Lý do chọn đề tài Chức năng của kế toán là cung cấp thông tin kinh tế về một tổ chức, những thông tin kế toán này không những cần thiết cho những người ra quyết định quản lý bên trong d
Trang 2TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 3Cúc, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn Xin cảm ơn tất cả Quý Thầy Cô trường Đại học Kinh tế TP.HCM đã tận tình giảng dạy tôi trong thời gian qua
Dù đã cố gắng tìm kiếm tài liệu, nghiên cứu và học hỏi, song luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong nhận được sự góp ý từ Quý Thầy Cô
Xin chân thành cảm ơn
Trang 4tư” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Đây là đề tài luận văn thạc
sĩ kinh tế, chuyên ngành kế toán – kiểm toán Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các phân tích, số liệu và kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn Cao Thị Cúc
Trang 5Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
1, Lý do chọn đề tài 1
2, Mục tiêu nghiên cứu 2
3, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4, Phương pháp nghiên cứu 3
5, Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6, Tóm tắt các nghiên cứu 4
7, Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ TÍNH HỮU ÍCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 7
1.1 BẢN CHẤT CỦA BCTC 7
1.1.1 Theo quan điểm của Việt Nam 7
1.1.2 Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế 8
1.2 CÁC ĐỐI TƯỢNG PHỤC VỤ CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI NHÀĐẦU TƯ……… 9
1.2.1 Đối tượng phục vụ của BCTC……….9
1.2.2 Vai trò thông tin trên BCTC đối với các nhà đầu tư………10
1.2.2.1 Lợi ích mang lại cho các nhà đầu tư từ việc sử dụng BCTC………10
1.2.2.2 Các chỉ tiêu tài chính thường được sử dụng khi phân tích………11
1.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH HỮU ÍCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BCTC 13 1.3.1 Tính hữu ích của thông tin BCTC theo quan điểm của Việt Nam ………13
1.3.2 Tính hữu ích của thông tin trên BCTC theo quan điểm quốc tế……… …15
Trang 61.4.1 Khác biệt về quy định liên quan đến lập và trình bày BCTC 18
1.4.2 Quá trình hội tụ kế toán Quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam 19
Kết luận chương 1 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM 22
2.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC SOẠN THẢO, TRÌNH BÀY BCTC………22
2.1.1 Luật kế toán 22
2.1.2 Chuẩn mực kế toán 23
2.1.3 Chế độ kế toán 25
2.1.4 Hệ thống BCTC của các công ty niêm yết Việt Nam 26
2.2 CÔNG TY NIÊM YẾT VÀ VẤN ĐỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 25
2.2.1 Công ty niêm yết 25
2.2.2 Vấn đề công bố thông tin định kỳ về Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết 26
2.2.2.3 Quy định về chế tài và xử lý vi phạm công bố thông tin trên thị trường khoán 27
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG BCTC DỰA TRÊN SỰ KHÁC BIỆT CỦA CMKT VIỆT NAM VÀ CMKT QUỐC TẾ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ 28
2.3.1 Khuôn khổ pháp lý về kế toán áp dụng cho các công ty niêm yết 29
2.3.2 So sánh sự khác biệt của một số khoản mục trên BCTC của CTNY theo CMKT Việt Nam và CMKT Quốc tế có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư 30
2.3.2.1 Về tiêu đề của các báo cáo 31
2.3.2.2 Phân tích sự khác biệt của một số khoản mục khi trình bày theo CMKT Việt Nam và CMKT Quốc tế có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư 32
2.3.2.2.1 Nội dung một số khoản mục trên bảng cân đối kế toán 32
2.3.2.2.2 Những tồn tại về mặt nội dung của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 37
2.3.2.2.3 Những tồn tại về mặt nội dung của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 40
2.3.2.2.4 Những tồn tại về mặt nội dung của Thuyết minh BCTC 42
Trang 72.3.4 Thực trạng công bố thông tin định kỳ về BCTC của các CTNY 50
2.4 Khảo sát đánh giá của các nhà đầu tư về thực trạng BCTC cũng như vấn đề công bố thông tin tại các CTNY hiện nay 54
Kết luận chương 2 65
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ ĐỂ HOÀN THIỆN BCTC TẠI CTNY VIỆT NAM NHẰM NÂNG CAO TÍNH HỮU ÍCH CỦA THÔNG TIN CHO CÁC NHÀ ĐẦU TƯ 66
3.1 MỤC TIÊU HOÀN THIỆN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT 66
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN BÁO CÁO TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO TÍNH HỮU ÍCH CHO CÁC NHÀ ĐẦU TƯ 67
3.2.1 Bổ sung các hướng dẫn về soạn thảo và trình bày báo cáo tài chính hiện hành 67
3.2.2 Hoàn thiện tên gọi và nội dung kế toán của một số chỉ tiêu trên BCTC 69
3.2.2.1 Bảng cân đối kế toán 70
3.2.2.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 73
3.2.2.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 76
3.2.2.4 Thuyết minh báo cáo tài chính 77
3.3 GIẢI PHÁP HỖ TRỢ KHÁC 78
3.3.1 Giải pháp đối với Bộ tài chính, Ủy ban chứng khoán Nhà nước 78
3.3.2 Giải pháp đối với bản thân các công ty niêm yết 80
3.3.3 Giải pháp dành cho các nhà đầu tư 81
Kết luận chương 3 82
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 8CMKT Chuẩn mực kế toán
CĐKT Cân đối kế toán
CTNY Công ty niêm yết
EPS Lãi cơ bản trên cổ phiếu
FASB Hội đồng Chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế
IASB Uỷ ban Chuẩn mực kế toán quốc tế
IFRS Chuẩn mực BCTC quốc tế
KQHĐKD Kết quả hoạt động kinh doanh
LCTT Lưu chuyển tiền tệ
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
UBCKNN Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Trang 9Bảng 2.2: Bảng phân tích chỉ tiêu ROE và ROA theo VAS và IAS – Công ty cổ phần sữa Việt Nam
Bảng 2.3: Tóm tắt biến động các chỉ tiêu khi phân tích theo VAS và IAS của các công
Bảng 2.10: Mức độ quan trọng của các BCTC theo đánh giá của nhà đầu tư
Bảng 2.11: Đánh giá của các nhà đầu tư về các đặc điểm chất lượng của BCTC
Bảng 2.13: Bảng tổng kết kỳ vọng của các nhà đầu tư về chất lượng thông tin trên BCTC của các CTNY Việt Nam
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chức năng của kế toán là cung cấp thông tin kinh tế về một tổ chức, những thông tin
kế toán này không những cần thiết cho những người ra quyết định quản lý bên trong doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như các nhà đầu tư, các bên cho vay, cơ quan thuế… Những thông tin kế toán này, được truyền tải tới những người có nhu cầu sử dụng thông tin thông qua hệ thống báo cáo kế toán Hệ thống báo cáo kế toán bao gồm: báo cáo tài chính (cung cấp thông tin chủ yếu cho những đối tượng bên ngoài doanh nghiệp) và báo cáo quản trị (cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán)
Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, các công ty niêm yết đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Các công ty này là nơi huy động vốn trung và dài hạn Các báo cáo tài chính là các công cụ chủ yếu mà nhà đầu tư dựa vào đó để ra quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các nhà đầu tư Vì vậy, yêu cầu nâng cao tính hữu ích của thông tin trên cáo báo cáo tài chính của các công ty niêm yết hiện nay là yêu cầu tất yếu Bên cạnh đó, nền kinh tế Việt Nam đang hòa nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, và lĩnh vực kế toán cũng không nằm ngoài xu thế đó Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn
sự khác biệt giữa những quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán Quốc tế, và chính sự khác biệt này làm cho nhà đầu tư (đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài) có thể đưa ra những đánh giá, nhận định khác nhau về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Do đó, tôi chọn đề tài “Vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế để hoàn thiện báo cáo
tài chính tại các công ty niêm yết Việt Nam nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin cho các nhà đầu tư” làm nội dung nghiên cứu Thông qua tìm hiểu thực trạng báo
cáo tài chính trong phạm vi bài nghiên cứu, tác giả sẽ đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện báo cáo tài chính của các công ty niêm yết Việt Nam, để đảm bảo rằng báo cáo tài chính được thiết lập trên cơ sở tuân thủ một cách nghiêm ngặt các chuẩn mực, các
