Theo GS - TSKH Thái Duy Tuyên thì "Tính tích cực học tập của sinh viên là tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người sinh viên từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ t
Trang 1- -
NGUYỄN VIẾT HIẾU
HỌ
VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG 1 CHO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - PGS TS Đỗ Hương Trà, đã tận tình dạy dỗ, động viên và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cường
và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Vật lí, khoa Sau đại học - Trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên cùng toàn thể các thày cô giáo tham gia giảng dạy đã nhiệt tình giúp đỡ và đóng góp những ý kiến vô cùng quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại trường
Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu trường ĐH Công nghệ giao thông vận tải cùng với các thày cô giáo và các em sinh viên đã nhiệt tình cộng tác,tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành khóa học tại trường ĐH
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa có ai công
bố trong một công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Viết Hiếu
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trong luận văn này có sử dụng một số kí hiệu viết tắt nhƣ sau:
Trang 6MỤC LỤC
1
1
3
3
3
3
4
4
4
: 4
: 4
: 4
4
CHƯƠNG 1 5
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH 5
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 5
1.1 Bản chất của hoạt động dạy học ở trường Đại học 5
1.1.1 Bản chất của hoạt động học 5
1.1.1.1 Khái niệm hoạt động học 5
1.1.1.2 Bản chất của hoạt động học 5
1.1.1.3 Đối tượng của hoạt động học 6
1.1.1.4 Phương tiện học tập 6
1.1.1.5 Điều kiện học tập 7
1.1.1.6 Sự hình thành hoạt động học tập 7
1.1.1.7 Đặc điểm chung của hoạt động học của sinh viên 9
1.1.1.8 Tính tích cực trong hoạt động học của sinh viên 10
1.1.2 Bản chất của hoạt động dạy 10
Trang 71.1.3 Sự tương tác trong hệ dạy - học 10
1.1.4 Bản chất của hoạt động dạy học ở trường đại học 11
1.2 Hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của sinh viên 12
1.2.1 Hoạt động nhận thức tích cực 12
1.2.1.1 Khái niệm về tính tích cực 12
1.2.1.3 Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức 13
1.2.1.4 Một vài đặc điểm tính tích cực nhận thức của sinh viên 14
1.2.1.5 Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức 14
1.2.2 Hoạt động nhận thức tự chủ 17
1.2.2.1 Khái niệm tính tự chủ 17
1.2.2.2 Vai trò của tính tự chủ 17
1.2.2.3 Những biểu hiện của tính tự chủ 18
1.2.2.4 Một số biện pháp phát huy tính tự chủ của sinh viên 20
1.2.3 Mối quan hệ giữa tính tích cực và tự chủ 24
1.3 Thiết kế tiến trình dạy học 24
1.3.1 Các hình thức tổ chức dạy học đại học phát huy tính tích cực, tự chủ của sinh viên 24
1.3.1.1 Tự học 24
1.3.1.2 Luyện tập 25
1.3.1.3 Giúp đỡ riêng 25
Giảng viên trao đổi, giúp đỡ cá nhân hoặc nhóm nhỏ sinh viên nhằm giải đáp những vấn đề mà sinh viên chậm tiến không theo kịp trong quá trình lĩnh hội tri thức hoặc giúp đỡ những sinh viên khá giỏi phát huy năng lực, sở trường của mình 25
1.3.1.4 Thí nghiệm, thực hành 26
1.3.1.5 Nghiên cứu khoa học 26
1.3.2 Seminar 27
1.3.2.1 Thế nào là seminar 27
1.3.2.2 Các hình thức tổ chức seminar 27
1.3.2.3 Tổ chức seminar để phát huy hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của sinh viên 28
Trang 81.3.3 Thiết kế tiến trình hoạt động dạy học 32
1.3.3.1 Xác định mục tiêu 32
1.3.3.2 Xác định đơn vị kiến thức cần xây dựng 32
1.3.3.3 Xác định kết luận cần xây dựng và câu hỏi đề xuất vấn đề 33
1.4 Thực trạng dạy và học chương "Động lực học của vật rắn chuyển động" 34
1.4.1 Mục đích điều tra 34
1.4.2 Đối tượng điều tra 34
1.4.3 Nội dung điều tra 34
1.4.4 Kết quả điều tra 35
1.4.4.1 Đối với sinh viên 35
1.4.4.2 Đối với giảng viên 36
1.4.5.1 Nguyên nhân của thực trạng 40
1.4.5.2 Giải pháp 40
CHƯƠNG 2: TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CHƯƠNG "ĐỘNG LỰC HỌC CỦA VẬT RẮN CHUYỂN ĐỘNG" 41
2.1 Phân tích kiến thức chương "Động lực học của vật rắn chuyển động" chương trình vật lí đại cương 1 41
2.1.1 Vị trí chương "Động lực học của vật rắn chuyển động" trong chương trình Vật lí đại cương 41
2.1.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương "Động lực học của vật rắn chuyển động" 42
2.1.3 Đặc điểm chương "Động lực học của vật rắn chuyển động" trong chương trình Vật lí đại cương 1 của trường ĐH Công nghệ giao thông vận tải 46
2.2 Mục tiêu của chương "Động lực học của vật rắn chuyển động" 46
2.2.1 Về kiến thức 46
2.2.2 Về kĩ năng 47
2.2.3 Về thái độ 47
2.3 Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương " Động lực học của vật rắn chuyển động" 47
Trang 92.3.1 Bài 3.1 Khối tâm - chuyển động tịnh tiến 47
2.3.1.3 Mục tiêu dạy học 51
2.3.1.4 Chuẩn bị dạy học 51
2.3.1.5 Tiến trình dạy học cụ thể 51
2.3.2 Bài 3.2 Chuyển động quay của vật rắn quanh một trục cố định 57
2.3.2.1 Các kiến thức cần xây dựng và câu hỏi đề xuất tương ứng 57
2.3.2.4 Chuẩn bị dạy học 61
2.3.2.5 Tiến trình dạy học cụ thể 61
3.2.1 Chuyển động quay của vật rắn 62
3.2.2 Mômen lực 63
3.2.3 Phương trình động lực học của vật rắn quay quanh một trục cố định 65
3.2.4 Mô men quán tính 68
2.3.3 Seminar về chuyển động của con quay 70
2.3.3.1 Các kiến thức cần xây dựng và câu hỏi đề xuất tương ứng 70
2.3.3.2 Sơ đồ tiến trình xây dựng kiến thức 71
2.3.3.3 Mục tiêu dạy học 72
2.3.3.5 Tiến trình dạy học cụ thể 72
CHƯƠNG 3 78
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 78
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 78
3.1.1 Mục đích 78
3.1.2 Nhiệm vụ 78
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 78
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 78
3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 79
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 79
3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm sư phạm 79
3.3.2 Tổ chức cho sinh viên ôn tập củng cố 79
3.3.3 Bài kiểm tra đánh giá 79
3.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 80
Trang 103.4.1 Công tác chuẩn bị cho thực nghiệm sư phạm 80
3.4.1.1 Chọn các bài thực nghiệm 80
3.4.1.2 Các giáo viên công tác thực nghiệm sư phạm 80
3.4.1.3 Lịch lên lớp 80
3.4.2 Tổ chức thực hiện 80
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 81
3.5.1 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 81
3.5.2 Phân tích định lượng kết quả kiểm tra 85
3.5.2.1 Các đánh giá, xếp loại 85
3.5.2.2 Kết quả bài kiểm tra lần 1 86
3.5.3 Kiểm định giả thuyết 96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
1 Kết luận 98
2 Đề xuất, kiến nghị 98
3 Hướng nghiên cứu mở rộng đề tài 98
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ mô tả sự tương tác trong hệ dạy - học 11
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ tiến trình khoa học xây dựng kiến thức 33
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương 3 45
Bảng 1.1 Hứng thú với môn học vật lí ở trường đại học 35
Bảng 1.2 Mức độ dễ, khó của môn vật lí ở trường đại học 35
Bảng 1.3 Đánh giá mức độ tham gia các hoạt động của sinh viên 35
Bảng 1.4 Thái độ của sinh viên đối với các phương pháp dạy học 36
