1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hà Nội thời kì 2011-2015 theo hướng CNH-HĐH

117 370 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ sau đổi mới, đặc biệt là trong thời gian gần đây, với những chính sách đúng đắn kịp thời của Đảng và Nhà nước, nhờ đó CCKT của Việt Nam nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng đã có n

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do nghiên cứu

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) mà quan trọng nhất là CDCC ngành kinh tế là một trong những nội dung cốt lõi của chiến lược phát triển kinh tế xã hội Nó liên quan đến mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nên đã thu hút được các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế nghiên cứu tìm hiểu nhằm góp phần thực hiện CDCC một cách hợp lí, đạt hiệu quả cao là điều kiện tiên quyết để đảm bảo phát triển nhanh ổn định, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới vì vậy, CDCC ngành kinh tế không chỉ là vấn đề của một quốc gia mà nó còn là vấn đề của từng vùng, từng địa phương

Từ sau đổi mới, đặc biệt là trong thời gian gần đây, với những chính sách đúng đắn kịp thời của Đảng và Nhà nước, nhờ đó CCKT của Việt Nam nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng đã có những bước chuyển biến tích cực đáng kể theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa (CNH-HĐH) tạo điều kiện khai thác các lợi thế, đảm bảo nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững hơn Hà Nội- thủ đô ngàn năm văn hiến có truyền thống lâu đời- là một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng khá cao, Hà Nội được kì vọng rằng sẽ trở thành một trung tâm kinh tế vực dậy sự phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng cũng như vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ…việc Hà Nội mở rộng địa giới hành chính năm 2008 đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển kinh tế của thành phố,khi mở rộng kéo theo hàng loạt các chỉ tiêu kế hoạch đặt ra đều không đạt được như kế hoạch mà nhiệm

kì kế hoạch 2006-2010 sắp kết thúc Đây cũng là thời điểm để chính quyền và nhân dân thành phố nhìn lại những kết quả và những hạn chế, thiếu sót còn vướng mắc trong thời kì kế hoạch vừa qua và có những định hướng mới cho thời gian tới Do vậy vấn đề cấp thiết đặt ra là phải có một quy hoạch mới và một chiến lược mới cho sự phát triển của Hà Nội mở rộng với tầm nhìn dài hạn và bước đi hợp lí để hội nhập và phát triển, mà trọng tâm của nó là đề ra một định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thích hợp nhằm khai thác tốt nhất những tiềm năng lợi thế của Thủ đô, hội nhập cùng phát triển với đất

Trang 2

nước, và quốc tế Sau khi mở rộng Hà Nội mới, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội đã tham mưu cho UBND và HĐNH thành phố xây dựng một bản quy hoạch và chiến lược phát triển KT-XH Thủ đô đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050 nhưng đang trong quá trình chỉnh sửa và tham khảo ý kiến của các ban ngành chức năng như các địa phương, các vụ, các viện nghiên cứu và các bên liên quan, cùng với sự biến động về kinh tế cũng như chính trị trong nước cũng như thế giới đã đặt ra cho Hà Nội những khó khăn cần phải có sự điều chỉnh theo từng giai đoạn cho phù hợp với yêu cầu của thực tế Đây là vấn đề cấp thiết đang được các cơ quan Trung ương cũng như địa phương quan tâm

Nhận thức rõ được tầm quan trọng của vấn đề này, trong quá trình thực tập tại Phòng Tổng hợp-Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, em đã có cơ hội tìm hiểu và đi sâu vào nghiên cứu, hoàn thiện chuyên đề tốt nghiệp của mình với

đề tài: “Giải pháp thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hà Nội thời kì 2011-2015 theo hướng CNH-HĐH” Với

mong muốn có thể vận dụng được những kiến thức chuyên ngành Kế hoạch

đã được học ở trường và qua thời gian tìm hiểu thực tế qua đợt thực tập tại Sở

Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, em có thể đưa ra những ý kiến những nhận xét của bản thân mình nhằm góp một phần nhỏ để nâng cao kết quả của việc thực hiện kế hoạch 5 năm mới của thành phố

Trang 3

để đưa ra những giải pháp để chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố

Hà Nội trong thời kì 2011-2015

4 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2006-2010, từ đó rút ra nhận xét đánh giá và đưa ra những giải pháp

để thực hiện trong thời kì kế hoạch mới 2011-2015

5 Phương pháp nghiên cứu

a Thu thập số liệu

- Thông qua các phòng ban chức năng của Sở Kế hoạch và Đầu tư

Hà Nội và phòng Kế hoạch Tổng hợp của Sở Kế hoạch và Đầu

tư Hà Nội

- Qua các tài liệu tham khảo trên các phương tiện thông tin đại chúng như: sách, báo, internet…

- Tham khảo ý kiến của cán bộ phòng Kế hoạch Tổng hợp của Sở

b Phân tích tài liệu

Sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp so sánh đối chiếu, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch trong thời kì kế hoạch đã qua,

so sánh đối chiếu và sử lí số liệu

6 Bố cục chuyên đề

Chuyên đề gồm có các nội dung chính như sau:

Chương I: Một số vấn đề về chuyển dịch cơ cấu kinh tê, cơ cấu ngành kinh

tế và sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Chương II: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở thành phố Hà Nội thời kì 2006-2010

Trang 4

Chương III:Giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kì 2011-2015

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình từ phía nhà trường, các thầy cô trong khoa Kế hoạch và phát triển cũng như từ phía

cơ quan thực tập- Phòng Kế hoạch Tổng hợp-Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, đặc biệt là cô giáo TS.Vũ Thị Tuyết Mai và cán bộ hướng dẫn TS.Hồ Vân Nga-Trưởng phòng Kế hoạch Tổng Hợp, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội đã giúp em hoàn thành bài viết này

Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng trong quá trình viết bài không thể tránh khỏi những sai sót, vì vậy em rất mong được sự góp ý của cô giáo TS

Vũ Thị Tuyết Mai cùng các thầy cô trong khoa Kế hoạch và phát triển cũng như TS.Hồ Vân Nga để bài viết của em được hoàn thiện hơn

Trang 5

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ,

CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VÀ SỰ CHUYỂN DỊCH

CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ

I Cơ cấu ngành kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

1 Cơ cấu kinh tế và phân loại cơ cấu kinh tế:

Cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế đây là mối quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực, các thành phần trong nền kinh tế mối quan hệ này phản ánh cả hai mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố kinh tế hợp thành

Có nhiều khái niệm định nghĩa về CCKT Nhưng tựu chung lại thì : “Cơ cấu kinh tế là mối quan hệ tỉ lệ giữa các bộ phận hợp thành một tổng thể kinh tế, các bộ phận này có mối liên hệ hữu cơ, những tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng, các quan hệ tỉ lệ được hình thành trong những điều kiện KT-XH nhất định,

chúng luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể.” (Giáo trình Kế hoạch

hóa phát triển – NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2009)

Các yếu tố, bộ phận cấu thành CCKT vận động không ngừng, bản thân các thành tố bộ phận được xem xét trong nhiều trường hợp cũng chính là các hệ thống

và cơ cấu nội tại riêng biệt và vận động Do đó xem xét CCKT luôn phải tiếp cận theo tư duy biện chứng, vận động

Khi nghiên cứu đánh giá CCKT, người ta thường thông qua nghiên cứu mối quan hệ tỉ trọng của mỗi yếu tố, mỗi bộ phận cấu thành của cấu trúc kinh tế( ví dụ tỷ trọng đóng góp trong GDP của mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi thành phần kinh tế khi nghiên cứu về cơ cấu nội ngành, cơ cấu thành phần, cơ cấu vùng kinh tế, người ta cũng dùng mỗi quan hệ tỉ trọng( như tỉ trọng lao động làm việc, tỉ lệ vốn đầu tư, công nghệ…); qua đó đánh giá trình độ của cơ cấu kinh tế

Phân loại cơ cấu kinh tế: Dưới giác độ khác nhau, CCKT được phân thành

nhiều loại:

Cơ cấu ngành – xét dưới giác độ phân công sản xuất

Cơ cấu vùng – xét dưới giác độ hoạt động kinh tế - xã hội theo lãnh thổ

Cơ cấu thành phần kinh tế - xét hoạt động kinh tế theo quan hệ sở hữu;

Trang 6

Cơ cấu đối ngoại – xét trình độ mở cửa và hội nhập của nền kinh tế;

Cơ cấu tích lũy – xét tiềm năng để phát triển kinh tế…

Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề em xin thiên về cách tiếp cận cơ cấu kinh tế theo từng mảng cấu trúc là chính Vì thế khi phân loại cơ cấu kinh tế thì CCKT bao gồm:

- Cơ cấu ngành kinh tế:

Cơ cấu ngành kinh tế là mối quan hệ tỉ lệ giữa các ngành trong toàn bộ nền kinh tế, mối quan hệ này bao hàm cả về số lượng và chất lượng, chúng thường xuyên biến động và hướng vào những mục tiêu nhất định Cơ cấu ngành là bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế, sự biến động của nó có ý nghĩa quyết định đến sự biến động của nền kinh tế

Với cách tiếp cận tổng quát người ta chia cơ cấu kinh tế thành các nhóm ngành chính là :

+ Nhóm ngành Nông nghiệp: gồm cả nông , lâm, ngư nghiệp

+ Nhóm ngành Công nghiệp: trong đó được chia thành các ngành công nghiệp khai thác, chế biến và ngành cung cấp điện nước

+ Nhóm ngành dịch vụ: bao gồm cả thương mại, tài chính, du lịch…

Có thể thấy rằng, trong mỗi ngành kinh tế lại được phân chia thành các ngành nhỏ hơn Ví dụ như trong ngành CN chế biến người ta lại chia thành 21 ngành khác nhau như: cơ khí, hóa chất, điện tử…và đến lượt nó, trong các ngành nhỏ lại được chia thành những ngành cấp 2, cấp 3, cấp 4…như vậy CCKT sẽ được thay đổi, chuyển dịch từ sự thay đổi của các thành tố rất nhỏ trong hệ thống phức tạp vốn có của nó

Có thể thấy rằng CCKT hay cơ cấu ngành kinh tế là những hệ thống động bởi

sự vận động liên tục của nội tại từng thành tố, bởi sự thay đổi tương quan các thành

tố và do đó dẫn đến những quan hệ ràng buộc hệ thống đó cũng thường xuyên thay đổi cụ thể hơn đó chính là sự thay đổi các ngành, nội bộ các ngành, các vùng và các thành phần sự thay đổi diễn ra theo hướng xuất hiện các ngành, vùng mơi thay thế cho các ngành, vùng, thành phần không còn phù hợp do đó làm thay đổi tỷ trọng, thay đổi chất lượng của toàn hệ thống

- Cơ cấu vùng lãnh thổ (hay là cơ cấu theo sự phân bố)

Đây là CCKT được tiếp cận theo sự phân bố về không gian và vùng lãnh thổ

Trang 7

phối thông thường các vùng kinh tế được hình thành từ các yếu tố tự nhiên như vùng nguyên liệu, khoáng sản, cơ sở giao thông, địa chất, khí hậu, sự tập trung dân cư…Đồng thời với nhận thức của con người các vùng để sao cho chúng phát huy hết các nguồn lực tại chỗ và tham gia được vào các quan hệ kinh tế với các vùng khác trong nước cũng như các quốc gia khác

Cơ cấu vùng thường được xác định bởi các ranh giới địa lí hay hành chính nhưng bản thân trong đó lại hàm chứa cơ cấu các ngành kinh tế như vậy, cơ cấu vùng thực chất là cơ cấu các ngành được sắp xếp theo vùng địa lí, hành chính nhất định mà thôi Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng khi nghiên cứu cơ cấu kinh tế của một vùng cụ thể như Hà Nội là một ví dụ nếu có chia kinh tế Hà Nội theo các vùng thì thực chất cũng chỉ là việc xem xét vùng nào phát triển các ngành nào là phù hợp với ràng buộc là các nguồn lực, nói cách khác đó là việc phân chia cơ cấu ngành theo các khu vực địa lí hay hành chính mà thôi

