43 3.4 Số lượng vi khuẩn Salmonella spp trong phân bê thường và phân bê 3.5 Một số đặc tính sinh hoc các chủng E.coli phân lập được 49 3.6 Type kháng nguyên O theo nhóm các chủng Salmo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ THỊ LÊ NA
VAI TRÒ CỦA E.COLI VÀ SALMONELLA SPP
TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY TRÊN BÊ HƯỚNG SỮA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM SỮA TH
CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LẠI THỊ LAN HƯƠNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là luận văn do tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong công trình nghiên cứu nào khác.Các tài liệu trích dẫn đều được ghi tên tác giả và tên tài liệu trích dẫn trong phần tại liệu tham khảo
Tác giả luận văn
Vũ Thị Lê Na
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, thực tập và hoàn thành luận văn này tôi đã nhận
sự giúp đỡ tận tình và chu đáo của các cơ quan cá nhân trong và ngoài nhà trường Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể quý thầy cô khoa Thú y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt 2 năm học vừa qua Đặc biệt, tôi xin biết ơn sâu sắc đến cô giáo, Tiến sĩ Lại Thị Lan Hương, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, toàn bộ công nhân viên công ty CP thực phẩm sữa TH, Viện Thú y đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập góp phần vào sự thành công của đề tài này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới những người thân yêu trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên chia sẻ và giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành tốt đợt thực tập cũng như quá trình viết bài luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do kiến thức và năng lực còn nhiều hạn chế, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên trong quá trình học tập cũng như hoàn thành nội dung luận văn này khó tránh khỏi những sai sót, kính mong quý thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè thông cảm, góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 30 tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Thị Lê Na
Trang 4
1.3 Tình hình nghiên cứu về vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy ở bê, nghé 9
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Trang 52.2.2 Môi trường, hoá chất, dụng cụ thí nghiệm 31
2.4.2 Phương pháp phân lập và giám định vi khuẩn 33
2.4.3 Phương pháp xác định tổng số vi khuẩn hiếu khí, số lượng E.coli và
2.4.4 Phương pháp xác định đặc tính sinh vật hóa học của vi khuẩn E.coli 34 2.4.5 Phương pháp kiểm tra tính mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn 36
3.2 Tỷ lệ bê mắc hội chứng tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo độ tuổi 39 3.3 Số lượng vi khuẩn E.coli trong phân bê mắc hội chứng tiêu chảy 40 3.4 Số lượng vi khuẩn Salmonella spp trong phân bê không tiêu chảy và
3.5 Đặc tính sinh hóa học của vi khuẩn E.coli và Salmonella spp 48
3.5.1 Đặc tính sinh học các chủng E.coli phân lập được 48
3.5.2 Đặc tính sinh học các chủng Salmonella spp phân lập được 50 3.6 Xác định serotype các chủng Salmonella spp phân lập được 53 3.7 Tính mẫn cảm kháng sinh của các chủng vi khuẩn E.coli và
3.7.1 Tính mẫn cảm kháng sinh của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được 54
3.7.2 Tính mẫn cảm kháng sinh của các chủng Salmonella spp phân lập được 55
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHI : Brain Heart Infusion
EMB : Eosin Methylene Blue Agar
TSI : Triple Sugar Iron
Colinial Forming Unit Hội chứng tiêu chảy
Escherichia coli Adherencia Enteropathogenic E.coli Enterotoxigenic E.coli
Labile Heat Toxin Stable Heat Toxin
Clostridium perfringens
lypopolysacharide
vi khuẩn cộng sự Polymerase Chain Reaction Rough
Smooth Mucoid
Trang 7DANH MỤC BẢNG
2.1 Bảng tiêu chuẩn phân tích kết quả đường kính vòng vô khuẩn 37 3.1 Kết quả nghiên cứu tỷ lệ bê tiêu chảy và chết do tiêu chảy 38 3.2 Kết quả theo dõi tỷ lệ bê tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo độ tuổi 39 3.3 Số lượng vi khuẩn E.coli trong phân bê bình thường và bê tiêu chảy 43 3.4 Số lượng vi khuẩn Salmonella spp trong phân bê thường và phân bê
3.5 Một số đặc tính sinh hoc các chủng E.coli phân lập được 49 3.6 Type kháng nguyên O theo nhóm các chủng Salmonella spp phân lập
3.7 Xác định serotype của vi khuẩn Salmonella spp phân lập được từ bê 53 3.8 Tính mẫn cảm kháng sinh của các chủng E.coli phân lập được 54 3.9 Tính mẫn cảm kháng sinh của các chủng vi khuẩn Salmonella spp
3.10 Kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy ở bê 57
Trang 83.5 So sánh biến động số lượng vi khuẩn Salmonella spp trong phân bê 47 3.6 Khuẩn lạc E.coli trên một số môi trường nuôi cấy 50 3.7 Khuẩn lạc Salmonella spp trên một số môi trường nuôi cấy 52 3.8 Kháng sinh đồ của vi khuẩn E.coli phân lập từ phân bê 55 3.9 Kháng sinh đồ của vi khuẩn Salmonella spp phân lập từ phân bê 56
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Tổng đàn bò sữa của nước ta đã tăng từ 41000 con năm 2001 lên trên 158
366 000 con năm 2012 Tổng sản lượng sữa tươi sản xuất hàng năm tăng trên 6 lần
từ 64 000 tấn năm 2001 lên trên 381 000 tấn năm 2012 (Tống Xuân Chinh, 2012) Chăn nuôi bò sữa Việt Nam đã và đang được đầu tư phát triển từ các chương trình quốc gia Từ các dự án giống, nguồn gien bò sữa cao sản đã được nhập nội góp phần nâng cao năng suất và chất lượng đàn bò
Chăn nuôi bò sữa là một nghề có hiệu quả kinh tế cao nhưng là một nghề mới ở Việt Nam, người chăn nuôi vẫn còn ít kinh nghiệm nên còn nhiều khó khăn, năng suất thấp và chất lượng sữa chưa cao Quy mô chăn nuôi bò sữa còn nhỏ, phương thức chăn nuôi còn hạn chế, nguồn thức ăn chủ yếu tận dụng, nông dân chưa có điều kiện để áp dụng khoa học công nghệ cao vào phát triển chăn nuôi Thời tiết và khí hậu nhiệt đới nóng ẩm ở Việt Nam là điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh phát triển Đây là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng chủ yếu đến hiệu quả kinh tế của chăn nuôi bò sữa
Hội chứng tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý phức tạp do nhiều nguyên nhân, hậu quả của nó bao giờ cũng gây ra viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hóa và cuối cùng là một “quá trình nhiễm trùng” (Roeder, 1987; Hồ Văn Nam, 1985) Theo Lê Minh Chí (1995) hội chứng tiêu chảy trầm trọng ở gia súc non, phổ biến khắp ở các vùng sinh thái nước ta, đặc biệt là ở bê nghé 70-80% tổn thất nằm trong thời kỳ nuôi dưỡng bằng sữa và 80-90% trong số đó là hậu quả của hội chứng tiêu chảy
Đến nay, hội chứng tiêu chảy ở gia súc còn được khẳng định xuất hiện gắn liền với các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa, gây ra bởi vi khuẩn: Hội chứng tiêu
chảy do E.coli, Salmonella spp, viêm ruột hoại tử do Clostridium penrfringens, bệnh phó thương hàn ở gia súc non sau cai sữa… Trong đó, E.coli và Salmonella spp là hai thành viên đóng vai trò quan trọng gây nên các quá trình bệnh lý ở đường
Trang 10tiêu hóa ở hầu hết các loại gia súc đặc biệt là gia súc non Bệnh do chúng gây ra có phạm vi rộng trên toàn thế giới Wray và Sojka (1977) Ở Việt Nam, đã có một số
tác giả nghiên cứu vai trò gây bệnh của khuẩn E.coli, Salmonella spp ở trâu, bò, bê,
nghé địa phương, lợn: Nguyễn Quang Tuyên (1996), Phạm Ngọc Thạch (1998), Nguyễn Bá Hiên (2001)… Các công trình nghiên cứu đã phân tích, giá vai trò của
vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy ở trâu, bò, bê, nghé
Tuy vậy, cho đến nay còn rất ít những nghiên cứu về vai trò của E.coli và Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy của bê giống sữa được nuôi quy mô công nghiệp tại Việt Nam Xuất phát từ những vấn đề thực tế đó chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:
“ Vai trò của E.coli và Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy trên bê hướng sữa tại công ty cổ phần thực phẩm sữa TH”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định vai trò của vi khuẩn E.coli và Salmonella spp trong hội chứng tiêu
chảy của bê giống sữa từ sau khi sinh đến giai đoạn bò tơ làm cơ sở cho các nghiên
cứu phòng và điều trị hội chứng tiêu chảy do E.coli, Salmonella spp gây ra ở bê sữa
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung, làm phong phú thêm lý luận cơ sở
về căn bệnh do E.coli và Salmonella spp gây ra
- Làm cơ sở cho các nghiên cứu vi khuẩn E.coli, Salmonella spp gây hội