Bảng 1.5 Kết quả điều tra giảng viên khi dạy các bài trong chương 3 "Động lực học của vật rắn chuyển động" 37
Bảng 1.6 Kiến thức về dạy học nêu vấn đề của giảng viên và mức độ sử dụng phương pháp này 38
Bảng 1.7 Kiến thức về dạy học bằng tổ chức hoạt động seminar của giảng viên và mức độ sử dụng phương pháp này 39
Bảng 3.1 Đặc điểm chất lượng bộ môn của các lớp thực nghiệm và đối chứng trước thực nghiệm sư phạm 79
Bảng 3.2 Kết quả bài kiểm tra lần 1 87
Bảng 3.3 Phân loại kết quả bài kiểm tra lần 1 87
Bảng 3.4 Xử lí kết quả để tính các tham số bài kiểm tra số 1 88
Bảng 3.5 Bảng phân phối tần suất bài kiểm tra số 1 (Wi) 88
Bảng 3.6 Bảng phân phối tần suất lũy tích bài kiểm tra số 1 ( i) 89
Bảng 3.7 Kết quả bài kiểm tra lần 2 90
Bảng 3.8 Phân loại kết quả bài kiểm tra số 2 90
Bảng 3.9 Xử lí kết quả để tính các tham số bài kiểm tra số 2 91
Bảng 3.10 Bảng phân phối tần suất bài kiểm tra số 2 (Wi) 92
Bảng 3.11 Bảng phân phối tần suất lũy tích bài kiểm tra số 2 ( i) 92
Bảng 3.12 Kết quả bài kiểm tra lần 3 93
Bảng 3.13 Phân loại kết quả bài kiểm tra số 3 93
Bảng 3.14 Xử lí kết quả để tính các tham số bài kiểm tra số 3 94
Bảng 3.15 Bảng phân phối tần suất bài kiểm tra số 3 (Wi) 95
Trang 12Bảng 3.16 Bảng phân phối tần suất lũy tích bài kiểm tra số 3 ( i) 95
Biểu đồ 3.1 Xếp loại bài kiểm tra số 1 87
Biểu đồ 3.2 Xếp loại bài kiểm tra số 2 91
Biểu đồ 3.3 Xếp loại bài kiểm tra số 3 94
Đồ thị 3.1 Đồ thị phân bố tần suất bài kiểm tra số 1 89
Đồ thị 3.2 Đồ thị phân bố tần suất lũy tích bài kiểm tra số 1 89
Đồ thị 3.3 Đồ thị phân bố tần suất bài kiểm tra số 2 92
Đồ thị 3.4 Đồ thị phân bố tần suất lũy tích bài kiểm tra số 2 93
Đồ thị 3.5 Đồ thị phân bố tần suất bài kiểm tra số 3 95
Đồ thị 3.6 Đồ thị phân bố tần suất lũy tích bài kiểm tra số 3 96
Hình 3.1 Sinh viên thảo luận 83
Hình 3.2 GV giới thiệu về con quay 84
Hình 3.2 Đại diện nhóm 1 trình bày về con quay có trục tự do 84
Hình 3.3 Đại diện nhóm 2 trình bày về con quay có trục tựa trên một điểm cố định - hiệu ứng hồi chuyển và ứng dụng 85
iii
Trang 13, –
–
Trong chiến
dạy kiến thức là chủ yếu sang dạy phương pháp khai thác thông tin, phương pháp nghiên cứu, phương pháp ứng dụng là chủ yếu; tập trung dạy kĩ năng tự nghiên cứu, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm và kỹ năng thực hành” [4]
Theo khu
kiến thức
mà ít , phát triển
–inh viên
Trang 14
phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, biến quá trình học tập thành quá trình tự học có hướng dẫn và quản
lý của giáo viên” [3]
Khoản 2 điều 5 Luật giáo dục 2005 quy định: “ Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”
: –
–, 2011 )
Trang 15:
ật lý đại cương 1
chủ
i cương 1 viên
hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ, cùng với việc phân tích nội dung kiến thức cần dạy trong chương “Động lực học của vật rắn chuyển độ
- -
–
Trang 16- -
–
–
th
Trang 171.1.1.1 Khái niệm hoạt động học
Khi nói đến hoạt động học cần làm rõ khái niệm học và khái niệm hoạt động học
- Trong cuộc sống đời thường con người luôn luôn có quá trình tiếp thu, tích lũy những kinh nghiệm sống, trên cơ sở đó tạo nên những tri thức tiền khoa học, làm cơ sở tiếp thu những khải niệm khoa học ở trong nhà trường Đó chính là việc học, là cách học theo phương pháp của cuộn sống thường ngày
- Trên thực tế, chỉ có phương thức đặc thù (phương thức nhà trường) mới có khả năng tổ chức để cá nhân tiến hành hoạt động đặc biệt đó là hoạt động học, qua
đó hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học, năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn; và trong tâm lý học sư phạm, hoạt động học là khái niệm chính được dùng để chỉ hoạt động học diễn theo phương thức đặc thù, nhằm chiếm lĩnh tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo
1.1.1.2 Bản chất của hoạt động học
Hoạt động học tập là hoạt động chuyển hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở người học Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa là phát hiện lại Sự thuận lợi cho người học ở đây đó là con đường để phát hiện lại đã được các nhà khoa học tìm hiểu trước, giờ người học chỉ việc tái hiện lại Và để tái tạo lại, người học không có cách
gì khác đó là phải huy động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí, ), càng phát huy nội lực của bản thân cao bao nhiêu thì việc tái tạo lại kiến thức càng diễn ra tốt bấy nhiêu Do đó, hoạt động học làm thay đổi chính người học Ai học thì người đó phát triển, không ai học thay thế được, người học cần phải có trách nhiệm với chính bản thân mình, vì trong quá trình học Hoạt động học có thể làm thay đổi khách thể
Trang 18nhưng như thế không phải là mục đích tự thân của hoạt động học mà chính là phương tiện để đạt được mục đích làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động
Hoạt động học là hoạt động tiếp thu những tri thức lý luận, khoa học Nghĩa
là việc học không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm đời thường mà học phải tiến đến những tri thức khoa học, những tri thức có tính chọn lựa cao, đã được khái quát hóa, hệ thống hóa
Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động học Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học, phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động học
Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học sinh, sinh viên Do đó
nó giữ vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển tâm lý của người học trong lứa tuổi này
1.1.1.3 Đối tượng của hoạt động học
Chủ thể của hoạt động học là người học thì đối tượng của hoạt động học hướng tới đó là tri thức Nhưng tri thức mà người học phải học được lựa chọn từ những khoa học khác nhau, theo những nguyên tắc nhất định, làm thành những môn học tương ứng và được cụ thể ở những đơn vị cấu thành như: khái niệm, kĩ năng, thái độ…
Đối tượng của hoạt động học có liên quan chặt chẽ với đối tượng của khoa học Tuy vậy, có sự khác nhau về nguyên tắc giữa hoạt động học và hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động học là hoạt động tái tạo lại những tri thức đã có từ trước ở người học, còn hoạt động nghiên cứu khoa học đó là phát hiện những chân
lý khoa học mà loài người chưa biết đến Có thể nói: đối tượng của hoạt động học là cái mới với cá nhân người học nhưng không mới đối với nhân loại
1.1.1.4 Phương tiện học tập
Hoạt động bao giờ cũng hướng tới một đối tượng cụ thể, và chủ thể phải có những phương tiện, những điều kiện cụ thể để chiếm lĩnh đối tượng Trong hoạt động học tập, ngoài những phương tiện như : giấy, bút, sách, giáo trình, máy tính…
nó còn mang tính chất đặc thù của hoạt động học tập đó là mọi yếu tố của nó đều
Trang 19được hình thành trong quá trình học tập Phương tiện học tập không có sẵn trong tâm lý chủ thể mà hình thành chính trong quá trình chủ thể tham gia hoạt động học tập
Phương tiện chủ yếu của hoạt động học tập đó là các hành động học tập: so sánh, phân loại, phân tích, khái quát hóa Tâm lý học đã khẳng định so sánh, phân loại là những hành động học tập, là phương tiện đắc lực cho việc hình thành những khái niệm kinh nghiệm, còn phân tích, khái quát hóa là phương tiện để hình thành nên những khái niệm khoa học
