệu
Đề tài “ Nghiên cứu hoàn thiện Danh mục giáo dục, đào tạo và Danh mục nghề nghiệp của Việt Nam” là đề tài cấp Tổng cục thực hiện trong 2 năm
2004 và 2005
Đề tài đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tình hình thực hiện các bảng Danh mục giáo dục, đào tạo và các bảng Danh mục nghề nghiệp của Việt Nam trong những năm qua Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của Hệ thống giáo dục Việt Nam, kinh nghiệm xây dựng Hệ thống phân loại giáo dục đào tạo của quốc tế và một số quốc gia trên thế giới Trên cơ sở các nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu đề tài đã đưa ra hướng hoàn thiện Danh mục giáo dục, đào tạo; Danh mục nghề nghiệp và các căn cứ, nguyên tắc để phân loại
Dựa trên các căn cứ lý luận và thực tiễn, các nguyên tăc đề xuất, đề tài
đã kiến nghị Danh mục giáo dục, đào tạo và Danh mục nghề nghiệp của Việt Nam mới Danh mục giáo dục, đào tạo với 2 cấp và được mã hoá bằng 6 chữ
số Cấp I gồm 2 chữ số phản ánh trình độ giáo dục; cấp II gồm 4 chữ số phản
ánh lĩnh vực giáo dục đào tạo Danh mục nghề nghiệp với 4 cấp và được mã hoá bằng 4 chữ số, đối với cả 2 Danh mục đều có phần giải thích nội dung chủ yếu của các nhóm trình độ giáo dục, lĩnh vực giáo dục vào các nhóm nghề nghiệp theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, lĩnh vực hoạt động
Do yêu cầu đòi hỏi cấp bách của thực tế công tác quản lý nói chung và yêu cầu của công tác thống kê nói riêng, quá trình triển khai nghiên cứu chia thành 2 phần, phần một: nghiên cứu hoàn thiện Danh mục giáo dục, đào tạo thực hiện năm 2004, phần hai: nghiên cứu hoàn thiện Danh mục nghề nghiệp triển khai năm 2005
Phần một của đề tài kết thúc năm 2004, kết quả nghiên cứu đã nghiệm thu sơ bộ và được Vụ Phương pháp chế độ hoàn thiện trình Chính phủ phê duyệt ban hành theo Quyết định số 25/2005/QĐ-TTg ngày 27 tháng 01 năm
2005 để đưa vào ứng dụng thực tế
Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của phần hai “Danh mục nghề nghiệp của Việt Nam” sẽ được tiếp tục hoàn thiện để trình Chính phủ phê duyệt ban hành đưa vào ứng dụng thực tế trong thời gian tới đây
Trang 3Phần một Nghiên cứu hoàn thiện danh mục
giáo dục, đào tạo
I Đánh giá thực trạng các Danh mục giáo dục, đào tạo ở nước ta
Phát triển giáo dục là nền tảng nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá và là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế Do có vai trò vô cùng quan trọng nên Nhà nước ta từ lâu đã có ý thức quan tâm và đầu tư cho nền giáo dục quốc gia Để tăng hiệu lực của công tác quản lý giáo dục thì một trong những vấn đề đầu tiên là phải xây dựng được Danh mục về các chương trình giáo dục, ngành nghề đào tạo trong cả nước, từ đó có cơ sở để thống nhất quản lý về chương trình, nội dung và hệ thống văn bằng về giáo dục, đào tạo
Với ý nghĩa đó trong nhiều năm qua Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với Tổng cục Thống kê đã nghiên cứu và ban hành các Danh mục giáo dục, đào tạo Có thể chia toàn bộ các bảng Danh mục giáo dục, đào tạo đã được ban hành thành 2 giai đoạn: Giai đoạn từ trứơc năm 1999 và giai đoạn từ năm 1999
đến nay
1 Một số Danh mục giáo dục, đào tạo đã ban hành từ trước năm 1999
Giai đoạn 1990 trở về trước, do đặc điểm của giai đoạn này là giáo dục
theo kế hoạch của Nhà nước, nên tên gọi, cơ cấu chương trình, ngành nghề đào tạo do Nhà nước yêu cầu Về cơ bản Danh mục giáo dục, đào tạo được xây dựng dựa trên cơ sở các Danh mục giáo dục, đào tạo của các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam
* Ngày 27 tháng 8 năm 1985, Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề có quyết định số 206/DN-KHGD về việc ban hành Danh mục nghề đào tạo công nhân, nhân viên kỹ thuật và nghiệp vụ lành nghề
* Ngày 16 tháng 6 năm 1982 Tổng cục trưởngTổng cục Thống kê có Quyết định số 396/TCTK-PPCĐ ban hành Danh mục ngành đào tạo cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng
Giai đoạn 1990 đến 1999, khi nền kinh tế chuyển đổi, thì giáo dục đào tạo cũng dần chuyển từ giáo dục theo kế họach của Nhà nước sang giáo dục,
đào tạo theo nhu cầu thị trường của xã hội Chính đặc diểm này đòi hỏi việc quản lý giáo dục cũng phải thay đổi Một trong những khâu đó là, cơ cấu, nội dung của giáo dục, đào tạo cũng phải thay đổi để phù hợp, và vì vậy các bảng Danh mục giáo dục, đào tạo đã được nghiên cứu sửa đổi trên cơ sở các bảng danh mục trước đó
Trang 4* Ngày 9 tháng 1 năm 1992 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê có quyết định số 59/THCN-DN về việc ban hành Danh mục nghề đào tạo công nhân kỹ thuật, nhân viên kỹ thuật và nghiệp vụ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
* Ngày 7 tháng 4 năm 1991 và ngày 25 tháng 8 năm 1992 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê có các Quyết
định số 1595/THCN và số 1740/THCN ban hành Danh mục ngành đào tạo trung học chuyên nghiệp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Sau đó ngày 4 tháng 5 năm 1994, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có Quyết định số 1114/QĐ-GDDT về việc ban hành Danh mục ngành đào tạo trung học chuyên nghiệp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
* Ngày 22 tháng 12 năm 1990, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê có Quyết định số 2301/QĐ-LB ban hành Danh mục ngành đào tạo Đại học nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các bảng Danh mục giáo dục, đào tạo đã ban hành cơ bản đã phản ánh
được thực trạng các cấp và các bậc học về nội dung và chương trình giáo dục,
đào tạo của Việt Nam tại thời gian đó, phần nào đáp ứng được yêu cầu quản lý nền giáo dục quốc dân.Tuy nhiên, xét về mặt tổng quát và chi tiết nó còn có những tồn tại sau:
- Các Danh mục mới chỉ dựa trên từng cấp bậc học để đưa ra danh mục
mà không có sự đồng bộ, thống nhất giữa các cấp bậc học của toàn bộ nền giáo dục quốc dân
- Cơ sở của danh mục mới chỉ dựa trên nội dung chương trình đào tạo và nhu cầu của các đơn vị cơ sở để phân chia và bổ sung, mà không dựa trên toàn
bộ các cấp học, bậc học của nền giáo dục quốc dân để phân chia nên không thể hiện được cấp trình độ toàn cảnh
- Về mã hoá không có sự thống nhất giữa các cấp bậc học và ở ngay từng cấp bậc học nên rất khó tổng hợp trên giác độ toàn bộ nền giáo dục quốc dân đối với những chương trình cùng lĩnh vực giáo dục, đào tạo và ở ngay từng cấp bậc học cũng khó bổ sung khi phát sinh chương trình mới
- Không đáp ứng được nhu cầu so sánh quốc tế số liệu thống kê giáo dục, đào tạo
Xuất phát từ những vấn đề trên, đồng thời chúng ta đều biết rằng, nền giáo dục quốc gia đang đứng trước thử thách mới về công cuộc cải cách về cơ cấu, chương trình giáo dục, đào tạo đòi hỏi phải quản lý thống nhất, tạo được
sự phát triển mới của nền giáo dục quốc dân và sự hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có một khung phân loại chuẩn giáo dục, đào tạo phản ánh được thực trạng nền giáo dục Việt Nam, sự hội nhập quốc tế trên cơ sở chuẩn hoá quốc tế và
điều kiện cụ thể của giáo dục, đào tạo Việt Nam
2 Một số Danh mục giáo dục, đào tạo đã ban hành từ 1999 đến nay
Trang 5trưởng Tổng cục Thống kê trên cơ sở thoả thuận của Bộ Giáo dục và Đào tạo
và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có Quyết định số TCTK ban hành Bảng phân loại giáo dục - đào tạo nhằm mục đích áp dụng cho Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 1999 và để làm tài liệu nghiên cứu phân loại chi tiết chương trình giáo dục đào tạo của các cơ sở giáo dục, đào tạo
115/1998/QĐ-* Ngày 24 tháng 10 năm 2002, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có Quyết định số 44/2002/QĐ-BGD & ĐT ban hành “Danh mục chuyên ngành
đào tạo sau đại học”
Về cơ bản có thể thấy là các Bảng phân loại sau này đã khắc phục được những tồn tại của các Danh mục giáo dục, đào tạo trước đây Tuy nhiên cần có một Danh mục giáo dục, đào tạo mới vì một số lỹ lẽ sau đây:
