Vì vậy, muốn giải quyết tình trạng án tồn đọng, nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự cần phải nghiên cứu đề ra các giải pháp đồng bộ về nhiều mặt: Kinh tế, pháp luật, chính sách xã hội, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ . . . Nhưng trong khuôn khổ luận văn luật học, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu những vấn đề liên quan đến pháp luật. Với tất cả những lý do nêu trên, việc chọn đề tài Thực hiện Luật Thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bình Định làm luận văn thạc sĩ luật học là cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn
Trang 1VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HÀ THỊ MAI HIÊN
Trang 3HÀ NỘI - 2012
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học và Luận văn Thạc sĩ của mình, trước hết em xin gửilời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc, các khoa, phòng, thầy cô giáo của Họcviện Khoa học Xã hội đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho emtrong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ
Em xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Hà Thị Mai Hiên - Cô hướng dẫn khoahọc, đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành Luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã độngviên, khuyến khích, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2012
NGUYỄN VĂN CHÁNH Học viên Cao học Khóa 1 (2010 - 2012) Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Học viện Khoa học Xã hội
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn Thạc sĩ
Luật học “Thực hiện Luật Thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bình Định” là
hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cũng lĩnh vực.Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Luận vănnày là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS HàThị Mai Hiên
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./
Hà Nội, tháng 10 năm 2012
NGUYỄN VĂN CHÁNH Học viên Cao học Khóa 1 (2010 - 2012) Chuyên ngành:Luật Kinh tế
Học viện Khoa học Xã hội
Trang 5THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC THỰC
HIỆN LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 6Thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bình Định
2.3 Một số vướng mắc trong thực hiện Luật Thi hành án dân
sự trên địa bàn tỉnh Bình Định và các giải pháp tăng cường hiệu quả
thực hiện Luật Thi hành án dân sự
76
2.3.1 Một số vướng mắc trong thực hiện Luật Thi hành án
dân sự trên địa bàn tỉnh Bình Định
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thi hành án dân sự có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ ánnói riêng và trong hoạt động tư pháp nói chung Bản án, quyết định của Tòa án chỉ
là phán quyết trên giấy, nếu nó không được thực thi trên thực tế Do vậy, bản án,quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước khi được chấp hành nghiêm chỉnh cótác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật Vì vậy, hoạt động thihành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phépnước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyềnlực tư pháp được thực thi trên thực tế Điều 36 Hiến pháp 1992 khẳng định: "Cácbản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơquan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọicông dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành".[50]
Nhận thức được tầm quan trọng trong công tác này.Nhiều năm qua, Chínhphủ đã xác định công tác thi hành án dân sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
và đã đưa ra nhiều giải pháp hiệu quả nhằm tạo sự chuyển biến cơ bản trong côngtác này Do vậy, công tác thi hành án dân sự trong những năm qua đạt được một sốkết quả đáng khích lệ, nhất là kể từ khi Luật Thi hành án dân sự được Quốc hộinước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày14/11/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009 Bên cạnh những tác động tíchcực của Luật Thi hành án dân sự, thì hiện nay cũng cho thấy còn nhiều hạn chế vàkhó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện Luật Thi hành án dân sự Hiệu quả côngtác thi hành án dân sự chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ và sự quantâm, mong mỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân; hoạt động thi hành án chưa thật
sự đảm bảo được tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật, cụ thể: Tổng sốviệc cònphải thi hành chuyển sang kỳ sau qua các năm tuy có giảm, nhưng vẫn lớn;
số việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành án, nhất là về tiền vẫn chiếm tỷ lệ cao
so với tổng số phải thi hành
Trang 9Năm 2010: Tổng số việc phải thi hành là 615.411 việc, trong đó có 406.896việc có điều kiện thi hành (chiếm 66,12%), 207.617 việc chưa có điều kiện thi hành(chiếm 33,88%), thì đã thi hành xong 351.373 việc, đạt tỷ lệ 86,35% trong số việc
có điều kiện thi hành (vượt chỉ tiêu 6,35%) Tổng số tiền phải thi hành là 30.698 tỷ
100 triệu 112 nghìn đồng, trong đó số có điều kiện thi hành là 10.368 tỷ 001 triệu 120nghìn đồng (chiếm 33,78%), số chưa có điều kiện thi hành là 20.300 tỷ 198 triệu 756nghìn đồng (chiếm 66,22%), đã thi hành được 8.301 tỷ 320 triệu 561 nghìn đồng, đạt
tỷ lệ 80,1% so số tiền có điều kiện thi hành ".[53]
- Năm 2011: Tổng số việc phải thi hành là 632.545 việc, trong đó có 431.979việc có điều kiện thi hành (chiếm 68,29%), 200.666 việc chưa có điều kiện thi hành(chiếm 31,7%), thì đã thi hành xong 379.990 việc, đạt tỷ lệ 88% trên số việc cóđiều kiện thi hành (vượt chỉ tiêu 7%), tăng 28.617 việc (1,65%) so với năm 2010.Tổng số tiền phải thi hành 35.416 tỷ 341 triệu 736 nghìn đồng, tăng 4.718 tỷ 241 triệu
624 nghìn đồng (16,14%) so với năm 2010 Kết quả phân loại, số có điều kiện thi hành
là 13.366 tỷ 290 triệu 661 nghìn đồng (chiếm 37,74%), số chưa có điều kiện thi hành là22.020 tỷ 51 triệu 750 nghìn đồng (chiếm 62,26%), đã thi hành được 10.167 tỷ 712triệu 889 nghìn đồng, đạt tỷ lệ 76,1% so số tiền có điều kiện thi hành. ".[53]
Đây là vấn đề rất lớn và bức xúc đặt ra trong công tác thi hành án dân sự hiệnnay Có thể nhận thấy rằng: Thực trạng này, một phần xuất phát từ nguyên nhân: Ýthức tuân thủ pháp luật của một số bộ phận nhân dân nói chung và một số cơ quan, tổchức, các nhà quản lý doanh nghiệp và cá nhân (kể cả chính quyền địa phương) cònnhiều hạn chế và yếu kém Mặt khác, là do chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ,chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật, cũng như cơ quan hữu quan trong quá trìnhthi hành án; mặc dù Luật Thi hành án dân sự đã ra đời và có hiệu lực trong quá trìnhtác nghiệp Song, cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự chưa đượchoàn thiện, hệ thống các văn bản pháp lý về thi hành án dân sự chưa thực sự đầy đủ,chậm được bổ sung, sửa đổi kịp thời; một số lĩnh vực trong cơ chế quản lý và cơ chếthi hành án hiện nay không hợp lý, gây nhiều cản trở và làm giảm hiệu quả công tác thihành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng
Trang 10Vì vậy, muốn giải quyết tình trạng "án tồn đọng", nâng cao hiệu quả thihành án dân sự cần phải nghiên cứu đề ra các giải pháp đồng bộ về nhiều mặt: Kinh
tế, pháp luật, chính sách xã hội, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ Nhưng trongkhuôn khổ luận văn luật học, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu những vấn đề liên quanđến pháp luật
Với tất cả những lý do nêu trên, việc chọn đề tài "Thực hiện Luật Thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bình Định " làm luận văn thạc sĩ luật học là cấp
thiết và có ý nghĩa thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước những đòi hỏi khách quan, tất yếu của công tác thi hành án dân sự,trong thời gian qua đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề thi hành ándân sự, cụ thể như sau:
- "Thực hiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử hình sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Tiến Long (Luận văn thạc sĩ Luật
học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2005);
- "Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường trên địa bàn thành phố Bà Rịa - Vũng Tàu” của tác giả Phạm Thị Việt Nga (Luận văn thạc sĩ Luật học, Học
viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2008);
- "Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động THA ở Việt Nam trong giai đoạn mới" đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước do Bộ Tư pháp chủ
trì (2005);
- "Mô hình quản lý thống nhất công tác THA" đề tài nghiên cứu khoa học cấp
bộ do Cục Quản lý THADS - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện;
- “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện các tiêu chuẩn chức danh
tư pháp” Đề tài khoa học cấp bộ năm 2005 do Tiến sĩ Dương Thanh Mai làm chủ
nhiệm;
Trang 11- "Đổi mới tổ chức và hoạt động THADS ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn
Quang Thái (Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,2003);
- "Các biện pháp cưỡng chế THADS" của tác giả Nguyễn Công Long (Luận
văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội);
- "Hoàn thiện pháp luật THADS" của tác giả Nguyễn Thanh Thủy (Luận văn
thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2001);
- "Một số vấn đề về tổ chức và THADS Việt Nam" của tác giả Trần Văn
Quảng (Luận văn thạc sỹ Luật học, 1997);
- "Xã hội hóa một số nội dung THADS" của tác giả Lê Xuân Hồng (Luận văn
thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2002);
- "Đổi mới thủ tục THADS Việt Nam" của tác giả Lê Anh Tuấn (Luận văn thạc
sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004);
- "Cơ sở lý luận và thực tiễn khắc phục án tồn đọng trong THADS ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Đức Nghĩa (Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005);
- "Giám sát THADS ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Hoàng Thế Anh (Luận văn
Thạc sỹ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005);
- "Những vướng mắc trong cơ chế phối hợp về THADS" của tác giả Hoàng
Thế Liên và Nguyễn Thanh Thủy đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng5/2001;
- "Vấn đề đổi mới thủ tục THADS ở nước ta hiện nay" của tác giả Nguyễn
Thanh Thủy đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số chuyên đề về THADS,năm 2006);
- “Pháp lệnh THADS năm 2004 sau ba năm thi hành” của tác giả Nguyễn
Thanh Thủy đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số chuyên đề về THADS,năm 2007);
- “Thực trạng về án tồn đọng và những giải pháp của Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Văn Lực và Đào Anh Dũng đăng trên
Trang 12Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số chuyên đề về THADS, năm 2008).