Cần nhấn mạnh rằng trong hoạt động học, phương tiện chủ yếu là tư duy Trong giáo dục, tất cả các hình thức tư duy đều quan trọng và cần thiết
1.1.1.5 Điều kiện học tập
Hoạt động học muốn được diễn ra phải có điều kiện của nó Điều kiện đầu tiên đó là có sự tham gia của các yếu tố bên ngoài (ngoại lực) như : có sự hướng dẫn của thầy, sách, vở, bút, máy tính, giáo trình… Điều kiện thứ hai đó là có sự vận động của chính bản thân người học hay còn gọi là yếu tố nội lực Đó là những tri thức mà người học học được, trình độ trí tuệ hiện có của người học, động cơ, ý chí, hứng thú của người học…
Khi có đầy đủ những điều kiện đó, người học dù trong hoàn cảnh có thầy với trò, hay không có sự có mặt của thầy thậm chí khi ra trường, hoạt động học vẫn diễn ra Từ đó có thể hiểu học là quá trình tương tác các yếu tố ngoại lực và yếu tố nội lực thông qua hoạt động dạy và học Trong đó, yếu tố nội lực ở đây đóng vai trò quan trọng trong hoạt động học của người học
1.1.1.6 Sự hình thành hoạt động học tập
a) Động cơ học tập
- Hoạt động học với chủ thể là người học, còn đối tượng của nó là những tri thức khoa học, với mục tiêu cuối cùng là hình thành nhân cách cho người học Chủ thể khi tiến hành hoạt động học, chiếm lĩnh tri thức thì chính tri thức đó trở thành cái tinh thần, thôi thúc người học Vì vậy có thể hiểu động cơ học tập là sức mạnh tinh thần điều khiển, điều chỉnh hoạt động học nhằm chiếm lĩnh tri thức khoa học để
thỏa mãn nhu cầu nào đó của người học
Trang 20- Động cơ của hoạt động học tập ở học sinh, sinh viên được hiện thân ở những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà giáo dục ở nhà trường mang lại cho họ Trong thực tiễn giáo dục, động cơ học tập được chia thành hai loại: động cơ hoàn thiện tri thức và động cơ quan hệ xã hội
+ Động cơ hoàn thiện tri thức là lòng ham mê, khát khao mở rộng tri thức, say mê với những môn học… Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ này nó không chứa những mâu thuân bên trong và nó đòi hỏi phải có những nỗ lực ý chí để đạt được nguyện vọng chứ không phải hướng vào đấu tranh với chính bản thân mình
+ Động cơ quan hệ xã hội đó là sự thưởng phạt hoặc đe dọa, những áp lực gia đình, nhà trường, công việc, sự hiếu danh hoặc mong đợi sự hạnh phúc Ở mức
độ nào đó, động cơ này mang tính cưỡng bách, và có lúc xuất hiện như một vật cản cần vượt qua để đạt được mục đích của mình
Xét về mặt lý luận, mỗi hoạt động được thúc đẩy bởi một động cơ nhất định Hoạt động học hướng đến là những tri thức khoa học, thì chính nó (tức là đối tượng của hoạt động học) trở thành động cơ của hoạt động ấy Động cơ hoàn thiện tri thức là động cơ chính của hoạt động học tập Nhưng trên thực tế còn có động cơ quan hệ xã hội Nó "bám vào", "hiện thân" trên động cơ hoàn thiện tri thức, trở thành một bộ phận của động cơ hoàn thiện tri thức Khi động cơ hoàn thiện tri thức được đáp ứng thì đồng nghĩa với nó là động cơ quan hệ xã hội cũng được thỏa mãn
Cả hai loại động cơ này đều xuất hiện trong quá trình học tập và trong từng hoàn cảnh cụ thể, tùy theo điều kiện nào đó mà động cơ này hay động cơ kia chiếm vị trí quan trọng hơn, nổi lên và chiếm ưu thế trong thứ bậc động cơ Sự phân chia động
cơ như vậy chỉ có tính chất tương đối
b) Mục đích học tập
Theo tâm lý học hoạt động, mục đích được hiểu cái mà hành động đang diễn ra hướng tới Hoạt động học được thúc đẩy bởi động cơ và nó được tiến hành dưới các hành động học Vì vậy, mục đích của hoạt động học là các khái niệm, các giá trị, các chuẩn mực…mà hành động học đang diễn ra hướng đến nhằm đạt được nó
Quá trình hình thành mục đích bắt đầu từ việc hình thành trong chủ thể dưới dạng các biểu tượng, sau đó được tổ chức để hiện thực hóa các biểu tượng trên thực
Trang 21tế, và khi thực tế có hoàn thành được thì mục đích được hoàn thành Mục đích của hoạt động học cũng được hình thành như vậy, chỉ có điều, nó có tính đặc thù riêng
đó là việc hình thành mục đích học tập hướng đến là để thay đổi chính chủ thể ở đây
là người học Mục đích này chỉ có thể được bắt đầu hình thành khi chủ thể bắt đầu bắt tay vào việc thực hiện hành động học tập của mình Trên con đường chiếm lĩnh đối tượng nó luôn diễn ra quá trình chuyển hóa giữa mục đích và phương tiện học tập Mục đích bộ phận được thực hiện đầy đủ thì nó lại trở thành công cụ để chiếm lĩnh các mục đích tiếp theo
c) Sự hình thành các hành động học tập
Học nói chung và học ở bậc đại học nói riêng là một quá trình, do đó khi nói đến hoạt động học là phải nói đến sự hình thành các hành động học tập Hành động học của sinh viên ở đây được hiểu là hành động trí óc nhằm chiếm lĩnh tri thức Hành động học có rất nhiều các hành động khác nhau, và bản chất nhất, cơ bản nhất có các hành động chính sau:
- Hành động phân tích: tìm ra nguồn gốc nội tại, cấu trúc logic của đối tượng
- Hành động mô hình hóa: giúp con người diễn đạt các khái niệm một cách trực quan, nó bao gồm mô hình gần giống với vật thật, mô hình tượng trưng, mô hình mã hóa, nó được dùng nhiều trong sinh học…
- Hành động cụ thể hóa : nhằm vận dụng giúp người học hiểu được rõ nhất bản chất của vấn đề, giải quyết những vấn đề trong mối liên hệ cụ thể từng lĩnh vực
1.1.1.7 Đặc điểm chung của hoạt động học của sinh viên
- Hoạt động học của sinh viên có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả hoạt động Đó là, khác với lao động, học tập không làm thay đổi đối tượng mà thay đổi chính bản thân mình Sinh viên học tập để tiếp thu các tri thức khoa học, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất nhân cách người chuyên gia tương lai
- Hoạt động học được diễn ra trong điều kiện có kế hoạch vì nó phụ thuộc vào nội dung, chương trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn đào tạo
- Phương tiện hoạt động học là thư viện, sách vở, máy tính…
Trang 22- Tâm lý diễn ra trong hoạt động học của sinh viên với nhịp độ căng thẳng, mạnh mẽ về trí tuệ
- Hoạt động học tập của sinh viên mang tính độc lập cao Cốt lõi của hoạt động học tập của sinh viên là sự tự ý thức về động cơ, mục đích, biện pháp học tập
1.1.1.8 Tính tích cực trong hoạt động học của sinh viên
Việc tạo ra tính tích cực học tập của sinh viên là nhiệm vụ chủ yếu của người thầy giáo trong nhà trường đại học Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng mạnh tới tính tích cực hoạt động học tập của sinh viên là do sự vận dụng một cách thích hợp phương pháp giảng dạy của thầy
Theo GS - TSKH Thái Duy Tuyên thì "Tính tích cực học tập của sinh viên
là tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người sinh viên từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức, để nâng cao hiệu quả học
tập" [12]
1.1.2 Bản chất của hoạt động dạy
Trong phạm vi nhà trường, hoạt động dạy là hoạt động của người thầy - định hướng, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của người học, giúp người học tìm tòi, khám phá tri thức tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách ở bản thân
