Đề tài giúp cho Công ty CP Sách - TBTH Đà Nẵng có cái nhìn rõ hơn về tình hình quản trị tài chính của mình; từ đó đưa ra những quyết định tài chính hợp lý, phù hợp với tình hình của doan
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM
Mã số ngành : 60340102
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRƯƠNG QUANG DŨNG
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS Trương Quang Dũng
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP HCM ngày tháng năm 2013
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
Trang 4TRƯỜNG ĐH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
PHÒNG QLKH – ĐTSĐH
TP HCM, ngày 12 tháng 12 năm 2012
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Nguyễn Thị Hoa Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 11/03/1975 Nơi sinh: Quảng Nam
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh MSHV: 1184011062
I- TÊN ĐỀ TÀI: Hoàn thiện quản lý tài chính Công Ty Sách Và Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng
II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG
1) Hệ thống cở sớ lý luận về tài chính và quản trị tài chính doanh nghiệp 2) Phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Công Ty CP Sách và TBTH Đà Nẵng
3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tại chính tại công ty Cổ Phần Sách- Thiết bị trường học Đà Nẵng
III- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 24/06/2012
IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 24/12/2012
V- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS TRƯƠNG QUANG DŨNG
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
TP Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 12 năm 2012
Học viên thực hiện Luận văn
Trang 6LỜI CÁM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại Trường Đại học Kỹ thuật công nghệ Tp.Hồ Chí Minh Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Trương Quang Dũng, người đã hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này ngay từ lúc định hình các nghiên cứu ban đầu cho đến lúc hoàn chỉnh luận văn
Xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Quý thầy cô giáo Trường Đại học Kỹ thuật công nghệ Tp.Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin cám ơn Công ty cổ phần Sách – TBTH Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình quan sát, thu thập dữ liệu, khảo sát cũng như phân tích thực trạng và đề xuất chiến lược, giải pháp tài chính cho Công ty
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn đồng hành cùng tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Tác giả Luận văn: Nguyễn Thị Hoa
Trang 7TÓM TẮT
1 GIỚI THIỆU
Quản lý tài chính doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng trong hoạt động của một doanh nghiệp nên đề tài “Hoàn thiện quản lý tài chính Công ty CP Sách - TBTH Đà Nẵng” là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cho Công ty CP Sách và TBTH
Đà Nẵng Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính Công ty CP Sách và TBTH Đà Nẵng
1.2 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
1.3 Quản lý tài chính trong doanh nghiệp
1.4 Tóm tắt chương 1
Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính tại Công ty Cp Sách – TBTH
Đà Nẵng
2.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty CP Sách – TBTH Đà Nẵng
2.2 Quản lý tài chính tại Công ty CP Sách TBTH Đà Nẵng
2.3 Đánh giá về quản lý tài chính của Công ty CP Sách TBTH Đà Nẵng 2.4 Tóm tắt chương 2
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty Cp Sách – TBTH Đà Nẵng
3.1 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính tại Công
ty CP Sách - BTH Đà Nẵng
3.2 Phân tích SWOT
Trang 83.3 Nội dung các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty CP Sách
- TBTH Đà Nẵng
3.4 Một số kiến nghị
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Thứ nhất, hệ thống cở sở lý luận về tài chính và quản trị tài chính doanh
nghiệp, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp như: Hoạch định tài chính, kiểm tra tài chính, quản lý vốn luân chuyển và phân tích tài chính
Thứ hai, phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Công ty CP Sách - TBTH
Đà Nẵng qua việc khái quát về công ty và phân tích, đánh giá công tác quản lý tài chính Qua phân tích đã rút ra được 3 điểm mạnh và 6 điểm yếu trong công tác quản
lý tài chính
Thứ ba, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và rút ra 3 cơ hội, cùng 4 nguy cơ
ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính tại Công ty CP Sách - TBTH Đà Nẵng trong thời gian tới
Thứ tư, Phân tích SWOT và đề ra 5 nhóm giải pháp hoàn thiện công tác quản
lý tại chính tại công ty CP Sách - TBTH Đà Nẵng, bao gồm: 1) Hoàn thiện công tác hoạch định tài chính; 2) Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động; 3) Nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ; 4) Xây dựng nguồn nhân lực cho công tác phân tích và quản lý tài chính; 5) Củng cố các mối quan hệ trong nội bộ Đồng thời đề ra các kiến nghị với Nhà nước và Bộ tài chính
Trang 9ABSTRACT
1 INTRODUCTION
Corporate finance management is an important issue in the operation of a business So subject "improve financial management at Da Nang books and school equipment joint stock Company" is a real significant problempractices for the Da Nang books and school equipment joint stock Company Research objectives of this project is to propose solutions to improve financial management at Da Nang books and school equipment joint stock Company
1.2 Overview of corporate finance
1.3 Financial management in the enterprise
1.4 Summary of Chapter 1
Chapter 2: Current status of financial management at the Da Nang books and school equipment joint stock Company
2.1 Introduction overview of Da Nang Company
2.2 Financial management in Da Nang Company
2.3 Reviews on financial management of Da Nang Company
Trang 103.3 The content of the complete solution of financial management at Da Nang books and school equipment joint stock Company
3.4 A number of recommendations
3 RESULTS AND DISCUSSION
First, the theoretical basis system of financial and corporate financial
management, especially issues related to the content of corporate financial management including: financial planning, financial checks, management reasonable working capital and financial analysis
Second, the analysis of the state of financial management in Da Nang books