Bên cạnh đó là Giáo trình môn Luật tố tụng dân sự của trường Đại học luật HàNội và các trường Đại học có chuyên ngành luật; một số bài viết đăng trên các tạp chíDân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật…
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về thi hành
án dân sự ở những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau Ở một số công trìnhcũng đã đề cập đến vấn đề thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành
án dân sự, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề đó một cách toàn diện,chuyên sâu
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu tổng quát của đề tài là tìm ra các luận cứ khoa học và thực tiễncho việc đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự ởnước ta trong giai đoạn hiện nay Để đạt được mục tiêu lớn đó cần phải thực hiệncác nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõ những cơ sở lý luận về thực hiện thi hành án và thi hành án dân sự
- Đánh giá đúng đắn và toàn diện về thực trạng pháp luật về Luật Thi hành
án dân sự, thực tiễn thi hành án dân sự
- Phân tích nguyên nhân của thực trạng đó
- Đưa ra những giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm nâng cao hiệu quả thihành án dân sự
4 Phạm vi nghiên cứu
" Thực hiện Luật Thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bình Định " là
một đề tài có tính khái quát tương đối cao, nội dung cơ bản rất rộng, phong phú vàphức tạp Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học, tác giả chỉ tập trungnghiên cứu cơ sở lý luận và quá trình thực hiện Luật Thi hành án dân sự năm 2008;đánh giá thực trạng thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bình Định và từ đó rút ranhững giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự nhằm đáp ứng công tác thihành án dân sự trong điều kiện hội nhập sâu rộng của đất nước ta
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 13- Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh về nhà nước và pháp luật
- Các phương pháp cụ thể được sử dụng kết hợp, đó là: Phương phápnghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương phápthống kê, tổng hợp
6 Ý nghĩa và những điểm mới của luận văn
- Luận văn đã đưa ra và luận giải được một số quan điểm cơ bản về kháiniệm thi hành án và thi hành án dân sự, tìm hiểu đặc điểm, bản chất của thi hành án
và thi hành án dân sự, góp phần bổ sung, làm phong phú thêm cho hoạt động nghiêncứu khoa học về pháp luật thi hành án
- Từ việc đánh giá kết quả thực hiện Luật Thi hành án dân sự năm 2008 trênđịa bàn tỉnh Bình Định, tác giả đưa ra được những điểm bất cập cần sửa đổi, bổsung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật thi hành án dân sự trong thời gian đến
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục cácchữ viết tắt, luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện Luật Thi hành án dân sự Chương 2: Thực tiễn hoạt động thi hành án dân sự và một số vấn đề đặt rađối với việc thực hiện Luật Thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bình Định
Trang 14
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN
LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa thực hiện Luật Thi hành án dân sự 1.1.1 Thi hành án dân sự và pháp luật thi hành án dân sự
Bản án, quyết định của Tòa án thể hiện quyền lực của Nhà nước trong việcquản lý xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và các chủ thể liên quan,bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội Khi các BA, QĐ của Tòa án được thực thi trênthực tế, thì quyền tư pháp của Nhà nước mới được thực hiện trọn vẹn, công lý mớitrở thành hiện thực, trật tự pháp luật mới được khôi phục Chính vì vậy, Điều 136
Hiến pháp 1992 nêu rõ: “Các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” Như vậy, thi hành án dân sự có thể được tiếp cận từ hai góc độ tổ
chức, quản lý của nhà nước đối với hoạt động thi hành án và từ góc độ các chủ thểngười phải thi hành án và người được thi hàn án
Để bảo đảm hiệu lực BA, QĐ của Tòa án là yêu cầu tất yếu khách quan tronghoạt động Nhà nước, là nguyên tắc Hiến định chỉ đạo toàn bộ tổ chức và hoạt độngTHA ở nước ta Trong thực tế, hoạt động thi hành án dân sự ở nước ta trải qua cácthời kỳ lịch sử Vì vậy, quan niệm về THADS cũng có những quan điểm khác nhau,phù hợp với yêu cầu của từng thời kỳ
* Quan điểm thứ nhất cho rằng: Thi hành án dân sự là một giai đoạn của tố
tụng tư pháp Theo quan điểm này, những nội dung trong BA, QĐ của Tòa án nhằmđảm bảo khôi phục lại trật tự pháp luật và tình trạng ban đầu chỉ đạt được khi BA,
QĐ đó được thực hiện trên thực tế và thông qua hoạt động THADS tiếp sau hoạtđộng xét xử Chính vì vậy, THADS được coi là "giai đoạn có tính quyết định cuốicùng" trong quá trình tố tụng và hiệu quả của nó sẽ góp phần đạt được mục đích củaquá trình tố tụng
* Quan điểm thứ hai cho rằng: Thi hành án dân sự là hoạt động hành chính;
Trang 15bản chất và mục đích của THADS khác hoàn toàn với tố tụng Những người theoquan điểm này cho rằng bản chất và mục đích của tố tụng là xác định sự thật của vụviệc và giải quyết vụ việc theo đúng các qui định của pháp luật với qui trình chặtchẽ, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, công khai, dân chủ, tôn trọng quyền và lợi íchcủa người tham gia tố tụng Khi có phán quyết của Tòa án có nghĩa là sự thật đãđược khẳng định và việc áp dụng pháp luật đã hoàn thành, quá trình tố tụng kếtthúc Như vậy, một phán quyết thể hiện quyền lực nhà nước có tính chất bắt buộctôn trọng, chấp hành và phản ánh mối quan hệ phát sinh giữa các chủ thể liên quanđến THADS tính chất hành chính tổ chức được thực hiện theo những nguyên tắckhác với các nguyên tắc tố tụng tư pháp Điều này thể hiện ở căn cứ để THA là các
BA, QĐ của Tòa án; các hoạt động, biện pháp, cách thức trong quá trình THADSđều tuân theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định nhằm thực hiện nội dung quyếtđịnh của BA, QĐ của Tòa án; cơ quan THADS phải tác động trực tiếp tới đối tượngphải THA để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hànhnghĩa vụ được xác định trong BA, QĐ của Tòa án; giáo dục họ ý thức tôn trọngpháp luật, tôn trọng lợi ích của cá nhân, nhà nước và xã hội; giáo dục họ trở thànhnhững công dân có ích cho xã hội
Như vậy, cả hai quan điểm trên đều đưa ra những luận điểm riêng của mình
và ở chừng mực nhất định đều có tính hợp lý của nó Tuy nhiên, mỗi quan điểm đều
có những vấn đề chưa thể lý giải một cách thuyết phục Bởi lẽ, những người theoquan điểm cho rằng THADS là hoạt động tư pháp lại không trả lời được câu hỏi:
Cơ quan THADS có phải là cơ quan tiến hành tố tụng hay Chấp hành viên có phải
là người tiến hành tố tụng hay không? Thực tế, chưa có văn bản quy phạm pháp luật
nào quy định cơ quan THADS là cơ quan tiến hành tố tụng và CHV là những ngườitiến hành tố tụng Ngược lại, quan điểm cho rằng THADS là hoạt động hành chính,
có nghĩa là ở đây phương pháp thuyết phục, giáo dục có ý nghĩa quan trọng nhưngphương pháp mệnh lệnh, bắt buộc phải thi hành có tính đặc thù Thực ra, đối với
Thi hành án dân sự thì lại không phù hợp, vì các lẽ sau đây:
Một là, xét về địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn, CHV là người được Nhà
nước giao trách nhiệm thi hành các BA, QĐ của Tòa án; khi thực hiện nhiệm vụ,
Trang 16CHV phải tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc THADStheo quy định tại Điều 17 Luật THADS; CHV có nhiệm vụ, quyền hạn thi hànhđúng nội dung BA, QĐ của Tòa án theo quy định tại Điều 20 Luật THADS Nhưvậy, trong quá trình tổ chức THA, CHV có quyền độc lập và phải chịu trách nhiệmtrước pháp luật về việc THADS Trong trường hợp này, không thể áp dụng phươngpháp mệnh lệnh, phục tùng đối với CHV như trong quan hệ hành chính đơn thuần.Không ai có quyền ra lệnh cho cơ quan THADS, CHV phải hoãn, tạm đình chỉ,đình chỉ, trả đơn yêu cầu THA hoặc thay đổi biện pháp cưỡng chế THA mà không
