Các hộ gia đình ở nhiều nơi đã có một sức bật mạnh mẽ tận dụng các tiềm năng về vốn, lao động, đất đai để sản xuất trong đó vốn là một yếu tố quan trọng, chiếm vị trí quan trọng nhất đến
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Hà Thúy Mai
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và sự
giúp đỡ nhiệt tình, những ý kiến đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể để
hoàn thành luận văn này
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo,TS Ngô Văn Hải, người đã
trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo của Khoa sau đại học - Trường
Đại học kinh tế và QTKD Thái Nguyên, các thày cô giáo khoa Kinh tế và QTKD đã
nhiệt tình giảng dạy và chỉ bảo tôi trong suốt thời gian học tập và giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn đến CBCNV Ngân hàng NN&PTNT, Các tổ chức
tín dụng huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh
Tường, cán bộ và nhân dân các xã mà tác giả đến khảo sát, đã tạo điều kiện cho tôi
hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn tới gia đình, bạn bè, người thân đã giúp đỡ
và động viên tạo thuận lợi cho tôi hoàn thiện khóa học này
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Hà Thúy Mai
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3
5 Bố cục của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỘ NÔNG DÂN VAY VỐN TÍN DỤNG NÔNG THÔN 6
1.1 Lý luận về vốn tín dụng nông thôn 6
1.1.1 Bản chất và chức năng của tín dụng 6
1.1.2 Các hình thức tín dụng và cung ứng tín dụng nông thôn 11
1.1.3 Nhu cầu vốn tín dụng và tiếp cận vốn tín dụng của hộ nông dân 14
1.1.4 Đặc điểm về vốn của hộ và vốn tín dụng nông thôn cho hộ nông dân 16
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến vay vốn tín dụng đối với hộ nông dân 19
1.2 Thu nhập và tác động của vốn vay tín dụng đầu tư sản xuất đến thu nhập của hộ ND 23
1.2.1 Khái niệm thu nhập của hộ nông dân 23
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2.2 Các tác động của vốn vay tín dụng đến thu nhập của hộ nông dân 24
1.3 Cơ sở thực tiễn về vốn tín dụng cho hộ nông dân 26
1.3.1 Tổng quan về vốn tín dụng cho sản xuất của hộ nông dân trên thế giới 26
1.3.2 Thực tiễn vay vốn tín dụng của hộ nông dân ở Việt Nam 31
1.3.3 Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn vay vốn của hộ nông dân 34
1.3.4 Bài học kinh nghiệm 37
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 39
2.2.1 Khung nghiên cứu 39
2.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 40
2.2.3 Phương pháp thu thập tài liệu 41
2.2.4 Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu 42
2.2.5 Phương pháp phân tích tài liệu 42
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 43
2.3.1 Chỉ tiêu kết quả sản xuất 43
2.3.2 Chỉ tiêu về thu nhập 44
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 45
3.1.1 Vị trí địa lý 45
3.1.2 Địa hình, khí hậu, thời tiết 45
3.1.3 Dân số - Lao động 46
3.1.4 Tăng trưởng kinh tế 47
3.1.5 Thực trạng sản xuất các ngành sản xuất nông lâm nghiệp 48
3.2 Thực trạng vay vốn tín dụng của hộ nông dân tại huyện Vĩnh Tường 54
3.2.1 Thực trạng vay vốn từ nguồn tín dụng chính thống của hộ nông dân huyện Vĩnh Tường 54
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.2.2 Thực trạng vay vốn từ nguồn phi chính thống của hộ nông dân
huyện Vĩnh Tường 56
3.2.3 Thực trạng khảo sát tình hình vay vốn của các hộ điều tra 58
3.3 Đánh giá tác động của vốn tín dụng đến thu nhập hỗn hợp của hộ nông dân 64
3.3.1 Tình hình đầu tư tín dụng và kết quả SX trong các hộ điều tra 64
3.3.2 Tình hình hoàn vốn vay và lãi vay 74
3.3.3 Đánh giá tác động của vốn tín dụng đến thu nhập trong hộ 75
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU VỀ TÍN DỤNG ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT, NÂNG CAO THU NHẬP ĐỐI VỚI HỘ NÔNG DÂN TẠI HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC 83
4.1 Quan điểm, định hướng 83
4.1.1 Quan điểm về phát triển tín dụng đối với hộ nông dân 83
4.1.2 Định hướng vay vốn tín dụng cho hộ nông dân 85
4.1.3 Mục tiêu cụ thể 85
4.2 Một số giải pháp chủ yếu về vốn tín dụng để phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho hộ nông dân 86
4.2.1 Giải pháp với hộ nông dân 86
4.2.2 Đối với Ngân hàng 91
4.3 Một số kiến nghị 94
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 100
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CP : Chính phủ DVTM : Dịch vụ thương mạiHĐND : Hội đồng nhân dân
HCCB : Hội Cựu chiến binh HND : Hội Nông dân
HPN : Hội phụ nữ
HTX : Hợp tác xã
KS : Kiểm soát NHCSXH : Ngân hàng Chính sách xã hội
NHTM : Ngân hàng Thương mại
NSNN : Ngân sách Nhà nước
SXKD : Sản xuất kinh doanh UBND : Ủy ban nhân dân
TD : Tín dụng TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
Tổ TK&VV : Tổ tiết kiệm và vay vốn
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Danh sách số hộ đã chọn khảo sát ở 3 xã 40
Bảng 3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện 47
Biểu 3.2 Tình hình đi vay tín dụng ngân hàng để đầu tư sản xuất của các hộ ND 54
Biểu 3.3 Tình hình đi vay của các hộ nông dân từ các Quỹ TDND 56
Bảng 3.4 Số hộ đi vay toàn huyện theo mục đích vay tại NH Nông nghiệp năm 2013 56
Bảng 3.5 Thông tin chung về các hộ điều tra 58
Bảng 3.6 Số liệu về vay vốn TD chính thống của các hộ KS ở 3 xã năm 2013 60
Bảng 3.7 Kết quả khảo sát tình hình hộ ND vay vốn tín dụng phi chính thức 62
Bảng 3.8 Tổng hợp số vốn vay tín dụng chính thống và phi chinh thống của hộ nông dân năm 2013 63
Bảng 3.9 Kết quả đầu tư vốn TD thâm canh ngô LVN25 tại huyện Vĩnh Tường năm 2013 68
Bảng 3.10 Hiệu quả đầu tư vốn TD cho tăng qui mô đàn bò sữa của hộ chăn nuôi 70
Bảng 3.11 Hiệu quả kinh tế sản xuất ở các nhóm hộ trồng trọt năm 2013 72
Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế sản xuất ở các nhóm hộ TTCN năm 2013 73
Bảng 3.13 Thu nhập hỗn hợp ở các nhóm hộ KD tổng hợp năm 2013 73
Bảng 3.14 Tỷ lệ hoàn vốn vay và lãi đúng hạn tại ngân hàng 74
Bảng 3.15 Thu nhập hỗn hợp và sự thay đổi TNHH của hộ nông dân vay vốn 77
Bảng 3.16 Tác động của lượng vốn tín dụng đến thu nhập 80
Bảng 3.17 Tác động của thời hạn vay vốn tín dụng đến thu nhập 81
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Nguyên lý tác động của vay vốn tín dụng đến thu nhập của hộ ND 25
Sơ đồ 2.1 Khung nghiên cứu 40
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vai trò to lớn
và vị trí quan trọng của vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Kinh
tế hộ gia đình ở nông thôn là loại hình tổ chức sản xuất có hiệu quả về kinh tế
xã hội, tồn tại và phát triển lâu dài, có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.Tiếp tục khuyến khích kinh tế hộ phát triển mạnh mẽ tạo ra lượng sản phẩm hàng hóa đa dạng có chất lượng, giá trị ngày càng cao, tăng thu nhập cho mỗi gia đình nông dân, cải thiện đời sống mọi mặt ở nông thôn, cung cấp sản phẩm cho đô thị, công nghiệp và xuất khẩu đồng thời đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế là việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay Các hộ gia đình ở nhiều nơi đã có một sức bật mạnh mẽ tận dụng các tiềm năng về vốn, lao động, đất đai để sản xuất trong đó vốn là một yếu tố quan trọng, chiếm vị trí quan trọng nhất đến sự tồn tại phát triển giàu mạnh của kinh tế đất nước nói chung và kinh tế hộ gia đình nói riêng.Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp để có khả năng kinh doanh tốt cũng như tạo ra ưu thế và quy mô kinh doanh phù hợp người nông dân cần có nhiều vốn để đầu tư Ngoài nguồn vốn