Theo GS Phạm Hữu Tòng "…bản chất của hoạt động dạy học là dạy hành động - hành động chiếm lĩnh tri thức và hành động vận dụng tri thức, và do đó trong dạy học, giáo viên cần tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của người học để qua đó người học chiếm lĩnh được tri thức, đồng thời phát triển trí tuệ
và nhân cách toàn diện của mình" [10]
1.1.3 Sự tương tác trong hệ dạy - học
Trong sự tương tác của hệ dạy học, mỗi hành động của người học diễn ra theo các pha : "Định hướng - chấp hành - kiểm tra" Trong đó, sự định hướng có vai trò quan trọng đối với chất lượng và hiệu quả của hành động Người thầy có vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ cho sự hình thành cơ sở định hướng khái quát hành động của người học
Trang 23Có thể mô tả sự tương tác trong hệ dạy học bằng sơ đồ hình 1.1 :
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ mô tả sự tương tác trong hệ dạy - học
Trong sự vận hành của hệ tương tác dạy - học, hành động của người thầy với tư liệu hoạt động dạy học là khâu tổ chức, cung cấp tư liệu, tạo tình huống có vấn đề cho hoạt động của người học Hành động dạy của người thầy có tác dụng trực tiếp tới người học, đó là sự định hướng đối với hành động của người học, sự tương tác trao đổi, tranh luận giữa người học với nhau và qua đó cung cấp những thông tin liên hệ ngược từ phía sau người học cho giáo viên những thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự chỉ đạo của giáo viên đối với người học
1.1.4 Bản chất của hoạt động dạy học ở trường đại học
Nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động dạy học nói chung với hoạt động nhận thức thế giới khách quan của loài người và mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động dạy của người thầy với hoạt động học của trò trong các trường đại học, người
ta có thể khẳng định rằng, quá trình dạy học ở đại học, về bản chất, là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên cứu của sinh viên được tiến hành dưới vai trò tổ chức, điều khiển của giảng viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở đại học [6]
Tính chất nghiên cứu của sinh viên trong quá trình học tập ở đại học được thể hiện qua những đặc điểm sau:
Trang 24- Trong quá trình học tập ở đại học, sinh viên phải tự mình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng, phải nắm vững cơ sở của nghề nghiệp tương lai ở trình độ đại học và có tiềm năng vươn lên thích ứng với những yêu cầu trước mắt và lâu dài
do thực tiễn xã hội đặt ra
- Khi tiến hành hoạt động học tập, sinh viên không chỉ có năng lực nhận thức thông thường mà cần tiến hành các hoạt động nhận thức mang tính nghiên cứu trên cơ sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao Điều đó có nghĩa là dưới vai trò hướng dẫn của người thầy, sinh viên không tiếp thu một cách máy móc những chân lý có sẵn mà họ có khả năng tiếp nhận chân lý đó với óc phê phán, có thể khẳng định, phủ định, hoài nghi khoa học, lật ngược vấn đề, đào sâu vấn đề…
- Trong quá trình học tập ở đại học, sinh viên đã bắt đầu tham gia vào hoạt động tìm kiếm chân lý mới Đó là hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa học được tiến hành ở các mức độ từ thấp lên cao tùy theo chương trình học của học phần, chẳng hạn như: bài tập nghiên cứu sau mỗi học phần, niên luận, khóa luận, luận văn, đồ án tốt nghiệp Hoạt động nghiên cứu khoa học này giúp sinh viên từng bước tập vận dụng những tri thức khoa học, phương pháp luận khoa học, phương pháp nghiên cứu Thông qua đó, sinh viên tự rèn luyện các phẩm chất, tác phong của nhà nghiên cứu nhằm giải quyết một cách khoa học những vấn đề do thực tiễn xã hội, thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp đặt ra Trong hoạt động học ở đại học, một số phương pháp dạy học có thể phát huy sự tích cực, tự chủ ở sinh viên đó là dạy học giải quyết vấn đề và tổ chức seminar
1.2 Hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của sinh viên
1.2.1 Hoạt động nhận thức tích cực
1.2.1.1 Khái niệm về tính tích cực
Là khái niệm biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng
Tính tích cực cũng là khái niệm biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi thực
hiện một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đấy [13]
1.2.1.2 Tính tích cực nhận thức
Là tính tích cực xét trong điều kiện, phạm vi của quá trình dạy học, chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của sinh viên Theo lý thuyết phản ánh, tính tích cực nhận thức bao gồm : sự lựa chọn đối tượng nhận thức ; đề ra cho mình mục
Trang 25đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượng nhằm cải tạo nó Tính tích cực trong hoạt động cải tạo đòi hỏi phải có sự thay đối trong ý thức và hành động của chủ thể nhận thức, được thể hiện bằng nhiều dấu hiệu như sự tập trung ý chí, sự tưởng tượng mạnh mẽ, sự phân tích, tổng hợp sâu sắc…
Có thể phân chia sự phát triển tính tích cực nhận thức là ba mức độ:
- Tính tích cực tái hiện: Đó là mức độ thấp của tính tích cực, chủ yếu dựa
vào trí nhớ để tái hiện những điều đã nhận thức được
- Tính tích cực sử dụng: Đây là sự phát triển tính tích cực ở mức độ cao
hơn Qua việc vận dụng các công cụ, các khái niệm, định lí, định luật… để giải quyết một nhiệm vụ nào đó các em phải phân tích, suy nghĩ tìm tòi để tự lực đưa ra những phương án khác nhau, nhờ đấy mà nhu cầu, hứng thú nhận thức và óc sáng tạo phát triển
- Tính tích cực sáng tạo: Đây là mức độ phát triển cao nhất của tính tích
cực Nó đặc trưng bằng sự khẳng định con đường suy nghĩ riêng của mình, vượt ra khỏi khuôn mẫu, máy móc nhằm tạo cái mới, cái bất ngờ, có giá trị Tính tích cực sáng tạo tạo điều kiện cho sự phát triển các khả năng và tiềm năng sáng tạo của cá nhân Nó ảnh hưởng đến việc ứng dụng những thủ thuật mới để giải quyết vấn đề, tìm tòi những phương pháp khắc phục khó khăn, đưa những phát minh mới vào cuộc sống [13]
1.2.1.3 Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức
Có ba dấu hiệu thể hiện tính tích cực nhận thức:
- Thứ nhất là những dấu hiệu bề ngoài qua thái độ, hành vi và hứng thú
- Thứ hai là những dấu hiệu bên trong như sự căng thẳng trí tuệ, sự nỗ lực hoạt động, sự phát triển của tư duy, ý chí và xúc cảm…
- Thứ ba là kết quả học tập, là một dấu hiệu quan trọng và có tính chất khái quát của tính tích cực nhận thức
Ta có thể cụ thể hóa những biểu hiện của tính tích cực nhận thức qua một
số câu hỏi sau đây:
- Các em có chú ý, tập trung tư tưởng vào học tập không?
Trang 26- Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập không? ( Thể hiện ở chỗ giơ tay phát biểu ý kiến, ghi chép,…)
- Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không?
- Tốc độ học tập có nhanh không ?
- Có thường xuyên hỏi thầy cô, trao đổi với bạn bè, tích cực tham gia học nhóm, học tổ không ?
- Có hay lui tới thư viện, cửa hàng sách không ?
- Có hứng thú say mê, hoài bão học tập không ?
- Có ý chí vượt khó khăn trong học tập không ?
- Có sự phát triển về năng lực phân tích, tổng hợp,… năng lực tư duy nói chung không ?
- Có hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao không ?
- Có ghi nhớ tốt những điều đã học không ?
- Có vận dụng kiến thức đã học vào thực tế không ?
- Có phát triển tính năng động, sáng tạo không ?
- Kết quả kiểm tra, thi cử có cao không ?