có căn cứ pháp luật Những việc này do chính Thủ trưởng cơ quan THADS hoặcCHV quyết định khi có những căn cứ pháp lý được qui định trong Luật THADS
Hai là, xét về tính chất của thi hành án dân sự, thì kể từ năm 1990 đến nay,
việc THADS chủ yếu được tiến hành dựa trên cơ sở đơn yêu cầu của người đượcTHA, có nghĩa là thực hiện theo nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự -nguyên tắc đặc trưng của tố tụng dân sự Ngoài ra, trong bất cứ giai đoạn nào củaquá trình THA, các bên đương sự cũng có quyền tự thỏa thuận với nhau về nộidung, địa điểm, phương thức thi hành, thậm chí có thể thỏa thuận thi hành khác vớinội dung quyết định của bản án Vì vậy phương pháp mệnh lệnh, phục tùng khôngthể áp dụng được Ngược lại, một quyết định hành chính có hiệu lực thì không thểnói đến chuyện đối tượng bị áp dụng có thể chọn lựa thực hiện quyết định đó haykhông hoặc tuỳ tiện thay đổi nội dung của nó
* Quan điểm thứ ba cho rằng: Thi hành án dân sự là dạng hoạt động hành
chính - tư pháp, vừa mang tính chất của hoạt động hành chính, vừa có những yếu tốcủa hoạt động tư pháp, vấn đề này, được thể hiện bởi những đặc điểm sau:
Thứ nhất, Thi hành án dân sự là một giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử,
có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó Giai đoạnTHADS có thể bắt đầu ngay từ khi việc xét xử vụ án chưa kết thúc như việc thihành các quyết định khẩn cấp tạm thời của Tòa án (Điều 130 Luật THADS) hoặcnhững BA, QĐ của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay như BA, QĐ về cấpdưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất sức lao động hoặcbồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao
Trang 17động trở lại làm việc mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị (Khoản 2 Điều 2 LuậtTHADS) Ngay cả khi việc xét xử chấm dứt; BA, QĐ đã có hiệu lực pháp luậtnhưng mối quan hệ giữa cơ quan xét xử và cơ quan THADS vẫn tồn tại như việc cơquan THADS yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ hoặc kiến nghị cơ quan
có thẩm quyền xem xét lại BA, QĐ khi phát hiện có sai lầm hoặc án tuyên khôngkhả thi, không thể thi hành được (Khoản 2, 3, Điều 179 Luật THADS) Trong quátrình tổ chức THADS, Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyềnyêu cầu cơ quan THADS hoãn THA (Điểm d, Khoản 1, Điều 48 Luật THADS); tạmđình chỉ THADS để xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩmhoặc Tòa án thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với ngườiphải THA (Khoản 1, 2 Điều 49 Luật THADS) Những quyết định này mang tính bắtbuộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đếnviệc THADS Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình
có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để THADS đạt hiệu quả Tính chấphành trong THADS phản ánh một đặc trưng chứng tỏ nó không đơn thuần là hoạtđộng tố tụng thuần tuý Về mặt hình thức, bên cạnh các chủ thể là Tòa án, Việnkiểm sát, chúng ta có thể thấy các chủ thể tham gia vào giai đoạn THADS đông đảo
và đa dạng hơn so với các giai đoạn tố tụng trước đó, ví dụ: Tổ dân phố, Uỷ bannhân dân cấp xã (nơi người phải THA cư trú), Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện;
cơ quan, tổ chức nơi người phải THA làm việc; ngân hàng, tổ chức tín dụng nơingười phải THA mở tài khoản, giao dịch Các chủ thể này có đặc điểm khác vớicác chủ thể trong giai đoạn tố tụng trước đó về địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn
Thứ hai, bản chất của THADS là dạng hoạt động chấp hành nhưng là chấp
hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhaunhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong BA, QĐ của Tòa án phải thựchiện đúng các nghĩa vụ của mình Mục đích cuối cùng của THADS là bảo đảm chocác quyết định của Tòa án được ghi trong BA, QĐ được thực thi trên thực tế chứkhông phải là ra văn bản áp dụng pháp luật hoặc quyết định có tính điều hành - nétđặc trưng của hoạt động hành chính Mặt khác, tính chất chấp hành không chỉ là yêucầu trong hoạt động THADS mà còn là yêu cầu bắt buộc trong các giai đoạn tố tụng
Trang 18trước đó - chấp hành các quy định của pháp luật.
Thứ ba, theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân thì Viện kiểm sát không thực hiện chức năng kiểm sát chung như trướcđây, có nghĩa là không thực hiện chức năng kiểm sát đối với hoạt động hành chính
mà chỉ kiểm sát đối với hoạt động tư pháp Bởi vậy, Luật tổ chức Viện kiểm sátnhân dân và Luật THADS có nhiều điều, khoản qui định về kiểm sát THA; trongthực tế Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã ban hành nhiều kháng nghị đối với cácquyết định về THADS, tuy nhiên tính chất của kháng nghị trong giai đoạn THADS
có nhiều điểm không giống với kháng nghị trong giai đoạn xét xử Điều này chothấy rõ mối quan hệ mật thiết, đan xen giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với cơquan THADS, giữa pháp luật tố tụng tư pháp với pháp luật về THADS, giữa quan
hệ pháp luật tố tụng với quan hệ pháp luật về THADS
Thứ tư, quá trình THADS nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể, do đó, các trình tự, thủ tục THADS cũng được quy địnhchặt chẽ bởi pháp luật giống như những thủ tục tố tụng trước đó vì đều liên quanđến quyền con người, quyền công dân Hơn nữa, yêu cầu đặt ra đối với CHV trongviệc tiến hành, thực hiện các trình tự, thủ tục THADS cũng không thấp hơn nhữngngười tiến hành tố tụng trước đó là phải độc lập và tuân theo pháp luật để bảo đảmhiệu lực BA, QĐ của Tòa án và tiến tới đạt được sự thật trên thực tế; nếu không độclập và chỉ tuân theo pháp luật thì giá trị sự thật mà BA, QĐ của Tòa án đã xác định
sẽ không còn nguyên nghĩa của nó, trừ trường hợp các đương sự có sự thỏa thuận tựnguyện khác trong quá trình THADS
Thứ năm, giữa THADS và các giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ
nhân quả với nhau Trong lĩnh vực hình sự, nếu ở giai đoạn điều tra, các cơ quantiến hành tố tụng không kiên quyết áp dụng đầy đủ, kịp thời các biện pháp ngănchặn như thu giữ, kê biên, phong tỏa tài sản thì đến giai đoạn THADS, cơ quanTHADS sẽ gặp rất nhiều khó khăn do đương sự cất giấu, tẩu tán tài sản dẫn đến tìnhtrạng vụ việc tồn đọng không thể thi hành được Trong giai đoạn xét xử, nếu một
BA, QĐ được Tòa án tuyên một cách công bằng, thấu tình, đạt lý, rõ ràng, cụ thể,được dư luận ủng hộ, đồng tình thì việc THADS sẽ dễ dàng, nhanh chóng hơn
Trang 19nhiều Ngược lại, nếu BA, QĐ của Tòa án được tuyên không khách quan, toàn diện
và công bằng, thiếu tính khả thi sẽ gây cản trở cho việc THADS, làm giảm lòng tincủa nhân dân đối với các cơ quan nhà nước Do đó, việc tổ chức THADS nhanhchóng, kịp thời sẽ có tác động tích cực trở lại đối với hoạt động xét xử, củng cố,tăng cường uy tín của cơ quan xét xử
Những phân tích nêu trên cho thấy cần phải xem xét THADS như là một hiệntượng phức tạp, có tính đặc thù, không nên xem như một dạng hoạt động hoạt độnghành chính hoặc hoạt động tư pháp đơn thuần Vì vậy, chúng tôi đồng tình với quanđiểm thứ ba cho rằng THADS là dạng hoạt động hành chính - tư pháp, vừa mang tínhchất của hoạt động hành chính, vừa có những yếu tố của hoạt động tư pháp
Như vậy, có thể quan niệm: Thi hành án dân sự là hoạt động hành chính
-tư pháp, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời, buộc những cá nhân, tổ chức phải thực hiện các nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của Tòa án
Pháp luật thi hành án dân sự.