tự có, các hộ nông dân cần có thêm các nguồn vốn khác, đặc biệt là nguồn vốn vay tín dụng Cơ chế chính sách vay vốn tín dụng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của hộ, thời gian vay và lãi suất vay ở mức độ nào có hiệu quả nhất luôn quan tâm và cần có điều tra khảo sát cụ thể để trả lời Bên cạnh đó việc xác định các giải pháp cụ thể để nông dân sử dụng vốn tín dụng một cách
có hiệu quả và tăng thu nhập cao nhất? Đây cũng là vấn đề không những của
hộ nông dân mà cả các tổ chức cung cấp tín dụng, các đối tượng có liên quan cần quan tâm để tạo điều kiện cung ứng vốn cho các hộ nông dân kịp thời, đầy đủ và giúp họ có giải pháp sử dụng vốn mang lại thu nhập cao hơn nữa
Vĩnh Tường là một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc có tiềm năng phát triển
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
kinh tế nông nghiệp và phát triển nghề Với những người dân sống bằng nghề nông, thu nhập còn thấp và không ổn định nên thiếu vốn cho phát triển SX, do
đó nhu cầu về vốn để mở rộng, phát triển nông nghiệp rất cần thiết Trong thực tế giai đoạn vừa qua, để có đủ vốn đáp ứng yêu cầu đầu tư chuyển dịch
và phát triển kinh tế hộ, các hộ nông dân ở khu vực nông thôn huyện Vĩnh Tường đã được vay vốn từ hệ thống tín dụng chính thức (ngân hàng, quỹ tín dụng ), ngoài ra các hộ nông dân còn huy động vốn từ nhiều nguồn tín dụng phi chính thức như tham gia phường hội, vay mượn tư nhân, họ hàng, bạn bè, Để có thể tham mưu đề xuất các giải pháp tạo điều kiện cho các hộ nông thôn khai thác nguồn vốn vay tín dụng để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả nhất nhằm tăng thu nhập, nâng cao mức sống thì thì triển khai nghiên cứu đánh giá hiệu quả đạt được một cách khoa học và cụ thể
là rất cần thiết và có ý nghĩa cả lý luận khoa học và thực tiễn
Trên cơ sở yêu cầu của thực tiễn đặt ra tại huyện Vĩnh tường, ta chọn
nghiên cứu đề tài “Tác động của tín dụng nông thôn đối với thu nhập của
hộ nông dân ở huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài nghiên cứu
luận văn cao học
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá tác động tín dụng đến thu nhập của hộ nông dân ở huyện Vĩnh Tường, luận văn đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường tác động của vốn vay và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay để phát triển SXKD góp phần nâng cao thu nhập cho hộ nông dân ở huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của vốn tín dụng nông thôn đến thu nhập của hộ nông dân
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Nghiên cứu thực trạng tình hình vay vốn tín dụng của hộ nông dân cho phát triển SXKD, từ đó đánh giá tác động của vốn tín dụng đến thu nhập đối với các hộ nông dân vay vốn tín dụng trên địa bàn huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
- Đề xuất định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy mặt tác động tích cực của vốn tín dụng đến phát triển SXKD và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động tín dụng và tác động của tín dụng đến thu nhập hộ nông dân tại huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu
về hoạt động đi vay phục vụ sản xuất kinh doanh đối với hộ nông dân tại các
tổ chức tín dụng, từ nguồn phi chính thống, kết quả sử dụng vốn vay và tác động của vốn vay tới thu nhập của hộ
- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn huyện Vĩnh
Tường, tập trung ở 3 xã là: xã Thượng Trưng, xã Tuân Chính và xã An Tường
- Phạm vi về thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu từ tháng 10/2013 đến
tháng 6/2014 Do đó các thông tin, số liệu phán ánh trong đề tài tập trung chủ yếu trong khoảng thời gian từ đầu năm 2011 đến 2014 và đề xuất giải pháp từ nay cho đến các năm tiếp theo
4 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Đây là luận văn nghiên cứu về tác động của hoạt động vay vốn trong hộ nông dân thị xã huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Đề tài nghiên cứu về vấn
đề hộ nông dân vay vốn tín dụng nông thôn; Từ các phân tích thực trạng để đưa ra một số giải pháp, kiến nghị khắc phục Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa lý
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
luận khoa học và giá trị thực tiễn, đề xuất kiến nghị phù hợp với tình hình thực tế của địa phương
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập từ hoạt động tín dụng đối với hộ nông dân tại huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỘ NÔNG DÂN
VAY VỐN TÍN DỤNG NÔNG THÔN 1.1 Lý luận về vốn tín dụng nông thôn
1.1.1 Bản chất và chức năng của tín dụng
1.1.1.1 Một số khái niệm về tín dụng
Quan điểm truyền thống về tín dụng nông thôn cho rằng cơ chế giá cả hay
lãi suất vẫn có chức năng tích cực ở thị trường tín dụng Lãi suất thấp sẽ khuyến
khích nông dân vay mượn, tăng cường áp dụng kỹ thuật mới để đạt được sản
lượng và thu nhập cao Lãi suất cao sẽ ngăn cản nông dân vay mượn
Trên cơ sở lập luận đó, quan điểm truyền thống đề xuất sự can thiệp
mạnh của chính phủ ở thị trường tín dụng bằng sự duy trì lãi suất thấp và trợ
cấp tín dụng cho nông hộ (26) Quan điểm truyền thống giả định vốn tín dụng
là một đầu vào hay yếu tố sản xuất quan trọng, bởi vì thiếu vốn là trở ngại
chính đối với tăng trưởng kinh tế khu vực ở nông thôn (Wai, 22).Từ giả định
này có tác giả suy luận rằng nhu cầu tín dụng sẽ phụ thuộc vào các đặc điểm
sản xuất của nông hộ vì vốn tín dụng là một bộ phận của yếu tố vốn không
được kết hợp với các yếu tố sản xuất khác trong quá trình SX (Adam, 24)
Tuy nhiên, thực tiễn can thiệp của Chính phủ vào thị trường tín dụng ở
các nước đang phát triển đã không đạt được những kết quả như kỳ vọng, do
vậy quan điểm truyền thống về tín nông thôn đã bị thách thức cả về mặt logic
lẫn thực tiễn
Nhu cầu của vốn tín dụng của hộ nông dân xuất hiện do tương quan
giữa thu nhập (Y) và nguồn lực (R) với chỉ tiêu tiền tệ (E) được biểu thị qua
hàm cầu tín dung: B= f(Y,R,E)
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nhu cầu về vốn tín dụng tăng khi chỉ tiêu tăng hay thu nhập giảm hoặc nguồn lực thấp, khi các điều kiện khác không đổi Thu nhập của hộ nông dân chủ yếu từ hoạt động sản xuất kinh doanh và từ tiền công, tiền lương thu được
từ hoạt động ngoài nuôi gia cầm Nguồn lực có thể dưới hình thức tài sản sản xuất, bất động sản và tài sản khác (21) Chỉ tiêu có thể dưới hình thức chi phí đầu tư hoặc tiêu dùng
Tín dụng thương mại (Trade Credit) là một hình thức tín dụng trong đó người bán (nhà cung cấp) đồng ý cho người mua trả chậm giá trị hàng hóa đã mua trong một khoảng thời gian nhất định Tín dụng thương mại là hình thức tín dụng phổ biến trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở các nước đang phát triển cũng như các quốc gia phát triển Vai trò của tín dụng thương mại
từ lâu đã là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn
1.1.1.2 Nhu cầu vốn đầu tư phát triển kinh tế hộ nông dân