chứng tiêu chảy trên bê sữa tại Việt Nam
- Là cơ sở cho việc xây dựng biện pháp phòng và điều trị hội chứng tiêu
chảy trên bê do vi khuẩn E.coli, Salmonella spp gây ra
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Những nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy
Hội chứng tiêu chảy bê là một bệnh phổ biến đã và đang gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi Hội chứng tiêu chảy gây chết với tỷ lệ thấp nhưng tác hại của
nó làm biến đổi cấu trúc niêm mạc ruột non dẫn đến giảm khả năng hấp thu thức ăn làm cho bê còi cọc, tăng tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng Nguy hiểm hơn, nguyên nhân của hội chứng tiêu chảy rất phức tạp đã gây ra sự nhầm lẫn trong chẩn đoán và điều trị Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, hội chứng tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý ở đường tiêu hóa có liên quan đến rất nhiều các yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát Xuất phát từ nguyên nhân hay triệu chứng lâm sàng căn cứ vào đặc điểm, thời gian hoặc tính chất của bệnh mà có các tên gọi khác nhau: hội chứng tiêu chảy, bệnh tiêu chảy không nhiễm trùng, bệnh tiêu chảy ở gia súc sơ sinh, bệnh phân sữa…
Các nghiên cứu bệnh lý tiêu chảy ở gia súc cho thấy biểu hiện bệnh lý chủ yếu là mất nước và chất điện giải, cuối cùng con vật bị trúng độc, kiệt sức và chết
Vì vậy, trong điều trị hội chứng tiêu chảy việc bổ sung nước và chất điện giải là yếu
tố cần thiết
Đối với gia súc non, tỷ lệ chết do hội chứng tiêu chảy tương đối cao Theo
Lê Minh Chí (1995) hội chứng tiêu chảy làm cho bê, nghé giảm khả năng sinh trưởng, còi cọc, tỷ lệ tử vong cao Theo Nguyễn Văn Lương (1963), Trịnh Văn Thịnh (1985), Lê Minh Chí (1995) lợn bị tiêu chảy thường mất nước, mất điện giải
và kiệt sức Những gia súc khỏi bệnh thường còi cọc, thiếu máu, chậm lớn, tỷ lệ nuôi sống thấp Đó cũng là nguyên nhân làm cho hiệu quả chăn nuôi không cao
Do điều kiện khí hậu nước ta thay đổi phức tạp, hội chứng tiêu chảy xảy ra quanh năm đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột lạnh ẩm, độ ẩm không khí cao Theo Wieler (2009), tiêu chảy xảy ra nhiều vào mùa mưa, nguyên nhân có thể do mùa mưa thức ăn thường ẩm và xấu hơn, vi khuẩn ít bị tiêu diệt bởi ánh nắng mặt
Trang 12trời, mùa mưa làm tăng độ ẩm trong môi trường nên vi khuẩn dễ dàng phát triển, phát tán và gây bệnh Theo Đoàn Thị Băng Tâm (1987), Sử An Ninh (1993), Lê Văn Tạo và cs (1993), Phan Thanh Phượng (1995), ở nước ta, tiêu chảy trên gia súc xảy ra quanh năm, đặc biệt vào vụ đông xuân, khi thời tiết thay đổi đột ngột và thời điểm chuyển mùa quanh năm
1.2 Nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy
Trong lịch sử nghiên cứu hội chứng tiêu chảy nhiều tác giả đã đưa ra kết quả cho thấy nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy rất phức tạp và thậm chí còn khác nhau theo thời gian, địa điểm và giai đoạn phát triển của con vật Tuy nhiên, hội chứng tiêu chảy là một bệnh lý ở đường tiêu hóa, liên quan đến nhiều yếu tố: có yếu
tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát Vì vậy, việc phân biệt giữa các nguyên nhân gây ra tiêu chảy là rất khó khăn (Phạm Ngọc Thạch, 1996) Các nhà khoa học đã tổng hợp những nguyên nhân chính gây ra hội chứng tiêu chảy ở gia súc như sau:
1.2.1 Do vi sinh vật
Vi khuẩn
Nguyên nhân tiêu chảy do vi sinh vật là một trong những nguyên nhân phổ biến đã được nhiều nhà khoa học công nhận Trong đường ruột của gia súc có rất
nhiều loại vi khuẩn như: E.coli, Salmonella spp, Shigella… khu trú ở dạng một hệ
sinh thái Hệ sinh thái vi sinh vật đường ruột ở trạng thái cân bằng động theo hướng
có lợi cho cơ thể vật chủ Hoạt động sinh lý của gia súc chỉ diễn ra bình thường khi
mà hệ sinh thái đường ruột luôn ở trạng thái cân bằng Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh, trạng thái cân bằng bị phá vỡ dẫn đến loạn khuẩn và hậu quả là gia súc bị tiêu chảy
Nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh: khi gặp điều kiện thuận lợi, những vi khuẩn thường gặp ở đường tiêu hóa sẽ tăng độc tính, phát triển với số lượng lớn trở thành có hại và gây bệnh
Trịnh Văn Thịnh (1964), Vũ Văn Ngữ (1979) và Trương Quang (2005) cho rằng do một số tác nhân nào đó, trạng thái cân bằng của hệ sinh thái đường ruột bị
Trang 13phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loại nào đó sinh sản lên quá nhiều sẽ sinh ra hiện tượng loạn khuẩn Loạn khuẩn đường ruột là nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh đường tiêu hóa và đặc biệt là hội chứng tiêu chảy
Vi khuẩn đường ruột như E.coli, Salmonella spp, Shigella… luôn là những
nguyên nhân gây ra rối loạn về tiêu hóa, viêm ruột và tiêu chảy ở người và nhiều loài động vật
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996), E.coli chiếm tỷ lệ cao nhất (45,6%) trong
số các vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy Trong khi vi khuẩn yếm khí Cl perfringens gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi và khi nó trở thành vai trò chính
Hồ Văn Nam và cs (1997), Archie (2001) khẳng định rằng vi khuẩn đường ruột có vai trò không thể thiếu được trong hội chứng tiêu chảy
Theo Nguyễn Ngã và cs (2000), thành phần vi khuẩn trong phân bê, nghé bị
tiêu chảy tập trung có 4 loại chính: E.coli, Salmonella spp, Shigella, Klebsiella, trong đó chủ yếu là E.coli và Salmonella spp có tỷ lệ nhiễm tương ứng là (72,48%
và 51,32%)
Nghiên cứu của Vũ Đạt và Đoàn Thị Băng Tâm (1995) cho thấy trâu, nghé
khỏe mạnh có tỷ lệ nhiễm Salmonella spp từ 23,3%-30,07% nhưng trong trường
hợp tiêu chảy tỷ lệ này tăng lên 37,5% (ở trâu) và 71,43% (ở nghé)
Nguyễn Văn Quang (2004), nghiên cứu vai trò của Salmonella spp và E.coli trong hội chứng tiêu chảy của bò, bê cho thấy E.coli và Salmonella spp bội nhiễm với tỷ lệ cao, số lượng E.coli tăng gấp 3 lần, Salmonella spp tăng 1,98 lần
Nguyễn Văn Sửu (2005) nghiên cứu ở ba tỉnh miền núi phía Bắc đã kết luận:
vi khuẩn E.coli, Salmonella spp và Cl perfringens thấy ở bê, nghé bị tiêu chảy cao
hơn bê, nghé ở trạng thái bình thường
Theo tác giả Cù Hữu Phú và cs (1999), 70% mẫu bệnh phẩm tiêu chảy của
lợn mắc bệnh tiêu chảy ở các độ tuổi khác nhau, đã phân lập được 60 chủng E.coli chiếm 85,75% và Salmonella spp chiếm 80% Từ kết quả góp phần khẳng vi khuẩn E.coli và Salmonella spp đóng vai trò chính gây hội chứng tiêu chảy
Vũ Bình Minh và Cù Hữu Phú (1999) nghiên cứu về E.coli và Salmonella
Trang 14spp gây tiêu chảy trên lợn cho biết tỷ lệ phát hiện E.coli độc trong phân là 80-90% trong số mẫu xét nghiệm Như vậy, E.coli, Salmonella spp, Clostridium perfringens
là những vi khuẩn thường gặp trong các loại vi khuẩn gây tiêu chảy cho gia súc nói
chung và bê, nghé nói riêng
Virus
Virus cũng là một trong những nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy ở gia súc Đã có nhiều nghiên cứu kết luận một số virus như: Rotavirus, TGE, Enterovirus, Parvovirus, Adenovirus cũng có vai trò nhất định gây ra hội chứng tiêu chảy Virus là tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, suy giảm sức đề kháng của cơ thể và gây tiêu chảy ở thể cấp tính
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997), virus TGE có sự liên hệ đặc biệt với các
tế bào ruột non Khi xâm nhập vào tế bào và phá hủy tế bào trong vòng đến 5 tiếng Trong đó sữa không được tiêu hóa, nước không được hấp thu dẫn đến tiêu chảy, mất dịch, chất điện giải và con vật có thể bị chết
Rotavirus thường gây ra hội chứng tiêu chảy cho lợn, bò và người Lợn con
từ 1 đến 6 tuần tuổi thường hay mắc với các biểu hiện lâm sàng kém ăn, bỏ ăn, tiêu chảy nhiều lần trong ngày gầy sút do mất nước và nằm bẹp ở một chỗ Giai đoạn cuối con vật biểu hiện thiếu máu, trụy tim mạch và chết
Lecce (1976), Nilson (1984) đã xác định vai trò của Rotavirus trong hội chứng tiêu hóa ở lợn Khoon Teng Huat (1995) đã thống kê được 11 loại virus có tác động làm tổn thương đường tiêu hóa gây viêm ruột ỉa chảy như Adenovirus type
IV, Enterovirus, Rotavirus
Theo Bergenland (1992) trong số những mầm bệnh thường gặp ở lợn trước
và sau cai sữa bị bệnh tiêu chảy có rất nhiều loại virus: 29% phân lợn tiêu chảy phân lập được Rotavirus trong khi TGE, Enterovirus và Parvovirus có tỷ lệ phân lập lần lượt là 11,2%; 2% và 0,7%
Ký sinh trùng
Ký sinh trùng ký sinh trong đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy Ngoài tác động lấy đi chất dinh dưỡng của vật chủ, ký