Trang 11nguyên tắc và thông lệ kế toán được thừa nhận và tuân thủ Pháp luật, hướng đến xu thế hội tụ với kế toán quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng công bố thông tin báo cáo tài chính, từ đó đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư khi đưa ra các quyết định kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ sở lý luận về báo cáo tài chính (BCTC), so sánh những điểm khác biệt về những quy định pháp lý kế toán hiện đang áp dụng tại Việt Nam và chuẩn mực kế toán (CMKT) Quốc tế, mà trực tiếp ảnh hưởng đến các khoản mục trên BCTC của các công ty niêm yết (CTNY), từ đó có tác động tới quyết định của nhà đầu tư
- Tìm hiểu thực trạng tính hữu ích của thông tin trên BCTC, đồng thời khảo sát ý kiến đánh giá của các nhà đầu tư về BCTC các CTNY Việt Nam, để tìm ra các điểm cần hoàn thiện trong nội dung BCTC hiện hành
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện BCTC tại các CTNY Việt Nam, góp phần nâng cao tính hữu ích của thông tin trên BCTC, giúp cho các nhà đầu tư có cái nhìn đầy đủ về các hoạt động trọng yếu, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ
và hiện tại Từ đó dự đoán tình hình tài chính, hiệu quả hoạt động của công ty trong tương lai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu các đối tượng sau:
- Các quy định về pháp lý kế toán liên quan đến việc lập và công bố BCTC tại các CTNY Việt Nam
- Các chuẩn mực kế toán quốc tế chi phối việc lập và công bố BCTC
- Cơ sở lý luận về tính hữu ích của thông tin trên BCTC đối với các nhà đầu tư
- Thực trạng việc lập và công bố BCTC của các CTNY Việt Nam và tính hữu ích của thông tin trên BCTC qua đánh giá của các nhà đầu tư
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 12Do giới hạn trong khuôn khổ của một đề tài, tôi chỉ tập trung giải quyết vấn đề liên quan đến hệ thống báo cáo tài chính các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Việt Nam, chứ không nghiên cứu hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp đặc biệt, công ty bảo hiểm, ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự Ngoài ra đề tài cũng không
trình bày báo cáo tài chính hợp nhất, báo cáo bộ phận
4 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sử dụng phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích để tìm hiểu các quy định về lập và công bố BCTC tại Việt Nam và trên thế giới, cũng như tìm hiểu khuôn mẫu lý thuyết về tính hữu ích của thông tin trên BCTC
- Sử dụng phương pháp so sánh để tìm ra điểm khác biệt trong quy định lập và trình bày BCTC giữa Việt Nam và quốc tế, cũng như minh họa bằng số liệu trên BCTC về
sự khác biệt có ảnh hướng đến quyết định của nhà đầu tư
- Đề tài sử dụng phương pháp phân tích định lượng để đánh giá thực trạng tính hữu ích của thông tin trên BCTC các CTNY Việt Nam đối với các nhà đầu tư
Từ đó, đưa ra các hướng dẫn cụ thể để hoàn thiện BCTC tại các CTNY Việt Nam, với mục tiêu nâng cao tính hữu ích của thông tin tài chính, trong khuôn khổ tuân thủ quy định pháp lý về kế toán của Việt Nam và hướng tới hòa hợp với Chuẩn mực kế toán Quốc tế
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Những đóng góp của đề tài bao hàm về lý luận và thực tiễn, cụ thể:
Về lý luận, đề tài đã giải quyết được những nội dung sau:
- Hệ thống các cơ sở lý luận, các quy định pháp lý về kế toán chi phối việc lập, trình bày và công bố BCTC của các CTNY Việt Nam
- Đánh giá những thành quả và những tồn tại trong các quy định pháp lý về kế toán Việt Nam liên quan đến lập, trình bày và công bố BCTC tại các CTNY Việt Nam
Về thực tiễn, đề tài đóng góp: giúp cơ quan quản lý Nhà nước (cụ thể là Bộ tài chính và
Ủy ban chứng khoán Nhà nước) khi sửa đổi hay ban hành mới các quy định pháp lý về
Trang 13kế toán có liên quan đến lập và trình bày BCTC hay các quy định về công bố thông trên thị trường chứng khoán của các CTNY Việt Nam
6 Tóm tắt các nghiên cứu về tính hữu ích của thông tin trên Báo cáo tài chính với người sử dụng
Tính hữu ích của thông tin trên BCTC là đối tượng được quan tâm của nhiều tổ chức nghề nghiệp, thực hành kế toán và nhà nghiên cứu trên thế giới, bao gồm các nghiên cứu sau:
- Nhóm tác giả Collins, Maydaw và Weiss (1997) trên cơ sở đánh giá hồi quy trong giai đoạn từ 1953 đến 1993 nhận thấy: sự kết hợp giữa giá trị phù hợp của lợi nhuận và giá trị ghi sổ của tài sản không bị suy giảm trong 40 năm qua, thậm chí còn tăng lên
- Nhóm tác giả Francis và Schipper (1996), Eley và Waymire (1996) nói chung đều đồng tình rằng mối liên hệ giữa các biến số của thông tin vốn và các dữ liệu tài chính cũng nhận được sự quan tâm đáng kể
- Nhóm tác giả Baruch Lev và Paul Zarowin (1998) của Đại học Newyork thì có quan điểm ngược lại Theo đó, liên kết chéo giữa cổ tức và lợi nhuận báo cáo và liên quan đến sự hữu ích của thông tin về lợi nhuận đối với các nhà đầu tư đã suy giảm trong hơn hai mươi năm qua và tính nhất quán giữa thông tin được chuyển tải trong lợi nhuận báo cáo và thông tin phù hợp với các nhà đầu tư đã sụt giảm, bất chấp chất lượng của các
dự báo của các nhà phân tích Và cũng theo các tác giả này, do nhiều yếu tố trong môi trường kinh doanh có ảnh hưởng lớn và làm thay đổi hoạt động kinh doanh và giá trị của doanh nghiệp, tuy nhiên thực trạng hệ thống đo lường và xử lý kế toán không thể thích ứng được với sự thay đổi đó Từ nguyên nhân trên, nhóm tác giả cũng đề xuất các giải pháp để ngăn chặn sự giảm sút tính hữu ích của BCTC đó là: vốn hóa các khoản mục đầu tư vô hình và trình bày lại có hệ thống bộ BCTC hiện hành
- Nhóm tác giả Deaves, Dine and Horton (2006) thực hiện một cuộc khảo sát ý kiến của các nhà đầu tư cá nhân Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, trái với quan điểm cho rằng các nhà đầu tư cá nhân thường sử dụng các nguồn thông tin trung gian như các
Trang 14chuyên gia tư vấn, thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng, dịch vụ cung cấp
dữ liệu, để ra quyết định kinh tế, thì cuộc khảo sát với sự tham gia của 1600 nhà đầu
tư cá nhân, 56% trong số các đối tượng khảo sát cho biết họ sử dụng BCTC để ra quyết định kinh tế, và 50% trong số các nhà đầu tư này đánh giá BCTC là hữu ích
- Nghiên cứu của tác giả Lawrence (2011), đại học Toroto, Canada về tính hữu ích của thông tin trên BCTC đối với các nhà đầu tư cá nhân BCTC đã cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư cá nhân trong việc dự đoán dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp Bên cạnh đó, tác giả đã tiếp cận tính hữu ích của BCTC trên cơ sở đo lường chất lượng thông tin trên BCTC dựa trên các yếu tố: tính có thể hiểu được, độ dài của BCTC và các chỉ tiêu, thông số tài chính Qua nghiên cứu, kết quả cho thấy rằng, khi tiêu chí chất lượng “có thể hiểu” bị giảm sút, cùng với việc gia tăng độ dài của BCTC thì tính hữu ích của thông tin trên BCTC cũng bị giảm Đối với các thông số tài chính , khi các chỉ tiêu này được trình bày càng ngắn gọn, chặt chẽ và minh bạch thì sẽ làm gia tăng tính hữu ích của thông tin trên BCTC đối với nhà đầu tư
- Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Nguyễn Phúc Sinh (2008) - Nâng cao tính hữu ích
c ủa BCTC doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Theo kết quả khảo sát ý
kiến nhà đầu tư được tiến hành trong nghiên cứu, tính hữu ích của thông tin trên BCTC
bị giảm sút do có nhiều ý kiến nhà đầu tư đánh giá là chưa đáng tin cậy, thiếu thông tin, nặng tính hình thức và trong các mặt cần được xem xét sửa đổi, bổ sung thì công
bố thông tin được các nhà đầu tư quan tâm nhiều nhất
- Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Cúc (2009) Hoàn thiện hệ thống
BCTC doanh nghi ệp nhằm phù hợp với yêu cầu hội nhập và phát triển kinh tế của Việt
Nam – trong nghiên cứu có tiến hành khảo sát phản ánh nhận thức chung của các đối tượng tác động đến BCTC: doanh nghiệp, nhà đầu tư và giảng viên chuyên ngành Đặc biệt, nghiên cứu có tiến hành khảo sát ý kiến đánh giá của nhà đầu tư về tình hình thông tin trên BCTC phục vụ ra quyết định đầu tư Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng,