Thi hành án nói chung, thi hành án dân sự nói riêng là một giai đoạn của quá
trình tố tụng Hoạt động thi hành án luôn luôn chịu sự điều chỉnh của pháp luật Tronghoạt động THADS, pháp luật THADS có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảothi hành các BA, QĐ của Tòa án Đánh giá lịch sử hình thành và phát triển của pháp luậtTHADS cho thấy rằng pháp luật THADS đã có những bước hoàn thiện trong từng giaiđoạn nhất định Hệ thống văn bản pháp luật về THADS hiện hành đã tạo cơ sở cho việcxây dựng cơ chế quản lý thống nhất về THADS, hệ thống cơ quan quản lý THADS, cơquan THADS độc lập với cơ quan xét xử để có điều kiện tập trung cho việc thi hành các
BA, QĐ đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự, thủ tục THADS; các quyết định củaTrọng tài thương mại; các quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụviệc cạnh tranh mà sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tựnguyện thi hành, không khởi kiện tại Toà án…
Trang 20Các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về THADS cóthể phân chia theo các nhóm quan hệ sau:
Thứ nhất, nhóm quan hệ mang tính chất nội dung Nhóm này phản ánh
những quan hệ về nội dung việc thi hành và chấp hành các BA, QĐ của Tòa ánngay sau khi BA, QĐ có hiệu lực pháp luật Các phán quyết của Tòa án về dân sự làcăn cứ để xác định quyền và nghĩa vụ THA của các cơ quan THADS cũng nhưquyền, nghĩa vụ dân sự mà người được THA, người phải THA, cơ quan, tổ chức, cánhân có liên quan đến việc THADS có trách nhiệm chấp hành
Từ những quan hệ chủ yếu này sẽ phát sinh nhiều mối quan hệ khác trongquá trình THA nhằm bảo đảm việc thực hiện nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ củacác chủ thể trong quá trình thực thi các BA, QĐ về dân sự của Tòa án Mặt khác,trong quá trình THADS, có thể xảy ra những sự kiện pháp lý hay sự chi phối củahoạt động xét xử tác động tới nội dung của BA, QĐ làm xuất hiện những mối quan
hệ mới, ví dụ như BA, QĐ dân sự có hiệu lực bị kháng nghị, bị huỷ bỏ hay thay đổinội dung sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, thậm chí, theo hướng ngượclại Trong nhóm quan hệ mang tính nội dung, còn có thể xuất hiện mối quan hệgiữa cơ quan THADS với các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đếnviệc THADS Tóm lại, các mối quan hệ này phản ánh nội dung các quan hệ nhânthân và tài sản giữa các chủ thể có liên quan đến THADS, xác định quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể trong việc thi hành và chấp hành BA, QĐ của Tòa án về dân sự
Thứ hai, nhóm quan hệ mang tính tổ chức - quản lý Các quan hệ này liên
quan đến việc hình thành cơ cấu tổ chức; quy định thẩm quyền và quy chế hoạtđộng của cơ quan THADS Những mối quan hệ này được thể hiện cụ thể như:Mối quan hệ giữa cơ quan quản lý Nhà nước về THADS với cơ quan THADS;
cơ cấu tổ chức, hoạt động trong hệ thống các cơ quan THADS; giữa cơ quanTHADS cấp trên và cơ quan THADS cấp dưới về mặt tổ chức Trong thực tiễn,việc xử lý các mối quan hệ này thường rất phức tạp, có nhiều vướng mắc, bất cập
Do đó, nếu quy định đúng đắn các mối quan hệ trong quá trình tổ chức và quản lýTHADS, xác định cơ chế quản lý, mô hình tổ chức và hoạt động THADS phù hợp
sẽ góp phần tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của THADS
Trang 21Thứ ba, nhóm quan hệ mang tính chất trình tự, thủ tục THADS Một trong
những đặc trưng cơ bản của THADS là được tiến hành theo một trình tự, thủ tụcchặt chẽ mang tính hành chính - tư pháp, chịu sự điều chỉnh của pháp luật vềTHADS và một số các quy định của pháp luật tố tụng Chính vì vậy, trình tự, thủtục THADS làm xuất hiện hàng loạt các mối quan hệ giữa các chủ thể trong quátrình THADS, cụ thể:
- Những quan hệ phát sinh từ thủ tục tố tụng (giai đoạn xét xử) sang thủ tụcTHADS, chủ yếu là việc chuyển giao BA, QĐ đã có hiệu lực của Tòa án; tiếp đó làtrình tự, thủ tục THADS như: Thụ lý THA, ra quyết định THA, tự nguyện thỏathuận THA, thông báo THA và các biện pháp bảo đảm Đặc biệt là việc áp dụngcác biện pháp cưỡng chế như: khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi xử lý tiền, giấy
tờ có giá của người phải THA; trừ vào thu nhập của người phải THA; kê biên, xử lýtài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; khai tháctài sản của người phải thi hành án; buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tàisản, giấy tờ; buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiệncông việc nhất định
- Các mối quan hệ khác phát sinh làm gián đoạn việc THADS như việc hoãn,tạm đình chỉ và trả lại đơn yêu cầu THA
- Các mối quan hệ phát sinh liên quan đến thủ tục khiếu nại, tố cáo của cácchủ thể trong quá trình THA
Để điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội trên, Nhà nước phải ban hành cácquy định pháp luật Những quy phạm pháp luật này gọi là quy phạm pháp luật vềTHADS Tổng hợp các quy phạm pháp luật nói trên tạo thành pháp luật về THADS
Từ những phân tích nêu trên có thể khái niệm: Pháp luật về thi hành án dân
sự là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền banhành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành cácbản án, quyết định về dân sự, bao gồm các quy định về quyền, nghĩa vụ của ngườiđược thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;các tổ chức, cá nhân có liên quan đến thi hành án; quy định về chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quản lý, tổ chức việc thi hành
Trang 22án; nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hànhviên và trình tự, thủ tục thi hành án dân sự
1.1.2 Khái niệm và các hình thức thực hiện pháp luật thi hành án dân sự a) Khái niệm thực hiện pháp luật thi hành án dân sự
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, dodân, vì dân; pháp luật được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội, nghĩa làbằng pháp luật có thể trật tự hóa, củng cố và phát triển các quan hệ xã hội theonhững định hướng mong muốn và điều đó chỉ có thể đạt được khi những mệnh lệnh,chỉ dẫn các quan hệ pháp luật được thực hiện trong đời sống xã hội, thể hiện bằnghành vi thực tế, hợp pháp của các tổ chức, các cơ quan, của những người có chức
vụ, quyền hạn
Pháp luật là một công cụ quản lý xã hội sắc bén, song pháp luật chỉ có thểphát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc duy trì trật tự và tạo điềukiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện trong cuộc sống.Trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam, yêu cầu về thực thi pháp luật đã được ghinhận trong Hiến pháp: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa”, các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, đơn vị vũ trang và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp vàpháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp vàpháp luật Mọi hành động vi phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi hợp pháp củatập thể và công dân đều bị xử lý theo pháp luật [50] Chính vì vậy, thực hiện phápluật là đòi hỏi khách quan của quản lý Nhà nước, tăng cường pháp chế, xây dựngNhà nước pháp quyền Việt Nam
Về thực hiện pháp luật, hiện nay có nhiều nhiều cách định nghĩa khác nhau.Theo tài liệu học tập và nghiên cứu môn Lý luận chung về Nhà nước và pháp luậtcủa Khoa Nhà nước và Pháp luật thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minhnay là Viện Nhà nước - Pháp luật thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia
Hồ Chí Minh thì thực hiện pháp luật được hiểu là “quá trình hoạt động có mục đích làm cho những qui định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo cơ
sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [54] Theo giáo trình
Trang 23Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Học viện Hành chính Quốc gia “Thựchiện pháp luật là hoạt động, là quá trình làm cho những quy tắc của pháp luật trởthành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [55] Theo giáo trình Lý luậnNhà nước và pháp luật của trường Đại học Luật Hà Nội “Thực hiện pháp luật là mộtquá trình hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật,làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của cácchủ thể pháp luật ”[44]
Như vậy, các định nghĩa trên đều có quan niệm tương đối đồng nhất vềnhững nội dung cơ bản, đó là: thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằmthực hiện những yêu cầu của pháp luật, thực hiện pháp luật là hoạt động thực tế,hợp pháp của các chủ thể pháp luật làm cho những quy định của pháp luật trở thànhhiện thực trong cuộc sống Về cơ bản, chúng tôi đồng tình với các khái niệm về thực
hiện pháp luật như nêu trên và cho rằng: Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động
có mục đích làm cho các quy định của pháp luật được thực hiện trong thực tế cuộc sống và trở thành những hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật.
Trên cơ sở khái niệm, có thể thấy rằng thực hiện pháp luật THADS là thựchiện pháp luật về một lĩnh vực trong xã hội mà cụ thể, đó là THADS THADS nhằmbảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức,bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Thông qua THADS, bản án, quyết địnhcủa Tòa án có hiệu lực trên thực tế, công lý mới được thực hiện Đồng thời,THADS còn là giai đoạn kiểm nghiệm thực tiễn đối với những phán quyết của Tòa
án, phản ánh trung thực chất lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử Từ việc thựchiện pháp luật THADS, cán bộ ngành Tòa án có thể rút ra cho mình những bài học
bổ ích, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xét xử THADS là một lĩnh vực cụthể, vì vậy, thực hiện pháp luật về THADS cũng có đầy đủ các nội dung cơ bản củakhái niệm thực hiện pháp luật nói chung, đồng thời cũng có những mục tiêu, yêucầu, nội dung cụ thể Do đó, có thể nêu khái niệm thực hiện pháp luật về THADSnhư sau:
Thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự là quá trình hoạt động có mục đích
để làm cho các quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự được thực hiện trong thực
Trang 24tế cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, những hoạt động thực tế, hợp pháp củacác chủ thể pháp luật về thi hành án, nhằm phát huy hiệu lực của các bản án, quyết địnhcủa Toà án, đảm bảo các bản án, quyết định được tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh.
b) Mục đích và ý nghĩa thực hiện pháp luật thi hành án dân sự
Mục đích chính và cơ bản nhất của hoạt động thi hành án dân sự là làm chocác quyết định của Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền về dân sự được đưa ra thihành nghiêm túc trên thực tế Còn mục đích của thực hiện Luật Thi hành án dân sự
là đảm bảo cho quy trình, thủ tục hoạt động của các cơ quan, tổ chức thi hành ándân sự, các cá nhân, chủ thể phải thi hành và được thi hành, các chủ thể liên quanđến thi hành án tuân theo đúng các quy định của pháp luật
Ý nghĩa của thực hiện pháp luật thi hành án dân sự
Một là: Thi hành án dân sự góp phần giữ gìn trật tự, kỷ cương an toàn xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Có thể thấy rằng: Công tác thi hành án nói chung, thi hành án dân sự nóiriêng có một vai trò và ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong hoạt động của bất kỳ của
01 Nhà nước trên thế giới nói chung và Nhà nước ta nói riêng Bởi chỉ có thôngqua hoạt động thi hành án dân sự này mà những phán quyết của Tòa án nhân dâncác cấp nhân danh Nhà nước, thể hiện ý chí của Nhà nước sẽ trở thành hiện thực,công lý xã hội luôn được bảo đảm Một vụ án hay một vụ việc nào đó khi thôngqua thủ tục tố tụng tại Tòa án giải quyết chỉ kết thúc khi bản án quyết định củaTòa án được thi hành kịp thời, đầy đủ và chính xác
Do vậy, nếu công tác thi hành án dân sự không được quan tâm đúng mức
và hoạt động thi hành án dân sự không hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọnghay nói cách khác là sẽ ảnh hưởng rất tiêu cực, tác động đến toàn bộ quá trình tácnghiệp của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, trật tự kỷ cương xã hội bị đảo lộn,quyền lực nhà nước bị xem thường, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bịxâm hại Ngược lại, nếu hoạt động thi hành án dân sự đạt hiệu quả sẽ mang lạiniềm tin cho nhân dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần lập lại kỷcương, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, một bản án, quyếtđịnh của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà không được thi hành trên thực tế cho
Trang 25thấy sự thiếu nghiêm minh của pháp luật, dễ gây ra sự mất đoàn kết, xung đột kéodài trong nhân dân, tạo kẽ hở để các phần tử phản động lợi dụng tuyên truyền lôikéo nói xấu chế độ, kích động thù hận, gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân.
