Tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu tổng thể các quy định liên quan đến trình bày thông tin hoạt động đầu tư tài chính của hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam, không đi vào nộ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THỊ THU NGUYỆT
HOÀN THIỆN THÔNG TIN TRÌNH BÀY TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TRONG CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THỊ THU NGUYỆT
HOÀN THIỆN THÔNG TIN TRÌNH BÀY
TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TRONG CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số : 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN XUÂN HƯNG
TP Hồ Chí Minh - 2012
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Nguyệt
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU
Trang
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
TÀI CHÍNH 1
1.1 Những vấn đề chung 1
1.1.1 Khái niệm về hoạt động đầu tư tài chính 1
1.1.2 Vai trò của đầu tư tài chính 1
1.1.3 Phân loại hoạt động đầu tư tài chính 4
1.2 Thông tin trình bày trên Báo cáo tài chính 8
1.2.1 Phương pháp kế toán hoạt động đầu tư tài chính 9
1.2.2 Vấn đề ghi nhận và xử lý thông tin hoạt động đầu tư tài chính 14
1.3 Kế toán hoạt động đầu tư tài chính tại một số quốc gia phát triển 18
1.3.1 Tình hình kế toán hoạt động đầu tư tài chính ở một số quốc gia phát triển 20
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 24
CHƯƠNG 2: TRÌNH BÀY THÔNG TIN TRÊN BCTC CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM 27
2.1 Sơ lược tình hình hoạt động đầu tư tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 27
2.2 Các quy định pháp lý chi phối hoạt động đầu tư tài chính Việt Nam 28
2.3 Kế toán hoạt động đầu tư tài chính theo các quy định pháp lý chi phối tại Việt Nam 32
Trang 52.3.2 Tài khoản sử dụng 34 2.3.3 Phương pháp kế toán 36 2.3.4 Vấn đề ghi nhận và xử lý thông tin 37
2.4 Thực trạng về việc trình bày thông tin hoạt động đầu tư tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 41 2.5 Một số đánh giá 49
2.5.1 Đánh giá về hệ thống các quy định kế toán hoạt động đầu tư tài chính tại Việt Nam 49 2.5.2 Đánh giá về thông tin kế toán hoạt động đầu tư tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 56
2.6 Nguyên nhân tồn tại 57 CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN THÔNG TIN TRÌNH BÀY TRÊN BCTC HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TRONG CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 61 3.1 Những yêu cầu có tính nguyên tắc đối với việc hoàn thiện kế toán hoạt động đầu tư tài chính 61 3.2 Các giải pháp hoàn thiện về kế toán hoạt động đầu tư tài chính 63
3.2.1 Giải pháp liên quan đến nguyên tắc kế toán 63 3.2.2 Giải pháp liên quan đến việc trình bày thông tin trên BCTC riêng đối với
khoản vốn đầu tư vào công ty liên kết nhưng không thuộc đối tượng lập BCTC hợp nhất 66 3.2.3 Giải pháp liên quan đến trình bày thông tin các công cụ tài chính………… 72
3.3 Một số kiến nghị khác 79
Tài liệu tham khảo
Trang 6IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế
VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam
FASB Ủy ban chuẩn mực kế toán tài chính (Mỹ)
IASB Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế
IFRS Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
US GAAP Những nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung tại Mỹ
GAAP Những nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung
BCTC Báo cáo tài chính
BC.KQKD Báo cáo kết quả kinh doanh
UBCKNN Ủy ban chứng khoán nhà nước
TTGDCK Thị trường giao dịch chứng khoán
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
DN Doanh nghiệp
Trang 7Trang
Bảng 1.1: Phương pháp kế toán với các loại hình đầu tư 9 Bảng 1.2: Những khác biệt cơ bản giữa IFRS và US GAAP 19 Bảng 1.3: Những khác biệt cơ bản giữa IFRS và French GAAP 23 Bảng 2.1: Bảng khảo sát thông tin hoạt động đầu tư tài chính của các công ty niêm
yết thuộc diện lập BCTC hợp nhất 40
Bảng 2.2: Bảng khảo sát thông tin hoạt động đầu tư tài chính của các công ty niêm
yết không thuộc diện lập BCTC hợp nhất 44
Bảng 2.3: Những khác biệt cơ bản giữa IAS / IFRS và VAS 47 Bảng 3.1: Mẫu sổ chi tiết các khoản vốn đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh
theo phương pháp vốn chủ sở hữu 62
Bảng 3.2: Báo cáo tài chính minh họa 63 Bảng 3.3: Sổ chi tiết minh họa các khoản đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh
theo phương pháp vốn chủ sở hữu 64
Bảng 3.4: Bảng tính minh họa giá gốc có chiết khấu theo lãi suất thực tế trên thị
trường tại thời điểm mua 70
Trang 8Tính cấp thiết của đề tài
Cho đến thời điểm hiện tại, Bộ tài chính đã ban hành 26 Chuẩn mực kế toánViệt Nam (VAS) – hệ thống chuẩn mực này đã giúp doanh nghệp và nhà quản lý hoàn thiện hơn trong tổ chức và quản lý công tác kế toán Tuy nhiên, do đặc điểm lịch sử, kinh tế, luật pháp, văn hóa giữa các quốc gia khác nhau nên hiện tại hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam vẫn còn chưa đầy đủ và có nhiều khác biệt so với thông lệ quốc tế Trong xu hướng hội nhập và phát triển toàn cầu, ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào các thị trường quốc tế trên nhiều lĩnh vực; các tập đoàn lớn trên thế giới, các nhà đầu tư nước ngoài cũng đang tiếp tục gia tăng đầu tư trực tiếp và gián tiếp tại Việt Nam Hơn nữa, cùng với sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán đã làm cho hoạt động đầu tư tài chính ngày càng đa dạng và phức tạp Vì vậy, đứng trước
xu thế của thời đại đòi hỏi hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện tại cần phải có những thay đổi kịp thời, hướng tới yêu cầu lập BCTC theo các chuẩn mực BCTC quốc
tế (IFRS) để đáp ứng nhu cầu thông tin người sử dụng
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn nội dung nghiên cứu “Hoàn thiện thông tin trình bày trên BCTC của hoạt động đầu tư tài chính trong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoánViệt Nam” là đề tài nghiên cứu cho luận án thạc sĩ kinh tế
Mục đích nghiên cứu
Nội dung của luận văn này nhằm mục đích trên cơ sở nghiên cứu chuẩn mực kế toán quốc tế liên quan, các quy định pháp lý hiện tại của Việt Nam về hoạt động đầu tư tài chính để đánh giá điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống chuẩn mực kế toán này, từ đó đưa ra giải pháp giúp hoàn thiện thông tin trình bày trên BCTC của hoạt động đầu tư tài chính trong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 9Tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu tổng thể các quy định liên quan đến trình bày thông tin hoạt động đầu tư tài chính của hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam, không đi vào nội dung phương pháp lập BCTC hợp nhất cũng như quy định kế toán về công cụ tài chính Từ đó, tác giả tập trung vào nghiên cứu và giải quyết các vấn
đề cơ bản sau:
- Nghiên cứu các quy định kế toán đối với hoạt động đầu tư tài chính theo chuẩn mực
kế toán quốc tế và theo các quy định pháp lý tại Việt Nam, từ đó đánh giá thông tin hoạt động này trên BCTC của một số công ty niêm yết để nêu lên hạn chế hiện tại trong việc trình bày thông tin và đưa ra giải pháp hoàn thiện
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả áp dụng những phương pháp sau đây:
- Về mặt định tính: đúc kết những vấn đề hiện tại để đưa ra các giải pháp hoàn thiện
- Về mặt định lượng: tiến hành thu thập bằng chứng của các quốc gia và các nguồn
dữ liệu thứ cấp
Ngoài ra, luận văn còn kết hợp sử dụng đồng bộ các phương pháp phân tích, tổng hợp,
so sánh, để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu
Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống lại nội dung kế toán về hoạt động đầu tư tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế
- Hệ thống lại các quy định về hoạt động đầu tư tài chính trong theo các quy định pháp lý tại Việt Nam
- Đưa ra các giải pháp hoàn thiện thông tin trình bày trên BCTC của hoạt động đầu tư tài chính
Trang 10Luận văn gồm 83 trang, được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về kế toán hoạt động đầu tư tài chính
Chương 2: Trình bày thông tin trên BCTC của hoạt động đầu tư tài chính tại các công