Trang 15BCTC chưa đáp ứng được thông tin hữu ích cho nhà đầu tư xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: thiếu trung thực, chưa thích hợp hoặc thông tin chưa đầy đủ
Như vậy có thể thấy rằng tính hữu ích của thông tin trên BCTC là đối tượng được quan tâm nghiên cứu của nhiều tổ chức nghề nghiệp, thực hành kế toán và nhà nghiên cứu Thông tin trên BCTC đóng vai trò quan trọng đối với những đối tượng sử dụng nói chung và các nhà đầu tư nói riêng Hầu hết BCTC đều có ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư, tuy nhiên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau thì BCTC chưa phát huy tối đa được tính hữu ích và cần có những biện pháp hoàn thiện để nâng cao tính hữu ích của thông tin trên BCTC Sau khi tìm hiểu các nghiên cứu trước đây, hầu hết tính hữu ích của thông tin được nghiên cứu trong phạm vi khá rộng, ở nhiều loại hình doanh nghiệp, với nhiều đối tượng sử dụng khác nhau Do đó, trong đề tài này tác giả đặc biệt tập trung nghiên cứu BCTC của các CTNY Việt Nam và tính hữu ích của BCTC đối với đối tượng sử dụng là nhà đầu tư
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Tổng quan về Báo cáo tài chính và tính hữu ích của thông tin trên Báo cáo tài chính
Chương 2: Thực trạng Báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết Việt Nam
Chương 3: Vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế để hoàn thiện Báo cáo tài chính tại công ty niêm yết Việt Nam nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin cho các nhà đầu
tư
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ TÍNH HỮU ÍCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Báo cáo tài chính (BCTC) là sản phẩm hoàn chỉnh của quy trình kế toán tài chính, được tạo ra nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng BCTC là công
cụ truyền tải thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động và các thông tin khác của một doanh nghiệp
Tính hữu ích của BCTC thể hiện ở những lợi ích mà người sử dụng BCTC có được thông qua các thông tin mà BCTC cung cấp, chính là khả năng giúp ích cho việc ra quyết định kinh tế Luận văn tập trung nghiên cứu tính hữu ích của BCTC cho đối tượng sử dụng là nhà đầu tư để ra quyết định kinh tế
1.1 BẢN CHẤT CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1.1 Theo quan điểm của Việt Nam
- Theo Chuẩn mực kế toán số 21- Trình bày BCTC – BCTC phản ánh theo một cấu trúc
chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp Mục đích của BCTC là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng cho nhu cầu hữu ích cho số đông người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế
- Theo Luật kế toán (2003) – Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng BCTC cho đối tượng có nhu cầu sử dụng BCTC được lập theo Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán, dùng để tổng hợp và thuyết minh về tình hình kinh tế, tài chính của đơn vị
- Theo Chế độ kế toán – BCTC dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế
Trang 17Như vậy, bản chất của BCTC là phản ánh sự kết hợp của hai yếu tố: những sự kiện kinh tế xảy ra trong quá khứ và các nguyên tắc kế toán được thừa nhận Từ sự kết hợp của hai yếu tố này, BCTC là công cụ phản ánh thông tin kinh tế, tài chính của doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng sử dụng như Nhà nước, chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài khác
1.1.2 Theo quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB)
- Theo CMKT quốc tế số 01 - IAS 01 (2007) Presentation of Financial Statements: Theo đoạn 9 của IAS 01 - Mục tiêu của BCTC là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động và những thay đổi trong tình hình tài chính của một doanh nghiệp Các thông tin trên hữu ích cho nhiều đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, BCTC phải cung cấp được các thông tin về tài sản,
nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí cũng như các dòng tiền của một doanh nghiệp
- Theo IFRS Framework (2010) – Conceptual Framework for Financial Reporting 2010: Đối tượng sử dụng thông tin của BCTC là các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, các bên cho vay Các đối tượng này sử dụng thông tin trên BCTC để đưa ra các quyết định liên quan đến việc mua, bán, hoặc nắm giữ các công cụ vốn chủ sở hữu và các công cụ nợ, quyết định cho vay, thanh toán các khoản nợ và các dạng thức cấp tín dụng khác
Các yếu tố liên quan đến “tình hình tài chính” được trình bày trên Bảng cân đối kế toán, “kết quả hoạt động” được trình bày trên Báo cáo thu nhập và “sự thay đổi tình hình tài chính” được trình bày trên Báo cáo các dòng tiền
Như vậy, bản chất của BCTC là những tài liệu được soạn thảo nhằm cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho việc ra quyết định kinh tế Theo quan điểm của IASB, đối tượng
Trang 18sử dụng BCTC khá rộng, tuy nhiên IASB cũng xác định rõ đối tượng ưu tiên cung cấp thông tin là nhà đầu tư và chủ nợ
1.2 CÁC ĐỐI TƯỢNG PHỤC VỤ CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ
1.2.1 Đối tượng phục vụ của BCTC
Theo Luật kế toán Việt Nam (2003), đối tượng phục vụ của BCTC được đề cập trong
Luật là “đối tượng có nhu cầu thông tin của đơn vị kế toán”, hay theo CMKT Việt Nam số 01- Chuẩn mực chung là “người sử dụng BCTC”, và theo CMKT Việt Nam số
21 – Trình bày BCTC “số đông người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh
tế”
Như vậy, theo những quy định Pháp lý về kế toán hiện đang áp dụng ở Việt Nam, đối tượng phục vụ của thông tin trên BCTC không được nêu rõ chi tiết, tất cả các bên có nhu cầu sử dụng thông tin đều là đối tượng phục vụ của BCTC
BCTC là nguồn thông tin quan trọng không chỉ đối với nội bộ doanh nghiệp mà còn phục vụ chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như: các cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà đầu tư hiện tại, các nhà đầu tư tiềm năng, các bên cho vay, … Mỗi đối tượng sử dụng yêu cầu loại thông tin nào tùy thuộc vào các loại quyết định mà đối tượng đó cần đưa ra
- Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: các nhà quản lý cần công khai các thông tin trên BCTC định kỳ về hoạt động của doanh nghiệp nhằm thể hiện cho các nhà đầu tư biết doanh nghiệp đang có mức lợi nhuận cao nhất và rủi ro thấp nhất Mặt khác, thông tin thể hiện trên BCTC cũng giúp các nhà quản lý trong công tác quản lý, điều hành hoạt động sản xuất của đơn vị
- Đối với các cơ quan Nhà nước (như cơ quan Thuế, Thống kê): BCTC cung cấp thông tin cần thiết cho việc thực hiện các chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế; giúp cho việc kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan tài chính Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như là cơ sở tính thuế hay các
Trang 19khoản phải nộp khác của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nước Mặt khác, thông tin cung cấp từ BCTC còn thể hiện tình hình thực hiện các nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước
- Nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng hay chủ nợ có xu hướng quan tâm đến BCTC để thực hiện các quyết định đầu tư và cho vay Các đối tượng này cần thông tin trên BCTC để đưa ra quyết định đầu tư, cho vay, sau đó dựa vào BCTC sẽ thực hiện việc giám sát và bắt buộc nhà quản lý thực hiện theo đúng hợp đồng, cam kết
Theo quan điểm của Quốc tế, BCTC cung cấp thông tin hữu ích cho các quyết định kinh tế “Mục đích của BCTC là cung cấp thông tin của đơn vị báo cáo, đây là những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư và chủ nợ hiện tại và tiềm năng để ra các quyết định cung cấp nguồn lực cho đơn vị Các quyết định này liên quan đến việc mua, bán, hoặc nắm giữ các công cụ vốn chủ sở hữu và các công cụ nợ, quyết định cho vay, thanh toán các khoản nợ và các dạng thức cấp tín dụng khác” Theo mục OB2, Conceptual Framework
Như vậy có thể thấy rằng, về quan điểm “đối tượng phục vụ của BCTC” có sự khác biệt giữa quy định của Việt Nam và quốc tế Cụ thể: khuôn mẫu lý thuyết hiện tại của IASB khẳng định “nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng” là đối tượng ưu tiên phục vụ, còn quy định của Việt Nam hướng tới nhiều nhóm đối tượng phục vụ, tất cả những người