- Yêu cầu của việc quản lý giáo dục nói chung và thống kê giáo dục nói riêng
- Yêu cầu của Luật Giáo dục (Điều 6 Hệ thống giáo dục quốc dân; Điều 13: Quản lý nhà nước về giáo dục); và của Luật thống kê (Điều 9: Bảng phân loại thống kê)
- Về pháp lý vẫn chưa có Danh mục giáo dục, đào tạo chung cho các cấp bậc và lĩnh vực giáo dục và đào tạo, vì Bảng phân loại 115 chỉ phục vụ cho Tổng đièu tra dân số và nhà ở; danh mục này chỉ là một bộ phận của Danh mục giáo dục, đào tạo chung
II.Cơ sở lý luận và thực tiễn phân loại giáo dục, đào tạo
Khi nghiên cứu hoàn thiện Danh mục giáo dục, đào tạo phải dựa trên
thực trạng nền giáo dục quốc dân Việt Nam được thể hiện tại Nghị định Luật giáo dục và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật (Luật giáo dục Việt Nam
- Điều 6: Hệ thống giáo dục quốc dân; Điều 13: quản lý nhà nước về giáo dục; Luật thống kê - Điều 9: Bảng phân loại thống kê, Đồng thời tham khảo kinh nghiệm và chuẩn mực của quốc tế và một số quốc gia (phân loại chuẩn quốc tế
về giáo dục (ISCED 1997) cùng với các tài liệu tham khảo khác của quốc tế về giáo dục và đào tạo
Khái niệm về giáo dục được hiểu là sự truyền đạt kiến thức được tổ chức
và duy trì nhằm mang lại trình độ nhất định cho mỗi người
Sự truyền đạt là quan hệ giữa 2 hay nhiều người liên quan đến truyền tải thông tin (thông báo, ý tưởng, kiến thức, chiến lược, ) Truyền đạt có thể trực tiếp hoặc không trực tiếp (từ xa), và có thể thông qua truyền hình hoặc phát thanh
Kiến thức là bất kể sự hòan thiện nào về cư xử, thông tin, kiến thức, sự hiểu biết, thái độ cư xử, giá trị hoặc những kinh nghiệm
Có tổ chức ở đây được hiểu là có kế hoạch theo một mẫu hoặc nối tiếp với mục tiêu nhất định Nó liên quan đến cung cấp cho một hay nhiều người hay một đại diện, môi trường học tập và phương pháp dạy học thông qua sự
Trang 6chương trình giáo dục phải tuân thủ Luật giáo dục, kết quả giáo dục phải đạt trình độ có bằng cấp và chứng chỉ
Được duy trì có nghĩa là đảm bảo thời gian và tính kế thừa tương đối ổn
Danh mục giáo dục, đào tạo này không bao gồm những hoạt động giáo dục không mang lại kiến thức và những hoạt động giáo dục không có tổ chức như việc học tập ngẫu nhiên hoặc bất ngờ xảy ra hoặc kiến thức có được thông qua kết quả của các cuộc họp, hội thảo không được coi là giáo dục vì
nó không có tổ chức
Để hiểu rõ phạm vi nghiên cứu của Danh mục giáo dục, đào tạo này, cần nắm vững một số nội dung sau:
Chương trình giáo dục, đào tạo là nội dung để giảng dạy, được xác định
trước của nền giáo dục Mục đích của nó là chuẩn bị cho nghiên cứu cao hơn một nghề nghiệp hoặc nhóm nghề nghiệp hoặc đơn giản chỉ là sự tăng lên của kiến thức và sự hiểu biết Việc hòan thành mục đích giáo dục thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hoặc một bằng cấp
Các chương trình giáo dục, đào tạo được phân loại chéo theo cấp trình độ (Level) (mầm non, tiểu học, phổ thông, dạy nghề, đại học, sau đại học ) và lĩnh vực giáo dục đào tạo (Field) (ngành, nghề, chương trình giáo dục, đào
tạo) mỗi tiêu thức là độc lập Vì vậy mỗi chương trình giáo dục có thể được
phân loại bằng kết hợp giữa cấp trình độ và lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Cấp trình độ giáo dục, đào tạo là sự đạt được kiến thức, kinh nghiệm qua
học tập và đã hòan thành nội dung của chương trình quy định Cơ sở để xác
định cấp trình độ là nội dung giáo dục.Tuy nhiên, do sự phong phú về nội dung giáo dục, đào tạo nên cần căn cứ vào cả nội dung và hình thức giáo dục,
đào tạo có liên quan Cần thiết phải thiết lập một hệ thống các tiêu chuẩn phân loại và có thứ tự ưu tiên trong quá trình sử dụng như: tiêu chuẩn chính, tiêu chuẩn phụ (thường là khả năng đầu vào, yêu cầu đầu vào tối thiểu, tuổi tối thiểu, vv ) đồng thời cần có những tiêu chuẩn bổ sung để đảm bảo phân loại
và xác định chính xác cấp độ của giáo dục
Trong thực tế khi áp dụng các tiêu chuẩn trên, trước hết phải quan tâm
đến nội dung giáo dục Tuy nhiên, cần áp dụng linh hoạt các tiêu chuẩn phụ và các tiêu chuẩn bổ sung tuỳ theo tình hình thực tế của nền giáo dục ở từng nước
Trang 7.Các cấp trình độ của giáo dục
Tiêu chuẩn chính Tiêu chuẩn phụ
Giáo dục tiểu học hoặc giai đoạn đầu của giáo dục cơ
Kết thúc chu kỳ sau 9 năm kể từ bắt đầu giáo dục tiểu học
Kết thúc giáo dục bắt buộc
Một số giáo viên tổ chức các lớp học trong lĩnh vực chuyên môn của mình
Giáo dục trung học cơ sở
Giai đoạn hai của giaó dục cơ bản
2 Dạng của chương trình tiếp nối hoặc nơi đến
Định hướng chương trình
3 Dạng giáo dục tiếp nối hoặc nơi đến
Định hướng chương trình
Thời gian lý thuyết cộng dồn kể từ bắt
đầu mức độ 3 Yêu cầu đầu vào,
đến ,Thời gian cộng dồn kể từ bắt đầu mức độ 3
Định hướng chương trình
Trang 8Thời gian lý thuyết cộng dồn tại trình
độ quốc gia hạng thứ ba và cấu trúc bằng cấp
6 Không
III Đề xuất Danh mục giáo dục, đào tạo mới của Việt Nam
Sự cần thiết phải đề xuất Danh mục giáo dục, đào tạo mới vì:
-Theo quy định tại Điều 9 của Luật thống kê công bố theo Lệnh số 13/2003/L/CTN, ngày 26/6/2003 của Chủ tịch nước và Điều 6 của Nghị định
số 40/2004/NĐ - CP, ngày 13/2/2004 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật thống kê, Danh mục giáo dục, đào tạo thuộc thẩm quyền ban hành của Thủ tướng Chính phủ
-Do sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và khoa học công nghệ nên ngày càng xuất hiện nhiều ngành nghề mới, đồng thời nhiều ngành nghề cũ không còn thích hợp và không được đào tạo nữa
-Xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế đòi hỏi Danh mục giáo dục, đào tạo của nước ta phải phù hợp để đảm bảo so sánh quốc tế số liệu thống kê về lĩnh vực này
-Hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng các Danh mục giáo dục,
đào tạo của quốc gia mình dựa trên cơ sở Bảng phân loại chuẩn của quốc tế về giáo dục, đào tạo
-Yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ tin học phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá (theo chỉ thị số 58/CT/TƯ, ngày 17/10/2000 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về triển khai ứng dụng và phát triển tổng thể công nghệ thông tin trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước giai đoạn 2001-2005, Quyết định 112/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/7/2001 về phê duyệt Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước)
đòi hỏi phải xây dựng, hoàn thiện các bảng danh mục và mã hoá chuẩn quốc gia
Và cuối cùng là do những tồn tại của các Danh mục trước đây như đã
đánh giá ở phần trên, với những lý do trên đây, việc nghiên cứu hoàn thiện Danh mục giáo dục, đào tạo để đáp ứng nhu cầu quản lý hiện nay là hết sức cấp bách và có ý nghĩa thiết thực
Danh mục giáo dục, đào tạo được soạn thảo theo các nguyên tắc cơ bản
Trang 9Khi nghiên cứu hoàn thiện bảng danh mục phải dựa trên các qui định của Luật Giáo dục, Luật Thống kê và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến giáo dục và đào tạo, đồng thời kế thừa các ưu điểm của các bảng phân loại trước đây
Danh mục giáo dục, đào tạo phải phù hợp với thực trạng giáo dục quốc gia trên cơ sở tham khảo có chọn lọc các tiêu chuẩn trong phân loại giáo dục,
đào tạo quốc tế ISCED ban hành năm 1997, nhằm cung cấp một khung chuẩn phân loại giáo dục, đào tạo theo chuẩn mực quốc tế để đánh giá, quản lý thống nhất nền giáo dục của quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế
Danh mục giáo dục, đào tạo của Việt Nam phải đảm bảo so sánh quốc
tế về giáo dục, thể hiện sự tôn trọng khuyến nghị của Liên Hợp Quốc về phân loại Muốn đạt được mục đích này khi phân loại phải lưu ý các mã số của bảng phân loại của Việt Nam phải có tính tương thích với mã của Bảng phân loại của quốc tế Điều này cũng cho phép nhiều mã nghề của Việt Nam tương thích với một mã nghề của quốc tế, nhưng ngược lại sẽ không so sánh được khi một mã nghề của Việt Nam tương đương với nhiều mã nghề của Bảng phân loại quốc tế Và như vậy có thể tách một mã nghề của quốc tế thành nhiều mã nghề của Việt Nam nhưng không thể gộp nhiều mã nghề của quốc tế thành một mã nghề của nước ta