1.2.1.4 Một vài đặc điểm tính tích cực nhận thức của sinh viên
Tính tích cực của sinh viên có mặt tự phát và tự giác
- Mặt tự phát của tính tích cực là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà ở mỗi sinh viên đều có, tuy mức độ có thể khác nhau giữa các sinh viên
- Mặt tự giác của tính tích cực thể hiện ở chỗ tính tích cực có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó
Hiện nay đa số sinh viên có tính tích cực nhận thức thấp, thể hiện ở chỗ các
em vẫn có thói quen thụ động trong học tập
1.2.1.5 Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức
Tính tích cực nhận thức của sinh viên là kết quả của một quá trình lâu dài chứ không thể có được trong một thời gian ngắn Mặt khác cần phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau, kết hợp giữa giáo dục trong nhà trường và gia đình, xã hội Để phát huy tính tích cực nhận thức cho sinh viên cần làm tốt một số biện pháp sau:
Trang 27- Giác ngộ ý thức học tập, kích thích tinh thần trách nhiệm và hứng thú học tập của các em bằng cách nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của những vấn đề nghiên cứu
- Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt hằng ngày cũng như chuyên ngành đang theo học của sinh viên Nội dung cần phải vừa sức, nếu nội dung quá dễ sẽ gây nhàm chán, ngược lại nếu nội dung quá khó sẽ không phát huy được tính tích cực của sinh viên thậm chí còn ngược lại
- Tạo không khí thuận lợi cho sinh viên phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong học tập Đưa ra những câu hỏi mở, những gợi ý để tạo điều kiện cho các em phát biểu ý kiến cá nhân của mình về vấn đề đặt ra, cùng thảo luận hoặc trao đổi theo nhóm Có như vậy các em mới có hứng thú hơn trong học tập, từ đó tính tích cực cũng được phát triển hơn
- Tích cực hóa hoạt động của sinh viên: Là sử dụng các biện pháp dạy học làm chuyển biến việc học từ chỗ là sự học, sự bắt chước, sự tái hiện, sự ghi nhớ, sao chép, ôn luyện máy móc… trở thành hoạt động học tập có động cơ, có mục đích xác định với hệ thống những hành động cụ thể, được tiến hành với những phương pháp, phương tiện thích hợp, có kỹ năng, có kế hoạch dựa trên cơ sở tự giác, tích cực, chủ động tiến hành các nhiệm vụ học tập đã đề ra nhằm tiến hành và phát triển nhân cách người học Vì vậy, để tăng thời gian cho hoạt động trong giờ học thì cho sinh viên thảo luận, tiến hành seminar, cần nêu cao câu hỏi có tính gợi mở cho sinh viên
mà trong giáo trình không đề cập đến Khi chủ đề cần tranh luận thu hút được tất cả sinh viên trong lớp tham gia, điều đó có nghĩa là buổi học rất thành công, và tính tích cực trong hoạt động học tập của sinh viên đạt đến cao độ, chắc chắn bài học đó
sẽ đạt hiệu quả cao hơn
- Sử dụng câu hỏi phát huy tính tích cực của sinh viên: Câu hỏi phát huy tính tích cực không có sẵn nội dung trả lời mà buộc sinh viên phải suy nghĩ, tìm tòi giải quyết các vấn đề Ví dụ như một số dạng câu hỏi sau:
+ Câu hỏi đi tìm nguyên nhân, thường bắt đầu với "Tại sao…?"
Tại sao khi xây cầu người ta lại không xây vồng xuống ?
Tại sao khi bánh xe đạp, xe máy có thể đứng vững khi di chuyển ?
Trang 28+ Câu hỏi yêu cầu giải thích bản chất hiện tượng:
Giải thích màu sắc của cầu vồng ?
Tại sao không được đổ nước sôi vào ly thủy tinh dày ?
+ Câu hỏi so sánh sự giống và khác nhau:
So sánh hiện tượng quang điện trong và hiện tượng quang điện ngoài ?
So sánh véctơ mômen động lượng và véctơ động lượng ?
So sánh lực từ và lực Lo - ren - xơ ?
+ Câu hỏi so sánh mức độ hơn kém:
So sánh độ lớn góc tới và góc khúc xạ khi chiếu tia sáng từ không khí vào thủy tinh ?
So sánh vận tốc truyền âm thanh trong chất lỏng, chất rắn và chất khí ?
So sánh bước sóng của tia hồng ngoại, tia tử ngoại và tia gamma ?
+ Câu hỏi tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức:
Tại sao ta có thể nói ánh sáng mang lưỡng tính sóng hạt ?
Nguyên nhân gây ra hiện tượng cảm ứng điện từ ?
Tuy nhiên khi sử dụng câu hỏi, giảng viên cần lưu ý đến những vấn đề sau: + Câu hỏi phải vừa sức với sinh viên, phù hợp với trình độ, điều kiện học tập và thời gian trả lời Câu hỏi không nên quá khó làm cho sinh viên không thể trả lời được, nhưng cũng không quá dễ sẽ làm sinh viên không có cơ hội tư duy
+ Câu hỏi phải ngắn gọn
+ Câu hỏi phải định hướng rõ ràng, nhằm đúng bản chất vấn đề trong tâm bài học
+ Câu hỏi chứa đựng mâu thuẫn sẽ là yếu tố kích thích sự tập trung chú ý của sinh viên Ví dụ: Tại sao khi mặc áo xanh vào phòng kín có đèn màu đỏ, chiếc
áo có màu đen ?
- Chuẩn bị về năng lực, trình độ chuyên môn cho giảng viên như:
+ Chuẩn bị về năng lực: Nâng cao kỹ năng tiến hành thí nghiệm, kỹ năng tổ chức các buổi seminar, kỹ năng nghiên cứu khoa học,… Giảng viên phải thường xuyên đọc các giáo trình, tài liệu khác nhau, nghiên cứu sâu và tỉ mỉ từng đơn vị
Trang 29kiến thức nhỏ, đồng thời tổng hợp, bao quát toàn bồ chương trình giảng dạy, cập nhật thông tin mới nhất về những vấn đề thuộc nội dung bài giảng
+ Chuẩn bị về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm: nâng cao kỹ năng sử dụng các phương tiện dạy học khác nhau, biết kết hợp hài hòa những phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại sao cho đạt hiệu quả tốt nhất
Tuy nhiên để thực hiện tốt các biện pháp trên, cần phải có những điều kiện thích hợp như:
- Có đủ trang thiết bị tối thiểu cho quá trình học tập
- Được học trong môi trường sư phạm thuận lợi
- Có kiến thức cơ bản, kĩ năng cần thiết giúp học sinh viên nhận ra vấn đề cần giải quyết cũng như đủ nền tảng kiến thức để giải quyết các vấn đề đó
- Phải ý thức được nhiệm vụ, mục đích học tập của bản thân Có khả năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập từ đó tự điều chỉnh quá trình học tập của bản thân
1.2.2 Hoạt động nhận thức tự chủ
1.2.2.1 Khái niệm tính tự chủ
Là sự tự làm lấy, tự giải quyết vấn đề, không a dua, không ỷ lại, nhờ cậy người khác [13]
Nếu đặc trưng chủ yếu của tính tích cực là sự nỗ lực bản thân, thì đặc trưng
của tính tự chủ lại là ở mỗi quan hệ với người khác : không dựa dẫm vào người
khác, hết sức tiết kiệm sự nhờ cậy
Các loại tính tự chủ gồm tính tự chủ nhận thức và tính tự chủ hành động
Trong hoạt động dạy học chủ yếu đề cao tính tự chủ nhận thức
1.2.2.2 Vai trò của tính tự chủ
- Tính tự chủ có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách
Khi con người đã có một ít vốn sống, đã tích lũy được những kiến thức, kĩ năng và
kĩ xảo nhất định, họ muốn tự hoạt động dưới những hình thức khác nhau để thỏa mãn nhu cầu cá nhân Trong quá trình này họ sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề đặt ra để đạt đến mục đích Vì vậy, họ phải tiếp tục học hỏi, đúc rút kinh nghiệm, suy nghĩ tìm tòi… và nhờ vậy mà năng lực ngày càng hoàn thiện
Trang 30hơn Các phẩn chất như : tính kiên trì, vượt khó, không ngại gian khổ, khiêm tốn,
giản dị, tự chủ tự cường… được rèn luyện và phát triển
- Tính chủ ảnh hưởng đến tính tích cực, sáng tạo Tính tích cực và tính tự
chủ có liên quan mật thiết với nhau Khi đã hoạt động tự chủ có nghĩa là không dựa dẫm vào người khác, mà phải nỗ lực phát huy sức mạnh của bản thân để giải quyết vấn đề Như vậy giữa tính tích cực và tính tự chủ có mối liên hệ chặt chẽ