Trang 15sinh trùng còn làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa Đây là cơ hội cho các vi sinh vật có hại gây nhiễm trùng
Gia súc bị mắc bệnh do giun tròn gây ra có biểu hiện gầy yếu, ăn uống kém,
da và niêm mạc nhợt nhạt do thiếu máu, tiêu chảy ở mức độ trung bình, không liên tục (Phạm Ngọc Thạch, 1998)
Phan Địch Lân (1994, 2004), theo dõi 37 trâu bị sán lá gan nặng thấy có triệu chứng gầy rạc, suy nhược cơ thể, phân lỏng không thành khuôn, có khi ỉa lỏng (32/37); bụng ỏng, ỉa chảy kéo dài (13/37)
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006), các loại ký sinh trùng gây tiêu chảy
cho trâu bò thường gặp là Nematode, Strongyloides, Ascarissuum, Fasciola herpatica Qua việc nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán của trâu bò: Nguyễn Thị Lan Anh và cs (2000) cho biết: Trâu bò thường bị nhiễm giun sán đường tiêu hóa từ rất sớm và nhiễm ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là từ 1 đến 4 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm giun tròn là 82,1%
Theo kết quả của Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) có 16 loại giun ký sinh trong đường tiêu hóa của trâu bò ở Đắc Lắc, trong đó có một 1 loại ký sinh ở gan, 11 loại
ở dạ cỏ, 1 ở dạ múi khế, 2 loại ở ruột non và 1 loại ở ruột già Loại gây tác hại nặng
nhất là Fasciola ssp ký sinh ở ống dẫn mật, làm rối loạn chức năng sinh lý của gan
làm cho gia súc gầy yếu, rối loạn tiêu hóa
Giun đũa Toxocara vitulorum thường gây ỉa chảy phân trắng cho bê, nghé non từ 1 đến 3 tháng tuổi Sán lá gan Fasciola gigantica trong quá trình ký sinh tiết
độc tố gây ỉa chảy cho bê non Ký sinh trùng thường là nguyên nhân tiền phát cho nhiễm trùng và ỉa chảy nặng ở bê (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2002)
Theo Lê Văn Năm (2004), lợn con, bê, nghé nhiễm cầu trùng thường được chẩn đoán không chính xác nên 30-50% gia súc non bị chết, số còn lại còi cọc và chậm lớn
Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) cho biết: giun đũa Ascaris suum trưởng thành cư trú
ở ruột non gây viêm niêm mạc ruột, gây loét niêm mạc, làm gia súc đau bụng và ỉa chảy
Trang 161.2.2 Những nguyên nhân khác
Thời tiết khí hậu
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể động vật nói chung và đối với vật nuôi nói riêng, đặc biệt là gia súc non Theo nghiên cứu Nguyễn Vĩnh Phước (1978) và Đào Trọng Đạt (1996), nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết được chia làm 4 mùa rõ rệt, trong mỗi mùa đều có sự biến đổi thời tiết, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng… và các thay đổi về chăm sóc nuôi dưỡng Những sự thay đổi đó là điều kiện thuận lợi cho các mầm bệnh gây hại phát triển, gây chết nhiều gia súc trong đó phổ biến là các bệnh về đường tiêu hóa
Trong các yếu tố thời tiết thì sự thay đổi về nhiệt độ và ẩm độ cao là hai yếu
tố gây ảnh hưởng nhiều nhất tới sức khỏe đàn vật nuôi Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ thống điều hòa thân nhiệt ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, làm giảm sức đề kháng, khi đó hệ vi sinh vật đường tiêu hóa có điều kiện thuận lợi tăng số lượng, độc lực và gây bệnh
Theo các tác giả Niconxki (1986), Sử An Ninh (1993), Hồ Văn Nam và cs (1997), khi gia súc chịu lạnh ẩm kéo dài hệ miễn dịch suy giảm do đó gia súc dễ bị
vi khuẩn cường độc gây bệnh
Các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi bất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng nghi còn yếu (Đoàn Thị Kim Dung, 2004)
Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng
Chăm sóc nuôi dưỡng có vai trò hết sức quan trọng trong chăn nuôi Việc thực hiện đúng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng sẽ đem lại sức khỏe và sự tăng trưởng cho gia súc Khi chất lượng thức ăn thấp kém, chuồng trại không đảm bảo,
kỹ thuật nuôi chăm sóc không phù hợp là nguyên nhân làm giảm sức đề kháng gia súc dễ mắc bệnh
Theo nghiên cứu Trịnh Văn Thịnh (1885) và Hồ Văn Nam (1997), khẩu phần ăn cho vật nuôi không thích hợp, trạng thái thức ăn không tốt, thức ăn kém
Trang 17chất lượng như: mốc, thối và nhiễm các tạp chất, các vi sinh vật có hại dẫn đến rối loạn tiêu hóa kèm theo viêm ruột ỉa chảy ở gia súc
Thay đổi thức ăn đột ngột, đặc biệt là tăng hàm lượng đạm và chất béo thường làm cho bê, nghé rối loạn tiêu hóa dẫn đến viêm ruột (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2002; Laval, 1997); thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết cho cơ thể gia súc, đồng thời phương thức cho ăn không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của gia súc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy
Như vậy, có thể nói hội chứng tiêu chảy của bê, nghé là một hội chứng bệnh
lý rất phức tạp ở đường tiêu hóa, do nhiều nguyên nhân, nhiều yếu tố tác động Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xin trình bày vai trò của vi khuẩn
E.coli , Salmonella spp gây hội chứng tiêu chảy trên đàn bê sữa
1.3 Tình hình nghiên cứu về vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy ở bê, nghé 1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Từ lâu, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về vi khuẩn E.coli và Salmonella spp Vi khuẩn E.coli được các bác sỹ người Đức Theodor Escherich (1857-1911) mô tả lần đầu tiên vào năm 1885, E.coli thuộc họ Enterrobacteriace Escherichia coli thường xuất hiện sớm ở ruột người và động vật sơ sinh sau khi đẻ
2 giờ chúng thường cư trú ở phần sau của ruột, ít khi thấy ở dạ dày hay ruột non, vô hoạt sống trong ruột già của người và động vật Smith (1963) đã cho thấy hai loại
độc tố là thành phần chính của Enterotoxin được phát hiện ở các vi khuẩn E coli
gây bệnh Hai loại đó có sự khác biệt về khả năng chịu nhiệt Độc tố chịu nhiệt ST (Heat-Stable Toxin) chịu nhiệt ở 100oC trong vòng 15 phút Độc tố không chịu nhiệt LT (Heat-Labile Toxin) bị vô hoạt ở nhiệt độ 60oC trong vòng 15 phút
Theo Smith và cs (1968), trong nước ô nhiễm các loại vi khuẩn gây bệnh
mang plasmid kháng thuốc có thể sống rất lâu Nước nhiễm E.coli và Salmonella spp chủ yếu do động vật thải trực tiếp hay gián tiếp Minchew và cs (1978) đã phát
hiện có 48% số chủng vi khuẩn E.coli phân lập ở ngoài đường ruột có khả năng
dung huyết, trong khi đó vi khuẩn phân lập từ phân chỉ có từ 8-10% các chủng gây dung huyết
Trang 18Evan và cộng sự (1981) đã xác định được 48% chủng E.coli phân lập ngoài
đường ruột, 8-10% phân lập được từ phân, 42% phân lập được từ bàng quang và 29% phân lập từ máu và có khả năng dung huyết
Theo Sokol (1981), vi khuẩn E.coli thường trực trong đường ruột trở thành vi
khuẩn gây bệnh vì trong quá trình sống vi khuẩn có thể tiếp nhận các yếu tố gây bệnh, bao gồm các yếu tố dung huyết (Hly), yếu tố cạnh tranh (Colv) và các yếu tố bám dính Có 5 yếu tố bám dính gồm F4 hay còn gọi là K88 (K88ac, K88ab, K88ad); F5 hay còn gọi là K99; F6 hay còn gọi là 987P Loại kháng nguyên F4 cho phép vi khuẩn có khả năng bám dính vào tế bào biểu mô của toàn bộ ruột non Kháng nguyên F5, F6 chỉ kết dính ở tế bào biểu mô phần giữa và phần sau của
ruột non Các kháng nguyên F4 và F6 chỉ có ở vi khuẩn E.coli gây bệnh trên lợn, F5 chủ yếu ở vi khuẩn E.coli gây bệnh trên bê Các yếu tố gây bệnh này không được di
truyền bằng ADN của nhiễm sắc thể mà di truyền bằng ADN nằm ngoài nhiễm sắc thể được gọi là plasmid Qua hiện tượng di truyền bằng tiếp hợp, chính yếu tố gây bệnh này giúp cho vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao của ruột non, xâm nhập vào thành ruột Từ đây, vi khuẩn thực hiện các quá trình gây bệnh và sản sinh độc tố, gây phá hủy tế bào niêm mạc ruột, gây dung huyết, nhiễm độc huyết Felix
B (1983) cho rằng plasmid mang mã thông tin ngoài nhiễm sắc thể của vi khuẩn
Mã di truyền này có cấu trúc ADN hình tròn hai nhánh xoắn, có khả năng tái sinh Thông qua plasmid, vi khuẩn có khả năng kháng kháng sinh, kháng tia tử ngoại và
có khả năng tạo colicin
Tại Iraq, Abdul-rudha và cộng sự (1984) cho biết khi nghiên cứu 103 bê bị
tiêu chảy đã thấy 41 chủng E.coli gây bệnh phân lập được thuộc 12 nhóm kháng
huyết thanh khác nhau, trong dó chủ yếu là O9 và O20 và kháng nguyên K99 Acres
(1985) nghiên cứu nhiễm khuẩn E.coli ở bê sơ sinh đã khẳng định: hội chứng tiêu chảy do Enterotoxigenic E.coli (ETEC) là bệnh nhiễm khuẩn của bê xảy ra từ ngày
đầu sau sinh ETEC gây bệnh có độc lực giúp chúng phát triển ở ruột và tạo ra
Enterotoxin.
