Thực hiện ESO giúp gắn chặt quyền lợi của người nắm quyền mua cổ phiếu với công ty, do đó giữ chân được những vị trí quan trọng trong công ty, giúp công ty không phải sử dụng đến tiền mặ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGÔ THỊ MỸ DUYÊN
VẬN DỤNG IFRS 2 TRONG KẾ TOÁN QUYỀN CHỌN MUA
CỔ PHIẾU DÀNH CHO NHÂN VIÊN TẠI CÁC CÔNG TY
CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGÔ THỊ MỸ DUYÊN
VẬN DỤNG IFRS 2 TRONG KẾ TOÁN QUYỀN CHỌN MUA
CỔ PHIẾU DÀNH CHO NHÂN VIÊN TẠI CÁC CÔNG TY
CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI VĂN DƯƠNG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của tôi, dưới sự hướng dẫn của Người hướng dẫn khoa học Tất cả các nguồn tài liệu tham khảo đều được ghi rõ nguồn gốc Đây là đề tài luận văn Thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành Kế toán Luận văn này chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào
TP.Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2014 Học viên
Ngô Thị Mỹ Duyên
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
4 Tổng kết những nghiên cứu trước và đóng góp mới của luận văn 4
5 Hạn chế của luận văn 6
6 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUYỀN CHỌN MUA CỔ PHIẾU DÀNH CHO NHÂN VIÊN
1.1 Giới thiệu về ESO 8
1.1.1 Quyền chọn mua 8
1.1.2 Khái niệm ESO 9
1.1.3 Những thuật ngữ liên quan đến một ESO 9
1.1.4 Điểm khác biệt cơ bản của ESO so với quyền chọn truyền thống 12
1.1.5 Giới thiệu chương trình ESO 14
1.2 Kế toán ESO theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 2 15
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của IFRS 2 15
1.2.2 Mục tiêu và phạm vi của IFRS 2 17
1.2.3 Nội dung của IFRS 2 về xử lý kế toán ESO 20
1.2.3.1 Quy định về ghi nhận 20
Trang 51.2.3.2 Quy định về đo lường 25
1.2.3.3 Quy định về công bố và trình bày thông tin 34
1.3 Thực tế vận dụng IFRS 2 để xử lý kế toán ESO của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 35
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KẾ TOÁN QUYỀN CHỌN MUA CỔ PHIẾU DÀNH CHO NHÂN VIÊN TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM 40
2.1 Thực trạng các quy định về kế toán ESO tại Việt Nam 40
2.2 Thực trạng xử lý kế toán ESO tại các CT CPNY VN 41
2.2.1 Kết quả khảo sát về thực trạng xử lý kế toán ESO tại các CT CPNY VN 41
2.2.2 Minh họa thực trạng xử lý kế toán ESO tại các CT CPNY VN 44
2.2.2.1 Công ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Công Nghệ Điện Tử Viễn Thông 44
2.2.2.2 Tổng Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam 49
2.3 Việt Nam nên cân nhắc vận dụng IFRS 2 để soạn thảo quy định về xử lý kế toán ESO 52
2.4 Những thách thức Việt Nam sẽ gặp phải khi soạn thảo và ban hành quy định về kế toán ESO 54
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 54
CHƯƠNG 3: CÁC GỢI Ý VẬN DỤNG IFRS 2 TRONG KẾ TOÁN QUYỀN CHỌN MUA CỔ PHIẾU DÀNH CHO NHÂN VIÊN TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM 56
3.1 Soạn thảo và ban hành quy định về kế toán ESO 56
3.1.1 Quan điểm vận dụng IFRS 2 để soạn thảo và ban hành quy định về kế toán ESO 56
3.1.2 Khuyến nghị nội dung quy định về kế toán ESO 56
Trang 63.1.3 Minh họa xử lý kế toán ESO tại một số CT CPNY VN theo IFRS 2 60
3.2.Giải pháp đối với những thách thức 65
3.2.1.Việc vận dụng IFRS 2 cũng chịu tác động của các nhân tố tương tự như việc vận dụng IAS/IFRS nói chung 65 3.2.2 Thiếu khung pháp lý cho việc phát hành và quản lý ESO cho các CT CPNY VN 67 3.2.3 Các quy định về thuế của Việt Nam chưa đề cập đến chi phí phát sinh bởi ESO 67 3.2.4 Phản ứng của các nhà quản lý đối với quy định ghi nhận chi phí phát sinh bởi ESO 71 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 72 LỜI KẾT LUẬN 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 Các chữ viết tắt có nguồn gốc tiếng Việt:
Chữ viết tắt Cụm từ đầy đủ tiếng Việt
CT CPNY VN Công ty cổ phần niêm yết Việt Nam
GTHL Giá trị hợp lý
TK Tài khoản
2 Các chữ viết tắt có nguồn gốc tiếng Anh:
Chữ viết tắt Cụm từ đầy đủ tiếng Anh Cụm từ tiếng Việt
AASB Australia Accounting
Standard Board Hội đồng chuẩn mực kế toán Úc
AcSB Canadian Accounting
Cr Credit Record Ghi có
Dr Debit Record Ghi nợ
ESO Employee share option Quyền chọn mua cổ phiếu dành
cho nhân viên
FASB Financial Accounting
IAS International Accounting
Standard Chuẩn mực kế toán quốc tế
Trang 8Chữ viết tắt Cụm từ đầy đủ tiếng Anh Cụm từ tiếng Việt
IASB International Accounting
Chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ số 123 đã sửa đổi
Từ cuối năm 2009, cụm từ SFAS được thay thế bởi cụm từ ASC – Accounting Standards
Condification – Chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng Tên Chương Trang
Bảng 1.1 Điểm khác biệt cơ bản của ESO so với quyền
Bảng 2.3 Một phần bảng thuyết minh báo cáo tài chính
quý 1/2014 của ELCOM 2 48
Bảng 2.4 Thông tin về ESO do công ty BIC phát hành 2 50
Bảng 2.5 Một phần bảng cân đối kế toán quý 1/2014
Bảng 2.6 Một phần bảng thuyết minh báo cáo tài chính
quý 1/2014 của BIC 2 52
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Mô hình đơn giản của một chương trình ESO gắn
Hình 1.2 Mô tả vị trí của kế toán ESO trong phạm vi của
Hình 2.1
Tỷ lệ số người cho rằng hệ thống Kế toán Việt Nam VAS hiện nay chưa có một chuẩn mực kế toán hoặc văn bản pháp lý nào đề cập đến việc xử
2 43
Hình 2.5
Thông tin liên quan đến chương trình phát hành ESO được đề cập trong thuyết minh báo cáo tài chính của các CT CPNY VN là khá rõ ràng
2 43
Trang 11ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG IFRS 2 TRONG KẾ TOÁN QUYỀN
CHỌN MUA CỔ PHIẾU DÀNH CHO NHÂN VIÊN TẠI CÁC
CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM
1 Lý do chọn đề tài:
Quyền chọn mua cổ phiếu dành cho nhân viên (Employee share option – ESO)
là quyền chọn mua mà các công ty niêm yết dành cho nhân viên công ty đối với cổ phiếu của mình như là một hình thức trả thù lao, trả thưởng phi tiền mặt Thực hiện ESO giúp gắn chặt quyền lợi của người nắm quyền mua cổ phiếu với công ty, do đó giữ chân được những vị trí quan trọng trong công ty, giúp công ty không phải sử dụng đến tiền mặt để trả lương, trong khi tiền mặt là thứ công ty rất cần, đặc biệt là giai đoạn đầu, giúp người nắm quyền mua cổ phiếu không phải đóng thuế thu nhập cho đến khi quyền mua được thực hiện, giúp cho nhân viên sẽ có động lực làm việc hăng say nhiệt tình hơn khi gía cổ phiếu lên…