có nhu cầu sử dụng thông tin để ra các quyết định kinh tế
1.2.2 Vai trò thông tin trên BCTC đối với các nhà đầu tư
1.2.2.1 Lợi ích mang lại cho các nhà đầu tư từ việc sử dụng BCTC
Các nhà đầu tư được đề cập đến trong nghiên cứu bao gồm cả nhà đầu tư hiện hữu và nhà đầu tư tiềm năng Đối với nhà đầu tư hiện hữu, họ quan tâm đến khả năng ổn định tài chính, phát sinh lợi nhuận, cũng như thu nhập của doanh nghiệp có thể tăng hoặc giảm như thế nào trong tương lai Đối với những nhà đầu tư tiềm năng, họ quan tâm đến thành tựu của doanh nghiệp làm được trong năm hiện tại cũng như quá khứ, để họ đưa ra quyết định đầu tư vào doanh nghiệp đó hay không Chính những mục tiêu như
Trang 20vậy, các nhà đầu tư sẽ khai thác tất cả các nguồn thông tin để phân tích đánh giá Đến nay, nguồn thông tin tài chính mà được phần đông các nhà đầu tư quan tâm, sử dụng đến chính là BCTC của các doanh nghiệp Khi xây dựng danh mục đầu tư, và ra quyết định đầu tư vào một doanh nghiệp, hàng loạt các thông tin trên BCTC sẽ được nhà đầu
tư tiếp cận, phân tích và đánh giá trực tiếp Việc nghiên cứu các mối quan hệ, các tỷ suất giữa các chỉ tiêu trên BCTC chưa đánh giá đầy đủ bản chất tài chính của một doanh nghiệp, nhưng giúp cho nhà đầu tư mô tả tình trạng tài chính của doanh nghiệp
đó, năng suất hoạt động và khả năng sinh lợi tương ứng Đây là vai trò vô cùng quan
trọng của BCTC đối với quyết định kinh tế của nhà đầu tư
Thông tin tài chính chứa đựng các lợi ích trình bày như trên là do bản chất của thông
tin trên BCTC chứa đựng yếu tố giá trị dự báo, và giá trị so sánh:
- Giá trị dự báo của thông tin tài chính: Tiếp cận, nghiên cứu, phân tích thông tin
BCTC trong quá khứ của một doanh nghiệp sẽ giúp nhà đầu tư đánh giá được tương lai
tài chính của doanh nghiệp đó, là cơ sở cho các kỳ vọng của nhà đầu tư
- Giá trị so sánh: Thông tin trên BCTC hiện nay khá nhất quán, do hầu hết các khoản
mục trên BCTC được ghi nhận, đo lường và trình bày theo những quy định về pháp lý
kế toán như: Luật, chuẩn mực và chế độ kế toán Do đó các nhà đầu tư có thể so sánh BCTC giữa các doanh nghiệp trong nước để lựa chọn doanh nghiệp sẽ đầu tư Mặt khác, sự khác biệt trong quy định về kế toán giữa Việt Nam và quốc tế ngày càng thu hẹp dần, nên việc so sánh thông tin trên BCTC các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài cho phép nhà đầu tư xây dựng được danh mục đầu tư hiệu quả
1.2.2.2 Các chỉ tiêu tài chính thường sử dụng khi phân tích
Trong quá trình ra quyết định, nhà đầu tư tổng hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau có liên quan đến tình hình kinh doanh và triển vọng của doanh nghiệp Trong đó, thông tin
kế toán đóng vai trò hết sức quan trọng đối với nhà đầu tư, được sử dụng trong phân tích để đưa ra các quyết định Phân tích BCTC bao gồm: (a) so sánh tình hình hoạt động của công ty và công ty khác; và (b) đánh giá xu hướng phát triển của công ty Chỉ
Trang 21số tài chính giúp nhà đầu tư phân tích, tìm ra được xu hướng phát triển của doanh nghiệp cũng như giúp nhà đầu tư kiểm tra được tình hình sức khỏe tài chính của doanh
nghiệp Dưới đây là một số chỉ tiêu tài chính thường được dùng trong phân tích BCTC:
- Thu nh ập trên mỗi cổ phiếu (EPS): Đây là một chỉ tiêu rất được các nhà đầu tư quan
tâm, chỉ số này cho biết thu nhập trên mỗi cổ phiếu là bao nhiêu Chỉ số này càng cao thì càng được đánh giá tốt
EPS = Lãi/lỗ phân bổ cho cổ đông phổ thông/Tổng số cổ phiếu phổ thông lưu hành
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): Chỉ số này cho biết bao nhiêu đồng lợi
nhuận sau thuế được tạo ra từ một đồng vốn chủ sở hữu Thông thường chỉ tiêu này hay được dùng để so sánh với năm trước Chỉ số này phụ thuộc vào từng ngành cụ thể
ROE = Tổng lợi nhuận sau thuế/Tổng nguồn vốn chủ sở hữu
H ệ số giá thu nhập trên một cổ phiếu (P/E): Là hệ số dùng để đánh giá đo lường mối
liên hệ giữa thu nhập hiện tại và giá mỗi cổ phiếu, hay cho biết nhà đầu tư sẵn sàng trả
giá cho mỗi cổ phiếu cao hơn mức thu nhập hiện tại bao nhiêu lần
T ỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): ROA = Tổng lợi nhuận sau thuế/Tổng tài
sản Chỉ tiêu này cho biết công ty tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận từ một đồng tài
sản
T ỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu: Tỷ số nợ = Tổng nợ phải trả/Tổng nguồn vốn Tổng nợ
bao gồm tất cả các khoản nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Các nhà đầu tư thường dựa vào đây để đánh giá rủi ro tài chính của một doanh nghiệp Tỷ số này càng cao sẽ làm nguy
cơ vỡ nợ cao
T ỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Tổng lợi nhuận sau thuế/Tổng doanh thu Chỉ tiêu
này sẽ cho nhà đầu tư thấy được một đồng doanh thu sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận cho cổ đông
Ngoài ra các chỉ số tài chính về khả năng thanh toán cũng được các nhà đầu tư quan
tâm bao gồm chỉ số khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán nhanh
Trang 22Tỷ số khả năng thanh toán ngắn hạn = Tổng tài sản lưu động/Tổng nợ ngắn hạn, tỷ số này đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty bằng cách bán tài sản lưu động để trang trải cho các khoản nợ có thời gian đáo hạn nhỏ hơn một năm Tỷ số này cũng giúp cho các nhà đầu tư đánh giá xem khả năng công ty có dễ dẫn tới việc bị phá
sản hay không
T ỷ số khả năng thanh toán nhanh = (Tổng tài sản lưu động – Hàng tồn kho)/Tổng nợ
ngắn hạn Tỷ số này đo lường khả năng trả nợ ngắn hạn mà không tính tới các tài sản
có thể bị giảm giá hoặc khó bán Hàng tồn kho thông thường có tính thanh toán kém nhất trong các tài sản lưu động của công ty Vì vậy chúng là tài sản có khả năng bị thiệt hại giá trị trong trường hợp thanh lý Do vậy, thước đo khả năng chi trả các khoản nợ
ngắn hạn không cần đến việc bán hàng tồn kho là một yếu tố quan trọng
1.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH HỮU ÍCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.3.1 Tính hữu ích của BCTC theo quan điểm của chuẩn mực kế toán Việt Nam
Do bản chất và vai trò của BCTC gắn liền với việc cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng, do đó tính hữu ích của BCTC cũng chính là tính hữu ích của thông tin
kế toán được trình bày trên BCTC Để BCTC có được tính hữu ích, thì thông tin trên BCTC phải đáp ứng được yêu cầu cơ bản đối với kế toán đó là: trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể so sánh
- Trung thực: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh (Đoạn 10, VAS 01)
- Khách quan: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng thực
tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo (Đoạn 11, VAS 01)
- Đầy đủ: mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bỏ sót (Đoạn 12, VAS 01)
Trang 23- Kịp thời: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước hạn quy định, không được chậm trễ (Đoạn 13, VAS 01)
- Dễ hiểu: các thông tin và số liệu trình bày trong báo BCTC phải rõ ràng, dễ hiểu đối
với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình Thông tin về những vấn đề phức tạp phải được trình bày trong phần thuyết minh (Đoạn 14, VAS 01)
- Có thể so sánh được: các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong thuyết minh để người sử dụng BCTC có thể so sánh thông tin giữa các kỳ, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện và thông tin dự toán kế hoạch (Đoạn 15, VAS 01)
Các yêu cầu này, phải được thực hiện đồng bộ
Bên cạnh đó, việc lập và trình bày BCTC phải tuân thủ các yêu cầu quy định tại VAS
21 – Trình bày BCTC, như sau:
BCTC phải trình bày trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý, BCTC phải được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các CMKT, chế độ kế toán và các
quy định về kế toán có liên quan hiện hành
Doanh nghiệp cần nêu rõ trong phần Thuyết minh BCTC là BCTC được lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực và chể độ kế toán Việt Nam Điều này có nghĩa là BCTC phải tuân thủ mọi quy định cùa từng Chuẩn mực, của Chế độ kế toán, và các hướng
dẫn của Bộ tài chính
Để lập và trình BCTC trung thực và hợp lý doanh nghiệp phải thực hiện các quy định
