1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Môi trường đang bị hủy hoại, bị ô nhiễm nghiêm trọng, gây lên sự mất cân bằng sinh thái sự cạn kiệt tài nguyên, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sự phát triển bền vững của mỗi một đất nước vì vậy vấn đề bảo vệ môi trường đang là vấn đề nóng bỏng trên phạm vi toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng trên là do sự thiếu ý thức, thiếu hiểu biết của con người vì vậy giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) là một vấn đề cấp bách có tính toàn cầu và là vấn đề có tính khoa học, tính xã hội sâu sắc. Vấn đề đặt ra ở đây: là đối với từng đối tượng cụ thể cần giáo dục cái gì? Giáo dục như thế nào? Và nhằm đạt tới mục tiêu nào? Việc giáo dục cho cộng đồng trong đó có học sinh phổ thông những chủ nhân tương lai của đất nước có ý thức BVMT là một nhiệm vụ hết sức cần thiết đối với mỗi một quốc gia. Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 của nước ta đã đưa việc BVMT thành nghĩa vụ đối với mọi công dân. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX cũng đã chỉ rõ sự cần thiết phải “kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững, tiến tới đảm bảo cho mọi người dân đều được sống trong môi trường có chất lượng tốt" [21]. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 phê duyệt Đề án: “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”. Ngày 31 tháng 1 năm 2005, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Chỉ thị về tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường, xác định giáo dục nhiệm vụ trọng tâm đối với giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng về môi trường, bảo vệ môi trường bằng hình thức tích hợp, hợp lý trong các môn học thông qua các hoạt động ngoại khóa và Phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Trong những năm qua, giáo dục BVMT đã bước đầu được thử nghiệm tại một số trường ở tất cả các bậc học: Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT, Cao đẳng, Đại học và Sau đại học. Tuy nhiên hoạt động giáo dục BVMT mới chỉ là những giải pháp tình thế, chưa có hệ thống, chưa được tổ chức quản lý một cách bài bản và chưa trở thành nhiệm vụ bắt buộc trong tất cả các bậc học. Do đó, chất lượng và hiệu quả của giáo dục BVMT còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Thái Bình là một tỉnh sớm quan tâm đến việc đưa giáo dục BVMT vào các nhà trường . Dù chưa phải là môn học chính thức, nhưng với sự liên hệ, tích hợp vào các môn học hoặc thông qua các chương trình ngoại khóa, GDBVMT đã trở nên quen thuộc với các nhà trường phổ thông. GDBVMT đã góp phần nâng cao nhận thức, tạo sự chuyển biến cơ bản cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về BVMT. Phong trào xây dựng nhà trường xanh - sạch - đẹp, trường học thân thiện phát triển mạnh trên toàn tỉnh. Xác định được tầm quan trọng của vấn đề giáo dục BVMT Chỉ thị số 21/CT-TU ngày 02/6/2005 của Tỉnh ủy Thái Bình đã nêu rõ sự cần thiết phải "Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường trong các tầng lớp nhân dân, đa dạng các hình thức tuyên truyền, giáo dục, tích cực phổ biến rộng rãi chủ trương chính sách, pháp luật..." đối với ngành giáo dục mỗi năm tỉnh đều cấp cho ngân sách để tuyên truyền giáo dục BVMT cho học sinh. Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra, công tác GDBVMT trong các trường phổ thông của cả nước nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng vẫn còn nhiều yếu tố cần hoàn thiện, nhất là yếu tố quản lý công tác giáo dục BVMT. Bản thân tôi nguyên là một giáo viên Địa lý, năm 2007 tôi đã được UBND tỉnh phê duyệt đề tài "Nghiên cứu biên soạn sách địa lý địa phương tỉnh Thái Bình, phục vụ giảng dạy và học tập trong các nhà trường phổ thông của tỉnh" trong đó vấn đề BVMT cũng là một trong những nội dung cơ bản của cuốn sách, đạt giải Nhì Hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật lần thứ 2 của tỉnh, được Tổng liên đoàn Lao động VN cấp Bằng lao động sáng tạo năm 2010. Năm 2011 tại QĐ số 1772/QĐ-UBND ngày 7/9/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình đã phê duyệt là giảng viên cấp tỉnh thực hiện Đề án "Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý thiên tai dựa vào cộng đồng". Trưởng ban quản lý tài nguyên và môi trường UNDP, ông GORDON JOHNSON đã nhận định “ Không thể đạt được điều gì trong GDMT nếu đơn giản chỉ mong chờ vào các hiệp ước ký kết hoặc sắc lệnh ban hành. Xa hơn thế, các mục tiêu sẽ đạt được thông qua cam kết của nhân dân Việt Nam. Nhà trường là nơi lý tưởng nhất để tạo ra nhận thức và hình thành cam kết. Có một thành ngữ tiếng Anh: Gieo một ý tưởng, sẽ gặt một lời nói Gieo một lời nói, sẽ gặt một hành động Gieo một hành động, sẽ gặt một thói quen Gieo một thói quen, sẽ gặt một vận mệnh” Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Tăng cường quản lý giáo dục BVMT trong các trường trung học phổ thông tỉnh Thái Bình” để nghiên cứu.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Lãnh đạo Học viện QLGD; lãnh đạo các phòng, khoa của Học viện QLGD và các Thầy, Cô giáo của Học viên Quản lý giáo dục đã tận tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong cả khóa học vừa qua Đó là khoảng thời gian vô cùng quý báu, bổ ích giúp cho tác giả nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ quản lý và phương pháp nghiên cứu khoa học, giúp tác giả tiếp tục rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của nhà giáo và của người làm công tác nghiên cứu khoa học
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Phước Minh, người hướng dẫn khoa học đã tận tình, quan tâm giúp đỡ đầy trách nhiệm với tôi trong suốt quá trình tôi nghiên cứu Luận văn
Tôi xin được trân trọng cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Thái Bình và các trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Thái Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi quan sát, thu thập số liệu để hoàn thành luận văn này
Mặc dù tôi đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu, nhưng do hạn chế
về thời gian, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự thông cảm, những ý kiến đóng góp quý báu của các quý Thầy,
Cô giáo và các bạn đồng nghiệp đối với nội dung và hình thức luận văn này
để công trình khoa học sau của bản thân tôi có chất lượng hơn
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Tống Thị Bích
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 4
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 5
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục bảo vệ môi trường 6
1.2 Các khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục bảo vệ môi trường 7
1.2.1 Môi trường 7
1.2.2 Giáo dục và giáo dục bảo vệ môi trường 11
1.2.2.1 Giáo dục 11
1.2.2.2 Giáo dục BVMT 12
1.2.3 Quản lý và biện pháp quản lý 13
1.2.3.1 Quản lý 13
1.2.3.2 Quản lý giáo dục 15
1.2.3.3 Biện pháp quản lý 15
Trang 41.3 Một số vấn đề lý luận về giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông
16
1.3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông 16
1.3.2 Định hướng về giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông 23
1.3.3 Mục tiêu giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông 24