- Cơ cấu thành phần kinh tế: có nguồn gốc từ việc phân định quyền sở hữu với

các tổ chức kinh tế trong một cơ cấu kinh tế nhất định Trong mỗi nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường thường có ba nhóm thành phần cơ bản là sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân, và sở hữu hỗn hợp trong điều kiện Việt Nam hiện nay, chúng

ta xác định có 6 thành phần kinh tế, thực chất chỉ là sự cụ thể hơn ba nhóm thành phần cơ bản trên ở các nước kinh tế thị trường thì sở hữu tư nhân và hỗn hợp chiếm

tỉ trọng đa số tuyệt đối nên trật tự kinh tế được quyết định bởi những “người bỏ vốn”, do đó sự hình thành và dịch chuyển cơ cấu kinh tế được quyết định bởi chủ yếu từ những tín hiệu thị trường hay còn gọi là dưới “bàn tay vô hình” Trong những nền kinh tế chuyển đổi như ở nước ta, vai trò kinh tế của sở hữu nhà nước còn chiếm tỉ trọng đáng kể, do đó sự chủ động tác động vào cơ cấu kinh tế của nhà nước còn lớn đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho nhà nước với tư cách là người nhạc trưởng cho quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế bởi vì: Một mặt, Nhà nước có tiềm lực kinh tế mạnh làm đối trọng,làm lực lượng cho việc xác lập cơ cấu kinh tế, nhưng mặt khác thành phần kinh tế khác với tư cách là quyền hạn của “người bỏ vốn” họ có thể làm thay đổi cơ cấu kinh tế mong muốn từ phía nhà nước (vì họ bỏ vốn theo những tín hiệu thị trường là chủ yếu) Đây chính

là thách thức nếu không nắm bắt được xu thế thị trường và quyết định của những

“người bỏ vốn” độc lập, Nhà nước sẽ khó khăn trong việc can thiệp hình thành cơ cấu kinh tế mong muốn

Trang 8

2 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Các yếu tố tạo nên cơ cấu của nền kinh tế không ngừng thay đổi, do đó cơ cấu kinh tế cũng thay đổi theo từng thời kì phát triển nhất định Quá trình thay đổi đó của nền kinh tế người ta gọi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói một cách cụ thể hơn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình cơ cấu kinh tế chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác Nếu chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, hợp lí thì kết quả đem lại sẽ có lợi cho con người và ngược lại sẽ đưa đến kết quả xấu, gây tốn kém và làm trì trệ sự phát triển kinh tế

Khi xem xét chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xác định trạng thái cơ cấu kinh tế tốt hay xấu để quyết định có cần chuyển dịch hay không và nếu cần thì chuyển dịch theo hướng nào người ta sẽ phân tích theo một hệ thống các chỉ tiêu

Những chỉ tiêu thường được sử dụng là:

- Tốc độ tăng trưởng

- Cơ cấu : GDP, GNP, lao động

- Mức độ cạnh tranh của sản phẩm và của quốc gia

- Giá trị xuất khẩu và độ mở của nền kinh tế

- Thu ngân sách và tỉ lệ thu ngân sách trên GDP

Những chỉ tiêu trên càng cao thì càng chứng tỏ cơ cấu kinh tế lựa chọn là đúng, hợp lí, và ngược lại các chỉ tiêu đó đạt được càng thấp thì càng chứng tỏ cơ cấu kinh tế không hợp lí và cần phải có sự điều chỉnh Việc điều chỉnh cơ cấu kinh

tế phải được thực hiện bằng hệ thống các giải pháp và phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó nhân lực, cơ chế chính sách và đầu tư giữ vị trí quan trọng

Để đánh giá trình độ phát triển của một cơ cấu kinh tế người ta căn cứ vào cơ cấu ngành và sự chuyển dịch cơ cấu ngành Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự chuyển dịch về tỉ lệ giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế, trong tổng thể tỉ lệ của các ngành cộng lại là 100% Do đó, khi tỉ trọng của ngành này tăng lên thì đồng nghĩa với tỉ trọng của các ngành khác phải giảm đi

Cơ cấu ngành kinh tế được xem xét trên nhiều góc độ Xem xét dưới góc độ các yếu tố đầu vào là cơ cấu lao động, cơ cấu kĩ thuật Dưới góc độ đầu ra là cơ cấu ngành tính theo giá trị sản xuất sự chuyển dịch mang tính quy luật

Đầu tiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với quy luật tiêu dùng Khi thu nhập

đầu người tăng lên thì tỉ trọng nông nghiệp trong tổng sản phẩm sẽ giảm xuống,

Trang 9

A.Fisher đã nghiên cứu mối quan hệ giữa xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành với

sự thay đổi của nhu cầu chi tiêu Các nhà kinh tế học đã nhận thấy rằng: Khi thu nhập tăng lên thì tỉ lệ chi tiêu cho hàng hóa thiết yếu( lương thực, thực phẩm) giảm

đi nên tất yếu dẫn đến tỉ trọng nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế giảm đi Trong khi đó, nhu cầu chi tiêu cho hàng hóa lâu bền ( sản phẩm công nghiệp) và hàng hóa cao cấp (sản phẩm dịch vụ) tăng lên do đó tỉ trọng của hai ngành này cũng tăng lên Đến một giai đoạn nào đó tỉ trọng của ngành dịch vụ sẽ tăng nhanh hơn tỉ trọng của ngành công nghiệp Thực tế sự phát triển của các nước đã chỉ ra xu hướng chung là khi thu nhập tăng lên thì tỉ lệ chi tiêu cho hàng tiêu dùng lâu bền tăng phù hợp với tốc độ tăng của thu nhập, còn chi tiêu cho hàng hóa cao cấp thì có tốc độ tăng nhanh hơn

Tiếp theo, xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế gắn với quy luật tăng

năng suất lao động thông qua việc phân bố lao động trong quá trình phát triển, việc tăng cường sử dụng máy móc và những phương pháp sản xuất mới đã góp phần làm tăng năng suất lao động kết quả là tỉ lệ lao động trong ngành nông nghiệp sẽ giảm

đi, để đảm bảo lương thực, thực phẩm cho xã hội sẽ không cần lực lượng lao động như cũ Trong khi đó, tỉ lệ lao động được thu hút vào hai ngành công nghiệp và dịch

vụ ngày càng tăng do nhu cầu về sản phẩm của hai khu vực tăng lên và khả năng hạn chế hơn trong việc áp dụng tiến bộ kĩ thuật để thay thế lao động, đặc biệt là hoạt động dịch vụ

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở mỗi nước là khác nhau do điều kiện kinh tế và

hệ thống chính trị - xã hội mỗi quốc gia có đặc điểm kinh tế và quy mô nền kinh

tế, thành tựu chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đạt được…và các nhân tố chính trị - xã hội, đường lối, chính sách, mục tiêu… là khác nhau nên quyết định về xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là khác nhau

3 Những xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong các mô hình

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình tích lũy về lượng, dẫn đến sự biến đổi về chất Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo yêu cầu và phương hướng tiến bộ hơn mang tính quy luật trong điều kiện cụ thể của quy trình toàn cầu hóa và khu vực hóa Sau đây là một số mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số nước, nhóm nước đã, đang diễn ra trên thế giới

Trang 10

3.1 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo mô hình công nghiệp hóa kiểu cổ điển

Những nước công nghiệp hóa kiểu cổ điển là những nước đi đầu trong cuộc cách mạng công nghiệp hồi thế kỉ XVII – XVIII và ngày nay là những nước công nghiệp phát triển nhất bao gồm Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nga, Nhật Bản Tuy nhiên có nhiều điểm không giống nhau, nhưng về cơ bản, nhóm các nước công nghiệp hóa kiểu cổ điển có nhiều điểm tương đồng về những điều kiện, cách thức và trình tự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kì công nghiệp hóa:

- Đương thời những nước này là những nước có quy mô lãnh thổ rộng lớn và dân số đông là cơ sở quan trọng cho sự phân công lao động xã hội

- Là những nước dẫn đầu thế giới về tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ

Do đó trong quá trình công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các nước này không bị lệ thuộc vào công nghệ từ bên ngoài Bên cạnh đó, những quốc gia này đã hình thành những trung tâm đô thị lớn, thương mại phát triển và đội ngũ thợ thủ công lành nghề đông đảo

- Các mối quan hệ kinh tế quốc tế vẫn còn hạn chế vì thế mức độ ảnh hưởng của thế giới bên ngoài đối với quá trình công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở những nước này không lớn

- Nhìn chung, các nước này có tài nguyên thiên nhiên : đất đai, khoáng sản

…tương đối phong phú, đa dạng, nên về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu của giai đoạn đầu tiên của quá trình công nghiệp hóa Thêm vào đó, các nước này đều có nguồn cung cấp bổ sung quan trọng (về nguyên, nhiên vật liệu, lao động và thị trường) từ hệ thống thuộc địa riêng

Trong điều kiện như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của mô hình công nghiệp hóa kiểu cổ điển có những đặc trưng sau:

+ Một là, cuộc cách mạng trong lĩnh vực nông nghiệp xảy ra trước, trở thành

một trong số những tiền đề tiên quyết cho sự ra đời của cách mạng công nghiệp

Cuộc cách mạng trong nông nghiệp với những thay đổi trong kĩ thuật canh tác

và cách thức tổ chức sản xuất tuy diễn ra một cách chậm chạp và kéo dài nhưng đã làm cho sản lượng và năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên Sự tăng trưởng này một mặt làm cho khối lượng hàng hóa nông sản tăng lên có thể cung cấp cho xã hội, do đó có thể giảm khối lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp giảm

Trang 11

động và hàng tiêu dùng trong lĩnh vực nông nghiệp tăng lên nên đã kích thích mở rộng sản xuất ở khu vực phi nông nghiệp

Quy mô và nhịp độ của cách mạng nông nghiệp đã ảnh hưởng lớn đến tiến trình của cách mạng công nghiệp Ví dụ như đối với nước Anh, mặc dù cách mạng nông nghiệp diễn ra từ rất sớm nhưng khi bước vào cách mạng công nghiệp thì giai cấp tư sản vẫn phải dùng các biện pháp bạo lực để trợ giúp nhằm tăng cường quy

mô và nhịp độ cách mạng nông nghiệp để phục vụ sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp (đặc biệt là công nghiệp dệt) ở những trung tâm công nghiệp lớn tình hình đó đã góp phần đẩy cuộc cách mạng nông nghiệp ở Anh đến chỗ triệt

để, thoát hẳn khỏi quan hệ phong kiến trong nông nghiệp Từ đó đưa cách mạng nông nghiệp đến chỗ hoàn thành sớm nhất giúp nước Anh trở thành nước đầu tiên hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp

+ Hai là, trình tự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong mô hình công nghiệp

hóa kiểu cổ điển là : công nghiệp nhẹ - công nghiệp nặng – giao thông vận tải và bưu điện – nông nghiệp và cuối cùng là lĩnh vực dịch vụ Ví dụ điển hình là nước Anh Cuộc cách mạng công nghiệp đã được khởi đầu bằng công nghiệp dệt, trước hết là cuộc cách mạng về kĩ thuật sản xuất trên máy công tác, sau đó lan truyền sang máy truyền lực và máy phát lực

Cùng lúc đó, sự phát triển của ngành giao thông vận tải trên cơ sở máy móc động lực từ lĩnh vực đường thủy đến đường sắt và vận tải ô tô bùng nổ đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của ngành công nghiệp nặng Sự phát triển và hiện đại hóa ngành giao thông vận tải đã góp phần quyết định đưa công nghiệp nặng chiếm ưu thế so với công nghiệp nhẹ và chính tại thời điểm này cuộc cách mạng công nghiệp xem như cơ bản hoàn thành

Còn lĩnh vực dịch vụ thì có tốc độ gia tăng mạnh mẽ trên cơ sở kĩ thuật hiện đại và tỉ trọng đang có xu hướng tăng lên, chiếm ưu thế trong cơ cấu của các nước phát triển

+ Ba là, trong mô hình công nghiệp hóa kiểu cổ điển, sự chuyển dịch lao động

từ nông nghiệp sang công nghiệp đã không gây ra những căng thẳng quá mức về vấn đề thất nghiệp Kết quả này một phần là do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra một cách từ từ và phần khác là nhờ vào quá trình di cư quy mô lớn của thời

kì đó từ lục địa châu Âu sang các vùng đất mới

Trang 12

Như vậy, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong mô hình công nghiệp hóa kiểu

cổ điển đã diễn ra như một “quá trình lịch sử tự nhiên”, để lại một hình mẫu “chuẩn mực” cho những nước đi sau trong quá trình công nghiệp hóa Song, tuyệt nhiên không phải vì vậy mà nhất thiết phải bắt buộc lặp lại quá trình chuyển dịch cơ cấu

mà cần phải có sự tính toán phù hợp với điều kiện của từng nước và trong từng giai đoạn cụ thể

3.2 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mô hình công nghiệp hóa kiểu kế hoạch hóa tập trung