Nhu cầu đầu tư bao gồn đầu tư mới và đầu tư vào sản xuất hiện tại của nông dân Đầu tư mới của nông dân thường dưới hình thức mở rộng sản xuất của nông dân hay thuê thêm đất đai, máy móc hoặc áp dụng kỹ thuật mới Đầu tư vào sản xuất hiện tại bao gồm các yếu tố đầu vào ngắn hạn như: con giống, phân bón, nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào dài hạn như máy móc
Cơ cấu sản xuất của hộ nông dân cũng ảnh hưởng tới nhu cầu vốn tín dụng khách nhau Đầu tư dài hạn vào sản xuất mới và tài sản cố định đòi hỏi vốn vay nhiều vào dài hạn Vốn vay nhỏ và ngắn hạn chỉ thích hợp với các yếu tố đầu vào ngắn hạn (Ray, 25) Thu nhập, tài sản sản xuất, bất động sản
và các tài sản khác ngoài nông hộ, chỉ đầu tư vào tiêu dùng và đặc tính sản xuất có thể ảnh hưởng tới nhu cầu tín dụng và do đó ảnh hưởng tới quyết định vay vốn chính thức của nông dân
Tuy nhiên, có nhu cầu tín dụng không giải thích đầy đủ các yếu tố quyết định sự tiếp cận tín dụng của nông dân Donald (22) đã lập luận rặng
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
địa vị chính trị xã hội của nông dân sẽ ảnh hưởng tới việc vay vốn chính thức của họ, vì có mối quan hệ gần gũi với các nhân viên của ngân hàng, có kiến thức và thông tinh về chương trình tín dụng nên họ dễ dàng xin vay vốn tín dụng chính thức
Theo lý thuyết về kinh tế hộ sản xuất của Kooreman (23), nhu cầu tín dụng chính thức của hộ luôn bị hạn chế vì giới hạn của họ về kiến thức, kỹ năng chuyên môn, của cải và thời gian Trình độ văn hóa của các hộ nông dân
có ảnh hưởng tới sự tiếp cận tín dụng chính thức của họ, vì có được tín dụng
từ khu vực chính thức, các hộ nông dân phải trải qua các thủ tục về giấy tờ đòi hỏi trình độ văn hóa nhất định Hơn nữa, các hộ nông dân có văn hóa cao
sẽ có kế hoạch đầu tư tốt hơn và có nhiều khả năng xin vay vốn tín dụng chính thức hơn Tài sản của các hộ nông dân phản ánh khả năng tài chính của
họ và những hộ nông dân giàu hơn sẽ có ít nhu cầu vay vốn hơn
Stiglitz, J.E and A.Weiss (21) và Floro (21) với giả định thị trường tín dụng là không hoàn hảo lập luận rằng: phân phối tín dụng theo cơ chế phi giá
cả không chỉ là kết quả của sự can thiệp của chính phủ, mà còn từ hành vi của người cho vay và người đi vay trong môi trường không cân xứng thông tin ở thị trường tín dụng Nhìn chung, lãi suất ở thị trường chính thức thường thấp hơn mức cân bằng của thị trường (Adam, 24) Khi nhu cầu tín dụng vượt cung tín dụng, những người cho vay chính thức kỳ vọng thu được lợi nhuận cao hơn nhờ gia tăng lãi suất Tuy nhiên, vì thông tin không cân xứng, lãi suất cao hơn sẽ dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức (27) Trước vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, những người cho vay chính thức có thể giới hạn tín dụng theo cơ chế phi lãi suất Trước khi chấp thuận một đơn xin vay, họ thường đánh giá mức rủi ro của người đi vay, dựa vào những đặc tính
có thể quan sát được của người vay bao gồm diện tích đất đai, tình trạng nhà cửa, nghề nghiệp chính của chủ hộ, trình độ văn hóa và danh tiếng của nông
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
họ (Martin Pertich, 24) Trên cơ sở những thôn tin này, người cho vay sẽ quyết định kỳ hạn và điều kiện trong hợp đồng cho vay
Lý thuyết về thu nhập theo chu kỳ sống cho rằng: các hộ nông dân trai trẻ có nhiều con nhỏ có thể tiêu dùng nhiều hơn thu nhập, nên họ cần vay mượn để tiêu dùng cho gia đình của họ
Kết hợp quan điểm truyền thống về tín dụng nông thôn Lý luận về nhu cầu tín dụng của nông thôn, lý thuyết kinh tế hộ sản xuất và lý thuyết thu nhập sản xuất theo chu kỳ sống cho thấy: thu nhập, tài sản sản xuất, bất động sản
và tài sản khác của nông hộ; đầu tư, chi tiêu và đặc tính sản xuất của nông trại
và những đặc tính quan trọng của chủ hộ như tuổi, trình độ văn hóa, kỹ năng chuyên môn, địa vị chính trị xã hội có ảnh hưởng tới sự tiếp cận vốn tín dụng chính thức và do đó tới nguồn tín dụng của nông trại
1.1.1.3 Bản chất của tín dụng
Tín dụng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau, nhưng ở bất cứ phương thức nào tín dụng cũng biểu hiện ra bên ngoài như là sự vay mượn tạm thời một vật hoặc một số vốn tiền tệ, nhờ vậy mà người ta có thể sử dụng được giá trị của hàng hoá hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua trao đổi Để vạch rõ bản chất của tín dụng cần thiết phải nghiên cứu liên hệ kinh tế trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối quan hệ của nó với quá trình tái sản xuất
* Sự vận động của tín dụng Tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hoá Quá trình vận động đó được thể hiện qua các giai đoạn sau:
+ Thứ nhất: Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay Ở giai đoạn này, vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hoá được chuyển từ người cho vay sang người đi vay Như vậy khi cho vay, giá trị vốn tín dụng được chuyển
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
sang người đi vay, đây là một đặc điểm cơ bản khác với việc mua bán hàng hoá thôn thường Các Mác viết “Trong việc cho vay, chỉ có một bên nhận được giá trị, vì cũng chỉ có một bên nhượng đi giá trị mà thôi”
+ Thứ hai: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất Sau khi nhận được giá trị vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng giá trị đó để thoả mãn một mục đích nhất định Tuy nhiên người đi vay không có quyền sở hữu về giá trị đó, mà chỉ tạm thời sử dụng trong một thời gian nhất định
+ Thứ ba: Sự hoàn trả của tín dụng Đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ, thì người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay Như vậy sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác
* Hoạt động của tín dụng trong phạm vi vĩ mô
Sau năm 1930 lý thuyết cho vay đã được thừa nhận và sử dụng để phân tích hoạt động của tín dụng và lãi suất trong nền kinh tế thị trường Quỹ cho vay được hình thành và vận động giữa các chủ thể tham gia quá trình tái sản xuất, bao gồm các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông; các tổ chức tài chính - tín dụng; Nhà nước và công dân
1.1.1.4 Chức năng của tín dụng
a Chức năng phân phối lại tài nguyên
Tín dụng là sự vận động của vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác Chính nhờ sự vận động của tín dụng mà các chủ thể vay vốn nhận được một phần tài nguyên của xã hội phục vụ cho sản xuất hoặc tiêu dùng Phân phối tín dụng được thực hiện bằng hai cách:
- Phân phối trực tiếp: là việc phân phối vốn từ chủ thể có vốn tạm thời chưa sử dụng sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó là kinh doanh và tiêu
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
dùng Phương pháp phân phối này được thực hiện trong quan hệ tín dụng thương mại và việc phát hành trái phiếu của Nhà nước và các công ty
- Phân phối gián tiếp: Là việc phân phối được thực hiện thông qua các
tổ chức trung gian, như ngân hàng, HTX tín dụng, Công ty Tài chính, Trong nền kinh tế hiện đại, phân phối vốn tín dụng qua các tổ chức trung gian chiếm vị trí quan trọng nhất Một mặt các tổ chức trung gian tập trung vốn tiền
tệ của các doanh nghiệp và cá nhân để làm nguồn vốn cho vay Mặt khác chúng phân phối nguồn vốn đó dưới hình thức cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, cá nhân và một phần cho kho bạc Nhà nước Giữa phân phối qua tín dụng và phân phối qua Ngân sách có những điểm khác nhau: Đối với tín dụng phân phối trên