1.3.3.1 Mục tiêu chung 24
1.3.3.2 Mục tiêu cụ thể 25
1.3.4 Các cách tiếp cận trong giáo dục BVMT 25
1.3.4.1 Giáo dục về môi trường (Kiến thức - Kỹ năng) 25
1.3.4.2 Giáo dục trong môi trường (Tiềm năng - Tham gia - Kinh nghiệm) 26
1.3.4.3 Giáo dục vì môi trường (Phán xét - Hành vi, thái độ - Giá trị) .26
1.3.5 Nội dung giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông 26
1.3.5.1 Chủ đề Môi trường sống của chúng ta 26
1.3.5.2 Chủ đề Quan hệ giữa con người và môi trường 27
1.3.5.3 Chủ đề Sự ô nhiễm và suy thoái môi trường 27
1.3.5.4 Chủ đề các biện pháp BVMT, phát triển bền vững 27
1.3.6 Phương pháp và các hình thức giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông 27
1.3.6.1 Hình thức giáo dục BVMT 27
1.3.6.2 Các phương pháp dạy học- giáo dục 28
1.3.7 Đánh giá kết quả giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông 31
1.3.7.1 Mục đích đánh giá 31
Trang 51.3.7.2 Hình thức đánh giá 31
1.3.7.3 Phương pháp đánh giá 31
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục BVMT ở trường THPT 32
1.4.1 Theo chức năng quản lý 32
1.4.1.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục BVMT ở trường THPT 33
1.4.1.2 Tổ chức các hoạt động giáo dục BVMT ở trường THPT 33
1.4.1.3 Chỉ đạo các hoạt động giáo dục BVMT ở trường THPT 33
1.4.1.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục BVMT ở trường THPT.33 1.4.2 Theo các yếu tố quản lý 34
1.4.2.1 Quản lý mục tiêu hoạt động giáo dục BVMT ở trường THPT .34
1.4.2.2 Quản lý nội dung hoạt động giáo dục BVMT ở trường THPT .34
1.4.2.3 Quản lý phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục BVMT ở trường THPT 34
1.4.2.4 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục BVMT ở trường THPT 34
Kết luận chương 1 35
Chương 2 THỰC TIỂN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH THÁI BÌNH 36
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và giáo dục của tỉnh Thái Bình 36
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 36
Trang 62.1.1.1 Vị trí địa lý 36
2.1.1.2 Đất đai, tài nguyên 36
2.1.1.3 Khí hậu 37
2.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 37
2.1.2.1 Dân số, lao động 37
2.1.2.2 Về hành chính 37
2.1.2.3 Về phát triển kinh tế 38
2.1.3 Truyền thống lịch sử, văn hóa 39
2.1.4 Tình hình phát triển giáo dục 40
2.2.2 Thực trạng giáo dục BVMT ở các trường THPT tỉnh Thái Bình 44
2.2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên và học sinh THPT về môi trường và giáo dục BVMT 44
2.2.2.2 Nhận thức của giáo viên THPT về môi trường và giáo dục BVMT 45
2.2.2.3 Nhận thức của học sinh THPT về môi trường và BVMT 46
2.2.3 Thực trạng tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào các môn học trong trường THPT tỉnh Thái Bình 47
2.2.3.1 Việc xác định thời lượng, khối lượng kiến thức giáo dục BVMT trong các môn học ở trường THPT 47
2.2.3.2 Mức độ, tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào các môn học ở các trường THPT tỉnh, Thái Bình 48
2.2.4 Thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục BVMT trong trường THPT tỉnh Thái Bình 49
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục BVMT ở các trường THPT tỉnh Thái Bình 50
2.3.1 Công tác xây dựng kế hoạch giáo dục BVMT 50
Trang 72.3.2 Công tác tổ chức, quản lý hoạt động giáo dục BVMT 51
2.3.3 Công tác chỉ đạo, giám sát hoạt động giáo dục BVMT 51
2.3.4 Công tác đánh giá kết quả hoạt động giáo dục BVMT 52
2.3.5 Việc sử dụng các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục BVMT ở các trường THPT tỉnh Thái Bình 52
2.4 Nguyên nhân của thực trạng 53
2.4.1 Nguyên nhân thành công 53
2.4.2 Nguyên nhân hạn chế, thiếu sót 53
Kết luận chương 2 54
Chương 3 TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 55
TỈNH THÁI BÌNH 55
3.1 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 55
3.1.1 Nguyên tắc mục tiêu 55
3.1.2 Nguyên tắc thực tiễn 55
3.1.3 Nguyên tắc khả thi 55
3.2 Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động quản lý giáo dục BVMT ở các trường THPT tỉnh Thái Bình 55
3.2.1 Hoàn thiện chương trình, kế hoạch hoạt động giáo dục BVMT ở các trường THPT tỉnh Thái Bình 56
3.2.1.1 Mục tiêu của biện pháp 56
3.2.1.2 Nội dung của biện pháp 56
Trang 83.2.2 Tổ chức linh hoạt, đa dạng, thiết thực và nâng cao chất lượng các
hoạt động giáo dục BVMT ở các trường THPT tỉnh Thái Bình 59
3.2.2.1 Mục tiêu của biện pháp 59
3.2.2.2 Nội dung của biện pháp 59
3.2.2.3 Cách thức thực hiện 60
3.2.3 Thường xuyên giám sát, đánh giá các hoạt động giáo dục BVMT ở các trường THPT tỉnh Thái Bình 70
3.2.3.1 Mục tiêu của biện pháp 70
3.2.3.2 Nội dung của biện pháp 70
3.2.3.3 Cách thức thực hiện 71
3.2.4 Đảm bảo các điều kiện để phát triển hoạt động giáo dục BVMT ở các trường THPT tỉnh Thái Bình 74
3.2.4.1 Mục tiêu của biện pháp 74
3.2.4.2 Nội dung của biện pháp 74
3.2.4.3 Cách thức thực hiện 75
3.3 Khảo sát về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất76 3.3.1 Mục đích khảo sát 76
3.3.2 Nội dung và phương pháp khảo sát 76
3.3.2.1 Nội dung khảo sát 76
3.3.2.2 Phương pháp khảo sát 77
3.3.3 Đối tượng khảo sát 77
3.3.4 Kết quả khảo sát về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp .77
3.3.4.1 Sự cần thiết của các biện pháp đã đề xuất 77
3.3.4.2 Mức độ khả thi của các biện pháp đã đề xuất 79
Trang 9Kết luận chương 3 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 87
Trang 10MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môi trường đang bị hủy hoại, bị ô nhiễm nghiêm trọng, gây lên sự mất cân bằng sinh thái sự cạn kiệt tài nguyên, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sự phát triển bền vững của mỗi một đất nước vì vậy vấn đề bảo vệ môi trường đang là vấn đề nóng bỏng trên phạm vi toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng trên là
do sự thiếu ý thức, thiếu hiểu biết của con người vì vậy giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) là một vấn đề cấp bách có tính toàn cầu và là vấn đề có tính khoa học, tính xã hội sâu sắc
Vấn đề đặt ra ở đây: là đối với từng đối tượng cụ thể cần giáo dục cái gì? Giáo dục như thế nào? Và nhằm đạt tới mục tiêu nào? Việc giáo dục cho cộng đồng trong đó có học sinh phổ thông những chủ nhân tương lai của đất nước có ý thức BVMT là một nhiệm vụ hết sức cần thiết đối với mỗi một quốc gia
Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 của nước ta đã đưa việc BVMT thành nghĩa vụ đối với mọi công dân Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
cũng đã chỉ rõ sự cần thiết phải “kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững, tiến tới đảm bảo cho mọi người dân đều được sống trong môi trường có chất lượng tốt" [21].
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 phê duyệt Đề án: “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”
Ngày 31 tháng 1 năm 2005, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Chỉ thị về tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường, xác định giáo dục nhiệm vụ trọng tâm đối với giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng về môi trường, bảo vệ môi trường bằng hình
Trang 11thức tích hợp, hợp lý trong các môn học thông qua các hoạt động ngoại khóa và Phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.