Quyền chọn mua cổ phiếu dành cho nhân viên được các công ty niêm yết của các nước có nền kinh tế thị trường và thị trường chứng khoán phát triển đã và đang thực hiện, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, Anh, Úc, Canada…Khi thực hiện quyền chọn mua
cổ phiếu dành cho nhân viên sẽ phát sinh chênh lệch giữa gía trị của số cổ phiếu được mua tính theo giá thực hiện và giá trị số cổ phiếu đó tính theo giá thị trường tại ngày phát hành quyền chọn, theo quy định của IFRS 2 (Share – based Payment – Thanh toán trên cơ sở cổ phiếu), phần chênh lệch này phải được ghi nhận là chi phí
và phải được trình bày trong báo cáo kết quả kinh doanh Tuy nhiên, trong thực tế các công ty dung thủ thuật ghi lùi ngày phát hành quyền quyền chọn mua cổ phiếu với giá nhỏ hơn hoặc bằng giá thực hiện, vì vậy sẽ không có chi phí phát sinh và từ
đó thổi phồng lợi nhuận của công ty Vụ phá sản của những tập đoàn lớn của Hoa
Kỳ trong năm 2001 như Enron, Xerox…là minh chứng sinh động cho thủ thuật này
Và thời gian gần đây là việc ghi lùi ngày phát hành quyền chọn mua cổ phiếu của các đại gia Apple, Microsoft mà Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ phải tiến hành điều tra
Trang 12Tại Việt Nam hiện nay, đã có nhiêù công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán đang thực hiện quyền chọn mua cổ phiếu cho nhân viên như: công ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Công Nghệ Điện Tử Viễn Thông, công ty Cổ Phần Hoàng Anh Gia Lai, Tổng Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam,…Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay chưa có cơ chế tài chính, chưa có chuẩn
mực kế toán, chế độ kế toán để qui định và hướng dẫn cụ thể về vấn đề này
Như vậy, từ thực tiễn đòi hỏi Việt Nam nên có văn bản quy định về xử lý kế
toán ESO, tác giả quyết định chọn đề tài luận văn: “Vận dụng chuẩn mực báo cáo
tài chính quốc tế IFRS 2 trong kế toán quyền chọn mua cổ phiếu dành cho nhân viên tại các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam”
Đây là cơ hội để tác giả tìm hiểu sâu hơn về xử lý kế toán ESO theo IFRS 2, tìm hiểu về thực trạng quy định về kế toán ESO của Việt Nam, tìm hiểu về thực trạng xử lý kế toán ESO ở các CT CPNY VN hiện nay; trên cơ sở đó, có những đề xuất nhằm thực hiện tiến trình hòa hợp với kế toán quốc tế trong việc xử lý kế toán ESO
2 Mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn:
[1] Tìm hiểu các vấn đề lý thuyết liên quan đến ESO, liên quan đến kế toán ESO (đặc biệt là chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế)
[2] Thực tế xử lý kế toán ESO tại Việt Nam (từ các quy định đến thực tế xử lý
kế toán ESO tại các CT CPNY VN)
[3] Đưa ra một số đề xuất nhằm thực hiện tiến trình hòa hợp với kế toán quốc tế trong việc xử lý kế toán ESO
Để đạt được 3 mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn cần làm rõ 5 câu hỏi nghiên cứu: [1] ESO có những đặc điểm cơ bản nào? Điểm khác biệt cơ bản của ESO so với quyền chọn mua truyền thống là gì?
Trang 13[2] Theo IFRS 2, xử lý kế toán ESO được quy định theo như thế nào?
[3] Thực tế xử lý kế toán ESO tại Việt Nam như thế nào (xét từ các quy định đến thực tế xử lý kế toán ESO tại các CT CPNY VN)?
[4] Việt Nam có nên cân nhắc vận dụng IFRS 2 để xử lý kế toán ESO?
[5] Giải pháp nào nhằm góp phần cho Việt Nam thực hiện tiến trình hòa hợp với kế toán quốc tế trong việc xử lý kế toán ESO?
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp định tính, kết hợp sử dụng các công cụ phục vụ nghiên cứu là: thống kê mô tả, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh để giải quyết các vấn đề của mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu các lý luận liên quan đến ESO, các quy định về xử lý
kế toán ESO theo IFRS 2, những tồn tại chung quanh khung pháp lý về kế toán ESO
và thực trạng xử lý kế toán ESO tại các CT CPNY VN
Phạm vi nghiên cứu:
Thứ nhất, các lý luận về cách thức triển khai, khung pháp lý về phát hành và quản lý ESO sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn Luận văn được xác định là tập trung xử lý kế toán ESO (ghi nhận, đo lường, công bố và trình bày thông tin)
Thứ hai, lý thuyết nền của luận văn là chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 2 – Thanh toán trên cơ sở cổ phiếu
Trang 144 Tổng kết những nghiên cứu trước và đóng góp mới của luận văn:
Tổng kết những nghiên cứu trước:
Trên cơ sở tổng kết những nghiên cứu trước đây, tác giả đã kế thừa, đồng thời nhận diện những lỗ hổng của những nghiên cứu này để luận văn có thể nghiên cứu sâu hơn
• Thứ nhất, tổng kết những nghiên cứu trước đây của nước ngoài:
Đề tài “Accounting for Employee Stock Options” (Warrick Boyd van Zyl, 2010):
Đề tài mô tả về một ESO, những điểm khác biệt cơ bản của ESO so với một quyền chọn truyền thống Nội dung này được luận văn kế thừa và vận dụng
Đề tài “Recognizing Employee Stock Options: the impact of IFRS 2 on Dutch
listed companies” (Ewout de Vaere, 2008):
Đề tài này quan tâm hai vấn đề chính: thứ nhất, giới thiệu sơ nét ba nhiệm vụ quan trọng của kế toán ESO theo IFRS 2 là ghi nhận, đo lường, công bố và trình bày thông tin; thứ hai, việc bắt buộc ghi nhận chi phí của ESO theo IFRS 2 sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các chỉ số tài chính của các công ty niêm yết Hà Lan, đề tài kết luận rằng việc bắt buộc ghi nhận chi phí của ESO theo IFRS 2 sẽ ảnh hưởng không đáng
kể đến các chỉ số tài chính
Khác với đề tài trên về khía cạnh quan tâm nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu ba nhiệm vụ quan trọng của kế toán ESO theo IFRS 2 (ghi nhận, đo lường, công
bố và trình bày thông tin)
Đề tài “The Fair Value Of Employee Stock Option - Nestlé’s Case Study”
(Mariana Bernardes da Silva Tavares Cadete, 2012)