Khi soạn thảo Danh mục giáo dục, đào tạo phải có tầm nhìn xa, đối với các ngành, các lĩnh vực có nhiều khả năng phát triển phải có các mã dự trữ để khi xuất hiện và có nhu cầu đào tạo sẽ bổ sung, làm như vậy sẽ không bị phá
vỡ khung phân loại chung trong quá trình bổ sung sửa đổi sau này
Danh mục giáo dục, đào tạo là khung phân loại cơ bản của chương trình giáo dục, đào tạo Trên cơ sở khung phân loại cơ bản này của chương trình giáo dục đào tạo để xây dựng các bảng phân loại chi tiết hơn để phục vụ cho nhu cầu quản lý sâu hơn của các đơn vị quản lý
Toàn bộ các chương trình giáo dục, đào tạo được chia thành 4 cấp
Cấp I: Trình độ giáo dục, đào tạo
Căn cứ để phân loại ở đây là căn cứ vào ISCED năm 1997 và cấp bậc học, trình độ trong Luật Giáo dục Việt Nam
Cấp II: Lĩnh vực giáo dục đào tạo
Căn cứ vào 25 lĩnh vực giáo dục trong ISCED năm 1997 và thực trạng,
xu hướng, tương lai của nền giáo dục Việt Nam để xác định lĩnh vực của từng cấp độ
Khi soạn thảo phải đảm bảo tính hệ thống, tính liên thông giữa các cấp bậc giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam
Phạm vi phân loại của Danh mục này bao gồm các chương trình giáo dục trong Hệ thống giáo dục quốc dân, nhà trường, cơ sở giáo dục khác của hệ thống, của các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, lực lượng vũ trang và của các cá nhân tham gia hoạt động giáo dục Có nghĩa là giáo dục là hệ thống thống nhất trong cả nước, trong đó bao gồm ngoài hệ thống chính thức của Nhà nước còn có từ nhiều thành phần khác trong nước, kể cả từ phía cá nhân, được giáo
Trang 10dục, đào tạo bằng nhiều hình thức như giáo dục, đào tạo dài hạn, tại chức, chính qui và không chính qui
Đối tượng phân loại là các chương trình giáo dục, đào tạo, theo khái niệm của ISCED, không phân theo đơn vị quản lý (Bộ, ngành, trường, khoa ).Trong thực tế, một đơn vị quản lý có thể đào tạo một hoặc nhiều chương trình, ngược lại một chương trình có thể được đào tạo ở nhiều đơn vị quản lý, và như vậy một chương trình giáo dục, đào tạo chỉ được phân vào một mã của bảng danh mục cho dù chương trình đó được đào tạo ở nhiều đơn vị quản lý khác nhau Xuyên suốt bảng danh mục, các chương trình giáo dục,
đào tạo được phân loại chéo theo 2 tiêu thức cấp trình độ và lĩnh vực giáo dục
đào tạo
Danh mục giáo dục, đào tạo
Mã cấp I Mã cấp II Tên gọi
Giáo dục trung học cơ sở
Các chương trình cơ bản Các chương trình giáo dục đặc biệt
Dạy nghề ngắn hạn
Nghệ thuật Nhân văn Khoa học xã hội và hành vi Báo chí và thông tin
Kinh doanh và quản lý Pháp luật
Khoa học tự nhiên Toán và thống kê Máy tính
Công nghệ kỹ thuật
Kỹ thuật
Kỹ thuật mỏ Chế biến Xây dựng và kiến trúc Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Thú y
Sức khoẻ
Trang 11An ninh quốc phòng Khác
Giáo dục trung học phổ thông
Các chương trình cơ bản Các chương trình giáo dục đặc biệt
Dạy nghề dài hạn sau trung học cơ sở
Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên Nghệ thuật
Nhân văn Khoa học xã hội và hành vi Báo chí và thông tin
Kinh doanh và quản lý Pháp luật
Khoa học tự nhiên Toán và thống kê Máy tính
Công nghệ kỹ thuật
Kỹ thuật
Kỹ thuật mỏ Chế biến Xây dựng và kiến trúc Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Thú y
Sức khoẻ Dịch vụ xã hội Khác sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân Vận tải
Môi trường và bảo vệ môi trường
An ninh quốc phòng Khác
Trung học chuyên nghiệp sau trung học cơ sở
Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên Nghệ thuật
Nhân văn Khoa học xã hội và hành vi Báo chí và thông tin
Kinh doanh và quản lý Pháp luật
Khoa học tự nhiên Toán và thống kê Máy tính
Trang 12Sức khoẻ Dịch vụ xã hội Khác sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân Vận tải
Môi trường và bảo vệ môi trường
An ninh quốc phòng Khác
Dạy nghề dài hạn sau trung học phổ thông
Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên Nghệ thuật
Nhân văn Khoa học xã hội và hành vi Báo chí và thông tin
Kinh doanh và quản lý Pháp luật
Khoa học tự nhiên Toán và thống kê Máy tính
Công nghệ kỹ thuật
Kỹ thuật
Kỹ thuật mỏ Chế biến Xây dựng và kiến trúc Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Thú y
Sức khoẻ Dịch vụ xã hội Khác sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân Vận tải
Môi trường và bảo vệ môi trường
An ninh quốc phòng Khác
Trung học chuyên nghiệp sau trung học phổ thông
Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên Nghệ thuật
Trang 13Khoa học tự nhiên Toán và thống kê Máy tính
Công nghệ kỹ thuật
Kỹ thuật
Kỹ thuật mỏ Chế biến Xây dựng và kiến trúc Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Thú y
Sức khoẻ Dịch vụ xã hội Khác sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân Vận tải
Môi trường và bảo vệ môi trường
An ninh quốc phòng Khác
Cao đẳng
Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên Nghệ thuật
Nhân văn Khoa học xã hội và hành vi Báo chí và thông tin
Kinh doanh và quản lý Pháp luật
Khoa học sự sống Khoa học tự nhiên Toán và thống kê Máy tính
Công nghệ kỹ thuật
Kỹ thuật
Kỹ thuật mỏ Chế biến Xây dựng và kiến trúc Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Thú y
Sức khoẻ Dịch vụ xã hội Khác sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân Vận tải
Trang 14Đại học
Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên Nghệ thuật
Nhân văn Khoa học xã hội và hành vi Báo chí và thông tin
Kinh doanh và quản lý Pháp luật
Khoa học sự sống Khoa học tự nhiên Toán và thống kê Máy tính
Công nghệ kỹ thuật
Kỹ thuật
Kỹ thuật mỏ Chế biến Xây dựng và kiến trúc Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Thú y
Sức khoẻ Dịch vụ xã hội Khác sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân Vận tải
Môi trường và bảo vệ môi trường
An ninh quốc phòng Khác
Thạc sỹ
Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên Nghệ thuật
Nhân văn Khoa học xã hội và hành vi Báo chí và thông tin
Kinh doanh và quản lý Pháp luật
Khoa học sự sống Khoa học tự nhiên Toán và thống kê Máy tính
Công nghệ kỹ thuật
Kỹ thuật
Trang 15Sức khoẻ Khác sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân Vận tải
Môi trường và bảo vệ môi trường
An ninh quốc phòng Khác
Tiến sỹ
Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên Nghệ thuật
Nhân văn Khoa học xã hội và hành vi Báo chí và thông tin
Kinh doanh và quản lý Pháp luật
Khoa học sự sống Khoa học tự nhiên Toán và thống kê Máy tính
Công nghệ kỹ thuật
Kỹ thuật
Kỹ thuật mỏ Chế biến Xây dựng và kiến trúc Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Thú y
Sức khoẻ Khác sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân Vận tải
Môi trường và bảo vệ môi trường
An ninh quốc phòng Khác
IV.Giải thích nội dung chủ yếu của cấp II -Lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Trang 16-Các chương trình nâng cao kỹ năng cá nhân như năng lực ứng xử, năng lực trí tuệ, khả năng tổ chức cá nhân, các chương trình định hướng cuộc sống
4 Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên gồm:
-Đào tạo giáo viên cho trẻ trước khi đến trường, tiểu học, nghề, thực
hành, các môn không phải nghề nghiệp, giáo dục giáo viên dạy cho người lớn,
và giáo viên dạy trẻ khuyết tật các chương trình đào tạo chung và đào tạo chuyên ngành
-Khoa học giáo dục: Phát triển nội dung các môn nghề và không phải nghề, kiểm tra và đánh giá chương trình, nghiên cứu giáo dục, khoa học giáo dục khác
5 Nghệ thuật gồm:
- Mỹ thuật (vẽ, đồ hoạ, điêu khắc)
- Nghệ thuật trình diễn (âm nhạc, múa, kịch, xiếc), nghệ thuật nghe nhìn (chụp ảnh, phim, sản xuất âm nhạc, sản xuất các chương trình phát thanh
và truyền hình, in ấn và xuất bản)
-Nhân văn khác: Diễn giải và dịch thuật, ngôn ngữ học, lịch sử, khảo cổ, triết học và đạo đức học
7 Khoa học xã hội và hành vi gồm:
-Kinh tế học, lịch sử kinh tế, chính trị học, xã hội học, nhân khẩu học, nhân chủng học, dân tộc học, tâm lý học, địa lý học (trừ địa lý tự nhiên), nghiên cưu hoà bình và chiến tranh, nhân quyền
8.Báo chí và thông tin gồm:
-Báo chí, thư viện, bảo tàng
-Kỹ thuật tư liệu
-Khoa học văn thư
9 Kinh doanh và quản lý gồm:
-Bán buôn, bán lẻ, tiếp thị, các quan hệ công cộng, bất động sản
-Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư
-Kế toán, kiểm toán
-Quản lý, quản trị hành chính, quản trị cơ sở, quản trị nhân sự
-Thư ký và công việc văn phòng
10.Luật pháp gồm:
-Công chứng, Luật ( luật địa phương, luật chung, luật quốc tế, luật lao
động, luật hàng hải vv ), luật học, lịch sử luật pháp
11 Khoa học sự sống gồm:
-Sinh vật học, thực vật học, vi khuẩn học, chất độc học, vi sinh học,
Trang 1712 Khoa học tự nhiên gồm:
-Thiên văn và khoa học không gian, vật lý học, các môn học có liên quan khác, hoá học, các môn học có liên quan đến hoá học, địa chất học, địa vật lý học, khoáng vật học, nhân chủng học hình thái, địa lý tự nhiên và các môn khoa học địa lý liên quan, khí tượng học và khoa học khí quyển, bao gồm cả nghiên cứu khí hậu, biển, khí tượng học, núi lửa và cổ sinh thái
13.Toán và thống kê gồm:
-Toán học, nghiên cứu điều hành, phân tích số, khoa học tính toán, thống kê và các lĩnh vực liên quan khác
14 Máy tính gồm:
-Khoa học máy tính: Thiết kế hệ thống, lập chương trình máy tính, xử lý
số liệu, mạng, hệ thống điều hành, phát triển phần mềm (phát triển phần cứng
được phân vào lĩnh vực kỹ thuật)
15 Công nghệ kỹ thuật gồm:
-Công nghệ kiến trúc, kỹ thuật công nghệ xây dựng, công nghệ điện,
điện tử và viễn thông, công nghệ cơ điện và bảo trì, công nghệ môi trường, công nghệ chế biến công nghiệp, công nghệ quản lý chất lượng, công nghệ cơ khí, công nghệ dầu khí, công nghệ khai thác, công nghệ kỹ thuật máy tính, công nghệ kỹ thuật vẽ thiết kế, công nghệ hạt nhân và các công nghệ khác
Xây dựng nhà cửa, công trình công nghiệp và dân dụng
20 Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản gồm:
Nông học, trồng trọt, chăn nuôi, nông học, chăn nuôi gia súc, làm vườn, lâm nghiệp và công nghệ sản phẩm rừng, công viên, vườn quốc gia, sinh vật hoang dã, nuôi trồng và khai thác thuỷ sản
Y tế cổ truyền
Dịch vụ y tế: Y tế cộng cộng, vệ sinh, vật lý trị liệu, hồi sức, xét
Trang 18Bào chế, bảo quản và dược học
Điều dưỡng, hộ sinh
Răng, hàm mặt: Nha khoa, vệ sinh, kỹ thuật viên thí nghiệm
23 Dịch vụ xã hội gồm:
Chăm sóc xã hội: chăm sóc người khuyết tật, chăm sóc trẻ em, các dịch
vụ thanh niên, chăm sóc người già
Công việc xã hội: tư vấn, phúc lợi,
24 Khách sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân gồm:
Khách sạn và dịch vụ, tham quan và du lịch, thể thao và giải trí, làm
đầu, chăm sóc sắc đẹp và các dịch vụ cá nhân khác, dịch vụ thẩm mỹ, khoa học nội trợ
25 Vận tải gồm:
Thuỷ thủ, nhân viên hàng hải, khoa học hàng hải, nhân viên hàng không, kiểm soát đường hàng không, điều hành đường sắt, điều hành xe cộ
đường bộ, dịch vụ bưu điện
26 Môi trường và bảo vệ môi trường gồm:
Duy trì môi trường, kiểm soát và bảo vệ, kiểm soát ô nhiễm nước và không khí, an toàn và bảo vệ lao động
27 An ninh quốc phòng gồm:
An ninh và trật tự xã hội: Công việc của cảnh sát và lưc lượng có liên quan, tội phạm học, phòng cháy và chữa cháy, an toàn công dân
Trang 19Phần hai Nghiên cứu hoàn thiện danh mục nghề nghiệp của việt nam
I Đánh giá thực trạng các Danh mục nghề nghiệp ở nước ta
1 Giai đoạn 1976 -1985
Sau khi nước nhà được thống nhất đến năm 1985 trước khi bắt đầu sự nghiệp đổi mới, nhiều ngành, nhiều doanh nghiệp đã tiến hành xây dựng hoặc biên soạn lại tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật các nghề công nhân để làm căn cứ
đào tạo, bồi dưỡng, nâng bậc lương và tổ chức lại lao động trong ngành, trong doanh nghiệp Khi tiến hành xây dựng hoặc biên soạn lại tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật các nghề công nhân, nhiều tên nghề đã được xem xét lại hoàn thiện tên gọi và cũng trong giai đoạn này có nhiều nghề mới hình thành nhưng tên nghề vẫn được gọi theo chủ quan của doanh nghiệp của ngành nên có nhiều nghề không được gọi đúng tên của nó, làm khó khăn cho công tác quản lý lao động Cũng trong thời kỳ này, năm 1979 căn cứ yêu cầu của công tác quản lý kế hoạch hoá, công tác hạch toán, công tác thống kê, thông tin kinh tế và cơ khí hoá tính toán: năm 1979, Tổng cục Thống kê đã ban hành bản “Danh mục nghề nghiệp” theo Quyết định số 100/TCTK-QĐ ngày 24 tháng 1 năm 1979 để sử dụng thống nhất trong tất cả các ngành, các cấp, các đơn vị cơ sở thuộc trung
ương và địa phương quản lý Việc phân loại nghề nghiệp trong bản Danh mục nghề nghiệp được chia thành: nghề nghiệp nghiêng về lao động trí óc và nghề nghiệp nghiêp về lao động chân tay Đối với nghề nghiệp nghiêng về lao động chân tay gồm: cấp 1 có 23 nhóm; cấp 2 có 100 nhóm và cấp 3 có 815 nghề Tuy nhiên, hầu như các doanh nghiệp cũng như các ngành chưa áp dụng bản Danh mục trên vào trong công tác quản lý lao động Lý do khiến cho bản Danh mục nghề nghiệp này ít phát huy tác dụng có nhiều nhưng chủ yếu là do nguyên nhân sau:
- Trong bản Danh mục trên, nhiều nghề có nội dung lao động hẹp, công việc
ít, độ phức tạp thấp, nhiều nghề chỉ có một vài công việc
Ví dụ: nghề vạch dấu ( mã cấp 3 là 14113) trong nhóm nghề cắt gọt kim loại (mã cấp 2 là 141); nghề đánh véc ni (mã cấp 3 là 18219) trong nhóm nghề chế biến lâm sản (mã cấp 2 là 182)… Nếu sử dụng tên nghề trên để xây dựng tiêu chuẩn cấp bậc nghề thì dẫn đến tình trạng là khung lương quá hẹp do độ phức tạp lao động của nghề thấp nên rất ít bậc nghề và người lao động chỉ làm việc vài năm là hết bậc nghề Do vậy, với trường hợp này phải áp dụng chế độ lương vượt khung hoặc người lao động phải chuyển nghề … khiến những công nhân làm nghề này không an tâm với nghề
- Ngược lại, một số nghề trong bản Danh mục nghề nghiệp lại có nội dung lao động quá lớn, độ phức tạp cao
Trang 20Như: nghề xây dựng các vật kiến trúc (mã cấp 3 là 24406) trong nhóm nghề lắp đặt thiết bị, máy móc, xây dựng đường dây (mã cấp 2 là 244) Nghề này gồm hàng chục công việc trong nhiều công đoạn khác nhau, cả đời người thợ làm nghề này chỉ đạt tới đỉnh cao của vài công đoạn Nên nghề này có thể gọi
là nghề “treo” vì không người công nhân nào thực hiện được đầy đủ thành thạo nội dung lao động của nghề
Trước thực trạng này nhiều doanh nghiệp, nhiều ngành đã tự gộp một số nghề có nội dung lao động hẹp, công việc ít, độ phức tạp thấp vào một nghề nào đó trong cùng nhóm nghề hoặc chia nhỏ các nghề có nội dung lao động rộng, độ phức tạp cao thành nhiều nghề Vì vậy, dẫn đến tình trạng tên gọi của các nghề trong thời kỳ này không thống nhất do được hình thành một cách tự
do theo ý của đơn vị sử dụng nghề đó, chưa được xem xét đầy đủ nội dung lao
- Còn 40% tên nghề cần được sửa đổi vì chưa đạt được yêu cầu chính Trong
đó có 20% tên nghề chưa phản ánh sát nội dung lao động của nghề; 14% tên nghề lẫn lộn với tên công việc; 6% tên nghề được gọi tuỳ tiện, mỗi nơi gọi một cách
2 Giai đoạn từ 1986 - 1991
Số lượng nghề luôn biến động theo thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội và việc áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật, công nghệ vào trong sản xuất và trong quản lý, tổ chức sản xuất, đòi hỏi phải thường xuyên cập nhật bổ
sung hoặc sửa đổi tên nghề
Trước tình hình trên và để đáp ứng yêu cầu công tác quản lý lao động, từ năm 1985 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã bắt đầu tiến hành xây dựng tập danh mục nghề công nhân nhằm thống nhất tên gọi các nghề công nhân làm cơ sở cho việc xây dựng tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật; danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc độc hại, nguy hiểm; hệ thống thang lương công nhân sản xuất; hệ thống bảng lương công nhân, nhân viên trực tiếp sản xuất kinh doanh và phục vụ … Nhưng, mãi đến năm 1991 bản “Danh mục nghề công nhân” mới được ban hành tạm thời theo Quyết định số 490/LĐTBXH-QĐ ngày 07 tháng 12 năm 1991 của Bộ trưởng