cơ sở hoàn trả, phân phối vốn liên quan đến thu nhập quốc dân, và tổng sản phẩm xã hội, phân phối chủ yếu cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh Trong khi ngân sách phân phối vốn mang tính chất cấp phát, phân phối chủ yếu liên quan đến thu nhập quốc dân và phân phối chủ yếu cho lĩnh vực phi sản xuất
b Tạo cơ sở để lưu thông, là dấu hiệu giá trị trao đổi ngang bằng
Trong thời kỳ đầu lưu thông là hoá tệ, nhưng khi các quan hệ tín dụng phát triển, các giấy nợ đó thay thế cho một bộ phận tiền trong lưu thông Lợi dụng đặc điểm này, các ngân hàng đó bắt đầu phát hành tiền giấy vào lưu thông Lúc đầu tiền giấy phát hành trên cơ sở có dự trữ quí kim (vàng), nhưng dần dần tiền giấy phát hành vào lưu thông tách rời với dự trữ vàng của ngân hàng
Như vậy, nhờ hoạt động của tín dụng mà ngân hàng tạo ra tiền phục vụ cho sản xuất và lưu thông hàng hoá
Nhờ vào công cụ nói trên mà tốc độ lưu thông hàng hoá nhanh hơn và
do vậy, hàng hoá đi từ hình thức tiền tệ vào sản xuất và ngược lại được thúc đẩy mạnh mẽ hơn Nói cách khác, tín dụng thúc đẩy lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế
1.1.2 Các hình thức tín dụng và cung ứng tín dụng nông thôn
1.1.2.1 Các hình thức tín dụng
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tín dụng xuất phát từ Credit trong tiếng Anh - có nghĩa là lòng tin, sự tin cậy, sự tín nhiệm Tín dụng được diễn giải theo ngôn ngữ Việt Nam là sự vay mượn Căn cứ theo chủ thể trong quan hệ tín dụng Các hình thức tín dụng bao gồm: tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng là các hình thức tín dụng chính thức, tín dụng thương mại là tín dụng phi chính thức
1.1.2.2 Cung tín dụng và giới hạn của các tổ chức tín dụng chính thức
Trong các chính sách phát triển nông nghiệp - nông thôn ở các nước đang phát triển, chính sách tín dụng không những là mối quan tâm lớn của các nhà hoạch định chính sách mà còn là vấn đề thu hút sự chú ý rộng rãi của nhiều nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn Từ thực tiễn sinh động về chính sách tín dụng ở các nước đang phát triển, các lý thuyết về tín dụng nông nghiệp - nông thôn đã được hình thành và phát triển Vấn đề trung tâm của các nghiên cứu về tín dụng nông thôn là cung - cầu tín dụng và sự tiếp cận tín dụng của hộ nông dân
Thị trường vốn ở nông thôn các nước đang phát triển, cung tín dụng, đặc biệt tín dụng chính thức thường nhỏ hơn nhu cầu, nên những người lao động cho vay phải phân phối tín dụng có giới hạn giữa những người xin vay Các tổ chức tín dụng thường muốn cho vay những người có đủ thông tin, đánh tin cậy
và tin tưởng họ sử dụng vốn hiệu quả và hoàn trả được nợ Thiếu thông tin là lý
do những người cho vay không đáp ứng nhu cầu của người vay (20)
Vai trò quan trọng của thông tin về người vay đối với quyết định chấp thuận của người vay được (25) chỉ ra qua bước đánh giá mức độ tín nhiệm của người xin vay Để đánh giá mức độ tín nhiệm của người xin vay, người cho vay phải nghiên cứu nhiều khía cạnh của người xin vay: mục đích sử dụng tiền vay, khả năng sáng tạo ra thu nhập và khả năng tạo ra đủ tiền mặt từ các nguồn thu nhập và tài sản (22)
Donal (20) qua phân tích hành vi của các tổ chức tín dụng chính thức cho thấy lãi suất thấp thực sự có ảnh hưởng tới phân phối tín dụng của người cho vay Những người cho vay chính thức sẽ thiên về cho vay các nông hộ có địa vị
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chính trị xã hội Lãi xuất thấp cũng làm cho người vay quá chú trọng tới tài sản thế chấp để xử lý vấn đề rủi ro, do đó những nông hộ sở hữu nhiều đất đai sẽ dễ dàng được các tổ chức tài chính chấp nhận vì họ có đủ tài sản thế chấp
Khi nghiên cứu về vai trò của chi phí giao dịch cho vay trên thị trường tín dụng nông thôn, bằng mô hình nghiên cứu hành vi của các định chế tín dụng có giới hạn về phía một số người vay số lượng lớn hay những người có địa vị kinh tế xã hội
Những người vay có thể tập trung vào một khoản cho vay lớn hơn là vào những người vay nhỏ vì thế tối thiểu hóa cho phí quản lý của họ Donalt (22) khi nghiên cứu về thị trường tín dụng nông thôn cho rằng địa vị chính trị xã hội của nông hộ sẽ ảnh hưởng tới mức độ tín nhiệm của họ đối với người cho vay nên những nông hộ này sẽ dễ dàng tiếp cận tín dụng chính thức hơn
Lý thuyết về giới hạn tín dụng của Pariship Ghosh, Dilip Mookherjee
& Debraj Ray (25) Martin Petrick (24) cũng chứng minh rằng giới hạn tín dụng chính thức không chỉ bị chi phối bởi tài sản thế chấp mà còn bị chi phối bởi các đặc tính kinh tế - xã hội của nông hộ Các đặc tính kinh tế - xã hội của nông dân phản ánh uy tín của nông hộ đối với người cho vay và do đó quyết định khả năng tiếp cận cũng như mức độ tiếp cận vốn tín dụng chính thức của nông hộ
Kết hợp các quan điểm ký luận về cung tín dụng nông thôn và hành vi tín dụng của nguồn cung tín dụng cho thấy các nhân tốc chủ yếu quyết định tín dụng chính thức từ phía cung bao gồm: các đặc tính của nông hộ như trình
độ văn hóa, tuổi, giới tính, nghề nghiệp và địa vị chính trị xã hội, đất đai sở hữu, lao động, vốn, các công cụ sản xuất khác, cơ cấu sản xuất và khả năng tài chính của nông trại cũng như chi phí giao dịch và quy mô tiền vay Như vậy, các đặc điểm kinh tế xã hội của nông trại là những nhân tố ảnh hưởng tới cung tín dụng và do đó tới nguồn tín dụng của nông trại
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.3 Nhu cầu vốn tín dụng và tiếp cận vốn tín dụng của hộ nông dân
1.1.3.1 Lý thuyết về tín dụng thương mại
Lý thuyết về tín dụng thương mại được khởi xướng bởi Le Gof (24) và sau đó được phát triển bởi nhiều học giả những năm gần đây (Schwart, 25) Trong số các lý thuyết về tín dụng thương mại nổi lên 3 nhóm lý thuyết chính:
lý thuyết về lợi thế tài trợ, lý thuyết về phương tiện phân định giá và lý thuyết
về chi phí giao dịch
a) Lý thuyết về lợi thế tài trợ (Financing Advantage of Trade Credits)
Do có sự am hiểu tường tận về lĩnh vực hoạt động, nhà cung cấp (người bán) có thể tìm hiểu về mức độ tín nhiệm của khách hàng tốt hơn những người cho vay khác Hơn nữa, do có sự tiếp xúc thường xuyên với khách hàng, nhà cung cấp có thể thu thập thông tin nhanh hơn và ít tốn kém hơn các định chế tài chính Các thông tin về người mua xuất hiện trong quá trình hoạt động kinh doanh; hành động của người mua biểu lộ trực tiếp thông tin về tình trạng tài chính của họ tới người bán Theo Smith (1978) “tín dụng thương mại được xem là phương thức hợp đồng để đối phó với thông tin không cân xứng
ở thị trường hàng hóa trung gian”
b) Lợi thế điều khiển người mua
Nếu hàng hóa được cung cấp bởi một người cung cấp đặc quyền, người cung cấp có thể đe dọa ngưng cung cấp khi khách hàng có hành vi sai hẹn Ở trường hợp này người cung cấp (người bán) có được lợi thế điều khiển người mua
c) Lợi thế thu hồi sản phẩm
Người cung cấp có khả năng thu hồi hàng hóa đã được cung cấp trong trường hợp người mua bị phá sản Mặc dù các tổ chức tín dụng có thể thu hồi tài sản của khách hàng để trừ nợ cũng như những nhà cung cấp, những nhà cung cấp do có mạng lưới hoạt động rộng khắp nên chi phí thu hồi và thanh lý
có thể thấp hơn Lợi thế này phổ biến ở mọi lĩnh vực và mọi hàng hóa Nhà cung cấp còn có lợi thế hơn hẳn các tổ chức tín dụng ở chỗ: khối lượng hàng
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
