1.Lý do chọn đề tài Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực đã được Đảng ta xác định là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội. Công cuộc đổi mới đất nước đòi hỏi giáo dục và đào tạo hơn bao giờ hết cần phải đổi mới để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Việt Nam đang cùng nhân loại bước vào những năm đầu của thế kỷ XXI, thế kỷ của nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn cầu, thế kỷ của sự bùng nổ thông tin và khoa học công nghệ. Xu thế hội nhập quốc tế ngày nay đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực chất lượng cao làm việc được trong môi trường đa ngôn ngữ, đa văn hóa. Trong bối cảnh đó, ngoại ngữ đã thực sự trở thành một phương tiện giao tiếp, là chìa khóa mở cửa kho tàng tri thức nhân loại, góp phần to lớn trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, giúp chúng ta vững bước trên con đường hội nhập quốc tế. Ngoại ngữ có nhiệm vụ góp phần tích cực vào việc thực hiện đường lối, phương châm giáo dục của Đảng, vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo giáo dục đại học. Từ lâu môn ngoại ngữ đã được sự quan tâm của Nhà nước. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói " ...Nước ta là nước XHCN, nước ta bây giờ có vị trí, có uy tín lớn trên thế giới và ngày mai chắc chắn nó sẽ có vị trí, có uy tín càng lớn hơn nữa....Cho nên chúng ta cần ngoại ngữ. Chúng ta cần lắm. Vì tất cả những lẽ đó, ngoại ngữ là công cụ không thể thiếu được trong quá trình phát triển và tiến bộ của nước ta, đối với trong nước cũng như đối với nước ngoài ..." Quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường. Quản lý tốt hoạt động dạy học ngoại ngữ sẽ giúp người dạy và người học có được những bước đi đúng đắn trong từng khâu của quá trình dạy học nhằm đạt được các yêu cầu do mục tiêu giáo dục đề ra. Học viện QLGD với sứ mạng “là cơ sở đào tạo chất lượng cao, tiên phong trong nghiên cứu và triển khai đổi mới QLGD đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước”, với mục tiêu chung “là cơ sở giáo dục có uy tín trong nước và khu vực về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học giáo dục, khoa học quản lý giáo dục trong đó CBQL, GV, SV luôn có khát vọng học tập, sáng tạo và cống hiến vì một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, nhân văn”. Những năm gần đây, việc dạy học tiếng Anh và quản lý dạy học tiếng Anh tại Học viện QLGD đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ như tất cả SV đều được trang bị vốn kiến thức và kỹ năng sử dụng tiếng Anh cơ bản phục vụ giao tiếp và đọc hiểu tài liệu chuyên ngành viết bằng tiếng Anh; Học viện đã tích cực biên soạn, nghiệm thu giáo trình tiếng Anh chuyên ngành QLGD và tiếng Anh chuyên ngành CNTT… Tuy nhiên, thực tế công tác quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh vẫn còn nhiều bất cập như chậm thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, công tác bồi dưỡng GV tiếng Anh chưa thường xuyên… do đó chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Đặc biệt mối quan hệ tương tác giữa người dạy, người học và môi trường - yếu tố vô cùng quan trọng góp phần tạo hiệu quả trong dạy học tiếng Anh vẫn chưa được đặc biệt chú trọng khai thác, tăng cường. Ngoài ra, khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu quả CNTT cũng như các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại của GV tiếng Anh và SV vẫn còn hạn chế, điều kiện về CSVC nói chung và PTKTDH nói riêng còn yếu cả về số lượng lẫn chất lượng. Với những phân tích kể trên, là một GV tiếng Anh, tác giả xin chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường sư phạm tương tác tại Học viện Quản lý giáo dục”.
Trang 1Luận văn thạc sỹ về đề tài: “Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường sư phạm tương tác tại Học viện quản lý giáo dục”
này là kết quả quan trọng trong quá trình đào tạo cao học Với tất cả tình cảm của mình, tác giả luận văn xin tỏ lòng biết ơn Hội đồng đào tạo, Hội đồng khoa học, các thầy, cô giáo trong và ngoài Học viện Quản lý giáo dục
đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn, PGS.TS Ngô Quang Sơn - người đã chỉ bảo dìu dắt ân cần và hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình làm Luận văn
Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc, các đồng nghiệp ở Học viện Quản lý giáo dục, những người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ để tác giả có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập trong thời gian qua.