Gunther và cộng sự (1985) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi gia súc đối với
tiêu chảy của bê do vi khuẩn E.coli gây ra, đã khẳng định sức đề kháng của bê đối
Trang 19với vi khuẩn E.coli tăng nhanh theo lứa tuổi
AL-Dabbas và Willinger (1986) qua nghiên cứu tính chất của các chủng
E.coli ở bê bị tiêu chảy từ năm 1970-1983 cho biết: 274 chủng E.coli phân lập được
thì type O101 chiếm 59,1%; O9 chiếm 25,9%; O8 chiếm 6,6% và O35 chiếm 2,6%
Có 12% số chủng phân lập được không xác định type và 25,8% chủng có độc tố
Theo Janke và cs (1989), tuổi của bê nghé cảm nhiễm Adherencia Enteropathogenic E.coli (AEEC) từ 2 đến 4 tháng tuổi, sự cảm nhiễm với AEEC dường như là nguyên nhân duy nhất của bệnh tiêu chảy và nguyên nhân tử vong của một số gia súc Hiện tượng xuất huyết đường ruột kéo theo các tổn thương biến đổi
từ các đám nhỏ lác đác trên các vết thương lớn lan rộng khắp màng nhầy ruột là do quá trình bám dính của vi khuẩn gây ra
Fialova (1989) đã phân lập được 400 chủng E.coli từ bê mắc bệnh và hầu hết
các bê tiêu chảy trầm trọng, viêm tĩnh mạch rốn, viêm khớp hoặc một số trường hợp nhiễm trùng máu
Tominaga (1989) xác định được đặc điểm sinh hóa và khả năng gây bệnh của
E.coli phân lập được từ bê bị tiêu chảy Các đặc điểm sinh hóa đặc biệt của vi khuẩn này là kị khí, di động và sản sinh enzym, phân hủy urê Các serotype huyết thanh
của chúng là O5:K các chủng E.coli không điển hình phân lập từ bê có sản sinh
Verotoxin, nhưng không sản sinh ST và LT
Otoi (1990) đã nghiên cứu sự cảm nhiễm E.coli có cấu trúc kháng nguyên K99 ở bê và kết quả điều trị kháng huyết thanh học cho thấy có 11 chủng E.coli mang K99 Các chủng E.coli phân lập được từ phân của 50 bê bị tiêu chảy đã xác
định được khả năng sản sinh độc tố chịu nhiệt ST và không sản sinh độc tố không chịu nhiệt LT và có 9 chủng mang kháng nguyên O9, 2 chủng có kháng nguyên O8 Nghiên cứu huyết thanh học của 100 gia súc từ 92 trang trại cho kết quả 34 gia súc được kiểm tra sau 6-9 tháng có hiệu giá kháng thể với kháng nguyên K99 cao gấp 4
lần Bljer và cs (1990), Janke và cs (1990) kết luận: E.coli gây hội chứng tiêu chảy
ở bê chủ yếu đều cư trú ở đoạn kết tràng gấp, chúng gây ra các tổn thương đặc biệt bao gồm viêm kết tràng, xuất huyết ở manh tràng Kết quả quan sát cho thấy 40%
Trang 20bê và gần 90% gia súc cảm nhiễm là sơ sinh, tuổi trung bình là 11,8 ngày xuất hiện hiện tượng viêm này
Faibrother (1992) phân loại E.coli theo những yếu tố gây bệnh mà chúng có sản sinh bao gồm: Enterotoxigenic E.coli (ETEC), Enterotoxinnic E.coli (ETEEC), Enterotopathogenic E.coli (EPEC), Verotoxigenic E.coli(VTEC), Adherence Enterotopathogenic E.coli (AEEC) từ đó xác định các serotype mang các yếu tố gây
bệnh đặc trưng cho từng loại vi khuẩn trên từng nhóm gia súc khác nhau
Blanco (1993) đánh giá vai trò của: ETEC, VTEC, Necrotoxigenic (NTEC)
của vi khuẩn E.coli trên bò mắc tiêu chảy và cho rằng bò là nguồn mang VTEC và
gây bệnh cho con người Nghiên cứu của Cray (1995) cho thấy sự thải hồi của độc
tố E.coli O157:H7 có thể được tìm thấy ở phân
Martins và cs (2000) phát hiện các chủng vi khuẩn E.coli kháng thuốc với tỷ
lệ và mức độ cao, có đến 50,5% số chủng đã kháng lại ít nhất một loại kháng sinh
và 20,87% số chủng kháng lại hai hay nhiều hơn các loại kháng sinh khác nhau
1.3.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, hội chứng tiêu chảy do vi sinh vật đặc biệt là E.coli và Salmonella spp gây ra ở bê, nghé xảy ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước Bệnh đã và đang gây thiệt hại nghiêm trọng cho chăn nuôi trâu bò ở tất cả các phương thức và quy mô chăn nuôi Vì vậy, đã có nhiều nghiên cứu bệnh tiêu chảy ở
bê, nghé do vi khuẩn E.coli và Salmonella spp Nguyễn Như Thanh và cộng sự
(1997); Cù Hữu Phú và cs (1996-2000) nghiên cứu phân lập vi khuẩn từ những gia
súc mắc hội chứng tiêu chảy cho thấy tỷ lệ phân lập vi khuẩn E.coli cao 85-100%, tiếp theo vi khuẩn Salmonella spp và Streptococus
Theo Phạm Quang Phúc (2003), khi nghiên cứu tỷ lệ chết của bê, nghé mắc tiêu chảy tỷ lệ nghịch với tuổi của bê, nghé Tỷ lệ chết cao hơn vào vụ đông xuân Ngoài ra, yếu tố địa lý cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ chết Tác giả cũng xác định các
serotype O101, O9, O20 và O8 trong 213 chủng E.coli phân lập được
Nguyễn Văn Quang (2004) cho biết khi bò, bê tiêu chảy có hiện tượng bội
nhiễm của E.coli Các chủng E.coli phân lập được từ bò, bê bị tiêu chảy sản sinh
độc tố ST là 83,3%; LT là 41,6% 30% có khả năng dung huyết, 50% sản sinh F4
Trang 21(K88) và 55% sản sinh F5 (K99) Nghiên cứu của tác giả được tiến hành ở các tỉnh Nam Trung Bộ cũng cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở bê nghé cao nhất vào mùa xuân, thấp nhất vào mùa thu Tỷ lệ chết cao nhất vào mùa đông, thấp nhất vào mùa thu Tỷ lệ chết cũng giảm theo độ tuổi
Số lượng vi khuẩn E.coli gây bệnh tăng lên cao hơn so với bê không bị tiêu
chảy tăng trung bình 81,04% ở bê và 184,62% ở nghé
Trương Quang và cs (2006) nghiên cứu vai trò gây bệnh của E.coli trong hội
chứng tiêu chảy của bê, nghé cho biết: khi bê, nghé bị tiêu chảy thì số lượng và tỷ lệ
các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được mang các yếu tố gây bệnh và sản sinh độc
lực (yếu tố bám dính, khả năng dung huyết, độc tố đường ruột, độc tố không chịu nhiệt) tăng gấp nhiều lần so với bê, nghé khỏe
1.4 Một số vi khuẩn đường ruột quan trọng
1.4.1 Vi khuẩn E.coli
Vi khuẩn E.coli được Theodor Escherich phân lập năm 1885 từ phân trẻ em E.coli thường xuất hiện rất sớm trong hệ tiêu hóa của người và động vật sau khi
được sinh ra và tồn tại đến khi con vật chết Trong đường ruột động vật E.coli
chiếm khoáng 80% tổng số các vi khuẩn hiếu khí
Các chủng vi khuẩn E.coli thuộc nhiều serotype khác nhau Cho đến nay đã
phát hiện được 279 serotype, trong đó có 25 serotype có độc lực và có vai trò quan trọng trong một số bệnh của gia súc
1.4.1.1 Một số đặc tính của vi khuẩn E.coli
Vi khuẩn E.coli thuộc họ Enterobacteriaceae, tộc Escherichae, giống Escherichia , loài Escherichia coli Trong các vi khuẩn đường ruột, E.coli phổ biến còn có tên Bacterium coli commune, Bacilus coli communis Ở điều kiện bình thường, các chủng vi khuẩn E.coli không gây bệnh, khi điều kiện chăm sóc nuôi
dưỡng, vệ sinh thú y kém, điều kiện ngoại cảnh bất lợi, dẫn đến sức đề kháng của
con vật giảm thì vi khuẩn E.coli trở nên cường độc và có khả năng gây bệnh
Đặc điểm hình thái
Theo Bergeys (1957), vi khuẩn E.coli là một trực khuẩn ngắn, kích thước
Trang 222-3x0,6 µm, có hai đầu tròn, có lông nên đa số di động được, một số không có khả
năng di động Vi khuẩn E.coli không hình thành nha bào, có thể có giáp mô, bắt
màu gram âm Trong cơ thể gia súc, vi khuẩn có hình cầu riêng rẽ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Dưới kính hiển vi điện tử, thấy những Pili yếu tố mang kháng
nguyên bám dính của vi khuẩn E.coli
Đặc tính nuôi cấy
E.coli là trực khuẩn hiếu khí tùy tiện, có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 5-40oC, nhiệt độ thích hợp là 37oC trong 24 giờ, pH thích hợp là 7,2-7,4 nhưng có thể phát triển ở pH 5,5-8 Vi khuẩn phát triển mạnh trên môi trường nuôi cấy thông thường Một số chủng có thể phát triển được ở môi trường tổng hợp đơn giản:
- Trên môi trường nước thịt: sau thời gian nuôi cấy ở 37oC trong vòng 24
giờ, vi khuẩn E.coli phát triển rất nhanh, môi trường rất đục, có cặn màu tro trắng
nhạt lắng xuống đáy, đôi khi hình thành màng mỏng xám nhạt trên bê mặt môi trường, môi trường có mùi phân thối
- Trên môi trường thạch thường, bồi dưỡng ở 37oC trong 24 giờ, vi khuẩn phát triển hình thành những khuẩn lạc tròn ướt, bóng láng, không trong suốt, màu tro nhạt, hơi lồi đường kính 2-3mm Nuôi lâu hơn, khuẩn lạc chuyển màu gần như màu nâu nhạt và mọc rộng ra Có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng M (Mucoid) và dạng R (Rough)
- Trên môi trường thạch máu: sau 24 giờ nuôi cấy ở 37oC, vi khuẩn E.coli
hình thành những khuẩn lạc to, ướt, lồi, viền không gọn, màu sáng, kích thước từ
1-2 mm, có thể dung huyết hay không tùy thuộc vào chủng
- Trên môi trường thạch MacConkey: sau khi nuôi cấy 24 giờ trong tủ ấm
37oC, hình thành các khuẩn lạc màu hồng, tròn nhỏ, hơi lồi, không nhầy, rìa gọn, không làm chuyển màu môi trường