and school equipment joint stock Company through the overview of the company and the analysis and evaluation of financial management Through analysis drawn three strengths and six weaknesses in financial management
Third, the analysis of factors affecting and drawn three chances, and 4 risk
affecting financial management at Corporation Books and School Equipment in the future
Fourth, SWOT Analysis and 5 group solutions improve management at the
Corporation Books and School Equipment, including: 1) Completion of the financial planning; 2) Increase utilization of working capital; 3) to improve the efficiency of fixed assets; 4) Develop human resources for the financial analysis and management; 5) strengthen internal relationships At the same time proposing recommendations to the State and Treasury
4 CONCLUSION
Improve financial management Corporation Books and School Equipment is essential By the methods of scientific research, thesis system theoretical basis of corporate finance and corporate financial management, situation analysis and the factors to draw out the complete management solution financial management at Corporation Books and School Equipment
Trang 11Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN TRỊ
1.3.5 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quản lý tài chính doanh nghiệp 17
Trang 121.4 Tóm tắt chương 1 33 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CP
2.2 Quản lý tài chính tại Công ty CP Sách TBTH Đà Nẵng 47
2.3 Đánh giá về quản lý tài chính của Công ty CP Sách TBTH Đà Nẵng 67
Trang 133.1.3 Nhận dạng các cơ hội và thách thức 74
3.3 Nội dung các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty CP Sách -
3.3.4 Xây dựng nguồn lực cho công tác quản trị và phân tích tài chính 82
Trang 14DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
GTGT Giá trị gia tăng
Trang 15DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu cổ đông 366 Bảng 2.2: Cơ cấu lao động 41
Bảng 3.1: Phân tích SWOT cho Công ty CP sách – TBTH Đà nẵng 766
Trang 17MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công ty Sách và thiết bị Trường học Đà Nẵng là Doanh Nghiệp Nhà Nước được thành lập theo Thông tư số 14/TT-TC ngày 10/06/1982 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trực thuộc Sở Giáo Dục và Đào Tạo tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng (QNĐN ) Nhiệm vụ của Công ty là đáp ứng nhu cầu sách vở, thiết bị giảng dạy và học tập cho giáo viên và học sinh trên địa bàn tỉnh QNĐN Mục tiêu ban đầu của Công ty là phục vụ cho công tác chuyên môn, phục vụ giáo dục chưa chú trọng đến hiệu quả kinh doanh Từ năm 1986 nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường, hoạt động của Công ty dần mang tính chất kinh doanh và đồng thời phải bảo đảm hai nhiệm vụ chính : Kinh doanh có hiệu quả và bảo đảm phục vụ tốt công tác chuyên môn của ngành
Thực hiện chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, Công ty đã xây dựng phương án cổ phần hoá và ngày 24/02/2004 UBND Thành phố Đà Nẵng ra Quyết định số 26/2004/QĐ-UB “Phê duyệt phương án cổ phần hóa, chuyển Công ty Sách và Thiết bị trường học Đà Nẵng thành Công ty cổ phần Sách và Thiết bị trường học Đà Nẵng.”
Giai đoạn từ năm 2004 đến nay.Thực hiện cổ phần hoá, Công ty chuyển sang
mô hình công ty cổ phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Đây là bước ngoặt mới để Công ty thực hiện thay đổi phương thức quản trị, tận dụng khai thác nguồn lực về tài chính và lao động để tham gia sâu và rộng hơn vào thị trường phát hành sách và in ấn Tăng cường khả năng cạnh tranh và tăng thị phần tiêu thụ Mở rộng loại hình kinh doanh và đa dạng hoá các mặt hàng sản phẩm
Nền kinh tế thị trường hiện nay phát sinh rất nhiều các mối quan hệ tài chính phức tạp đòi hỏi công việc quản lý tài chính cần được Doanh Nghiệp đặc biệt chú trọng Từ doanh nghiệp nhà nước chuyển sang cổ phần hóa, doanh nghiệp không thể tránh khỏi những khó khăn, lúng túng trong công tác quản lý điều hành tài chính
Trang 18của mình Nhằm khắc phục tình trạng trên đồng thời giúp Doanh Nghiệp quản lý tài chính một cách hoàn thiện nhất, mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhất tác giả đã
chọn đề tài “Hoàn thiện quản lý tài chính Công Ty Sách Và Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là thông qua phân tích thực trạng quản lý tài chính ở Công ty Cổ phần Sách - TBTH Đà Nẵng, đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính ở Công ty Cổ phần Sách - TBTH Đà Nẵng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai đoạn tới Để thực hiện mục tiêu này, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Hệ thống cở sở lý luận về tài chính và quản lý tài chính doanh nghiệp
- Phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Công Ty CP Sách và TBTH Đà Nẵng
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tại chính tại công ty Cổ Phần Sách- TBTH Đà Nẵng và kiến nghị với cấp trên
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Phạm vi nghiên cứu: Thực tiễn quản lý tài chính Tại Công ty Cổ phần Sách - TBTH Đà Nẵng giai đoạn từ 2005 - 2011
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với nguồn số liệu thứ cấp
là chủ yếu, được thu thập từ các nghiên cứu trước đây và các tài liệu về tài chính doanh nghiệp, các báo cáo của tổng cục thống kê, báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty CP Sách – TBTH Đà Nẵng Các dữ liệu sau khi thu thập được phân tích bằng các phương pháp như: thống kê, mô tả, so sánh và tổng hợp…
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trang 19Đề tài giúp cho Công ty CP Sách - TBTH Đà Nẵng có cái nhìn rõ hơn về tình hình quản trị tài chính của mình; từ đó đưa ra những quyết định tài chính hợp
lý, phù hợp với tình hình của doanh nghiệp, đến đảm bảo các quyết định tài chính được thực hiện và phù hợp với mục tiêu của hoạt động tài chính doanh nghiệp cũng như mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp và quản lý tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần Sách - TBTH
Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần Sách - TBTH Đà Nẵng
Trang 20Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu
Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân
Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp chứ không phải các cá nhân
Ở Việt Nam, theo luật doanh nghiệp: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh – tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi
1.1.2 Phân loại
Các doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm : Doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp doanh, công ty liên doanh, doanh nghiệp tư nhân
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể kinh doanh sau đây:
1.1.2.1 Kinh doanh cá thể (sole proprietorship)
- Là loại hình được thành lập đơn giản nhất, không cần phải có điều lệ chính thức và ít chịu sự quản lý cuả nhà nước
- Không trả thuế thu nhập doanh nghiệp, tất cả lợi nhuận bị tính thuế thu nhập cá nhân
Trang 21- Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ và các khoản nợ, không có sự tách biệt giữa tài sản cá nhân và tài sản của doanh nghiệp
- Thời gian hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào tuổi thọ của người chủ
- Khả năng thu hút vốn bị hạn chế bởi khả năng của người chủ
1.1.2.2 Kinh doanh góp vốn (Parnership)
- Việc thành lập doanh nghiệp này dễ dàng và chi phí thành lập thấp Đối với các hợp đồng phức tạp cần phải được viết tay Một số trường hợp cần có giấy phép kinh doanh
- Các thành viên chính thức có trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ Mỗi thành viên có trách nhiệm đối với phần tương ứng với phần góp vốn Nếu như một thành viên không hoàn thành trách nhiệm trả nợ của mình, phần còn lại sẽ do các thành viên khác hoàn trả
- Doanh nghiệp tan vỡ khi một trong các thành viên chính thức chết hay rút vốn
- Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho cổ đông mới
- Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi số lượng cổ đông
Trang 22- Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vào công ty (trách nhiệm hữu hạn)
Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu, có thể coi tất cả các loại hình đó là doanh nghiệp Về nguyên tắc là như nhau Trong bài tác giả nghiên cứu loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần
1.2 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một khâu của tài chính trong nền kinh tế, là một phạm trù khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hóa tài chính tiền tệ
Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh thì bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải có một lượng tiền tệ nhất định, đó là tiền đề cần thiết Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Trong quá trình đó, đã phát sinh các luồng tiền tệ gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạt động đầu tư cũng như mọi hoạt động khác của doanh nghiệp Các luồng tiền bao gồm các luồng tiền
tệ đi vào và các luồng tiền tệ đi ra khỏi doanh nghiệp, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính trong doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống những mối quan hệ kinh tế diễn ra dưới hình thức giá trị giữa doanh nghiệp và môi trường xung quanh, nó phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp
Hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những hoạt động cơ bản nhất đối với mỗi doanh nghiệp Hoạt động tài chính doanh nghiệp nếu được duy trì và phát triển một cách ổn định thì sẽ tạo tiền đề và nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động khác của doanh nghiệp vận động và phát triển Hoạt động tài chính doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu như huy động, khai thác vốn, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn cũng như phân bổ và sử dụng các nguồn vốn một cách hợp lý và hiệu quả
Trang 231.2.2 Các mối quan hệ trong tài chính doanh nghiệp
Gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các vốn tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị tức là các quan
hệ tài chính trong doanh nghiệp Trong các doanh nghiệp, có những quan hệ tài chính như sau:
1.2.2.1 Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước
Đây là mối quan hệ phát sinh đầu tiên đối với mỗi doanh nghiệp Doanh nghiệp muốn xuất hiện trên thị trường thì trước tiên doanh nghiệp phải có được giấy phép hoạt động do Nhà nước cấp và doanh nghiệp muốn tồn tại thì mọi hoạt động của doanh nghiệp phải diễn ra trên khuôn khổ của hiến pháp, pháp luật do Nhà nước quy định Doanh nghiệp vừa nhận được các lợi ích từ Nhà nước vừa phải chịu các nghĩa vụ đối với Nhà nước Doanh nghiệp có thể nhận được những khoản trợ cấp của Nhà nước, sự hỗ trợ về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, nguồn vốn thông qua các khoản cho vay ưu đãi và doanh nghiệp cũng có thể nhận được sự bảo trợ của Nhà nước trên thị trường trong nước và quốc tế… Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước mà biểu hiện cụ thể nhất là các khoản thuế phải nộp Nhà nước Doanh nghiệp cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trên thị trường Bên cạnh
đó, Nhà nước cũng phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo hướng ngày càng hỗ trợ và khuyến khích cho các doanh nghiệp phát triển cũng như bảo hộ cho quyền lợi cho các doanh nghiệp khi gia nhập thị trường quốc tế Trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện nay thì Nhà nước cũng có một vai trò vô cùng quan trọng là phát hiện ra và có những điều chỉnh kịp thời các văn bản pháp luật cho phù hợp với tình hình và nhu cầu mới của thị trường và doanh nghiệp để tạo ra một môi trường ngày càng thông thoáng để doanh nghiệp có thể gia nhập thị trường cũng như tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả nhất
Trang 241.2.2.2 Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn diễn ra trên thị trường thông qua việc trao đổi, mua bán các loại sản phẩm Trong quá trình này doanh nghiệp luôn tiếp xúc với các loại thị trường để thoả mãn các nhu cầu của mình bao gồm thị trường tài chính, thị trường hàng hoá, thị trường lao động…
Mối quan hệ với thị trường tài chính
Thị trường tài chính đóng một vai trò quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp
Vì vốn là điều kiện tiên quyết đối với mỗi doanh nghiệp khi xuất hiện trên thị trường, nó quyết định đến quá trình thành lập, quy mô và tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp Và thị trường tài chính là một kênh cung cấp tài chính cho nhu cầu của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp có thể tạo được nguồn vốn thích hợp bằng cách phát hành các giấy tờ có giá trị như chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu… Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng có thể tiến hành kinh doanh các mặt hàng này trên thị trường tài chính để thu lợi nhuận, góp phần giải quyết một phần nhu cầu về vốn của doanh nghiệp Đồng thời thông qua các hệ thống tài chính - ngân hàng, doanh nghiệp có thể huy động được vốn, đầu tư vào thị trường tài chính hay thực hiện các quan hệ vay trả, tiền gửi, thanh toán…