Trong những năm qua, giáo dục BVMT đã bước đầu được thử nghiệm tại một số trường ở tất cả các bậc học: Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT, Cao đẳng, Đại học và Sau đại học Tuy nhiên hoạt động giáo dục BVMT mới chỉ là những giải pháp tình thế, chưa có hệ thống, chưa được tổ chức quản lý một cách bài bản và chưa trở thành nhiệm vụ bắt buộc trong tất cả các bậc học Do đó, chất lượng và hiệu quả của giáo dục BVMT còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Thái Bình là một tỉnh sớm quan tâm đến việc đưa giáo dục BVMT vào các nhà trường Dù chưa phải là môn học chính thức, nhưng với sự liên hệ, tích hợp vào các môn học hoặc thông qua các chương trình ngoại khóa, GDBVMT đã trở nên quen thuộc với các nhà trường phổ thông GDBVMT đã góp phần nâng cao nhận thức, tạo sự chuyển biến cơ bản cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về BVMT Phong trào xây dựng nhà trường xanh - sạch - đẹp, trường học thân thiện phát triển mạnh trên toàn tỉnh
Xác định được tầm quan trọng của vấn đề giáo dục BVMT Chỉ thị số 21/CT-TU ngày 02/6/2005 của Tỉnh ủy Thái Bình đã nêu rõ sự cần thiết phải
"Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường trong các tầng lớp nhân dân, đa dạng các hình thức tuyên truyền, giáo dục, tích cực phổ biến rộng rãi chủ trương chính sách, pháp luật " đối với ngành giáo dục mỗi năm tỉnh đều cấp cho ngân sách để
tuyên truyền giáo dục BVMT cho học sinh Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra, công tác GDBVMT trong các trường phổ thông của cả nước nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng vẫn còn nhiều yếu tố cần hoàn thiện, nhất là yếu tố quản
lý công tác giáo dục BVMT Bản thân tôi nguyên là một giáo viên Địa lý,
năm 2007 tôi đã được UBND tỉnh phê duyệt đề tài "Nghiên cứu biên soạn
Trang 12các nhà trường phổ thông của tỉnh" trong đó vấn đề BVMT cũng là một trong
những nội dung cơ bản của cuốn sách, đạt giải Nhì Hội thi sáng tạo khoa học
kỹ thuật lần thứ 2 của tỉnh, được Tổng liên đoàn Lao động VN cấp Bằng lao động sáng tạo năm 2010 Năm 2011 tại QĐ số 1772/QĐ-UBND ngày 7/9/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình đã phê duyệt là giảng viên cấp
tỉnh thực hiện Đề án "Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý thiên tai dựa vào cộng đồng"
Trưởng ban quản lý tài nguyên và môi trường UNDP, ông
GORDON JOHNSON đã nhận định “ Không thể đạt được điều gì trong GDMT nếu đơn giản chỉ mong chờ vào các hiệp ước ký kết hoặc sắc lệnh ban hành Xa hơn thế, các mục tiêu sẽ đạt được thông qua cam kết của nhân dân Việt Nam Nhà trường là nơi lý tưởng nhất để tạo ra nhận thức và hình thành cam kết Có một thành ngữ tiếng Anh:
Gieo một ý tưởng, sẽ gặt một lời nói Gieo một lời nói, sẽ gặt một hành động Gieo một hành động, sẽ gặt một thói quen Gieo một thói quen, sẽ gặt một vận mệnh”
Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Tăng cường quản
lý giáo dục BVMT trong các trường trung học phổ thông tỉnh Thái Bình” để nghiên cứu.
Trang 133.2 Đối tượng nghiên cứu
Tăng cường biện pháp quản lý hoạt động giáo dục BVMT ở trường THPT tỉnh Thái Bình
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý GDBVMT và thực tiễn về quản lý hoạt động GDBVMT tại tỉnh Thái Bình có thể đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao được chất lượng giáo dục BVMT, từ đó nâng cao nhận thức của cộng đồng, là nền móng của sự phát triển bền vững của nền kinh tế,
xã hội của tỉnh Thái Bình nói riêng và đất nước nói chung
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục BVMT nói chung và
ở các nhà trường phổ thông nói riêng
5.2 Nghiên cứu thực tiễn về quản lý giáo dục BVMT ở trường THPT tỉnh Thái Bình
5.3 Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý giáo dục BVMT ở trường THPT tỉnh Thái Bình
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được luận văn tôi phải dùng tổng hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu cơ bản, tuy nhiên là thành viên của ban chỉ đạo của Sở GD&ĐT về các hoạt động giáo dục BVMT tôi có điều kiện sử dụng các phương pháp từ nghiên cứu lý luận, đến nghiên cứu thực tiễn
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận từ nghiên cứu, phân tích tài liệu của các đồng nghiệp đi trước, tác phẩm khoa học, báo chí, tài liệu lưu trữ để tổng hợp, phân tích khái quát xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
Trang 146.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, thống kê:
Để thấy được thực trạng từ đó đưa ra được các biện pháp quản lý có hiệu quả hơn các hoạt động giáo dục BVMT trong các nhà trường phổ thông tỉnh Thái Bình, tôi đã sử dụng phương pháp vừa khảo sát vừa điều tra thực tế,
sử dụng các phiếu hỏi thông qua trực tiếp dự giờ thăm lớp ở một số nhà trường của từng bậc học, cấp học, các lớp tập huấn giáo viên, cán bộ quản lý, thông qua việc tổ chức các chuyên đề về giáo dục BVMT tích hợp vào các môn học từ đó thống kê tổng kết, khảo nghiệm, thử nghiệm nhằm thu thập thông tin thực tiễn xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài
7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
7.1 Về mặt lý luận
Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về GDMT và quản lý hoạt động giáo dục BVMT ở trường THPT; làm rõ những đặc trưng trong quản lý giáo dục BVMT ở trường THPT
7.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn đã khảo sát tương đối toàn diện công tác quản lý giáo dục BVMT ở trường THPT tỉnh Thái Bình, từ đó đề xuất các biện pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi để nâng cao chất lượng quản lý giáo dục BVMT ở
các trường THPT
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nghiên cứu luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục BVMT ở trường THPT Chương 2: Thực tiễn quản lý giáo dục BVMT ở trường THPT
tỉnh Thái Bình
Chương 3: Biện pháp tăng cường quản lý giáo dục BVMT ở trường
THPT tỉnh Thái Bình
Trang 15
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục bảo vệ môi trường
Từ những năm 50 của thế kỷ trước, vấn đề giáo dục BVMT đã thu hút
sự quan tâm của nhiều tổ chức, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới
Hai thuật ngữ “Giáo dục” và “Môi trường” lần đần tiên đã được sử dụng ở Pari năm 1948 (tại cuộc họp liên hiệp quốc tế bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên)
Ở Liên Xô (cũ), nhiều tác giả đã đề cập đến vấn đề bảo vệ tự nhiên thông qua các môn học ở trường phổ thông Đại diện cho nhóm tác giả này,
bà N.M Êna cho rằng: “Cần phải xác định một hệ thống các khái niệm về bảo
vệ tự nhiên trong môn Địa lý ở phổ thông Những khái niệm đó phải được mở rộng dần dần từ lớp này sang lớp khác” [10, tr 10]
Hai tác giả O.R Ecmôlôvich và I.V Xêmênôp đã chú ý đến việc nghiên cứu các hình thức và phương pháp giáo dục BVMT thông qua các môn học ở trường phổ thông Hai ông đều nhấn mạnh đến việc tổ chức công tác ngoại khóa về bảo vệ tự nhiên như thành lập các nhóm “Tuần tra xanh”, “Người bạn xanh trong nhà trường”…
Một số nước trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương như Trung Quốc, Nhật Bản, Malaisia… đã chú ý xây dựng các tài liệu về giáo dục BVMT trong trường phổ thông Ngoài ra, tổ chức UNESCO đã phối hợp với
cơ quan UNDP xuất bản nhiều tài liệu liên quan đến vấn đề này, xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục BVMT trong trường phổ thông
Ở Việt Nam, vào những năm 1980, nội dung giáo dục BVMT được đưa vào các trường phổ thông Kể từ đó đã xuất hiện nhiều tài liệu về giáo dục BVMT Từ năm 1995, dự án GDMT trong nhà trường phổ thông Việt
Trang 16Nam giai đoạn I (1996-1998) (VIE/95/041) và giai đoạn II (1998-2004) (VIE/98/018) góp phần thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp GDMT
Triển khai Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 07/8/2008, Vụ Giáo dục Trung học đã xây dựng bộ tài liệu Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn học: Địa lý, Lịch sử, Sinh học, Hóa học, Văn học, Giáo dục công dân, Công nghệ và ban hành công văn số 7120/BGDĐT-GDTrH hướng dẫn tích hợp nội dung bảo vệ môi trường trong quá trình dạy học
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu khác về giáo dục BVMT được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, được trao đổi trong các hội thảo khoa học Ngoài ra, còn phải kể đến một số lượng khá lớn các khóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ của sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh về vấn đề này: Thiết kế modun GDMT cho học sinh đầu bậc tiểu học thông qua khai thác nội dung SGK môn Tự nhiên và Xã hội (Luận văn Th.S của Nguyễn Thị Phương Nhung); Xác định hình thức và phương pháp GDMT qua môn Địa lý ở trường phổ thông Việt Nam (Luận án TS của Nguyễn Thị Thu Hằng)…
Tuy nhiên, chưa có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động giáo dục BVMT ở trường THPT, một vấn đề khá quan trọng trong giai đoạn hiện nay
1.2 Các khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục bảo vệ môi trường
1.2.1 Môi trường
Thuật ngữ môi trường có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng theo nghĩa chung nhất thì “ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [4, tr 17]