bán càng lớn thì càng ít hàng hóa bị sử dụng sai mục đích và do đó khả năng thu hồi cao hơn nếu khách hàng sai hẹn hay phá sản
1.1.3.2 Lý thuyết phương tiện phân định giá (Trade credit as means of price dismination)
Schwart& Whitcomb (22) lập luận rằng tín dụng thương mại được sử dụng khi công việc phân định giá công khai được luật pháp cho phép Brennan và các cộng sự (25) cho rằng một người độc quyền có thể sử dụng các điều khoản tín dụng để phân định giá giữa các khách hàng mua và chịu trả tiền mặt bằng cách ấn định các điều khoản tín dụng hấp dẫn thanh toán chậm nhưng không quá trễ Mô hình này được duy trì trong trường hợp cung của thị trường cạnh tranh không hoàn hảo Người cung cấp có thể sử dụng tín dụng thương mại như một phương thức tài trợ cho khách hàng không vay được vốn
tà các định chế tài chính
Tín dụng thương mại làm giảm chi phí đáng kể đối với những người cho vay có chất lượng thấp, bởi vì các điều khoản cần độc lập với chất lượng của khách hàng - ngược lại với tín dụng của ngân hàng Lãi suất sau đó thường phản ánh tất cả các đặc tính rủi ro sẽ ưa chuộng tín dụng thương mại hơn các nguồn tài trợ khác Biais & Goller (21) đã xây dựng một mô hình tín dụng thương mại và kết luận rằng các doanh nghiệp khó khăn về tín dụng ngân hàng thường sử dụng tín dụng thương mại nhiều hơn Theo mô hình của Brenan và các cộng sự (21) lợi nhuận khi sử dụng tín dụng thương mại hơn hẳn lợi nhuận khi không sử dụng tín dụng thương mại
1.1.3.3 Các lý thuyết về chi phí giao dịch (Transaction cots Theares)
Lý thuyết này được xây dựng với Schwart năm 1974 và Ferrs phát triển năm 1981 Lý thuyết này lập luận rằng tín dụng thương mại bằng tiền mặt cho mỗi lần cung cấp mà họ có thể dồn tích nghĩa vụ thanh toán để hoàn trả sau
đó theo định kỳ, do đó giảm được chi phí giao dịch
Hơn nữa, nếu nhu càu các yếu tố đầu vào của một doanh nghiệp có tính thời vụ cao, doanh nghiệp bắt buộc phải dự trữ nhiều hàng tồn kho để đảm
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
bảo cho quá trình sản xuất được liên tục do đó làm tăng chi phí dự trữ và chi phí sản xuất trong khi thu thập bị chậm trễ Bằng cung ứng tín dụng thương mại, người cung cấp có thể kích thích khách hàng mua sớm hoặc thường xuyên hơn vì họ có thể quản lý tình trạng hàng tồn kho tốt hơn, không những giảm sức ép về nhu cầu tài trợ vốn mà còn giảm được chi phí giao dịch
Lý thuyết về lợi thế tài trợ, lý thuyết phương tiện phân định giá và lý thuyết về chi phí giao dịch đều chúng tỏ vai trò quan trọng của tín dụng thương mại đối với nhà cung cấp (người cho vay) và nhà sản xuất (người đi vay) Người cung cấp có thể sử dụng tín dụng thương mại như một phương thức tài trợ cho những khách hàng không vay được vốn từ các định chế tài chính Tín dụng thương mại được xem là phương thức hợp đồng để đối phó với thông tin không cân xứng ở thị trường hàng hóa trung gian và các doanh nghiệp khó khăn về tín dụng ngân hàng thường sử dụng tín dụng thương mại nhiều hơn
1.1.4 Đặc điểm về vốn của hộ và vốn tín dụng nông thôn cho hộ nông dân
1.1.4.1 Đặc điểm về vốn của hộ nông dân
Hộ còn là người tiêu dùng nên nông hộ có mục tiêu thứ hai là tối đa hóa lợi ích thông qua việc tăng độ thỏa dụng, tăng khối lượng sản xuất và thời gian thư nhàn và hạn chế thấp nhất khi có rủi ro xẩy ra Nhiều hoạt động từ
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
sản xuất đến tiêu dùng của nông hộ trong cơ chế hiện nay đã có sự tham gia
và tác động của thị trường
Có thể nói đời sống của nông họ đã gặp rất nhiều khó khăn vì thu nhập bấp bênh hơn so với các đối tượng khác và hơn nữa sản xuất nông nghiệp lại gặp nhiều rủi ro cho nên một khi xẩy ra bất trắc về sản xuất và đời sống thì họ gặp rất nhiều khó khăn để quản lý các rủi ro đó
b Đặc điểm về vốn trong nông hộ
* Thiếu vốn cho sản xuất và khả năng tiếp cận thông tin thị trường thấp Đây là hạn chế mà nông hộ gặp phải, nguồn tích lũy của họ rất thấp chỉ
đù để trang trải các khoản chi tiêu trong gia đình và hoàn thành khoản đóng góp đối với địa phương, Điều này xẩy ra ở số đông các hộ nông, hộ trong huyện và chỉ trừ một số hộ nông hộ kinh doanh lớn và có nguồn thu khá ổn định Chủ yếu các hộ thiếu vốn dẫn đến đầu tư cho sản xuất thấp, hạn chế phát triển các hoạt động phi nông nghiệp, hạn chế việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ, không chủ động trong sản xuất dẫn đến năng suất, hiệu quả kinh tế chưa cao Những nông hộ khá giả có khả năng đầu tư cho sản xuất Các hộ nghèo chủ yếu đầu tư cho sản xuất cho nên thu nhập từ sản xuất của các hộ này rất thấp.(15)
Việc vay vốn không phải lúc nào cũng thuận lợi với các hộ, họ gặp khó khăn về thủ tục vay vốn Đối với các hộ muốn mở rộng quy mô sản xuất muốn vay vốn với số lượng lớn nhưng lại bị hạn chế do không có vật thế chấp, còn đối với nguồn tín dụng phục vụ cho người nghèo phải đúng đối tượng mới được vay và vay với số lượng nhỏ Một khía cạnh khác của vấn đề tín dụng là việc sử dụng đồng vốn đúng mục đích và hiệu quả hết sức khó khăn đối với người nông dân Có những nông hộ vay vốn về nhưng không biết sử dụng đồng vốn đo đúng mục đích dẫn đến hiệu quả không cao và rất khó cải thiện kinh tế hộ
* Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên,
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Điều kiện tự nhiên bất lợi là trở ngại lớn đối với nông hộ để có thể phát triển sản xuất Thời tiết trong năm có lúc mưa nhiều, hay có thời kỳ lại nóng
ẩm làm cho dễ phát sinh các loại bệnh tật ở vật nuôi nếu như hộ không chú ý
vệ sinh sạch sẽ Do điều kiện tự nhiên, khí hậu của nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió múa cho nên khi dịch bệnh trong gia súc gia cầm ở trên thế giới phát sinh thì đều có ảnh hưởng lây lan nhanh chóng đến nước ta như dịch bệnh gà hay dịch lợn lở mồm long móng Chính vì vậy mà rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi của nông hộ rất dễ gặp phải Vì thế đòi hỏi có sự kiểm soát, theo dõi dịch bệnh chặt chẽ từ các vùng biên giới cho tới từng hộ sản xuất Từ đây, hộ cũng có ứng xử thay đổi về quy mô và đầu tư cho chăn nuôi lợn, gia cầm, do đó nhu cầu về vốn cũng thay đổi theo.(3)
* Thiếu thông tin về kỹ thuật mới, tiến bộ mới trong SX
Nhu cầu về kỹ thuật tiến bộ của hộ nông dân đơn thuần là cây trồng, vật nuôi, kỹ thuật chăn nuôi, canh tác, các biện pháp phòng trừ dịch bệnh Tuy vậy mà trên địa bàn xã các hộ nông dân ít được tham gia các lớp tập huấn
về kỹ thuật sản xuất nên các thông tin về kỹ thuật chậm đến với các hộ Khó khăn này cản trở lớn đối với các nông hộ trong việc áp dụng cây con mới Ngoài ra, các hộ chăn nuôi ở địa phương cũng thiếu các thông tin về thị trường, cho nên các hộ rất khó có thể đưa ra biện pháp phòng trừ rủi ro do thị trường gây ra Biến động của giá cả ảnh hưởng lớn đến thu nhập của các nông
hộ, khâu tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của các hộ còn gặp nhiều khó khăn do sản phẩm bán chậm, chưa có hệ thống tiêu thụ lớn
* Những yếu tố không chắc chắn xảy ra
Do quy mô sản xuất của họ nhỏ, nằm trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, chịu tác động của biến động về giá cả và sự không chắc chắn về con người, sự không chắc chắn về xã hội
1.1.5.2 Vấn đề vốn tín dụng cho hộ nông dân
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