Bộ Lao động–Thương binh và Xã hội
Đối chiếu và so sánh giữa phân loại nghề công nhân trong bản Danh mục nghề công nhân với phân loại nghề nghiệp nghiêng về lao động chân tay trong bản Danh mục nghề nghiệp, cho thấy có sự khác biệt về một số vấn đề như:
Trang 21- Tên gọi của nhóm cấp 1 trong Danh mục nghề công nhân và tên gọi của nhóm cấp 1 tại phần nghề nghiệp nghiêng về lao động chân tay trong Danh mục nghề nghiệp còn chưa thống nhất
- Tên gọi của nhóm nghề (cấp 2) và việc phân loại và sắp xếp các nhóm nghề (cấp 2) vào nhóm cấp 1 cũng như việc sắp xếp các nghề (cấp 3) vào nhóm nghề (cấp 2) trong Danh mục nghề công nhân cũng khác nhiều so với tên gọi và việc phân loại và sắp xếp trong Danh mục nghề nghiệp đối với phần nghề nghiệp nghiêng về lao động chân tay
Ví dụ: nhóm nghề làm đường (mã cấp 2 là 243) trong danh mục nghề nghiệp được xếp vào nhóm cấp 1 là nghề nghiệp trong xây dựng, trong khi đó
ở Danh mục nghề công nhân nhóm nghề này gọi là các nghề về xây dựng chuyên ngành vận tải (mã cấp 2 là 161) và được xếp vào nhóm cấp 1 có tên gọi
là nghề trong giao thông vận tải và bưu điện; nghề thợ vàng bạc (kim hoàn) có mã cấp 3 là 32901 được xếp vào nhóm nghề nghiệp khác trong phục vụ công cộng và sinh hoạt thuộc nhóm cấp 1 là nghề nghiệp phục vụ công cộng và sinh hoạt trong bản Danh mục nghề nghiệp, trong khi đó ở Danh mục nghề công nhân nghề kim hoàn (mã cấp 3 là 01401) được xếp vào nhóm nghề khảm khắc chạm trên gỗ, đá, kim loại… thuộc nhóm cấp 1 là nghề tiểu thủ công nghiệp Ngay cả những nhóm cấp 1 trong cả hai danh mục có tên gọi giống nhau hoặc tương tự thì ở nhóm nghề (cấp 2) cũng vẫn có sự khác biệt
Sở dĩ có sự khác biệt và không thống nhất về tên gọi cũng như cách phân loại nghề trong hai bản danh mục nghề này là do thiếu sự phối hợp trong việc
đưa ra các tiêu chí xác định tên nghề và phân loại sắp xếp nghề trong danh mục Vì thế, các bản danh mục nghề trên chỉ phục vụ cho yêu cầu về quản lý riêng của từng ngành
Nhìn chung, bản Danh mục nghề công nhân đã khắc phục được một phần những vấn đề bất cập đối với phần nghề nghiệp nghiêng về lao động chân tay trong bản Danh mục nghề nghiệp tại thời điểm đó Tuy nhiên bản Danh mục nghề công nhân vẫn còn một số tồn tại sau:
- Vẫn còn một bộ phận tên nghề chưa phù hợp với nội dung, tính chất của nghề
Ví dụ: nghề nguội (kể cả kính quang học) có mã cấp 3 là 02105 thuộc nhóm nghề gia công chế tạo cơ khí có mã cấp 2 là 021
- Hình thức ngôn ngữ của tên gọi còn khó hiểu, thiếu trong sáng hoặc chưa
được Việt hoá do chuyển dịch từ tiếng nước ngoài
Ví dụ: nghề sản xuất xút và cô xút có mã cấp 3 là 04205 thuộc nhóm nghề sản xuất các hoá chất cơ bản có mã cấp 2 là 042; nghề minơ có mã cấp 3 là
06305 thuộc nhóm nghề khai thác khoáng sản (trừ dầu khí) có mã cấp 2 là 063
- Vẫn còn nhiều nghề có tên nghề quá khái quát, quá rộng
Trang 22Ví dụ: nghề sản xuất phụ kiện cho ngành dệt có mã cấp 3 là 10203 thuộc nhóm nghề dệt có mã cấp 2 là 102, tên gọi của nghề này là quá rộng
- Nhiều tên nghề thiếu tính hấp dẫn làm cho tâm lý chung trong xã hội không thích, kém hứng thú khi người công nhân thực hiện nhiệm vụ của nghề
được giao
Ví dụ: nghề kéo xe ba gác cố mã cấp 3 là 16309 thuộc nhóm nghề vận tải
bộ có mã cấp 2 là 163
- Bản danh mục nghề công nhân còn thiếu tên một số nghề
Ví dụ: một số nghề trong sản xuất xi măng lại không có trong danh mục
3.Giai đoạn từ 1991 đến nay
Trong giai đoạn này, sự nghiệp đổi mới đã tạo ra những biến đổi hết sức sâu sắc về kinh tế-xã hội, nền kinh tế nước ta đã có bước phát triển mạnh mẽ, trình
độ quản lý và năng lực lãnh đạo,công nghệ sản xuất và tổ chức sản xuất thay
đổi nhiều, điều này đã ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến các nghề nghiệp hiện nay Trước những nhu cầu và đòi hỏi của nền kinh tế trong xu thế hội nhập
và sự lưu chuyển lực lượng lao động nước ta với khu vực và thế giới đang xảy
ra, việc xây dựng và ban hành một tập danh mục nghề đáp ứng được yêu cầu trên càng trở nên cấp thiết
Năm 1999, Tổng cục Thống kê đã ban hành Danh mục nghề nghiệp theo Quyết định số 114/1998/QĐ-TCTK ngày 29 tháng 3 năm 1999 Mục đích, ý nghĩa ban hành bảng Danh mục nghề nghiệp này theo nội dung nêu ở phần
“Giới thiệu và hướng dẫn tóm tắt phân loại nghề nghiệp” là: phục vụ yêu cầu quản lý nói chung; phục vụ công tác thống kê, tổng điều tra dân số, so sánh quốc tế về lĩnh vực nghề nghiệp nói riêng
Bảng Danh mục nghề nghiệp này đã phân loại nghề theo 4 mức tay nghề khái quát Cấu trúc của hệ thống phân loại nghề được thiết kế theo hình tháp 4 cấp: cấp I có 10 nhóm nghề, cấp II có 34 nhóm nghề được chia nhỏ từ 10 nhóm cấp I, tương tự cấp III có 130 nhóm và cấp IV có 458 nhóm nghề Nhóm các nhà lãnh đạo và lực lượng quân đội không áp dụng mức tay nghề Nhóm các nhà chuyên môn kỹ thuật bậc cao và bậc trung áp dụng mức tay nghề thứ 3 và
4 Đối với công nhân những người lao động trực tiếp tại vị trí sản xuất, dịch vụ
được xếp vào hai mức tay nghề thứ nhất và thứ hai (mức tay nghề không đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật hoặc mức tay nghề tương ướng với trình độ chuyên môn kỹ thuật sơ cấp hay công nhân kỹ thuật)
Có thể nói bảng Danh mục nghề nghiệp này được soạn thảo dựa theo bảng phân loại chuẩn quốc tế về nghề nghiệp (ISCO) có kế thừa bảng danh mục nghề nghiệp và hệ thống chức danh hiện hành của nước ta nên đã đáp ứng được yêu cầu quản lý trong nước và đảm bảo được yêu cầu so sánh quốc tế Đặc biệt Danh mục nghề nghiệp hiện hành đã đóng góp một phần vào thành công của
Trang 23Tuy nhiên, bảng danh mục nói trên vẫn còn nhiều những hạn chế cần phải
được nghiên cứu, xem xét để hoàn thiện cho phù hợp với thực tế sử dụng hiện nay Cụ thể:
- Có một số nghề trong Danh mục nói trên còn thiếu hoặc nếu có lại không hợp lý cần xem xét bổ sung, sửa đổi
Ví dụ: Nhóm các nhà lãnh đạo trong các ngành các cấp và các đơn vị trong bảng Danh mục nghề nghiệp là bao gồm những người làm việc trong các ngành, các cấp và trong các đơn vị sản xuất kinh doanh có chức vụ, có quyền lực, có quyền quản lý, chỉ huy, điều hành, có quyền lực từ trung ương đến cơ
sở Với khái niệm này, người làm nghề lãnh đạo phải là người có chức vụ, quyền quản lý, chỉ huy, điều hành, có quyền lực từ trung ương đến cơ sở, nhưng trong danh mục nghề nghiệp quy định “Nghề lãnh đạo chỉ áp dụng cho cấp Vụ và tương đương trở lên (đối với cấp trung ương), Uỷ viên Uỷ ban nhân dân và trưởng/phó ngành, ban, sở và tương đương trở lên (đối với cấp huyện/tỉnh) Kết quả Tổng điều tra Dân số và nhà ở 1/4/1999 cho thấy có 0,57
% dân số hiện đang làm nghề lãnh đạo Như vậy ở đây cấp phòng không được công nhận là nghề lãnh đạo mặc dù cấp này phù hợp với khái niệm qui định ở trên
Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện hiện đang tồn tại song trong Danh mục hiện hành không có các chức danh lãnh đạo này Nhóm thợ vận hành máy nông nghiệp và các máy móc thiết bị khác có động cơ (mã cấp 3 là 833) có thợ vận hành máy cày và các thiết bị có liên quan (mã cấp 4 là 8332) nhưng trong thực tế nếu thợ vận hành máy cày có động cơ thì thuộc nhóm có mã cấp 4 là 8331 (thợ vận hành máy chuyên dùng cho nông nghiệp và lâm nghiệp), còn nếu máy cày được gắn theo máy kéo thì thuộc nhóm có mã cấp 4 là 8333 (thợ vận hành máy kéo và thiết bị có liên quan) Trong khi đó lại không có thợ vận hành máy và các thiết bị trong thi công xây dựng công trình như: máy đào hào, trộn và máy rải bê tông, nhựa …
- Vẫn có nhiều tên nghề trong Danh mục còn khó hiểu do hình thức ngôn ngữ thiếu trong sáng hoặc chưa được Việt hoá do chuyển dịch từ tiếng nước ngoài
Ví dụ: trong nhóm lao động giản đơn trong giao thông vận tải và bốc xếp hàng hoá (mã cấp 3 là 933) có tên gọi là điều khiển phương tiện có súc vật kéo (mã cấp 4 là 9332) nếu gọi là vận chuyển người, hàng hoá bằng phương tiện do súc vật kéo thì phù hợp và dễ hiểu hơn