Mô hình công nghiệp hóa trong mô hình kế hoạch hóa tập trung là mô hình công nghiệp hóa XHCN do Liên Xô và các nước XHCN trước đây tiến hành Việc tập trung mọi nguồn lực kinh tế vào tay Nhà nước đã tạo điều kiện cho các nước theo mô hình kế hoạch hóa tập trung tiếp cận vấn đề công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế hoàn toàn khác với mô hình cổ điển

Quá trình công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mô hình kế hoạch hóa tập trung có những điểm nổi bật sau:

+ Một là, Nhà nước trực tiếp tiến hành công nghiệp hóa bằng cách tập trung

ưu tiên cao độ cho sự phát triển công nghiệp nặng ngay trong giai đoạn ban đầu của thời kì công nghiệp hóa

Chẳng hạn, ngay trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1927 – 1932) tổng đầu

tư cho công nghiệp nhóm A của Liên Xô chiếm tới 78% vốn đầu tư cho công nghiệp Tương tự như vậy tỉ trọng đầu tư cho công nghiệp nặng trong toàn bộ ngành công nghiệp của các nước XHCN Đông Âu khác trong những năm 1950 – 1960 luôn giao động từ 70 – 90%, ở Việt Nam chỉ số tương ứng cho tới trước năm 1985 luôn ở mức hơn 70%

+ Hai là, Việc duy trì tính cân đối giữa các ngành của quá trình công nghiệp

hóa được tính toán dựa trên những chỉ tiêu hiện vật

+ Ba là, quá trình công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế được

đẩy nhanh bằng cách áp dụng nhiều biện pháp hành chính phi kinh tế

Do mong muốn đẩy nhanh tốc độ thực hiện công nghiệp hóa trong điều kiện nền kinh tế còn kém phát triển, các mối quan hệ bên ngoài hạn hẹp nên nguồn vốn đầu tư hầu như hoàn toàn dựa vào tích lũy trong nước, nên sự thiếu hụt và căng thẳng về nguồn vốn đã được giải quyết bằng các chỉ tiêu giao nộp tập trung vào tau

Trang 13

yếu dẫn đến tình trạng kém hiệu quả của sản xuất.Vì thế cái vòng luẩn quẩn trong việc giải quyết những căng thẳng về tích lũy vốn ngày càng bị khép chặt lại trước nhu cầu mở rộng quy mô công nghiệp nặng

Kết quả của quá trình công nghiệp hoá theo kiểu kế hoạch hóa tập trung là trong giai đoạn đầu tiên nền công nghiệp nặng phát triển với tốc độ cao và do đó cơ cấu kinh tế có sự thay đổi đáng kể Ở một số nước tỉ trọng của ngành công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân đã vượt qua ngành nông nghiệp Nhưng đáng tiếc là những kết quả tăng trưởng công nghiệp và những thay đổi cơ cấu kinh tế nêu trên chẳng bao lâu đã chuyển sang tình trạng trì trệ Do đó xảy ra cuộc khủng hoảng có tính hệ thống dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu cũng như buộc phải tiến hành cải cách toàn diện nền kinh tế ở một số nước khác

Nguyên nhân căn bản có liên quan trực tiếp tới vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là việc duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh của CN nói chung, CN nặng nói riêng đã không đảm bảo được những điều kiện tiền đề cần thiết Đó là :

- Việc tập trung cao độ mọi nguồn lực để ưu tiên phát triển công nghiệp nặng

đã buộc phải cắt giảm đầu tư cho các lĩnh vực khác, nhất là NN Hậu quả là, NN trở thành khu vực đầu tiên của nền kinh tế bị rơi vào tình trạng thiểu năng Khi khu vực

NN bị trì trệ chẳng những nó đã không làm được vai trò cơ sở cho sự phát triển CN

mà thậm chí còn nảy sinh nhiều vấn đề xã hội khác

- Trong trường hợp các nguồn lực bên trong luôn bị thiếu hụt như vậy thì sự trợ giúp từ bên ngoài trở thành nguồn thay thế quan trọng Tuy nhiên, mức trợ giúp dường như không đủ và hiệu quả của cách thức hoạt động không cao nhất là không biến được nguồn trợ giúp ngoại lực trở thành nội lực để đảm bảo tự vận hành hiệu quả của quá trình công nghiệp hóa và CDCCKT

Vì thế, sau giai đoạn gia tăng nhanh chóng đầu tiên của quá trình xây dựng cơ bản cho CN và làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế vừa tạo lập đã được dần dần chậm lại, thậm chí dừng hẳn Sau thời kì khủng hoảng thì các nước XHCN còn lại đã thay đổi quan điểm về công nghiệp hòa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Các nước đã tiến hành cải tổ và mở cửa nền kinh tế: Trung Quốc (1978), Việt Nam (1986)….và quan điểm trong quá trình công nghiệp hóa là phát triển CN nặng trên cơ sở phát triển nông nghiệp và CN nhẹ Từ những sự thay đổi đó đã mang lại những thành tựu đáng kể cho các nước trong quá trình CNH và CDCCKT

Trang 14

3.3 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu

Mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu với tư tưởng chủ đạo là thay thế những mặt hàng trước đây phải nhập khẩu bằng sản xuất trong nước Mô hình này

đã trở thành trào lưu phổ biến ở hầu hết các nước thuộc thế giới thứ ba sau khi giành được độc lập chính trị vào những năm đầu tiên sau đại chiến thế giới thứ II

Tuy cách tiếp cận vấn đề cơ cấu kinh tế của mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu không phải bao giờ cũng nhấn mạnh trước tiên đến sự phát triển ưu tiên cho công nghiệp nặng nhưng ý tưởng thay thế cho mọi sản phẩm nhập khẩu bằng sản xuất trong nước cuối cùng cũng đưa đến chính sách xây dựng một nền công nghiệp hoàn chỉnh và khép kín Quá trình công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau thời kì phát triển ban đầu tương đối nhanh đã dần dần vấp phải những giới hạn không thể vượt qua được, thậm chí ngay cả với những nước có dân số đông, diện tích lớn có lợi thế về quy mô Ở đây, ngoài những lí do phổ biến về thiếu hụt nguồn vốn đầu tiên, khả năng công nghệ - kĩ thuật và dung lượng thị trường,còn

có những lí do chủ yếu về chính sách bảo hộ đặc trưng cho chính sách công nghiệp hóa hướng nội Cụ thể:

- Chính sách bảo hộ mậu dịch: Đây là hệ thống chính sách được dùng phổ biến

và đặc trưng cho chính sách công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu Những lí do chủ yếu biện minh cho việc thực thi chính sách này trước hết nó được coi là công cụ phát triển, bao gồm : bảo vệ thị trường nội địa cho nền sản xuất trong nước, giúp đỡ việc hình thành những ngành công nghiệp non trẻ, tiết kiệm nguồn ngoại tệ khan hiếm Công cụ của chính sách bảo hộ là hàng rào thuế quan (thuế suất cao) và chế

độ hạn ngạnh nhập khẩu (quota)

- Chính sách tỉ giá hối đoái: Để khuyến khích việc sản xuất và tiêu dùng hàng hóa nội địa, các chính phủ theo đuổi con đường công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu thường duy trì một tỉ giá hối đoái trên cơ sở nâng cao giá trị đồng nội tệ nhằm làm cho các nhà công nghiệp có thể lợi do bán hàng trên thị trường trong nước Chính sách duy trì tỉ giá hối đoái cao cũng là một bộ phận cấu thành chính sách bảo hộ mậu dịch của các nước theo mô hình này

Với những chính sách nêu trên, trong giai đoạn đầu tiên của quá trình công nghiệp hóa các nước đã đạt được tốc độ tăng trưởng công nghiệp tương đối cao

Trang 15

thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh hơn, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội

ở các quốc gia vốn trước đây là thuộc địa

Tuy vậy tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao và thay đổi cơ cấu kinh tế vĩ mô nêu trên của mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu đã không thể tiếp tục duy trì lâu hơn Sự bất cập của những chính sách công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu không những chỉ biểu hiện ở mức độ không thành công trong việc đạt được mục tiêu cuối cùng là xây dựng một nền kinh tế tự chủ, phát triển được một cơ cấu kinh

tế hiện đại, mà ngay cả những mục tiêu có tính chất trung gian như giải quyết vấn

đề thâm hụt ngân sách và cán cân thương mại cũng không thực hiện được

3.4 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo mô hình công nghiệp hóa hướng xuất khẩu

Với tư cách là một mô hình CNH mang những đặc điểm riêng biệt cơ bản khác với chính sách CNH thay thế nhập khẩu, mô hình CNH hướng xuất khẩu ngày càng được biết đến do kết quả tăng trưởng kinh tế thần kì của một nhóm rất ít các nước sớm tách khỏi mô hình thay thế nhập khẩu để chuyển sang thực hiện chính sách này Trong số các nước đi theo mô hình này, đặc biệt xuất sắc là nhóm nước NICs : Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Công và Singapo với đặc điểm là quy mô nhỏ, thị trường trong nước không lớn, nghèo tài nguyên nhưng nguồn lao động dồi dào

và chất lượng cao

Quá trình công nghiệp hóa được bắt đầu từ việc tập trung khai thác các thế mạnh của nền kinh tế, tạo ra những lĩnh vực phát triển có lợi thế so sánh trên thị trường thế giới thông thường đối với các nước chậm phát triển, những thế mạnh khả dĩ có lợi thế so sánh là nguồn lao động dồi dào giá rẻ, tài nguyên khoáng sản và nông sản Những nước chủ yếu dựa vào nguồn lao động như nhóm NICs thì hướng vào phát triển các ngành công nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động như dệt may, chế biến thực phẩm, điện tử dân dụng Trong khi một số nước khác như Thái Lan, Malaysia lại khởi đầu với những sản phẩm nông nghiệp và khai khoáng Khác với chính sách thay thế nhập khẩu, hướng công nghiệp hóa tới những chỗ xây dựng một

cơ cấu kinh tế và một nền công nghiệp hoàn chỉnh nhằm sản xuất ra những mặt hàng trong nước cần tiêu dùng Chính sách hướng về xuất khẩu đặt trọng tâm vào việc phát triển những lĩnh vực có lợi thế so sánh trên thị trường quốc tế

Toàn bộ hệ thống chính sách đều chủ yếu nhằm vào khuyến khích việc tăng cường xuất khẩu Tuy các chính sách khuyến khích xuất khẩu ở các nước là khác

Trang 16

nhau tùy thuộc vào tình hình của mỗi nước nhưng chúng đều dựa trên nguyên lí chung đó là đảm bảo cho các nhà sản xuất có lợi hơn nếu bán sản phẩm của họ ra nước ngoài

Những biện pháp khuyến khích chủ yếu:

- Nhà nước trực tiếp tác động bằng cách đưa ra danh mục các mặt hàng ưu tiên, giảm hoặc miễn trừ thuế nhập khẩu, các loại vật tư, nguyên liệu , thiết bị phục

vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu

- Nhà nước gián tiếp can thiệp qua các công cụ điều tiết về tài chính, tiền tệ, tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất hướng ra thị trường thế giới

- Đưa ra nhiều chính sách hấp dẫn nhằm khuyến khích đầu tư nước ngoài (FDI)

Với những chính sách nêu trên, thực tiễn những năm qua cho thấy rằng những quốc gia đi theo mô hình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu đều đạt được tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế thay đổi một cách nhanh chóng Tuy nhiên các nhà kinh tế học một mặt đánh giá cao tác động của những chính sách này đối với quá trình công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế bởi nó tỏ ra phù hợp với tình hình kinh tế chính trị quốc tế trong những thập niên qua Nhưng mặt khác, cũng nêu

ra hai vấn đề cần thiết được đặc biệt chú ý Thứ nhất, một số điểm yếu của bản thân

chính sách thúc đẩy công nghiệp hóa hướng tới xuất khẩu như sự phụ thuộc quá mức vào sự biến động của thị trường thế giới, những điều kiện trong nước đảm bảo

sự thành công của chính sách không phải lúc nào cũng sẵn có Thứ hai, không chắc

chắn những điều kiện của môi trường quốc tế sẽ còn thuận lợi cho việc thực thi chính sách này trong tương lai

Tuy đến nay cách giải quyết vấn đề CNH và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

tế ở các nước trên thế giới hết sức đa dạng và các kết quả đạt được cũng hết sức khác nhau Nhưng việc lựa chọn một chính sách CNH và CDCCKT thích hợp với điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia hiện vẫn là một thách thức to lớn đối với cả các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách ở các nước đang phát triển, đặc biệt là xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa như hiện nay