Hai là: Thi hành án dân sự là thước đo hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa
án và hoạt động tư pháp khác
Công tác điều tra, truy tố và xét xử diễn ra diễn ra cả một quá trình và rấtphức tạp Và kết quả của các hoạt động này có thể chỉ là con số không nếu như cácbản án, quyết định của Tòa án đó chỉ nằm trên giấy bởi nó không được đưa ra thihành trên thực tế Với ý nghĩa quan trọng đó, thi hành án dân sự là một hoạt độngkhông thể thiếu được trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cácđương sự Bởi vì, thông qua hoạt động thi hành án dân sự thì kết quả của hoạt độngxét xử được củng cố, hiệu lực các bản án, quyết định của Tòa án được đảm bảo
Mặt khác, hoạt động thi hành án dân sự còn là giai đoạn kiểm nghiệm quathực tiễn những phán quyết của Tòa án, phản ánh, trung thực chất lượng và hiệu quảcủa hoạt động xét xử Vì nếu như bản án tuyên đúng với bản chất, hiện thực kháchquan, có lý, có tình thì trong quá trình thi hành án sẽ thuận lợi hơn những trường hợpbản án, quyết định của Tòa án không đúng sự thật, không phù hợp với thực tế kháchquan Thực tế cho thấy có nhiều vụ việc đương sự không tự nguyện thi hành hoặc gửiđơn khiếu nại, tố cáo đi nhiều nơi, từ địa phương đến trung ương, vượt cấp, kéo dài,tạo nhiều điểm nóng không phải vì cơ quan thi hành án làm sai mà vì không đồngtình với quyết định của Tòa án nên cố tình trì hoãn việc thi hành án dân sự
Ba là: Thi hành án dân sự góp phần nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân
Với tính đặc thù riêng của hoạt động thi hành án dân sự là sự kết hợp chặtchẽ giữa vai trò chủ động, phát huy trách nhiệm của Chấp hành viên, cơ quan thihành án và sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, sự phối hợp các cơ quan tổ chức
có liên quan và sự đồng tình của quần chúng, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao ýthức trách nhiệm của cộng đồng Trong hoạt động thi hành án dân sự, thi hành án dân
sự không chỉ là hoạt động nghiệp vụ riêng của cơ quan thi hành án, Chấp hành viên màcòn là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, đoàn thể xã hội và
Trang 26mọi thành viên trong cộng đồng Thông qua công tác thi hành án, ý thức pháp luậtcủa nhân dân, vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức được nâng lên.
c) Các hình thức thực hiện pháp luật thi hành án dân sự
Hình thức thực hiện pháp luật là cách thức mà các chủ thể tiến hành các hoạtđộng có mục đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống Do các quyphạm pháp luật THADS có số lượng tương đối lớn với nhiều nội dung phong phú,
vì thế, hình thức thực hiện pháp luật về THADS cũng rất đa dạng Căn cứ vào tínhchất hoạt động, có thể xác định hoạt động thực hiện pháp luật về THADS bao gồmbốn hình thức thực hiện pháp luật nhằm mục đích chuyển tải các quy phạm phápluật vào cuộc sống thực tiễn, đó là:
* Tuân thủ pháp luật về thi hành án dân sự
Tuân thủ pháp luật về thi hành án dân sự là một hình thức thực hiện pháp luật,
theo đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luậtcấm Trong lĩnh vực THADS, yêu cầu về tuân thủ pháp luật được coi là vấn đề có ýnghĩa quyết định đối với hoạt động THA, đòi hỏi các chủ thể liên quan phải thực hiệnđúng các quyền và nghĩa vụ của mình Ví dụ như: Thủ trưởng Cơ quan THADS phải
ra quyết định thi hành án theo các căn cứ pháp luật quy định (ra quyết định thi hành ántheo đơn yêu cầu, chủ động ra quyết định thi hành án); CHV phải tuân thủ các thủ tục
về áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, cưỡng chế kê biên tài sản, tổ chức bán đấugiá tài sản; thanh toán tiền THA
* Thi hành pháp luật về thi hành án dân sự
Thi hành (chấp hành) pháp luật về THADS là một hình thức thực hiện pháp
luật về THADS, theo đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý củamình bằng hành động tích cực Ví dụ: Khoản 2 Điều 20 Luật THADS qui địnhCHV phải thi hành đúng nội dung BA, QĐ của Tòa án; áp dụng đúng các quy địnhcủa pháp luật về trình tự, thủ tục THA; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đứcnghề nghiệp CHV
Thi hành pháp luật THADS được thể hiện ở chỗ các chủ thể thi hành phápluật THADS thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực, đó là sựchủ động tổ chức THA của cơ quan THADS Sau khi BA, QĐ có hiệu lực, cơ quan
Trang 27THADS sẽ căn cứ vào nội dung của BA, QĐ (trường hợp cơ quan THADS chủđộng THA), căn cứ vào đơn yêu cầu THA và BA, QĐ (trường hợp THA theo đơnyêu cầu của người được THA, người phải THA) để tổ chức THA Cơ quan THADS
có trách nhiệm tổ chức thi hành đúng nội dung của BA, QĐ; người được THA,người phải THA, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc THA phải nghiêmchỉnh thi hành, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổchức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang và cá nhân tôntrọng Ở đây tính chấp hành pháp luật là yêu cầu nổi bật trong hoạt động THADS.Đồng thời, CHV là người chịu trách nhiệm chính trong quá trình tổ chức THA và phảicăn cứ vào các quy định của pháp luật về THADS; phối hợp với các cơ quan liên quan
để giải quyết việc THA, đặc biệt là trong nhiều trường hợp CHV còn chịu trách nhiệm
và điều hành cả các thành viên thuộc các cơ quan, tổ chức khác có tham gia vào quátrình THA (Ví dụ: CHV làm Chủ tịch Hội đồng cưỡng chế, tiêu hủy tài sản )
Bên cạnh đó, tính chất của hoạt động THADS đều hướng đến việc thực hiện cácnghĩa vụ về tài sản, trực tiếp tác động đến tài sản của các đương sự, vì vậy, pháp luậtcòn quy định phạm vi các BA, QĐ mà CHV chịu trách nhiệm tổ chức thi hành theopháp luật Cụ thể là theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật THADS, cơ quan THADS,CHV chịu trách nhiệm thi hành BA, QĐ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinhtế; BA, QĐ dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đãđược Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; BA, QĐ về hình phạttiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, ánphí và quyết định dân sự trong BA, QĐ hình sự, phần tài sản trong BA, QĐ hành chínhcủa Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phảiTHA của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại;các Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời…
* Sử dụng pháp luật về thi hành án dân sự
Sử dụng pháp luật về pháp luật THADS là một hình thức thực hiện pháp luật về
THADS, trong đó các chủ thể thực hiện các quyền về THADS để bảo vệ các quyền vàlợi ích hợp của mình Hình thức này khác với hình thức tuân thủ pháp luật và thi hànhpháp luật ở chỗ chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật
Trang 28cho phép theo ý chí của mình, chứ không bị ép buộc phải thực hiện Ví dụ: theo Khoản
1 Điều 140 Luật THADS quy định về quyền khiếu nại THA: "Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” Như
vậy, pháp luật cho phép các chủ thể pháp luật có quyền khiếu nại với các cơ quan nhànước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật về THADS Tuy nhiên, họ có thểkhông thực hiện các quyền này nếu thấy không cần thiết
* Áp dụng pháp luật về thi hành án dân sự
Áp dụng pháp luật về pháp luật THADS là một hình thức thực hiện pháp luật
về THADS, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan THADS, CHV căn cứ vàocác quy định của pháp luật về THADS để ra các quyết định làm phát sinh, thay đổihoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật trong lĩnh vực THA Các trường hợp ápdụng pháp luật về THADS được tiến hành khi cần áp dụng các biện pháp bảo đảm,biện pháp cưỡng chế nếu người phải THA có biểu hiện tẩu tán tài sản, cố tình chây
ỳ không tự nguyện THA
Áp dụng pháp luật về THADS được tiến hành khi các bên không tự giảiquyết được các quyền và nghĩa vụ liên quan Ví dụ như đương sự, người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơquan THADS, CHV nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó trái pháp luật,xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Hoạt động áp dụng pháp luật vềTHADS cần được tiến hành trong các trường hợp khi các cơ quan Nhà nước cầnkiểm tra, giám sát tính hợp pháp, hợp lý các hoạt động của các chủ thể trong quátrình THADS
Áp dụng pháp luật về THADS là hoạt động thực hiện pháp luật của các cơquan Nhà nước, nó vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa là cách thức Nhànước tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật nên hoạt động này luôn thể hiệnquyền lực Nhà nước, có nghĩa là hoạt động này chỉ do cơ quan Nhà nước hay người
có thẩm quyền tiến hành Hoạt động này chủ yếu được tiến hành theo ý chí đơnphương của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ
Trang 29thể bị áp dụng pháp luật Một điều quan trọng trong hoạt động này là việc cơ quanNhà nước lựa chọn các quy phạm pháp luật, ra các văn bản áp dụng pháp luật mộtcách kịp thời, chính xác và tổ chức thực hiện có hiệu quả Cần phải tiến hành cáchoạt động kiểm tra, giám sát việc thi hành các quyết định áp dụng pháp luật này.Đây có thể được coi là một trong những bảo đảm quan trọng để các văn bản ápdụng về THADS được thực hiện trong thực tế.