ty niêm yết Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện thông tin trình bày trên BCTC hoạt động đầu tư tài chính trong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 111.1.1 Khái niệm về hoạt động đầu tư tài chính
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, ở từng thời kỳ doanh nghiệp có thể theo đuổi những mục tiêu khác nhau Một trong những mục tiêu quan trọng mà bất kỳ một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển là phải mở rộng hoạt động kinh doanh của mình Để thực hiện được mục tiêu này, bên cạnh việc đầu tư nội bộ như nâng cấp, cải tiến máy móc thiết bị, hoặc mở rộng ngành nghề kinh doanh thì doanh nghiệp còn có thể tìm kiếm các kênh đầu tư hữu ích khác, một trong những kênh đó là đầu tư vào thì trường chứng khoán như dùng tiền vốn để mua cổ phiếu hoặc trái phiếu với mục đích kiếm lời hoặc bỏ vốn vào các doanh nghiệp khác dưới hình thức góp vốn liên doanh với tư cách là thành viên tham gia quản lý, điều hành, hay mua cổ phần của các doanh nghiệp khác nhằm chia sẻ lợi ích và trách nhiệm Tất cả hoạt động đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp được xem là hoạt động đầu tư tài chính
Như vậy, có thể hiểu, hoạt động đầu tư tài chính là các hoạt động đầu tư vốn vào lĩnh vực kinh doanh khác, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích mở rộng cơ hội thu lợi nhuận cao và hạn chế rủi ro trong kinh doanh, giúp doanh nghiệp tận dụng mọi tài sản, nguồn vốn nhàn rỗi vào các cơ hội kinh doanh trên thị trường để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
1.1.2 Vai trò của đầu tư tài chính
1.1.2.1 Đối với nền kinh tế
Trong mọi quốc gia, muốn có nền kinh tế phát triển, tăng trưởng nhanh và bền vững trước hết phải đáp ứng đủ nhu cầu vốn đầu tư Trong xã hội có thể phát sinh những người có cơ hội đầu tư sinh lời thì thiếu vốn, trái lại những người có vốn nhàn rỗi lại không có cơ hội đầu tư Từ đó hình thành quá trình giao lưu vốn giữa những người có
Trang 12vốn và những người cần vốn Quá trình giao lưu này hình thành thị trường để tập trung huy động các nguồn lực trong xã hội giúp tài trợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho các chủ thể trong nền kinh tế, đó chính là thị trường tài chính
Trong các bộ phận của thị trường tài chính thì thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng nhất trong việc điều phối cũng như cung cấp vốn đầu tư một cách hữu hiệu cho nền tài chính quốc gia Sự phát triển của thị trường chứng khoán giúp cho sự đa dạng và phát triển của hoạt động đầu tư tài chính, và khi hoạt động đầu tư phát triển thì
sẽ giúp cho thị trường chứng khoán phát triển, đóng góp nhiều vai trò quan trọng cho nền kinh tế bao gồm:
- Cung cấp môi trường đầu tư cho các thành phần kinh tế: cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú, qua đó góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô: thị trường chứng khoán được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Chẳng hạn thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ có thể mua bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát
- Giúp đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp: thông qua giá chứng khoán giao dịch, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng
và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra được một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm Thông qua sự biến động không ngừng của giá chứng khoán trên thị trường, đặc biệt là giá cổ phiếu, nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định đầu tư một cách khách quan và khoa học tại bất kỳ thời điểm nào
- Giúp hỗ trợ và thúc đẩy các công ty cổ phần ra đời và phát triển
- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài: việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua kênh chứng khoán (FPI) là an toàn và hiệu quả vì các chủ thể phát hành được quyền sử dụng vốn
Trang 13huy động cho mục đích riêng, mà không bị ràng buộc bởi bất cứ điều kiện nào của các nhà đầu tư nước ngoài
1.1.2.2 Đối với nhà đầu tư
Ngày nay, vấn đề quản trị vốn lưu động đang là mối quan tâm tại các doanh nghiệp Do
đó, doanh nghiệp cần xây dựng nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho hoat động sản xuất kinh doanh và trong thời gian vốn lưu động tạm thời nhàn rỗi, việc đưa số tiền vốn này tham gia vào các giao dịch đầu tư tài chính ngắn hạn như đem tiền gửi vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán … cũng là một trong những chính sách quản trị vốn của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể sử dụng vốn tạm thời nhãn rỗi để góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh
Bên cạnh đó, trong quá trình hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp luôn hướng tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Để làm được điều này, việc mở rộng nghành nghề kinh doanh hiện tại đôi khi khó thực hiện do ảnh hưởng yếu tố thị trường, đặc biệt là trong thời kỳ giai đoạn cuối của chu kỳ sản phẩm, vì vậy để phân tán rủi ro, các doanh nghiệp hướng tới đầu tư vào ngành nghề mới, góp phần mở rộng thị trường, tạo đà phát triển tiếp theo cho doanh nghiệp Tuy nhiên, mở rộng kinh doanh đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với những nguy cơ và rủi ro, nếu lựa chọn không đúng thời điểm thích hợp, hoặc mở rộng không đúng hướng, doanh nghiệp có thể sẽ chịu thất bại nặng nề Bên cạnh những thất thoát lớn về tài chính do việc đầu tư mở rộng, doanh nghiệp cũng sẽ phải đối diện với việc mất uy tín, bị giảm lợi thế cạnh tranh trên thương trường, thậm chí đã có những doanh nghiệp bị phá sản do những quyết định sai lầm trong việc mở rộng quy mô kinh doanh để tham gia vào thị trường mới Vì vậy để hướng tới mục tiêu kinh doanh, doanh nghiệp thực hiện các hoạt động đầu tư tài chính
ra bên ngoài thay vì đầu tư mở rộng mô hình kinh doanh cũ, hay đầu tư mới vào ngành nghề khác, điều này có thể đem lại cho doanh nghiệp các lợi ích về chi phí do không cần phải đầu tư vào cở sở vật chất, tiết kiệm chi phí quản lý cũng như giảm được rủi ro kinh doanh khi xâm nhập vào thị trường mới do tận dụng được thị trường sẵn có lẫn nhau Như vậy thông qua hoạt động đầu tư tài chính, bằng việc liên kết hợp nhất, các
Trang 14doanh nghiệp sẽ hạn chế được những yếu kém của mình, giúp tiết kiệm chi phí, tận dụng được thế mạnh của nhau để phát triển
Tóm lại, doanh nghiệp đầu tư với nhiều mục đích khác nhau, có doanh nghiệp đầu tư nhằm quản lý vốn nhàn rỗi, có doanh nghiệp đầu tư để chi phối đến quyền biểu quyết tại bên nhận vốn đầu tư nhằm chia sẻ rủi ro và lợi ích kinh tế tại các doanh nghiệp này
Từ đó làm cho hoạt động đầu tư ngày càng đa dạng đòi hỏi thông tin về các hoạt động đầu tư trình bày trên BCTC của doanh nghiệp cần được phân loại phù hợp theo mục đích đầu tư và mức độ ảnh hưởng của các doanh nghiệp giúp người đọc BCTC có thể đánh giá đúng vai trò hoạt động đầu tư tài chính trong doanh nghiệp cũng như lợi ích
từ các hoạt động này mang lại
1.1.3 Phân loại hoạt động đầu tư tài chính
Với sự đa dạng của các hoạt động đầu tư, Hội đồng thường trực các chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) sau đó chuyển thành hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đã ban hành các chuẩn mực kế toán chi phối để hướng dẫn phân loại các loại hình đầu tư như sau:
1.1.3.1 Kế toán các khoản đầu tư vào công ty con
“Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán các khoản đầu tư vào công ty con” được IASC ban hành lần đầu vào tháng 4/1989 trong IAS 27 Sau đó, IAS 27 được điều chỉnh lại vào năm 1994, đến tháng 1/2008 IASB đã ban hành sửa đổi IAS 27 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2009 Tháng 5/2010, IASB có một số chỉnh sửa IAS 27, có hiệu lực từ 1/7/2010
Theo IAS 27 khoản đầu tư được gọi là đầu tư vào công ty con khi nhà đầu tư (công ty mẹ) nắm quyền kiểm soát tại công ty con Trong đó:
- Công ty con là công ty chịu sự kiểm soát bởi 1 công ty khác (gọi là công ty mẹ)
- Kiểm soát là quyền chi phối các chính sách, quyết định tài chính và hoạt động của doanh nghiệp nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động của doanh nghiệp đó