Như vậy có thể thấy CCKT ngày một chuyển dịch theo hướng tiến bộ và hiện đại hơn Tỷ trọng ngành NN giảm xuống và tỉ trọng ngành CN và DV tăng lên Tức

là tỉ trọng các ngành có năng suất lao động thấp giảm đi trong toàn bộ bức tranh

Trang 17

và những ngành có hàm lượng công nghệ cao, chứa nhiều chất xám tăng lên làm cho độ mở của nền kinh tế tăng lên Độ mở của nền kinh tế càng lớn chứng tỏ nền kinh tế đó càng hội nhập mạnh với bên ngoài Bên cạnh đó cũng phải chú ý tới những mặt hạn chế do sự phụ thuộc vào bên ngoài khi thực hiện mở cửa nền kinh

tế

Nếu cơ cấu kinh tế được chọn sai hoặc đúng nhưng chưa đủ điều kiện cần thiết

và việc điều hành lại kém thì CDCCKT sẽ dễ không theo chiều hướng như mong muốn Nhà nước có vai trò lớn đối với sự CDCCKT

Khi thực hiện CDCCKT phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

- CDCCKT phải đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về quy mô, chất lượng, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững trên cơ sở phát huy có hiệu quả lợi thế so sánh có tính tới điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và tiến bộ khoa học công nghệ

- CDCCKT phải phù hợp với sự phát triển của sức sản xuất và quan hệ sản xuất, đảm bảo hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài, đảm bảo phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế không ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và lợi ích của thế hệ mai sau

- CDCCKT có thể diễn ra một cách tuần tự cũng có thể diễn ra một cách đột biến, nhảy vọt

Muốn cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng và mang lại hiệu quả, trước hết cần có sự can thiệp đúng đắn của Nhà nước, các điều kiện cần thiết được đảm bảo và nhận được sự quan tâm đồng thuận của toàn xã hội

II Những nhân tố tác động tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

1 Vốn

Có rất nhiều nghiên cứu cho rằng vốn là yếu tố quan trọng nhất đối với tăng trưởng bởi nó là vừa là một trong các yếu tố sản xuất trực tiếp đồng thời cũng là một nhân tố gián tiếp góp phần vào việc làm tăng sản lượng thông qua đầu tư cải tiến kĩ thuật cũng chính đầu tư giúp nâng cao kĩ năng của người lao động góp phần làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy sản xuất có hiệu quả hơn, tất yếu dẫn đến tăng trưởng kinh tế Với những tác động như vậy, có thể khẳng định vốn là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà cụ thể là cơ cấu ngành kinh tế bằng việc đầu tư vốn vào sản xuất có thể làm cho cơ cấu sản xuất thay đổi theo hướng tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm có hàm lượng vốn-công

Trang 18

nghệ cao, đồng thời làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh

tế diễn ra theo hướng tích cực

2 Lao động

Dân số và nguồn lao động đây được coi là nhân tố nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế Sự tác động của nhân tố này lên quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế được xem xét trên các mặt chủ yếu sau:

- Đầu tiên, kết cấu dân cư và trình độ dân trí, khả năng tiếp thu khoa học công nghệ mới…là cơ sở quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp kĩ thuật cao và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các ngành kinh tế, là nhân tố thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất

- Tiếp theo, quy mô dân số, kết cấu dân cư, tình hình thu nhập và khuynh hướng chi tiêu của họ là cơ sở xác định quy mô và cơ cấu nhu cầu thị trường vì vậy

nó cũng là cơ sở để phát triển các ngành, nhất là các ngành công nghiệp và ngành phục vụ tiêu dùng

Quy mô và chất lượng của lao động có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của cơ cấu ngành kinh tế chất lượng lao động càng cao càng có điều kiện

để phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ, nhất là các ngành công nghiệp dịch vụ

có trình độ chuyên môn nghề nghiệp cao

Hiện nay, do đặc điểm của cả nước nói chung cũng như ở thành phố Hà Nội nói riêng là: dân số trẻ, đông, nguồn lao động có trình độ cao còn thấp cho nên trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải tranh thủ những lợi thế về nguồn lao động dồi dào, giá rẻ để phát triển các ngành có khả năng thu hút nhiều lao động, vốn đầu tư ít như :ngành dệt may, da dày, thủ công mĩ nghệ, lao động làng nghề…tạo tiền đề cho sự phát triển trong thời gian tới

Mặt khác, cùng với sự phát triển kinh tế, mức sống của dân cư cũng dần được tăng lên kéo theo là sự thay đổi trong lối sống, thói quen cũng như thị hiếu tiêu dùng Điều này tác động không nhỏ đến xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của từng vùng, từng địa phương Vì vậy, việc nghiên cứu cơ cấu thu nhập chi tiêu của các tầng lớp dân cư không thể bỏ qua khi nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

3 Mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước cũng như của Hà Nội

Hà Nội là Thủ đô, là trái tim của cả nước, là trung tâm của toàn vùng đồng

Trang 19

tiêu chung của cả quốc gia Mục tiêu dài hạn của nước ta là đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp, để đạt được thì nền kinh tế của Việt Nam phải không ngừng tăng trưởng, GTSX không ngừng tăng lên kéo theo đó cơ cấu kinh tế phải có sự thay đổi theo chiều hướng giảm dần tỉ trọng ngành NN, tăng dần tỉ trọng ngành CN và DV Dựa mục tiêu tổng quát của đất nước Hà Nội cũng đã đưa ra mục tiêu dài hạn của mình được thể hiện trong chiến lược phát triển KT-XH

và quy hoạch phát triển KT-XH đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội sẽ trở thành Thủ đô công nghiệp vào năm 2015, lúc này cơ cấu kinh tế của Hà Nội sẽ

là dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp Mục tiêu của Hà Nội chính là sự triển khai chi tiết hơn mục tiêu của đất nước dựa trên những điều kiện hoàn cảnh của Hà Nội chính vì thế nên định hướng của đất nước có ảnh hưởng rất lớn tác động đến hướng phát triển và CDCCKT của Thủ đô

4 Điều kiện tự nhiên

Những nhân tố về điều kiện tự nhiên như: vị trí địa lí, khí hậu, đất đai, tài nguyên…chi phối mạnh mẽ tới việc lựa chọn cơ cấu ngành sản xuất Những điều kiện tự nhiên đặc thù của từng vùng, từng địa phương tạo ra những lợi thế so sánh

so với những vùng, địa phương khác, do đó nó ảnh hưởng tới việc lựa chọn ngành chuyên môn hóa và các ngành bổ trợ Những nhân tố này có tác động trực tiếp, thường xuyên tới quá trình phát triển kinh tế của địa phương bởi chúng vừa là điều kiện chung để sản xuất vừa là tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ thì vai trò chi phối của các yếu tố tự nhiên đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu kinh tế ngày càng giảm dần; song không vì thế mà chúng ta có thái độ xem nhẹ những yếu tố tự nhiên chẳng hạn như trong lĩnh vực dịch vụ, nhất là sự phát triển của dịch vụ vận tải và du lịch thì yếu tố vị trí địa lí và khí hậu vẫn đóng vai trò quan trọng

5 Thể chế pháp lí

Thể chế pháp lí chính là định hướng, là sự dẫn dắt lôi kéo, hỗ trợ ủng hộ cho

sự phát triển của nền kinh tế Các hoạt động kinh tế có diễn ra thông suốt hay gặp nhiều trở ngại đó cũng là do thể chế pháp lí quyết định Để chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế nói riêng không thể thiếu vai trò của thể chế pháp lí Hà Nội sẽ không thể chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng như mục tiêu đã đặt ra trong chiến lược, quy hoạch nếu không có sự hỗ trợ và giám sát của các chế tài luật pháp và chính sách Do vậy, trong các nhân tố tác động đến sự chuyển dịch

Trang 20

cơ cấu ngành kinh tế của Thủ đô trong giai đoạn 2011-2015 nhất thiết phải có yếu

tố này

6 Nhân tố kết cấu hạ tầng

Theo nghĩa rộng, hệ thống cơ sở hạ tầng của một nước, một vùng hay một địa phương bao gồm hạ tâng kĩ thuật và hạ tầng xã hội (gồm những cơ sở hạ tầng vật chất như đường xá, điện tín-điện thoại, cầu cảng, hệ thống cấp thoát nước…và những cơ sở hạ tầng phi vật chất như hệ thống luật pháp, ý thức chính trị, văn hóa

và giáo dục…) Hệ thống cơ sở hạ tầng có thể coi như là giá đỡ cho sự hình thành

và chuyển động của cấu trúc nền kinh tế hai loại cơ sở hạ tầng này (hạ tầng kĩ thuật

và hạ tầng xã hội; hạ tầng vật chất và hạ tầng phi vật chất) đều có ảnh hưởng chặt chẽ tới định hướng cơ cấu kinh tế và quá trình CDCCKT

Đây sẽ là một nhân tố cơ bản thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nếu như vùng, địa phương có một hệ thống cơ sở hạ tầng vững chắc, thuận tiện; ngược lại nó cũng có thể là nhân tố kìm hãm sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

tế nếu như địa phương đó không có hệ thống kết cấu hạ tầng hợp lí Bên cạnh đó việc hoàn thiện kết cấu hạ tầng còn tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thu hút đầu

tư nhất là đối với những ngành đòi hỏi hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao

25 năm đổi mới quản lí nền kinh tế, chủ trương đổi mới cơ chế, tạo động lực để khai thác ngoại lực và phát huy năng lực nôi sinh, nhằm phát triển kinh tế, Đảng ta đã tạo

ra những bước tiến thần kì trong chuyển đổi cơ cấu và phát triển kinh tế Những tư tưởng đổi mới của Đảng ta từ Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X , trong đó quan trọng nhất là chuyển sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lí của nhà nước cơ chế đó đã tạo nên những bước đi ngoạn mục của nền kinh tế nước ta trong hơn một thập kỉ qua Tác động của sự ổn định chính trị có ảnh hưởng mạnh

mẽ tới phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thủ đô Trong khi thế giới

Trang 21

nhân,…thì Hà Nội vẫn là thành phố hòa bình Đảng bộ và nhân dân thành phố không ngừng đổi mới phong cách, nâng cao năng lực và hiệu lực lãnh đạo giữ gìn trật tự kỉ cương, định đúng và rõ hướng phát triển kinh tế, nhất là hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Thủ đô

8 Thị trường

Nhu cầu và tình hình cạnh tranh trên thị trường (trong và ngoài nước) là yếu tố

có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đầu tiên tới cơ cấu ngành kinh tế của mỗi vùng, địa phương trong điều kiện kinh tế thị trường Chính nhu cầu, cơ cấu nhu cầu

và xu thế vận động của nhu cầu thị trường đặt ra những mục tiêu cần vươn lên để thỏa mãn, là cơ sở để đảm bảo tính thực thi và hiệu quả của các phương án cơ cấu ngành kinh tế đã xác định cho mỗi vùng, mỗi địa phương

9 Khoa học công nghệ

Sự phát triển mạnh mẽ của KH –CN có tác động mạnh mẽ tới cơ cấu ngành của nền kinh tế Tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ đã tạo ra nhiều ngành sản xuất mới và mặt khác nó cho phép khắc phục những mặt hạn chế của các yếu tố tự nhiên Thực tiễn cho thấy nhiều quốc gia trên thế giới tuy có điều kiện tự nhiên không thuận lợi (đất đai ít, không giàu tài nguyên…) nhưng nhờ những thành tựu khoa học kĩ thuật và công nghệ tiến bộ đã đạt được những bước tiến đáng ngạc nhiên như trường hợp của Nhật Bản Tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ không chỉ cho phép đổi mới cơ cấu ngành kinh tế mà còn cho phép đổi mới cơ cấu vùng Tiến bộ KH-CN đặc biệt là sự phát triển của giao thông, vô tuyến viễn thông, kĩ thuật sinh học, kĩ thuật tạo ra những vật liệu mới…đã biến đổi nhiều vùng xa xôi, hẻo lánh thành những khu vực kinh tế trù phú với sự phát triển của nhiều ngành, nó thúc đẩy sự phân công lao động giữa các vùng và trong từng vùng ngày càng phát triển theo hướng chuyên môn hóa

10 Sự hợp tác trong nước và quốc tế

Một quốc gia hay một địa phương không thể phát triển nếu như không có mối liên hệ với bên ngoài Thực tế, sự ra đời của các tổ chức quốc tế chính là bảo

hộ, cam kết về sự giao lưu giữa các quốc gia hoặc địa phương với nhau Sự hợp tác làm giảm bớt các hàng rào gia nhập thị trường, có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và học hỏi được kinh nghiệm cũng như trao đổi về KH-CN với các thành viên khác trong cùng một tổ chức Các quốc gia (hoặc địa phương) đi sau, chậm phát triển hơn sẽ học hỏi được kinh nghiệm của các quốc gia đi trước phát