Như vậy, thực hiện pháp luật về THADS được thực hiện thông qua bốn hìnhthức: tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng phápluật về THADS Tuy nhiên, hình thức áp dụng pháp luật về THADS có sự khác biệtvới các hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật vềTHADS Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, nếu như tuân thủ pháp luật, thi hành phápluật và sử dụng pháp luật về THADS là những hình thức mà mọi chủ thể thực hiệnpháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật về THADS là hình thức luônluôn có sự tham gia của Nhà nước bằng cách thông qua các cơ quan THADS hoặcngười có thẩm quyền đại diện cho Nhà nước
1.1.3 Đặc điểm thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở Việt Nam
a) Đặc điểm quan trọng nhất của thực hiện Luật Thi hành án dân sự khác vớithực hiện pháp luật thông thường đó là thể hiện tính cưỡng chế của pháp luật, tínhmệnh lệnh, bắt buộc để pháp luật thực thi
b) Đặc điểm thứ hai, Thi hành án dân sự chủ yếu gắn với các quan hệ tài sảntrong lĩnh vực dân sự, lao động, kinh doanh – thương mại, hôn nhân gia đình lànhững quan hệ thỏa thuận bình đẳng và tự do ý chí, trừ các quan hệ hôn nhân giađình còn là những quan hệ hàng hóa – tiền tệ, đền bù tương đương Do đó, mặc dùyêu cầu tính cưỡng chế cao nhưng vẫn tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của đôibên Đây là đặc điểm khác biệt với thi hành án hình sự
Thi hành án dân sự chủ yếu là thi hành các quyết định của Tòa án mang tínhchất tài sản - đặc trưng của quan hệ dân sự Vì vậy, quyền tự định đoạt của đương sựluôn được tôn trọng trong suốt quá trình THA Điều này thể hiện ở chỗ, trongTHADS, người được THA luôn giữ vai trò chủ động, có quyền quyết định việc có đưa
ra yêu cầu THA hay không? đưa ra vào thời điểm nào (miễn là trong thời hiệu quy
Trang 30định), yêu cầu THA một phần hay toàn bộ quyết định của BA, QĐ của Tòa án; cácbên có quyền thỏa thuận với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức THA, miễn làviệc thỏa thuận đó phù hợp với pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
Xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, trong một
số trường hợp cụ thể, cơ quan THADS, CHV có thể lựa chọn biện pháp thích hợp đểviệc THA được nhanh chóng, đạt hiệu quả trên cơ sở thỏa thuận của các đương sự.Trong những trường hợp này, việc THA không nhất thiết phải theo đúng như nội dungquyết định của bản án mà Tòa án đã tuyên Do đó, sự kết hợp giữa việc tôn trọngquyền tự định đoạt của đương sự và sự chủ động của cơ quan THADS, CHV tạo nên
cơ chế đặc thù của THADS, bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chứctrong hoạt động THADS
c) Thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự đảm bảo tính độc lập và đề caotính chủ động của cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên trong hoạt động thihành án dân sự
Trong hoạt động THADS, tính độc lập của cơ quan THADS và CHV đượchiểu là người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các BA, QĐ của Tòa án, khithi hành nhiệm vụ, chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật vàđược pháp luật bảo vệ Để tạo điều kiện cho Cơ quan THADS và CHV thực hiện tốtcác nghĩa vụ, quyền hạn, Điều 11 Luật THADS quy định cụ thể như sau:
“Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ chức và
cá nhân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành án; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên theo quy định của Luật này Mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên đều bị xử lý theo quy định của pháp luật”.
Tính chủ động của CHV được đề cao trong quá trình tác nghiệp THA CHVcăn cứ vào các quy định của pháp luật về THADS, tình hình thực tế của vụ việc để lựachọn biện pháp thi hành phù hợp Đó là các biện pháp bảo đảm (phong tỏa tài khoản;tạm giữ tài sản, giấy tờ; tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tàisản) và các biện pháp cưỡng chế (khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền,
Trang 31giấy tờ có giá của người phải THA; trừ vào thu nhập của người phải THA; kê biên, xử
lý tài sản của người phải THA, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; khai thác tàisản của người phải THA; buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ;buộc người phải THA thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định)
Các nhiệm vụ, quyền hạn của CHV được quy định cụ thể tại Điều 20 LuậtTHADS có thể khái quát như sau: Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công;
ra các quyết định về THA theo thẩm quyền; thi hành đúng nội dung BA, QĐ; áp dụngđúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục THA, bảo đảm lợi ích của nhànước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp CHV; xác minh tài sản, điềukiện THA của người phải THA; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cungcấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải THA hoặc phối hợp với cơquan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến THA;Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm THA, biện pháp cưỡng chế THA; lập kếhoạch cưỡng chế THA; thu giữ tài sản THA; yêu cầu cơ quan Công an tạm giữ ngườichống đối việc THA theo quy định của pháp luật; lập biên bản về hành vi vi phạmpháp luật về THA; xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan cóthẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người vi phạm
Các nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên là cơ sở để CHV độc lập, tự chủ, tuân theopháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc THA và được bảo vệ tính mạng,sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín theo pháp luật
d) Thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự trên cơ sở các trình tự, thủ tục
được pháp luật quy định
Trong THADS, cơ quan THADS, CHV được Nhà nước giao trực tiếp thi hànhcác BA, QĐ của Tòa án theo quy định tại Điều 35 Luật THADS Tuy nhiên, cơ quanTHADS, CHV không được lạm dụng quyền lực trong quá trình tổ chức THA mà phảituân thủ những nguyên tắc, trình tự, thủ tục được pháp luật quy định nhằm bảo đảmlợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Đồng thời, do cơquan THADS là một bộ phận trong bộ máy nhà nước nên quá trình tổ chức THA
Trang 32đều phải tuân theo nguyên tắc, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nóichung và điều đó chứng tỏ sự diễn biến và phát triển của hoạt động THADS luônchịu sự tác động, điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về THADS và rộng hơn là của
cả hệ thống pháp luật Chỉ trên cơ sở đó mới có thể có được cơ chế hữu hiệu bảođảm thực thi các BA, QĐ của Tòa án
đ) Thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự là hoạt động đặc thù vừa mangtính hành chính, vừa mang tính tố tụng
Tính chất hành chính trong thực hiện pháp luật về THADS thể hiện qua cácquy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước vềTHADS và Cơ quan THADS; mối quan hệ phối hợp của các cơ quan, tổ chức cóliên quan với cơ quan THADS trong quá trình tổ chức THADS; nhiệm vụ, quyềnhạn của CHV Tính chất tố tụng thể hiện trong việc thực hiện các quy định về trình
tự, thủ tục THADS như các quy định về yêu cầu THA, hoãn THA, tạm đình chỉTHA, đình chỉ THA, cưỡng chế THA, kháng nghị về THA
Xuất phát từ đặc thù này, hoạt động THADS nhằm bảo vệ lợi ích hợp phápcủa công dân, tập thể, giữ gìn kỷ cương phép nước, không chỉ là hoạt động chuyênmôn thuần tuý của cơ quan THADS, CHV mà còn là trách nhiệm của các cấp ủyĐảng, chính quyền và toàn xã hội Sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động, pháthuy trách nhiệm của cơ quan THADS, CHV và sự chỉ đạo sát sao, kịp thời củaUBND các cấp, sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan, tạo ra sức mạnhtổng hợp, nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng trong THADS
1.2 Nội dung và các yếu tố tác động đến việc thực hiện Luật Thi hành án dân
Thực hiện pháp luật THADS là hoạt động có mục đích nhằm đưa các quyphạm pháp luật THADS vào thực tiễn cuộc sống, chuyển hóa thành những hành vi
Trang 33xử sự thực tế để phát huy tính tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật THADS.Các nội dung quy định của pháp luật THADS thể chế hóa đường lối quan điểm củaĐảng, chủ trương chính sách của Nhà nước, nhu cầu khách quan của xã hội, vì vậythực hiện pháp luật về THADS phải tạo được cơ chế hữu hiệu cho các chủ thể phápluật THADS tôn trọng và chấp hành pháp luật về THADS Thực hiện pháp luật vềTHADS gồm ba nội dung cơ bản sau:
Một là, thực hiện quy định của pháp luật về tổ chức THADS Đó là các quy