Nhà đầu tư được xem là có quyền kiểm soát nếu nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua công ty con) trên 50% quyền biểu quyết của bên nhận đầu tư
Trang 15Trong các trường hợp sau đây, quyền kiểm soát vẫn còn tồn tại khi công ty mẹ sở hữu
ít hơn 50 % quyền biểu quyết tại công ty con:
- Các nhà đầu tư khác thỏa thuận dành cho công ty mẹ hơn 50% quyền biểu quyết;
- Công ty mẹ có quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động theo quy chế thỏa thuận;
- Công ty mẹ có quyền bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số các thành viên của hội đồng quản trị hoặc cấp quản lý tương đương trong công ty con;
- Công ty mẹ có quyền bỏ đa số phiếu tại các cuộc họp của hội đồng quản trị hoặc cấp quản lý tương đương trong công ty con
Khi xem xét quyền kiểm soát của một đơn vị đối với một đơn vị khác, cần phải xem xét các trường hợp tiềm tàng có thể phát sinh quyền biểu quyết như: quyền mua cổ phần, quyền chọn mua cổ phần, công cụ nợ hoặc công cụ vốn có thể chuyển đổi thành
cổ phần phổ thông hoặc các công cụ tương tự mà khi chúng được chuyển đổi sẽ làm tăng thêm hoặc giảm bớt quyền biểu quyết của một đơn vị để chi phối các chính sách tài chính và chính sách hoạt động của một đơn vị khác
1.1.3.2 Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết
“Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết” được ban hành lần đầu tiên vào tháng 12/ 1989 trong IAS 28 Tháng 12/2003, IASB đã ban hành IAS 28 sửa đổi với tên gọi mới “Đầu tư vào công ty liên kết” và áp dụng cho báo cáo tài chính được lập vào hoặc sau ngày 1/1/2005 Năm 2008, IASB đã tiến hành một số điều chỉnh quan trọng trong IAS 28 và các điều chỉnh này có hiệu lực từ 1/1/2009
Theo IAS 28 khoản đầu tư được gọi là đầu tư vào công ty liên kết khi nhà đầu tư có được những ảnh hưởng đáng kể, nhưng chưa nắm được quyền kiểm soát tại bên nhận đầu tư Trong đó:
- Công ty liên kết là công ty mà nhà đầu tư có những ảnh hưởng đáng kể nhưng không phải công ty con hoặc công ty liên doanh của nhà đầu tư
- Ảnh hưởng đáng kể là quyền tham gia vào các chính sách tài chính và hoạt động của bên nhận đầu tư nhưng không kiểm soát các chính sách đó
Trang 16Nhà đầu tư được xem là ảnh hưởng đáng kể nếu nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua công ty con) từ 20% quyền biểu quyết của bên nhận đầu tư
Sự tồn tại của ảnh hưởng đáng kể được thể hiện qua ít nhất một trong những biểu hiện sau đây:
- Nắm giữ (trực tiếp hoặc gián tiếp) trên ít nhất 20% quyền biểu quyết trừ khi không
có ảnh hưởng quan trọng nào được thể hiện;
- Có đại diện trong hội đồng quản trị hoặc cấp quản lý tương đương của công ty liên kết;
- Có quyền tham gia vào quá trình hoạch định chính sách;
- Có các giao dịch quan trọng giữa nhà đầu tư và bên nhận đầu tư;
- Có sự trao đổi về cán bộ quản lý;
- Có sự cung cấp thông tin kỹ thuật quan trọng
1.1.3.3 Kế toán các khoản vốn góp liên doanh
“Thông tin tài chính về các khoản góp vốn liên doanh” được ban hành lần đầu bởi IASC vào năm 1990 trong IAS 31 và được điều chỉnh lại vào năm 1994 Vào tháng 12/2003 IASB đã ban hành IAS 31 sửa đổi với tên gọi mới “Lợi ích trong các khoản vốn góp liên doanh”
Theo IAS 31, liên doanh là sự thỏa thuận bằng hợp đồng thiết lập quyền đồng kiểm soát của các bên liên doanh để đảm bảo không một bên góp vốn liên doanh nào có quyền đơn phương kiểm soát các hoạt động của liên doanh Thỏa thuận bằng hợp đồng
có thể chỉ định rõ một trong các bên góp vốn liên doanh đảm nhiệm việc điều hành hoặc quản lý liên doanh Bên điều hành liên doanh không kiểm soát liên doanh, mà thực hiện trong khuôn khổ chính sách tài chính và hoạt động đã được ghi nhận trong hợp đồng Nếu bên điều hành có toàn quyền quyết định các chính sách tài chính và hoạt động thì bên đó là người kiểm soát và do đó không tồn tại liên doanh
Như vậy, đầu tư vốn góp liên doanh thiết lập quyền đồng kiểm soát Trong đó:
- Đồng kiểm soát là sự thỏa thuận bằng văn bản trong việc kiểm soát các hoạt động kinh tế và chỉ tồn tại khi các quyết định tài chính và hoạt động chịu sự đồng kiểm soát của các bên tham gia liên doanh
Trang 17Các hình thức liên doanh bao gồm hoạt động liên doanh dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh và hoạt động liên doanh dưới hình thức thành lập cơ sở kinh doanh được đồng kiểm soát Trong hoạt động liên doanh dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh được chia làm hai trường hợp liên doanh dưới hình thức hoạt động kinh doanh được đồng kiểm soát và liên doanh dưới hình thức tài sản được đồng kiểm soát
- Liên doanh dưới hình thức hoạt động kinh doanh đồng kiểm soát là hình thức liên doanh liên quan đến việc sử dụng tài sản hay các nguồn lực khác của các bên góp vốn liên doanh mà không thành lập một doanh nghiệp mới
Mỗi bên liên doanh sử dụng tài sản của mình và chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính và các chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động Hoạt động liên doanh có thể được nhân viên mỗi bên liên doanh tiến hành cùng với các hoạt động khác
Hợp đồng hợp tác kinh doanh thường quy định căn cứ để phân chia doanh thu và khoản chi phí chung phát sinh từ hoạt động liên doanh
- Liên doanh dưới hình thức tài sản đồng kiểm soát là hình thức liên doanh không đòi hỏi phải thành lập một cơ sở liên doanh mới Mỗi bên góp vốn liên doanh có quyền kiểm soát phần lợi ích trong tương lai thông qua phần vốn của mình vào tài sản được đồng kiểm soát
- Liên doanh dưới hình thức thành lập cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát là hình thức liên doanh đòi hỏi phải có sự thành lập một cơ sở kinh doanh mới Hoạt động cơ sở này cũng giống như hoạt động các cơ sở kinh doanh khác, chỉ khác là thỏa thuận bằng hợp đồng giữa các bên góp vốn liên doanh thiết lập nên quyền đồng kiểm soát dối với hoạt động kinh tế của cơ sở này
1.1.3.4 Kế toán các khoản đầu tư vào công cụ tài chính
Kế toán các khoản đầu tư công cụ tài chính là các khoản đầu tư không nằm trong phạm
vi chi phối của IAS 27, IAS 28 và IAS 31 như trường hợp đầu tư vào các chứng khoán vốn, chứng khoán nợ, chứng khoán khác, công cụ tài chính phái sinh, các khoản vốn góp mà nhà đầu tư không có ảnh hưởng đáng kể, các khoản cho vay…
Đây là các tài sản tài chính doanh nghiệp nắm giữ, căn cứ vào mục đích nắm giữ của nhà quản trị, kế toán các khoản đầu tư vào công cụ tài chính được chia thành 3 hình
Trang 18thức: tài sản tài chính nắm giữ vì mục đích kinh doanh, tài sản tài chính giữ đến ngày đáo hạn và tài sản tài chính sẵn sàng để bán Trong đó:
- Tài sản tài chính nắm giữ vì mục đích kinh doanh là các khoản đầu tư mà doanh nghiệp có ý định nắm giữ trong thời gian ngắn và bán lại nhằm mục đích hưởng chênh lệch giá Đây là các công cụ tài chính phái sinh (ngoại trừ các công cụ phái sinh được xác định là một hợp đồng bảo lãnh tài chính hay công cụ phòng ngừa)
- Tài sản tài chính giữ đến ngày đáo hạn là tài sản tài chính phi phái sinh có khoản thanh toán cố định, kỳ hạn cố định, ý định và có khả năng giữ tới ngày đáo hạn và giao dịch trên thị trường
- Tài sản tài chính sẵn sàng để bán là tài sản tài chính phi phái sinh không được xếp vào các nhóm trên
1.2 THÔNG TIN TRÌNH BÀY TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Nhà đầu tư phải có trách nhiệm lập BCTC riêng để trình bày thông tin liên quan đến hoạt động đầu tư tài chính Trường hợp nhà đầu tư là công ty mẹ có các khoản vốn đầu
tư vào công ty con bên cạnh trách nhiệm lập BCTC riêng còn phải lập BCTC hợp nhất
để hợp nhất lại tình hình tài chính của cả tập đoàn (bao gồm công ty mẹ và các công ty con) Trong đó:
- BCTC riêng là BCTC được ghi nhận dựa trên cơ sở phần vốn sở hữu trực tiếp hơn
là kết quả hoạt động và giá trị tài sản thuần của bên nhận đầu tư
- BCTC hợp nhất là BCTC của tập đoàn được trình bày như một thực thể kinh tế độc lập
Trên BCTC riêng, giá trị các khoản đầu tư được ghi nhận ban đầu theo phương pháp giá gốc Trong trường hợp nhà đầu tư có các hoạt động đầu tư vào công ty con, công ty liên kết, liên doanh thì phương pháp này không cung cấp được thông tin để giúp doanh nghiệp đánh giá khả năng sinh lời và bức tranh tài chính có liên quan đến giá trị các khoản đầu tư Vì vậy, trên BCTC hợp nhất tương ứng với mỗi hình thức đầu tư, có yêu cầu về phương pháp kế toán khác nhau:
Trang 19Bảng 1.1: Phương pháp kế toán với các loại hình đầu tư
Loại hình đầu tư Yêu cầu về phương pháp kế toán
Đầu tư vào công ty con Phương pháp hợp nhất toàn bộ
Đầu tư vào công ty liên kết Phương pháp vốn chủ sở hữu
Đầu tư liên doanh Phương pháp hợp nhất tỷ lệ hoặc phương pháp vốn chủ
sở hữu Đầu tư vào công cụ tài chính Phương pháp giá trị hợp lý
Chúng ta sẽ cùng nhau xem xét các phương pháp kế toán được sử dụng để phản ánh hoạt động đầu tư tài chính
1.2.1 Phương pháp kế toán hoạt động đầu tư tài chính
1.2.1.1 Phương pháp giá gốc:
Phương pháp giá gốc là phương pháp kế toán cho các khoản đầu tư được ghi nhận ban đầu theo giá gốc, sau đó không được điều chỉnh theo những thay đổi của phần sở hữu của nhà đầu tư trong tài sản thuần của bên nhận đầu tư, cho đến khi thanh lý toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư hoặc khi có sự giảm giá (tổn thất) đối với khoản đầu tư này Nhà đầu tư ghi nhận thu nhập từ hoạt động đầu tư khi họ nhận được các khoản phân phối từ lợi nhuận giữ lại của bên nhận đầu tư sau thời điểm mua Các khoản phân phối nhận được trước thời điểm đầu tư ghi nhận để giảm giá gốc vốn đầu tư
Phương pháp giá gốc không thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa giá trị khoản đầu tư và kết quả kinh doanh của bên nhận đầu tư vì số lợi nhuận thuần hoặc lỗ trong kỳ của bên nhận đầu tư không được thể hiện trên BCTC của bên đầu tư
1.2.1.2 Phương pháp hợp nhất toàn bộ:
Phương pháp hợp nhất toàn bộ là phương pháp kế toán được áp dụng trong trường hợp nhà đầu tư là công ty mẹ phải lập BCTC hợp nhất cho tất cả các công ty con, ngoại trừ những trường hợp sau:
- Các công ty con bị mua và giữ để bán trong tương lai gần
- Các công ty con hoạt động theo những hạn chế nghiêm ngặt lâu dài và làm tổn hại đáng kể đến khả năng chuyển giao vốn
Trang 20Khi lập BCTC hợp nhất, công ty mẹ cần phải hợp nhất BCTC của mình và của các công ty con theo những bước sau:
- Cộng các khoản mục tương đương của tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí của công ty mẹ và các công ty con trong tập đoàn;
- Giá trị ghi sổ của giá trị khoản đầu tư vào mỗi công ty con và phần vốn chủ sở hữu của công ty mẹ trong công ty con phải được loại trừ toàn bộ đồng thời ghi nhận lợi thế thương mại (nếu có);
- Phân bổ lợi thế thương mại;
- Lợi ích của cổ đông thiểu số phải được trình bày trong Bảng CĐKT hợp nhất thành một chỉ tiêu tách biệt với nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của công ty mẹ Phần sở hữu của cổ đông thiểu số trong thu nhập của tập đoàn cũng cần được trình bày thành chỉ tiêu riêng biệt trong BC.KQKD hợp nhất;
- Giá trị các khoản mục phải thu, phải trả giữa các đơn vị trong cùng tập đoàn phải được loại trừ hoàn toàn;
- Các chỉ tiêu doanh thu, chi phí phát sinh từ việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ giữa các đơn vị trong nội bộ tập đoàn, kinh phí quản lý nộp trong công ty, lãi đi vay và thu nhập từ cho vay giữa các đơn vị trong nội bộ tập đoàn, cổ tức, lợi nhuận đã phân chia
và đã ghi nhận phải được loại trừ toàn bộ;
- Các khoản lãi chưa thực hiện phát sinh từ các giao dịch trong nội bộ tập đoàn đang nằm trong giá trị tài sản (như hàng tồn kho, tài sản cố định) phải được loại trừ hoàn toàn Các khoản lỗ chưa thực hiện phát sinh từ các giao dịch nội bộ đang phản ánh trong giá trị hàng tồn kho hoặc tài sản cố định cũng được loại bỏ trừ khi chi phí tạo nên khoản lỗ đó không thể thu hồi
1.2.1.3 Phương pháp vốn chủ sở hữu:
Phương pháp vốn chủ sở hữu là phương pháp kế toán mà các khoản đầu tư được ghi nhận ban đầu theo giá gốc và sau đó được điều chỉnh theo những thay đổi của phần sở hữu của nhà đầu tư trong tài sản thuần của bên nhận đầu tư BC.KQHĐKD phải phản ánh phần sở hữu của nhà đầu tư trong kết quả kinh doanh của bên nhận đầu tư
Trang 21Phương pháp Vốn chủ sở hữu sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin đúng thực trạng tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và các thay đổi về tình hình tài chính của bên nhận đầu tư
Phương pháp này khắc phục những hạn chế vốn có của phương pháp giá gốc vì nó phản ánh được sự gắn kết BCTC của bên đầu tư với kết quả kinh doanh của bên nhận đầu tư
Phạm vi áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu rộng Một số quốc gia đã áp dụng phương pháp trên BCTC hợp nhất và trên cả BCTC riêng (nếu không hợp nhất) của nhà đầu tư
Phương pháp Vốn chủ sở hữu được áp dụng trên BCTC hợp nhất của nhà đầu tư cho việc ghi nhận thông tin của các hoạt động đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh Phương pháp này phải ngừng áp dụng khi nhà đầu tư trong công ty liên kết không còn những ảnh hưởng đáng kể, hay bên tham gia liên doanh không còn quyền kiểm soát chung hoặc không còn ảnh hưởng quan trọng đối với cơ sở liên doanh đồng kiểm soát Việc áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu sẽ không còn phù hợp nếu:
- Khoản đầu tư được mua và giữ lại để bán trong tương lai gần
- Công ty liên kết, liên doanh hoạt động theo những hạn chế nghiêm ngặt áp dụng lâu dài làm tổn hại đáng kể đến khả năng chuyển giao vốn cho nhà đầu tư
Tại thời điểm lập BCTC hợp nhất, nhà đầu tư chuyển đổi từ phương pháp giá gốc sang phương pháp Vốn chủ sở hữu như sau:
- Giá trị ghi sổ khoản đầu tư được điều chỉnh tăng, giảm tương ứng với phần sở hữu của nhà đầu tư trong lãi hoặc lỗ của bên nhận đầu tư trên Phần sở hữu của nhà đầu tư trong lãi / lỗ của bên nhận đầu tư được ghi nhận là lãi / lỗ trên BC.KQKD của nhà đầu tư;
- Cổ tức, lợi nhuận được chia được ghi giảm giá trị ghi sổ của khoản đầu tư;
- Giá trị ghi sổ của khoản đầu tư cũng được điều chỉnh khi lợi ích của nhà đầu tư thay đổi do có sự thay đổi trong vốn chủ sở hữu của bên nhận đầu tư nhưng không được phản ánh trên BC.KQKD ( những thay đổi này có thể bao gồm những khoản phát sinh
Trang 22từ việc đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái và những điều chỉnh các chênh lệch phát sinh sau hợp nhất kinh doanh)
1.2.1.4 Phương pháp hợp nhất tỷ lệ:
Phương pháp hợp nhất theo tỷ lệ là phương pháp kế toán mà qua đó phần vốn của nhà đầu tư trong tài sản, nợ phải trả, doanh thu, chi phí và dòng tiền của bên nhận đầu tư sẽ được kết hợp với các khoản mục tương tự trong BCTC của nhà đầu tư Nhà đầu tư lựa chọn 1 trong hai hình thức để trình bày:
- Kết hợp theo dòng với các khoản mục tương tự
- Tách các khoản mục thành dòng riêng biệt
Phương pháp hợp nhất tỷ lệ khác với hợp nhất thông thường ở chỗ chỉ phần tài sản, nợ phải trả, thu nhập và chi phí thuộc sở hữu tập đoàn là được đưa vào trong tài khoản báo cáo, và nó không có lợi ích cổ đông thiểu số
Phương pháp hợp nhất tỷ lệ được áp dụng trên BCTC hợp nhất của nhà đầu tư cho việc ghi nhận thông tin của các hoạt động góp vốn liên doanh vào cơ sở liên doanh đồng kiểm soát
1.2.1.5 Phương pháp giá trị hợp lý:
1982, Hội đồng thường trực các chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) lần đầu tiên đã sử dụng thuật ngữ giá trị hợp lý trong kế toán như sau:
“Giá trị hợp lý là giá trị mà một tài sản có thể được trao đổi giữa bên bán và bên mua
có đầy đủ hiểu biết, mong muốn giao dịch trong một giao dịch trao đổi ngang giá.” Đây là định nghĩa sử dụng chung vào năm 1982 cho IAS 16: “Kế toán Bất động sản, nhà xưởng, thiết bị”, IAS 17 “Kế toán cho thuê”, IAS 18 “Kế toán ghi nhận doanh thu”, IAS 20 “ Kế toán Trợ cấp chính phủ và Công bố hỗ trợ của chính phủ”, năm 1983 cho IAS 22 “Kế toán Hợp nhất kinh doanh” và IAS 25 “Kế toán các khoản đầu tư” Sau đó, năm 1988, IASC bắt đầu đưa ra các dự án về công cụ tài chính, mở rộng phạm
vi sử dụng giá trị hợp lý và định nghĩa về giá trị hợp lý cũng được mở rộng hơn Định nghĩa tại thời điểm này như sau:
Trang 23“Giá trị hợp lý là giá trị mà một tài sản có thể được trao đổi, hoặc một khoản nợ có thể được thanh toán giữa các bên có đầy đủ hiểu biết, mong muốn giao dịch trong một giao dịch trao đổi ngang giá.”