a Nguồn và cơ cấu nguồn vốn trong hộ nông dân
Cơ cấu nguồn vốn của một tổ chức sản xuất kinh doanh nói chung trong hộ nông dân nói riêng phản ánh tương quan giữa các bộ phận cấu thành nguồn vốn, trong đó nguồn vốn tín dụng là một bộ phận cấu thành quan trọng Vai trò của nguồn vốn tín dụng đối với tổ chức sản xuất kinh doanh được lý giải trong các lý thuyết về cơ cấu nguồn vốn Một trong các lý thuyết nổi tiếng về cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp là lý thuyết đòn bẩy được phát triển bởi Collins & Sekely (21), Eugne F.Brigham (21)và Kale (25)
Theo lý thuyết đòn bẩy, cơ cấu nguồn vốn của một doanh nghiệp được đặc trưng bằng tỷ lệ nợ (vốn tín dụng) trên giá trị tài sản của nó và cơ cấu nguồn vốn tối ưu Lý thuyết đòn bẩy cũng chỉ ra rằng cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp bị tác động của nhiều nhân tố Các nghiên cứu về cơ cấu nguồn vốn, vốn doanh nghiệp đều khẳng định rủi ro hoạt động là một trong những nhân tố chủ yếu quyết định cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp Collins & Sekely (21) Hơn nữa, rủi ro hoạt động của doanh nghiệp chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó bị ảnh hưởng bởi mức độ chi phí cố định và đặc điểm của ngành sản xuất kinh doanh
Cơ cấu nguồn vốn của hộ nông dân bao gồm tỷ lệ của bốn tự có của mỗi gia đình và vốn tín dụng, trong đó nguồn vốn tín dụng là vốn cần bổ sung cho sự thiếu hụt của hộ khi muốn phát triển sản xuất
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến vay vốn tín dụng đối với hộ nông dân
1.1.5.1 Các yếu tố về năng lực tiếp cận và sử dụng vốn tín dụng của hộ
Các hộ nông dân nói chung đều thiếu thông tin, cả về thông tin về thị trường nguyên liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra, công nghệ Nguyên nhân là
do trình độ hạn chế của hộ, chất lượng dịch vụ phát triển kinh doanh thấp trong khi giá cả cao, thiếu nguồn cung cấp thông tin
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Đồng thời với quy mô vốn nhỏ, rủi ro trong nông nghiệp lớn; hạn chế các nguồn về tài sản liên quan đến đất đai, bất động sản, do đó các hộ nông dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, hình thức góp vốn bằng tài sản khác Ngoài ra, việc thiếu các hình thức bảo lãnh tín dụng đã hạn chế việc mở rộng quy mô, đầu tư sản xuất của các hộ
Thông thường các hộ sản xuất lớn thường có trách nhiệm hơn đối với các khoản vay và quan trọng hơn là họ đã có của cải tích lũy, có tài sản và vì thế nhu cầu vay tiền nhiều hơn cũng như khả năng tiếp cận được nguồn vốn
dễ hơn Đối với những chủ hộ trẻ tuổi hơn chưa có nhiều của cải tích lũy cũng như uy tín xã hội chưa cao và điều kiện vật chất khác cũng kém hơn so với các chủ hộ cao tuổi Tuy nhiên, sự năng động và khả năng thích ứng cao của tuổi trẻ cũng là những lợi thế để các tổ chức tín dụng cho họ vay vốn
Mặt khác, yếu tố địa vị xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến việc tiếp cận nguồn vốn của hộ Những hộ có địa vị xã hội có khả năng vay vốn tín dụng dễ hơn so với các chủ hộ khác không có địa vị xã hội Đơn giản vì họ có điều kiện nắm bắt thông tin nhanh hơn, có uy tín xã hội và có nhiều chương trình tín dụng chính thức mà nhà nước được thực hiện thông qua họ như là những người tham gia trực tiếp các chương trình đó.(6)
Trình độ học vấn cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay của hộ Các chủ hộ có trình độ học vấn cao hơn thường biết cách hạch toán kinh tế hơn các chủ hộ có trình độ học vấn thấp Và cũng là lý do tại sao
họ vay được nhiều vốn hơn từ các tổ chức tín dụng hơn các hộ khác
Ngoài các yếu tố thuộc về năng lực của chủ hộ, thì yếu tố diện tích đất, tài sản thế chấp, cũng là nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận nguồn vốn vay của hộ Đối với các hộ chăn nuôi có quy mô chăn nuôi lớn là một trong những điều kiện kiên quyết để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.Đây là tiền đề tạo ra nhu cầu vốn tín dụng và cũng là căn cứ để các tổ chức tín dụng cho hộ vay vốn Đồng thời quan điểm của người cho vay bao giờ cũng là “Đồng tiền
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đi liền khúc ruột”, nên các tổ chức tín dụng đã đưa ra những quy định về thế chấp và buộc người vay phải chấp hành
Cùng với việc thiếu thông tin, rủi ro trong chăn nuôi cao, dịch bệnh luôn rình rập, nên việc sử dụng sao có hiệu quả nguồn vốn vay là việc rất khó Trong khi để có thể vay được vốn được của ngân hàng ngoài các yếu tố trên thì yếu tố “tạo ra tiền” và “thu nhập” của hộ cũng góp phần làm cho hộ tiếp cận được nguồn vốn Đây là những trở ngại cho các hộ mỗi lần tiếp cận được vốn vay từ các ngân hàng
1.1.5.2 Các yếu tố thuộc về các tổ chức tín dụng
Thực tế cho thấy, các tổ chức tín dụng cho vay chủ yếu vẫn dựa trên tài sản thế chấp, thiếu linh hoạt, cơ chế điều chuyển vốn nội bộ và cơ chế giao các chỉ tiêu khoán kinh doanh vẫn cứng nhắc Hộ chăn nuôi có suy nghĩ về thủ tục nhiêu khê, phức tạp mà các hộ khi tiếp xúc với ngân hàng lần đầu Thủ tục vay vốn rườm rà là cản trở lớn nhất cho các hộ tiếp cận nguồn vốn tín dụng Hiện nay các ngân hàng còn chưa nhiệt tình hướng dẫn cho các hộ có các phương án kinh doanh, các giấy tờ cần thiết, đảm bảo có hiệu quả đối với các phương án sản xuất trong khi năng lực của các hộ còn hạn chế
Do đặc thù của ngành nông nghiệp là rủi ro cao trong khi lợi nhuận thấp nên các ngân hàng chưa coi hộ nông dân là một trong những khách hàng tiềm năng, thân quen của mình Do đó ngân hàng chưa quan tâm tư vấn và giải thích cho các hộ nông dân thấy được sự tiếp cận của họ với ngân hàng là cần thiết để hai bên cùng giải quyết được mục đích sản xuất kinh doanh của mình, giúp hộ nông dân nắm bắt và tiếp cận ưu, nhược điểm của các phương thức cho vay và thời hạn tín dụng mà ngân hàng đang áp dụng để phù hợp với từng mô hình sản xuất của hộ
Do cơ chế thị trường hiện nay là cạnh tranh lành mạnh, nên việc tư vấn cho khách hàng hiểu và sử dụng các sản phẩm của ngân hàng là vô cùng cần
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thiết, hộ nông dân cũng phải tìm hiểu những thông tin cần thiết từ cả phía doanh nghiệp và ngân hàng đều có sự phát triển bền vững
1.1.5.3 Các yếu tố về chính sách của nhà nước
Hiện nay chưa có một số cơ chế khuyến khích các ngân hàng thương mại cạnh tranh mở rộng cho vay đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, cho vay tái cấp vốn, sử dụng nguồn vốn huy động trên thị trường cấp II cũng như chưa có cơ chế về nguồn vốn cho ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam để mở rộng hơn các chương trình tín dụng chính sách, mở rộng hơn cho vay đối với các đối tượng nông nghiệp, nông thôn
Bên cạnh đó, chưa có cơ chế về chính sách, về nguồn vốn để hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở tại các vùng nông thôn tiếp cận được kênh vay tái cấp vốn (như ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam), cũng như các nguồn vốn ủy thác, nguồn vốn của các dự án khác