Từ định nghĩa tổng quát này, còn có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm môi trường
Trang 17Năm 1981, UNESCO đã đưa ra khái niệm về môi trường như sau:
“Môi trường là toàn bộ hệ thống tự nhiên và hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động, đã khai thác tài nguyên tự nhiên hay nhân tạo cho phép thỏa mãn những nhu cầu
tự nhiên của con người” [3]
Như vậy, theo nghĩa rộng môi trường là tất cả các nhân tố tự nhiên và
xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội…Còn theo nghĩa hẹp, môi trường không xét tới tài nguyên thiên nhiên mà chỉ bao gồm các yếu tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người
Môi trường có các chức năng cơ bản sau đây:
- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật;
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người;
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất;
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người;
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế tải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình…
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia ra thành các loại:
- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng ít nhiều cũng chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, sông núi, đất đai, biển cả, không khí, động- thực vật…Môi trường tự nhiên cho ta nước để uống, không khí để thở, đất đai để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi; cung cấp cho
Trang 18đẹp để giải trí, thưởng ngoạn, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú,
ý nghĩa
- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó
là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định…ở các cấp khác nhau như Liên hiệp quốc, hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng
xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, đoàn thể… Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể, thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sóng của con người khác với các sinh vật khác
- Môi trường nhân tạo bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ô tô, máy bay, nhà cửa, công
sở, các khu vực đô thị
Như vậy, môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự sống con người Trong quá trình sống của mình, con người cần có một môi trường vật chất - tinh thần đáp ứng sự phát triển nhân cách và nâng cao chất lượng cuộc sống Môi trường còn quyết định sự phát triển bền vững của đất nước Vì thế, con người không chỉ khai thác thiên nhiên mà còn phải bảo vệ, giữ gìn môi trường tự nhiên, đảm bảo sự phát triển bền vững
và lợi ích lâu dài cho thế hệ hôm nay và cả thế hệ mai sau
Tuy nhiên, hiện nay thế giới đang gặp những thách thức về môi trường
mà nước ta cũng đang phải đối mặt, đó là: Sự khuyếch tán xa từ vùng này sang vùng khác của các chất gây ô nhiễm như một số các oxit của lưu huỳnh, cacbon, nitơ; Suy giảm tầng ôzôn;Xuất và nhập khẩu sản phẩm và chất thải nguy hại, ô nhiễm môi trường; Suy giảm đa dạng sinh học, tăng dân số, suy giảm tài nguyên;
- Sự biến đổi khí hậu
Trang 19Những vấn đề môi trường của Việt Nam
Chính phủ Việt Nam đã xác định 8 vấn đề MT bức bách nhất cần được
ưu tiên giải quyết là:
- Nguy cơ mất rừng và tài nguyên rừng, và trong thực tế việc mất rừng
và cạn kiệt tài nguyên rừng đã xảy ra ở nhiều vùng
- Suy thoái nhanh của chất lượng đất và diện tích đất canh tác theo đầu người và sử dụng lãng phí tài nguyên đất
- Tài nguyên biển, đặc biệt là tài nguyên sinh vật biển ở ven bờ đã bị suy giảm đáng kể MT biển bắt đầu bị ô nhiễm
- Tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật, các hệ sinh thái vv…đang được sử dụng không hợp lý, dẫn đến sự cạn kiệt và làm nghèo tài nguyên thiên nhiên
- Ô nhiễm môi trường, trước hết là môi trường nước, không khí và đất
đã xuất hiện ở nhiều nơi, nhiều lúc đến mức trầm trọng Nhiều vấn đề về vệ sinh môi trường phức tạp đã phát sinh ở các khu vực thành thị, nông thôn
- Tác hại của chiến tranh, đặc biệt là các hoá chất độc hại đã và đang gây ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên và con người Việt Nam
- Việc gia tăng quá nhanh dân số, sự phân phối không đồng đều và không hợp lý lực lượng lao động giữa các vùng và các ngành khai thác tài nguyên là những vấn đề phức tạp nhất trong quan hệ dân số và MT
- Thiếu nhiều cơ sở vật chất - kỹ thuật, cán bộ, luật pháp để giải quyết các vấn đề MT, trong khi nhu cầu sử dụng hợp lý tài nguyên không ngừng tăng lên, yêu cầu về cải thiện MT và chống ô nhiễm MT ngày một lớn và phức tạp
Cùng với việc hiện trạng môi trường tiếp tục xuống cấp và các vấn đề môi trường toàn cầu, còn những thách thức khác với môi trường như:
Trang 20- Phát triển kinh tế - xã hội: Nếu như trình độ công nghệ sản xuất, cơ
cấu sản xuất và trình độ quản lý sản xuất, quản lý MT không được cải tiến thì
sự tăng trưởng sẽ kéo theo tăng khai thác, tiêu thụ tài nguyên, năng lượng, dẫn đến khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, tạo ra sự gia tăng các loại chất thải gây sức ép lên MT Tình trạng tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, chất lượng môi trường bị xuống cấp cũng chính là những thách thức đặt ra đối với phát triển kinh tế - xã hội
- Công nghiệp hoá - hiện đại hoá: Quá trình này đòi hỏi các nhu cầu
về năng lượng, nguyên liệu ngày càng to lớn, kéo theo chất lượng môi trường sống ngày càng xấu đi, nếu không có biện pháp hữu hiệu ngay từ đầu Nếu phát triển công nghiệp và đô thị hoá chưa quan tâm đến các yếu
tố môi trường thì sẽ huỷ hoại môi trường
- Mẫu hình tiêu thụ: Phát triển kinh tế đang đem lại tăng thu nhập, mức
tăng này sẽ làm tăng mức tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ xa xỉ, đồng thời cũng làm tăng thêm lượng chất thải lên MT
- Du lịch, thương mại và MT: Trong thời kỳ hội nhập, việc phát triển
du lịch, thương mại nếu không bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học thì sẽ dẫn đến phá huỷ môi trường
1.2.2 Giáo dục và giáo dục bảo vệ môi trường
1.2.2.1 Giáo dục
Theo Từ điển Giáo dục học: “Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo dức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội” [20, tr 105]
Còn theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì giáo dục là “quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham
Trang 21gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, được thực hiện bằng cách
tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử- xã hội của loài người” [19]
Như vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội Giáo dục
là một bộ phận của của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể; tính chất, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã hội, theo các chế độ kinh tế- chính trị của xã hội
1.2.2.2 Giáo dục BVMT
Thuật ngữ “Giáo dục môi trường” lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào năm 1948, tại một cuộc họp của Liên hiệp quốc về BVMT và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở Pari
GDMT là quá trình nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm nhằm phát triển các kỹ năng và quan điểm cần thiết để hiểu và đánh giá được sự quan hệ tương tác giữa con người, nền văn hóa và thế giới vật chất bao quanh
Định nghĩa về GDMT được chấp nhận một cách phổ biến nhất do Hội nghị quốc tế của Liên hiệp quốc tổ chức tại Tbilisi, đưa ra năm 1977 Theo Hội nghị này GDMT là làm cho các cá nhân và cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh thái học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết những vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường [5; tr 111]
Trang 221.2.3 Quản lý và biện pháp quản lý
1.2.3.1 Quản lý
Quản lý là một hoạt động đặc trưng bao trùm lên mọi mặt đời sống
xã hội, là công việc vô cùng quan trọng, nhưng rất khó khăn và phức tạp
Sở dĩ như vậy, vì công tác quản lý liên quan đến nhân cách của nhiều cá nhân trong tập thể xã hội, liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm
và cuộc sống của mỗi một con người
Thực tế khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học, sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội Do đối tượng quản lý rất đa dạng, phong phú, phức tạp, tùy thuộc từng lĩnh vực hoạt động cụ thể và ở mỗi giai đoạn phát triển xã hội khác nhau cũng có quan niệm khác nhau, nên định nghĩa về quản lý cũng có sự khác nhau:
- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “ Quản lý là chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội), bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó” [19; tr 580]
- Còn theo Mary Parker Follet, “quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác” [9]
- Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản
lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của mình” [7; tr 6]
- Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ): Quản lý là chức năng của hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (Kĩ thuật, sinh vật, xã hội) Nó bảo toàn cấu chúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động
- Định nghĩa kinh điển nhất: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý
Trang 23(người bị quản lý) trong một số chức năng nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích tổ chức.