Đề tài không nhằm mục đích hệ thống những quy định về kế toán ESO (gồm ghi nhận, đo lường, công bố và trình bày thông tin), mà đề tài chỉ xoay quanh vấn đề ủng hộ đo lường GTHL của ESO Đề tài cho rằng: Kế toán GTHL đã trở thành đề tài bàn luận trong những năm gần đây Kế toán GTHL được giới thiệu lần đầu trong chuẩn mực kế toán quốc tế năm 1982 và trong IFRS năm 2003, GTHL được xem
Trang 15như một phương pháp đo lường thích hợp Vào năm 2004, người ta bắt đầu tính tới định giá ESO bằng việc đo lường GTHL Đây cũng là đề tài gây khá nhiều tranh cãi trong tổ chức IASB
Đề tài còn cho rằng: khi báo cáo tài chính không ghi nhận ESO bằng GTHL, công
ty đã ghi nhận không đầy đủ chi phí lương thưởng của nhân viên khi tính thu nhập thuần của công ty, kéo theo vị thế tài chính của công ty cũng không được trình bày một cách hợp lý
Như vậy, đề tài chủ yếu chỉ xoay quanh một khía cạnh trong kế toán ESO là ủng hộ
đo lường GTHL của ESO, mà không nhằm mục đích hệ thống những quy định về kế toán ESO (gồm ghi nhận, đo lường, công bố và trình bày thông tin)
Tạp chí “ Investors like firms that expense employee stock options and they
dislike firms that fail to expense ” (Fayez A Elayan, Kuntara Pukthuanthong, và Richard Roll, 2005)
Tạp chí nghiên cứu phản ứng của thị trường chứng khoán Mỹ trước sự lựa chọn ghi nhận chi phí hay không ghi nhận chi phí phát sinh bởi ESO của các công ty đại chúng Mỹ Nghiên cứu cho kết quả rằng không có một bằng chứng nào cho thấy việc ghi nhận chi phí phát sinh bởi ESO làm giảm giá cổ phiếu – điều này trái với
dự đoán Thậm chí, các nhà nghiên cứu này còn nhận thấy rằng trong cùng khoảng thời gian công bố thông tin, những công ty chọn ghi nhận chi phí phát sinh bởi ESO
có giá cổ phiếu tăng so với những công ty không ghi nhận chi phí phát sinh bởi ESO Thị trường có vẻ phản ứng tích cực đối với những báo cáo tài chính minh bạch hơn là đối với những báo cáo tài chính còn có điều chưa được thể hiện rõ Kết quả nghiên cứu của tạp chí này giúp củng cố lựa chọn ghi nhận chi phí phát sinh bởi ESO được quy định trong IFRS 2
• Thứ hai, tổng kết những nghiên cứu trước đây của Việt Nam:
Ở Việt Nam, tuy nghiệp vụ kinh tế ESO đã xuất hiện, nhưng Việt Nam chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu nào mang tính hệ thống, toàn diện liên quan đến xử lý
Trang 16kế toán cho nghiệp vụ này, Việt Nam chỉ có một số bài viết ngắn thể hiện sự cần thiết áp dụng ESO, thể hiện nhu cầu áp dụng ESO của các công ty cổ phần
Bài viết “Giới thiệu về phát hành quyền chọn mua cổ phần cho nhân viên
trong các công ty cổ phần của Việt Nam” (Hà Phương, 2008)
Bài viết này đưa ra những giới thiệu rất cơ bản để người đọc hiểu sơ bộ về ESO, đồng thời, bài viết gợi mở về thực trạng hệ thống kế toán Việt Nam hiện nay chưa
có một chuẩn mực kế toán nào về việc hạch toán và báo cáo ESO trên các báo cáo tài chính của công ty Tác giả nhận định rằng bài viết chỉ dừng lại ở việc gợi mở về thực trạng hệ thống kế toán Việt Nam hiện nay chưa có quy định về kế toán ESO, bài viết chưa đi sâu về khía cạnh kế toán ESO, bài viết cũng chưa đưa ra giải pháp
cụ thể để giải quyết thực trạng này
Đóng góp mới của luận văn:
• Hệ thống được những vấn đề lý thuyết cơ bản liên quan đến ESO, hệ thống được quy định của IFRS 2 về xử lý kế toán ESO
• Khái quát tình hình vận dụng IFRS 2 để xử lý kế toán ESO tại một số quốc gia trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
• Phác họa được thực trạng các quy định pháp lý của Việt Nam về kế toán ESO, thực trạng xử lý kế toán ESO tại một số CT CPNY VN, nhận diện những tồn tại, từ đó khuyến nghị những giải pháp nhằm góp phần cho Việt Nam thực hiện tiến trình hòa hợp với kế toán quốc tế trong việc xử lý kế toán ESO
5 Hạn chế của luận văn:
Luận văn chỉ mới dừng lại ở nghiên cứu định tính, nên vẫn chưa lượng hóa được các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng IFRS 2 để xử lý kế toán ESO trong điều kiện Việt Nam Hạn chế này sẽ gợi mở cho những đề tài nghiên cứu sau
6 Kết cấu của luận văn:
Tập trung giải quyết 3 mục tiêu nghiên cứu, luận văn có kết cấu 3 chương như sau:
Trang 17Chương 1: Tổng quan về kế toán quyền chọn mua cổ phiếu dành cho nhân viên Chương 2: Thực trạng về kế toán quyền chọn mua cổ phiếu dành cho nhân viên tại các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam
Chương 3: Các gợi ý vận dụng IFRS 2 trong kế toán quyền chọn mua cổ phiếu dành cho nhân viên tại các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam
Trang 18CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUYỀN CHỌN MUA CỔ
PHIẾU DÀNH CHO NHÂN VIÊN 1.1 Giới thiệu về ESO:
1.1.1 Quyền chọn mua:
Khái niệm quyền chọn mua:
Quyền chọn mua (call option) là một công cụ tài chính phái sinh cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc phải mua một tài sản cơ sở nào đó ở một mức giá xác định, vào một ngày đáo hạn hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai Nhưng đối với bên bán quyền chọn, họ bắt buộc phải bán một tài sản cơ
sở nào đó ở một mức giá xác định vào một ngày hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai theo thỏa thuận giữa hai bên
Một hợp đồng quyền chọn mua có hai bên tham gia: bên bán quyền chọn (writer/seller) và bên mua quyền chọn (buyer/holder)
Phân loại quyền chọn mua:
Quyền chọn mua có thể phân loại như sau:
• Căn cứ vào thời gian thực hiện quyền chọn thì quyền chọn được chia làm 2 loại: Quyền chọn mua kiểu Mỹ (America option) và Quyền chọn mua kiểu Châu Âu (European option) Quyền chọn mua kiểu Mỹ có thể được thực hiện vào bất cứ thời điểm nào cho đến ngày đáo hạn hợp đồng Quyền chọn mua kiểu Châu Âu chỉ được thực hiện quyền vào ngày đáo hạn
• Căn cứ vào tài sản cơ sở thì quyền chọn mua có nhiều loại với tên gọi gắn với tài sản cơ sở: Quyền chọn cổ phiếu, Quyền chọn ngoại tệ, Quyền chọn lãi suất
Trang 191.1.2 Khái niệm ESO:
IFRS 2 khái niệm Quyền chọn mua cổ phiếu là một hợp đồng cho phép người nắm giữ quyền chọn có quyền (nhưng không phải nghĩa vụ) để mua cổ phiếu của công ty ở mức giá đã được thỏa thuận trước, trong một khoảng thời gian nhất định (IFRS 2.Phụ lục A) Trong giao dịch này, nhân viên được trao quyền mà quyền này
sẽ có hiệu lực trong tương lai, sau một khoảng thời gian chờ đợi, để nhận được cổ phiếu ở mức giá đã xác định vào ngày phát hành quyền chọn (Daniël van der Graaff, 2009)