- Trên môi trường Indol: sau 24 giờ nuôi cấy ở 37oC vi khuẩn hình thành khuẩn lạc màu đỏ mận chín
- Trên môi trường EMB: sau 24 giờ ở 37oC vi khuẩn hình thành khuẩn lạc màu tím đen có ánh kim
Trang 23- Trên môi trường thạch SS: sau 24 giờ nuôi cấy ở 37oC vi khuẩn hình thành khuẩn lạc màu đỏ
- Trên môi trường thạch Brilliant Green Agar: sau 24 giờ nuôi cấy ở 37oC vi khuẩn hình thành khuẩn lạc dạng S (Smooth), màu vàng chanh
Vi khuẩn không mọc lên ở các môi trường Malasit, Mulerkauffmann, khó mọc trong môi trường Wilson Blair
Nguyễn Như Thanh và cộng sự (1997)
Các phản ứng sinh hóa: Làm đông vón sữa sau 24 giờ đến 72 giờ ở nhiệt độ
37oC Không làm tan chảy Gelatin, huyết thanh đông, lòng trắng đông; H2S âm tính,
VP âm tính, MR dương tính, Indol dương tính
Hoàn nguyên nitrat thành nitrit, khử cacboxyl trong môi trường lysine decacboxylase, có các men cacboxylaza với lyzin, dinitin, acginin, glutanic
Sức đề kháng
Vi khuẩn E.coli không hình thành nha bào nên có sức đề kháng yếu, chết ở
nhiệt độ 55oC trong vòng một giờ, ở 100oC thì chết ngay Những chủng vi khuẩn
E.coli trong phân có xu hướng đề kháng cao hơn những chủng được phân lập từ môi
trường bên ngoài Ở môi trường bên ngoài, các chủng vi khuẩn E.coli gây bệnh có thể tồn tại đến 2 tháng (Nguyễn Như Thanh và cs, 1997)
Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn E coli
E.coli có kháng nguyên thân O (Somatic), kháng nguyên lông H (flagellar), kháng nguyên vỏ K (Caspular) và kháng nguyên F (Fimbriae)
Hiện nay, người ta xác định được 170 nhóm kháng nguyên O, 70 type kháng nguyên K, 56 type kháng nguyên H và một nhóm kháng nguyên F Bertschinger và
cs (1992) Bằng các phản ứng ngưng kết, các nhà khoa học đã phát hiện được các
Trang 24tính chất phức tạp, các yếu tố kháng nguyên của vi khuẩn E.coli, bao gồm các loại:
Kháng nguyên O (Somatic – kháng nguyên thân)
Theo Zinner và Peter (1983), đây là thành phần chính của vi khuẩn và cũng được coi là yếu tố độc lực của vi khuẩn Kháng nguyên O được coi như ngoại độc tố,
có thể tìm thấy ở màng ngoài vỏ của vi khuẩn và thường xuyên được giải phóng vào môi trường nuôi cấy Kháng nguyên là lypopolysarcharide bao gồm hai nhóm sau: Polysacharide có nhóm hydro ở thành ngoài vi khuẩn, mang tính chất đặc trưng cho kháng nguyên từng giống
Polysacharide không có nhóm hydro nằm ở phía trong, không mang đặc tính đặc trưng mà chỉ tạo sự khác biệt về khuẩn lạc (từ dạng S sang dạng R)
Tính chất của kháng nguyên O: Chịu nhiệt (không bị phá hủy khi bị đun nóng ở 100oC trong vòng 2 giờ); tồn tại trong cồn, axit HCl 1M trong 20 giờ Kháng nguyên O rất độc, chỉ cần 1/20mg đã đủ giết chết chuột nhắt trắng sau 24 giờ, nhưng bị phá hủy bởi Fomol 0,5%
Kháng nguyên O bao gồm các thành phần
Protein: làm cho phức hợp mang tính kháng nguyên
Polyosit: tạo ra tính đặc hiệu của kháng nguyên
Lipit: kết hợp với Polyosit và là cơ sở của độc tính
Theo Medearis (1968), khi làm mất dần từng phân tử đường của chuỗi polysacharide hay thay đổi vị trí của các phân tử này sẽ dẫn đến thay đổi độc lực của vi khuẩn Tất cả kháng nguyên O đều hiện diện ở bề mặt, do vậy có thể kết hợp trực tiếp với hệ thống miễn dịch Khi gặp kháng huyết thanh tương ứng sẽ xảy ra phản ứng nhưng kết gọi là “ Hiện tượng ngưng kết O” Thân vi khuẩn ngưng kết với nhau dưới dạng những hạt khô, rất khó tan khi lắc
Kháng nguyên H (flagellar – kháng nguyên lông)
Kháng nguyên H được cấu tạo bởi thành phần lông vi khuẩn, có bản chất protein giống như chất myosin của cơ và mang các đặc tính sau:
Bị phá hủy ở 60oC trong 1 giờ Dễ bị cồn, acid yếu và các enzym phân giải protein phá hủy Kháng nguyên H vẫn tồn tại khi sử dụng formol 0,5% xử lý
Khi gặp kháng thể tương ứng sẽ xảy ra hiện tượng ngưng kết, trong đó lông
Trang 25của các vi khuẩn dính lại với nhau Các kháng thể kháng H cố định trên lông và là cầu nối với các lông bên cạnh Kết quả tạo ra các hạt ngưng kết giống như hạt bông nhỏ Các hạt ngưng kết rất dễ tan khi lắc vì các lông rất nhỏ và dài, dễ đứt Các vi khuẩn di động khi gặp kháng thể tương ứng và sẽ trở thành không di động Kháng
nguyên H của E.coli không có vai trò bám dính, đáp ứng miễn dịch nên ít được
quan tâm nghiên cứu nhưng có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định giống, loài của vi khuẩn và bảo vệ vi khuẩn không bị tiêu diệt trong tế bào đại thực bào, giúp vi khuẩn tồn tại trong đại thực bào Weinstein (1984)
Kháng nguyên K (Capsular – kháng nguyên bề mặt)
Còn gọi là kháng nguyên bề mặt bao quanh vi khuẩn và có bản chất là polysacharide Vai trò của kháng nguyên K chưa được thống nhất, có quan điểm
cho rằng nó không có ý nghĩa về độc lực, vì vậy chủng E.coli có kháng nguyên K
cũng giống như chủng không có kháng nguyên K (Orskov, 1980) cũng có ý kiến cho rằng kháng nguyên K có ý nghĩa về độc lực do tham gia bảo vệ vi khuẩn trước các yếu tố phòng vệ của cơ thể (Evan và cs, 1981) Kháng nguyên K: có hai chức năng chính là hỗ trợ phản ứng ngưng kết với kháng nguyên O và tạo ra hàng rào bảo
vệ giúp vi khuẩn chống lại điều kiện ngoại lai và hiện tượng thực bào
Theo Nguyễn Như Thanh (1997), kháng nguyên K gồm 3 loại kháng nguyên:
L, A, B
Kháng nguyên L: ngăn không cho hiện tượng ngưng kết O của vi khuẩn sống xảy ra, ở 100oC trong 1 giờ kháng nguyên L bị phá hủy
Kháng nguyên A: ngăn hiện tượng ngưng kết O, kháng huyết thanh A trộn
với E.coli có kháng nguyên A gây hiện tượng phình vỏ Ở 120oC trong vòng 2 giờ kháng nguyên A mới bị phân hủy
Kháng nguyên B: gồm nhiều thành phần: B1, B2, B3, B4, B5 Kháng nguyên
B bị tiêu diệt khi ở 100oC trong 1 giờ
Dựa vào cấu trúc kháng nguyên O, vi khuẩn E.coli được chia thành làm nhiều nhóm, căn cứ vào cấu tạo kháng nguyên O, K, H vi khuẩn E.coli được chia
thành nhiều type, mỗi type đều được ghi thứ tự các yếu tố kháng nguyên O, K, H
Kháng nguyên giáp mô (kháng nguyên vỏ bọc)
Trang 26Chất nhầy giáp mô phần lớn không có tính định hình vì khuyếch tán, thường được cấu trúc bởi hợp chất polysacharide nhưng cấu trúc này lại phụ thuộc vào từng
vi khuẩn khác nhau có cấu trúc khác nhau, do đó mà tính kháng nguyên của từng loại vi khuẩn khác nhau
Trong quá trình phát triển một số vi khuẩn tiết ra chất nhầy có khả năng tan trong nước bao quanh vách vi khuẩn, chống lại sự tác động của môi trường Có thể quan sát ở trạng thái ướt, dễ bị mất khi thay đổi điều kiện phát triển goi là giáp mô (Capsul) Nguyễn Như Thanh và cs (1997)
Kháng nguyên F (Fimbriae – kháng nguyên bám dính)
Ngoài lông nhiều vi khuẩn gram âm nói chung trong đó có vi khuẩn E.coli
còn có các sợi gọi là pili, có bản chất là protein bao phủ trên toàn bộ bề mặt vi khuẩn Dưới kính hiển vi điện tử, chúng có hình ảnh giống như một chiếc áo lông bao bọc xung quanh vi khuẩn, pili vi khuẩn đường ruột cứng hơn, lông không lượn sóng và không liên quan đến khả năng di động Một số kháng nguyên thường gặp ở
các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được từ phân gia súc ỉa chảy bao gồm FE4, F5, F6, F18 và F14 E.coli phân lập từ lợn có kháng nguyên F4 (K88) còn ở bê, nghé là
F5 (K99) đóng vai trò quan trọng nhất trong việc bám dính Parry và Peter (1978) Kháng nguyên F4 (K88): kháng nguyên F4 có khả năng gây ngưng kết hồng cầu Đặc tính này không bị cản trở bởi manose (đề kháng với manose) Kháng
nguyên này chỉ có mặt ở các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được từ phân lợn bị
tiêu chảy, đây là một yếu tố độc lực với lợn nhưng không có khả năng gây bệnh với các loài gia súc khác Điều đó phụ thuộc vào receptor đặc hiệu có trên bề mặt tế bào
biểu mô ruột non của các loại gia súc khác chỉ cho phép một số serotype E.coli nhất
định nào đó gắn vào với kháng nguyên pili mà thôi Kháng nguyên F4 được sản sinh ở nhiệt độ 37oC, trong khi ở nhiệt độ phòng 25oC vi khuẩn không có khả năng tạo kháng nguyên này Thông tin cho mã hóa cho tổng hợp kháng nguyên nằm ngoài nhiễm sắc thể, trên plasmid Gyles (1992)
Kháng nguyên F5 (K99): trước đây F5 được cho là kháng nguyên bám dính
của vi khuẩn E.coli Sự sản sinh của F5 phụ thuộc vào nhiều yếu tố của vi khuẩn
như tốc độ sinh trưởng, pha sinh trưởng, nhiệt độ và alanine trong môi trường Các