Định nghĩa mới đã được dùng trong các bản sửa đổi của IAS 18, IAS 22 vào năm 1993 Trong IAS 16 sửa đổi cũng vào năm 1993, định nghĩa trên cũng được sử dụng nhưng không đề cập đến các khoản nợ phải trả Định nghĩa này tiếp tục được IASC và IASB
sử dụng trong IAS 32 “Công cụ tài chính: Công bố và trình bày”, IAS 36 “ Tổn thất tài sản”, IAS 38 “Tài sản vô hình”, IAS 39 “Công cụ tài chính: Ghi nhận và đo lường” IAS 40 “Bất động sản đầu tư”, IAS 41 “Kế toán nông nghiệp” và IFRS 1 “Thông qua IFRS lần đầu” và sau này dùng trong IFRS 3 “Hợp nhất kinh doanh”, IFRS 4 “Hợp đồng bảo hiểm”, IFRS 5 “Tài sản dài hạn giữ để bán và hoạt động không liên tục” IFRS 7 “Công cụ tài chính: Công bố”
Riêng trong IFRS 2 “Thanh toán trên cơ sở cổ phiếu”, IASB đã mở rộng định nghĩa giá trị hợp lý như sau:
“Giá trị hợp lý: là giá trị mà một tài sản có thể được trao đổi, một khoản nợ có thể được thanh toán, hoặc một công cụ vốn có thể được chuyển nhượng giữa các bên có đầy đủ hiểu biết, tự nguyện trong một giao dịch mà các bên độc lập với nhau.”
Theo Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), việc xác định giá trị hợp lý dựa trên
3 quan điểm: Quan điểm thị trường, quan điểm thu nhập và quan điểm giá phí:
* Quan điểm thị trường (Market approach): Giá cả thị trường quan sát được và các thông tin về các giao dịch thực tế trên thị trường sẽ được sử dụng để ước tính giá trị hợp lý của một tài sản, một khoản nợ phải trả
* Quan điểm thu nhập (Income approach): Các phương pháp kỹ thuật sẽ được áp dụng
để quy đổi các khoản tiền trong tương lai về giá trị hiện tại (Dòng tiền vào từ việc khai thác, sử dụng tài sản hoặc dòng tiền ra để thanh toán nợ phải trả)
* Quan điểm giá phí (Cost approach): Giá trị hợp lý của một tài sản được xác định trên
cơ sở xem xét các chi phí phải bỏ ra để có được một tài sản thay thế tương đương về năng lực sản xuất (Dòng tiền phải chi để mua, sản xuất tài sản)
Trang 24IFRS yêu cầu hoặc cho phép sử dụng giá trị hợp lý trong BCTC để đo lường giá trị các hoạt động đầu tư như sau:
- Sử dụng giá trị hợp lý để đo lường tại thời điểm ghi nhận ban đầu
- Sử dụng giá trị hợp lý để đo lường sau khi ghi nhận ban đầu:
Việc sử dụng giá trị hợp lý trong đo lường sau khi ghi nhận ban đầu cho các khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên kết, vốn góp liên doanh trong BCTC riêng được chuẩn mực kế toán quốc tế cho phép lựa chọn giữa giá trị hợp lý và các loại giá khác
Theo quy định của IASC và IASB, hiện nay các khoản mục sau bắt buộc phải được đo lường bởi giá trị hợp lý:
o Đầu tư vào công ty liên kết nắm giữ bởi các quỹ đầu tư mạo hiểm, hoặc các quỹ tương hỗ và các tổ chức tương tự trong IAS 28;
o Đầu tư vào các công ty liên doanh nắm giữ bởi quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc các quỹ tương hỗ và các tổ chức tương tự trong IAS 31
o Việc nắm giữ các tài sản tài chính với mục đích kinh doanh bao gồm cả công cụ phái sinh, trong IAS 39
- Sử dụng giá trị hợp lý để thử nghiệm sự suy giảm giá trị: tài sản tài chính sẵn sàng
để bán, các khoản đầu tư nắm giữ vì mục đích kinh doanh, chứng khoán phái sinh
1.2.2 Vấn đề ghi nhận và xử lý thông tin hoạt động đầu tư tài chính
1.2.2.1 Ghi nhận ban đầu:
Tất cả các khoản đầu tư tài chính đều được ghi nhận ban đầu theo giá gốc Nếu khoản đầu tư vào công cụ tài chính bao gồm cả yếu tố vốn và yếu tố nợ thì phải tách biệt riêng từng yếu tố ngay lần ghi nhận đầu tiên
1.2.2.2 Đánh giá lại:
Đối với các khoản đầu tư vào công cụ tài chính, phương pháp đánh giá lại tùy thuộc vào việc phân loại hình thức đầu tư mà đánh giá lại như sau:
- Tài sản tài chính nắm giữ vì mục đích kinh doanh: được đánh giá theo giá trị hợp
lý Các khoản chênh lệch lãi / lỗ phát sinh khi đánh giá lại được đưa vào thu nhập / chi phí trong kỳ
Trang 25- Tài sản tài chính nắm giữ đến ngày đáo hạn: được đánh giá theo giá gốc có chiết khấu Phần phân bổ chiết khấu hay phụ trội chứng khoán sẽ điều chỉnh lại giá gốc tại thời điểm đầu tư ban đầu cho đến ngày đáo hạn khi giá gốc được điều chỉnh bằng với mệnh giá
- Tài sản tài chính sẵn sàng để bán: được đánh giá theo giá trị hợp lý Các khoản chênh lệch lãi / lỗ đưa vào chỉ tiêu vốn chủ sở hữu
Đối với khoản đầu tư vào công ty con: nhà đầu tư cần công bố
- Bản chất mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con trong trường hợp công ty mẹ không sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua công ty con trên 50 % quyền biểu quyết
- Nguyên nhân vì sao cổ quyền trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua công ty con trên 50% quyền biểu quyết mà không thiết lập quyền kiểm soát
- Cuối niên độ kế toán, nếu ngày lập BCTC của các công ty con khác với ngày lập BCTC của công ty mẹ thì công ty mẹ phải trình bày nguyên nhân của sự khác biệt này
- Bản chất và mức độ của các giới hạn quan trọng ảnh hưởng đến khả năng chuyển giao vốn cho công ty mẹ của công ty con
- Kết quả của các lần thay đổi tỷ lệ lợi ích của công ty mẹ trong công ty con nhưng không làm mất đi quyền kiểm soát của công ty mẹ đối với công ty con
Đối với khoản đầu tư vào công ty liên kết: nhà đầu tư phải công bố
- Giá trị hợp lý của khoản đầu tư trong công ty liên kết nếu chúng có giá tham chiếu trên thị trường
- Thông tin tài chính tổng hợp của công ty liên kết, bao gồm giá trị tổng hợp của tài sản, nợ phải trả, doanh thu và lợi nhuận
Trang 26- Nguyên nhân vì sao nhà đầu tư nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua công ty con nhỏ hơn 20% quyền biểu quyết nhưng vẫn có ảnh hưởng đáng kể
- Việc sử dụng BCTC của công ty liên kết được lập khác ngày với BCTC của nhà đầu tư
- Bản chất và mức độ của các giới hạn quan trọng ảnh hưởng đến khả năng chuyển giao vốn cho nhà đầu tư của công ty liên kết
- Phần sở hữu tương ứng với khoản lỗ của công ty liên kết không được ghi nhận
- Nguyên nhân mà BCTC tại công ty liên kết không được trình bày theo phương pháp Vốn chủ sở hữu
Các khoản đầu tư vào công ty liên kết được áp dụng theo phương pháp Vốn chủ sở hữu phải được phân loại là tài sản dài hạn và được phản ánh thành một khoản mục riêng biệt trên Bảng CĐKT hợp nhất Phần sở hữu của nhà đầu tư về lãi hoặc lỗ của những khoản đầu tư đó phải trình bày thành một khoản mục riêng biệt trong BC KQHĐKD hợp nhất
Nhà đầu tư phải thuyết minh:
- Phần vốn trong các khoản nợ tiềm tàng của công ty liên kết
- Những khoản nợ tiềm tàng tăng vì nhà đầu tư có trách nhiệm pháp lý cho tất cả hay một phần nợ của công ty liên kết
Đối với khoản đầu tư góp vốn liên doanh:
Trường hợp liên doanh theo hình thức hoạt động liên doanh đồng kiểm soát, mỗi bên góp vốn liên doanh phải phản ánh hoạt động kinh doanh được đồng kiểm soát trong BCTC của mình, gồm:
- Tài sản do bên góp vốn liên doanh kiểm soát và các khoản nợ phải trả mà họ gánh chịu
- Chi phí phải gánh chịu và doanh thu được chia từ việc bán hàng hay cung cấp dịch
vụ của liên doanh
Trường hợp liên doanh theo hình thức tài sản đồng kiểm soát, mỗi bên góp vốn liên doanh phải phản ánh tài sản được đồng kiểm soát trong BCTC của mình, gồm:
- Phần vốn góp vào tài sản đồng kiểm soát, được phân loại theo tính chất của tài sản
Trang 27- Các khoản nợ phải trả phát sinh riêng
- Phần nợ phải trả phát sinh chung
- Các khoản thu nhập từ việc bán hoặc sử dụng phần sản phẩm được chia từ bên liên doanh cùng với phần chi phí phát sinh được phân chia từ hoạt động liên doanh
- Các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc góp vốn liên doanh
Trường hợp đầu tư liên doanh theo hình thức thành lập cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát, nhà đầu tư liên doanh cần phải trình bày:
- Phương pháp kế toán cho việc ghi nhận lợi ích vào cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát
- Tổng giá trị các khoản nợ tiềm tàng, trừ khi khả năng lỗ là thấp và tồn tại biệt lập với các khoản nợ tiềm tàng khác
- Tổng giá trị các khoản cam kết về tiền vốn góp liên doanh trong liên doanh
Nhà đầu tư liên doanh ghi nhận các khoản lợi ích vào cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát theo phương pháp vốn chủ sở hữu hay phương pháp hợp nhất tỷ lệ sẽ phải công bố tổng giá trị của tài sản ngắn hạn, dài hạn, nợ phải trả ngắn hạn, dài hạn, doanh thu và chi phí liên quan đến phần lợi ích trong liên doanh
Đối với khoản đầu tư vào công cụ tài chính:
Tháng 8/2005, IASB đã ban hành IFRS 7 “Công bố công cụ tài chính” để quy định các yêu cầu liên quan đến việc công bố thông tin của công cụ tài chính IFRS bổ sung thêm các yêu cầu công bố của IAS 32, thay thế các yêu cầu công bố đối với các tổ chức tín dụng trong IAS 30 Như vậy, IFRS 7 đã đưa hết các yêu cầu công bố đối với công cụ tài chính cho mọi loại hình doanh nghiệp vào một chuẩn mực chung Trong IFRS 7, có hai nhóm thông tin quan trọng của các khoản đầu tư chứng khoán cần phải công bố trên BCTC:
Một là, thông tin về tầm quan trọng của các loại chứng khoán: trên Bảng Cân Đối Kế Toán, yêu cầu công bố
- Tầm quan trọng của các công cụ tài chính đối với vị trí tài chính và hoạt động của doanh nghiệp
Trang 28- Các yêu cầu công bố liên quan đến chứng khoán thương mại, gồm công bố về rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và cả sự thay đổi giá trị hợp lý
- Công bố về việc tái phân loại chứng khoán
Trên Báo Cáo Kết Quả Kinh Doanh, yêu cầu công bố:
- Công bố thu nhập, chi phí, lãi / lỗ của từng loại chứng khoán
- Mức độ tổn thất giảm giá trị
Các yêu cầu công bố khác:
- Chính sách kế toán áp dụng cho từng loại chứng khoán
- Thông tin về giá trị hợp lý và phương pháp xác định Công bố các thông tin chi tiết nếu không thể xác định được giá trị hợp lý
Hai là, thông tin về phạm vi và bản chất các rủi ro nảy sinh từ chứng khoán Đối với từng loại chứng khoán, cần công bố:
- Các rủi ro có thể nảy sinh
- Mức độ, chính sách và quản trị rủi ro của doanh nghiệp
- Mức độ của từng loại rủi ro vào ngày báo cáo: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường
1.3 KẾ TOÁN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA PHÁT TRIỂN
Kế toán có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi một quốc gia Vì
sự quan trọng và tính phức tạp, kế toán được quy định và hướng dẫn thực hiện không chỉ ở từng quốc gia riêng rẽ mà ngày nay là hướng dẫn chung cho toàn thế giới Tuy nhiên, ở các quốc gia khác nhau, với môi trường pháp lý khác nhau có những phương thức khác nhau để quy định và hướng dẫn về kế toán, vì vậy các nước đã xây dựng và phát triển một hệ thống nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung (gọi là GAAP) Nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung nghĩa là các quy định từ các nguồn khác nhau mà chúng chi phối đến công việc kế toán Trong mỗi quốc gia riêng rẽ, GAAP được xem là bao gồm của:
- Luật công ty của quốc gia
- Các chuẩn mực kế toán quốc gia
Trang 29- Các yêu cầu của cơ sở giao dịch chứng khoán địa phương
Mặc dù các nguồn này là cơ sở cho GAAP của các quốc gia riêng rẽ, nhưng khái niệm này cũng bao gồm các ảnh hưởng của những nguồn không mang tính bắt buộc như là:
- Các chuẩn mực kế toán quốc tế
- Các yêu cầu bắt buộc ở một số nước khác
Trong hơn thập kỷ qua, một hệ thống các chuẩn mực kế toán quốc tế đã và đang được phát triển và dần thay thế hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia Chuẩn mực BCTC quốc tế (tên viết tắt IFRS) được hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) biên soạn
và ban hành nhằm hướng dẫn việc thực thiện và trình bày báo cáo kế toán có tính thống nhất cao và được sử dụng rộng rãi khắp thế giới Mục đích của việc tiêu chuẩn hóa này
là để giúp tạo ra sự phù hợp đối với quá trình chuẩn bị lập báo cáo tài chính trong một môi trường toàn cầu Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) ngày nay được rất nhiều quốc gia trên toàn thế giới áp dụng, tính đến thời điểm cuối năm 2008 đã có hơn
100 quốc gia gồm Úc, Singapore, Thổ Nhĩ Kỳ, và toàn bộ quốc gia trong khối liên minh Châu Âu Bên cạnh đó cũng có nhiều quốc gia đang trong quá trình chuẩn bị thông qua bộ chuẩn mực IFRS nhưng vẫn chưa được chuyển tiếp một cách hoàn toàn triệt để như trường hợp Hoa Kỳ thì vẫn còn đang trong giai đoạn chuẩn bị để tiến tới áp dụng IFRS
Với mục tiêu hoàn thiện thông tin trình bày trên BCTC của hoạt động đầu tư tài chính trong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam theo hướng chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) và chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS), để thấy được đây là con đường đi thích hợp cho hệ thống kế toán Việt Nam, tác giả đi vào tìm hiệu mức độ ảnh hưởng của IAS/IFRS tại một số quốc gia trên thế giới thông qua việc tìm hiểu hệ thống các quy định được áp dụng tại Mỹ, Singapore và Pháp, qua đó khẳng định đây là hướng hoàn thiện không phải dành riêng cho kế toán Việt Nam mà là con đường hội nhập chung trên toàn thế giới
Trang 301.3.1 Tình hình kế toán hoạt động đầu tư tài chính ở một số quốc gia phát triển
Tại Mỹ, nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung, viết tắt US GAAP là các quy định cho việc chuẩn bị, trình bày và lập BCTC cho nhiều loại hình doanh nghiệp như là các công ty công, công ty tư nhân, các tổ chức phi lợi nhuận, và chính phủ US GAAP bao gồm khuôn mẫu lý thuyết kế toán được áp dụng, luật kế toán liên quan và chuẩn mực
- Không đưa ra các trường hợp ngoại trừ cho việc lập BCTC hợp nhất
Quyền biểu quyết tiềm
- Không xem xét quyền biểu quyết tiềm năng
Sự khác biệt về chính sách
kế toán giữa công ty mẹ và
công ty con:
- Những điều chỉnh thích hợp phải được thực hiện trước khi lập BCTC hợp nhất
- Không yêu cầu phải thực hiện các điều chỉnh cho sự khác biệt
Sự khác biệt về ngày báo
cáo giữa công ty mẹ và
- Yêu cầu sự khác biệt này không được vượt quá 3
- Yêu cầu sự khác biệt này không được vượt quá 3
Trang 31công ty con: tháng và phải thực hiện
điều chỉnh cho những giao dịch quan trọng
tháng và phải công bố cho những giao dịch quan trọng
Phương pháp kế toán trong
BCTC riêng của nhà đầu
tư:
- Không áp dụng phương pháp Vốn chủ sở hữu
Doanh nghiệp lựa chọn ghi nhận theo giá gốc hoặc theo IAS 39
- Phương pháp Vốn chủ sở hữu được phép áp dụng
Kế toán khoản đầu tư vào công ty liên kết:
Xử lý trường hợp các
khoản lỗ trong công ty liên
kết vượt quá lợi ích nhà
- Nhà đầu tư phải tiếp tục ghi nhận các khoản lỗ khi các khoản lợi nhuận trong công ty liên kết sắp xảy ra
- Không yêu cầu phải thực hiện các điều chỉnh cho sự khác biệt
Sự khác biệt về ngày báo
cáo giữa nhà đầu tư và
công ty liên kết:
- Yêu cầu sự khác biệt này không được vượt quá 3 tháng và phải thực hiện điều chỉnh cho những giao dịch quan trọng
- Yêu cầu sự khác biệt này không được vượt quá 3 tháng và phải công bố cho những giao dịch quan trọng
Phương pháp kế toán trong
BCTC riêng của nhà đầu
tư:
- Không áp dụng phương pháp Vốn chủ sở hữu
Doanh nghiệp lựa chọn ghi nhận theo giá gốc hoặc theo IAS 39
- Phương pháp Vốn chủ sở hữu được phép áp dụng
Trang 32Kế toán khoản đầu tư liên doanh
Hình thức liên doanh: - Đưa ra 3 hình thức liên
doanh
- Đề cập nhiều hình thức liên doanh dưới hình thức thành lập cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát và đưa ra hướng dẫn cho các hình thức liên doanh khác dưới dạng hợp đồng hợp tác liên doanh