Mối quan hệ với thị trường hàng hoá
Thị trường hàng hoá là một thị trường vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh Đây chính là nơi diễn ra hoạt động trao đổi các sản phẩm giữa các doanh nghiệp và kết quả của quá trình này có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên thị trường Thông qua thị trường này doanh nghiệp có thể tiêu thụ được các sản phẩm mà mình sản xuất ra cũng như mua các sản phẩm của các doanh nghiệp khác mà mình có nhu cầu Quá trình này giúp cho thị trường hàng hóa vô cùng đa dạng và luôn luôn phát triển
Mối quan hệ với thị trường lao động
Các sản phẩm được tạo ra trên thị trường chính là kết tinh của sức lao động Chính vì vậy mà thị trường lao động có mối quan hệ rất mật thiết với các doanh
Trang 25nghiệp Doanh nghiệp là nơi thu hút và giải quyết công ăn việc làm cho một số không nhỏ người lao động Ngược lại, thị trường lao động lại là nơi cung cấp cho doanh nghiệp những doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp, là cầu nối giữa người lao động và doanh nghiệp
Mối quan hệ với các thị trường khác
Bên cạnh các thị trường trên thì doanh nghiệp cũng có mối quan hệ với rất nhiều thị trường khác như thị trường khoa học công nghệ, thị trường tư liệu sản xuất, thị trường bất động sản, thị trường thông tin… Đối với các thị trường này, doanh nghiệp vừa đóng vai trò là nhà cung ứng các dịch vụ đầu vào vừa đóng vai trò là khách hàng tiêu thụ các sản phẩm đầu ra
Duy trì và phát triển được các mối quan hệ với các thị trường này sẽ giúp cho doanh nghiệp chủ động hơn trong mọi hoạt động của mình trên thị trường
1.2.2.3 Các mối quan hệ phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp
Trong nội bộ doanh nghiệp cũng phát sinh rất nhiều mối quan hệ như mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất - kinh doanh trong doanh nghiệp, quan hệ giữa các phòng ban, quan hệ giữa người lao động với người lao động trong quá trình làm việc, quan hệ giữa doanh nghiệp với người lao động, quan hệ giữa doanh nghiệp với người quản lý doanh nghiệp, quan hệ giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn…
Các mối quan hệ này đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp và doanh nghiệp có thể kiểm soát được Nếu doanh nghiệp giải quyết tốt các mối quan hệ này thì sẽ tạo được động lực rất lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, khi đó hoạt động của doanh nghiệp sẽ diễn ra trôi chảy, các thành viên đều
có trách nhiệm đối với hoạt động của doanh nghiệp và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả hơn Chính vì vậy, các nhà quản lý cần phải nắm vững tầm quan trọng của các mối quan hệ này để có thể có những biện pháp hữu hiệu và phù hợp với tình hình của doanh nghiệp mình để có thể duy trì và củng cố được các mối quan hệ này và tạo ra một môi trường làm việc tích cực cho mọi thành viên
Trang 26trong doanh nghiệp, tạo cơ hội và khuyến khích sự đóng góp của mọi thành viên trong quá trình phát triển doanh nghiệp
Từ những vấn đề trên có thể rút ra một số vấn đề sau:
• Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các
quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Các hoạt động
có liên quan đến việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc các hoạt động tài chính của doanh nghiệp
• Các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với việc tạo lập , phân phối và sử
dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp hợp thành các mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp Tổ chức tốt các mối quan hệ tài chính trên cũng nhằm đạt tới các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp
1.2.3 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
1.2.3.1 Chức năng phân phối
Đối với mỗi doanh nghiệp thì vấn đề tài chính là vô cùng quan trọng Để quá trình sản xuất kinh doanh có thể diễn ra thì vốn của doanh nghiệp phải được phân phối cho các mục đích khác nhau và các mục đích này đều hướng tới một mục tiêu chung của doanh nghiệp Quá trình phân phối vốn cho các mục đích đó được thể hiện theo các tiêu chuẩn và định mức được xây dựng dựa trên các mối quan hệ kinh
tế của doanh nghiệp với môi trường kinh doanh Tiêu chuẩn và định mức phân phối
đó không phải cố định trong suốt quá trình phát triển của doanh nghiệp mà nó thường xuyên được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình từng giai đoạn hoạt động của doanh nghiệp
1.2.3.2 Chức năng giám đốc bằng tiền
Bên cạnh chức năng phân phối thì tài chính doanh nghiệp cũng có chức năng giám đốc bằng tiền Chức năng này không thể tách khỏi chức năng phân phối, nó giúp cho chức năng phân phối diễn ra có hiệu quả nhất Kết quả của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được thể hiện thông qua các chỉ tiêu tài chính như thu, chi, lãi, lỗ… Các chỉ tiêu tài chính này tự thân nó đó phản ánh được
Trang 27tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tình hình thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của doanh nghiệp và cũng giúp các nhà quản lý đánh giá được mức
độ hợp lý và hiệu quả của quá trình phân phối, để từ đó có thể tìm ra được phương hướng và biện pháp điều chỉnh để đạt được hiệu quả cao hơn trong kỳ kinh doanh tiếp theo
1.2.3.3 Mối quan hệ giữa hai chức năng của tài chính doanh nghiệp
Chức năng phân phối và chức năng giám đốc bằng tiền của tài chính doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau Chức năng phân phối là tiền đề của hoạt động sản xuất kinh doanh, nó xảy ra trước và sau một chu trình sản xuất kinh doanh Chức năng giám đốc bằng tiền luôn theo sát chức năng phân phối, ở đâu có
sự phân phối thì ở đó có giám đốc bằng tiền và có tác dụng điều chỉnh quá trình phân phối cho phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hai chức năng này cùng tồn tại và hỗ trợ cho nhau để hoạt động tài chính doanh nghiệp diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quả cao nhất
1.3 Quản lý tài chính trong doanh nghiệp
1.3.1 Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp
Quản lý tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp, đó là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Quản lý tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với quản trị doanh nghiệp và giữ