- Hầu hết tên gọi của nhóm cấp 4 trong bảng Danh mục này là tên gọi chung cho một nhóm nghề, nên không phù hợp với thực tiễn tổ chức sản xuất, phân công và sử dụng lao động hiện nay và để có thể sử dụng trong công tác quản lý lao động thì cần phải có danh mục tên nghề thật cụ thể không thể gọi chung như trong Danh mục nghề nghiệp Mặt khác, do giới hạn áp dụng ghi trong Quyết định ban hành bảng Danh mục nghề nghiệp nói trên là: “để áp
Trang 24dụng cho công tác tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999” Vì vậy, Danh mục nghề nghiệp này chưa được sử dụng trong công tác quản lý lao động
3 Nhận xét chung về thực trạng sử dụng tên nghề hiện nay
Tồn tại lớn nhất và xuyên suốt trong các bản danh mục nghề hiện hành vẫn
là việc xác định tên nghề
Do chưa có các tiêu chí thống nhất về xác định tên gọi của nghề cũng như cách sắp xếp phân loại nên các tập danh mục nghề hiện hành chỉ đáp ứng được yêu cầu riêng về quản lý của từng ngành, không thể sử dụng chung để quản lý lao động xã hội được
Nguyên nhân chủ yếu là do:
- Nhiều tên nghề được dịch từ tên nghề của nước ngoài đưa vào nước ta và
được tiếp nhận một cách thụ động, máy móc, không liên quan trực tiếp với tổ chức quản lý và sản xuất, với quy trình công nghệ sử dụng trong sản xuất Cơ quan Nhà nước quản lý về nghề chưa quan tâm tới “nội dung” của nghề, ngay cả các cơ quan, đơn vị là nơi sử dụng lao động cũng ít chú ý tới tên nghề Hầu hết tên gọi của các nghề công nhân là do doanh nghiệp sử dụng tên dịch từ các tài liệu của nước ngoài hoặc tiếp nhận qua trao đổi giao dịch, hoặc gọi tên nghề theo phong tục tập quán địa phương
- Trong một thời gian dài sử dụng tên gọi của các nghề, các cơ quan, các
đơn vị sản xuất kinh doanh chỉ biết sử dụng và không có hướng dẫn của cơ quan Nhà nước quản lý về nghề đối với những vấn đề như: sự hình thành tên nghề như thế nào, có phải tên nghề chỉ là sự quy ước hay chỉ là một ký hiệu kèm theo một khái niệm nào đó; căn cứ để đặt tên nghề dựa vào đâu; tên nghề phải đạt được những yêu cầu gì… Tất cả những vấn đề đó chưa được đề cập
đến để xem xét, nghiên cứu, đưa ra những chuẩn mực thống nhất để xác định tên gọi của các nghề
- Quá trình xây dựng đất nước trong thời kỳ này có nhiều thay đổi về cơ cấu
tổ chức, công nghệ mới được đưa vào sử dụng ở nước ta nhưng vẫn tồn tại nhiều công nghệ sản xuất lạc hậu, cùng với sự xuất hiện những máy móc thiết
bị hiện đại đồng thời vẫn còn nhiều thế hệ máy móc thiết bị được chế tạo cách
đây hàng chục năm, thậm trí gần trăm năm vẫn được sử dụng Trong thực tiễn
đang tồn tại đồng thời những nhà máy với trình độ tự động cao và cả những nhà máy có công nghệ sản xuất xen kẽ giữa thủ công-máy
Trình độ công nghệ sản xuất không đồng đều, tổ chức sản xuất muôn hình muôn vẻ lại không có sự hướng dẫn, quản lý của Nhà nước về tên nghề nên tất nhiên sẽ tồn tại những tên nghề tuỳ tiện, không theo một nguyên tắc nào, không dựa trên một căn cứ nào và hệ quả là tạo nên tình trạng lộn xộn về tên gọi của các nghề
II.Cơ sở lý luận và thực tiễn phân loại nghề nghiệp
Trang 25Danh mục nghề nghiệp ở nước ta đã có từ lâu, được hình thành và phát triển gắn liền với quá trình xây dựng và tổ chức Nhà nước, quản lý xã hội, phát triển kinh tế Cùng với sự ứng dụng những tiến bộ của khoa học công nghể trong hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh và dịch vụ đã làm cho nghề nghiệp ngày càng phát triển đa dạng và biến đổi cho phù hợp với sự phát triển của công nghệ, tổ chức sản xuất
Khi xây dựng được phân loại nghề nghiệp là đã định rõ được tên nghề và cũng có nghĩa là đã xác định được nội dung lao động của nghề Đối với công tác quản lý lao động, việc xác định đúng tên nghề trở nên có ý nghĩa quan trọng, vì nó nâng cao trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ của người lao động Khi qui định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và vị trí làm việc để trả lương hợp lý là đã đảm bảo tạo điều kiện cho người lao động thực hiện có hiệu quả chức trách của mình
Phân loại nghề nghiệp là căn cứ để kế hoạch hoá về lao động, định mức biên chế, số lượng lao động phù hợp với yêu cầu quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh Nhờ có tiêu chuẩn nghề nghiệp các cơ quan, tổ chức, các doanh nghiệp mới có thể:
1, Lựa chọn, sử dụng lao động theo đúng yêu cầu của từng vị trí làm việc;
2, Có căn cứ và điều kiện để kiện toàn tổ chức lao động, tổ chức quản lý hợp
lý theo yêu cầu của công tác quản lý, sản xuất kinh doanh và dịch vụ;
3,Việc tuyển chọn và bố trí lao động sẽ dễ dàng và thuận lợi;
4, Có cơ sở để định rõ ngạch, bậc, tiền lương đãi ngộ cho người lao động phù hợp với đóng góp về số lượng và chất lượng lao động;
5, Có cơ sở đánh giá khả năng, trình độ của người lao động chính xác, hợp
lý
Dưới góc độ quản lý lao động, tên nghề không phải đơn thuần để gọi mà
để làm cơ sở cho việc xây dựng tiêu chuẩn ngạch bậc, cấp bậc nghề, phân loại lao động theo nghề, trả công lao động, phân công và sử dụng lao động một
cách hợp lý và có hiệu quả
Nội dung lao động được thể hiện về mặt chất lượng và số lượng của các thao tác lao động đặc trưng bởi đối tượng lao động, công cụ lao động, quy trình công nghệ và trình độ lành nghề của công nhân Việc sử dụng các phương tiện, công cụ hiện đại, phức tạp như: thiết bị cơ giới hoá, tự động hoá, số hoá… trong sản xuất sẽ làm tăng tính chất lao động trí lực của lao động chân tay và giảm dần các nhóm thao tác lao động chân tay Việc phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học cao dẫn đến hàm lượng trí tuệ trong lao động của chân tay không ngừng tăng lên Nội dung lao động của mỗi nghề ngày nay
đòi hỏi người thợ không những phải đổi mới tri thức, hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp mà còn phải nâng cao trình độ hiểu biết
Trang 26Trong công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành, trong sản xuất cũng như các hoạt động dịch vụ, dưới ảnh hưởng của tiến bộ kỹ thuật và công nghệ luôn luôn xuất hiện hai xu thế trái ngược nhau là tích hợp và phân hoá Nhiều nghề diện hẹp được tích hợp với nhau thành nghề diện rộng, đồng thời lại có những nghề khác được phân hoá thành các nghề chuyên sâu hẹp ở trình độ cao hơn, bên cạnh đó sẽ xuất hiện những nghề mới Xu hướng chung hiện nay là tăng hàm lượng chất xám trong hoạt động nghề nghiệp của công nhân, yêu cầu về chất lượng lao động nghề nghiệp ngày càng cao, đòi hỏi người thợ phải được đào tạo với chất lượng ngày càng cao hơn
- Nghề theo khái niệm được hiểu là một loại hoạt động lao động xác định trong hệ thống phân công lao động xã hội; là tổng hợp các kiến thức lý luận, hiểu biết và kỹ năng, kỹ xảo thực hành mà con người tiếp thu đựoc do kết quả
đào tạo chuyên môn và tích luỹ kinh nghiệm trong thực tế lao động để hoàn thành một công tác hoặc công việc nhất định
- Khái niệm về nghề nói chung còn được hiểu là: tên đặt cho cho một nhóm người lao động thực hiện cùng những nhiệm vụ và công việc tương tự nhau, nhằm mục đích thông thường là kiếm sống
Trong một nghề có nhiều vị trí làm việc khác nhau ở mỗi vị trí làm việc người hành nghề thực hiện một số nhiệm vụ và công việc nhất định của nghề Với những vị trí khác nhau trong cùng một nghề có thể bao gồm những nhiệm
vụ và công việc không trùng nhau Sự phân biệt giữa nghề và vị trí làm việc chỉ
là tương đối, trong nhiều trường hợp một vị trí làm việc cũng có thể được gọi là một nghề hoặc khi số lượng những nhiệm vụ và công việc của các vị trí làm việc đủ lớn có thể hình thành nên một nghề mới
2 Nguyên tắc và tiêu chuẩn phân loại
Bảng danh mục nghề nghiệp về bản chất là bản liệt kê và sắp xếp tên các nghề trong xã hội một cách khoa học thống nhất dựa trên một số tiêu chuẩn và nguyên tắc nhất định