- Theo quan điểm hệ thống: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến đổi của môi trường
- Lao động quản lý là một dạng lao động đặc biệt gắn với lao động tập thể và kết quả của sự phân công lao động xã hội, nhưng lao động quản lý lại
có thể phân chia thành hệ thống các dạng lao động xác định mà theo đó chủ thể quản lý có thể tác động đối tượng quản lý Các dạng hoạt động xá định này được gọi là các chức năng quản lý Một số nhà nghiên cứu cho rằng trong mọi quá trình quản lý, người cán bộ quản lý phải thực hiện một dãy chức năng quản lý kế tiếp nhau một cách lo gic bắt đầu từ lập kế hoạch tổ chức, chỉ đạo thực hiện và cuối cùng là kiểm tra đánh giá Quá trình này được tiếp diễn một cách tuần hoàn Chu trình quản lý bao gồm các chức năng cơ bản sau:
+ Lập kế hoạch;
+ Xây dựng tổ chức thực hiện kế hoạch;
+ Chỉ đạo thực hiện kế hoạch;
+ Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Tuy nhiên các chức năng trên kế tiếp nhau nhưng chúng thực hiện đan xen nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau Ngoài ra chu trình quản lý thông tin chiếm một vai trò quan trọng, nó là phương tiện không thể thiếu được trong quá trình hoạt động của quản lý
Quản lý vừa là một khoa học, dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển (quy luật tự nhiên hay xã hội) của các đối tượng khác nhau, vừa
là một nghệ thuật, đòi hỏi phải có sự tác động thích hợp với từng khách thể quản lý
Trang 24- Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản lý hoạt động giáo dục của những người làm công tác giáo dục.
- “Quản lý giáo dục là thực hiện các chức năng quản lý trong công tác giáo dục, gồm: kế hoạch hóa; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra và đánh giá quá trình giáo dục” [6]
Thực chất của quản lý giáo dục là quá trình tổ chức, điều chỉnh sự vận hành của các yếu tố cơ bản sau đây:
- Đường lối, chiến lược phát triển giáo dục của đất nước;
- Tập hợp những chủ thể và khách thể quản lý, bao gồm cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên và học sinh;
- Cơ sở vật chất (đồ dùng, trang thiết bị dạy học, trường lớp )
Nội dung quản lý là quản lý tất cả các yếu tố cấu thành quá trình giáo dục, bao gồm: mục tiêu giáo dục; nội dung giáo dục; phương pháp giáo dục;
tổ chức giáo dục; người dạy, người học, trường sở và trang thiết bị; môi ường giáo dục; các lực lượng giáo dục; kết quả giáo dục
Bản chất của quản lý giáo dục là quản lý quá trình sư phạm, quá trình dạy học diễn ra ở các cấp học, bậc học và tất cả các cơ sở giáo dục Nơi thực hiện quản lý quá trình sư phạm có hiệu quả nhất là nhà trường
1.2.3.3 Biện pháp quản lý
Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể [22; tr 64]
Trang 25Từ đó, biện pháp quản lý là cách quản lý một sự việc, một số hay toàn bộ
hệ thống của nó tùy thuộc vào mục đích, nhiệm vụ của từng chủ thể quản lý
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục BVMT là cách thức quản lý hoat động này theo mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp của nó
1.3 Một số vấn đề lý luận về giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông
1.3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông
Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng việc đưa giáo dục BVMT vào nhà trường phổ thông
- Quan điểm của Việt Nam về giáo dục BVMT
* Hướng đi:
Trước đây
Các khía cạnh sinh thái và địa lý của
GDMT chiếm ưu thế Việc giảng dạy
giáo dục môi trường còn giới hạn
trong các môn tự nhiên và địa lý
Trọng tâm chỉ dừng lại ở mức độ
học hỏi các kiến thức về môi trường
Giáo dục môi trường đưa vào các
chương trình học bằng các lồng ghép,
tích hợp
GDMT dạy thành môn riêng biệt và
bài riêng biệt
Hiện nay
Giáo dục vì môi trường có ý nghĩa sống còn vì tương lai của đất nước Giáo dục vì môi trường được hoà nhập vào chương trình học chung (Bởi vì tất cả các môn học đều cho ta hiểu được cách thức con người nhận thức về thế giới của mình)
GDMT chỉ định hướng lại chương trình hiện có, chứ không đòi hỏi thêm thời gian trong chương trình
GDMT là một quá trình giáo dục được tổ chức bằng các hoạt động thực tiễn
Trang 26* Cách làm nên theo xu hướng.