vị trí quan trọng hàng đầu trong quản trị doanh nghiệp Hầu hết các quyết định quản
lý khác đều được dựa trên kết quả rút ra từ những đánh giá tài chính trong quản trị tài chính doanh nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp có nhiều vấn đề tài chính nảy sinh, đòi hỏi các nhà quản lý phải nhạy bén và năng động để đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn và tổ chức thực hiện các quyết định ấy
Trang 28một cách kịp thời và khoa học, có như vậy doanh nghiệp mới đứng vững và phát triển Để tồn tại và phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được đặt trên cơ sở công tác hoạch định cả về mặt chiến lược và chiến thuật Về mặt chiến lược phải xác định từ mục tiêu kinh doanh, các hoạt động dài hạn và các chính sách tài chính của doanh nghiệp Về mặt chiến thuật phải xác định những công việc trong thời hạn ngắn, cụ thể để phục vụ cho kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp Các quyết định về mặt chiến lược và chiến thuật của doanh nghiệp được lựa chọn chủ yếu trên cơ sở của sự phân tích, cân nhắc về mặt tài chính
Như vậy có thể thấy rằng quản lý tài chính doanh nghiệp là một quá trình, từ việc phân tích tình hình của doanh nghiệp cũng như môi trường hoạt động của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định tài chính hợp lý, phù hợp với tình hình của doanh nghiệp, đến đảm bảo các quyết định tài chính được thực hiện và phù hợp với mục tiêu của hoạt động tài chính doanh nghiệp cũng như mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp Hiểu theo một cách đơn giản thì quản lý tài chính là việc các nhà quản lý làm cách nào để huy động vốn nhanh và ổn định nhất, phân bổ và sử dụng nguồn vốn ấy có hiệu quả nhất, đưa lại lợi nhuận cao và ổn định cho doanh nghiệp và đảm bảo cho hoạt động tài chính và hoạt động của doanh nghiệp phát
triển ổn định
1.3.2 Mục tiêu quản lý tài chính doanh nghiệp
Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: tối
đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu trong ràng buộc tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp v.v , song tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hoá giá trị tài sản cho các chủ sở hữu Bởi lẽ, một doanh nghiệp phải thuộc về các chủ sở hữu nhất định; chính
họ phải nhận thấy giá trị đầu tư của họ tăng lên; khi doanh nghiệp đặt ra mục tiêu là tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu, doanh nghiệp đã tính tới sự biến động của thị trường, các rủi ro trong hoạt động kinh doanh Quản lý tài chính doanh nghiệp chính là nhằm thực hiện được mục tiêu đó
Trang 29Các quyết định tài chính trong doanh nghiệp: Quyết định đầu tư, quyết định huy động vốn, quyết định về phân phối, ngân quỹ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Trong quản lý tài chính, nhà quản lý phải cân nhắc các yếu tố bên trong và các yếu
tố bên ngoài để đưa ra các quyết định làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu, phù hợp với lợi ích của chủ sở hữu
1.3.3 Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp
Quản lý tài chính luôn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp, nó quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh Đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, quản lý tài chính trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Bất kỳ ai liên kết, hợp tác với doanh nghiệp cũng sẽ được hưởng lợi nếu như quản lý tài chính của doanh nghiệp có hiệu quả, ngược lại, họ sẽ bị thua thiệt khi quản lý tài chính kém hiệu quả
Quản lý tài chính là sự tác động của nhà quản lý tới các hoạt động tài chính của doanh nghiệp Nó được thực hiện thông qua một cơ chế Đó là cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được hiểu là một tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định
Quản lý tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với mọi hoạt động khác của doanh nghiệp Quản lý tài chính tốt có thể khắc phục được những khiếm khuyết trong trong các lĩnh vực khác Một quyết định tài chính không được cân nhắc, hoạch định kỹ lưỡng có thể gây nên tổn thất khôn lường cho doanh nghiệp và cho nền kinh tế Hơn nữa, do doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường nhất định nên các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Bởi vậy, quản lý tài chính doanh nghiệp tốt có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính quốc gia
Trang 30Quản trị tài chính doanh nghiệp có vai trò to lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, tài chính doanh nghiệp giữ những vai trò chủ yếu sau :
Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các
nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp cũng như cho đầu tư phát triển Vai trò của tài chính doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ và tiếp đó phải lựa chọn các phương pháp và hình thức thích hợp huy động nguồn vốn từ bên trong và bên ngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã nãy sinh nhiều hình thức mới cho phép các doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài Do vậy, vai trò của tài chính ngày càng quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động nhịp nhàng và liên tục với chi phí huy động vốn ở mức thấp
Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả Hiệu quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án từ đó góp phần chọn ra dự án đầu tư tối ưu Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp có thể chớp được các cơ hội kinh doanh Mặt khác, việc huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể giảm bớt và tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt được nhu cầu vay vốn, từ đó giảm được các khoản tiền trả lãi vay Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp, cùng với sử dụng các hình thức thưởng , phạt vật chất hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy cán bộ công nhân viện gắn liền với doanh nghiệp từ đó nâng cao năng suất lao động, góp phần cải tiến sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vốn
Trang 31Giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp Thông qua các hình thức, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính và
thực hiện các chi tiêu tài chính, người lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá khái quát và kiểm sát các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời những tồn tại vướng mắc trong kinh doanh từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh
1.3.4 Nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp dù nhỏ hay lớn căn bản là giống nhau nên nguyên tắc quản lý tài chính đều có thể áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên, giữa các doanh nghiệp khác nhau cũng có sự khác biệt nhất định nên khi áp dụng nguyên tắc quản lý tài chính phải gắn với những điều kiện cụ thể
Nguyên tắc đánh đổi rủi ro và lợi nhuận Quản lý tài chính phải được dựa
trên quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận Nhà đầu tư có thể lựa chọn những đầu tư khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro mà họ chấp nhận và lợi nhuận kỳ vọng mà họ mong muốn Khi họ bỏ tiền vào những dự án có mức độ rủi ro cao, họ hy vọng dự
án đem lại lợi nhuận kỳ vọng cao
Nguyên tắc giá trị thời gian của tiền Để đo lường giá tri tài sản của chủ
sở hữu, cần sử dụng khái niệm giá tri thời gian của tiền, tức là phải đưa lợi ích và chi phí của dự án về một thời điểm, thường là thời điểm hiện tại Theo quan điểm của nhà đầu tư, dự án được chấp nhận khi lợi ích lớn hơn chi phí Trong trường hợp này, chi phí cơ hội của vốn được đề cập như là tỷ lệ chiết khấu
Nguyên tắc chi trả Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần bảo
đảm mức ngân quỹ tối thiểu để thực hiện chi trả Do vậy, điều đáng quan tâm ở các doanh nghiệp là các dòng tiền chứ không phải lợi nhuận kế toán Dòng tiền ra và dòng tiền vào được tái đầu tư phản ánh tính chất thời gian của lợi nhuận và chi phí Không những thế, khi đưa ra các quyết định kinh doanh, nhà doanh nghiệp cần tính đến dòng tiền tăng thêm, đặc biệt cần tính đến các dòng tiền sau thuế
Nguyên tắc sinh lợi Nguyên tắc quan trọng đối với nhà quản lý tài chính
không chỉ là đánh giá các dòng tiền mà dự án đem lại mà còn là tạo ra các dòng
Trang 32tiền, tức là tìm kiếm các dự án sinh lợi Trong thi trường cạnh tranh, nhà đầu tư khó
có thể kiếm được nhiều lợi nhuận trong một thời gian dài, khó có thể tìm kiếm được nhiều dự án tốt Muốn vậy, cần phải biết các dự án sinh lợi tồn tại như thế nào và ở đâu trong môi trường cạnh tranh Tiếp đến, khi đầu tư, nhà đầu tư phải biết làm giảm tính cạnh tranh của thị trường thông qua việc tạo ra những sản phẩm khác biệt với sản phẩm cạnh tranh và bằng cách đảm bảo mức chi phí thấp hơn mức chi phí cạnh tranh
Nguyên tắc thị trường có hiệu quả Trong kinh doanh, những quyết định
nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của các chủ sở hữu làm thị giá cổ phiếu tăng Như vậy, khi đưa ra các quyết định tài chính hoặc định giá chứng khoán, cần hiểu rõ khái niệm thị trường có hiệu quả Thị trường có hiệu quả là thị trường mà ở đó giá trị của các tài sản tại bất kỳ một thời điểm nào đều phản ánh đầy đủ các thông tin một cách công khai Trong thị trường có hiệu quả, giá cả được xác định chính xác Thị giá cổ phiếu phản ánh tất cả những thông tin sẵn có và công khai về giá trị của một doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là mục tiêu tối đa hoá giá trị tài sản của các cổ đông có thể đạt được trong những điều kiện nhất định bằng cách nghiên cứu tác động của các quyết định tới thị giá cổ phiếu
Gắn kết lợi ích của người quản lý với lợi ích của cổ đông Nhà quản lý tài
chính chịu trách nhiệm phân tích, kế hoạch hóa tài chính, quản lý ngân quỹ, chi tiêu cho đầu tư và kiểm soát Do đó, nhà quản lý tài chính thường giữ địa vị cao trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp và thẩm quyền tài chính ít khi được phân quyền hoặc
uỷ quyền cho cấp dưới
Tác động của thuế Trước khi đưa ra bất kỳ một quyết định tài chính nào,
nhà quản lý tài chính luôn tính tới tác động của thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp Khi xem xét một quyết định đầu tư, doanh nghiệp phải tính tới lợi ích thu được trên cơ sở dòng tiền sau thuế do dự án tạo ra Hơn nữa, tác động của thuế cần được phân tích kỹ lưỡng khi thiết lập cơ cấu vốn của doanh nghiệp Bởi lẽ, khoản nợ có một lợi thế nhất định về chi phí so với vốn chủ sở hữu Đối với doanh nghiệp, chi phí trả lãi là chi phí giảm thuế Vì thuế là một công cụ quản lý vĩ mô của
Trang 33Chính phủ nên thông qua thuế, Chính phủ có thể khuyến khích hoặc hạn chế tiêu dùng và đầu tư Các doanh nghiệp cần cân nhắc, tính toán để điều chỉnh các quyết định tài chính cho phù hợp, đảm bảo được lợi ích của các cổ đông
1.3.5 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quản lý tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính ở những doanh nghiệp khác nhau đều có những điểm khác nhau Sự khác nhau đó ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như: Sự khác biệt về hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.5.1 Hình thức pháp lý và đặc điểm ngành nghề kinh doanh
Những đặc điểm riêng về hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp giữa các doanh nghiệp trên có ảnh hưởng đến quản trị tài chính doanh nghiệp như việc tổ chức, huy động vốn, sản xuất kinh doanh, việc phân phối lợi nhuận
Đặc điểm kinh tế và kỹ thuật của ngành kinh doanh có ảnh hưởng không nhỏ tới quản trị tài chính doanh nghiệp Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm về mặt kinh tế và kỹ thuật khác nhau Những ảnh hưởng đó thể hiện:
Ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh Ảnh hưởng này thể hiện
trong thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới quy
mô của vốn sản xuất kinh doanh, cũng như tỷ lệ thích ứng để hình thành và sử dụng chúng, do đó ảnh hưởng tới tốc độ luân chuyển vốn (vốn cố định và vốn lưu động) ảnh hưởng tới phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán chi trả
Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh Tính thời vụ
và chu kỳ sản xuất có ảnh hưởng trước hết đến nhu cầu vốn sử dụng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm Những doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ ngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không có biến động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, điều đó giúp cho doanh nghiệp dễ dàng đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền; cũng như trong việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản
Trang 34phẩm có chu kỳ sản xuất dài, phải ứng ra một lượng vốn lưu động tương đối lớn, doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất có tính chất thời vụ, thì nhu cầu vốn lưu động giữa các quý trong năm thường có sự biến động lớn, tiền thu về bán hàng cũng không được đều, tình hình thanh toán, chi trả, cũng thường gặp những khó khăn Cho nên việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cũng như đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền của doanh nghiệp cũng khó khăn hơn