Ngày 12/4/2010 Nghị định 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ ra đời, việc triển khai nghị định còn nhiều bất cập, thiếu sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành liên quan dẫn đến sự hạn chế trong việc mở rộng cho vay của các ngân hàng thương mại Cụ thể, nhiều địa phương vẫn thu lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm đối với khoản vay có bảo đảm bằng tài sản khi ngân hàng thương mại cho vay vốn các đối tượng theo quy định, trong khi theo Nghị định thì không được thu phí Bên cạnh đó, việc chứng minh mục đích sử dụng vốn vay cũng gặp nhiều khó khăn, vì hầu như các hộ chăn nuôi không sử dụng hóa đơn, chứng từ theo quy định của Bộ Tài chính Hơn thế nữa, nhiều hộ gia đình nộp thuế khoán nên không thể xuất trình hóa đơn chi tiết để phù hợp với bộ của hồ sơ vay vốn Cũng theo quy định của nghị định này, tổ chức tín dụng thực hiện cho vay không cần bảo đảm tiền vay bằng tài sản đối với một số hạn mức vay cụ thể dành cho hộ nông dân, Hợp tác xã Nhưng trong quá trình triển khai, một số tổ chức tín dụng ở cơ sở vẫn yêu cầu nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới được vay Do đó, chỉ những hộ gia đình nông dân
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
có đất, có tài sản mới được vay, còn hộ nông dân không có tài sản thì không vay được
1.2 Thu nhập và tác động của vốn vay tín dụng đầu tƣ sản xuất đến thu nhập của hộ ND
1.2.1 Khái niệm thu nhập của hộ nông dân
Thu nhập (TN) trong năm của hộ nông dân chính là tổng các khoản thu được trong năm đó trừ các khoản đã chi phí bỏ ra trong các hoạt động kinh tế
và xã hội của các thành viên trong hộ Cụ thể bao gồm các khoản thu từ sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, TTCN, dịch vụ (bao gồm công đi làm thuê) và các khoản thu khác như lương, phụ cấp, hỗ trợ (nếu có)
Tổng thu
của hộ ND =
Thu Trồng trọt +
Thu Chăn nuôi +
Thu ngành nghề, TTCN +
Thu khác Thu nhập trong 1 năm của hộ là khoản thu được trừ đi các khoản chi phí trực tiếp (gồm cả giá trị thuê lao động và các dịch vụ bên ngoài) cho các hoạt động kinh tế xã hội của các thành viên trong gia đình trong 1 năm đó Khoản thu nhập bao gồm cả giá trị công lao động của các thành viên trong gia đình và phần lợi nhuận (nếu có) từ các hoạt động đó Các khoản lương, phụ cấp, tiền và hiện vật được cho biếu là khoản thu nhập thuần tủy của hộ (vì không phải chi phí thêm để có được các khoản này)
Thu nhập của hộ
nông dân trong năm =
Tổng các khoản thu trong năm
-
Các chi phí
SX trong năm Các hoạt động SXKD của hộ có sử dụng nguồn vốn vay phải chịu lãi suất thì khoản lãi suất tiền vay và các chi phí khác cho việc vay được vốn phải tính vào chi phí cho các hoạt động đó
-
Các chi phí SX trong năm
-
Trả lãi suất và chi phí vay tiền đầu tư phân bổ cho SXKD trong năm
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tuy nhiên để xác định chính xác thu nhập của hộ nông dân là một vấn
đề phức tạp Vì vậy ta dùng chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp để thay cho chỉ tiêu thu nhập Chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp được thể hiện như sau:
- Thu nhập hỗn hợp (MI): MI = VA - Khấu hao - Thuế - (Lãi vay+ chi
phí của hoạt động vay tín dụng)
Trong đó các chỉ tiêu được tính toán từ các chỉ tiêu
(1) Giá trị sản xuất (GO)
Tổng giá trị sản xuất GO (Gross Output) của từng ngành kinh tế: tổng giá trị của các ngành sản xuất được tính bằng cách lấy sản lượng sản phẩm năm báo cáo nhân với đơn giá Để có thể so sánh các chỉ tiêu nghiên cứu và thống nhất nội dung kinh tế, toàn bộ số liệu các năm được tính toán theo giá
cố định năm 1994, theo giá do Tổng cục Thống kê ban hành Tổng giá trị sản xuất (GO) sẽ được nghiên cứu trên phạm vi từng ngành kinh tế, từng nông hộ
(2) Chi phí trung gian IC (Intemdiate Consumption): Gồm toàn bộ các khoản chi phí vật chất và chi phí dịch vụ cho sản xuất Trong chi phí trung gian không bao gồm thuế và khấu hao tài sản cố định Chi phí trung gian bao gồm các yếu tố sau:
- Chi phí vật chất: nguyên vật liệu chính, phụ; nhiên liệu; điện; nước; khí đốt; chi phí công cụ sản xuất nhỏ, vật rẻ tiền mau hỏng…
- Chi phí dịch vụ: vận tải, thương nghiệp, sửa chữa tư liệu sinh hoạt, bảo hiểm, pháp lý, quảng cáo, tư vấn…
- Chi phí thuê lao động bên ngoài và các dịch vụ kỹ thuật và sản xuất (3) Giá trị gia tăng VA (Value Added): Là kết quả cuối cùng thu được sau khi đã trừ chi phí trung gian của một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó:
VA = GO - IC
1.2.2 Các tác động của vốn vay tín dụng đến thu nhập của hộ nông dân
Nguyên lý cơ bản và kinh điển nhất của tác động từ vốn vay phát triển kinh tế tác động đến tăng thu nhập của hộ nông dân thể hiện trong sơ đồ sau:
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thâm canh, giống mới, KHCN
Tăng tổng thu, hạ giá thành
Thu nhập cho gia đình ND
Tạo ngành nghề, việc làm cho LĐ
Tạo thu nhập cho
GĐ
Sơ đồ 1.1 Nguyên lý tác động của vay vốn tín dụng đến thu nhập của hộ ND
(1) Vay vốn tín dụng đầu tư tăng năng suất và chất lượng nông sản Các hoạt động SXKD cần có vốn đầu tư để mua sắm tư liệu sản xuất, mua nguyên nhiên vật liệu và thanh toán các dịch vụ và trả tiền công lao động (nếu thuê lao động) Khi có đủ vốn để đầu tư cây con giống mới, máy móc vật tư thiết
bị áp dụng tiến bộ kỹ thuật và qui trình KHCN tiên tiến sẽ góp phần tăng năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng và con nuôi, tăng năng suất lao động, giảm mức chi phí đầu tư, tăng giá bán sản phẩm sẽ tăng giá trị tổng thu và thu nhập của hộ nông dân;
(2) Vay vốn tín dụng để có thể tận dụng điều kiện đất đai chuồng trại, mặt nước sẵn có mở rộng qui mô sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con nuôi theo hướng hiệu quả hơn: Vay vốn tín dụng để đầu tư có thể tăng qui mô sản xuất (tăng diện tích, tăng vụ, tăng số lượng đầu con, tăng lứa nuôi, tăng mức đầu tư thâm canh,…).Vay vốn tín dụng để quyết định chuyển đổi cơ cấu cây trồng con nuôi từ giống cũ sang giống mới, từ cây trồng, con nuôi hiện tại sang cây trồng, con nuôi mới phù hợp điều kiện đất đai, khí hậu, tận dụng nguồn vật tư hiện có và tạo sản phẩm được thị trường đang yêu cầu sẽ dễ tiêu
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thụ và chủ động được thời điểm bán giá cao, ít rủi ro hơn để thu được hiệu quả kinh tế cao hơn, tăng nhập tăng của hộ nông dân;
(3) Vay vốn tín dụng để đầu tư học nghề, mua sắm đồ nghề để làm dịch
vụ, tổ chức sản xuất hoặc liên kết sản xuất TTCN, NLN để tạo thêm việc làm
và cơ hội kinh doanh tăng thu nhập cho hộ gia đình
Khi có vốn tăng thêm đầu tư vào SXKD có thể tăng tỉ suất lợi nhuận/ vốn đầu tư; Tăng tổng thu nhập/năm của hộ nông dân khi có vốn vay tín dụng dựa trên các khả năng sau:
tư thêm từ vốn vay tín
<
Tổng số chi phí SXKD phân bổ trong năm khi có vốn vay tín dụng
_
Tổng số chi phí SXKD phân bổ trong năm khi chưa
có vốn vay tín dụng
có đầu tư thêm
từ vốn vay tín dụng
<
Tổng số chi phí SXKD phân bổ trong năm khi có vốn vay tín dụng
_
Tổng số chi phí SXKD phân bổ trong năm khi chưa
có vốn vay tín dụng
1.3 Cơ sở thực tiễn về vốn tín dụng cho hộ nông dân
1.3.1 Tổng quan về vốn tín dụng cho sản xuất của hộ nông dân trên thế giới
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn có tính chất phức tạp, nên hoạt động tín dụng nông nghiệp và nông thôn ở các nước này càng phát triển
đa dạng và phong phú Sự đa dạng và phong phú thể hiện ở các tổ chức tín dụng nông thôn, các hình thức tín dụng, các phương pháp cho vay và lãi suất vay do điều kiện, đặc điểm của mỗi nước khác nhau nên hoạt động tín dụng nông nghiệp và nông thôn ở các nước có những nét riêng Tùy vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước có hình thức tín dụng nông thôn khác nhau Tuy nhiên hầu hết các nước trên thế giới đều có hệ thống tín dụng dành riêng cho phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Trong khuôn khổ cho phép