sau
- Lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán phù hợp
- Trình bày các thông tin, kể cả chính sách kế toán, nhằm cung cấp thông tin phù hợp,
đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu
Trang 24- Cung cấp các thông tin bổ sung khi quy định trong CMKT không đủ để giúp cho
người sử dụng hiểu được tác động của những giao dịch hoặc những sự kiện cụ thể đến tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Như vậy, mặc dù không có một chuẩn mực hay một hướng dẫn cụ thể nào về “tính hữu ích của BCTC” nhưng do bản chất và vai trò của kế toán, nên tính hữu ích của BCTC cũng là tính hữu ích của thông tin kế toán được trình bày trên BCTC Để trở nên hữu ích, thì thông tin phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cơ bản, thể hiện được tính chất đặc trưng, đây cũng chính là đặc điểm chất lượng của BCTC Thông tin của BCTC chỉ hữu ích khi thông tin kịp thời, đáng tin cậy, dễ hiểu và người sử dụng có thể dễ dàng tiếp
cận nguồn thông tin
1.3.2 Tính hữu ích của thông tin theo quan điểm quốc tế
Theo quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ (FASB: (Khái niệm
2, đoạn 31, 32) các đặc trưng của thông tin giúp thông tin trở nên quý giá, để thông tin
tài chính trở nên hữu ích, thông tin tài chính phải thể hiện được từng tính chất trong một chừng mực tối thiểu và những thông tin kế toán phải được định hướng đến người
sử dụng để ra quyết định Hệ thống các tính chất của thông tin kế toán được phân định thành tính chất sơ cấp và tính chất khác, trong đó sự phù hợp và đáng tin cậy là hai đặc điểm chất lượng quan trọng nhất
- Tính phù hợp: để phù hợp, thông tin kế toán phải tạo ra được sự khác biệt trong quyết định qua việc giúp người sử dụng thông tin thực hiện thiết lập các dự báo về kết quả các sự kiện trong quá khứ, hiện tại hay tương lai (Khái niệm 2, Đoạn 47)
Tính phù hợp của thông tin trên BCTC thể hiện ở hai đặc tính của thông tin đó là giá trị
dự báo và giá trị phản hồi, ngoài ra còn một yếu tố khác của tính phù hợp đó là tính kịp thời, vì nếu thông tin không sẵn có khi cần thì sẽ không còn “tính phù hợp” của thông tin tài chính
Trang 25- Tính đáng tin cậy: thông tin kế toán đáng tin cậy khi người sử dụng thông tin có thể đặt niềm tin vào đó để ra quyết định Tính đáng tin cậy bao gồm các đặc trưng là: trình bày trung thực, có thể kiểm tra, và tính trung lập (Khái niệm 2, đoạn 62)
Và cũng theo quan điểm của FASB, tính hữu ích của thông tin trên BCTC sẽ gia tăng khi thông tin này có thể so sánh được, so sánh trong nội bộ doanh nghiệp qua các thời
kỳ, hoặc giữa các doanh nghiệp để có cơ sở trong phân tích, tìm hiểu các dữ liệu kế toán, từ đó có thể đưa ra quyết định kinh tế tối ưu (Khái niệm 2, đoạn 112)
Theo Hội đồng Chuẩn mực kế toán tài chính Quốc tế (IASB)
Theo IFRS Framework (2010) – Conceptual Framework for Financial Reporting 2010,
có hai đặc tính cơ bản làm cho thông tin trên BCTC trở nên hữu ích cho các đối tượng
sử dụng đó là tính phù hợp và trình bày trung thực
- Tính phù hợp: tính phù hợp của thông tin tài chính là khả năng thông tin này có thể làm cho người sử dụng BCTC đưa ra các quyết định khác biệt Tính phù hợp thể hiện ở giá trị dự đoán và giá trị xác nhận của thông tin tài chính
- Trình bày trung thực: mục tiêu chung của BCTC là trình bày các hiện tượng kinh tế qua ngôn ngữ và số liệu Để hữu ích, thông tin trên BCTC không chỉ “phù hợp” là đủ
mà phải trình bày trung thực các hiện tượng kinh tế này
Ngoài hai đặc tính cơ bản làm thông tin trên BCTC hữu ích thì IASB còn đưa ra 4 đặc tính của thông tin tài chính góp phần làm tăng tính hữu ích của thông tin Đó là:
- Tính có thể so sánh: thể hiện ở đặc tính giúp người sử dụng có thể phân tích và đưa quyết định do so sánh thông tin BCTC qua các kỳ của một doanh nghiệp hoặc là giữa các doanh nghiệp với nhau
- Kiểm chứng: đặc tính kiểm chứng được là đặc tính đảm bảo cho đối tượng sử dụng biết là BCTC được trình bày trung thực các hiện tượng kinh tế phát sinh
- Tính kịp thời: đó là thông tin phải sẵn có, đúng lúc cho việc ra quyết định, và các thông tin này có ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng
Trang 26- Tính có thể hiểu được: thông tin phải được trình bày theo cách thức sao cho những người có trình độ nhận thức tương đối về kinh doanh, hoạt động kinh tế, kế toán và những người để tâm nghiên cứu thông tin có thể dễ dàng hiểu được
Ngoài ra, IASB cũng đề cập đến mối quan hệ lợi ích và chi phí: chi phí là một yếu tố làm hạn chế tính hữu ích của thông tin trên BCTC
Như vậy, qua nghiên cứu quan điểm của các tổ chức nghề nghiệp, thực hành kế toán có thể thấy có nhiều cách tiếp cận về tính hữu ích của BCTC Tuy nhiên, vẫn có những điểm chung tương đồng liên quan đến lý luận về tính hữu ích của BCTC
Do bản chất và vai trò của BCTC gắn liền với việc cung cấp thông tin tài chính, hữu ích cho người sử dụng ra quyết định kinh tế BCTC là bức tranh toàn cảnh, thể hiện tình hình tài chính, khả năng tạo ra lợi nhuận, khả năng tạo ra tiền của một doanh nghiệp Từ bức tranh này mà người sử dụng sẽ đưa ra các quyết định kinh tế, tùy thuộc vào đánh giá của người sử dụng sau khi đọc và phân tích BCTC Tính hữu ích của BCTC cũng là tính hữu ích của thông tin kế toán được trình bày trên BCTC Để trở nên hữu ích, thông tin phải thể hiện được tính chất đặc trưng, đây cũng chính là đặc điểm chất lượng của BCTC Thông tin của BCTC chỉ hữu ích khi thông tin kịp thời, đáng tin
cậy, dễ hiểu và người sử dụng có thể dễ dàng tiếp cận nguồn thông tin
Tuy nhiên vấn đề cân đối lợi ích – chi phí luôn được quan tâm Và chính vấn đề lợi ích – chi phí trong một số hoàn cảnh, trường hợp cụ thể đã góp phần làm giảm tính hữu ích của thông tin tài chính trên BCTC Khó khăn này có thể từ phía bên cung cấp thông tin, như tốn quá nhiều chi phí để thu thập, xử lý và lập BCTC Mặt khác, khó khăn này cũng có thể xuất phát từ phía người sử dụng thông tin như chi phí thu thập, xử lý, phân tích, và loại bỏ thông tin thừa,… Những trường hợp như vậy, thì chi phí của việc cung cấp và sử dụng thông tin vượt quá lợi ích mang lại thì tính hữu ích của thông tin trong
BCTC bị giảm sút
Trang 27Như vậy, hữu ích là thuộc tính của BCTC, tuy nhiên thông tin trên BCTC trở nên hữu ích với nhà đầu tư, các bên cho vay và các đối tượng khác là do những đặc tính vốn có của thông tin trên BCTC như dễ hiểu, phù hợp và có thể so sánh được
Để BCTC tạo ra, cũng như phát huy được tính hữu ích, trước tiên BCTC phải được các nhà đầu tư tin tưởng và sử dụng Niềm tin chỉ có được khi BCTC thể hiện thuộc tính là đáng tin cậy, trung thực, khách quan và đầy đủ Bên cạnh đó, thông tin phải dễ hiểu và
có thể so sánh được Khi ba điều kiện nêu trên được thỏa mãn, cộng với việc tính toán cân đối lợi ích, chi phí thì BCTC là phương tiện phân tích, đánh giá tình hình tài chính quan trọng giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn
1.4 TỔNG QUAN SỰ KHÁC BIỆT VỀ QUY ĐỊNH LẬP VÀ TRÌNH BÀY BCTC CỦA VIỆT NAM SO VỚI QUỐC TẾ VÀ QUÁ TRÌNH HỘI TỤ KẾ TOÁN QUỐC TẾ
1.4.1 Khác biệt về quy định liên quan đến lập và trình bày BCTC
- Về mặt số lượng, so với số lượng CMKT quốc tế đã được ban hành thì số lượng CMKT Việt Nam ít hơn
- Về hệ thống tài khoản và hệ thống BCTC:
+ Theo thông lệ quốc tế, không yêu cầu bắt buộc tất cả các doanh nghiệp phải sử dụng chung các biểu mẫu BCTC giống nhau, hoặc chung một hệ thống tài khoản Hệ thống tài khoản sẽ do doanh nghiệp tự xây dựng phù hợp với đặc điểm, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
+ Chế độ kế toán Việt Nam đưa ra hệ thống tài khoản kế toán thống nhất, biểu mẫu BCTC bắt buộc cho tất cả các doanh nghiệp áp dụng Theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006, khi xây dựng hệ thống tài khoản, doanh nghiệp phải tuân thủ đúng nội dung, kết cấu và phương pháp hạch toán của tài khoản cấp 1 và cấp 2 Cũng theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC, hệ thống BCTC phải tuân thủ theo mẫu biểu của
Bộ tài chính ban hành (Trần Xuân Nam , 2010)
Trang 281.4.2 Quá trình hội tụ kế toán Quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam.