1.3.5.2 Môi trường kinh doanh
Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trường kinh doanh nhất định Môi trường kinh doanh bao gồm tất những điều kiện bên ngoài ảnh hưởng mọi hoạt động của doanh nghiệp Môi trường kinh doanh có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt động của doanh nghiệp trong đó có hoạt động tài chính Dưới đây chủ yếu xem xét tác động của môi trường kinh doanh đến các hoạt động quản trị tài chính doanh nghiệp
Sự ổn định của nền kinh tế Sự ổn định hay không ổn định của nền kinh
tế, của thị trường có ảnh hưởng trực tiếp tới mức doanh thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu về vốn của doanh nghiệp Những biến động của nền kinh tế
có thể gây nên những rủi ro trong kinh doanh mà các nhà quản trị tài chính phải lường trước, những rủi ro đó có ảnh hưởng tới các khoản chi phí về đầu tư, chi phí trả lãi hay tiền thuê nhà xưởng, máy móc thiết bị hay nguồn tài trợ cho việc mở rộng sản xuất hay việc tăng tài sản
Ảnh hưởng về giá cả thị trường, lãi suất và tiền thuế Giá cả thị trường,
giá cả sản phẩm mà doanh nghiệp tiêu thụ có ảnh hưởng lớn tới doanh thu, do đó cũng có ảnh hưởng lớn tới khả năng tìm kiếm lợi nhuận Cơ cấu tài chính của doanh nghiệp cũng được phản ảnh nếu có sự thay đổi về giá cả Sự tăng, giảm lãi suất và giá cổ phiếu cũng ảnh hưởng tới sự chi phí tài chính và sự hấp dẫn của các hình thức tài trợ khác nhau Mức lãi suất cũng là một yếu tố đo lường khả năng huy đông vốn vay Sự tăng hay giảm thuế cũng ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình kinh doanh, tới khả năng tiếp tục đầu tư hay rút khỏi đầu tư Tất cả các yếu tố trên có thể được các nhà quản trị tài chính sử dụng để phân tích các hình thức tài trợ và xác định thời
Trang 35gian tìm kiếm các nguồn vốn trên thị trường tài chính
Sự cạnh tranh trên thị trường và sự tiến bộ kỹ thuật, công nghệ Sự cạnh
tranh sản phẩm đang sản suất và các sản phẩm tương lai giữa các doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến kinh tế, tài chính của doanh nghiệp và có liên quan chặt chẽ đến khả năng tài trợ để doanh nghiệp tồn tại và tăng trưởng trong một nền kinh tế luôn luôn biến đổi và người giám đốc tài chính phải chịu trách nhiệm về việc cho doanh nghiệp hoạt động khi cần thiết Cũng tương tự như vậy, sự tiến bộ kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp phải ra sức cải tiến kỹ thuật, quản lý, xem xét và đánh giá lại toàn bộ tình hình tài chính, khả năng thích ứng với thị trường, từ đó đề ra những chính sách thích hợp cho doanh nghiệp
Chính sách kinh tế và tài chính của nhà nước đối với doanh nghiệp Các
chính sách về thuế, về kế toán, thống kê… ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động tài chính doanh nghiệp Với tư cách là đối tượng chịu sự quản
lý của nhà nước, trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động tài chính nói riêng, các doanh nghiệp đều phải có nghĩa vụ tuân thủ chính sách, pháp luật Các chính sách này được các nhà phân tích tài chính vận dụng trong quá trình phân tích để đảm bảo tính phù hợp, tính sát thực của công tác phân tích với pháp luật của nhà nước Ngoài ra, các chính sách đó còn có tính định hướng và là động lực cho công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.6 Nội dung của quản lý tài chính doanh nghiệp
Nội dung của quản lý tài chính chính là việc thực hiện các chức năng của quản lý tài chính, được thể hiện ở việc đảm bảo đủ nguồn tài chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo khả năng thanh toán, khả năng huy động và sử dụng vốn tiết kiệm, hiệu quả
1.3.6.1 Hoạch định tài chính
Hoạch định tài chính là khâu đầu tiên và có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu khác trong quá trình quản lý tài chính Khâu này sẽ là cơ sở cho việc lựa chọn các phương án hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong tương lai và cũng
Trang 36đồng thời là căn cứ để tiến hành kiểm tra, kiểm soát các bộ phận trong tổ chức Quy trình hoạch định tài chính của doanh nghiệp được thực hiện theo 5 bước như sau:
Bước 1: Nghiên cứu và dự báo môi trường
Để xây dựng kế hoạch tài chính, doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu các nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của hoạt động tài chính của doanh nghiệp Các nhà quản lý phải nghiên cứu môi trường bên ngoài để có thể xác định được các cơ hội, thách thức hiện có và tiềm ẩn ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp; nghiên cứu môi trường bên trong tổ chức để thấy được những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp để có thể có những giải pháp hữu hiệu khắc phục những điểm yếu và phát huy cao độ những điểm mạnh
Bước 2: Thiết lập các mục tiêu
Mục tiêu tài chính của doanh nghiệp bao gồm các mục tiêu về lợi nhuận, mục tiêu doanh số và mục tiêu hiệu quả Các mục tiêu tài chính cần xác định một cách rõ ràng, có thể đo lường được và phải mang tính khả thi Do đó các mục tiêu này phải được đặt ra dựa trên cơ sở là tình hình của doanh nghiệp hay nói cách khác
là dựa trên kết quả của quá trình nghiên cứu và dự báo môi trường Đồng thời, cùng với việc đặt ra các mục tiêu thì nhà quản lý cần phải xác định rõ ràng về trách nhiệm, quyền hạn của từng bộ phận trong doanh nghiệp trong việc thực hiện các mục tiêu này
Bước 3: Xây dựng các phương án thực hiện mục tiêu
Căn cứ vào các mục tiêu đó đề ra, dựa trên cơ sở tình hình hoạt động của doanh nghiệp, các nhà quản lý xây dựng các phương án để thực hiện các mục tiêu này Các phương án phải được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và chỉ những phương án triển vọng nhất mới được đưa ra phân tích
Bước 4: Đánh giá các phương án
Các nhà quản lý tiến hành phân tích, tính toán các chỉ tiêu tài chính của từng phương án để có thể so sánh, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của từng phương án cũng như khả năng hiện thực hoá như thế nào, tiềm năng phát triển đến đâu…
Bước 5: Lựa chọn phương án tối ưu
Trang 37Sau khi đánh giá các phương án, phương án tối ưu sẽ được lựa chọn Phương
án này sẽ được phổ biến tới những cá nhân, bộ phận có thẩm quyền và tiến hành phân bổ nguồn nhân lực và tài lực cho việc thực hiện kế hoạch
1.3.6.2 Kiểm tra tài chính