định về tổ chức, quản lý thống nhất các cơ quan THADS từ Trung ương đến địaphương (trừ hệ thống tổ chức THA trong quân đội):
- Ở Trung ương: Tổng cục THADS là cơ quan quản lý THADS trực thuộc
Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ Tư pháp quản lý nhà nước vềcông tác THADS trong phạm vi cả nước; thực hiện quản lý chuyên ngành vềTHADS theo quy định của pháp luật Tổng cục THADS có cơ cấu cán bộ, côngchức sau: Tổng cục trưởng, các Phó Tổng cục trưởng, Vụ trưởng và tương đương,Phó Vụ trưởng và tương đương, các thẩm tra viên và công chức khác
- Ở cấp tỉnh: Cục THADS tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây
gọi chung là Cục THADS cấp tỉnh) là cơ quan THADS trực thuộc Tổng cụcTHADS, thực hiện chức năng THADS, có nhiệm vụ giúp Tổng Cục trưởng Tổngcục THADS quản lý một số mặt công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan THADS địaphương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.Cục THADS cấp tỉnh có cơ cấu tổ chức, cán bộ sau: Cục THADS tỉnh có Cụctrưởng; các Phó Cục trưởng; CHV (sơ cấp, trung cấp, cao cấp); Thẩm tra viên,Thẩm tra viên chính, Thẩm tra viên cao cấp; Thư ký THA và công chức khác
- Ở cấp huyện: Chi cục THADS huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là Chi cục THADS cấp huyện) là cơ quan THADS huyện trựcthuộc Cục THADS tỉnh, thực hiện chức năng THADS và thực hiện các nhiệm vụ,quyền hạn khác theo quy định của pháp luật Chi cục THADS huyện có Chi Cụctrưởng; các Phó Chi cục trưởng; CHV (sơ cấp, trung cấp); Thẩm tra viên, Thẩm traviên chính; thư ký THA và công chức khác
Trang 34Các qui định về hệ thống tổ chức bộ máy các cơ quan THADS được qui địnhtại Điều 13, 17, 22 Luật THADS và Nghị định 74/2009/NĐ - CP ngày 09/9/2009 củaChính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về
cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS và công chức làm công tác THADS Do
đó, việc thực hiện tốt các quy định về hệ thống tổ chức THADS sẽ có ý nghĩa quantrọng trong việc nâng cao địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơquan quản lý THADS, cơ quan THADS trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ vàmối quan hệ với cơ quan hữu quan; thiết lập được mô hình tổ chức THADS phù hợpđảm bảo hiệu lực, hiệu quả công tác THADS nói chung và thực hiện pháp luậtTHADS nói riêng ở Việt Nam
Hai là, thực hiện nội dung quản lý nhà nước về THADS Đó là quá trình hoạt
động của các chủ thể (Chính phủ, Bộ Tư pháp, UBND các cấp) trong việc thực hiện
các qui định của pháp luật về THADS bao gồm: Ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật; xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về THADS; phổbiến, giáo dục pháp luật về THADS; quản lý hệ thống tổ chức, biên chế và hoạtđộng của cơ quan THADS; quyết định thành lập, giải thể các cơ quan THADS; đàotạo, bổ nhiệm, miễn nhiệm CHV, Thẩm tra viên; hướng dẫn chỉ đạo, bồi dưỡngnghiệp vụ cho CHV, Thẩm tra viên và công chức khác làm công tác THADS; kiểmtra, thanh tra xử lý vi phạm trong công tác THADS; giải quyết khiếu nại, tố cáo vềTHADS; quyết định kế hoạch phân bổ kinh phí, đảm bảo cơ sở vật chất, phươngtiện hoạt động của cơ quan THADS; hợp tác quốc tế về THADS; tổng kết công tácTHADS (Nội dung về quản lý nhà nước về THADS được quy định tại Điều 166,
167, 173, 174, 175 Luật THADS)
Như vậy, hệ thống tổ chức cơ quan THADS liên quan chặt chẽ đến tráchnhiệm quản lý nhà nước của Chính phủ Vì vậy, để đảm bảo tính linh hoạt trongcông tác quản lý nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức, chỉ đạo công tácTHADS, Luật THADS quy định cụ thể về hệ thống tổ chức THADS gồm: Tổng cụcTHADS là cơ quan quản lý THADS trực thuộc Bộ Tư pháp; Cục THADS tỉnh là cơquan THADS trực thuộc Tổng cục THADS; Chi cục THADS huyện là cơ quanTHADS huyện trực thuộc Cục THADS tỉnh (Điều 13) Đồng thời pháp luật cũng
Trang 35quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan THADS và nhiệm vụ, quyềnhạn của Chính phủ, Bộ Tư pháp, UBND các cấp Nhằm bảo đảm công tác quản lýnhà nước về THADS được tập trung, thống nhất và nâng cao hiệu quả hiệu quả hoạtđộng THADS.
Ba là, thực hiện các quy định của pháp luật đối với hoạt động THADS Đó là
quá trình hoạt động của các chủ thể pháp luật THADS trong việc thực hiện các quyđịnh, các yêu cầu của pháp luật trong quá trình tổ chức THA
Nội dung hoạt động THADS đã được quy định tại các Điều 166, 167, 169,
170, 171, 173, 174, 175, 176, 177, 178, 179 Luật THADS bao gồm: Những quyđịnh về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước về THADS nhưUBND các cấp; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THADS, CHV; các cơ quan khácnhư: Bộ Công an, TAND tối cao, VKSND tối cao, Kho bạc nhà nước, Ngân hàng
và tổ chức tín dụng, Bảo hiểm xã hội, Cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịchbảo đảm trong THADS và trách nhiệm của cơ quan ra BA, QĐ trong THADS
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan, tổ chức và cánhân liên quan có trách nhiệm phối hợp, thực hiện yêu cầu của cơ quan THADS,CHV theo quy định của pháp luật Mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật vàohoạt động của cơ quan THADS, CHV đều bị xử lý theo quy định pháp luật
1.2.1.2 Thực hiện Luật Thi hành án dân sự nhìn từ góc độ của chủ thể phải thi hành án và được thi hành án
Nội dung chủ yếu và là mục tiêu quan trọng nhất của việc thi hành án dân sự làngười phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm thi hành những nội dung màBản án, Quyết định của Tòa án đã phán quyết theo trình tự, thủ tục mà Luật Thi hành
án đã quy định Thực hiện Luật Thi hành án đối với các chủ thể phải thi hành án và chủthể được thi hành án chủ yếu là thi hành và tuân thủ pháp luật, đồng thời được sử dụngnhững biện pháp cần thiết, phù hợp với quy định của pháp luật
1.2.2 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện Luật Thi hành án dân sự
Hoạt động thi hành án chịu sự điều chỉnh của pháp luật và chịu sự tác động củarất nhiều yếu tố, đó là:
Trang 36- Cơ sở pháp lý, bao gồm các nguyên tắc chung của hệ thống pháp luật và thựctrạng pháp luật, đặc biệt là Luật Thi hành án dân sự; ý thức pháp luật của các chủ thể;
- Mức độ hoàn thiện và uy lực của hệ thống tổ chức thi hành án và thực trạng độingũ cán bộ thi hành án;
- Thực trạng trật tự quản lý kinh tế-xã hội trong các lĩnh vực, đặc biệt là quản lý hộtịch, tài sản và quyền sở hữu
- Các điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội và điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuậtđảm bảo cho hoạt động thi hành án
- Các yếu tố, các điều kiện đặc thù của địa phương về các lĩnh vực, các yếu tố nêu trên
1.3 Quá trình điều chỉnh pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam
Dưới thời Pháp thuộc, hoạt động thi hành án dân sự ở nước ta được tổ chứctheo hình thức Thừa phát lại Thừa phát lại là những Công lại chuyên làm cáccông việc về truyền phiếu, các việc về tư pháp, thi hành các bản án, công văn vànhững mệnh lệnh khác của Tòa án Song, mãi đến khi Nhà nước Việt Nam dânchủ cộng hòa ra đời, công tác thi hành án nói chung, thi hành án dân sự nói riêng
đã có sự thay đổi căn bản về chất
Nhìn lại chặng đường lịch sử hình thành và phát triển của ngành thi hành ándân sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay, có thể chia thành các giai đoạn hình thành
và phát triển như sau:
kỳ lịch sử: 1945 - 1949, 1950 -1980, 1981 - 30/6/1993
* Thời kỳ 1945 - 1949
Trang 37Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ngày 10-10-1945, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã ký sắc lệnh về việc “ Tạm thời các luật lệ hiện hành của chế độ cũ ở Bắc,Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành những Bộ luật chung thống nhất cho toàn quốc
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, hệ thống tư pháp mới đượcthiết lập trong cả nước Trên cơ sở Sắc lệnh ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ ChíMinh về việc giữ tạm thời các luật, lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khiban hành những Bộ luật chung thống nhất cho toàn quốc, nếu những đạo luật ấy
"không trái với những nguyên tắc độc lập của Nhà nước Việt Nam và chính thể dânchủ cộng hòa" Áp dụng thủ tục ấn định trong Nghị định ngày 16/3/1910 củanguyên Toàn quyền Đông Dương và những Nghị định sửa đổi Nghị định ấy, chếđịnh Thừa phát lại tiếp tục được duy trì
Ngày 24/01/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 13 ban hành quyđịnh về tổ chức Tòa án, trong đó xác định Ban Tư pháp xã thuộc Tòa án Theo điểm
3, Điều thứ 2, tiết thứ nhất, chương thứ nhất của Sắc lệnh thì Ban Tư pháp xã thựchiện các việc tư pháp, có quyền hòa giải tất cả các việ dân sự, thương lượng và thihành các mệnh lệnh của Thẩm phán Tòa án cấp trên Như vậy, ở nước ta vào thời