Quá trình hội tụ kế toán quốc tế ngày càng được sự quan tâm của các tổ chức quốc tế
về kế toán cũng như các quốc gia trên thế giới Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) đang nhanh chóng trở thành thước đo chung trong giới kế toán, tài chính Theo điều tra được thực hiện bởi công ty kiểm toán Deloitte (2010) với 173 quốc gia, kết quả cho thấy 123 quốc gia bắt buộc và yêu cầu áp dụng IAS/IFRS Tuy cách thức vận dụng
và phương pháp tiếp cận khác nhau, các quốc gia, các khu vực đang hướng tới mục tiêu chung hội tụ kế toán quốc tế, để IFRS là ngôn ngữ tài chính chung được sử dụng toàn cầu Tiến trình hội tụ kế toán quốc tế hiện nay vẫn còn gặp phải một số khó khăn như sự khác biệt về môi trường kinh doanh, pháp lý và văn hóa của mỗi quốc gia, tuy nhiên không thể phủ nhận rằng, hội tụ kế toán quốc tế là một xu thế tất yếu, khách quan Kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, do đó Việt Nam không thể đứng ngoài xu hướng hội tụ kế toán quốc tế Những nước sớm triển khai áp dụng IFRS, cũng như sớm có kế hoạch công bố lộ trình hướng tới hội tụ kế toán quốc tế như: Liên minh Châu Âu (năm 2000), Mỹ (năm 2005) , Úc (năm 2005), Trung Quốc (năm 2007)…
Hiện nay các nước trong khu vực Đông Nam Á, Singapore gần như áp dụng toàn bộ IFRS, Philippines thì áp dụng IFRS có điều chỉnh, Thái Lan đang chuyển đổi sang IFRS trong giai đoạn 2011 đến năm 2013, Campuchia áp dụng IFRS từ năm 2012 Tại nước ta, mặc dù có nhiều thách thức, khó khăn cho việc áp dụng IFRS như: xây dựng đội ngũ nhân viên kế toán và tài chính có năng lực, thị trường Việt Nam chưa đủ phát triển để thực hiện một số yêu cầu của CMKT Quốc tế như giá trị hợp lý, chi phí đầu tư ban đầu khá lớn (Đặng Quốc Tuấn, 2012) …tuy vậy Bộ tài chính đang trong quá trình xây dựng các chuẩn mực mới theo CMKT Quốc tế và cập nhật các chuẩn mực hiện hành để phù hợp với điều kiện kinh tế nước ta, và hướng tới hòa hợp với CMKT Quốc
tế
Trang 29Kết luận chương 1
BCTC là công cụ phản ánh thực trạng tài chính và tình hình kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp BCTC đóng vai trò rất quan trọng trong cả công tác quản lý nội bộ, cũng như cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài Trong phạm vi chương 1, luận văn đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận của hệ thống BCTC như khái niệm, mục đích, và tính hữu ích của BCTC đối với nhà đầu tư Trong xu hướng hội nhập kinh tế của Việt Nam, thì hội nhập trong lĩnh vực kế toán là một yêu cầu khách quan Do đó tìm hiểu về hệ thống CMKT quốc tế, so sánh những khác biệt, cũng như xem xét tiến trình hòa hợp CMKT quốc tế sẽ là tiền đề, là cơ sở cho việc xem xét đánh giá thực trạng hệ thống BCTC của các CTNY hiện nay, từ đó góp phần làm gia tăng tính hữu ích của thông tin trên BCTC cho các nhà đầu tư
Trang 30CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM
Trong chương 1, tác giả đã trình bày những vấn đề lý thuyết, bao gồm cơ sở lý luận về Báo cáo tài chính nói chung theo quan điểm của Việt Nam và quốc tế Bên cạnh đó, luận văn cũng trình bày về tính hữu ích của thông tin trên BCTC đối với các nhà đầu
tư Trong chương này, tác giả đi sâu nghiên cứu các vấn đề thực tế liên quan đến tính hữu ích của thông tin trên BCTC của CTNY Việt Nam như: thực trạng BCTC, các quy định kế toán về lập, trình bày BCTC và công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
2.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC SOẠN THẢO, TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Có thể nói rằng sau khi Chế độ kế toán doanh nghiệp được Bộ tài chính ban hành năm
2006 theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC, hệ thống BCTC thể hiện tính đầy đủ và có tính hệ thống nhất từ trước tới nay, khắc phục được nhiều hạn chế như sự thiếu đồng
bộ, quá tải về số lượng báo cáo hay chưa thực sự cung cấp thông tin hữu ích,… của các giai đoạn trước Hiện nay, quy trình soạn thảo, trình bày BCTC được quy định bởi một khung pháp lý tương đối đầy đủ và thống nhất, bao gồm: Luật kế toán, chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán, các văn bản pháp lý hướng dẫn việc thực hiện các CMKT và các nội dung khác liên quan đến kế toán do Bộ tài chính ban hành, và các luật, quy định, chế độ của bộ, ngành, Định hướng phát triển kế toán Việt Nam là tính tuân thủ pháp luật, nên hoạt động kế toán cũng như việc soạn thảo, trình bày BCTC luôn được đặt
trong khuôn khổ pháp lý chặt chẽ
2.1.1 Luật kế toán
Năm 2003, với mục tiêu thống nhất quản lý kế toán, đảm bảo kế toán là công cụ quản
lý, giám sát chặt chẽ, có hiệu quả mọi hoạt động kinh tế, tài chính, cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực, kịp thời, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý điều hành của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân, Quốc hội khóa XI
đã ban hành Luật kế toán (Luật số: 03/2003QH11) – là văn bản pháp lý cao nhất về kế
Trang 31toán, có hiệu lực từ ngày 01/01/2004 Theo Mục 3, của Luật kế toán quy định rõ mục đích và nội dung của BCTC, yêu cầu lập, thời hạn nộp và nội dung, hình thức và thời
hạn công khai BCTC Cụ thể:
- Điều 29.1, mục đích của BCTC: tổng hợp và thuyết minh về tình hình kinh tế, tài chính
của đơn vị kế toán
- Điều 29.3, các bộ phận của BCTC: gồm Bảng CĐKT, Báo cáo KQHĐKD, Báo cáo
LCTT và Thuyết minh BCTC
- Yêu cầu lập và trình bày BCTC: theo điều 30.1 Luật kế toán, đơn vị kế toán phải lập
BCTC vào cuối kỳ kế toán năm; trường hợp pháp luật có quy định lập BCTC theo kỳ
kế toán khác thì đơn vị kế toán phải lập theo kỳ kế toán đó; và theo điều 30.3 Luật kế toán, BCTC phải được lập đúng nội dung, phương pháp và trình bày nhất quán giữa các kỳ kế toán; trường hợp BCTC trình bày khác nhau giữa các kỳ kế toán thì phải
thuyết minh rõ lý do
- Nội dung, hình thức và thời hạn công khai BCTC: được quy định cụ thể trong điều 32
và điều 33 của Luật kế toán
Theo điều 32.2, nội dung công khai BCTC của đơn vị kế toán thuộc hoạt động kinh doanh gồm: tình hình tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu, kết quả hoạt động kinh
doanh, trích lập và sử dụng các quỹ, thu nhập của người lao động
Theo điều 33.1, các hình thức công khai BCTC: phát hành ấn phẩm, thông báo bằng
văn bản, niêm yết, các hình thức khác theo quy định của pháp luật
2.1.2 Chuẩn mực kế toán
Các CMKT quy định những nguyên tắc và phương pháp cơ bản làm cơ sở cho việc ghi
chép kế toán và lập BCTC
(1) CMKT s ố 01 (VAS 01)– Chuẩn mực chung
Với mục đích là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và yêu cầu cơ bản đối với kế toán, các yếu tố của BCTC, chuẩn mực cũng trình bày những hướng dẫn cơ bản trong việc ghi nhận các yếu tố của BCTC, cụ thể:
Trang 32- Các nguyên tắc cơ bản của kế toán: kế toán phải tuân thủ các nguyên tắc cơ sở dồn
tích, giá gốc, phù hợp, nhất quán, thận trọng và trọng yếu
- Các yêu cầu cơ bản của kế toán bao gồm: trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ
hiểu và có thể so sánh
- Các yếu tố của BCTC: gồm các yếu tố liên quan trực tiếp đến xác định tình hình tài chính trong Bảng CĐKT (tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu) và các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh trong Báo cáo KQHĐKD
(doanh thu, thu nhập khác, chi phí và kết quả kinh doanh)