Tính tự chủ cũng có quan hệ chặt chẽ với tính sáng tạo
- Tính tự chủ và việc rèn luyện đạo đức, tư cách Tính tự chủ làm cho con
người được rèn luyện trong thực tiễn, sớm trưởng thành, phát triển tốt cả trí tuệ, tâm hồn, ý chí và sức khỏe
- Tính tự chủ và xúc cảm Hiện nay người ta đã chứng minh được rằng trí
thông minh xúc cảm có vai trò to lớn cho những thành tích xuất sắc của con người, đặc biệt là trong xã hội phát triển Trí thông minh xúc cảm có mối liên hệ mật thiết với tính tự chủ, được hình thành thông qua tính tự chủ, đồng thời chi phối đến tính
tự chủ nhận thức
1.2.2.3 Những biểu hiện của tính tự chủ
Tùy theo độ tuổi thì tính tự chủ có những biểu hiện khác nhau Ở lứa tuổi học sinh, sinh viên, tính tự chủ được thể hiện qua một số dấu hiệu sau:
- Nguyện vọng giải quyết các nhiệm vụ học tập một cách độc lập
Nguyện vọng này giúp sinh viên hoạt động tích cực trong thời gian dài, đòi hỏi ở sinh viên khả năng tập trung chú ý cao độ Đó cũng là biểu hiện của nhu cầu
tự khẳng định mình, là kết quả của quá trình nhận thức về giá trị tự chủ và rèn luyện thói quen tự chủ
- Những kĩ năng thực hiện hoạt động tự chủ
+ Kĩ năng thực hiện hoạt động học tập theo sáng kiến của mình, nhận thức được sự cần thiết của hoạt động học tập
+ Kĩ năng thực hiện hoạt động học tập quen thuộc không có sự đòi hỏi giúp
đỡ từ xung quanh như thầy cô, bạn bè
+ Kĩ năng tự thực hiện hoạt động học tập như nhận thức vấn đề lý thuyết mới hay làm những bài tập trong những tình huống có sẵn theo yêu cầu của giảng viên
Trang 31+ Kĩ năng thực hiện hoạt động học tập trong những điều kiện mới như tự đặt mục đích, lập những kế hoạch đơn giản và tự thực hiện
+ Kĩ năng tự di chuyển cách thức hoạt động đã biết vào hoàn cảnh mới, tổng hợp chúng và phân loại chúng theo kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng kĩ xảo đã
có, thể hiện cách làm sáng tạo
- Có sự nỗ lực của ý chí
Quá trình hoạt động học tập chủ của sinh viên đòi hỏi sự căng thẳng của hoạt động trí tuệ, biết vượt qua khó khăn bên trong và bên ngoài để đạt mục đích Ý chí của sinh viên thể hiện sức mạnh tinh thần và thể lực giúp sinh viên đạt được những mục đích, mục tiêu của hoạt động học tập đã được đề ra Nếu không có sự nỗ lực của ý chí, sinh viên khó có thể thành công trong việc đạt được mục tiêu học tập
Vì vậy, sự nỗ lực của ý chí là biểu hiện cơ bản của tính tự chủ thể hiện ở kĩ năng biết vượt qua khó khăn để đạt được mục tiêu đề ra
- Niềm tin vào bản thân ( sự tự tin)
Là sự tin tưởng vào năng lực của mình trong hoạt động học tập Niềm tin tạo ra cho sinh viên ý chí, nghị lực trong học tập Có hai loại tự tin :
+ Tự tin bên trong đem lại cho sinh viên cảm giác hoàn toàn yên tâm về mình
+ Tự tin bên ngoài thể hiện ở phong cách ứng xử trên lớp, thái độ hăng hái
phát biểu, tiếp thu bài học, không rụt rè hay sợ sệt
Để tạo sự tự tin cho sinh viên, giảng viên cần quan tâm, giúp đỡ sinh viên thực hiện tốt một số yêu cầu sau:
+ Không đánh giá thấp về khả năng học tập của bản thân
+ Hiểu rõ những ưu nhược điểm của bản thân trong quá trình học tập
+ Có mục tiêu học tập rõ ràng
+ Có thái độ lạc quan khi mục đích của hoạt động học tập chưa thực hiện được hay các vấn đề cần giải quyết quá khó khăn
- Các biểu hiện mang tính sáng tạo
Đó là biểu hiện tìm tòi, sáng tạo nên những cái mới, cái độc đáo trong hoạt động học tập dựa trên những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo đã có Chẳng hạn như sinh viên tự đưa ra được những cách giải thích mới, dễ hiểu về một vấn đề kiến thức hay đưa ra một cách giải hay, ngắn gọn một số bài tập trong chương trình được học
Trang 321.2.2.4 Một số biện pháp phát huy tính tự chủ của sinh viên
Để tính tự chủ của sinh viên trong học tập trở thành hiện thực, một nhân tố quan trọng là phải bồi dưỡng kĩ năng tự học cho các em
Một hoạt động bao giờ cũng được thúc đẩy bởi động cơ tạo ý, tuy nhiên nó còn được thúc đẩy bởi nhiều động cơ không tạo ý, chúng được sắp xếp theo thứ bậc trong đó động cơ tạo ý đứng trên cao nhất Vì vậy khi hình thành động cơ học tập cho sinh viên, giảng viên cần phải chú ý đến động cơ tạo ý nhưng không thể bỏ qua các động cơ thúc đẩy khác
Động cơ học tập môn vật lý, thường có được qua việc hiểu và đón nhận những mục tiêu khá hấp dẫn và cụ thể mà bộ môn vật lý đã mang lại, chúng thường gần với nhu cầu ham hiểu biết của tất cả sinh viên như: khi nắm vững kiến thức này, các em có thể hiểu và giải thích hiện hượng khác…
Ví dụ: Trước khi học chương cảm ứng điện từ, giảng viên có thể đặt vấn đề: Chúng ta đã biết máy phát điện biến cơ năng thành điện năng, vậy có bao giờ các
em tự hỏi: máy phát điện biến cơ năng thành điện năng dựa trên nguyên tắc nào? Để trả lời câu hỏi đó, ta đi nghiên cứu chương "cảm ứng điện từ"
b) Kĩ năng xây dựng kế hoạch tự học
- Kế hoạch tự học
Có kế hoạch học tập tốt là một trong những điều kiện ban đầu quan trọng để thành công trong học tập Kế hoạch tự học là sự sắp xếp các nội dung học tập được tiến hành trong thời gian hợp lí của mỗi học sinh, sinh viên nhằm thực hiện tốt chương trình đào tạo [11] Xác định nội dung tự học phải hướng tới bổ sung và hoàn thiện kiến thức, đào sâu và mở rộng những hiểu biết, hoàn thành những nhiệm
vụ học tập được giao của mỗi cá nhân Vì vậy xây dựng kế hoạch tự học phải do chính mỗi cá nhân sinh viên thực hiện
Trang 33- Nguyên tắc xây dựng kế hoạch tự học:
+ Đảm bảo xen kẽ, luân phiên một cách hợp lí các dạng tự học có tính chất khác nhau: Trong quá trình tự học, sinh viên sẽ phải tiến hành lao động trí óc căng thẳng, vỏ não bị hưng phấn ở những vùng nhất định Nếu chỉ dùng một kích thích (học một hình thức) thì vỏ não sẽ bị ức chế và điều này dẫn đến năng lực làm việc của sinh viên sẽ giảm sút Để khắc phục, sinh viên cần thay đổi và luân phiên các dạng hoạt động tự học, chẳng hạn có thể chuyển từ đọc sách, nghiên cứu lí thuyết sang làm bài tập
+ Đảm bảo xen kẽ, luân phiên hợp lí giữa tự học và nghỉ ngơi
Nếu tự học liên tục trong thời gian dài, khả năng chú ý, trí nhớ và tư duy của sinh viên sẽ bị giảm sút, vì vậy cần phải xen kẽ giữa thời gian tự học và thời gian nghỉ ngơi
+ Đảm bảo tính mềm dẻo, tính thực tế của kế hoạch tự học
Kế hoạch tự học cần được xây dựng mềm dẻo và thực tế như : Ưu tiên công việc quan trọng, có phương án thay đổi trình tự các hoạt động học tập, có thời gian
dự trữ cho mỗi kế hoạch học tập, sắp xếp thời gian để bảo đảm thực hiện công việc của kế hoạch trước đó
- Kĩ năng xây dựng kế hoạch tự học : Là kĩ năng bố trí, sắp xếp các công việc, phân phối thời gian cho từng công việc, xác định phương pháp và các hình
thức tổ chức thực hiện từng công việc và mức độ hoàn thành của cá nhân [13]
Các bước lập kế hoạch tự học :
+ Liệt kê tất cả các công việc cần tiến hành, căn cứ vào kế hoạch giảng dạy, nhiệm vụ học tập được giao và các công tác của lớp, của cá nhân
+ Xác định quỹ thời gian tự học
+ Phân biệt thời gian cho từng công việc và xác định khoảng thời gian thực hiện mục tiêu
+ Kiểm tra lại tính hợp lí của kế hoạch học tập, tức là trả lời các câu hỏi: Công việc hoặc thời gian có trùng không ? Khả năng thực hiện công việc
đã hợp lí chưa?