Khái niệm ESO này phù hợp với khái niệm của một quyền chọn mua, theo đó,
ESO được mô tả như quyền chọn mua cổ phiếu với người mua (buyer/holder) là
nhân viên của công ty phát hành loại quyền chọn này
Tuy nhiên, ESO là một dạng đặc biệt của quyền chọn, vì ESO có những đặc điểm khác biệt và phức tạp hơn so với đặc điểm cơ bản của một quyền chọn (Warrick Boyd van Zyl, 2010)
1.1.3 Những thuật ngữ liên quan đến một ESO:
[1] Ngày phát hành (grant date):
Là ngày mà công ty và nhân viên thuộc đối tượng được công ty phát hành ESO cùng đồng ý những thỏa thuận liên quan đến giao dịch này, là khi cả công ty và nhân viên
đã hiểu tất cả các điều khoản và điều kiện của bản thỏa thuận này (IFRS2 Phụ lục A)
Như vậy, trong trường hợp công ty thực hiện chương trình ESO, hai nhân tố chính
để quyết định ngày phát hành ESO là: thời điểm cả công ty và nhân viên đều hiểu tất
cả điều khoản, điều kiện được đề cập trong bản thỏa thuận; và cả công ty và nhân viên cùng đồng ý và ký bản thỏa thuận (Deloitte, 2007)
Trang 20[2] Ngày trao quyền (vesting date):
Là ngày kết thúc của kỳ chuyển quyền Tại ngày này, nhân viên sẽ được chính thức trao quyền nếu nhân viên hoàn thành được các điều kiện trao quyền do công ty đưa
ra
[3] Kỳ chuyển quyền (vesting period):
Là khoảng thời gian từ ngày phát hành ESO (grant date) đến ngày trao quyền (vesting date) Trong khoảng thời gian này, các điều kiện trao quyền cần được thỏa mãn (IFRS2 Phụ lục A), tức là, nhân viên được phát hành ESO sẽ phải thực hiện các điều kiện trao quyền trong khoảng thời gian này
Ví dụ: Một công ty phát hành ESO dành cho nhân viên A với điều kiện A phải là nhân viên của công ty trong suốt 3 năm tiếp theo Khoảng thời gian 3 năm này cũng chính là kỳ chuyển quyền
[4] Điều kiện trao quyền (vesting condition):
Là các điều kiện được công ty phát hành ESO đưa ra Để trở thành đối tượng được trao quyền, nhân viên phải thỏa mãn các điều kiện này trước ngày trao quyền Điều kiện trao quyền thường gồm hai loại: điều kiện dịch vụ (service condition) và điều
kiện hiệu quả (performance condition) (IFRS2 Phụ lục A)
• Điều kiện dịch vụ (service condition): nhân viên được công ty phát hành ESO phải hoàn thành khoảng thời gian cung cấp dịch vụ cho công ty, khoảng thời
gian này do công ty xác định dựa vào quy định của công ty Ví dụ: Một công
ty phát hành ESO dành cho nhân viên A với điều kiện A phải là nhân viên của công ty trong suốt 3 năm tiếp theo
• Điều kiện hiệu quả (performance condition): nhân viên được công ty phát hành ESO phải hoàn thành một số chỉ tiêu hiệu quả nhất định, các chỉ tiêu này do công ty đưa ra Điều kiện hiệu quả chia ra hai loại: Điều kiện hiệu quả dựa trên cơ sở thị trường (Market based performance condition) và Điều kiện hiệu quả không dựa trên cơ sở thị trường (Non-market based performance condition)
Trang 21Ví dụ: công ty trao quyền cho nhân viên A nếu A thỏa mãn điều kiện công ty đưa ra là: giá cổ phiếu công ty đạt một mức nhất định (điều kiện hiệu quả dựa trên cơ sở thị trường) hoặc đạt được mức tăng nhất định trong doanh thu (điều kiện hiệu quả không dựa trên cơ sở thị trường)
[5] Trao quyền (vest):
Là việc công ty chính thức công nhận quyền mua cổ phiếu của nhân viên dựa theo
sự thỏa mãn điều kiện trao quyền của nhân viên
Ví dụ: Một công ty phát hành ESO cho nhân viên A và B với điều kiện A và B phải
là nhân viên của công ty trong suốt 3 năm tiếp theo Sau 3 năm, chỉ có A còn là nhân viên của công ty, A được trao quyền, B không được trao quyền A được phép thực hiện quyền chọn mua cổ phiếu của mình, còn B thì không
[6] Điều khoản trao quyền một lần (cliff vesting):
ESO với điều khoản trao quyền một lần (cliff vesting) là ESO chỉ có một ngày trao
quyền (Satyajit Dhar và Subhabrata De, 2009)
Ví dụ: ESO phát hành theo điều khoản trao quyền một lần (cliff vesting) ESO phát hành vào 01/01/2006, kỳ chuyển quyền kết thúc sau 3 năm (tức 31/12/2008) Ngày trao quyền là ngày duy nhất: 31/12/2008
[7] Điều khoản trao quyền nhiều lần (graded vesting):
ESO với điều khoản trao quyền nhiều lần (graded vesting) là ESO có nhiều ngày trao quyền (Satyajit Dhar và Subhabrata De, 2009)
Ví dụ: ESO phát hành theo điều khoản trao quyền nhiều lần (graded vesting) ESO phát hành vào 01/01/2006, kỳ chuyển quyền kết thúc sau 3 năm (tức 31/12/2008) Ngày trao quyền là bất cứ ngày nào từ 01/01/2006 đến 31/12/2008 tùy theo quy định của công ty (chẳng hạn ngày trao quyền có thể là 31/12/2006, 31/12/2007, 31/12/2008)
Trang 22[8] Kỳ thực hiện quyền (exercising period):
Sau ngày trao quyền, nhân viên có thể thực hiện quyền của mình để mua cổ phiếu trong khoảng thời gian giới hạn đã được xác định trước (Satyajit Dhar và Subhabrata
De, 2009) Khoảng thời gian này là kỳ thực hiện quyền
[9] Ngày hết hạn (expiry date):
Đây là ngày cuối cùng mà ESO còn có thể được thực hiện Vượt qua ngày này, ESO không còn giá trị Ngày hết hạn ESO cách ngày phát hành ESO khá lâu (có thể lên đến 10 năm) (Zwi Yosef Sacho, 2003)
1.1.4 Điểm khác biệt cơ bản của ESO so với quyền chọn truyền thống:
Đặc điểm cơ bản của một quyền chọn
truyền thống (traditional share option)1
Đặc điểm của một ESO
Đời sống không phân ra các giai đoạn như
một ESO
Thời điểm thực hiện quyền tùy thuộc vào
quyền chọn thuộc kiểu Mỹ hay kiểu Châu
Âu
Đời sống của một ESO gồm hai giai đoạn: Giai đoạn đầu là kỳ chuyển quyền (vesting period) và giai đoạn sau
là kỳ thực hiện quyền (exercising period) Trong kỳ chuyển quyền, ESO
sẽ không được thực hiện và người nắm ESO phải thực hiện các điều kiện đã thỏa thuận trước Trong kỳ thực hiện quyền, ESO sẽ được thực hiện bất cứ lúc nào Điều này cũng làm cho không thể xác định ESO là quyền chọn kiểu
Mỹ hay quyền chọn kiểu Châu Âu Không quan tâm tới tình trạng nhân viên
rời công ty hay không rời công ty
Sẽ bị bỏ qua nếu nhân viên rời công ty trong kỳ chuyển quyền
1
: Theo cách gọi của Deloitte 2004
Trang 23Thường có thời gian đáo hạn ngắn Có thời gian đáo hạn khá dài (từ 5 năm
Mục tiêu chính là thương mại, phòng
ngừa rủi ro
Mục tiêu chính là giữ chân nhân viên, tạo động lực cho nhân viên làm việc để đạt được những chỉ tiêu công ty đề ra, hoặc huy động vốn