- Ghi nhận các yếu tố của BCTC: chuẩn mực cũng trình bày những hướng dẫn cơ bản, cũng như điều kiện ghi nhận các yếu tố tài sản, nợ phải trả, doanh thu và thu nhập
trong việc đưa ra các quyết định kinh tế
- Yêu cầu lập và trình bày BCTC: trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp Để đảm bảo yêu cầu trung thực, hợp lý, BCTC phải được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực, chế độ kế toán và các quy định liên quan hiện hành Ngoài ra, doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán cho việc lập và trình bày BCTC
phù hợp với quy định của từng chuẩn mực
- Nguyên tắc lập và trình bày BCTC gồm: hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích, nhất
quán, trọng yếu và tập hợp, bù trừ và có thể so sánh
- Các bộ phận của BCTC: Bảng CĐKT, Báo cáo KQHĐKD, Báo cáo LCTT và Thuyết
minh BCTC
Trang 33(3) CMKT s ố 24 (VAS 24) – Báo cáo LCTT
Chuẩn mực này quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp lập và trình bày
Báo cáo LCTT
(4) CMKT s ố 27 (VAS 27) – BCTC giữa niên độ
Chuẩn mực này quy định nội dung tối thiểu của một BCTC tóm lược giữa niên độ, các
nguyên tắc ghi nhận và đánh giá cần phải áp dụng khi lập và trình bày
2.1.3 Chế độ kế toán
Hiện nay có hai chế độ kế toán là: Chế độ kế toán doanh nghiệp và Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, chỉ để tập trung nghiên cứu BCTC của các CTNY, do đó chế độ kế toán áp dụng là Chế độ kế toán doanh nghiệp, ban hành theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 Chế độ
kế toán doanh nghiệp gồm bốn phần chính: Hệ thống tài khoản kế toán, Hệ thống BCTC, Chế độ chứng từ kế toán và Chế độ sổ kế toán Trong đó, nội dung liên quan
trong đến hệ thống BCTC bao gồm:
- Quy định chung: trình bày các quy định về BCTC năm và BCTC giữa niên độ (mục đích của BCTC, đối tượng áp dụng, hệ thống BCTC doanh nghiệp, yêu cầu, nguyên tắc lập và trình bày BCTC, trách nhiệm lập, kỳ lập báo cáo, thời hạn nộp báo cáo và nơi
nhận báo cáo)
Hệ thống BCTC giai đoạn hiện nay là tương đối đầy đủ và có tính hệ thống cao bao
gồm: BCTC năm và BCTC giữa niên độ
BCTC năm gồm:
Bảng cân đối kế toán (B01 – DN)
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (B02 – DN)
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (B03 – DN)
Thuyết minh báo cáo tài chính (B09- DN)
BCTC giữa niên độ gồm BCTC giữa niên độ dạng đầy đủ và BCTC giữa niên độ dạng tóm lược
Trang 342.1.4 Hệ thống BCTC của các công ty niêm yết Việt Nam
(1) Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là BCTC tổng hợp, phản ánh tổng quát và toàn diện tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại thời điểm lập BCTC
(2) Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo KQHĐKD phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm kết quả kinh doanh và kết quả khác
(3) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Theo VAS 24- Báo cáo LCTT là một bộ phận hợp thành của BCTC, nó cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động
(4) Thuyết minh BCTC
Thuyết minh BCTC là một bộ phận hợp thành không thể tách rời của BCTC doanh nghiệp, dùng để mô tả mang tính tường thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụ thể Bản thuyết minh BCTC cũng có thể trình bày các thông tin khác nếu doanh nghiệp xét thấy cần thiết cho việc trình bày trung thực, hợp lý BCTC Chi tiết về nội dung các khoản mục cần trình bày trên từng báo cáo được trình bày tại
phụ lục 01
2.2 CÔNG TY NIÊM YẾT VÀ VẤN ĐỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
2.2.1 Công ty niêm yết
Công ty niêm yết (CTNY) là công ty cổ phần có chứng khoán được niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung sau khi đáp ứng đủ các tiêu chuẩn niêm yết
Các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán phải đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 53, mục 1, chương V, Nghị định 58/2012-NĐ-CP, ngày 20/07/2012
Trang 352.2.2 Vấn đề công bố thông tin định kỳ về Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết
Theo thông tư số 52/2012/TT-BTC, hướng dẫn việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, có hiệu lực thi hành 01/06/2012 (thay thế thông tư số 09/2010/TT-BTC, ngày 15/01/2010) Thông tư có quy định về vấn đề công bố thông tin của các CTNY
Cụ thể:
(1) Công bố thông tin định kỳ về BCTC năm
- Báo cáo tài chính năm
CTNY phải công bố thông tin về BCTC năm đã được kiểm toán chậm nhất là 10 ngày,
kể từ ngày tổ chức kiểm toán độc lập ký báo cáo kiểm toán Thời hạn công bố thông tin BCTC năm không quá 90 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính Nội dung công bố
về BCTC năm bao gồm: Bảng CĐKT; Báo cáo KQHĐKD; Báo cáo LCTT; Thuyết minh BCTC theo quy định về pháp luật kế toán
- Báo cáo thường niên: Các CTNY phải lập Báo cáo thường niên chậm nhất là 20 ngày sau khi công bố BCTC năm được kiểm toán
- Việc công bố thông tin BCTC năm, Báo cáo thường niên phải được thực hiện trên các
ấn phẩm, trang thông tin điện tử của công ty, phương tiện công bố thông tin của Ủy ban chứng hoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán và được lưu trữ bằng văn bản và
dữ liệu điện tử ít nhất 10 năm tiếp theo tại trụ sở chính của công ty để nhà đầu tư tham khảo
- Thông tin tài chính trong báo cáo thường niên phải phù hợp với BCTC năm được kiểm toán
(2) Công bố thông tin định kỳ về BCTC bán niên
CTNY phải công bố BCTC bán niên (6 tháng đầu năm tài chính) đã được soát xét bởi
tổ chức kiểm toán được chấp thuận theo Chuẩn mực về công tác soát xét BCTC trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày tổ chức kiểm toán được chấp thuận ký báo cáo
Trang 36soát xét Thời hạn công bố thông tin BCTC bán niên đã được soát xét không quá 45 ngày, kể từ ngày kết thúc 6 tháng đầu năm tài chính
BCTC bán niên kèm theo toàn bộ báo cáo công tác soát xét BCTC bán niên phải công
bố trên trang thông tin điện tử của CTNY và trên các phương tiện công bố thông tin của Ủy ban chứng hoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán và phải được lưu trữ bằng văn bản và dữ liệu điện tử ít nhất 10 năm tiếp theo tại trụ sở chính của công ty để nhà đầu tư tham khảo
(3) Công bố thông tin định kỳ về BCTC quý
CTNY phải công bố thông tin về BCTC quý trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày kết thúc quý
BCTC quý bao gồm: Bảng CĐKT, Báo cáo KQHĐKD, Báo cáo LCTT và Thuyết minh BCTC
Trường hợp lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp tại Báo cáo KQHĐKD giữa báo cáo quý của kỳ công bố so với báo cáo quý của cùng kỳ năm trước có biến động từ 10% trở lên hoặc kết quả kinh doanh trong quý bị lỗ, CTNY phải giải trình rõ nguyên nhân trong BCTC quý đó
CTNY phải công bố đầy đủ BCTC quý trên trang thông tin điện tử của công ty và trên phương tiện công bố thông tin của Ủy ban chứng hoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán và được lưu trữ bằng văn bản và dữ liệu ít nhất 10 năm tiếp theo tại trụ sở chính công ty để nhà đầu tư tham khảo
Ngoài ra, các CTNY còn phải công bố báo cáo tình hình quản trị công ty, báo cáo các thông tin bất thường, hay báo cáo các thông tin theo yêu cầu của Ủy ban chứng hoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán
2.2.2.3 Quy định về chế tài và xử lý vi phạm công bố thông tin trên thị trường khoán
Theo nghị định số 85/2010NĐ-CP – nghị định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường khoán, theo mục 8 của nghị định có quy định mức xử phạt