Lấy người học làm trung tâm
Hình thành nền tảng đạo lý môi trường trong nhận thức, thái độ hành vi
Tạo ra sự quan tâm về nguồn gốc suy thoái môi trường
* Sự phối hợp:
• Nhu cầu tiếp cận liên Bộ: Vì bản chất của giáo dục BVMT có tính chất liên ngành, nên sự hợp tác giữa Bộ GD&ĐT và Bộ KHCN&MT là cần thiết
Học sinh (Thái độ đối với môi trường)
Cải thiện năng lực cho giáo viên với tư cách là người hướng dẫn (hơn là người thuyết giảng)
Trang 27• Tính chất liên ngành: Các hoạt động của giáo dục BVMT tự bản thân
nó sẽ thiết lập mối quan hệ rộng rãi đối với các tổ chức và đoàn thể xã hội liên quan Vì bản chất chuyên môn, nó sẽ thiết lập quan hệ công tác với Bộ KHCN&MT Vì vậy yêu cầu quản lý, nó cũng phải phối hợp với các đơn vị chức năng trong lĩnh vực giáo dục và môi trường thuộc các Bộ, các Sở liên quan
• Làm việc với các đối tác: Các tổ chức Chính Phủ và phi chính phủ đều cần được vận động với các vai trò khác nhau và với nghĩa vụ như nhau trong hoạt động giáo dục môi trường
Đó là một đòi hỏi của công tác giáo dục BVMT, nhằm phối hợp
- Luật BVMT ban hành ngày 12/12/2005 Điều 107 quy định về giáo dục BVMT và đào tạo nguồn nhân lực BVMT:
+ Công dân Việt Nam được giáo dục toàn diện về môi trường nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức BVMT
+ Giáo dục về môi trường là một nội dung của chương trình chính khóa của các cấp học phổ thông
Trang 28- Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 17/10/2001, Thủ tướng Chính
phủ đã ký Quyết định số 1363/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án “Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân” với mục tiêu: “Giáo dục học
sinh và sinh viên các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân có hiểu biết về pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về BVMT; có kiến thức về môi trường để tự giác thực hiện BVMT” [17]
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ đã xác định nội dung, phương thức giáo dục BVMT ở các bậc học phổ thông Riêng đối với bậc THPT,
“nhằm trang bị những kiến thức về sinh thái học, mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, trang bị và phát triển kỹ năng bảo vệ và gìn giữ môi trường, biết ứng xử tích cực với môi trường xung quanh”
“Việc giáo dục BVMT chủ yếu được thực hiện theo phương thức khai thác triệt để tri thức về môi trường hiện có ở các môn học trong nhà trường, nội dung giáo dục BVMT còn được thực hiện ngoài nhà trường dưới nhiều
hình thức khác nhau nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm BVMT cho
toàn cộng đồng” [17]
- Tiếp theo, ngày 2/12/2003, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định
số 256/ 2003/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược BVMT quốc gia đến năm
+ BVMT là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các
tổ chức, cộng đồng và mọi người dân; bảo vệ môi trường mang tính quốc
Trang 29gia, khu vực và toàn cầu cho nên phải kết hợp giữa phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế.
+ BVMT phải trên cơ sở tăng cường quản lý Nhà nước, thể chế và pháp luật đi đôi với việc nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mọi người dân, của toàn xã hội về BVMT
+ BVMT là việc làm thường xuyên, lâu dài; coi phòng ngừa là chính, kết hợp với xử lý và kiểm soát ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện chất lượng môi trường; tiến hành có trọng tâm, trọng điểm; coi khoa học và công nghệ là công cụ hữu hiệu trong BVMT
Chiến lược BVMT quốc gia cũng đã đề ra các mục tiêu BVMT đến năm 2010 như sau:
Mục tiêu tổng quát
+ Hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, khắc phục tình trạng suy thoái và cải thiện chất lượng MT; giải quyết một bước cơ bản tình trạng suy thoái MT
ở các khu công nghiệp, các khu dân cư đông đúc ở các thành phố lớn và một
số vùng nông thôn; cải tạo và xử lý ô nhiễm MT trên các dòng sông, ao hồ, kênh mương
+ Nâng cao khả năng phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tai, của sự biến động khí hậu bất lợi đối với MT; ứng cứu và khắc phục có hiệu quả sự cố MT do thiên tai gây ra
+ Khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm cân bằng sinh thái ở mức độ cao, bảo tồn thiên nhiên và giữ gìn đa dạng sinh học
+ Chủ động thực hiện và đáp ứng các yêu cầu về MT trong hội nhập kinh tế quốc tế, hạn chế các ảnh hưởng xấu từ quá trình toàn cầu hoá đến MT trong nước
Các mục tiêu cụ thể
Trang 30+ Hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm: 100% cơ sở sản xuất xây dựng mới phải có công nghệ sạch hoặc có các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn MT; 50% các cơ sở sản xuất kinh doanh được cấp Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn MT hoặc Chứng chỉ ISO 14001; Phấn đấu 30% hộ gia đình, 70% doanh nghiệp có dụng cụ phân lợi rác thải tại nguông, 80% khu dân cư có thùng đựng rác tập trung; 80% khu vực công cộng có thùng gom rác thải; 40% các khu đô thị, 70% các khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn MT; thu gom 90% chất thải rắn sinh hoạt, công nghiệp và dịch vụ, xử lý trên 60% chất thải nguy hại và 100% chất thải bệnh viện; An toàn hoá chất được kiểm soát chặt chẽ, đặc biệt là các hoá chất có mức độ độc hại cao; việc sản xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường được hạn chế tối đa, tăng cường sử dụng các biện pháp trừ dịch hại tổng hợp; Xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm MT nghiêm trọng trên phạm vi toàn quốc theo Quyết định số 64/2003/QĐ - TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ.
+ Cải thiện một bước chất lượng môi trường: Cơ bản hoàn thành việc
cải tạo và nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước mưa và nước thải ở các đô thị và khu công nghiệp Phấn đấu 40% các đô thị có hệ thống tiêu thoát và xử lý nước thải riêng theo đúng tiêu chuẩn quy định; Cải tạo 50% các kênh mương,
ao hồ, các đoạn sông chảy qua các đô thị đã bị suy thoái nặng trên phạm vi cả nước; Giải quyết một cách cơ bản các điểm nóng về nhiễm độc điôxin; 95% dân số đô thị và 85% dân số nông thôn được cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 90% đường phố có cây xanh; nâng tỷ lệ đất công viên ở các khu đô thị lên gấp 2 lần so với năm 2000; 90% các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn lao động và có cây xanh trong khuôn viên thuộc khu vực sản xuất; Đưa chất lượng nước các lưu vực sông đạt mức tiêu chuẩn chất lượng nước dùng cho nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
Trang 31+ Bảo đảm cân bằng sinh thái ở mức cao: Phục hồi 50% các khu vực khai thác khoáng sản, 40% các hệ sinh thái đã bị phá huỷ; Nâng tỷ lệ đất có rừng che phủ đạt 43% tổng diện tích đất tự nhiên, khôi phục 50% rừng đầu nguồn đã bị suy thoái và nâng cao chất lượng rừng; đẩy mạnh trồng cây phân tán trong nhân dân; Nâng cao tỷ lệ sử dụng năng lượng sạch đạt 5% tổng năng lượng tiêu thụ hàng năm; Nâng tổng diện tích các khu bảo tồn tự nhiên lên gấp 1,5 lần hiện nay, đặc biệt là các khu bảo tồn biển và vùng đất ngập nước; Phục hồi diện tích rừng ngập mặn lên bằng 50% mức năm 1990.
+ Đáp ứng các yêu cầu về môi trường để hội nhập kinh tế quốc tế và hạn chế các tác động tiêu cực từ mặt trái của toàn cầu hoá: 100% các doanh nghiệp có sản phẩm xuất khẩu áp dụng hệ thống quản lý MT; Đảm bảo 100% các giống, loài, các nguồn gen nhập khẩu vào nước ta phải được kiểm định; 100% sinh vật biến đổi gen nhập khẩu vào Việt Nam được kiểm soát
Về các nội dung, nhiệm vụ BVMT, Chiến lược BVMT quốc gia đã nêu lên 5 nhiệm vụ BV MT:
+ Phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm: Thực hiện đồng bộ các biện pháp
về phòng ngừa ô nhiễm MT; Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm soát ô nhiễm cấp quốc gia, ngành và địa phương để ngăn chặn, xử lý và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm và suy thoái MT; Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về MT, tiêu chuẩn ngành về MT, áp dụng công nghệ sạch và sản xuất sạch hơn; Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động quản lý chất thải; Xử
lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm MT nghiêm trọng
+ Khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái MT nghiêm trọng: Thực hiện các dự án khắc phục và cải tạo các điểm, vùng, khu vực bị ô nhiễm và suy thoái nặng; Khắc phục hậu quả suy thoái MT bởi chất độc hoá học do đế quốc Mỹ sử dụng trong chiến tranh; Ứng cứu sự cố MT và khắc phục nhanh hậu quả ô nhiễm MT do thiên tai gây ra
Trang 32+ Bảo vệ và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên: Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản; Khai thác hợp lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên nước; Bảo vệ tài nguyên không khí.