Trang 27gen mã hóa F5 nằm trên ADN của plasmid (Isaascon, 1983) Tuy nhiên, hiện này chúng cũng được tìm thấy với tỷ lệ thấp ở các chủng ETEC phân lập từ phân lợn tiêu chảy (Lindhl và cs,1990)
Kháng nguyên F6 (987P): giống như F4 và F5, F6 thường có mặt ở các nhóm kháng nguyên O9, O20, O101, O149 Vật liệu di truyền mã hóa quá trình tổng hợp nằm ngoài nhiễm sắc thể, trên plasmid của tế bào vi khuẩn (Orskov, 1980)
Kháng nguyên F41: những nghiên cứu đầu tiên F5 chỉ gồm 1 đơn vị, nhưng gần đây phân tích điện phân thấy F5 có 2 đơn vị , 1 đi về cực dương và 1 đi về âm Đơn vị cực dương là 1 Fimbriae riêng biệt (F41) Với phân tử lượng là 30.5 Kda (Jacob và cs, 1985), (Raybould và cs, 1987) Cox và cs (1993) cho thấy có ít chủng F14 bám vào lông nhung Tác giả cho rằng chỉ có lợn có sức đề kháng với sự bám
dính của các chủng E.coli có F41 do receptor tương ứng với F41 giảm số lượng
Kháng nguyên F18
Kháng nguyên F18 đã được Rippinger và cộng sự (1995) mô tả là có mối
quan hệ với các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được từ phân lợn tiêu chảy trước cai
sữa và bệnh phù đầu Dựa vào đặc điểm hình thái, huyết thanh học và đặc điểm kháng nguyên, người ta chia F18 thành 2 loại: F18ab và F18ac F18ab thường được tìm thấy trong bệnh phù đầu, trong khi đó F18ac phân lập được từ phân lợn con tiêu chảy trước cai sữa
1.4.1.2 Các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E.coli
Kazunori (1987) và Berschinger (1992) cho biết: bệnh viêm ruột tiêu chảy do
E.coli gây ra chịu tác động của nhiều yếu tố thích hợp cho vi khuẩn chuyển từ cộng
sinh thường trực sang cường độc và gây bệnh Trong quá trình này, E.coli thu nhận
những yếu tố độc lực và những yếu tố không phải là độc lực
- Các yếu tố không phải độc lực
Khả năng bám dính của vi khuẩn: là quá trình liên kết vững chắc giữa bề mặt
vi khuẩn với mặt tế bào vật chủ (Jones, 1976) Ngày nay, dưới kính hiển vi điện tử, các xác định sinh hóa và PCR đã xác định được cấu trúc vi thể đảm nhận chức năng bám dính, giúp vi khuẩn cố định trên niêm mạc ruột, đó là các Fimbriae Đã có nhiều nghiên
Trang 28cứu xác định các kháng nguyên bám dính của vi khuẩn E.coli như: F4 có ở E.coli gây bệnh tiêu chảy ở lợn con, F18 gây bệnh phù đầu ở lợn con sau cai sữa, F5 có ở E.coli
gây bệnh cho bê, nghé F41 có ở E.coli gây bệnh cho trẻ em Nagy (1999)
Hiện tượng bám dính của vi khuẩn lên bề mặt tế bào gồm các bước:
Bước 1:Vi khuẩn liên kết từng phần với bề mặt tế bào, thực hiện quá trình này đòi hỏi vi khuẩn phải có khả năng di động Jones (1983) Sự liên kết này tăng lên khi bề mặt của các vi khuẩn có các ion hoạt động mạnh, nhờ vậy vi khuẩn được
giữ lại trong lớp dịch nhầy niêm mạc ruột
Bước 2: Là quá trình hấp phụ và nó phụ thuộc vào đặc tính bề mặt của vi khuẩn
và của tế bào mà vi khuẩn bám dính và thực hiện theo hướng thuận nghịch, dưới tác động của những lực tương hỗ khác nhau (Freter, 1981) Chuyển động thẳng của vi khuẩn có thể giúp vi khuẩn cố định và bám chắc trên bề mặt tế bào tham gia vào sự hấp thụ của quá trình bám dính (Uhlman, 1982) (trích theo Nguyễn Thị Nội, 1986)
Bước 3: Quá trình tác động tương tác giữa các yếu tố bám dính của vi khuẩn với các điểm tiếp nhận trên bề mặt tế bào như màng glucoprotein của tế bào ruột non (lông nhung, vi nhung), nó là hợp chất protein mạch thẳng, được tạo bởi các đơn vị tiểu phần, số lượng đơn vi tiểu phân quyết định trọng lượng, độ dài của các yếu tố bám dính Lực để giữ và liên kết các tiểu phần trong yếu tố bám dính đến nay chưa rõ (Issacson, 1980)
Khả năng xâm nhập của vi khuẩn: sau khi bám dính, vi khuẩn sẽ xâm
nhập vào bên trong tế bào Ở đó, vi khuẩn E.coli nhân lên với tốc độ lớn, sản sinh
độc tố đường ruột, gây phản ứng với niêm mạc và gây độc
Khả năng dung huyết (Hly): vi khuẩn E.coli phát triển trong các cơ quan
vật chủ, F3+ được cung cấp cho sự dinh dưỡng phụ thuộc vào chất Siderofor do vi khuẩn sinh ra Chất này có khả năng phân hủy sắt liên kết trong tổ chức của vật chủ thông qua sự phá vỡ hồng cầu để vi khuẩn sử dụng dạng hợp chất HEM Vì vậy, khả năng sản sinh ra chất gây dung huyết (haemolyzin) của vi khuẩn được coi là một yếu tố độc lực của vi khuẩn
Khả năng kháng kháng sinh: trong thực tế, nhiều loại kháng sinh được sử
Trang 29dụng điều trị bệnh đường ruột Ngoài ra, kháng sinh còn được bổ sung thức ăn để phòng bệnh và kích thích tăng trọng gia súc, gia cầm đã dẫn đến hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn Sự kháng kháng sinh của vi khuẩn nói chung và vi khuẩn đường ruột nói riêng ngày càng gia tăng và làm giảm hiệu quả điều trị của kháng sinh
Hosoda và cs (1990) đã nghiến cứu sự kháng thuốc của vi khuẩn E.coli và
các plasmid – R của vi khuẩn này phân lập được từ bê tiêu chảy Kết quả nghiên cứu chó thấy tỷ lệ kháng với Tetracilin là 59,7%, Choloramfenicol là 21%, Steptomycin 52,9%, Sulfadimethoxine 37,8%, Kanamycin 45,4%, Penicilin 43,7%
và Nalidixic axit 28,6% Có tới 53,7% số chủng kháng thuốc mang các plasmid –R
Theo Phạm Khắc Hiếu (1996), tính kháng thuốc của vi khuẩn E.coli với một
số kháng sinh thường tăng lên rất nhanh; một số thuốc có hiệu quả trước đây với vi
khuẩn E.coli hầu như không có tác dụng như: Penicilin, Streptomycin… và tỷ lệ các chủng E.coli kháng nhiều loại kháng sinh phát triển nhanh, có chủng kháng hết các
loại kháng sinh thường dùng
Vi khuẩn E.coli ở các loại gia súc khác nhau cho tỷ lệ kháng thuốc khác nhau: tỷ lệ chủng E.coli phân lập từ trâu, bò kháng Sulfonamid là 23,08-33,33%
Phạm Khắc Hiếu và cs (1999), đã phân lập chủng kháng lại 11 loại kháng sinh,
đồng thời chứng minh khả năng di truyền tính kháng thuốc giữa vi khuẩn E.coli và Salmonella spp di truyền plasmid, E.coli phân lập từ lợn con phân trắng tỷ lệ kháng
Sulfornamid lên đến 89,97%
Theo kết quả xác định tỷ lệ kháng kháng sinh và các yếu tố gây bệnh của vi
khuẩn E.coli phân lập từ lợn con theo mẹ của Nguyễn Ngọc Nhiên và cs (2003),
hiện tượng kháng cùng một lúc nhiều loại kháng sinh là phổ biến trong số các chủng
E.coli Hầu hết các chủng đều có tỷ lệ kháng cao với Tetracilin, Amoxilin, Streptomycin, Cloramphenicol (từ 76,42 – 97,17%) Trong khi đó, phần lớn các chủng đều mẫn cảm với các loại kháng sinh như: Amikacin, Apramycin và Ceftiofur với các tỷ lệ tương ứng là 92,45%; 99,06% và 100% Các tác giả cũng cho biết chỉ có 58,49% số chủng mẫn cảm với Aminoglycosides và 47,17% số chủng mẫn cảm với Neomycin Enrofloxacin là một loại kháng sinh thuộc thế hệ mới
Trang 30thuộc nhóm Quinolone nhưng có tới 44,34% số chủng kháng Theo Phạm Quang
Phúc (2003), vi khuẩn E.coli phân lập ở Thái Nguyên có tính mẫn cảm khác nhau
đối với Ofloxacin, Norfloxacin và Amikacin (với tỷ lệ 100%), Gentamycin (88,4%), Neomycin (84,6%), Kanamycin (66,15%), Erythromycin (13,84%) và Ampicilin (11,53%)
Nguyễn Văn Quang (2004) phân lập E.coli từ bò, bê tiêu chảy có khả năng
kháng lại các loại kháng sinh Ampicilin (với tỷ lệ 91,66%), Erythromycin (58,33%), Rifamycin (33,33%), Trismulfa (25%) và Cefotexime (16,66%) Nguyễn Văn Sửu
(2005) đã xác định vi khuẩn E.coli phân lập từ bê, nghé bị tiêu chảy mẫn cảm mạnh
với Penicilin (tỷ lệ 100%), Erythromycin (83,33%) số chủng nghiên cứu
Trương Quang (2006) cho rằng khả năng mẫn cảm của E.coli phân lập từ bê,
nghé bị tiêu chảy với Norfoxacin là 83,33% số chủng, Colistin (83,33%) và Neomycin (58,33%) Tỷ lệ kháng với Penicilin là 100%, Ampicilin (83,33%), Kanamycin và Lincomycin là 66,66%
Yếu tố kháng khuẩn của vi khuẩn E.coli: vi khuẩn E.coli cộng sinh với
nhiều loại vi khuẩn đường ruột khác, để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển, chúng thường sản sinh một số loại chất kháng khuẩn có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt một số vi khuẩn khác gọi là Colv và trở thành vi khuẩn chiếm ưu thế trong
đường ruột Theo Virginial (1991), khả năng sản sinh Colv của vi khuẩn E.coli được di truyền bằng plasmid Colv plasmid không chỉ tìm thấy ở E.coli gây bệnh
mà còn tìm thấy ở các vi khuẩn đường ruột khác Nhiều tác giả cho Colv là một kháng sinh có hiệu quả, có thể có tác dụng với tất cả các loại vi khuẩn đường ruột trừ vi khuẩn sinh ra nó và mong muốn trong thời gian tới Colv được sử dụng rộng rãi như một loại kháng sinh
- Độc lực - yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E.coli