Trang 37“hành vi vi phạm về công bố thông tin và báo cáo” Chi tiết về các mức phạt được trình
bày trong phụ lục số 02
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG BCTC DỰA TRÊN SỰ KHÁC BIỆT CỦA CMKT VIỆT NAM VÀ CMKT QUỐC TẾ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT
ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ
Để có cái nhìn tổng quát về hệ thống BCTC của các CTNY, cũng như để thấy được các
ưu điểm hay nhược điểm của hệ thống báo cáo hiện tại, trong việc cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, trình tự để đánh giá hệ thống BCTC được đưa ra trong nghiên cứu này gồm:
- Khảo sát và phân tích BCTC hiện hành của một số CTNY, để đánh giá tính tuân thủ Hiện giờ hệ thống pháp lý về kế toán chi phối công tác kế toán nói chung cũng như quy định lập và trình bày BCTC của các CTNY bao gồm: Luật kế toán, hệ thống Chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán doanh nghiệp theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC, Thông
tư số 52/2010/TT-BTC - Hướng dẫn việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán BCTC chỉ thể hiện được tính hữu ích khi được các nhà đầu tư tin tưởng và sử dụng trong quá trình ra quyết định đầu tư, nhưng để có được sự tin tưởng đó, BCTC phải cho thấy sự minh bạch và trung thực, hay nói cách khác là khi BCTC tuân thủ các quy định pháp lý về kế toán, tức là khi BCTC cùng được lập trên một hệ thống nguyên tắc thống nhất, mức độ chấp hành về ghi nhận, đo lường các khoản mục, quy định lập
và nộp BCTC, cũng như tuân thủ các quy định về công bố thông tin
- Những điểm còn tồn tại của hệ thống quy định Pháp lý về kế toán hiện hành của Việt Nam: về khái niệm, nguyên tắc, yêu cầu, quy định trong ghi nhận, đo lường, và trình bày các yếu tố của BCTC,… làm ảnh hưởng tới đánh giá về thực trạng tài chính của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng quyết định của nhà đầu tư Chủ yếu tập trung nghiên cứu khác biệt trong quy định CMKT Việt Nam (VAS) so với CMKT quốc tế (IAS)
- Khảo sát ý kiến đánh giá của một số nhà đầu tư cá nhân về thực trạng BCTC của các CTNY hiện nay
Trang 382.3.1 Khuôn khổ quy định về kế toán áp dụng cho các công ty niêm yết
Nhìn chung hệ thống pháp lý về kế toán hiện nay cung cấp một hệ thống nguyên tắc đầy đủ, rõ ràng, để các doanh nghiệp, cũng như những người làm công tác kế toán có
cơ sở để áp dụng trong thực hành công tác kế toán, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
và đội ngũ cán bộ kế toán trong việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán Hệ thống pháp lý kế toán của nước ta trong thời gian qua đã có nhiều thay đổi và hoàn thiện để phù hợp với thực hành kế toán của các doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời bên cạnh đó không ngừng hoàn thiện để phù hợp với thông lệ quốc tế Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm tồn tại nhất định, mà từ đó phần nào làm giảm sút tính hữu ích của thông tin trên BCTC
- So với CMKT quốc tế, hệ thống CMKT Việt Nam vẫn còn thiếu một số chuẩn mực: như đã trình bày ở trên, trong những năm gần đây mặc dù chế độ kế toán và CMKT Việt Nam (VAS) đã có những thay đổi rất lớn, có những bước hoàn thiện và phát triển vượt bậc Chúng ta đã sử dụng một số CMKT quốc tế (IAS) áp dụng cho Việt Nam, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những khác biệt Bên cạnh đó, CMKT Quốc tế liên tục được cập nhật sửa đổi mới thì từ năm 2006 tới hiện nay hệ thống CMKT Việt Nam chưa có
sự thay đổi và cập nhật, có một số vấn đề ghi nhận kế toán còn thiếu chuẩn mực hướng dẫn khi đối chiếu với CMKT Quốc tế như: tài sản sinh học, công cụ tài chính,
- Về nguyên tắc trọng yếu: thuật ngữ “trọng yếu” được nhắc đến rất nhiều trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong BCTC Thông tin được coi là trọng yếu nếu thiếu thông tin đó, hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó, thì ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng BCTC Mặc dù có nhiều hướng tiếp cận để diễn đạt thuật ngữ
“trọng yếu” như trong VAS 01, VAS 21, Chuẩn mực kiểm toán 200 nhưng hiện tại vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào quy định cụ thể về “mức trọng yếu” Chính sự chưa
rõ ràng và chi tiết trong quy định, đã làm cho những người làm công tác kế toán lúng
Trang 39túng, và khó khăn vận dụng trong công tác thực tế Hầu hết, mức trọng yếu hiện tại được xác định dựa vào kinh nghiệm Do quan điểm của mỗi người khác nhau, nên sự thiếu rõ ràng trong quy định mức trọng yếu có thể làm cho đặc điểm chất lượng “so sánh được” thông tin trên BCTC giữa cách doanh nghiệp bị giảm sút, phần nào tác động giảm tính hữu ích của thông tin trên BCTC
- Về phương pháp đánh giá: CMKT Việt Nam sử dụng phương pháp đo lường giá trị tài sản bằng phương pháp giá gốc, trong khi đó CMKT Quốc tế sử dụng phương pháp giá trị hợp lý Vì vậy, giá trị tài sản trong ghi nhận theo CMKT Quốc tế phản ánh thực hơn so với giá trị tài sản được ghi nhận trong CMKT Việt Nam Phân tích chi tiết về sự khác biệt trong phương pháp đánh giá giữa CMKT Việt Nam và CMKT quốc tế ở các khoản mục hàng tồn kho, tài sản cố định hữu hình, và kế toán các khoản đầu tư được
số hạn chế, xuất phát từ những quy định pháp lý về kế toán hiện hành, làm cho hệ
Trang 40thống BCTC không phát huy tối đa được tính hữu ích của nó Thể hiện ở các khía cạnh sau:
2.3.2.1 Về tiêu đề của các báo cáo
Tiêu đề của BCTC là một yếu tố rất quan trọng, một tiêu đề hợp lý thể hiện ở chỗ từ tiêu đề đó, có thể gợi cho người đọc về nội dung, cũng như ý nghĩa của báo cáo Tuy nhiên hiện giờ, tiêu đề của hệ thống BCTC hiện hành chưa thể hiện được tiêu chí này, tiêu đề của các báo cáo chưa là yếu tố giúp người sử dụng định hình về nội dung của báo cáo Cụ thể:
- Bảng cân đối kế toán: như khái niệm đã được trình bày, Bảng CĐKT là báo cáo tổng hợp phản ánh tổng quát tình hình tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm báo cáo Với khái niệm “phản ánh tình hình tài chính” thì tiêu đề hiện tại của báo cáo
“Bảng cân đối kế toán” chưa gợi cho người đọc thấy được mối liên hệ giữa khái niệm
và nội dung của báo cáo
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là BCTC tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của của doanh nghiệp Các thành phần của Báo cáo KQHĐKD bao gồm các yếu tố: lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính, cũng như hoạt động khác Như vậy, với tên báo cáo như quy định hiện hành
“báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh”, thì tiêu đề của báo cáo với nội dung và thành phần của báo cáo không cho thấy có mối liên hệ, mặt khác với tiêu đề như vậy có thể làm cho người đọc hiểu sai là báo cáo này chỉ dùng để phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, và kết quả của các hoạt động khác sẽ không được phản ánh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: là báo cáo các dòng tiền vào và ra trong một kỳ, được chia thành ba hoạt động chính: dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền từ hoạt động đầu tư và dòng tiền từ hoạt động tài chính Như vậy về bản chất, báo cáo này dùng để phản ánh dòng thu, chi tiền mặt và các khoản tương đương tiền Trong đó
“Tiền” bao gồm tiền tại quỹ, các khoản tiền gửi không kỳ hạn và tiền đang chuyển, còn