- Thực hiện kế hoạch tự học
Trang 34Xây dựng kế hoạch tự học nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, do đó người học cần kiên trì, quyết tâm với sự nỗ lực rất lớn để thực hiện đúng kế hoạch Muốn vậy người học cần:
+ Rèn luyện cách làm việc độc lập
+ Có phương pháp và kĩ năng tự học
+ Tập trung tư tưởng, không để những tác động bên ngoài ảnh hưởng
+ Kiên trì cố gắng, không nản chí
+ Tiết kiệm thời gian
+ Tự kiểm tra, kết hợp với sự kiểm tra của giảng viên
+ Đảm bảo các điều kiện tự học như không gian học, tài liệu, sức khỏe… c) Nghe và ghi bài giảng
- Các giai đoạn nghe giảng
+ Chuẩn bị nghe giảng: Chuẩn bị nghe giảng giúp người học phát hiện ra điều cần tập trung và hướng sự tập trung của mình vào chỗ cần chú ý nghe giảng Chuẩn bị nghe giảng gồm các bước
Bước 1: Tìm hiểu trước bài học
Bước 2: Xem và nhớ lại những bài đã học
Bước 3: Xem qua nội dung bài giảng, đánh dấu những chố khó, chưa hiểu
để khi nghe giảng sẽ chú ý nhiều hơn đến phần đó
Bước 4: Xác định các công việc cần làm ( cách nghe, cách dùng chữ viết
tắt, cách dùng các kí hiệu, …) và chuẩn bị dụng cụ cần thiết cho việc nghe giảng
Bước 5: Xác định và chuẩn bị tinh thần tiếp thu bài giảng
Tóm lại: Chuẩn bị nghe giảng là đọc và nghiên cứu sơ bộ nội dung bài giảng, xác định nội dung nào cần tập trung nghe để hiểu, nội dung nào cần ghi đầy
đủ, nội dung nào cần ghi tóm tắt
+ Nghe giảng: Nội dung nghe giảng có phần chính, phụ và phần liên kết giữa các phần chính, phụ Phần chính được nhận biết qua các dấu hiệu như số lần các từ hoặc cụm từ được sử dụng, các kí hiệu, kí tự đặc biệt và cách biểu hiện của thầy giáo khi trình bày Khi nghe giảng sinh viên cần tóm tắt các điểm chính sau đó
Trang 35tóm tắt mỗi điểm quan trọng Việc trình bày như vậy sẽ giúp sinh viên sáng tỏ toàn
bộ cấu trúc bài giảng và nhớ tốt hơn các thông tin nhận được
Tóm lại muốn nghe giảng hiệu quả, người học cần
* Ôn lại những điều đã biết về nội dung bài giảng trước khi nghe
* Tập trung vào mục đích chính
* Xác định các điểm chủ chốt của bài giảng
* Lắng nghe cái đang được nói hơn là cái muốn nghe
* Nhạy bén với các thông tin không lời và thấy được các thông tin bổ ích
* Không làm gián đoạn bài giảng bằng sự tranh luận, phê phán
* Theo kịp bài giảng, không lấn cấn với các điểm chưa rõ
* Kiểm soát biểu hiện của cá nhân: lời nói, ánh mắt, nét mặt…
* Biết cách đặt câu hỏi về vấn đề chưa hiểu
* Xem xét các thông tin từ nhiều góc độ trước khi ra quyết định
* Tuân thủ nguyên tắc "nghe trước, đánh giá sau" [13]
- Ghi chép:
Ghi chép bài giảng nhằm mục đích lưu trữ và sắp xếp thông tin để thấy được cấu trúc bài giảng, giúp quá trình nhớ tốt và đầy đủ hơn và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình học tiếp theo
Để ghi chép tốt cần theo các giai đoạn:
+ Chuẩn bị : Vật dụng ghi chép (giấy, bút…), xem trước các tài liệu có liên quan đến bài giảng và phân loại sơ bộ các dữ liệu thu được để phục vụ cho việc nghe và ghi, có thái độ mong đợi không nôn nóng hay chán nản
+ Đặt câu hỏi: sử dụng các câu hỏi như là trọng điểm của việc ghi ghép, ví
dụ như: Mục đích của việc ghi chép này là gì ? để hiệu nội dung, lưu trữ thông tin,
để nhớ tốt hơn hay giúp cho việc ôn tập khi thi…
+ Yêu cầu ghi: Cần ngắn gọn, xúc tích thông qua việc sử dụng những từ ngữ chủ chốt đối với nhưng thông tin đã trình bày trong tài liệu, giáo trình, sách giáo khoa Ghi đầy đủ và ghi có thứ tự
+ Tổ chức: Thông tin ghi chép cần sắp xếp trật tự và logic giúp người học thấy được rõ ràng mối quan hệ giữa các phần của bài học Đọc và xem lại các ghi
Trang 36chép thường xuyên để bổ sung những điều không thể ghi chép ngay trong quá trình nghe giảng, sửa những lỗi tình cờ, phụ chú thêm hay khắc sâu thêm tri thức
Tóm lại, muốn ghi chép bài giảng tốt, sinh viên cần:
* Có khả năng ghi nhanh các thông tin từ bài giảng
* Không ghi chép cẩu thả nhưng cũng không quá cầu kì, trau chuốt
* Luyện cách dùng chữ tắt, kí hiệu thống nhất trong suốt quá trình ghi chép
* Ghi rõ ràng, nhanh các hình vẽ, sơ đồ, đồ thị, ghi chú của hình vẽ
* Chừa lề rộng để ghi những thắc mắc, suy nghĩ nảy sinh, những bổ sung khi đọc lại bài giảng
* Đề mục cần ghi to, rõ, có gạch chân, đánh dấu bằng màu để dễ phân biệt
* Ghi chép một cách thích hợp theo cách hiểu từng vấn đề được giáo viên trình bày
* Ghi chép vẫn phải đồng thời chú ý đến sự trình bày tiếp theo của giáo viên
* Ôn tập sau khi ghi chép [13]
1.2.3 Mối quan hệ giữa tính tích cực và tự chủ
Giữa tính tích cực và tự chủ có mối liên hệ qua lại lẫn nhau Theo GS - TSKH Thái Duy Tuyên : "Tính tích cực cũng có quan hệ mật thiết với tính tự chủ,
với xúc cảm và ý chí, " [12]
Khi sinh viên đã tự chủ thì học sẽ tích cực hơn trong học tập, tính tích cực thể hiện ở chỗ sinh viên chủ động, tự chủ giải quyết những nhiệm vụ được giao dưới sự hướng dẫn của giảng viên Có thể nói không có tích cực nếu thiếu đi tính tự chủ Để phát huy được tính tích cực, tự chủ của sinh viên cần quan tâm đến việc thiết kế các tiến trình dạy học
1.3 Thiết kế tiến trình dạy học
1.3.1 Các hình thức tổ chức dạy học đại học phát huy tính tích cực, tự chủ của sinh viên
1.3.1.1 Tự học
Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững tri thức, kỹ năng và thái độ, do chính sinh viên tiến hành ở trên lớp hoặc
ở ngoài lớp
Trang 37Tự học là một hình thức học tập phổ biến và vô cùng quan trọng ở mọi bậc học, nhất là ở đại học, tự học mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng Lượng kiến thức cần tiếp thu ở mỗi môn học trong trường đại học là rất nhiều và khó, trong khi thời gian dành cho lên lớp lại bị hạn chế, do đó sinh viên cần phải tự học Trong trường hợp này, tự học có thể được hiểu theo hai nghĩa: Tự học do giảng viên giao nhiệm
vụ và tự học do sinh viên tự đề ra Đối với tự học do giảng viên giao nhiệm vụ, sinh viên có thể được học trên lớp hoặc ở nhà, trong phạm vi thời gian một vài tiết học hoặc dài hơn Để đảm bảo hiệu quả học tập, giảng viên cần có những biện pháp hướng dẫn, giúp đỡ, đồng thời kiểm tra tình hình tự học của sinh viên Đối với tự học do sinh viên tự đề ra, trên cơ sở ý thức được bản thân còn yếu kém nội dung nào, các em sẽ tự giành nhiều thời gian để tìm hiểu kiến thức đó, có thể kết hợp hỏi bạn bè hoặc thầy cô giáo Cho dù tự học dưới hình thức nào thì cũng có ý nghĩa rất quan trọng, tự học giúp sinh viên năng động, tích cực và tự chủ trong học tập hơn,
từ đó hiệu quả học tập nâng cao rõ rệt
1.3.1.2 Luyện tập