Trang 22

triển hơn Sự phát triển kinh tế của quốc gia cũng không thể tách rời sự hợp tác, liên kết với các quốc gia khác Cái cốt lõi của phát triển kinh tế đó chính là phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lí mà quan trọng là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

tế Việc mở cửa quan hệ với các tỉnh trong nước và quốc tế sẽ giúp Hà Nội học hỏi được nhiều kinh nghiệm để hạn chế được những sai lầm mắc phải trong quá trình phát triển cũng như chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố

III Sự cần thiết khách quan của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Quá trình phát triển kinh tế đặt ra câu hỏi tại sao phải chuyển dịch cơ cấu kinh

tế mà trọng tâm là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế? Đây là câu hỏi mang tính chất quan trọng mà mỗi quốc gia, mỗi địa phương trả lời được câu hỏi này thì đều biết phải làm như thế nào để phát triển kinh tế một cách đúng đắn nhất

CDCCKT là vấn đề mang tính tất yếu của quá trình phát triển Nhưng để chuyển dịch cơ cấu đi đúng hướng, mục tiêu đã định, đáp ứng được với yêu cầu trong quá trình phát triển, phù hợp với xu thế phát triển chung của đất nước, của khu vực và thế giới thì mỗi địa phương đều cần phải nhận biết rõ hiện trạng cơ cấu, chất lượng chuyển dịch cơ cấu cũng như mức độ cấp thiết của vấn đề chuyển dịch

cơ cấu của địa phương mình, bởi chuyển dịch cơ cấu kinh tế- mà quan trọng nhất là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế- phản ánh chất lượng của tăng trưởng, là một trong ba tiêu thức để đánh giá trình độ phát triển Do vậy, nhận thức được tầm quan trọng, tính cấp thiết của vấn đề CDCC ngành kinh tế là bước đầu tiên để hình thành một cơ cấu kinh tế ngành phù hợp, tạo đà phát triển cho kinh tế của địa phương Sau đây là một số nội dung cơ bản cho thấy sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH-HĐH trong điều kiện một nền kinh tế mở, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế của khu vực và thế giới hiện nay:

- CDCC ngành kinh tế vừa là mục tiêu, vừa là biện pháp để đẩy nhanh quá

trình CNH –HĐH ở nước ta hiện nay

Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh CNH–HĐH đất nước với mục tiêu là năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp Để thực hiện được mục tiêu này thì nước ta phải có một cơ cấu ngành kinh tế hiện đại có sự thay đổi cả

về chất và lượng Nó được thể hiện ở nhiều mặt như sự tham gia của khoa học kĩ thuật, trình độ quản lí và đặc biệt là tỉ trọng của từng ngành trong cơ cấu chung

Trang 23

- CDCC ngành kinh tế để phát huy lợi thế so sánh của quốc gia cũng như của địa phương

Mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế, nhất là trong bối cảnh hội nhập

và toàn cầu hóa chỉ có thể tham gia vào kinh tế khu vực và quốc tế nếu biết dựa vào lợi thế so sánh Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế như các yếu tố về môi trường, khoa học công nghệ, các yếu tố nội lực và ngoại lực…Một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là các nguồn lực và lợi thế so sánh của đất nước Việt Nam có một lợi thế rất lớn là có nguồn tài nguyên phong phú với nhiều khoáng sản, kim loại quý hiếm, chính là một trong những điều kiện vô cùng thuận lợi cho các ngành công nghiệp khai khoáng, chế biến phát triển và cho phép hình thành những ngành công nghiệp đóng vai trò nền tảng vững chắc Bên cạnh đó nước ta là một nước nông nghiệp truyền thống đất đai màu mỡ rất thuận lợi cho việc trồng cấy các loại cây hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày đây là một lợi thế cho việc phát triển các ngành công nghiệp chế biến và làm phong phú các chủng loại mặt hàng xuất khẩu

Hơn thế nữa, nước ta có nguồn lao động dồi dào giá rẻ, vị trí của nước ta lại nằm trong khu vực năng động của thế giới, là cửa ngõ của tuyến giao thông thương mại với trên 3000km bờ biển và các hải cảng nước sâu…là các yếu tố tạo ra lợi thế

để chuyển dịch cơ cấu linh hoạt sang các ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, da dày… với một thị trường tương đối lớn trong nước cũng như trên thế giới

- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là yêu cầu khách quan của quá trình hội nhập:

Xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành xu thế phát triển chủ yếu của các quan hệ quốc tế hiện đại Hiện nay, Việt Nam đã tham gia các tổ chức của khu vực cũng như của thế giới như ASEAN, AFTA… và mới đây năm 2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO), sự kiện này đánh dấu các bước hội nhập quan trọng của kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu

Trước xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa mỗi quốc gia phải tìm cách thích ứng bằng cách bên cạch việc tranh thủ cơ hội thì còn phải tìm cách tranh thủ mọi cơ hội khai thác tối đa lợi thế so sánh mà trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới mà có được

Trang 24

- Xuất phát từ cơ cấu ngành kinh tế nói riêng và cơ cấu kinh tế nói chung chưa phù hợp còn lạc hậu, cần thiết phải CDCC ngành kinh tế:

Bước vào quá trình hội nhập, Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế như thực trạng của nền kinh tế Việt Nam với quy mô nhỏ bé, công nghệ lạc hậu, cơ cấu chưa chuyển dịch đúng hướng, sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp còn yếu chưa đủ sức vươn ra chiếm lĩnh thị trường Trải qua gần 25 năm đổi mới mặc dù quy mô, cơ cấu đã chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng nhìn chung

nó vẫn còn lạc hậu, tỉ trọng của các ngành trong nền kinh tế còn chưa phù hợp, sự liên kết giữa các ngành còn yếu làm cho khả năng cạnh tranh của quốc gia cũng không thể mạnh lên được Do đó một điều quan trọng trong giai đoạn tới là phải có

sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế để đáp ứng với yêu cầu của tình hình mới, đây

là điều kiện cần thiết mang tính tất yếu khách quan Đồng thời với việc chuyển dịch

cơ cấu giữa các ngành thì cũng phải có sự chuyển dịch một cách mạnh mẽ trong nội

bộ từng ngành, sự hoàn thiện trong từng ngành theo trình tự từ thấp đến cao, chiều sâu theo hướng CNH –HĐH là một điều kiện cần để gia tăng sự mạnh mẽ của từng ngành và từ đó thúc đẩy sự chuyển dịch giữa các ngành với nhau cùng hướng tới sự hoàn thiện mới

IV Thực tiễn kinh nghiệm về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một số nước

và một số tỉnh thành ở Việt Nam

1 Kinh nghiệm của một số nước

1.1 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hàn Quốc

Sau giai đoạn phục hồi thời kì hậu chiến, Hàn Quốc đã nhanh chóng đạt được tốc độ tăng trưởng đáng khâm phục trong thập kỉ 70 ( giai đoạn “cất cánh”), để trở thành nước công nghiệp với tiềm năng kinh tế - kĩ thuật khá phát triển Điều này tạo tiền để cho Hàn Quốc bước vào giai đoạn 3 (từ đầu thập niên 80 đến nay) – thời kì

“công nghiệp hóa chín muồi”

Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hàn Quốc là do nguyên nhân sau: tập trung thực hiện một loạt những chính sách thúc đẩy kinh tế; lựa chọn chiến lược phát triển dựa vào công nghiệp hóa, chú trọng ngành chế biến và công nghiệp nhẹ hướng xuất khẩu; tạo vốn bằng thu hút FDI và nhập khẩu kĩ thuật mới; phát triển ngành thu hút nhiều lao động và thi hành chính sách giáo dục bắt buộc, thu hút nhân tài; xây dựng các khu mậu dịch tự do (FTZ) cho nước ngoài thuê hoặc tự do đầu tư,

Trang 25

Hàn Quốc là vai trò quan trọng của các chaebol (tập đoàn công nghiệp thuộc sở hữu của các nhóm gia đình): năm 1995, 30 chaebol lớn nhất chiếm giữ 90% GDP và 60% giá trị công nghiệp xuất khẩu của đất nước

Hiện nay, Hàn Quốc chủ trương phát triển chủ yếu dựa vào những ngành có hàm lượng kĩ thuật và tri thức cao để thay thế cho những ngành cần nhiều vốn và lao động kém sức cạnh tranh; phát triển những ngành sử dụng nhiều lao động có tay nghề và công nghệ cao như : điện tử, máy chính xác, thiết bị thông tin, ô tô, công nghiệp hàng không, vi điện tử, robot, sinh học, hóa học cao cấp…Cơ cấu ngành kinh tế của Hàn Quốc: nông nghiệp 6%, công nghiệp 43% (trong đó ngành chế tạo 26%) và dịch vụ 51%

1.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Trung Quốc:

Để “tạo ra một trong những thần kì kinh tế vĩ đại nhất của thế kỉ”, Trung Quốc

đã thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp cải cách và mở cửa như: áp dụng chính sách khoán ruộng đất cho nông dân, khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, hình thành mạng lưới các “xí nghiệp hương trấn” vừa và nhỏ ở nông thôn; có cơ chế giảm bớt sự tập trung quyền lực – tăng tính tự chủ cho các địa phương và đơn vị cơ

sở, tập trung cải cách khối xí nghiệp ngoài quốc doanh, xóa bỏ chế độ 2 giá, cải cách hệ thống ngân hàng và ngoại thương; gắn thị trường trong nước với thế giới và thu hút FDI, xây dựng bốn đặc khu kinh tế là Thẩm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu và

Hạ Môn, thành lập đặc khu Hải Nam, xây dựng và mở cửa nhiều khu vực…Những năm gần đây, Trung Quốc triệt để thực hiện đường lối mở cửa, thành lập một số trung tâm tà chính tầm cỡ quốc tế, thành lập khu Phố Đông Thượng Hải; thực hiện

ưu đãi đầu tư nước ngoài như: cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu và mở các nghiệp vụ tiền tệ, cải cách thể chế ngoại thương, giảm 2/3 các mặt hàng phải cấp giấy phép và hạn ngạch xuất nhập khẩu

Với tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục nhiều năm ở mức cao (bình quân khoảng 8 – 10%/năm), Trung Quốc có điều kiện cải thiện đáng kể đời sống cho nhân dân, đảm bảo lương thực và nhu cầu tiêu dùng cho hơn 1 tỉ dân Một số kết quả trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Trung Quốc như sau:

- Cơ cấu ngành của nền kinh tế có sự thay đổi đáng kể; tỉ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp giảm dần, thay vào đó tỉ trọng của các ngành công nghiệp

và dịch vụ tăng lên Thể hiện một cách rõ nét nhất là các sản phẩm của ngành công

Trang 26

nghiệp và ngành dịch vụ nước này đã thâm nhập vào hầu hết các thị trường ở khắp các châu lục trên thế giới

- Cơ cấu ngoại thương và kinh tế đối ngoại của Trung Quốc có sự chuyển dịch mạnh mẽ, từ chỗ chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trong buôn bán quốc tế nay Trung Quốc đã có mối quan hệ buôn bán và đầu tư với hơn 100 quốc gia, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hàng trăm tỉ USD và có cán cân thương mại thặng dư lớn, đặc biệt trong quan hệ buôn bán với Hoa Kì

Trung Quốc là nước hấp dẫn đầu tư và thu hút đầu tư lớn thứ hai chỉ sau Mĩ với khối lượng FDI khoảng 100 tỉ USD một năm (giai đoạn 2006-2010) Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc cũng thay đổi theo hướng tăng tỉ trọng hàng nông sản chế biến và hàng công nghệ phẩm, máy móc thiết bị (hàng dệt may, giầy dép, gốm sứ, hàng điện tử và máy tính, điện thoại di động, ô tô…)

- Cơ cấu theo sở hữu và thành phần kinh tế có sự thay đổi mạnh theo hướng giảm khu vực quốc hữu và tăng khu vực tư nhân (Theo dự tính đến năm 2010, kinh

tế nhà nước sẽ chiếm tỷ trọng là 35%; kinh tế tập thể: 35% và kinh tế phi công hữu chiếm khoảng 27%)