Kiểm tra là hoạt động theo dõi và giám sát một hoạt động nào đó dựa trên căn cứ là các mục tiêu chiến lược đó đề ra và trên cơ sở đó phát hiện ra những sai sót và có những sửa chữa kịp thời Do đó, kiểm tra là một hoạt động có ý nghĩa vụ cùng quan trọng và không thể thiếu trong mọi lĩnh vực hoạt động của mọi tổ chức Tài chính là một vấn đề phức tạp có ý nghĩa quan trọng quyết định đến mọi hoạt động của tổ chức nên hoạt động kiểm tra tài chính lại càng trở nên quan trọng và cần được tổ chức đóng quy trình và nghiêm túc Kiểm tra tài chính giúp cho cơ quan quản lý theo dõi thực hiện các quyết định tài chính được ban hành và giúp ngăn chặn, sửa chữa kịp thời những sai sót trong việc thực hiện quyết định của cấp trên Nội dung của kiểm tra tài chính gồm 3 giai đoạn:
- Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính
- Kiểm tra thường xuyên quá trình thực hiện kế hoạch đó được phê duyệt
- Kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính
1.3.6.3 Quản lý vốn luân chuyển
Quản lý vốn luân chuyển bao gồm 3 nội dung quan trọng là: Quản lý vốn cố định, Quản lý vốn lưu động và Quản lý vốn đầu tư tài chính
a Quản lý vốn cố định
Vốn cố định là tổng lượng tiền khi tiến hành định giá tài sản cố định Tài sản
cố định là những tư liệu lao động có giá trị sử dụng trong thời gian dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, hình thái vật chất không thay đổi từ khi đưa vào sản xuất cho đến khi thanh lý Để quản lý vốn cố định một cách có hiệu quả, tổ chức cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Doanh nghiệp phải tiến hành đánh giá và đánh giá lại tài sản cố định theo chu kỳ và phải đảm bảo chính xác
Trang 38- Dựa vào đặc điểm của tài sản cố định và căn cứ theo khung quy định về tài sản của Bộ Tài chính để lựa chọn phương án tính khấu hao phù hợp, đảm bảo thu hồi vốn nhanh, khấu hao vào giá cả sản phẩm hợp lý
- Thường xuyên đổi mới, nâng cấp để không ngừng nâng cao hiệu suất sản xuất của tài sản cố định
- Sau mỗi kỳ hoạt động, doanh nghiệp sử dụng các tiêu chí để tính toán, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định Từ đó tìm ra các nguyên nhân để tìm biện pháp khắc phục những hạn chế và tiếp tục tăng cường những điểm mạnh của tài sản
- Khai thác hợp lý các nguồn tài trợ vốn lưu đông
- Thường xuyên phân tích, đánh giá tình hình và hiệu quả sử dụng vốn lưu động, tìm hiểu và phát hiện xem vốn lưu động bị ứ đọng ở mặt nào, khâu nào để kịp tìm kiếm những biện pháp xử lý hữu hiệu
Trong công tác quản lý vốn lưu động cần quán triệt các nguyên tắc sau:
- Bảo đảm thoả mãn nhu cầu vốn cho sản xuất đồng thời bảo đảm sử dụng vốn có hiệu quả Trong công tác quản lý vốn lưu động thường xuất hiện những mâu thuẫn giữa khả năng vốn lưu động thì có hạn mà phải đảm bảo cho nhu cầu sản xuất kinh doanh rất lớn Giải quyết mâu thuẫn này, doanh nghiệp phải cải tiến quản lý, tăng cường hạch toán kinh doanh, đề ra những biện pháp thích hợp để hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao
- Sử dụng vốn lưu động phải kết hợp với sự vận động của vật tư, hàng hoá Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của vật tư hàng hóa Luân chuyển vốn lưu động
và vận động của vật tư kết hợp chặt chẽ với nhau Cho nên quản lý tốt vốn lưu động phải đảm bảo sử dụng vốn trong sự kết hợp với sự vận động của vật tư, nghĩa là tiền
Trang 39chi ra phải có một lượng vật tư nhập vào theo một tỷ lệ cân đối, hoặc số lượng sản phẩm được tiêu thụ phải đi kèm số tiền thu được về nhằm bù đắp lại phần vốn đó chi ra
- Tự cấp phát vốn và bảo toàn vốn: Doanh nghiệp tự mình tính toán nhu cầu vốn để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và tổ chức thực hiện bằng các nguồn vốn được huy động Nguyên tắc này đề cao tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất trong khuôn khổ các nhiệm vụ đề ra của mục tiêu kế hoạch Doanh nghiệp phải tổ chức những nguồn vốn mình cần đến trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó những kết quả hoạt động của bản thân doanh nghiệp là tiền đề để tiến hành sản xuất mở rộng theo kế hoạch Chính vì thế khả năng phát triển trong tương lai của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào hoạt động trong năm nay kết quả như thế nào Tuy nhiên không thể xuất phát một chiều hoàn toàn từ những khả năng tài chính hiện có để kế hoạch hoá mở rộng sản xuất
c Quản lý vốn đầu tư tài chính
Các doanh nghiệp có thể đầu tư vào các tài sản tài chính như mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc tham gia vào góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác để góp phần đảm bảo cho nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp cũng như tăng thu nhập cho doanh nghiệp Trong xu thế phát triển của nền kinh tế hiện đại thì đầu tư tài chính ngày càng phát triển và mang lại lợi ích ngày càng lớn cho các doanh nghiệp Chính vì thế hoạt động quản lý vốn đầu tư tài chính ngày càng có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp
1.3.6.4 Phân tích tài chính
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công
cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp
Trang 40Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phá sản tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh giá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính - một trong các hướng dự đoán doanh nghiệp Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau : với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ), với mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích( trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp )
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp hay cụ thể hoá là việc phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu, so sánh các số liệu, tài liệu về tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mục đích đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Báo cáo tài chính rất hữu ích đối việc quản trị doanh nghiệp, đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với những người bên ngoài doanh nghiệp Do
đó, phân tích báo cáo tài chính là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các nhà cho vay tín dụng, các cơ quan chính phủ, người lao động Mỗi nhóm người này có những nhu cầu thông tin khác nhau
Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do vậy
sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như : chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng kể cả các cơ quan Nhà nước