Luyện tập ở đại học là một trong những hình thức tổ chức dạy học cơ bản, với mục đích củng cố, đào sâu, mở rộng tri thức, rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng tri thức đã học vào giải quyết những nhiệm vụ nhất định như: làm bài tập, giải thích các hiện tượng…
Luyện tập có thể được tiến hành sau mỗi tiết học, sau mỗi chương hoặc một học kì nhằm áp dụng các kiến thức đã học vào việc giải thích định tính các hiện tượng hoặc làm bài tập Với các môn khoa học cơ bản nói chung và môn vật lý nói riêng, việc luyện tập có ý nghĩa quan trọng Thứ nhất, luyện tập giúp sinh viên nhớ lại, khắc sâu các kiến thức lý thuyết đã học Thứ hai, luyện tập giúp sinh viên có kĩ năng, kĩ xảo để vận dụng kiến thức vào việc giải các bài tập cũng như các bài toán trong thực tế Từ việc có kĩ năng, kĩ xảo tốt, sinh viên sẽ phát triển thế giới quan khoa học của bản thân, kích thích niềm say mê học tập nghiên cứu của các em
Trang 38Trên thực tế, khả năng nhận thức của mỗi sinh viên là khác nhau, do đó trong một lớp học sẽ có những sinh viên nhận thức chậm và có những sinh viên nhận thức nhanh Với cùng một nội dung kiến thức, những sinh viên nhận thức kém
sẽ không theo kịp tiến độ, còn những sinh viên khá giỏi sẽ cảm thấy nhàm chán nếu như bài học không được mở rộng, đào sâu Chính vì thế, trong phạm vi hạn hẹp của một tiết học, giảng viên chỉ có thể trình bày những nội dung cơ bản Đối với sinh viên chậm tiến, giảng viên có thể gợi ý, hướng dẫn phương pháp học cho các em, đối với sinh viên giỏi , giảng viên có thể giao cho các em tìm hiểu những nội dung phức tạp hơn
1.3.1.4 Thí nghiệm, thực hành
Thí nghiệm và thực hành giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo trong thực tiễn cuộc sống tại các cơ sở sản xuất, nhà máy hay phòng thí nghiệm Hình thức dạy học này tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên áp dụng những kiến thức đã học được trong nhà trường vào thực tế, từ đó không những giúp họ khắc sâu kiến thức mà còn rèn luyện kĩ năng nghiên cứu, kĩ năng nghề nghiệp Khi những kĩ năng
đó được hoàn thiện, sinh viên có khả năng thích ứng cao với môi trường công tác thực tế sau này Nếu như ở các bậc học trước học sinh chủ yếu quan sát thày cô giáo làm thí nghiệm thì ở bậc đại học, sinh viên cần có kĩ năng tự làm thí nghiệm theo tài liệu thí nghiệm và sự hướng dẫn của giảng viên Để đảm bảo hoạt động dạy học thí nghiệm, thực hành đạt kết quả tốt, các cơ sở đào tạo đại học cần trang bị đầy đủ phòng thí nghiệm, thực hành cũng như thường xuyên liên hệ với các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhằm đưa sinh viên của mình đi thực tập cuối khóa đúng thời hạn
1.3.1.5 Nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng và quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn
Có thể nói, nghiên cứu khoa học là hoạt động đặc trưng phân biệt hoạt động dạy học ở trường phổ thông và trường đại học Nếu như ở trường phổ thông các em chủ yếu giải quyết nhiệm vụ lĩnh hội tri thức thì ở trường đại học, sinh viên còn cần tham gia nghiên cứu khoa học, giải quyết những vấn đề mới hoặc đôi khi còn tìm ra
Trang 39kiến thức mới cho nhân loại Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học của sinh viên khác với nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học ở mức độ khó của đề tài thực hiện, đây là bước tập dượt cho các em trên con đường khoa học của mình Nghiên cứu khoa học của sinh viên thể hiện dưới hình thức đề tài khoa học các cấp, các cuộc thi sáng chế (như thi robocon, ) khóa luận, đồ án tốt nghiệp… Các cơ sở đào tạo đại học cần tạo mọi điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất cũng như hướng dẫn tận tình
để các em phát huy hết khả năng của mình trong nghiên cứu khoa học
Ngoài các hình thức tổ chức dạy học đại học nêu trên, còn có hình thức dạy
học tổ chức seminar
1.3.2 Seminar
1.3.2.1 Thế nào là seminar (Xemina)
Seminar là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học, trong đó sinh viên thảo luận các vấn đề khoa học đã tự tìm hiểu được dưới sự hướng dẫn của một giảng viên rất am hiểu về lĩnh vực đó
Trong seminar, người học vừa phải tự học, trình bày những thu hoạch của mình qua tự học, lại vừa phải tranh luận với các bạn để bảo vệ cái đúng, bác bỏ cái sai
Như vậy seminar là hoạt động phát huy tối đa tính tích cực, tự chủ của sinh viên, là hình thức dạy học đại học sôi nổi nhất, năng động nhất Họ là trung tâm của mọi hoạt động học tập, giảng viên chỉ đóng vai trò là người hỗ trợ, hướng dẫn cho các em Khi sự tranh luận của sinh viên rơi vào bế tắc, giảng viên đóng vai trò là người tháo gỡ khó khăn cho các em, chỉ ra cái đúng, cái sai hoặc mở rộng thêm về vấn đề mà sinh viên đang tranh luận Có thể nói seminar là hình thức dạy học đặc trưng của bậc đại học
1.3.2.2 Các hình thức tổ chức seminar
Có rất nhiều cách phân loại hình thức tổ chức seminar, dựa trên các tiêu chí khác nhau Hai tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức trong cuốn "Lý luận dạy học đại học" đã tiến hành phân loại seminar theo 4 loại tiêu chí
a) Theo tính chất, mức độ phát triển nhận thức của sinh viên
Dựa theo tiêu chí phân loại này, có 4 kiểu seminar
- Tiền seminar : là hình thức seminar sơ khai, có tính chất chuẩn bị, tập dượt
Trang 40- Seminar gắn với giáo trình
- Seminar gắn với một số phần hay chương cơ bản của giáo trình
- Seminar gắn với chuyên đề
b) Theo tính chất, mức độ phát triển nhận thức của sinh viên
Dựa theo tiêu chí phân loại này, có 3 kiểu seminar
- Seminar thông báo - tái hiện
- Seminar tìm kiếm bộ phận
- Seminar nghiên cứu
c) Theo phương thức tiến hành
Dựa theo tiêu chí phân loại này, có 2 kiểu seminar
- Seminar thảo luận, tranh luận tự do
- Seminar báo cáo (theo chỉ định)
d) Theo phạm vi tổ chức
Dựa theo tiêu chí phân loại này, có 2 kiểu seminar
- Seminar theo tổ (hay liên tổ)
- Seminar theo lớp
1.3.2.3 Tổ chức seminar để phát huy hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của sinh viên
a) Các bước tiến hành buổi học theo hình thức seminar
Một buổi học seminar (với một đề tài cho trước, theo quy mô một lớp học) thường được tiến hành theo các bước sau đây:
- Chuẩn bị:
+ Nêu đề tài thuyết trình, thảo luận: Đề tài là những vấn đề cơ bản của chương trình môn học, gây được hứng thú sáng tạo, nghiên cứu của sinh viên; sinh viên chọn trong phạm vi đề tài giảng viên khống chế, hoặc tự đề xuất
+ Phân công thuyết trình: Sinh viên xung phong kết hợp với sự chỉ định của giáo viên sao cho có đồng đều ba loại sinh viên trung bình, khá, giỏi
+ Nghiên cứu tài liệu (hoặc thực tiễn): Tất cả sinh viên đều thực hiện, giáo viên có gợi ý, hướng dẫn và nêu những điểm cần chú ý