Nguyên tắc cơ bản trong việc xác định và đặt tên nghề là phải ngắn gọn, phổ thông (thường dùng), dễ hiểu và hiện đại để tránh tâm lý e ngại vì tên nghề cho người lao động
Danh mục nghề nghiệp được phân loại dựa trên hai khái niệm chủ yếu ,
đó là loại công việc đang làm và khái niệm tay nghề
Loại công việc là tập hợp các nhiệm vụ và trách nhiệm gắn liền với
phương tiện và công cụ để thực hiện nó Loại công việc là cơ sở để phân loại nghề
Tay nghề là khả năng thực hiện các nhiệm vụ và trách nhiệm của một
nghề đòi hỏi Tay nghề được biểu hiện trên hai mặt – trình độ tay nghề và
Trang 27Trình độ tay nghề là mức độ thành thạo trong công việc, là sự kết hợp của mức độ phức tạp và phạm vi mà nhiệm vụ và trách nhiệm phải giải quyết, còn chuyên sâu tay nghề được xác định từ lĩnh vực chuyên môn, phạm vi tri thức mà công việc đòi hỏi, theo công cụ, máy móc sử dụng, theo nguyên vật liệu dùng trong sản xuất và các chủng lọai hàng hoá và dịch vụ được sản xuất
Mức tay nghề thứ ba: tương ứng với trình độ trung học chuyên nghiệp hoặc cao đẳng
Mức tay nghề thứ tư: tương ứng với trình độ đại học và tương đương trở lên
Việc sử dụng các phân tổ về tiêu chuẩn và trình độ học vấn để hình thành
4 mức tay nghề không có nghĩa là tay nghề cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ và trách nhiệm của một nghề chỉ có được thông qua quá trình giáo dục đào tạo chính qui, mà tay nghề của một người còn có thể được thông qua
đào tạo không chính qui hoặc do tích luỹ kinh nghiệm
Như vậy, khi phân loại nghề phải chú ý đến tiêu chuẩn và trình độ của nghề ở Việt Nam, trong chế độ tiền lương Nhà nước qui định đối với công chức, viên chức phải dựa vào tiêu chuẩn nghiệp vụ, chuyên môn; đối với công nhân dựa vào tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật mà trong tiêu chuẩn được xây dựng nói chung thì có yếu tố trình độ thông qua đào tạo cụ thể:
a, Đối với công chức, viên chức hành chính, sự nghiệp: trình độ đào tạo theo yêu cầu của nghề được đánh giá theo 10 cấp độ phức tạp về đào tạo:
1 Học hết phổ thông cơ sở (chỉ cần tiếp cận qua hướng dẫn thời gian ngắn có thể làm ngay được)
2 Học hết phổ thông trung học hoặc phổ thông cơ sở có qua lớp nghiệp
Trang 287 Tốt nghiệp đại học (đúng nghề) hoặc trung học chuyên nghiệp thêm nhiều lớp đào tạo chuyên đề trên 2 năm
8 Tốt nghiệp đại học + bồi dưỡng sau đại học chuyên sâu từ 2 năm trở lên, hoặc đại học + một lớp chuyên đề dưới 1 năm từ 2 lớp trở lên
9 Cần nhiều bằng đại học (từ 2 trở lên) hoặc trên đại học qua một số chuyên ngành sâu trên 1 năm
10 Cần nhiều bằng đại học hoặc trên đại học + nhiều chuyên ngành trên
2 năm
b, Đối với công nhân sản xuất, kinh doanh: các bậc kỹ thuật hệ số lao
động phức tạp được xây dựng căn cứ vào thời gian cần thiết đáp ứng yêu cầu của nghề hoặc công việc, cụ thể:
-Trình độ văn hoá phổ thông hệ 10 năm cần thiết để có thể vào học nghề(không lấy theo trình độ văn hoá phổ thông thực tế của người vào học nghề);
-Tổng thời gian (đào tạo nghề + bổ túc + bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề) để đạt bậc hiện giữ (thấp nhất hoặc cao nhất); thời gian này được qui đổi
về thời gian học văn hoá phổ thông là 1 năm học bằng 1,75 năm học phổ thông;
-Thời gian làm việc, tích luỹ kinh nghiệm từ khi vào nghề đến khi đạt bậc cao nhất (trừ thời gian bổ túc + bồi dưỡng tay nghề tính trong thời gian nói trên); thời gian này được qui đổi về thời gian học văn hoá phổ thông là 1 năm tích luỹ bằng 0,83 năm học phổ thông;
- 7,5 năm: trình độ văn hoá phổ thông cần thiết và thời gian học nghề, tập sự làm công việc giản đơn nhất trong tất cả các nghề hoặc nhóm nghề
III Đề xuất Danh mục nghề nghiệp mới
Bảng danh mục nghề nghiệp là hệ thống phân loại theo cấu trúc thứ bậc, bao gồm 4 cấp, cấp I: 10 nhóm; cấp II: 28 nhóm; cấp III: 116 nhóm và cấp IV:
390 nhóm (xem bảng dưới đây):
IV
Mức tay nghề 1.Các nhà lãnh đạo
2.Các nhà chuyên môn kỹ thuật bậc cao
3.Các nhà chuyên môn kỹ thuật bậc trung
4.Nhân viên kỹ thuật và nhân viên văn
Trang 29Đối với mỗi nhóm ở 4 cấp của bảng danh mục đều sử dụng hệ mã bằng
số để miêu tả vắn tắt tên gọi và nội dung của các nghề
Cấp I của bảng danh mục các nghề được phân thành 10 nhóm, từ nhóm 2
đến nhóm 9 theo tiêu chuẩn phạm trù trình độ đạo tạo và tương đương trình độ
đào tạo có được thông qua kinh nghiệm thực tế Riêng nhóm 1 và nhóm 0
không áp dụng khái niệm mức tay nghề vì những tay nghề để thực hiện các
nhiệm vụ và trách nhiệm của các nghề trong 2 nhóm này thay đổi rất lớn và rất
khác nhau không thể so sánh với bất kỳ một mức tay nghề nào và vì vậy không
thể ghép vào bất kỳ một trong bốn mức tay nghề nói trên
Cấp II và cấp III của bảng danh mục nghề nghiệp được chi tiết ra từ cấp I
căn cứ vào trình độ chuyên sâu tay nghề, lĩnh vực tri thức, chuyên môn đòi hỏi,
công cụ, máy móc thiết bị sử dụg, nguyên vật liệu cũng như các chủng loại
hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra
Cấp IV của Danh mục nghề nghiệp gồm 390 nhóm đơn vị, giới thiệu
mức chi tiết nhất đạt tới từng nghề nghiệp cụ thể Tuy nhiên, trong một số
trường hợp cũng còn gộp một số nghề với nhau
Số lượng nghề và sự phân loại nghề nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào qui
mô nền kinh tế, mức độ phát triển kinh tế, xã hội, trình độ khoa học công nghệ,
phương thức tổ chức sản xuất và hoàn cảnh lịch sử của từng giai đoạn
Danh mục nghề nghiệp
Các nhà lãnh đạo Đảng CSVN cấp Trung ương Trưởng ban, Phó ban trở lên
Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng và tương đương
Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ khối cơ quan kinh tế Trung ương
Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ cơ quan Trung ương
Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng
Trang 30Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ khối cơ quan kinh tế cấp tỉnh
Bí thư, Phó bí thư đảng uỷ của sở, ngành cấp tỉnh
Uỷ viên Ban chấp hành Đảng bộ cấp tỉnh Các nhà lãnh đạo Đảng cấp huyện
Trưởng, Phó ban trở lên cấp huyện
Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ các ban, ngành cấp huyện
Uỷ viên Ban chấp hành Đảng bộ cấp huyện Các lãnh đạo Đảng cấp xã, phường
Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ cấp xã, phường Lãnh đạo Đảng trong các cơ quan hành chính sự nghiệp
Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ Lãnh đạo Đảng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh
Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ
Các nhà lãnh đạo trong các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp
Quốc hội Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm các Uỷ ban và tương đương trở lên
Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm và tương đương Bộ trưởng, Thứ trưởng trở lên làm việc tại văn phòng Chính phủ
Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng và tương đương Các bộ ngành và cơ quan thuộc Chính phủ
Bộ trưởng, Thứ trưởng và tương đương của các bộ, ngành, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ
Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng và tương đương Toà án nhân dân Tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao và tương đươngCác chức vụ tương đương Vụ trưởng và Phó Vụ trưởng làm việc ở Toà án nhân dân Tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân ở địa phương Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện
Trang 31Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Chủ tịch, Phó chủ tịch và thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện
Trưởng ban, Phó trưởng ban và tương đương trong các cơ quan của Hội đồng nhân dân cấp huyện
Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã
Uỷ ban nhân dân (kể các cơ quan chuyên môn) Chủ tịch, Phó chủ tịch và Uỷ viên thường trực UBND cấp tỉnh Chủ tịch, Phó chủ tịch và Uỷ viên thường trực UBND cấp huyện Chủ tịch, Phó chủ tịch và Uỷ viên thường trực UBND cấp xã Trưởng ngành, Phó ngành, sở, ban và tương đương của các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh
Trưởng ngành, Phó ngành, sở, ban và tương đương của các cơ quan chuyên môn cấp huyện
Uỷ viên Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
Uỷ viên Uỷ ban nhân dân cấp huyện
Lãnh đạo trong các tổ chức đoàn thể, hiệp hội
Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên CSHCM, Hội Cựu chiến binh (chuyên trách)
Từ Uỷ viên trở lên cấp Trung ương
Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng và tương đương cấp Trung ương
Từ Uỷ viên trở lên cấp tỉnh
Từ Uỷ viên trở lên cấp huyện Liên đoàn Lao động (chuyên trách)
Từ Uỷ viên trở lên của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng và tương đương của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Từ Uỷ viên trở lên của Liên đoàn Lao động cấp tỉnh
Từ Uỷ viên trở lên của Liên đoàn Lao động cấp huyện Chủ tịch, Phó chủ tịch của các công đoàn cơ quan bộ, ngành ở Trung ương
Chủ tịch, Phó chủ tịch của các tổ chức công đoàn doanh nghiệp
và các tổ chức khác
Lãnh đạo trong các tổ chức nghiệp chủ, nhân đạo và vì quyền lợi đặc thù khác
Các tổ chức nghiệp chủ (chuyên trách) Chủ tịch, Phó chủ tịch của tổ chức nghiệp chủ Các tổ chức nhân đạo và vì quyền lợi đặc thù khác
Trang 32Lãnh đạo trong các đơn vị sự nghiệp khoa học và giáo dục
Lãnh đạo trong các Viện nghiên cứu khoa học Viện trưởng, Phó Viện trưởng và tương đưong của các viện cấp quốc gia
Viện trưởng, Phó Viện trưởng và tương đương của các Viện thuộc bộ, ngành
Viện trưởng, Phó Viện trưởng các Viện nghiên cứu nhỏ hơn Lãnh đạo trong các cơ sở giáo dục, đào tạo
Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng các trường cấp quốc gia Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng các trường thuộc bộ, ngành Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng các trường nhỏ hơn
Lãnh đạo các đơn vị trực thuộc viện, trường
Lãnh đạo trong các đơn vị sản xuất kinh doanh và dịch vụ
Lãnh đạo trong các Tổng công ty, Liên hiệp và tương đương Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng quản trị
Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc Lãnh đạo trong các đơn vị sản xuất và triển khai thuộc Liên hiệp, Tổng công ty lớn trong các lĩnh vực:
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản Công nghiệp khai thác; công nghiệp chế biến; sản xuất và phân phối điện, ga, khí đốt và nước
Xây dựng, kiến trúc Thương nghiệp bán buôn, bán lẻ và sửa chữa Khách sạn, nhà hàng
Vận tải, kho bãi và bưu chính viễn thông Dịch vụ kinh doanh
Dịch vụ cá nhân và dịch vụ công cộng Các đơn vị sản xuất và triển khai khác Lãnh đạo trong các đơn vị quản lý thuộc Liên hiệp, Tổng công ty lớn thuộc các lĩnh vực:
Tài vụ, hành chính quản trị Nhân sự và tổ chức
Bán hàng và tiếp thị Quảng cáo và quan hệ công cộng Cung ứng và phân phối
Dịch vụ tin học Nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ Các đơn vị khác chưa được phân vào đâu Lãnh đạo trong các đơn vị sản xuất kinh doanh và dịch vụ nhỏ thuộc các lĩnh vực:
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản
Trang 33Vận tải, kho bãi và bưu chính viễn thông Dịch vụ kinh doanh
Dịch vụ cá nhân và dịch vụ công cộng Các đơn vị khác chưa được phân vào đâu
Các nhà chuyên môn kỹ thuật bậc cao (có trình độ tương
đương đại học trở lên) Các nhà chuyên môn kỹ thuật bậc cao trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, toán và khoa học kỹ thuật
Chuyên gia vật lý và hoá học Chuyên gia vật lý, thiên văn học và xạ thuật học
Chuyên gia khí tượng học
Chuyên gia hóa học cơ bản Chuyên gia địa chât và địa vật lý Chuyên gia thuỷ văn học và hải dương học Chuyên gia toán
Chuyên gia toán Chuyên gia tin học Chuyên gia thiết kế và phân tích hệ thống máy tính Chuyên gia lập trình
Chuyên gia tư vấn máy tính Chuyên gia khác về máy tính Các nhà chuyên môn kỹ thuật bậc cao trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật
Kiến trúc sư công trình xây dựng dân dụng và công cộng Các chuyên gia qui hoạch đô thị và giao thông
Các nhà chuyên môn kỹ thuật bậc cao trong lĩnh vực khoa học sự sống, y, dược học
Chuyên gia khoa học sự sống Chuyên gia sinh vật học, động vật học và thực vật học Chuyên gia dược lý học, bệnh lý học
Trang 34Các nhà chuyên môn y học (trừ y tá, hộ lý cao cấp) khác chưa
Giáo viên trung học chuyên nghiệp, dạy nghề Giáo viên trung học chuyên nghiệp
Giáo viên dạy nghề dài hạn Giáo viên dạy nghề ngắn hạn Giáo viên trung học
Giáo viên trung học phổ thông Giáo viên trung học cơ sở Giáo viên mầm non và tiểu học Giáo viên mầm non
Giáo viên tiểu học Giáo viên dạy các đối tượng khuyết tật Giáo viên dạy các đối tượng khuyết tật Các nhà chuyên môn khác trong giáo dục, đào tạo Chuyên gia phương pháp giáo dục
Chuyên gia thanh tra giáo dục Chuyên gia giáo dục, đào tạo khác chưa được phân vào đâu
Các nhà chuyên môn kỹ thuật bậc cao khác
Các nhà chuyên môn phục vụ quản lý Chuyên gia kế toán, kiểm toán
Chuyên gia tài chính, ngân hàng Chuyên gia kế hoạch, đầu tư
Chuyên gia thống kê Chuyên gia vật giá, lao động tiền lương
Trang 35Chuyên gia luật pháp Luật sư
Thẩm phán Chuyên gia luật khác chưa được phân vào đâu Chuyên gia lưu trữ, thư viện và thông tin tư liệu Chuyên gia bảo tồn, bảo tàng
Chuyên gia thư viện, thông tin tư liệu Các nhà chuyên môn về khoa học xã hội và các nhà chuyên môn
có liên quan Chuyên gia kinh tế Chuyên gia xã hội học, nhân chủng học, dân tộc học và khảo cổ học
Chuyên gia triết học, lịch sử học, chính trị học Chuyên gia ngôn ngữ học, dịch thuật học, phiên dịch Chuyên gia tâm lý học
Chuyên gia về công tác xã hội Chuyên gia về khoa học xã hội khác chưa được phân vào đâu Các nhà soạn giả, sáng tác và nghệ sĩ biểu diễn, ca hát
Nhà văn, nhà thơ
Nhà báo và các soạn giả khác Nghệ nhân điêu khắc, hoạ sĩ và các nghệ sĩ có liên quan Nhạc sĩ, nhạc công
Ca sĩ Biên đạo múa và diễn viên múa
Đạo diễn, diễn viên điện ảnh và sân khấu Các nhà soạn giả, sáng tác, nghệ sĩ biểu diễn, ca sĩ khác chưa
được phân vào đâu
Các nhà chuyên môn kỹ thuật bậc trung (trình độ tương
đương trung học chuyên nghiệp) Các nhà chuyên môn kỹ thuật bậc trung trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật
Kỹ thuật viên trong lĩnh vực khoa học tự nhiên
Kỹ thuật viên trong lĩnh vực vật lý
Kỹ thuật viên hoá học
Kỹ thuật viên địa chất, địa vật lý
Kỹ thuật viên thiên văn, khí tượng học
Kỹ thuật viên trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật
Kỹ thuật viên xây dựng
Trang 36Kỹ thuật viên hoá chất
Kỹ thuật viên mỏ và luyện kim
Kỹ thuật viên can vẽ kỹ thuật
Kỹ thuật viên trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật khác chưa được phân vào đâu
Kỹ thuật viên liên quan đến máy tính Trợ lý lập trình máy tính
Trợ lý phân tích máy tính
Kỹ thuật viên vận hành thiết bị tin học
Kỹ thuật viên điều khiển người máy công nghiệp
Kỹ thuật viên vận hành thiết bị quang học và điện tử
Kỹ thuật viên chụp ảnh, vận hành thiết bị thu hình, thu thanh
Kỹ thuật viên vận hành thiết bị phát thanh, truyền hình và viễn thông
Kỹ thuật viên vận hành thiết bị y tế
Kỹ thuật viên vận hành thiết bị quang học và điện tử chưa được phân vào đâu
Kỹ thuật viên điều khiển phương tiện vận tải đường thuỷ, đường không
Kỹ thuật viên điều khiển, bảo trì, sửa chữa tàu thuỷ, ca nô
Chỉ huy và hoa tiêu tàu biển Phi công và kỹ thuật viên máy móc thiết bị Chỉ huy, điều khiển, kiểm soát giao thông đường không
Kỹ thuật viên đảm bảo an toàn giao thông đường không Thanh tra viên về an toàn chất lượng
Thanh tra viên về xây dựng và phòng chữa cháy Thanh tra viên an toàn sức khoẻ và chất lượng trong các lĩnh vực khác
Các nhà chuyên môn kỹ thuật bậc trung trong lĩnh vực khoa học sự sống và y tế
Kỹ thuật viên khoa học sự sống
Kỹ thuật viên về vi khuẩn học, sinh hoá, máu, dược huyết học và
động vật học
Kỹ thuật viên về nông, lâm học và thuỷ sản
Kỹ thuật viên tư vấn về nông, lâm nghiệp
Kỹ thuật viên về y học Trợ lý y khoa
Trợ lý về vệ sinh phòng bệnh Trợ lý về dinh dưỡng và ăn uống Trợ lý đo thị lực và nhãn khoa