Bảng 1.1 Điểm khác biệt cơ bản của ESO so với quyền chọn truyền thống
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ nhiều công trình nghiên cứu trước1
Chính vì những đặc điểm rất riêng và phức tạp của một ESO so với một quyền chọn truyền thống, nên kế toán ESO không thuộc phạm vi điều chỉnh bởi chuẩn mực
kế toán quốc tế dùng cho quyền chọn truyền thống (IAS 32- Trình bày công cụ tài chính và Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 07- Thuyết minh công cụ tài chính) Kế toán ESO được điều chỉnh bởi một chuẩn mực riêng, đó là chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS2 – Thanh toán trên cơ sở cổ phiếu
1 : Các công trình nghiên cứu: (Warrick Boyd van Zyl, 2010), (Pankaj M Madhani, 2007), (Zwi Yosef Sacho, 2003)
Trang 241.1.5 Giới thiệu chương trình ESO:
Một chương trình ESO có thể được mô tả như sau:
Hình 1.1 Mô hình đơn giản của một chương trình ESO gắn với đời sống ESO
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ nhiều công trình nghiên cứu trước1
1 : Các công trình nghiên cứu: (Satyajit Dhar và Subhabrata De, 2009), (Deloitte 2004, 2007)
Lập danh sách nhân viên đủ điều kiện phát hành
ESO theo tiêu chí do công ty đề ra
Tại ngày phát hành (grant date), phát hành (granting) ESO cho nhân viên (N)
Tại ngày trao quyền (vesting date), trao quyền (vesting) cho nhân viên (N-n1)
Thỏa các điều kiện trao quyền ( vesting condition)
Thỏa Không
ESO bị bỏ qua (n1)
ESO không được thực hiện (n2)
ESO được thực hiện (N-n1-n2)
Trang 25Lưu ý: Không nhầm lẫn giữa chương trình ESO và chương trình cho nhân viên mua cổ phần (với số lượng cổ phần có giới hạn, trong một khoảng thời gian nhất định, với mức giá thấp hơn giá thị trường):
Một số công ty có những chương trình mà theo đó nhân viên có thể mua một số lượng cổ phần có giới hạn trong một khoảng thời gian nhất định, với mức giá thấp hơn giá thị trường, thì khi đó, chương trình cho nhân viên mua cổ phần này cũng có tác dụng tương tự như chương trình ESO với giá thực hiện thấp hơn mức giá hiện tại trên thị trường Tuy nhiên, khác với chương trình cho nhân viên mua cổ phần nêu trên, chương trình ESO thường có điều khoản về thời gian bắt đầu có hiệu lực, nghĩa
là quyền chọn mua thông thường không có hiệu lực thực hiện ngay, mà chỉ có thể có hiệu lực sau một khoảng thời gian (thường lên đến 3 năm) Nhân viên sẽ mất quyền nếu rời khỏi công ty trước khi quyền chọn mua có hiệu lực
1.2 Kế toán ESO theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 2:
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của IFRS 2:
Trong bối cảnh khắp thế giới nổ ra những tranh luận gay gắt xoay quanh câu hỏi là trong nghiệp vụ ESO nên hay không nên ghi nhận chi phí, chuẩn mực báo cáo tài chính IFRS 2 ra đời (Deloitte 2004) IFRS 2 được xem như một câu trả lời chính thức của tổ chức IASB cho câu hỏi trên Câu trả lời là: ESO là một giao dịch thanh toán trên cơ sở cổ phiếu, giao dịch thanh toán trên cơ sở cổ phiếu phải được ghi nhận như một khoản chi phí, chi phí này sẽ được đo lường ở mức giá trị hợp lý (GTHL) của công cụ vốn và được đo lường vào ngày phát hành công cụ vốn
Để có được câu trả lời trên, IASB đã có một quá trình làm việc khách quan thông qua nghiên cứu và tiếp nhận ý kiến từ các nơi trên thế giới
Vào tháng 7/2001, lần đầu tiên, IASB đã đưa chủ để về thanh toán trên cơ sở
cổ phiếu vào chương trình nghị sự của tổ chức này IASB công bố bài luận về chủ
đề này và khảo sát ý kiến của những đối tượng đang là cổ đông Dựa vào những kết quả khảo sát được, IASB soạn thảo chuẩn mực về thanh toán trên cơ sở cổ phiếu
Trang 26Vào tháng 11/2002, IASB công bố bản dự thảo Exposure Draft ED 2 Share
Based Payments Sau đó, IASB lại tiếp nhận ý kiến từ các nơi trên thế giới và hoàn thiện bản dự thảo
Vào tháng 02/2004, chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 2 - Share
Based Payments chính thức ra đời Chuẩn mực này có hiệu lực vào ngày 01 tháng
01 năm 2005
Kể từ khi chính thức ra đời năm 2004 đến nay, IASB đã không ngừng có những bổ sung để chuẩn mực IFRS 2 ngày càng hoàn thiện hơn:
- Vào tháng 01/2008, IASB phát hành bản bổ sung (Amendments to IFRS 2 -
Vesting Conditions and Cancellations) nhằm làm rõ thêm định nghĩa của điều kiện trao quyền (vesting conditions) và cung cấp hướng dẫn về xử lý kế toán của việc hủy phát hành công cụ vốn mà bên hủy không phải là phía công ty
có chương trình phát hành công cụ vốn
- Vào ngày 18 và 19/06/2013, IASB đã chính thức họp mặt ở cơ quan IASB đóng tại Luân Đôn (nước Anh) để bàn về một vấn đề của IFRS 2 (Length of
the performance target with respect to the period of service) là độ dài của kỳ
để nhân viên thực hiện điều kiện hiệu quả nên tương xứng với khoảng thời gian cung cấp dịch vụ của nhân viên Tất cả các thành viên IASB đã đồng thuận quan điểm độ dài của kỳ để nhân viên thực hiện điều kiện hiệu quả nên trùng hoặc không vượt khoảng thời gian cung cấp dịch vụ của nhân viên
- Vào ngày 19 và 20/02/2014, IASB đã chính thức họp mặt ở cơ quan IASB đóng tại Luân Đôn (nước Anh) để thảo luận bốn vấn đề liên quan chủ yếu tới nhóm Giao dịch trên cơ sở cổ phiếu được thanh toán bằng tiền (cash-settled
share-based payment transaction)
Như vậy, từ lúc ra đời, sau 10 năm được kiểm chứng bằng thực tiễn, những nội dung
cơ bản của IFRS 2 không thay đổi đáng kể Nội dung cơ bản về kế toán ESO do IFRS 2 quy định vẫn được IASB thừa nhận và giữ cho đến thời điểm hiện tại
Trang 271.2.2 Mục tiêu và phạm vi của IFRS 2:
Mục tiêu của IFRS 2:
Mục tiêu của IFRS 2 để hướng dẫn các công ty báo cáo tài chính khi các công
ty này thực hiện giao dịch thanh toán trên cơ sở cổ phiếu Cụ thể, IFRS 2 yêu cầu các công ty phản ánh tình hình lãi/lỗ do ảnh hưởng của giao dịch thanh toán trên cơ
sở cổ phiếu, bao gồm cả việc hạch toán chi phí cho giao dịch phát hành ESO (IFRS2.1)
Mục tiêu của IFRS 2 là cung cấp những thông tin báo cáo thường niên có tính
so sánh tốt hơn, có chất lượng cao hơn và minh bạch hơn cho người sử dụng (Daniël van der Graaff, 2009)
Phạm vi của IFRS 2:
IFRS 2 (IFRS 2.2) áp dụng cho các giao dịch thanh toán trên cơ sở cổ phiếu, gồm 3 nhóm giao dịch:
• Nhóm giao dịch thứ 1: Equity-settled shared-based payment transactions
(tạm gọi là Giao dịch thanh toán bằng công cụ vốn) Trong nhóm giao dịch này, công ty nhận hàng hóa hoặc dịch vụ như khoản bù đắp cho công cụ vốn của công ty (cổ phiếu hoặc quyền chọn mua cổ phiếu)
Ví dụ điển hình là ESO (theo nhận định của Brett Shadbolt, 2010)
• Nhóm giao dịch thứ 2: Cash-settled shared-based payment transactions (tạm
gọi là Giao dịch thanh toán bằng tiền) Trong nhóm giao dịch này, phát sinh nghĩa vụ phải trả nợ của công ty đối với người cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ; giá trị khoản phải trả này phụ thuộc vào giá của cổ phiếu công ty hoặc giá của các công cụ vốn khác của công ty
Ví dụ điển hình là SARs (theo nhận định của Brett Shadbolt, 2010)
• Nhóm giao dịch thứ 3: Share-based payment transactions with a choice of
settlement (tạm gọi là Giao dịch thanh toán có thể lựa chọn hình thức bằng tiền hay bằng công cụ vốn)
Trang 28IFRS 2 (IFRS 2.6) không áp dụng đối với những giao dịch thanh toán trên cơ sở
cổ phiếu, mà trong đó, công ty nhận hàng hóa hoặc dịch vụ dưới dạng thỏa thuận thuộc phạm vi của:
• IAS 32 Financial Instruments: Presentation ( Công cụ tài chính: Trình bày)
• IFRS 7 Financial Instruments: Disclosures (Công cụ tài chính: Công bố)
• IFRS 3 Business Combinations (Hợp nhất kinh doanh)
• IFRS 9 Financial Instruments (Công cụ tài chính)
• IFRS 11 Joint Arrangements (Thỏa thuận liên doanh)
Trang 29Xác định vị trí của kế toán ESO trong phạm vi của IFRS 2:
Có thể mô tả vị trí của kế toán ESO trong phạm vi của IFRS 2 như sau:
Hình 1.2 Mô tả vị trí của kế toán ESO trong phạm vi của IFRS 2
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước1
1 : Các công trình nghiên cứu: (Brett Shadbolt, 2010) (Daniël van der Graaff, 2009) (Deloitte 2004, 2007)
IFRS2 – Share based payment - Thanh toán trên cơ sở cổ phiếu Giao dịch thanh toán trên cơ sở cổ phiếu (Share based payment transaction)
có thể lựa chọn hình thức bằng tiền hay bằng công cụ vốn
(Share-based payment transactions with a choice of settlement)
Nhóm giao dịch thứ 2: Giao dịch thanh toán bằng tiền
(cash-settled share-based payment transaction)
Giao dịch với
nhân viên
(with employees)
Giao dịch với đối tượng khác
(with employees)
non-Với Công cụ
vốn là cổ phiếu
(Shares)
Với Công cụ vốn là quyền chọn mua cổ phiếu (Share options)
Tiêu biểu là ESO
( Employee share options )
Trang 301.2.3 Nội dung của IFRS 2 về xử lý kế toán ESO:
Nội dung cơ bản của kế toán ESO được trình bày dựa trên lý thuyết nền là chuẩn mực IFRS 2, gồm các nội dung:
- Quy định về ghi nhận ( mục 2.2.3.1)
- Quy định về đo lường (mục 2.2.3.2)
- Quy định về công bố và trình bày thông tin (mục 2.2.3.3)
1.2.3.1 Quy định về ghi nhận:
IFRS 2 quy định chung về cách ghi nhận như sau:
• Một công ty sẽ ghi nhận hàng hóa hoặc dịch vụ được nhận trong một giao dịch thanh toán trên cơ sở cổ phiếu khi công ty đã nhận được hàng hóa và dịch vụ đó Đồng thời, công ty sẽ ghi nhận khoản tăng tương ứng trong vốn trong trường hợp giao dịch thanh toán bằng công cụ vốn (IFRS 2.7)
• Khi hàng hóa hoặc dịch vụ nhận được trong giao dịch thanh toán trên cơ sở
cổ phiếu không đủ tiêu chuẩn để ghi nhận như một tài sản thì chúng được ghi nhận như một khoản chi phí (IFRS 2.8) Do đó, dịch vụ được cung cấp bởi nhân viên sẽ được ghi nhận như một khoản chi phí
Căn cứ vào quy định chung của IFRS 2 về cách ghi nhận như trên, có thể khái quát được thời điểm ghi nhận và bút toán ghi nhận trong nghiệp vụ ESO như sau:
Thời điểm ghi nhận chi phí:
Ghi nhận dịch vụ như một chi phí lương khi công ty tiêu thụ dịch vụ do nhân viên
cung cấp Trong kỳ chuyển quyền, công ty tiêu thụ dịch vụ do nhân viên cung cấp,
nên công ty phải ghi nhận chi phí lương trong suốt kỳ chuyển quyền, mặc dù ESO
vẫn chưa được nhân viên thật sự thực hiện Ví dụ, nếu một nhân viên cung cấp dịch
vụ tương ứng 1/3 kỳ chuyển quyền thì chi phí lương được ghi nhận là GTHL của 1/3
lượng ESO có khả năng được trao quyền
Trang 31Bút toán ghi nhận chi phí:
Đời sống của mỗi ESO sẽ có hai giai đoạn chính: kỳ chuyển quyền và kỳ thực hiện quyền Bút toán trong mỗi giai đoạn như sau:
• Bút toán ghi nhận chi phí trong kỳ chuyển quyền: Ghi nhận chi phí lương và tăng khoản tương ứng trong vốn
Ví dụ:
- New Zealand có chuẩn mực kế toán NZ IFRS 2 tương đương với IFRS 2 Theo David Emanuel (2005), cách hạch toán chi phí như sau:
Dr Chi phí lương (Remuneration Expense)
Cr.Vốn – bởi ESO (Issued Capital - Options)
- Theo Canada GAAP tương đương IFRS 2, cách hạch toán chi phí như sau:
Dr Chi phí lương (Compensation Expense)
Cr Thặng dư vốn cổ phần – ESO chưa hết hạn (Contributed Surplus - Unexpired Stock Options)
• Bút toán ghi nhận trong kỳ thực hiện quyền (tức sau ngày trao quyền):
Trong kỳ thực hiện quyền, ESO có thể được thực hiện hoặc không được thực hiện Bút toán trong mỗi trường hợp như sau:
Nếu ESO được thực hiện: Ghi tăng lượng tiền thu được từ nhân viên và ghi tăng khoản tương ứng trong vốn
Ví dụ:
- New Zealand có chuẩn mực kế toán NZ IFRS 2 tương đương với IFRS 2 Theo David Emanuel (2005), cách hạch toán chi phí như sau:
Dr Tiền (Bank or Cash)
Dr Vốn – bởi ESO (Issued Capital - Options)
Cr Vốn (Issued Capital)
Trang 32- Theo Canada GAAP tương đương IFRS 2, cách hạch toán chi phí như sau:
Dr Tiền (Bank or Cash)
Dr Thặng dư vốn cổ phần – ESO chưa hết hạn (Contributed Surplus - Unexpired Stock Options)
Cr Vốn cổ phần thường (Common Stock)
Nếu ESO không được thực hiện: Công ty không cần bút toán để điều chỉnh tổng vốn, tuy nhiên, yêu cầu này không ngăn cản việc chuyển dịch giữa các thành phần trong vốn Điều này có nghĩa là: công ty không thể có bút toán đảo để ghi giảm chi phí khi ESO không được thực hiện, công ty không có bút toán điều chỉnh tổng vốn, nhưng công ty có thể có bút toán tạo ra sự chuyển dịch giữa các thành phần khác nhau trong vốn – điều này hữu dụng để thiết lập sự điều chỉnh tách giá trị của ESO không được thực hiện ra khỏi giá trị của ESO được thực hiện
Ví dụ:
- New Zealand có chuẩn mực kế toán NZ IFRS 2 tương đương với IFRS 2 Theo David Emanuel (2005), cách hạch toán chi phí như sau:
Dr Vốn – bởi ESO (Issued Capital - Options)
Cr Lợi nhuận giữ lại (Retained Earnings)
- Theo Canada GAAP tương đương IFRS 2, cách hạch toán chi phí như sau:
Dr Thặng dư vốn cổ phần – ESO chưa hết hạn (Contributed Surplus - Unexpired Stock Options)
Cr Thặng dư vốn cổ phần – ESO hết hạn (Contributed Surplus - Expired Stock Options)
Minh họa ghi nhận các bút toán trong nghiệp vụ ESO:
Vào 01/01/2010, công ty E phát hành 100 ESO (10 ESO/nhân viên) Giá thực hiện ESO 25$ Mệnh giá cổ phiếu 5$ Công ty E xác định GTHL mỗi ESO vào ngày phát hành ESO là 15$ Công ty E tin rằng tất cả 100 ESO sẽ được trao quyền ESO sẽ được trao quyền vào 31/12/2012 Ngày hết hạn của ESO là 31/12/2019
Trang 33Đến ngày 05/08/2011, một nhân viên quản lý thôi việc
Công ty E thực hiện báo cáo định kỳ 6 tháng một lần Giả sử tác giả chọn cách ghi bút toán theo quy định của Canada GAAP
• Bút toán ghi nhận chi phí trong kỳ chuyển quyền: 01/01/2010 đến
Cr Thặng dư vốn cổ phần – ESO chưa hết hạn 250
100 ESO * 15$ GTHL * 2kỳ/6kỳ - 250$ chi phí đã ghi nhận ở kỳ 1
Kỳ báo cáo 3 - 01/01/2011 đến 30/06/2011: Công ty ghi nhận như sau:
Dr Chi phí lương 250
Cr Thặng dư vốn cổ phần – ESO chưa hết hạn 250
100 ESO * 15$ GTHL * 3kỳ/6kỳ - (250$ +250$) chi phí đã ghi nhận kỳ 1 và kỳ 2
Kỳ báo cáo 4 - 01/07/2011 đến 31/12/2011: Công ty ghi nhận như sau:
Dr Chi phí lương 150
Cr Thặng dư vốn cổ phần – ESO chưa hết hạn 150 Trong kỳ báo cáo 4, có một nhân viên thôi việc nên công ty ước lượng lại số lượng ESO sẽ được trao quyền từ 100 ESO xuống còn 90 ESO
90 ESO * 15$ GTHL * 4kỳ/6kỳ - (250$ +250$+250$) chi phí đã ghi nhận kỳ 1, kỳ 2
và kỳ 3
Trang 34Kỳ báo cáo 5 - 01/01/2012 đến 30/06/2012: Công ty ghi nhận như sau:
Dr Chi phí lương 225
Cr Thặng dư vốn cổ phần – ESO chưa hết hạn 225
90 ESO * 15$ GTHL * 5kỳ/6kỳ - (250$ +250$+250$+150$) chi phí đã ghi nhận kỳ
1, kỳ 2, kỳ 3 và kỳ 4
Kỳ báo cáo 6 - 01/07/2012 đến 31/12/2012: Công ty ghi nhận như sau:
Dr Chi phí lương 225
Cr Thặng dư vốn cổ phần – ESO chưa hết hạn 225
90 ESO * 15$ GTHL * 6kỳ/6kỳ - (250$ +250$+250$+150$+225$) chi phí đã ghi nhận kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4 và kỳ 5
Như vậy: Chi phí lũy kế: 90 ESO * 15$ = 1.350
• Bút toán ghi nhận chi phí trong kỳ thực hiện quyền: Từ 01/01/2013 đến
( 2.250 = 90 ESO*25$ giá thực hiện)
Giả sử 80 ESO được thực hiện:
Trang 351.2.3.2 Quy định về đo lường:
• IFRS 2 yêu cầu các khoản thanh toán trên cơ sở cổ phiếu phải được xác định theo GTHL Nếu hàng hóa, dịch vụ nhận được từ giao dịch trao đổi cho công cụ vốn thì ghi nhận theo GTHL của hàng hóa, dịch vụ; nếu không thể xác định được GTHL của hàng hóa, dịch vụ thì ghi nhận theo GTHL của công cụ vốn được phát hành Trong trường hợp phát hành ESO, không thể xác định được GTHL của dịch vụ được cung cấp bởi nhân viên nên công ty sẽ ghi nhận và đo lường GTHL của ESO
• GTHL được nhắc tới trong IFRS 2 được định nghĩa theo một cách khác ở một vài khía cạnh so với IFRS 13 Do đó, khi áp dụng IFRS 2, công ty phải đo lường GTHL tuân thủ theo chuẩn mực này, chứ không phải theo IFRS 13 (Trần Thị Phương Thanh, 2012)
• Các bước trong quá trình tính giá trị chi phí phát sinh bởi ESO:
Bước 1: Đo lường GTHL của mỗi ESO
Bước 2: Tính giá trị chi phí phát sinh bởi ESO
Đo lường GTHL của mỗi ESO:
Thời điểm xác định GTHL của ESO:
GTHL của ESO thay đổi theo thời gian, vậy khi nào là thời điểm đo lường GTHL của ESO? Theo IFRS 2, GTHL của ESO được đo lường vào ngày phát hành ESO
Phương pháp xác định GTHL của ESO:
• Xác định GTHL của ESO bằng Mô hình định giá quyền chọn là phương
pháp phù hợp:
Theo nguyên tắc, để xác định GTHL của một công cụ tài chính phái sinh, có nhiều cách như: xác định dựa vào giá niêm yết trên thị trường, sử dụng giá của các giao dịch ngang giá trên thị trường giữa các bên có đầy đủ hiểu biết và mong muốn thực hiện giao dịch bình đẳng, tham chiếu GTHL của một loại công cụ phái sinh tương
tự, sử dụng mô hình định giá, Đối với ESO, giá thị trường thường không sẵn có vì
Trang 36đây là quyền chọn không được giao dịch, kỳ hạn dài hơn và điều kiện rất khác với những quyền chọn được giao dịch khác Do đó, GTHL của ESO sẽ được ước lượng bằng cách dùng mô hình định giá quyền chọn (option valuation model) [IFRS2.B4]
• Một số mô hình định giá quyền chọn phổ biến: mô hình Black-Scholes,
phương pháp binomial, phương pháp Monte-Carlo
IFRS 2 không chỉ định một mô hình định giá quyền chọn nào Tuy nhiên, trong thực tế, công ty có thể vận dụng những mô hình định giá quyền chọn phổ biến như:
mô hình Black-Scholes, phương pháp binomial, phương pháp Monte-Carlo
(PriceWaterHouseCoopers, 2011) Như vậy, công ty sẽ tự cân nhắc để chọn mô hình định giá quyền chọn phù hợp
Những mô hình định giá quyền chọn này vốn dĩ rất thành công trong việc định giá quyền chọn truyền thống, tuy nhiên, do những đặc điểm riêng và phức tạp của ESO so với quyền chọn truyền thống, nên sẽ có những điều chỉnh để mô hình định giá quyền chọn phù hợp với những điểm khác biệt này (trường hợp của Input 3 bên dưới là minh họa cho sự điều chỉnh để để mô hình định giá quyền chọn phù hợp với những đặc điểm của ESO)
Đối với ESO có đời sống dài, có khả năng thực hiện bất cứ lúc nào từ ngày trao quyền đến ngày hết hạn, thường có khả năng được thực hiện sớm, do đó, những điều này có thể cản trở công ty sử dụng mô hình Black-Scholes-Merton Bởi vì, mô hình Black-Scholes-Merton áp dụng cho quyền chọn kiểu châu Âu (tức là không cho phép khả năng thực hiện trước ngày hết hạn) Tuy nhiên, đối với những ESO được thực hiện ngay hoặc không lâu sau ngày trao quyền thì mô hình Black-Scholes-Merton có thể được áp dụng vì nó cho ra kết quả tương tự như những mô hình định giá quyền chọn phức tạp khác [IFRS2.B5]
Trang 37• Thông tin đầu vào (inputs) cho mô hình định giá quyền chọn để tính
GTHL của ESO (output):
IFRS 2 không bắt buộc công ty sử dụng mô hình định giá quyền chọn cụ thể nào nhưng IFRS 2 yêu cầu công ty phải đưa vào mô hình định quyền chọn giá ít nhất 6 thông tin đầu vào cơ bản (inputs) (IFRS 2.B6):
Input 1: Giá hiện tại của cổ phiếu cơ sở (Current price of the underlying share)