Sinh ra độc tố được xem là khả năng dặc biệt của vi khuẩn E.coli và yếu tố bám
dính là yếu tố độc lực vô cùng quan trọng luôn được biết đến trong những nghiên cứu về
E.coli Vi khuẩn E.coli tạo ra 2 loại độc tố: nội độc tố và ngoại độc tố
Ngoại độc tố (Exotoxin): Loại độc tố này chỉ có ở vi khuẩn có độc lực
Trang 31Ngoại độc tố là một chất không chịu nhiệt, dễ bị phá hủy ở 56oC trong vòng 10-30 phút Dưới tác động của formol và nhiệt độ, ngoại độc tố thành giải độc tố Ngoại độc tố có tính thần kinh và gây hoại tử Hiện nay, việc chiết xuất ngoại độc tố chưa thành công mà chỉ có thể phát hiện trong canh trùng của những chủng mới phân lập được (Đào Trọng Đạt và cs, 1995)
Nội độc tố (Endotoxin): Có bản chất là lypopolysacharide (LSP) và lipit A
cấu tạo nên thành tế bào vi khuẩn Khi tế bào vỡ thì các chất này được giải phóng
và gây độc cho tế bào vật chủ, là độc tố chủ yếu của trực khuẩn đường ruột Nội độc
tố có cấu trúc polysacharide thuộc về kháng nguyên hoàn toàn và có đặc tính hiệu quả cao đối với các chủng của mỗi serotype Hiện nay, khi nghiên cứu về độc tố vi
khuẩn E.coli gây tiêu chảy ở gia súc, người ta thường chú ý đến hai độc tố đường
ruột chủ yếu là: Độc tố không chịu nhiệt LT và độc tố chịu nhiệt ST
1.4.1.3 Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn E.coli
Vi khuẩn E.coli có khả năng gây bệnh cho tất cả các loại động vật máu nóng
Vi khuẩn E.coli tồn tại bình thường trong ống đường tiêu hóa của gia súc, gia cầm Dưới ảnh hưởng của một số yếu tố nhất định, các chủng của vi khuẩn E.coli có độc
lực gây bệnh liên quan đến tình trạng tiêu chảy và nhiễm trùng huyết ở gia súc non hoặc gây bệnh hô hấp ở gia cầm Các chủng khác không gây tiêu chảy có thể trở
thành căn bệnh khi điều kiện thuận lợi Vi khuẩn E.coli có thể gây bệnh được là do
nhiều yếu tố như: khả năng bám dính, khả năng xâm nhập, các loại kháng nguyên, yếu tố dung huyết, yếu tố kháng khuẩn, khả năng kháng kháng sinh và độc tố Nhưng quan trọng nhất là 2 yếu tố độc lực chính: kháng nguyên bám dính (fimbriae) và độc tố đường ruột
Theo Gyles (1992), các giai đoạn xâm nhập và gây bệnh của vi khuẩn E.coli
bao gồm:
- Thâm nhập vào ruột non
- Tăng nhanh số lượng bám dính trên tế bào biểu mô niêm mạc ruột non
- Sản sinh độc tố đường ruột tác động lên màng tế bào biểu mô niêm mạc ruột non của vật chủ dẫn đến quá trình của bệnh lý
Trang 32Giai đoạn 1: vi khuẩn xâm nhập vào đường tiêu hóa, vi khuẩn vượt qua hàng rào bảo vệ ở bề mặt tế bào biểu mô đường ruột Để xâm nhập, vi khuẩn phải tạo ra chất độc chống lại tế bào thực bào, từ đó mới có thể tồn tại và sản sinh phát triển trong tế bào niêm mạc ruột của vật chủ Tuy nhiên, các yếu tố đề kháng không đặc hiệu của vật chủ như: dịch vị dạ dày, khả năng nhu động của ruột non, dịch nhầy, lyzozim và hệ vi khuẩn có ích trong đường ruột làm giảm khả năng kết dính của vi
khuẩn E.coli với tế bào biểu mô ruột bằng cách che phủ các receptor đặc hiệu đối với vi khuẩn E.coli
Giai đoạn 2: vi khuẩn tấn công vào tế bào biểu mô ruột, sau khi bám vào
receptor đặc hiệu, vi khuẩn E.coli gây nên những biến đổi bề mặt tế bào biểu mô
lông nhung sau đó vi khuẩn xâm nhập vào bên trong tế bào biểu mô nhung mao ruột Vi khuẩn có khả năng nhân lên trong tế bào rồi lan sang các tế bào bên cạnh Hoạt động của tế bào thực bào và khả năng vi khuẩn sống sót nhân lên trong tế bào thực bào là yếu tố quyết định trong quá trình sinh bệnh Khi vi khuẩn cư trú bên trong tế bào, có thể tránh được tác động của kháng sinh, kháng thể và bổ thể Để tồn
tại, vi khuẩn Ecoli phải chống lại một loạt các yếu tố bất lợi bên trong tế bào thực
bào các hợp chất trung gian của quá trình chuyển hóa, pH thấp, tình trạng thiếu sắt Nhờ vào quá trình hoạt động của phagosome và lizosome, chúng gây biến đổi biểu
mô ruột, qua tác động gây thoái hóa hoại tử tế bào Vi khuẩn còn phá hủy tế bào tiểu cầu gây lắng đọng Fibrin dẫn đến tổn thương thành mạch Đồng thời vi khuẩn tập trung vào mảng payer thành ruột gây biến đổi bệnh lý tại đây
Giai đoạn 3: kích thích bài xuất dịch thể, phản ứng viêm đối với quá trình xâm nhập tế bào ruột non của vi khuẩn gây ra là một yếu tố quan trọng kích thích gây bài xuất dịch thể Prostaglandin được giải phóng trong quá trình viêm đã hoạt hóa Adenylatecyclase Enzym này xúc tác chuyển hóa ATP thành AMP vòng AMP vòng nội bào tăng dần, dẫn đến quá trình bài xuất Na+, Cl- và nước ra khỏi tế bào khoang ruột Nước và khí tạo ra trong quá trình lên men dưới tác động của vi khuẩn làm ruột căng lên kích thích thần kinh thực vật ở ruột tạo nên những cơn nhu động
ruột mạnh đẩy nước và phân ra ngoài Từ tế bào niêm mạc ruột, vi khuẩn E.coli
xâm nhập vào hệ thống hạch màng treo ruột, vào hệ tuần hoàn dẫn đến nhiễm trùng
Trang 33huyết Trong máu, vi khuẩn E.coli tiếp tục nhân lên sản sinh yếu tố dung huyết, phá
vỡ hồng cầu gây thiếu máu, tăng tính thấm thành mạch, nước từ trong mao quản thẩm xuất ra tích tụ trong các mô bào gây phù Theo máu, vi khuẩn đến các cơ quan nội tạng, sản sinh độc tố phá hủy tế bào, tăng tính thấm thành mạch; sản sinh độc tố thần kinh phá hủy tế bào thần kinh Gây các thể bệnh, trạng thái bệnh và mức độ bệnh khác nhau Song song, với quá trình trên các sản phẩm của quá trình viêm cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình kích thích và bài xuất dịch thể từ tế bào dẫn đến bê, nghé bị tiêu chảy
Hình 1.1: Vi khuẩn E.coli tấn công hệ thống lông nhung của thành ruột
(Gyles, 1992)
1.4.1.4 Hội chứng tiêu chảy do vi khuẩn E.coli gây ra trên bê, nghé
Vi khuẩn E.coli là nguyên nhân quan trọng gây bệnh tiêu chảy cho gia súc
nói chung và gia súc non nói riêng Ở gia súc non như bê, nghé, dê, cừu, lợn…
ngoài gây ra tiêu chảy, vi khuẩn E.coli còn gây ra các triệu chứng khác và gây tử
vong rất cao như: bại huyết, xuất huyết, nhiễm trùng huyết… với bê, nghé khi mắc
hội chứng tiêu chảy do vi khuẩn E.coli gây ra thường xuất hiện các triệu chứng,
bệnh tích đặc trưng, dễ nhầm với các nguyên nhân gây bệnh khác
Triệu chứng
Triệu chứng thường gặp là sốt và tiêu chảy Khi sốt, con vật không bú, nằm một chỗ, ủ rũ, lông xù, mũi khô, lờ đờ, ít vận động Sau một ngày, phân lỏng dần, màu vàng hay trắng xám, có khi có bọt, có thể có máu Phân chua và rất thối, có thể vọt cần câu; bụng căng, hậu môn bết phân Gia súc đau bụng, rặn nhiều thích nằm, đứng dậy miễn
Trang 34cưỡng, nhịp tim nhanh và yếu, tần số hô hấp tăng cao, sau đó yếu dần, thân nhiệt hạ xuống dưới mức bình thường, chân lạnh, hốc há, mắt lõm và chết nhanh
Thời gian ủ bệnh phụ thuộc vào số lượng và độc tố của vi khuẩn E.coli hay
sức đề kháng của con vật Trung bình kéo dài 4-8 ngày, bệnh thường có ở 2 thể: Thể cấp tính: bệnh tiến triển không thể quá 5-10 ngày, nếu con vật không chết thì thời kỳ phục hồi dài, bê khỏi bệnh phát triển còi cọc
Thể mãn tính: Bệnh kéo dài hàng tuần, hàng tháng và có đặc điểm như: viêm phổi, viêm khớp, có khi bệnh tiến triển không thể thấy được (Arkhangelxky, 1969; Hutyra và cs, 1978; Sydney, 1986)
Theo Phạm Sỹ Lăng và Phân Địch Lân (1997), bệnh chủ yếu xảy ra ở bê, nghé non sau khi mắc bệnh con vật bị tiêu chảy lỏng, đầu tiên có phân sền sệt, sau tiêu chảy nặng, phân chỉ là dịch màu xám xanh, xám vàng và có mùi tanh Bê, nghé tiêu chảy nặng có thể 10-15 lần/ ngày, mất nước rất nhanh, làm cho con vật rối loạn điện giải trong máu và chết trong tình trạng mất nước Trường hợp nặng, ruột xuất huyết nên phân có lẫn máu và niêm mạc ruột lầy nhầy Bê non thường chết sau 3-4 ngày với tỷ lệ cao 30-40% nếu không kịp thời điều trị
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) thì việc chẩn đoán bệnh tiêu chảy do vi
khuẩn E.coli gây ra rất phức tạp bởi vì những triệu chứng, bệnh tích xuất hiện tương
tự như hội chứng tiêu chảy do những nguyên nhân, vi khuẩn khác, các loại đơn bào
hay virus Hơn nữa, vi khuẩn E.coli gây bệnh thường kết hợp với các mầm bệnh
khác Việc nuôi cấy phân lập từ phân bê, nghé bị bệnh cũng rất dễ dàng nhưng phải
tiến hành xem có phải vi khuẩn E.coli gây bệnh hay E.coli cộng sinh Vì vậy, sau
Trang 35khi phân lập vi khuẩn E.coli cần phải xác định các yếu tố gây bệnh như: K99, Enterotoxin đồng thời xác định thêm các loại mầm bệnh khác như Rotavirus, Coronavirus , Salmonella, nhưng có thể căn cứ vào pH của phân Nếu tiêu chảy do