2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số thủ đô

2.1 Kinh nghiệm của thành phố Viên (Áo)

Tận dụng lợi thế về vị trí địa lí (nằm ở trung tâm châu Âu), tuy chỉ có diện tích trên 600 km2 nhưng thành phố Viên đã xây dựng kế hoạch phát triển thành đầu mối giao thông hàng không, đường sắt, đường bộ, đường thủy của Châu Âu Mục tiêu

cơ bản của kế hoạch này là hình thành hệ thống hành lang giao thông Bắc – Nam, Đông – Tây nối liền các quốc gia Xây dựng đường sắt cao tốc, đường sắt liên quốc gia; mở rộng mạng lưới vận chuyển hàng không với nhiều loại máy bay, đa dạng hóa phương thức, quy mô dịch vụ; tổ chức các tuyến vận tải đường thủy nối liền bờ biển phía bắc với hệ thống đường sông của các quốc gia

Kế hoạch này đã được Cộng đồng châu Âu (EU) chấp thuận và hỗ trợ kinh phí triển khai Sau khi các tuyến giao thông được hình thành (theo như kế hoạch là vào năm 2010 – 2015), dịch vụ vận chuyển hàng hóa, hành khách và các dịch vụ liên quan sẽ đóng góp quan trọng vào tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố Viên

Phát huy lợi thế là thành phố công nghiệp, thành phố Viên đã tập trung đầu tư

Trang 27

nghiệp ở thành phố Viên đã hợp tác với các doanh nghiệp lớn của cộng hòa liên bang Đức để liên kết chế tạo các dây chuyền công nghệ sản xuất xe điện tốc hành,

xe điện ngầm, dây chuyền xử lí nước thải, cung cấp nước sạch, chế biến lương thực – thực phẩm, linh kiện tự động hóa Mặt khác, thành phố Viên đã khai thác có hiệu quả thế mạnh và truyền thống lịch sử, nét văn hóa truyền thống, phong cách kiến trúc đặc trưng…để thúc đẩy phát triển dịch vụ du lịch và hiện nay là một trung tâm, địa điểm du lịch có uy tín của châu Âu cũng như thế giới

2.2 Kinh nghiệm của thủ đô Kuala – Lampua (Malaysia)

Kuala – Lampua là thủ đô và cũng là thành phố đóng vai trò đầu tàu phát triển kinh tế của Malaysia Kinh tế Kuala-Lampua tăng trưởng liên tục nhiều năm

ở mức cao (tốc độ hằng năm khoảng 7-12%) Cơ cấu kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại trong đó nhiều ngành công nghiệp chủ lực có lợi thế, công nghiệp công nghệ cao

Tùy theo từng thời kì mà Kuala-Lumpua có những chiến lược phát triển cho mình chẳng hạn như giai đoạn 1970-1990 kinh tế của Kuala-Lumpua đã phát triển theo chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu với mục tiêu quan tâm các ngành có công nghệ thích hợp, phù hợp với trình độ lao động

Giai đoạn 1991-2000 là giai đoạn hiện đại hóa toàn diện, tranh thủ các lợi thế so sánh về công nghệ hiện đại, tri thức, vốn và lao động trình độ cao

Hiện nay, thủ đô Kuala- Lampua đang đi đầu thực hiện mục tiêu quốc gia trở thành nước công nghiệp toàn diện vào năm 2020 với các ngành công nghệ cao như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới, vi điện tử, tự động hóa….Các ngành dịch vụ trình độ cao, chất lượng cao (tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, y tế, giáo dục…) được quan tâm phát triển mạnh ở Malaysia, tập trung với mật độ cao ở thủ đô Kuala- Lampua Thành phố này trở thành một trong những trung tâm có uy tín ở khu vực châu Á, nơi đặt trụ sở,chi nhánh giao dịch của nhiều tập đoàn, công ty lớn trên thế giới

Do yêu cầu phát triển, Malaysia đã có chủ trương xây dựng một thành phố mới cách thủ đô Kuala-Lumpua khoảng 30km chính phủ sẽ thực hiện di chuyển trung tâm hành chính quốc gia và các cơ quan ngoại giao tới đó nhằm giảm mật độ dân số và nâng cao điều kiện sống của người dân Kuala-Lampua

Trang 28

2.3 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số tỉnh thành ở Việt Nam:

2.3.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

Là trung tâm kinh tế lớn nhất trong cả nước, một thành phố đông dân bậc nhất,

có lợi thế về địa lí và các tiềm năng phát triển Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm vùng Đông Nam Bộ thành phố Hồ Chí Minh đẩy mạnh phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho tương xứng với tiềm năng mà thành phố có được Để thực hiện được mục tiêu này thành phố đã mở cửa tạo môi trường thuận lợi thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài vào đầu tư kinh doanh tại đây với cơ chế một cửa thông thoáng cùng với những chính sách hỗ trợ từ phía chính quyền về đất đai, thuế, trợ giá…

Trong thời gian vừa qua thành phố đã đẩy mạnh CDCCKT nói chung và cơ cấu ngành kinh tế nói riêng một cách toàn diện cả về mặt chất và mặt lượng. Trong giai đoạn 2008 - 2010, TP đã tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai các nhóm giải pháp chủ yếu về cải thiện môi trường đô thị; hoàn tất ban hành các chương trình, đề

án và dự án của chương trình hỗ trợ CDCCKT để đưa vào hoạt động; trong quý 4 năm 2008, tăng cường kiểm tra tình hình triển khai chương trình này giai đoạn 2006

- 2010; giải quyết các khó khăn, vướng mắc của các sở - ngành, quận – huyện trong quá trình triển khai các nhóm giải pháp, các đề án và dự án của chương trình

Thực hiện CDCCKT TP theo hướng phát triển dịch vụ và các ngành công nghiệp công nghệ cao, UBND TP cũng đã kiến nghị Chính phủ hỗ trợ về cơ chế phát triển thành trung tâm tài chính, thành lập công ty đầu tư tài chính TP để huy động vốn cho các dự án hạ tầng kỹ thuật, cũng như hoàn thiện từng bước để phát triển thị trường tài chính trên địa bàn thành phố

Đồng thời, TP cũng thực hiện các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập, thủ tục xuất nhập cảnh đối với chuyên gia y tế nước ngoài đến Việt Nam; chế độ khuyến khích hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng khám chữa bệnh; phân cấp mạnh và đồng bộ hơn cho thành phố trong việc thu hút và cấp phép cho nhà đầu tư trong và ngoài nước thành lập cơ sở giáo dục – đào tạo, y tế chất lượng cao; cơ chế phối hợp với các tập đoàn kinh tế Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, tổng công ty Nhà nước trực thuộc bộ - ngành Trung ương trên địa bàn thành phố; xây dựng mạng thông tin liên kết về nghiên cứu khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo trên địa bàn

Trang 29

Phước, trung tâm thương mại quốc tế tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm… UBND TP yêu cầu, cứ định kỳ 3 tháng hoặc 6 tháng, các sở, ban ngành liên quan cần báo cáo kết quả kiểm tra, đánh giá hiệu quả đầu tư trên địa bàn về UBND TP để kịp thời có những biện pháp tháo gỡ kịp thời giúp doanh nghiệp phát triển liên tục

và ổn định Đồng thời, cần nhanh chóng phối hợp với Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư tập trung xúc tiến kêu gọi đầu tư vào các dự án sản xuất công nghiệp công nghệ cao, nhất là 4 ngành công nghiệp chủ lực (điện, điện tử công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, cơ khí chính xác, hóa chất và chế biến tinh lương thực thực phẩm) để thực hiện thành công chương trình CDCCKT như đã đề ra

2.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Nai

Trong những năm vừa qua, tỉnh Đồng Nai nổi lên là một tỉnh có tốc độ tăng trưởng nhanh Với vị trí địa lí thuận lợi: nằm ở vùng Đông Nam Bộ, là 1 trong 3 tỉnh nằm trong tam giác kinh tế (thành phố Hồ Chí Minh-Đồng Nai-Bình Dương) Với tốc độ tăng trưởng trung bình 10 năm (1999-2009) đạt 13% khá cao so với bình quân cả nước Trong đó đóng góp chính là nhóm ngành CN-XD, CDCCKT đúng hướng, VĐT tăng trưởng khá nhanh, đáp ứng đủ nhu cầu phát triển, năng lực cạnh tranh cao so với cả nước Nhờ những nỗ lực cố gắng phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặc biệt là cơ cấu ngành kinh tế bộ mặt của tỉnh đã có những thay đổi đáng khích lệ Theo số liệu thống kê, năm 2007, GTSX đạt 43.036 tỉ đồng sang năm 2008 con số này đã đạt 53.855 tỉ đồng, chỉ qua 1 năm mà GTSX đã tăng lên 10.819 tỉ đồng Nhờ việc tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho các hoạt động đầu tư nên trong năm 2008 lượng vốn đầu tư trong nước đạt 21.700 tỉ đồng (trong khi đó mục tiêu đặt ra: 16.000 tỉ đồng), lượng vốn đầu tư nước ngoài đạt 3.000 triệu USD (mục tiêu đặt ra: 1.500 triệu USD) Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực tăng tỉ trọng ngành công nghiệp-xây dựng, và dịch vụ, giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp Với việc đặt trọng tâm vào phát triển những ngành công nghệ cao như công nghiệp lắp ráp linh kiện điện tử, công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp dệt may, da dày, công nghiệp hóa-mĩ phẩm…Đồng Nai phấn đấu đến năm 2020 tỉnh cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp Kinh nghiệm CDCC kinh tế của tỉnh Đồng Nai có đi theo hướng phát triển công nghiệp-xây dựng, tỉnh chú trọng vào xây dựng các KCN, các KCX công nghệ cao để tạo ra nền tảng ban đầu cho sự chuyển dịch kinh tế Tỉnh đã xây dựng những ngành công

Trang 30

nghiệp mũi nhọn làm động lực để kéo nền kinh tế đi lên Cùng với đó, tăng cường ứng dụng những công nghệ mới,cơ giới hóa nông nghiệp nông thôn để nâng cao năng suất trong lĩnh vực này khi mà diện tích và lao động trong khu vực này đang bị thu hẹp một cách nhanh chóng Ngoài ra Đồng Nai đã phối hợp cùng với các tỉnh trong vùng và trong cả nước cũng như quốc tế để thực hiện mục đích của mình Hằng năm, tỉnh đều tổ chức cuộc đối thoại giữa các bên liên quan để đánh giá lại những việc đã đạt được và chưa đạt được và rút ra những bài học cần phải thực hiện trong giai đoạn tới Sự phối hợp một cách hợp lí giữa chính quyền và nhân dân địa phương đã tạo ra sự nhất trí cao độ giữa chính quyền và quần chúng để thực hiện mục tiêu đã đề ra

Trang 31

Bản đồ thành phố Hà Nội quy hoạch đến năm 2020

Trang 32

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ

Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển Nhờ phù sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông

Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh như Ba Vì cao 1.281 m, Gia Dê 707 m, Chân Chim 462 m, Thanh Lanh 427 m, Thiên Trù 378 m Khu vực nội thành có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng

2 Điều kiện tự nhiên

- Thủy văn

Là con sông chính của thành phố, Sông Hồng bắt đầu chảy vào Hà Nội ở huyện Ba Vì và ra khỏi thành phố ở khu vực huyện Phú Xuyên tiếp giáp Hưng Yên Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 163 km, chiếm khoảng một phần ba chiều dài của con sông này trên đất Việt Nam Hà Nội còn có Sông Đà là ranh giới giữa Hà Nội với Phú Thọ, hợp lưu với dòng sông Hồng ở phía Bắc thành phố tại huyện Ba

Vì Ngoài ra, qua địa phận Hà Nội còn nhiều sông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ Các sông nhỏ chảy trong khu vực nội thành có sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu đây là những đường tiêu thoát nước thải của thành phố

Hà Nội là một thành phố với nhiều đầm hồ, dấu vết còn lại của các dòng sông

cổ Trong khu vực nội thành, Hồ Tây có diện tích lớn nhất, khoảng 500 ha, đóng vai trò quan trọng trong điều hòa thủy văn; Hồ Gươm lá phổi xanh nằm ở trung tâm của thành phố, luôn giữ một vị trí đặc biệt đối với Hà Nội; và các hồ: Trúc Bạch, Thiền

Trang 33

Quang, Thủ Lệ Ngoài ra, những hồ đầm khác được biết đến như Kim Liên, Linh Đàm, Ngải Sơn - Đồng Mô, Suối Hai, Mèo Gù, Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn

Do quá trình đô thị hóa mạnh mẽ từ năm 1990 đến nay, phần lớn các sông hồ

Hà Nội đều rơi vào tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng Sông Tô Lịch, trục tiêu thoát nước thải chính của thành phố, hàng ngày phải tiếp nhận khoảng 150.000 m³ Tương tự, sông Kim Ngưu nhận khoảng 125.000 m³ một ngày Sông Lừ và sông Sét trung bình mỗi ngày cũng đổ vào sông Kim Ngưu khoảng 110.000 m³ Nguy hiểm hơn, lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệp này đều có hàm lượng hóa chất độc hại cao Ngoài ra, một phần rác thải của người dân,chất thải công nghiệp và từ những làng nghề thủ công cũng góp phần gây nên tình trạng ô nhiễm này

- Khí hậu

Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa Thuộc vùng nhiệt đới, thành phố quanh nǎm tiếp nhận lượng bức xạ Mặt Trời rất dồi dào và có nhiệt

độ cao Và do tác động của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một năm Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là sự thay đổi

và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 29,2ºC Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là khí hậu của mùa đông với nhiệt độ trung bình 15,2ºC Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng 10, thành phố có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông

Khí hậu Hà Nội cũng ghi nhận những biến đổi bất thường! Vào tháng 5 năm

1926, nhiệt độ tại thành phố được ghi lại ở mức kỷ lục 42,8°C Tháng 1 năm 1955, nhiệt độ xuống mức thấp nhất, 2,7°C Đầu tháng 11 năm 2008, một trận mưa kỷ lục

đổ xuống các tỉnh miền Bắc và miền Trung khiến 18 cư dân Hà Nội thiệt mạng và gây thiệt hại cho thành phố khoảng 3.000 tỷ đồng

- Tài nguyên khoáng sản:

Nhờ có vị trí cấu trúc đặc biệt, nơi quy tụ nhiều đới kiến tạo, khoáng sản của Thủ đô và vùng phụ cận rất phong phú và đa dạng, nhưng nhìn chung trữ lượng không lớn Trong đó một số loại có trữ lượng hoặc chất lượng có thể đáp ứng được một phần yêu cầu xây dựng và phát triển các cơ sở kinh tế- công nghiệp của TW và

Hà Nội (như:than đá, than nâu, sắt, đồng, niken, chì, kẽm, vàng, đá vôi, đá tảng, sét,

nước khoáng và nước nóng…)

Trang 34

có nhiều lợi thế trong việc giới thiệu văn hóa Việt Nam với du khách nước ngoài thông qua các nhà hát sân khấu dân gian, các làng nghề truyền thống

Năm 2007, Hà Nội đón 1,1 triệu lượt khách du lịch ngoại quốc, gần bằng một nửa lượng khách của Thành phố Hồ Chí Minh Năm 2008, trong 9 triệu lượt khách của thành phố, có 1,3 triệu lượt khách nước ngoài Tỷ lệ du khách tới thăm các bảo tàng Hà Nội cũng không cao Hàng năm, bảo tàng Dân tộc học ở Hà Nội, một bảo tàng có tiếng trong khu vực, điểm đến được yêu thích trong các sách hướng dẫn du lịch nổi tiếng, có 180.000 khách tới thăm, trong đó một nửa là người nước ngoài

Theo con số năm 2007, Hà Nội có 511 cơ sở lưu trú với hơn 12.700 phòng đang hoạt động Trong số này chỉ có 178 khách sạn được xếp hạng với 8.424 phòng Tình trạng thiếu phòng cao cấp là một trong những nguyên nhân khiến lượng khách nước ngoài tới Hà Nội không cao Với mức giá được coi là khá đắt ở Việt Nam, khoảng 126,26 USD một đêm cho phòng khách sạn 5 sao, hiệu suất thuê phòng các khách sạn 3–5 sao ở Hà Nội hiện dao động từ 80% đến 90% Ngoài 9 khách sạn 5 sao là Daewoo, Horison, Hilton Hanoi Opera, Melia, Nikko, Sofitel Metropole, Sheraton, Sofitel Plaza, và InterContinental, thành phố còn 6 khách sạn 4 sao và 19 khách sạn 3 sao Theo các dự án mới được cấp phép và chấp thuận đầu tư gần đây, đến năm 2010, Hà Nội sẽ có thêm khoảng 2.000 phòng khách sạn cao cấp

Du lịch ở Hà Nội cũng còn không ít những tệ nạn, tiêu cực Trang Lonely Planet cảnh báo tình trạng du khách nước ngoài bị taxi và xe buýt lừa đến một số khách sạn giả danh nổi tiếng và bị đòi giá cao; ở quanh khu vực hồ Hoàn Kiếm du khách đồng tính nam có thể bị mời mọc vào những quán karaoke, nơi hóa đơn thanh toán cho một vài đồ uống có thể tới 100 USD hoặc hơn

Trang 35

3 Điều kiện về kinh tế - xã hội

3.1 Dân số và lao động

- Dân số:

Năm 2007 dân số của Hà Nội là 3,4 triệu người So với năm 2006 tăng 3,5% tương đương tăng 138100 người Sau khi mở rộng địa giới hành chính năm 2008, dân số của Hà Nội đã tăng lên 6,4 triệu người sự tăng lên của dân số kéo theo sự tăng lên của nhiều yếu tố khác như mật độ dân số, tỉ lệ sinh/tử, tỉ lệ giới tính, cơ cấu dân số…

Hà Nội sau khi mở rộng, trong 9 tháng đầu năm 2009 tỉ số giới tính khi sinh (số trẻ em trai/100 trẻ em gái) đã là 120/100, cao hơn cùng kì năm trước (117/100)

và tỉ lệ này cũng cao hơn tỉ số giới tính của cả nước (112/100)

Mật độ dân số Hà Nội tăng từ 1296 người/km2 (năm 1999) lên thành 1926 người/km2 (năm 2009), mật độ dân số trung bình của Hà Nội cũng cao hơn 7,4 lần

so với trung bình của cả nước (259 người/km2), cũng như trước khi mở rộng địa giới hành chính, không đồng đều giữa các quận nội ô và khu vực ngoại thành Trên toàn thành phố, mật độ dân cư trung bình 1.979 người/km² nhưng tại quận Đống

Đa, mật độ lên tới 35.341 người/km² Trong khi đó, ở những huyện như ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ không tới 1.000 người/km² Sự khác biệt giữa nội thành và ngoại thành còn thể hiện ở mức sống, điều kiện y tế, giáo dục

Về cơ cấu dân số, theo số liệu 1 tháng 4 năm 1999, cư dân Hà Nội và Hà Tây khi đó chủ yếu là người Kinh, chiếm tỷ lệ 99,1% Các dân tộc khác như Dao, Mường, Tày chiếm 0,9% Theo số liệu của cuộc điều tra dân số năm 2009, toàn thành phố Hà Nội có 2.632.087 cư dân thành thị, tương đương 41,1%, và 3.816.750

cư dân nông thôn, tương đương 58,1%

Về tỉ lệ tăng dân số, theo số liệu điều tra trong 10 năm từ 1999-2009 tỉ lệ tăng dân số bình quân của Hà Nội là 2% cao hơn 0,8% so với bình quân của cả nước(1,2%)

- Lao động:

Ước tính năm 2009, dân số trong độ tuổi lao động chiếm 50% tổng dân số, tương đương với 3,2 triệu người Như vậy trong 5 năm 2006-2010, mức gia tăng dân số trong độ tuổi lao động hàng năm khoảng 30.000 nghìn người với tốc độ bình quân 9,27% /năm Nguồn nhân lực của Thủ đô chủ yếu là lao động nhập cư vào thành phố và lao động ở khu vực nông thôn NNL trẻ có trình độ cao chiếm tỉ trọng

Trang 36

lớn, một mặt là lợi thế của thành phố; mặt khác, cũng tạo sức ép lên hệ thống kết cấu hạ tầng, các chính sách văn hóa, xã hội để phục vụ cho sinh hoạt của người dân; ngoài ra nó cũng tạo sức ép lên hệ thống quản lí và hệ thống giáo dục và giải quyết việc làm

Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện chủ yếu qua trình độ học vấn đặc biệt là trình độ chuyên môn kĩ thuật Trình độ học vấn của NNL Thủ đô cao hơn rất nhiều

so với mức trung bình của cả nước Trước khi mở rộng địa giới hành chính trình độ dân trí của dân số trong độ tuổi lao động của Hà Nội đứng ở vị trí top đầu bảng trong danh sách các tỉnh đứng đầu cả nước Tuy nhiên khi mở rộng địa giới hành chính thì Hà Nội lại là địa phương có số người trong độ tuổi lao động bị mù chữ lớn nhất trong cả nước với 235.000 người (trong đó riêng Hà Tây cũ chiếm đến 220.000 người) số lao động này chủ yếu ở các vùng nông thôn và lao động trong lĩnh vực nông nghiệp

Trình độ phát triển của NNL còn thể hiện qua trình độ phân công lao động theo nhóm/ngành Tổng số lao động đang làm việc 2,89 triệu người (2008) trong đó

có khoảng 1,29 triệu người lao động trong nhóm ngành dịch vụ (chiếm 44,5%); 950 ngàn người lao động trong khu vực CN-XD (chiếm 32,7%); còn lại khoảng 66.000 người lao động trong khu vực nông nghiệp-nông thôn (chiếm 22,8%)

Mặc dù có một số khó khăn trong quá trình huy động vốn phục vụ cho công việc đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo việc làm cho số người trong độ tuổi lao động tăng thêm hàng năm và số lao động còn thiếu việc làm Trong 4 năm 2006-2009, bình quân mỗi năm giải quyết được việc làm cho khoảng 135.000 lao động, đạt được mục tiêu đề ra trong Đại hội Đảng bộ các cấp của thành phố Hà Nội khóa XIII đã đề ra Việc giải quyết được việc làm giúp giảm bớt được gánh nặng cho xã hội, đồng thời góp phần nâng cao đời sống của dân cư

3.2 Kết cấu hạ tầng

3.2.1 Mạng lưới hệ thống giao thông

Là thành phố Thủ đô và có vị trí ở khu vực trung tâm của miền Bắc, bên cạnh con sông Hồng, giao thông từ Hà Nội đến các tỉnh khác của Việt Nam tương đối thuận tiện, bao gồm cả đường không, đường bộ, đường thủy và đường sắt Giao thông đường không, ngoài sân bay quốc tế Nội Bài cách trung tâm khoảng 35 km, thành phố còn có sân bay Gia Lâm ở phía Đông, thuộc quận Long Biên Từng là sân

Trang 37

chuyến bay dịch vụ của trực thăng, gồm cả dịch vụ du lịch Hà Nội là đầu mối giao thông của năm tuyến đường sắt trong nước và một tuyến liên vận sang Bắc Kinh, Trung Quốc, đi nhiều nước châu Âu Các bến xe Phía Nam, Gia Lâm, Lương Yên, Nước Ngầm, Mỹ Đình là nơi các xe chở khách liên tỉnh tỏa đi khắp quốc gia theo các quốc lộ 1A xuyên Bắc – Nam, quốc lộ 2 đi Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang,

Hà Giang, quốc lộ 3 đi Thái Nguyên, Cao Bằng, quốc lộ 5A đi Hải Phòng, Quảng Ninh, quốc lộ 6 đi Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, quốc lộ 32 đi Phú Thọ Giao thông đường thủy, Hà Nội cũng là đầu mối giao thông quan trọng với bến Phà Đen

đi Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Việt Trì và bến Hàm Tử Quan đi Phả Lại

Trong nội ô, các con phố của Hà Nội thường xuyên ùn tắc do cơ sở hạ tầng

đô thị thấp kém, lượng phương tiện tham gia giao thông quá lớn – đặc biệt là xe máy – và ý thức chưa tốt của các cư dân thành phố Giáo sư Seymour Papert – nhà khoa học máy tính từ Học viện Công nghệ Massachusetts bị tại nạn ở chính Hà Nội vào cuối năm 2006 – đã miêu tả giao thông của thành phố như một ví dụ minh họa cho giả thuyết về “hành vi hợp trội”, phương thức mà các đám đông, tuân theo các nguyên tắc đơn giản và không cần sự lãnh đạo, tạo ra các vận động và hệ thống phức tạp Trên những đường phố Hà Nội, vỉa hè thường bị chiếm dụng khiến người

đi bộ phải đi xuống lòng đường Trong những năm gần đây, Hà Nội chỉ phát triển thêm 5 tới 10 km đường mỗi năm Nhiều trục đường của thành phố thiết kế chưa khoa học, không đồng bộ và hệ thống đèn giao thông ở một vài điểm cũng thiếu hợp

lý Thêm nữa, hiện tượng ngập úng mỗi khi mưa lớn cũng gây khó khăn cho người tham gia giao thông Trong thập niên 2000, hệ thống xe buýt – loại hình phương tiện giao thông công cộng duy nhất – của thành phố có phát triển mạnh, nhưng phần đông người dân vẫn sử dụng các phương tiện cá nhân, chủ yếu là xe máy

Theo quy hoạch giao thông Hà Nội được Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt năm 2008, chi phí cho phần phát triển đường bộ lên tới 100.000 tỷ đồng Ba tuyến đường vành đai, 30 tuyến đường trục chính cùng nhiều tuyến phố sẽ được xây dựng mới hoặc cải tạo lại Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng dự báo tới năm 2015, thành phố Hà Nội sẽ hết tình trạnh ùn tắc giao thông

Trang 38

dần cấp điện áp 35, 10, 6 KV chỉ còn một cấp 22 KV/0,4 KV Các đường dây trung thế 22 KV tại khu vực nội thành và ven nội được thiết kế mạch vòng, vận hành hở tại các điểm đã xác định trước Xây dựng trung tâm điều độ lưới điện thành phố; tổng đài báo sửa chữa điện.