Input 2: Giá thực hiện quyền chọn (Exercise price of the option)
Input 3: Đời sống kỳ vọng của quyền chọn (Life of the option)
Input 4: Độ biến động kỳ vọng (Expected volatility of the share price)
Input 5: Cổ tức kỳ vọng (Expected dividend yield on the shares)
Input 6: Lãi suất phi rủi ro (Risk-free interest rate for the life of the option) Trong 6 thông tin đầu vào trên, chỉ có Giá hiện tại của cổ phiếu cơ sở và Giá thực hiện quyền chọn được xác định một cách rõ ràng và khách quan, 4 thông tin đầu vào còn lại được ước lượng với những bằng chứng và phân tích phù hợp (Ernst&Young, 2009)
Input 1: Giá hiện tại của cổ phiếu cơ sở (Current price of the underlying
share):
Tại ngày phát hành ESO, công ty phải xác định giá cổ phiếu cơ sở Giá cổ phiếu cơ
sở nên được xác định căn cứ vào chính sách kế toán của công ty Trong chính sách
kế toán của công ty, giá cổ phiếu cơ sở có thể là: giá đóng cửa của ngày giao dịch, giá trung bình của nhiều ngày giao dịch trong một khoảng thời gian, hoặc một số phương pháp khác (Delloite, 2004) Cho dù phương pháp nào trong số các phương pháp này được chọn đi nữa, thì phương pháp đó phải được sử dụng thống nhất trong suốt khoảng thời gian thực hiện chương trình ESO (Delloite, 2007)
Input 2: Giá thực hiện quyền chọn (Exercise price of the option):
Giá thực hiện quyền chọn được thỏa thuận giữa các bên trong giao dịch quyền chọn (Deloitte, 2007)
Input 3: Đời sống kỳ vọng của quyền chọn (Life of the option):
Trang 38Thứ nhất, ở đây dễ thấy sự điều chỉnh cho phù hợp với trường hợp của ESO
Cụ thể là trong mô hình Black-Scholes thì input 3 này là khoảng thời gian tính từ ngày phát hành ESO tới ngày hết hạn, nhưng do ESO có tính chất thực hiện sớm nên trường hợp này tính từ ngày phát hành ESO tới ngày thực hiện kỳ vọng của ESO Thứ hai, nên ước lượng đời sống kỳ vọng của ESO theo từng nhóm nhân viên: IFRS 2 gợi ý rằng những nhóm nhân viên khác nhau có thể có thói quen thực hiện quyền chọn không giống nhau Do đó, việc xác định đời sống kỳ vọng của ESO cho từng nhóm nhân viên trong tổng số nhân viên được công ty phát hành ESO có thể đúng hơn là xác định cho tổng số nhân viên được công ty phát hành ESO [IFRS2.B20] Ví dụ: Một ESO được phát hành cho một giám đốc có thể sẽ có đời sống kỳ vọng khác so với phát hành cho một nhân viên phân xưởng, mà đời sống kỳ vọng của ESO khác nhau sẽ dẫn tới GTHL của ESO cũng khác nhau, nên việc ước lượng đời sống kỳ vọng của ESO theo từng nhóm nhân viên là cần thiết
Thứ ba, khi ước lượng đời sống kỳ vọng của ESO, trong cùng nhóm nhân viên, lưu ý một số nhân tố ảnh hưởng đến đời sống kỳ vọng của ESO (Delloite, 2007):
- Độ dài của kỳ chuyển quyền: vì ESO sẽ không được thực hiện trước ngày
trao quyền, nên kỳ chuyển quyền dài thì đời sống kỳ vọng của ESO dài
- Giá của cổ phiếu cơ sở: nhân viên có xu hướng thực hiện ESO khi giá cổ
phiếu đạt đến một mức giá cao hơn so với giá thực hiện ESO
- Độ biến động kỳ vọng của cổ phiếu cơ sở: nhân viên có xu hướng thực hiện
ESO sớm hơn khi giá cổ phiếu biến động cao
Input 4: Độ bất ổn kỳ vọng (Expected volatility of the share price):
Độ bất ổn là con số định lượng phản ánh sự dao động giá cổ phiếu cơ sở trong một khoảng thời gian [IFRS2.B22]
Ba lưu ý khi xác định Độ bất ổn kỳ vọng của giá cổ phiếu cơ sở để đưa vào mô hình định giá quyền chọn:
• Thứ nhất, dùng Độ bất ổn lịch sử của giá cổ phiếu cơ sở để ước lượng Độ bất ổn
kỳ vọng:
Trang 39Độ bất ổn của giá cổ phiếu gồm: Độ bất ổn hàm ý (Implied volatility) và Độ bất
ổn lịch sử (Historical volatility)
Độ bất ổn hàm ý: thường dùng để tham chiếu khi định giá quyền chọn truyền
thống (quyền chọn có thể giao dịch và đời sống ngắn), nên sẽ không phù hợp để tham chiếu khi định giá ESO (đời sống rất dài) (Deloitte, 2004)
Độ bất ổn lịch sử: là con số định lượng dựa trên sự thay đổi giá trong quá khứ
của cổ phiếu Có bằng chứng cho thấy rằng độ bất ổn có xu hướng lặp lại, do đó, việc sử dụng độ bất ổn lịch sử để định giá ESO sẽ phù hợp nếu không có lý do nào để cho rằng độ bất ổn lịch sử sẽ không phản ánh độ bất ổn kỳ vọng trong tương lai (Deloitte, 2004)
• Thứ hai, cách tính độ bất ổn lịch sử: hoàn toàn có thể tính toán độ bất ổn lịch sử
bằng Excel Độ bất ổn dùng trong mô hình định giá quyền chọn sẽ tính theo
Tính độ bất ổn lịch sử theo năm:
Trang 40Độ bất ổn lịch sử theo ngày *ඥݐổ݊݃ ݏố ݊݃àݕ ݃݅ܽ ݀ịܿℎ ܿổ ℎ݅ếݑ ܿơ ݏở ݐݎ݊݃ ݉ộݐ ݊ă݉
Ví dụ: Giả sử trong một năm, cổ phiếu công ty A có 240 ngày giao dịch Độ bất ổn lịch sử theo ngày là 8% Độ bất ổn lịch sử theo năm là: 124%
• Thứ ba, các nhân tố ảnh hưởng đến độ bất ổn kỳ vọng:
Có nhiều nhân tố nên được lưu ý khi ước lượng độ bất ổn kỳ vọng [IFRS2.B25]:
Độ dài thời gian cổ phiếu cơ sở được giao dịch công khai, khoảng thời gian thích đáng để theo dõi giá, những thông tin khác biểu lộ rằng độ bất ổn trong tương lai có thể khác với độ bất ổn trong quá khứ (ví dụ: sự biến động bất thường trong giá cổ phiếu ở một số thời điểm trong quá khứ)
Căn cứ vào những thông tin được cập nhật, một công ty có thể điều chỉnh Độ bất ổn lịch sử để cho ra Độ bất ổn kỳ vọng Ví dụ: Công ty A đo lường độ bất ổn lịch sử là 124%/năm, nhưng lịch sử giao dịch cổ phiếu của công ty A cho thấy rằng Độ bất ổn của giá cổ phiếu công ty A trong tương lai sẽ giảm, cùng với những bằng chứng đáng tin cậy để củng cố cho xét đoán rằng Độ bất ổn của giá
cổ phiếu trong tương lai sẽ giảm, công ty A đưa ra độ bất ổn là 100%/năm thay
vì 124%/năm khi dùng mô hình định giá quyền chọn
Input 5: Cổ tức kỳ vọng (Expected dividend yield on the shares):
Hai lưu ý khi xác định Cổ tức kỳ vọng để đưa vào mô hình định giá quyền chọn:
• Thứ nhất, cổ tức kỳ vọng nên dựa vào thông tin công bố công khai:
IFRS 2 lưu ý rằng: cổ tức kỳ vọng nên dựa vào thông tin công bố công khai Do
đó, nếu công ty không chia cổ tức hoặc không có kế hoạch chia cổ tức thì công
ty nên giả định cổ tức kỳ vọng là 0% [IFRS 2.B36]
• Thứ hai, Cổ tức kỳ vọng có được đưa vào mô hình định giá để tính toán GTHL của ESO hay không thì còn tùy thuộc vào người nắm giữ ESO có là đối tượng được chia cổ tức hay không trong khoảng thời gian từ khi phát hành ESO đến khi thực hiện ESO (Deloitte, 2007):