vi khuẩn E.coli, thường pH của phân nghiêng về bazo (pH>7)
Phòng bệnh
Cho bú đầy đủ sữa đầu, đảm bảo vệ sinh chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, môi
trường sạch không bị nhiễm khuẩn vi khuẩn E.coli Tránh các yếu tố stress như mưa, lạnh đột ngột Trước đây, một số nước dùng vaccine E.coli tiêm cho trâu bò
chửa để tạo miễn dịch qua sữa đầu nhưng hiệu quả miễn dịch còn có nhiều ý kiến khác nhau Gần đây bằng kỹ thuật sinh học phân tử đã chế tạo vaccine chứa các loại kháng nguyên K99, Enterotoxin dạng tinh khiết tiêm cho trâu bò chửa vào thời gian
6 và 3 tuần trước khi đẻ Kết quả cho thấy bê sinh ra từ bò được tiêm vaccine tỷ lệ bảo hộ 100% và bê sinh ra từ bò không được tiêm vaccine tỷ lệ bảo hộ l0% (Phạm
Sỹ Lăng và cs, 2002)
Phạm Quang Phúc (2003), dựa trên cơ sở phân lập vi khuẩn E.coli ở bê, nghé
bị tiêu chảy, chọn các chủng độc lực mạnh mang đầy đủ các yếu tố gây bệnh đã kiểm chứng qua thực nghiệm để sản xuất Autovaccine phòng bệnh Tiêm 3ml/con cho bê, nghé từ 1-12 tháng tuổi, hiệu lực bảo hộ được 64%
Theo Nguyễn Văn Quang (2004), dùng vi khuẩn E.coli đã được chọn từ các
chủng phân lập từ bò, bê bị tiêu chảy để sản xuất kháng thể từ lòng đỏ trứng gà thử nghiệm cho uống với liều 25ml/ 10 kg thể trọng, 3 lần ngày thì sau 3-5 ngày điều trị khỏi 100% bê bị tiêu chảy
Điều trị bệnh
Dùng các loại kháng sinh theo đường miệng (uống, trộn vào thức ăn) và đường tiêm Trước khi dùng kháng sinh điều trị đánh giá khả năng kháng kháng sinh Bổ sung nước và các chất điện giải, các yếu tố vi lượng bị mất cân bằng bằng cách cho uống hoặc truyền dung dịch nước muối sinh lý 0,9%, dung dịch nước đường ưu trương 20%, uống dung dich Orezol Có thể dùng dung dịch nước muối sinh lý với 5% dextran truyền 250ml vào tĩnh mạch Ngoài ra, chống viêm bằng
Trang 36Dexamethazon; kết hợp với các loại vitamin K, C, B1 để chống xuất huyết đường tiêu hóa và nâng cao sức đề kháng cho bê, nghé (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2002) Phạm Quang Phúc (2003), dùng 3 loại kháng sinh: Norfloxacin, Gentamycin
và Neomycin kết hợp với bổ sung chất điện giải, nước sinh lý chống độc cho bê, nghé cho kết quả tốt
Nguyễn Văn Sửu (2005), dùng các thuốc kháng sinh Norfloxacin, Kanamycin kết hợp với sử dụng chất điện giải là Orezol và thuốc làm se niêm mạc ruột, chất trợ lực và bổ sung các vitamin
1.4.2 Vi khuẩn Salmonella spp
Năm 1885 vi khuẩn Salmonella spp được Salmon và Smith phân lập lần đầu
tiên từ lợn và được coi là nguyên nhân gây bệnh dịch tả lợn Đến năm 1903 các nhà khoa học đã xác định được nguyên nhân gây ra dịch tả lợn là do virus và cho rằng
Salmonella spp chỉ có vai trò kế phát
Năm 1933, vi khuẩn là Salmonella spp được đặt tên cùng với sự công bố của
Kauffman và White về cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn này
1.4.2.1 Một số đặc tính của Salmonella spp
Hình thái và tính chất bắt màu:
Salmonella spp là trực khuẩn ngắn, hai đầu tròn, bắt màu gram âm, kích thước 1-3 x 0,4 – 0,6 µ, có khả năng di động nhờ có 7- 12 lông xung quanh thân (trừ
Salmonella pullorum và Salmonella gallinarum) Vi khuẩn Salmonella spp không
hình thành nha bào và giáp mô
Đặc tính nuôi cấy:
Salmonella spp là vi khuẩn hiếu khí hoặc yếm khí tùy tiện Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển là 37oC
Trên môi trường Macconkey: ở 35-37oC thời gian 24 giờ, Salmonella spp phát
triển thành những khuẩn lạc tròn, trong, không màu, nhẵn bóng và hơi lồi ở giữa Trên môi trường Brilliant green: hình thành khuẩn lạc màu đỏ
Trên môi trường BGA: hình thành khuẩn lạc màu đỏ, bao bọc xung quanh bởi môi trường màu hồng nhạt
Trang 37Đặc tính sinh hóa
Phần lớn Salmonella spp lên men có sinh hơi các đường glucose, mannit,
mantose, glactose, levulo, mantol Cũng có một số loại lên men nhưng không sinh hơi Các phản ứng sinh hóa: Indol âm tính, H2S dương tính, VP âm tính, Ure âm tính và dương tính với Catalaza…Không làm tan chảy gelatin Tuy nhiên, 96%
Salmonella spp tiết ra enzyme khử cacboxy đối với lysine, ornithine, arginine
1.4.2.2 Sức đề kháng của Salmonella
Salmonella spp có sức chịu đựng khá mạnh với tác động của môi
trường.Trong nước, Salmonella spp có thể tồn tại 1 tuần; trong nước đá, có thể tồn tại từ 2-3 tháng Trong phân rác, Salmonella spp có thể sống 4 tháng; trong
xác động vật chết 2-3 tháng Tuy nhiên, ở nhiệt độ 50oC, vi khuẩn bị diệt sau 1 giờ; ở 70oC trong vòng 20 phút Khi đun sôi, Salmonella spp bị tiêu diệt trong
vòng 5 phút
Với các hóa chất, Salmonella spp có thể tồn tại được lâu: Dung dịch HgCl2
1%, formon 0,2%, axit phenic 3% diệt Salmonella spp sau 15-20 phút Dung dịch
muối ăn 19% và nhiệt độ 8oC chúng có thể tồn tại 4-8 tháng
1.4.2.3 Cấu trúc kháng nguyên
Kháng nguyên O được xem là yếu tố độc lực của vi khuẩn, nằm ở lớp màng phía ngoài, được đặc trưng bởi lipopolysaccharit và được giải phóng ra môi trường nuôi cấy ở trạng thái thuần khiết Kháng nguyên O có khả năng chịu nhiệt, ở 100oC vẫn bền vững trong nhiều giờ, kháng cồn và axit Kháng nguyên này rất phức tạp, đến nay các nhà khoa học đã tìm thấy 65 yếu tố khác nhau Kháng nguyên O giúp vi khuẩn chống lại khả năng phòng vệ của cơ thể và hiện tượng thực bào
Kháng nguyên H: là kháng nguyên chỉ có ở vi khuẩn có lông, có bản chất protein kém bền vững, dễ phá hủy ở nhiệt độ cao hoặc xử lý bằng cồn và axit Kháng nguyên K: là kháng nguyên vỏ, được phân thành nhiều nhóm dựa vào đặc điểm sinh hóa khác nhau Kháng nguyên này không phức tạp gồm 3 loại: 5-antigen, Vi-antigen và M-antigen, trong đó có Vi-antigen không tham gia vào quá trình gây bệnh
Trang 381.4.2.4 Các yếu tố gây bệnh của Salmonella spp
Quá trình gây bệnh của Salmonella spp có sự tham gia của độc tố và các yếu
tố không phải là độc tố, chúng gây bệnh gián tiếp bằng cách tác động gây bất lợi
cho vật chủ, mặt khác, Salmonella spp tạo điều kiện cho vi khuẩn tác động và gây
bệnh Độc tố của vi khuẩn gồm nội độc tố và ngoại độc tố, trong đó nội độc tố đóng vai trò quan trọng trong quá trình gây bệnh
Yếu tố bám dính: sau khi tiếp cận tế bào vật chủ, vi khuẩn Salmonella spp
tác động làm biến đổi bề mặt màng tế bào bằng cách thay đổi hình dạng các sợi actin màng tế bào vật chủ do tác động của vi khuẩn làm tăng hàm lượng Ca2+ nội bào Tín hiệu đó hoạt hóa actin depolimerizing enzyme dẫn đến sắp xếp lại cấu trúc
các sợi actin Sau khi hình thành các không bào chứa vi khuẩn Salmonella spp được
hấp thu vào trong tế bào dưới hình thức hấp thụ nội bào Tế bào vi khuẩn tiếp tục tồn tại bên trong không bào rồi nhân lên với số lượng lớn rồi phá vỡ tế bào vật chủ (Frost và cs, 1997)
Khả năng xâm nhập: giúp vi khuẩn xâm nhập qua lớp màng nhầy của niêm
mạc ruột, xâm nhập vào trong biểu mô và sinh sản trong tế bào này
Nội độc tố: thường là Lipopolysarcharit được giải phóng từ vách của tế bào
vi khuẩn khi bị dung giải Dưới tác động của nội độc tố các cơ quan và tế bào có biểu hiện tắc mạch máu, giãn trương lực cơ, thiếu oxy, toan huyết, rối loạn tiêu hóa
Evan và cs (1981), cho thấy độc tố của Salmonella spp gồm hai thành phần thẩm
xuất nhanh (Rapid permeability Factor) và độc tố thẩm xuất chậm (Delayed permeability Factor)
Theo Petetson (1980), độc tố thẩm xuất nhanh giúp Salmonella spp xâm
nhập vào tế bào biểu mô của ruột, cấu trúc và thành phần giống độc tố chịu nhiệt
của E.coli, gọi là độc tố chịu nhiệt của Salmonella spp
Như vậy chúng ta có thể thấy vi khuẩn Salmonella spp gây bệnh bằng các
yếu tố là độc tố và không độc tố làm biến đổi cấu trúc, chức năng của tế bào biểu
mô ruột làm rối loạn quá trình hấp thu dẫn đến tiêu chảy
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các chủng vi khuẩn E.coli, Salmonella spp phân lập từ phân của bê khỏe
mạnh và phân bê mắc hội chứng tiêu chảy
2.1.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
Các trại bò sữa số1, số 2 và phòng thí nghiệm Công ty cổ phần thực phẩm sữa TH
Thời gian nghiên cứu
2.2.2 Môi trường, hoá chất, dụng cụ thí nghiệm
Các loại hoá chất môi trường
- Thạch thường (Chrom)
- Thạch MacConkey
- Thạch máu
- Thạch EMB
- Môi trường Gelatin, XLD, Hektoen, LDC, ure
- Môi trường TSI
Các loại hoá chất và môi trường thử phản ứng lên men đường thông thường trong phòng thí nghiệm như: Glucose, Lactose, Manitol Sacrose, Dulcitol, Salicin, Sorbitol,