Hệ thống điện của thành phố đang từng bước được nâng cấp, việc ngầm hóa các đường dây điện đang được tiến hành khẩn trương để bảo đảm an toàn và mỹ quan cho đô thị đặc biệt như Hà Nội Theo như kế hoạch thì đến năm 2010 thành phố dự kiến sẽ ngầm hóa được 70-80% mạng lưới điện ở khu vực đô thị nội thành

và ở khu vực ngoại thành nông thôn là 15-25% Tuy nhiên việc thực hiện gặp rất nhiều cản trở do kinh phí để tiến hành việc ngầm hóa là hết sức tốn kém Chi phí này gấp 4-5 lần chi phí lắp đặt hệ thống thông thường chính vì lí do này mà quá trình thực hiện kế hoạch mới chỉ được thực hiện ở một số tuyến phố thí điểm như ở các tuyến phố trung tâm Hai Bà Trưng, khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm… mặc

dù là đường dây điện ngầm nhưng yếu tố kĩ thuật không được đảm bảo chẳng hạn: Những chiếc tủ điện ở các tuyến phố đã được ngầm hóa này hoàn toàn kín và được đặt trên một trụ bằng bê tông nên trông bề ngoài an toàn hơn nhiều so với tủ điện ở các tuyến phố khác Nhưng vỏ hộp tủ được làm bằng sắt mạ, chỉ được sơn tĩnh điện chứ không có sơn cách điện, phía trong có hàng kẹp đấu dây Chỉ cần xảy ra trận mưa lịch sử như hồi năm ngoái, nước ngập đến hàng kẹp đấu dây (bộ phận này hở) thì lập tức điện sẽ truyền qua nước ra vỏ tủ Người đi vào khu vực đó chắc chắn sẽ

bị điện giật, nguy cơ tử vong rất cao

Còn hiện trạng của hệ thống điện của thành phố Hà Nội đặc biệt trong khu vực nội thành là: Trên các phố Lê Trọng Tấn, Xuân Thủy, đường Láng, Trường Chinh, đê La Thành, Đội Cấn, đường Bưởi, Núi Trúc, Kim Mã, Giải Phóng dây cáp còn được cho “hạ cánh” trên cả cành cây hoặc búi thành những “thòng lọng” lơ lửng trên không Chỉ cần một đường cáp bị bén lửa hoặc bị chập điện là có thể kéo theo toàn bộ hệ thống dây chằng chịt xung quanh bị chập cháy, gây nguy hiểm cho khu dân cư

Nhu cầu sử dụng điện của dân cư là rất lớn lại gia tăng nhanh, chính vì vậy

mà cải tạo hệ thống điện là việc làm thiết yếu để phát triển vừa là phát triển kinh tế vừa là tạo ra mĩ quan cho đô thị thủ đô này

Trang 39

3.2.3 Mạng lưới bưu chính – viễn thông

Là một trong 03 trung tâm lớn về bưu chính - viễn thông của cả nước, nằm trên đường cáp quang quốc tế Hệ thống mạng truyền dẫn bao gồm 18 tuyến truyền dẫn nội thành sử dụng phương thức truyền dẫn cáp quang và 03 tuyến truyền dẫn nội thành sử dụng viba Toàn mạng hiện sử dụng trên 1.000 km cáp quang, 563.000 đôi cáp đồng, 1049 km ống cống, 3.875km đường cột, 4.386 bể cáp, 5.743 hộp cáp, 7.475tủ cáp Các cơ quan của Bưu điện thành phố đủ khả năng đáp ứng nhu cầu về các công nghệ truyền dẫn hiện đại của khách hàng.Toàn thành phố hiện có 28 tổng đài các loại Trong đó có 02 tổng đài OCB EB với tổng dung lượng lắp đặt là 358.818 số Tổng số thuê bao toàn thành phố đạt trên 2 triệu thuê bao tăng gấp gần

2 lần so với năm 2005 Năm 2010 đạt bình quân 36máy/100dân Xây dựng các điểm bưu cục ở các phường, xã để phục vụ nhu cầu của người dân đặc biệt là người dân nông thôn

3.3 Tình hình phát triển một số lĩnh vực xã hội khác

3.3.1 Xóa đói giảm nghèo

Tính đến hết tháng 12-2009, tổng nguồn vốn huy động, vận động để thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo của thành phố đạt 1.979 tỷ đồng, tăng 346 tỷ đồng so với năm 2008 Năm 2009, thành phố đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ,

đa dạng để nâng cao mức sống và tạo việc làm cho các hộ nghèo; phối hợp với ngân hàng, các quỹ phúc lợi xã hội hỗ trợ tín dụng cho người nghèo vay vốn sản xuất, hỗ trợ đào tạo và giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn; phối hợp với bảo hiểm xã hội giải quyết 376.200 thẻ bảo hiểm y

tế cho người nghèo; miễn giảm học phí cho 1.506 học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo; miễn học phí, tiền cơ sở vật chất trường học cho 28.172 học sinh phổ thông, trao 22.550 suất học bổng cho học sinh nghèo và vận động xây 2.475 nhà tình thương cho hộ nghèo

Riêng các quận - huyện đã tổ chức giới thiệu việc làm cho 10.299 lao động nghèo, đào tạo nghề miễn phí cho 1.358 lao động chủ yếu là những lao động ở khu vực ngoại thành nông thôn của tỉnh Hà Tây cũ và một số huyện của các tỉnh khác mới sát nhập vào Hà Nội Thực hiện đầy đủ các chính sách ưu đãi xã hội gắn với bảo đảm an sinh xã hội cho người nghèo, hộ nghèo trên địa bàn

Trang 40

3.3.2 Giáo dục và đào tạo

Từ nhiều thế kỷ, vị thế kinh đô đã giúp Thăng Long – Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục của Việt Nam Từ giữa thế kỷ 15 cho tới cuối thế kỷ 19, Hà Nội luôn

là một trong những địa điểm chính để tổ chức các cuộc thi thuộc hệ thống khoa bảng, nhằm chọn những nhân vật tài năng bổ sung vào bộ máy quan lại Tuy vậy, về

số lượng trạng nguyên, Hà Nội lại thấp hơn những vùng đất truyền thống khác như Bắc Ninh, Hải Dương Tới thời Pháp thuộc, với vị trí là thủ đô của Liên bang Đông Dương, Hà Nội là một trung tâm giáo dục của khu vực, nơi người Pháp đặt các trường dạy nghề và giáo dục bậc đại học, trong đó có Viện Đại học Đông Dương, Trường Y khoa Đông Dương là các trường mà sau này trở thành nền móng của giáo dục đại học ở Việt Nam

Hà Nội ngày nay vẫn là trung tâm giáo dục lớn nhất Việt Nam Năm 2007,

Hà Nội có 280 trường tiểu học, 219 trường trung học cơ sở và 103 trung học phổ thông với tổng cộng 495.456 học sinh Tỉnh Hà Tây cũng tập trung 361 tiểu học,

337 trung học cơ sở và 67 trung học phổ thông, tổng cộng 475.264 học sinh Hệ thống trường trung học phổ thông, Hà Nội có 40 trường công lập, một vài trong số

đó nổi tiếng vì chất lượng giảng dạy và truyền thống lâu đời như Trung học Chuyên

Hà Nội - Amsterdam, Trung học phổ thông chuyên Nguyễn Huệ, Trung học Chu Văn An, Trung học Trần Phú Bên cạnh các trường công lập, thành phố còn có 65 trường dân lập và 5 trường bán công Hà Nội cũng là địa điểm của ba trường trung học đặc biệt, trực thuộc các trường đại học, là hệ Trung học Phổ thông Chuyên thuộc Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, Trường Trung học Phổ thông Chuyên thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Trung học phổ thông Chuyên Ngoại ngữ thuộc Đại học Ngoại ngữ Hà Nội Các trường trung học chuyên này là nơi tập trung nhiều học sinh phổ thông ưu tú không chỉ của Hà Nội mà còn của toàn Việt Nam Cùng với các trung học danh tiếng, hệ thống giáo dục của thành phố vẫn duy trì những trường bổ túc và cả các lớp học xóa mù chữ Sau khi Hà Tây được sát nhập vào thành phố, Hà Nội hiện đứng đầu Việt Nam về số lượng người không biết chữ Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam năm 2008, toàn thành phố có gần 235.000 người mù chữ trên tổng số 1,7 triệu người của cả quốc gia

Là một trong hai trung tâm giáo dục đại học lớn nhất quốc gia, trên địa bàn

Hà Nội có trên 50 trường đại học cùng nhiều cao đẳng, đạo tạo hầu hết các ngành

Ngày đăng: 02/08/2015, 23:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Vốn đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội - Giải pháp thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hà Nội thời kì 2011-2015 theo hướng CNH-HĐH
Bảng 1 Vốn đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội (Trang 52)
Bảng 2: Dự báo FDI  giai đoạn 2011-2015 - Giải pháp thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hà Nội thời kì 2011-2015 theo hướng CNH-HĐH
Bảng 2 Dự báo FDI giai đoạn 2011-2015 (Trang 53)
Bảng 3:  Cơ cấu ngành kinh tế của Thủ đô trong giai đoạn 2006-2009 - Giải pháp thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hà Nội thời kì 2011-2015 theo hướng CNH-HĐH
Bảng 3 Cơ cấu ngành kinh tế của Thủ đô trong giai đoạn 2006-2009 (Trang 55)
Bảng 4: GTSXCN của một số tiểu ngành công nghiệp của thành phố thời kì - Giải pháp thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hà Nội thời kì 2011-2015 theo hướng CNH-HĐH
Bảng 4 GTSXCN của một số tiểu ngành công nghiệp của thành phố thời kì (Trang 59)
Bảng 5: Cơ cấu các ngành hàng công nghiệp chủ yếu - Giải pháp thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hà Nội thời kì 2011-2015 theo hướng CNH-HĐH
Bảng 5 Cơ cấu các ngành hàng công nghiệp chủ yếu (Trang 62)
Bảng 6: GTSX và cơ cấu ngành nông nghiệp (Tính theo giá thực tế) - Giải pháp thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hà Nội thời kì 2011-2015 theo hướng CNH-HĐH
Bảng 6 GTSX và cơ cấu ngành nông nghiệp (Tính theo giá thực tế) (Trang 68)
Bảng 7: GTSX ngành trồng trọt phân theo nhóm cây trồng - Giải pháp thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hà Nội thời kì 2011-2015 theo hướng CNH-HĐH
Bảng 7 GTSX ngành trồng trọt phân theo nhóm cây trồng (Trang 69)
Bảng 8:  Một số chỉ tiêu phát triển ngành chăn nuôi giai đoạn 2006-2010 - Giải pháp thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hà Nội thời kì 2011-2015 theo hướng CNH-HĐH
Bảng 8 Một số chỉ tiêu phát triển ngành chăn nuôi giai đoạn 2006-2010 (Trang 70)
Bảng 10: Một số chỉ tiêu kinh tế của thành phố Hà Nội trong thời kì 2006-2010 - Giải pháp thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hà Nội thời kì 2011-2015 theo hướng CNH-HĐH
Bảng 10 Một số chỉ tiêu kinh tế của thành phố Hà Nội trong thời kì 2006-2010 (Trang 75)
Bảng 11  : Một số chỉ tiêu chủ yếu tính bình quân đầu người - Giải pháp thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hà Nội thời kì 2011-2015 theo hướng CNH-HĐH
Bảng 11 : Một số chỉ tiêu chủ yếu tính bình quân đầu người (Trang 76)
Bảng 12 : Hà Nội so với cả nước và một số thành phố năm 2008 - Giải pháp thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hà Nội thời kì 2011-2015 theo hướng CNH-HĐH
Bảng 12 Hà Nội so với cả nước và một số thành phố năm 2008 (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w