kỳ này tồn tại hai lực lượng thi hành án đó là: Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã
Như vậy, tổ chức thi hành án dân sự đã được hình thành ngay trong những nămđầu Cách mạng tháng Tám thành công và tồn tại dưới hai hình thức là: Thừa phát lại vàBan tư pháp xã Tuy tồn tại hai lực lượng thi hành án, nhưng việc thực hiện thi hành án
do Thừa phát lại hay Ban tư pháp xã tiến hành, đều thể hiện quyền lực nhà nước vàđược đảm bảo bởi sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Điều này được thể hiện tại Sắclệnh số 130 ngày 19/7/1945 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa Điềuthứ nhất của Sắc lệnh này quy định: "Các bản toàn sao hoặc trích sao bản án hoặcmệnh lệnh do các phòng Lục sự phát cho các đương sự để thi hành bản án, hoặc mệnhlệnh của các Tòa án hộ đều có thể thức thi hành, ấn định" "Vậy, Chủ tịch Chính phủViệt Nam dân chủ cộng hòa truyền cho các Thừa phát lại theo yêu cầu của đương sựthi hành bản án này, các ông Chưởng lý và Biện lý kiểm sát việc thi hành án, Cai thịchỉ huy binh lực giúp đỡ mỗi khi đương sự chiếu luật yêu cầu"
* Thời kỳ 1950 – 1980
Trang 38Sau khi Sắc lệnh số 85/SL, ngày 22/5/1950 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký về
"Cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng" được ban hành, Tòa án cấp huyện đượctiến hành họp Hội đồng hòa giải để hòa giải thử các vụ kiện về dân sự và thương sự,
kể cả các việc xin ly dị, trừ những việc mà theo luật pháp các đương sự không cóquyền điều đình Biên bản hòa giải thành được xác định là một công chính chứngthư mà Thẩm phán Tòa án huyện có thể đem thi hành ngay, các án hình về khoảnbồi thường hay bồi hoàn và các án hộ mà chính Tòa án huyện hoặc Tòa án cấp trên
đã tuyên do thẩm phán Tòa án huyện thi hành dưới sự giám sát của Biện lý Việc thihành án dân sự được giao cho Thẩm phán thuộc Tòa án nhân dân huyện thực hiện
Luật tổ chức Tòa án nhân dân đầu tiên của nước ta do Quốc hội khóa I thông quangày 24/10/1960 đã qui định tại Điều 24 như sau: "Tại các Tòa án nhân dân địa phương cónhân viên thi hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án, quyết định dân sự, nhữngkhoản xử về bồi thường và tài sản trong các bản án, quyết định hình sự" Từ đây, chứcdanh nhân viên chấp hành án xuất hiện và là nhân viên chuyên trách thuộc Tòa án nhândân dịa phương làm nhiệm vụ thi hành án dân sự Tuy nhiên, Sau khi Luật tổ chức Tòa ánnhân dân năm 1960 có hiệu lực pháp luật, do những điều kiện nhất định mà thực tế chưa
có nhân viên chấp hành án chuyên trách tại các Tòa án Công việc thi hành án dân sự vẫn
do tòa án phân công một Thẩm phán phụ trách thi hành án Thẩm phán vừa làm nhiệm vụxét xử đồng thời lại tổ chức thi hành án
Đến năm 1972, trên cơ sở quyết định số 186/TC và thông tư số 187/TC,ngày 13/10/1972 của Tòa án nhân dân tối cao, chức danh nhân viên chấp hành ánđược thay thế bởi chức danh Chấp hành viên Theo Điều 2 của Quyết định 186/TC,thì Chấp hành viên có nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định về dân sự,những khoản xử phạt tiền, xử về bồi thường thiệt hại hoặc trả lại tài sản trong cácbản án, quyết định về hình sự Chấp hành viên được đặt tại các Tòa án nhân dânthành phố thuộc tỉnh, Tòa án nhân dân huyện, thị xã, tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương Nhà nước không tổ chức cơ quan thi hành án dân sự riêng mà chỉ đặtChấp hành viên tại các Tòa án nhân dân địa phương để thực hiện chuyên trách việcthi hành án dân sự Chấp hành viên thực thi nhiệm vụ dưới sự chỉ đạo của Chánh ánTòa án nhân dan cùng cấp Chấp hành viên của Tòa án cấp trên không có quyền chỉ
Trang 39đạo Chấp hành viên của Tòa án cấp dưới mà chỉ giúp Chánh án nắm tình hình, đônđốc, theo dõi kiểm tra công tác thi hành án cấp dưới Chánh án Tòa án nhân dân vừaquản lý Thẩm phán vừa quản lý chỉ đạo hoạt động của Chấp hành viên Tòa án mình
và có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn công tác thi hành án của Tòa ánnhân dân cấp dưới Đồng thời chỉ đạo hướng dẫn thống kê, sơ kết, tổng kết công tácthi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự, xây dựng và bồidưỡng nghiệp vụ cho Chấp hành viên theo thẩm quyền do pháp luật qui định Tạonên sự thay đổi có tính chất bước ngoặt trong tổ chức và hoạt động tư pháp nóichung và thi hành án dân sự nói riêng
Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật về thi hành án dân sự trong thời kỳ này,
có quy định trách nhiệm đối với ủy ban hành chính xã cùng các cơ quan có liênquan trong việc tổ chức hỗ trợ thi hành án.Viện kiểm sát nhân dân các cấp kiểm sátviệc tuân theo pháp luật trong việc chấp hành bản án, quyết định của Tòa án(Điều 7Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân)
* Thời kỳ 1981 - đến 30/6/1993
Với sự ra đời của Hiến pháp 1980, hàng loạt các đạo luật về tổ chức bộ máy nhànước được ban hành nhằm kiện toàn bộ máy nhà nước, phân định rõ chức năng của từnglại cơ quan, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật Điều 16 Luật tổ chứcTòa án nhân dân năm 1981 đã giao cho Bộ Tư pháp đảm nhiệm công tác quản lý Tòa ánnhân dân địa phương về mặt tổ chức, trong đó bao gồm cả việc quản lý công tác thi hành
án dân sự Nghị định 143/HĐBT ngày 22/111981 của Hội đồng Bộ trưởng nay là Chínhphủ qui định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Bộ Tư pháp đã ghi rõ: “Bộ Tư pháp
có chức năng quản lý các Tòa án nhân dân địa phương về mặt tổ chức trong đó bao gồm
cả việc quản lý công tác thi hành án dân sự” Theo đó, Tòa án nhân dân tối cao đã bàn giaonhiệm vụ quản lý công tác thi hành án dân sự trong phạm vi toàn quốc sang Bộ Tư phápbắt đầu từ ngày 01/01/1982 Ngày 18/7/1982 Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao đã
ký Thông tư liên ngành số 472 về quản lý công tác thi hành án dân sự trong thời kỳ trướcmắt, quy định: Ở địa phương tại các Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương có Phòng thi hành án nằm trong cơ cấu bộ máy của Tòa án để giúp Chánh án chỉ đạocông tác thi hành án dân sự Ở các Tòa án cấp huyện có các Chấp hành viên hoặc các cán
Trang 40bộ làm công tác thi hành án dưới sự chỉ đạo của Chánh án Việc quản lý, chỉ đạo và tổchức thực thi nhiệm vụ của Chấp hành viên vẫn do Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấpđảm nhiệm Cơ chế thi hành án này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tưpháp và Tòa án từ Trung ương đến địa phương.
Trong thời kỳ này, tổ chức và hoạt động thi hành án là một giai đoạn khépkín trong Tòa án và tùy thuộc vào sự chỉ đạo của Chánh án Tòa án nhân dân địaphương Vai trò của Tòa án nhân dân tối cao và tiếp đó là Bộ Tư pháp từ năm 1981đến năm 1992 trong việc quản lý Tòa án nhân dân địa phương chỉ mới dừng lại ởvai trò quản lý chung, còn thực chất việ quản lý đội ngũ cán bộ Tòa án, cũng nhưviệc xây dựng đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động xét xử, thi hành án do chínhquyền địa phương đảm nhiệm Do cơ chế tổ chức thi hành án là một bộ phận củaTòa án nhân dân địa phương, với chức năng chủ yếu của Tòa án là xét xử, nên nhiềunăm liền mối quan tâm, chú trọng của Tòa án vẫn dành cho công tác xét xử, cònviệc thi hành án hầu như ít được quan tâm Điều này dẫn đến trình trạng án xét xửxong không được thi hành chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong lượng án phải thi hànhhàng năm Do đó, Đảng và Nhà nước ta có chủ trương tách công tác thi hành án dân
sự ra khỏi Tòa án nhân dân Trong thời gian này, công tác thi hành án dân sự đượcthực hiện theo Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989
b) Giai đoạn từ ngày 01/7/1993 đến ngày 30/6/2004
Nhằm khắc phục các tồn tại nói trên, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa IXngày 06/10/1992 đã thông qua nghị quyết về việc bàn giao công tác thi hành án từTòa án nhân dân các cấp sang cơ quan của Chính phủ Đặc biệt sau khi Pháp lệnh thihành án dân sự 1993 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/6/1993 và thay thế Pháp lệnhdân sự năm 1989 cũng như chỉ thị số 266/TTg ngày 02/6/1993 của Thủ tướng Chínhphủ, Nghị định số 30/CP ngày 02/6/1993 của Chính phủ đã tạo bước ngoặt lớn về tổchức và hoạt động thi hành án, đưa công tác này sang một giai đoạn mới, đáp ứng yêucầu của đất nước trong thì kỳ đổi mới Theo đó, công tác thi hành án dân sự đượcchuyển từ Tòa án nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ Mô hình tổchức cơ quan thi hành án dân sự được thiết lập với hai loại cơ quan: Cơ quan quản
lý thi hành án dân sự và Cơ quan thi hành án dân sự Địa vị pháp lý của Chấp hành