ta chỉ giới thiệu một số nước trong khu vực có điều kiện tương tự như Việt Nam mà hoạt động tín dụng của họ rất thành công đó là: Thái Lan, Bangladesd, Philipin, Nhật Bản
a) Thái Lan.(11)
Chính phủ Thái Lan đã phối hợp với ba ngân hàng trong nước là ngân hàng Dự trữ nhà nước, Ngân hàng Nông nghiệp và ngân hàng SME để cung cấp một khoản tín dụng lớn lên tới 30 tỷ bạc để hỗ trợ cho các chủ trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm
Ngoài việc nhận được tiền đền bù từ việc tiêu hủy gia súc, gia cầm nhiễm bệnh, người chăn nuôi Thái Lan còn được ưu tiên vay vốn với lãi suất thấp để khôi phục sản xuất, nâng cấp trang thiết bị và lập quỹ dự phòng khi có dịch bệnh Với những người SX nông nghiệp đã có số nợ từ trước trong các ngân hàng sẽ được gia hạn thời gian trả nợ Tín dụng nông nghiệp của Thái Lan bao gồm 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: Cung cấp tín dụng cho các chi phí hoạt động nông nghiệp trong một vụ, thời gian từ 6 - 12 tháng
- Tín dụng trung hạn: Cung cấp cho việc mua trang thiết bị sản xuất hoặc cải tiến, đổi mới trang trại, thời gian vay từ 1 - 5 năm
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Tín dụng dài hạn: Cung cấp cho việc đầu tư những tài sản lớn của trang trại,thời gian từ 5 - 30 năm
Tổ chức tín dụng chính thống lớn nhất trực tiếp và chuyên cung cấp tín dụng cho nông nghiệp và nông thôn Thái Lan là Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác xã Nông nghiệp (BAAC) Tổ chức này được nhà nước thành lập từ năm 1996 thuộc Bộ Tài chính Ngân hàng này có nguồn vốn chủ yếu là từ chính phủ là một phần từ các tổ chức nước ngoài Ngân hàng thực hiện lãi suất ưu đãi cho hộ nông dân với lãi suất 13%/năm, trong khi lãi suất của các ngân hàng thương mại khác là 20%/năm và bằng 2 cách: Thông qua hợp tác
xã tín dụng nông nghiệp và trực tiếp cho những nông dân, cá thể không phải
là thành viên hợp tác xã tín dụng nông nghiệp và trực tiếp cho những nông dân, cá thể không phải là thành viên của hợp tác xã tín dụng nông nghiệp Đối tượng vay của BAAC là các HTX, các hiệp hội nông dân, trực tiếp từng hộ nông dân và các nhóm hộ
Tổ chức tín dụng chính thống thứ hai cung cấp một phần vốn tín dụng cho nông nghiệp và nông thôn là hệ thống các ngân hàng thương mại như: Ngân hàng Banwgkok, ngân hàng Ayudhy, Ngân hàng nông dân Thái Lan, Ngân hàng Nhà nước Thái Lan
Nông dân Thái Lan vay vốn từ các tổ chức tín dụng nêu trên bằng nhiều cách khách nhau tùy theo hiện trạng và thực lực kinh tế cũng như thế lực của họ Những nông dân giàu có, thế lực, có tài sản thế chấp, chủ đất đai
có thể vay trực tiếp tại các tổ chức tín dụng chính thống mà họ muốn Những nông dân nghèo không có tài sản thế chấp, không có thế lực có thể vay vốn từ các tổ chức tín dụng một cách gián tiếp bằng cách tham gia vào các HTX, các hiệp hội và nhóm nông dân
Đối với ngành chăn nuôi,Thái Lan tổ chức ngành chăn nuôi thú ý là một cơ quan thống nhất là Cục phát triển chăn nuôi (DLD) thuộc Bộ Nông nghiệp và HTX Thái Lan Cơ quan này được tổ chức theo ngành dọc từ Cục phát triển chăn nuôi xuống đến các cấp thành phố và huyện
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
b) Tín dụng nông nghiệp nông thôn ở Banglade (20)
Những tổ chức tín dụng chính thống trong nông nghiệp và nông thôn ở Banglades bao gồm hai bộ phận sau đây:
- Những chi nhánh ở nông thôn của ngân hàng phát triển nông nghiệp
và ngân hàng Thương mại quốc gia
- Những tổ chức tài chính nông thôn dưới sự quản lý và điều hành của một số tổ chức Phi Chính phủ (NGO3)
Qua hoàn cảnh thực tế của nhân dân Bawnglades kết hợp với đi nghiên cứu ở Malai, Giáo sư Jumus đã tổ chức ngân hàng giúp đỡ người nghèo và Grameen Bank ra đời hoạt động từ năm 1996 Với cơ chế hoạt động là tất cả người nghèo không có đất canh tác thu nhập dưới 100USD/năm đều được vay và không phải thế chấp.Mức vay tiền của các thành viên từ thấp tới cao, khởi điểm là 500taka (200USA) lãi suất cho vay là 20%/năm, trong khi đó lãi suất của các ngân hàng thương mại chỉ có 12-13%/năm, lãi suất thị trường “chợ đen” là 20%/năm Do việc không phải thế chấp và góp nên nhiều người muốn gia nhập nhóm để vay Thành công của Grameen Bank là do: phục vụ tại chỗ nông thôn, tổ chức của bộ máy Grameen Bank gắn với nông dân tại nông thôn
Việc tổ chức của máy có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành công và
sự hoạt động của Grameen Bank là vừa giảm chi phí tín dụng, vừa thu hẹp dần được mối quản lý theo dõi người vay Hoạt động của nhóm gây cho thành viên có tâm lý được người khác che chở, sự thúc ép lẫn nhau trong sử dụng vốn và trả nợ làm cho hội viên tuân theo chương trình tín dụng của ngân hàng thu nợ đều đặn Hơn nữa việc góp vốn đã giúp nhân dân tiết kiệm từng đồng Taka để lập quỹ tới nắm giữ hoạt động tổ chức của mình thông qua việc vay vốn Thủ tục cho vay đơn giản không phải thế chấp, đi lại, hoạt động của Grameen Bank rất phù hợp với lòng dân và sự trợ giúp của các tổ chức tài chính khác
c) Tín dụng nông nghiệp nông thôn Philipin (11)
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hệ thống tín dụng chính thống cung cấp vốn tín dụng cho khu vực nông nghiệp và nông thôn ở Philipin bao gồm các ngân hàng ở nông thôn (RP), các ngân hàng tiết kiệm, các ngân hàng đặc biệt và các ngân hàng của chính phủ Hệ thống các ngân hàng nông thôn, ngân hàng tiết kiệm và ngân hàng thương mại bao gồm, cả nhà nước và tư nhân có các chi nhánh tận làng,
xã, huyện và ở khắp đất nước Trong đó các ngân hàng nông thôn là tổ chức tín dụng chính thống lớn nhất, có nhiệm vụ chuyên cung cấp cho nông nghiệp, và cho nông thôn thì có tới 97 - 100% là cho vay nông nghiệp
Chính phủ Philipin đã có những chính sách phục vụ cho phát triển nông nghiệp và nông thôn, ngoài ra chính phủ có một ngân hàng đặc biệt cung cấp tín dụng cho nông nghiệp và nông thôn lớn nhất, đó là ngân hàng đất đai của Philipin (Land Bank), ngân hàng này đã dành tới 60% số vốn để cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn
Đặc biệt ở Philipin cũng có nhiều ngân hàng, những công ty được coi là thành công, trong việc cho hộ dân nghèo vay vốn Ngoài ra, ngân hàng những hòn đảo Philipin (BPI - Bank of the Philipin Islands) cũng đã cung cấp khoản vay tín dụng lớn cho người vay.Tỷ lệ hoàn trả vốn rất cao
d) Vay vốn ngân hàng của hộ nông dân Nhật Bản (11)
Hộ nông dân vay tiền từ HTX nông nghiệp, được cung cấp vốn, chủ yếu thông qua tập đoàn tài chính nông - Lâm - ngư nghiệp (AFC) Hộ nông dân sử dụng vốn từ nguồn cho hình thành tài sản cố định Các tổ hợp này đã cung cấp tiền vay cho nông nghiệp với số lượng lớn lãi suất thấp và dài hạn
Từ đầu những năm 1960 nông dân Nhật Bant có thể vay vốn từ các chương trình vay nông nghiệp của chính phủ (GPALs) để tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, mở rộng đất đai của trang trại Số lượng tiền vay không ngừng gia tăng
từ 156 tỷ yên năm 1965 lên 693 tỷ yên năm 1984, 80% trong tổng số vốn vay này được sử dụng cho cơ giới hóa và hiện đại hóa hoạt động của nông trại