+ Bảo vệ và cải thiện MT các khu vực trọng điểm: Các đô thị và khu công nghiệp; Biển, ven biển và hải đảo; Các lưu vực sông và các vùng đất ngập nước; Nông thôn và miền núi; Di sản tự nhiên và di sản văn hoá
+ Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học: Bảo vệ, phát triển các khu bảo tồn thiên nhiên và các vườn quốc gia; Phát triển rừng và nâng diện tích thảm thực vật; Bảo vệ đa dạng sinh học
Về các giải pháp cơ bản để thực hiện mục tiêu BVMT, Chiến lược BVMT quốc gia đã nêu lên các giải pháp sau đây:
+ Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm BVMT;
+ Tăng cường quản lý Nhà nước, thể chế và pháp luật về BVMT;
+ Đẩy mạnh áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường;
+ Giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và BVMT;
+ Tăng cường và đa dạng hoá nguồn vốn, tạo sự chuyển biến cơ bản trong đầu tư BVMT
+ Tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ về BVMT.+ Đẩy mạnh xã hội hoá công tác BVMT
+ Tăng cường hợp tác quốc tế về BVMT
1.3.2 Định hướng về giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông
Việc giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông cần xuất phát từ những định hướng chung sau đây:
- Giáo dục BVMT nhìn nhận môi trường trong tính tổng thể của nó, nghĩa là trong môi trường sinh thái, chính trị, tự nhiên, kỹ thuật, xã hội Tuy nhiên để xác định phạm vi và đối tượng giáo dục nhằm tăng hiệu quả của giáo
Trang 33dục BVMT, trong nhà trường phổ thông tập trung hơn việc giáo dục BVMT
tự nhiên
- Giáo dục BVMT là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, do đó được tích hợp vào các môn học và các hoạt động Giáo dục BVMT không phải là ghép thêm vào chương trình giáo dục như một bộ phận riêng biệt hay một chủ đề nghiên cứu mà nó là một đường hướng hội nhập vào chương trình đó
- Giáo dục BVMT là cách tiếp cận xuyên bộ môn giúp cho mọi người hiểu về môi trường với mục đích hàng đầu là chăm sóc phát triển và có thái
độ cam kết Không chỉ kiến thức mà còn tình cảm, thái độ kỹ năng và hành vi
xã hội
- Giáo dục BVMT cần được thực hiện thông qua quá trình tham gia của học sinh, phản ánh nguyên tắc cao nhất của giáo dục BVMT là nhận thức – hành động, cách tiếp cận phản ánh bằng hành động là đặc trưng của giáo dục BVMT
- Phương pháp tiếp cận trong giáo dục BVMT: Giáo dục về môi trường, trong môi trường và vì môi trường
- Giáo dục BVMT quan tâm đến cả môi trường toàn cầu và địa phương Một mặt giúp học sinh có tầm nhìn toàn cầu đối với các vấn đề môi trường Mặt khác coi trọng giáo dục BVMT địa phương, coi môi trường địa phương
là môi trường để giáo dục, chất liệu để giáo dục và là mục tiêu cụ thể của giáo dục BVMT theo phương châm suy nghĩ toàn cầu, hành động địa phương
1.3.3 Mục tiêu giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông
1.3.3.1 Mục tiêu chung
- Trang bị những hiểu biết cơ bản về môi trường, các thành phần của môi trường và sự liên hệ khăng khít, tác động giữa chúng với nhau, vai trò của môi trường đối với con người và tác động của con người đối với môi trường; pháp luật và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các
Trang 34- Giáo dục ý thức quan tâm đối với môi trường, xây dựng từng bước tình cảm tôn trọng, yêu thích thiên nhiên, lòng tha thiết muốn được bảo vệ môi trường sống trong lành, làm cho việc BVMT trở thành thói quen và nếp sống của học sinh.
- Phát triển kỹ năng bảo vệ và gìn giữ môi trường, kỹ năng phát hiện và ứng xử tích cực trong việc giải quyết những vấn đề môi trường cụ thể
1.3.3.2 Mục tiêu cụ thể
- Kiến thức
Học sinh có hiểu biết về:
+ Môi trường, các thành phần của môi trường và quan hệ giữa chúng; + Mối quan hệ giữa con người và môi trường;
+ Sự ô nhiễm và suy thoái môi trường;
+ Biện pháp BVMT
- Thái độ - tình cảm
+ Có tình cảm yêu quý, tôn trọng thiên nhiên, yêu quý gia đình, trường lớp, quê hương, đất nước;
+ Có thái độ thân thiện với môi trường;
+ Có ý thức quan tâm đến vấn đề môi trường; giữ gìn, bảo vệ môi trường và muốn có hành động thiết thực bảo vệ môi trường
- Kỹ năng
+ Phát hiện vấn đề môi trường và ứng xử tích cực với vấn đề môi trường nẩy sinh;
+ Thực hiện các hành động BVMT phù hợp với độ tuổi
1.3.4 Các cách tiếp cận trong giáo dục BVMT
Trong giáo dục BVMT, có ba cách tiếp cận tồn tại song song sau đây:
1.3.4.1 Giáo dục về môi trường (Kiến thức - Kỹ năng)
- Hình thành ở học sinh những kiến thức, hiểu biết và kỹ năng cơ bản,
sẽ hữu ích khi các em cần tiếp xúc với các vấn đề môi trường
Trang 35- Chú trọng đến thông tin, sự kiện, những hoạt động thực tế nhằm thu hoạch tri thức và kỹ năng.
- Cung cấp lý thuyết về các quá trình tự nhiên, xã hội có liên quan đến môi trường
1.3.4.2 Giáo dục trong môi trường (Tiềm năng - Tham gia - Kinh nghiệm)
- Đề cao các cơ hội giúp học sinh gặt hái những kinh nghiệm hoặc
được giáo dục trực tiếp trong môi trường(gần gũi như ở trường học, địa phương hoặc ở những địa bàn khác xa nhau)
- Đề cao quyền công dân của học sinh đối với các quan tâm chung về môi trường Quá trình tham gia trực tiếp các hoạt động môi trường sẽ thúc đẩy, củng cố, phát triển các tri thức kỹ năng đã có, thay đổi hành vi, thái độ và đánh giá
- Đối với việc học: kích thích hứng thú và óc sáng tạo
- Đối với việc dạy: môi trường là nguồn tư liệu và công cụ sư phạm vô tận
1.3.4.3 Giáo dục vì môi trường (Phán xét - Hành vi, thái độ - Giá trị)
- Hình thành khả năng suy nghĩ, nghe, nói đọc viết Nhân tố này hỗ trợ
cho quá trình hình thành hành vi tốt, thái độ đúng với môi trường
- Hình thành thái độ quan tâm đến môi trường, khuyến khích việc sử dụng hợp lý các giá trị môi trường hôm nay và mai sau
- Hình thành khả năng đánh giá, ra quyết định trước những vấn đề môi trường, khả năng lựa chọn giải pháp có tính bền vững
1.3.5 Nội dung giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông
Gồm 4 chủ đề chính (thông điệp cốt lõi): Môi trường sống của chúng ta; Quan hệ giữa con người và môi trường; Sự ô nhiễm và suy thoái môi trường; Các biện pháp BVMT, phát triển bền vững
1.3.5.1 Chủ đề Môi trường sống của chúng ta
Trang 36- Môi trường tự nhiên;
- Môi trường nhân tạo;
- Tài nguyên thiên nhiên
1.3.5.2 Chủ đề Quan hệ giữa con người và môi trường
- Con người là một thành phần của môi trường;
- Vai trò của con người đối với môi trường;
- Tác động của con người đối với môi trường;
- Dân số và môi trường- công nghiệp, đô thị hóa và môi trường
1.3.5.3 Chủ đề Sự ô nhiễm và suy thoái môi trường
- Ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm nước, không khí, tiếng ồn, ô nhiễm biển;
- Nhiệm vụ của học sinh trong việc BVMT
1.3.6 Phương pháp và các hình thức giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông
Trang 37chương Môi trường và phát triển bền vững trong môn Địa lý lớp 10 hoặc chương Cá thể và môi trường trong môn Sinh học
+ Mức độ bộ phận: Chỉ có một phần của bài học hoặc của chương
có mục tiêu và nội dung giáo dục BVMT Ví dụ, chương Nguyên tử và hạt nhân trong môn Vật lý hoặc bài Công dân với các vấn đề của thời đại trong môn Giáo dfục công dân lớp 10
+ Mức độ liên hệ: Có điều kiện liên hệ một cách lô gíc
- Tích hợp trong các hoat động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Yêu cầu quan trọng của giáo dục BVMT là vấn đề thực hành, hình thành các kỹ năng và thói quen, phương pháp hành động cụ thể để học sinh có thể tham gia có hiệu quả vào cá hoat động BVMT Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có khả năng và điều kiện để đáp ứng yêu cầu nêu trên Các hoạt động này bao gồm:
+ Tham quan theo chủ đề: công viên, vườn thú, danh lam thắng cảnh, nơi xử lý rác, nhà máy, bảo tàng
+ Điều tra, khảo sát tình hình môi trường địa phương, thảo luận phương án xử lý;
+ Tổ chức thi tìm hiểu về môi trường: Thi điều tra, sáng tác, văn nghệ
về chủ đề môi trường;
+ Tổ chức Câu lạc bộ môi trường, sinh hoạt theo các chủ đề về sử dụng năng lượng, xử lý rác thải, bệnh tật học đường
+ Trồng cây, xanh hóa nhà trường;
+ Hoạt động Đoàn, Đội về BVMT
1.3.6.2 Các phương pháp dạy học- giáo dục
Là lĩnh vực giáo dục liên ngành, giáo dục BVMT sử dụng nhiều phương pháp dạy học của các bộ môn khác nhau, chịu sự chi phối của các phương pháp đặc trưng bộ môn nhưng nó cũng có những phương pháp mang
Trang 38sử dụng khá phổ biến các phương pháp như: Phương pháp thí nghiệm; Phương pháp tham quan, điều tra khảo sát thực địa; Phương pháp hoạt động thực tiễn; Phương pháp giải quyết vấn đề cộng đồng; Phương pháp nêu gương; Phương pháp tiếp cận kỹ năng sống BVMT; Phương pháp học tập trải nghiệm
- Phương pháp thí nghiệm
Khi đối tượng học tập là những vấn đề mà học sinh không thể quan sát bằng mắt thường được, giáo viên phải dùng phương pháp thí nghiệm để tái tạo lại những hiện tượng đã xẩy ra trong thiên nhiên, đơn giản hóa quá trình cho các em quan sát
Ví dụ: Thí nghiệm ủ rác khi dạy về xử lý rác Qua đó các em thấy rõ khả năng phân hủy của các loại rác khác nhau và có ý thức phân loại rác ngau
từ khâu thu gom; Thí nghiệm để học sinh nhận biết nước là một chất dung môi dễ hòa tan các chất, do đó rất dễ nhiễm bẩn; Thí nghiệm để học sinh nhận biết nước sạch và nước bị ô nhiễm…
- Phương pháp tham quan, điều tra khảo sát thực địa
Môi trường là phương tiện giáo dục đặc thù của giáo dục BVMT Môi trường không chỉ giúp học sinh kiểm nghiệm các kiến thức được học trên lớp,
mở rộng tầm hiểu biết thực tế mà còn phát triển các kỹ năng quan sát, phân
tích và rèn luyện hành vi ứng xử với môi trường thực Vì thế, phương pháp tham quan, điều tra khảo sát thực địa là phương pháp đặc trưng trong giáo
dục BVMT Các địa điểm tham quan, khảo sát là những phòng thí nghiệm sinh động, có tác dụng giáo dục sâu sắc Dựa trên những quan sát từ môi trường thực, học sinh cảm nhận được sự phong phú sinh động, vẻ đẹp hùng
vĩ, đa dạng của môi trường tự nhiên, đồng thời cũng nhận thức được những vấn đề về môi trường càn phải giải quyết
- Phương pháp hoạt động thực tiễn
Trang 39Hoạt động thực tiễn giúp học sinh ý thức được giá trị của lao động, rèn luyện kỹ năng, thói quen BVMT Thông qua hoạt động thực tiễn, giáo dục BVMT có thể đạt được mục tiêu của mình là hình thành được những hành vi, thói quen BVMT dù nhỏ nhất ở học sinh
- Phương pháp giải quyết vấn đề cộng đồng
Ở mỗi cộng đồng, địa phương đều có những vấn đề bức xúc riêng liên quan đến môi trường Ví dụ, môi trường ở các làng nghề, khu công nghiệp, khu đô thị…Trong quá trình dạy học, giáo viên cần khai thác các vấn đề về môi trường ở địa phương để tăng thêm tính trực quan và tính hiệu quả trong giáo dục BVMT cho học sinh Đặc biệt là cần tổ chức cho học sinh tham gia giải quyết các vấn đề về ô nhiễm môi trường, xâm hại môi trường ở địa phương mình
- Phương pháp tiếp cận kỹ năng sống BVMT
Kỹ năng sống BVMT là khả năng ứng xử một cách tích cực đối với các vấn đề của môi trường Các kỹ năng này bao gồm:
+ Kỹ năng nhận biết và phát hiện các vấn đề của môi trường;
+ Kỹ năng xây dựng kế hoạch hành động vì môi trường;
+ Kỹ năng ra quyết định về môi trường;
+ Kỹ năng kiên định thực hiện kế hoạch hành động vì môi trường… Trong quá trình giáo dục, việc rèn luyện các kỹ năng sống BVMT được thực hiện thông qua luyện tập xử lý các tình huống môi trường cụ thể
- Phương pháp học tập trải nghiệm
Học tập trải nghiệm là lôi cuốn học sinh vào việc suy nghĩ có phê phán, giải quyết vấn đề và ra quyết định trong hoàn cảnh phù hợp với cá nhân các em Cách tiếp cận này tạo cơ hội cho việc củng cố những ý tưởng và kỹ năng thông qua nhận xét và áp dụng những ý tưởng và kỹ năng vào thực tế Môi trường không chỉ là những vấn đề cao xa, trừu tượng như tầng ô zôn, sự
Trang 40sinh như cơm ăn, nước uống hàng ngày Vì thế, giáo viên cần huy động những kinh nghiệm đã có của học sinh trong quá trình tiển khai các hoạt động giáo dục BVMT
- Phương pháp nêu gương
Đây là phương pháp dựa vào những tấm gương của người lớn để giáo dục học trẻ Trong giáo dục BVMT, chúng ta cũng có thể dựa vào các hành vi gương mẫu trong thực hiện các quy định về BVMT của cha
mẹ, thầy, cô giáo để giáo dục học sinh
1.3.7 Đánh giá kết quả giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông
1.3.7.1 Mục đích đánh giá
Đánh giá là quá trình so sánh kết quả đạt được với mục tiêu xác định
từ dầu, từ đó đi đến những nhận định, đề xuất Trong giáo dục BVMT, việc đánh giá nhằm các mục đích sau đây:
- Làm rõ mức độ đạt được mục tiêu giáo dục BVMT trên cả ba phương diện: nhận thức, thái độ và hành vi đói với môi trường;
- Giúp cho học sinh thấy rõ kết quả mà mình đạt được trong các hoạt động BVMT;
- Giúp cho giáo viên có cơ sử thực tế để không ngừng cải tiến, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học nói chung, giáo dục BVMT nói riêng
1.3.7.2 Hình thức đánh giá
Việc đánh giá kết quả giáo dục BVMT có thể được tiến hành bằng các hình thức sau:
- Đánh giá trực tiếp, đánh giá gián tiếp;
- Đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ;
- Kết hợp đánh giá với tự đánh giá
1.3.7.3 Phương pháp đánh giá
- Quan sát