Phương pháp kế toán: - Lựa chọn một trong hai
phương pháp:
Phương pháp Vốn chủ
sở hữu
Phương pháp hợp nhất tỷ lệ
- Phần lớn áp dụng phương pháp Vốn chủ sở hữu (ngoại trừ trường hợp ngành xây dựng, ngành công nghiệp khí đốt thì phương pháp hợp nhất tỷ lệ được phép áp dụng)
Kế toán các khoản đầu tư là công cụ tài chính
Phân loại: - Các khoản nợ và phải thu
được xem là tài sản tài chính
- Các khoản nợ và phải thu không được xem là tài sản tài chính
Hoàn nhập tổn thất: - Cho phép hoàn nhập tổn
thất khi đáp ứng các điều kiện cần thiết
- Không cho phép hoàn nhập lại các khoản tổn thất
Tại Singapore, chuẩn mực kế toán Singapore xây dựng dựa trên mô hình của Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) và chuẩn mực Báo cáo tài chính (IFRS) do hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) ban hành Chuẩn mực kế toán Singapore được gọi là
Trang 33Chuẩn mực báo cáo tài chính (FRS) và tất cả các công ty có kỳ kế toán sau ngày 01/01/2003 đều phải áp dụng phù hợp với quy định của Chuẩn mực báo cáo tài chính (FRS)
Kế toán hoạt động đầu tư tài chính theo chuẩn mực kế toán Singapore được thể hiện thông qua các chuẩn mực Báo cáo tài chính FRS 27, FRS 28, FRS 31, FRS 32 và FRS
39 và tương tự như Chuẩn mực kế toán quốc tế liên quan
Tại Pháp, chuẩn mực kế toán là 1 bộ phận của luật doanh nghiệp do đó mỗi doanh nghiệp được yêu cầu phải tuân theo khi xây dựng hệ thống tài khoản, tất cả các doanh nghiệp đều phải sử dụng hệ thống tài khoản chung và tuân theo các quy luật kế toán (bị ảnh hưởng nặng nề từ chính sách thuế) và sử dụng mẫu biểu chung của BCTC
Vào tháng 4 năm 1998, một bộ phận văn phòng kế toán được hình thành, mang tên: the Comite de la Reglementation Comptable (CRC) để đảm nhận trách nhiệm phát triển các chuẩn mực kế toán mới
Sau đây là một số những khác biệt về kế toán hoạt động đầu tư tài chính giữa IFRS và French GAAP:
Bảng 1.3: Những khác biệt cơ bản giữa IFRS và French GAAP
Kế toán khoản đầu tư vào công ty con
- BCTC hợp nhất được lập dựa trên cơ sở
quyền kiểm soát, bao gồm cả việc xem xét
về quyền biểu quyết tiềm năng
- Công ty mẹ không cần thiết phải nắm
giữ cổ phần tại công ty con
- Một công ty con sẽ được loại trừ ra khỏi
BCTC hợp nhất nếu nó được mua hoặc
nắm giữ vì mục đích bán trong tương lai
gần
- Công ty con bị loại trừ ra khỏi BCTC
hợp nhất thì được xem là tài sản tài chính
- Sự khác biệt ngày kết thúc niên độ kế
- Kiểm soát dựa trên quyền kiểm soát thực
tế, không có hướng dẫn về quyền biểu quyết tiềm năng
- Công ty mẹ, ít nhất phải nắm giữ 1 cổ phần tại công ty con
- Một công ty con bị nắm giữ vì mục đích bán (thanh lý) thì không cần lập BCTC hợp nhất
- Công ty con bị loại trừ ra khỏi BCTC hợp nhất được xem là đầu tư dài hạn
- BCTC của công ty con sử dụng cho việc hợp nhất BCTC thì ngày kết thúc niên độ
Trang 34toán giữa công ty mẹ và công ty con
không được vượt quá 3 tháng
chỉ được không quá 3 tháng trước so với BCTC công ty mẹ
Kế toán đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh
- Mối quan hệ công ty liên kết được xác
định khi nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể
- Để đánh giá ảnh hưởng đáng kể, cần
phải xem xét cả quyền biểu quyết tiềm
năng
- Khoản đầu tư vào công ty liên kết sẽ
được xem là tài sản tài chính trong trường
hợp khoản đầu tư này được mua hoặc nắm
giữ để bán trong tương lai gần
- Lợi thế thương mại được đưa vào giá trị
khoản đầu tư vào công ty liên kết
- Cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát phải hợp nhất theo phương pháp tỷ lệ
- Lợi thế thương mại được tách riêng ra
khỏi khoản đầu tư vào công ty liên kết
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Mỗi quốc gia với đặc điểm về kinh tế, văn hóa, hệ thống luật pháp khác nhau sẽ có hệ thống kế toán khác nhau nhưng để hội nhập với thế giới thì bất cứ quốc gia nào cũng đòi hỏi hệ thống kế toán phải được xây dựng sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế Thời gian qua đã có nhiều thay đổi trong lĩnh vực kế toán và báo cáo tài chính, các tổ chức ban hành chuẩn mực kế toán quốc tế đang cố gắng hài hòa các nguyên tắc kế toán được thừa nhận của Mỹ (US GAAP) và các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và tính đến nay thì đã có nhiều quốc gia cho phép hoặc yêu cầu áp dụng một phần hay toàn bộ, trong đó Mỹ cũng đang có kế hoạch áp dụng toàn bộ IAS/IFRS để thay thế các chuẩn mực kế toán quốc gia Lộ trình đi từ hòa hợp đến hội tụ kế toán quốc tế đang được cả thế giới cùng nỗ lực thực hiện
Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, là thành viên chính thức của WTO, Việt Nam sẽ thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp đầu tư và có
Trang 35nhiều cơ hội vươn ra thế giới Do vậy, tham gia sân chơi chung, việc lựa chọn xây dựng và hoàn thiện theo Việt Nam cũng phải tuân thủ những quy luật, quy định chung của thế giới và việc Việt Nam tuân thủ IFRS là một tất yếu Hệ thống kế toán Việt Nam trong những năm gần đây đã liên tục được phát triển và hoàn thiện Từ năm 2001, Việt Nam đã xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia riêng (VAS) trên cơ sở áp dụng hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế IAS Tuy nhiên, hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam nói chung và các chuẩn mực về hoạt động đầu tư tài chính nói riêng còn có nhiều sự khác biệt so với IAS và đặc biệt là IFRS sau này Khác biệt căn bản là Việt Nam vẫn đang áp dụng cơ sở giá gốc và chưa áp dụng cơ sở giá trị hợp lý Vì vậy, Việt Nam cần phải đẩy mạnh nghiên cứu để hoàn thiện thông tin trình bày trên BCTC cho phù hợp với thông lệ quốc tế
Trang 36Kết luận chương 1:
Sự phát triển của thị trường chứng khoán đã làm cho giao dịch đầu tư ngày càng trở nên đa dạng hơn, đóng góp vai trò quan trọng trong nền kinh tế cũng như trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tính chất đa dạng và phức tạp của các giao dịch đầu tư đặt ra yêu cầu cho việc trình bày thông tin hoạt động này trên hệ thống BCTC doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thông tin cho người sử dụng Hướng đến mục tiêu hoàn thiện thông tin trình bày trên BCTC hoạt động đầu tư tài chính theo hướng chuẩn mực
kế toán quốc tế IAS/IFRS, tác giả tìm hiểu những quy định hướng dẫn về phương pháp
kế toán cho việc ghi nhận, phân loại và xử lý thông tin tương ứng với từng loại hình đầu tư theo hướng dẫn của IAS / IFRS Bên cạnh đó, nhằm có cơ sở so sánh, đối chiếu các quy định của IAS/IFRS với một số quy định của các nước trên thế giới để thấy được mức độ ảnh hưởng và sự khác biệt của IAS/IFRS tác giả cũng đã nghiên cứu các quy định tại một số quốc gia như Mỹ, Singapore và Pháp để khẳng định con đường hoàn thiện cho kế toán Việt Nam theo hướng chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS là
sự lựa chọn đúng đắn và phù hợp
Trang 37CHƯƠNG 2:
NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM
2.1 SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG
TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trong thập niên 90 của thế kỷ 20 khi Việt Nam chưa có thị trường chứng khoán, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam tăng theo chiều hướng ngày càng chậm lại, xuất phát từ nguyên nhân chủ yếu là do qui mô tăng vốn không đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế Từ thực tế này, Chính phủ Việt Nam đã khẩn trương xây dựng và vận hành thị trường chứng khoán nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính quốc gia Quá trình hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam tóm lược như sau:
- Năm 1992 thành lập tổ nghiên cứu đề án thành lập thị trường vốn Việt Nam thuộc
Bộ Tài chính và ngân hàng Nhà nước;
- Năm 1993 ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành lập một bộ phận chuyên nghiên cứu về lĩnh vực thị trường chứng khoán là Ban thị trường vốn;
- Ngày 28/11/1996 Chính phủ ban hành Nghị định số 75/CP về việc thành lập UBCKNN trược thuộc Chính phủ với chức năng quản lý các hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam;
- Ngày 11/7/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 48/1998/NĐ – CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán về việc thành lập hai TTGDCK Hà Nội và TP.HCM;
- Ngày 20/7/2000 ghi nhận một sự kiện quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam cũng như trong lĩnh vực tài chính – thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời với việc khai trương TTGDCK TP.HCM Ngày 28/7/2000 TTGDCK TP.HCM chính thức đi vào hoạt động phiên giao dịch đầu tiên với sự góp mặt của 2 cổ phiếu REE và SAM với tổng vốn điều lệ 270 tỷ đồng
Trang 38Kể từ khi TTGDCK TP.HCM đi vào hoạt động cho đến nay thị trường chứng khoán Việt Nam được tổ chức giao dịch ở hai sở giao dịch chứng khoán: TP.HCM và Hà Nội,
số lượng công ty niêm yết trên hai sàn này ngày càng gia tăng, hàng hóa trên thị trường chứng khoán niêm yết của Việt Nam hiện tại chỉ giao dịch cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, các hoạt động đầu
tư tài chính ngày càng đa dạng hơn, vì vậy cũng đã dẫn đến nhiều sự thay đổi trong môi trường pháp lý về các quy định kế toán để đáp ứng được nhu cầu thông tin về các hoạt động này
2.2 CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LÝ CHI PHỐI KẾ TOÁN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH VIỆT NAM
Quá trình phát triển hệ thống kế toán Việt Nam có thể chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn trước năm 1986;
- Giai đoạn từ năm 1986 – 1995 (giai đoạn trước QĐ 1141);
- Giai đoạn từ năm 1996 đến nay
Giai đoạn trước năm 1986: đây là giai đoạn nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung Nhà nước thực hiện chế độ quản lý kinh tế toàn diện đối với doanh nghiệp thông qua việc giao chỉ tiêu, nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh bằng các chỉ tiêu pháp lệnh Tài chính doanh nghiệp trong giai đoạn này chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước, do đó trong giai đoạn này không tồn tại khái niệm đầu tư tài chính Tất cả các nguồn vốn và quỹ xí nghiệp đều phải sử dụng đúng mục đích và được Nhà nước cấp phát
Giai đoạn từ năm 1986 – 1995 (giai đoạn trước QĐ 1141): từ năm 1986, Việt Nam thực hiện chính sách cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Nhà nước bắt đầu mở cửa thị trường, các hoạt động đầu tư tài chính bắt đầu xuất hiện dưới hình thức góp vốn liên doanh Đến đầu những năm 1990, thị trường tài chính dần phát triển, các hình thức đầu tư của doanh nghiệp đa dạng hơn, đòi hỏi các quy định kế toán phải thay đổi để phù hợp với tình hình mới Chế độ kế toán mới ban hành theo QĐ 1205/TC – CĐKT ngày 14/12/1994 đã phản ánh các hình thức đầu tư của doanh nghiệp thông qua việc xây
Trang 39dựng tài khoản kế toán, nhưng chưa hướng dẫn cách ghi nhận và tiêu chí phân biệt các khoản đầu tư tài chính Nhìn chung, các quy định về kế toán hoạt động đầu tư tài chính trong giai đoạn này còn rất đơn sơ
Giai đoạn từ năm 1996 đến nay: đây là giai đoạn nhà nước ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực kế toán Đầu tiên là việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp theo quyết định số 1141 (tháng 11 năm 1995) áp dụng thống nhất cho tất
cả loại hình doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực
Chế độ kế toán doanh nghiệp theo quyết định số 1141 đã hướng dẫn phân loại hoạt động đầu tư tài chính Căn cứ vào mục đích và thời hạn đầu tư, đầu tư tài chính được chia làm hai loại:
- Đầu tư ngắn hạn: là việc bỏ vốn mua các loại chứng khoán có giá trị hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, hiện vật có thể thu hồi trong thời hạn không quá một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh và các loại đầu tư khác không quá một năm Đầu tư ngắn hạn được chia thành:
Đầu tư chứng khoán ngắn hạn (trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu…)
Đầu tư ngắn hạn khác: góp vốn liên doanh ngắn hạn hoặc cho vay vốn mà thời hạn thu hồi không quá một năm
- Đầu tư dài hạn: là việc mua các loại chứng khoán có giá trị hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, hiện vật, mua cổ phần không thể thu hồi trong thời hạn ngắn mà thường là trên một năm và các loại đầu tư khác vượt quá thời hạn một năm Đầu tư dài hạn được chia thành:
Đầu tư chứng khoán dài hạn (cổ phiếu, trái phiếu)
Góp vốn liên doanh
Đầu tư dài hạn khác như: đầu tư kinh doanh bất động sản, cho vay vốn, cho thuê tài sản cố định theo phương thức thuê tài chính … mà thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên 1 năm
Như vậy, theo quyết định 1141 TC/CĐKT ngày 01.11.1995 của Bộ Tài Chính ban hành cũng có hướng dẫn kế toán đầu tư tài chính, nhấn mạnh đến đầu tư chứng khoán nhưng cũng rất đơn giản và chủ yếu là thực hiện kế toán theo phương pháp giá gốc Ở
Trang 40thời điểm này hệ thống kế toán Việt Nam đã đáp ứng tương đối yêu cầu hạch toán về đầu tư tài chính vì phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động là loại hình doanh nghiệp nhà nước, công ty TNHH, công ty tư nhân, và rất ít công ty cổ phần Các chứng khoán chưa được niêm yết vì chưa hình thành các sở, sàn giao dịch chứng khoán
Sau đó, luật Kế toán ban hành năm 2003, đã góp phần nâng cao tính pháp lý của hệ thống văn bản pháp luật về kế toán và đảm bảo sự quản lý thống nhất về kế toán Luật
Kế toán quy định về nội dung công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán, người làm kế toán và hoạt động nghề nghiệp kế toán
Năm 2004, 2005 và 2006, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện căn bản hệ thống khuôn khổ pháp luật về kế toán cho phù hợp với Luật Kế toán 2003 và thông lệ quốc tế Hàng loạt văn bản hướng dẫn thực thi Luật Kế toán bao gồm các nghị định, chuẩn mực, chế độ kế toán và các thông tư hướng dẫn thực hiện các chuẩn mực kế toán (CMKT) để đảm bảo tính thực thi của Luật Kế toán Nội dung các văn bản hướng dẫn hiện hành và cơ bản đã phù hợp với hoạt động của nền kinh tế thị trường Đặc biệt, cho phép các đơn vị kế toán được quyền thuê các tổ chức, cá nhân có đủ tiêu chuẩn, điều kiện làm kế toán, làm kế toán trưởng Để đáp ứng nhu cầu dịch vụ kế toán phát triển lành mạnh, các văn bản liên quan đến hoạt động nghề nghiệp kế toán đã được ban hành đầy đủ và đồng bộ, bao gồm quy chế thi và cấp chứng chỉ hành nghề kế toán, quy định
về đăng ký và quản lý hành nghề kế toán, quy chế kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, quy định về xử phạt vi phạm trong hoạt động kế toán của các tổ chức, cá nhân có liên quan
Hệ thống CMKT Việt Nam là nội dung quan trọng trong hệ thống văn bản pháp luật về
kế toán, bắt đầu được nghiên cứu, xây dựng và công bố từ năm 2000 trên cơ sở hệ thống CMKT quốc tế (IAS) và chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) cho phù hợp với điều kiện thực tiễn và trình độ phát triển của Việt Nam Việc ban hành hệ thống CMKT đã góp phần quan trọng trong việc hướng các hoạt động kế toán của doanh nghiệp từng bước phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và được quốc tế thừa nhận Cho đến nay, Việt Nam đã ban hành được 26 chuẩn mực kế toán, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động