Mặc dù đã hết sức cố gắng trong quá trình làm luận văn, song không thể tránh khỏi thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉ dẫn góp ý và giúp đỡ quý báu của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lương Khánh Lượng
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 2CBQL Cán bộ quản lý
CNH&HĐH Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá
PTKTDH Phương tiện kỹ thuật dạy học
Trang 3MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Nước ngoài 5
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Quản lý giáo dục và Quản lý nhà trường 12
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học 14
1.2.4 Phương pháp dạy học 14
1.2.5 Đổi mới phương pháp dạy học 15
1.2.6 Biện pháp quản lý 16
1.3 Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các cơ sở GDĐH 16
1.3.1 Yêu cầu đối với hoạt động dạy học tiếng Anh tại các cơ sở GDĐH .17
1.3.2 Quản lý hoạt động dạy tiếng Anh tại các cơ sở GDĐH 19
1.3.3 Quản lý hoạt động học tiếng Anh tại các cơ sở GDĐH 20
1.3.4 Quản lý các điều kiện phục vụ dạy học tiếng Anh 21
1.4 Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường sư phạm tương tác tại các cơ sở GDĐH 22
1.4.1 Khái niệm Sư phạm tương tác 22
1.4.2 Đặc điểm cấu trúc của Sư phạm tương tác 24
1.4.3 Tăng cường sư phạm tương tác 30
1.4.4 Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường sư phạm tương tác tại các cơ sở GDĐH 32
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC TẠI HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC 42
2.1 Khái quát về Học viện QLGD 42
2.1.1 Sơ lược lịch sử phát triển của Học viện QLGD 42
2.1.2 Sứ mạng, tầm nhìn, giá trị, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Học viện QLGD 43
2.1.3 Tình hình hoạt động đào tạo đại học tại Học viện QLGD 46
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn 47
Trang 42.2.1 Vài nét về Bộ môn tiếng Anh 48
2.2.2 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường sư phạm tương tác tại Học viện QLGD 49
2.2.3 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường sư phạm tương tác tại Học viện QLGD 73
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC TẠI HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC 79
3.1 Một số nguyên tắc xây dựng các biện pháp 79
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 79
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 79
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất 79
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 80
3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường sư phạm tương tác tại Học viện Quản lý giáo dục 80
3.2.1 Nâng cao nhận thức của đội ngũ CBQL, GV tiếng Anh và SV Học viện về tầm quan trọng của dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường sư phạm tương tác 80
3.2.2 Xây dựng kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng GV tiếng Anh về dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường SPTT 83
3.2.3 Quản lý đổi mới giáo trình, tài liệu dạy học tiếng Anh tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường sư phạm tương tác 87
3.2.4 Quản lý đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường các hoạt động sư phạm tương tác 90
3.2.5 Quản lý đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập tiếng Anh của SV 94
3.2.6 Quản lý đầu tư và sử dụng hiệu quả CSVC và PTKTDH phục vụ hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường sư phạm tương tác .96
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 99
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp quản lý .101
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
1 Kết luận 106
2 Kiến nghị 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 5Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý
Sơ đồ 1.2: Các chức năng cơ quản của quản lý
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Học viện QLGD
Bảng 2.1: Kết quả khảo sát nhận thức của CBQL và GV về các nội dung quản
lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường SPTT
Bảng 2.2: Thực trạng quản lý việc thiết kế kế hoạch bài học của GV tiếng
Anh
Bảng 2.3: Thực trạng thực hiện các yêu cầu tăng cường SPTT khi thiết kế kế
hoạch bài học của GV tiếng Anh
Bảng 2.4: Thực trạng quản lý đào tạo và bồi dưỡng GV tiếng Anh
Bảng 2.5: Thực trạng quản lý đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh theo
hướng tăng cường SPTT và đánh giá giờ dạy của GV tiếng Anh
Bảng 2.6: Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy theo hướng tăng cường
SPTT của GV tiếng Anh
Bảng 2.7: Thực trạng giáo dục nhu cầu, động cơ và hứng thú học tập tiếng
Anh cho SV
Bảng 2.8: Thực trạng quản lý bồi dưỡng phương pháp học tập tiếng Anh trên
lớp cho SV
Bảng 2.9: Thực trạng quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của SV
Bảng 2.10: Thực trạng các điều kiện đảm bảo cho hoạt động dạy học tiếng
Anh theo hướng tăng cường SPTT
Bảng 2.11: Thực trạng quản lý CSVC & PTKTDH phục vụ hoạt động dạy
học tiếng Anh theo hướng tăng cường SPTT
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp quản lý
Hình 3.1: Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý được đề xuất
Biểu đồ 2.1: Số lượng SV của các Khoa theo các năm học
Biểu đồ 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp
Biểu đồ 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực đã được Đảng ta xác định là quốc sáchhàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội Công cuộc đổi mới đất nướcđòi hỏi giáo dục và đào tạo hơn bao giờ hết cần phải đổi mới để đáp ứng yêucầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh hộinhập quốc tế
Việt Nam đang cùng nhân loại bước vào những năm đầu của thế kỷXXI, thế kỷ của nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn cầu, thế kỷ của sự bùng
nổ thông tin và khoa học công nghệ Xu thế hội nhập quốc tế ngày nay đòi hỏiphải có một nguồn nhân lực chất lượng cao làm việc được trong môi trường
đa ngôn ngữ, đa văn hóa Trong bối cảnh đó, ngoại ngữ đã thực sự trở thànhmột phương tiện giao tiếp, là chìa khóa mở cửa kho tàng tri thức nhân loại,góp phần to lớn trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, giúp chúng ta vữngbước trên con đường hội nhập quốc tế
Ngoại ngữ có nhiệm vụ góp phần tích cực vào việc thực hiện đường lối,phương châm giáo dục của Đảng, vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo giáodục đại học Từ lâu môn ngoại ngữ đã được sự quan tâm của Nhà nước Cốthủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói" Nước ta là nước XHCN, nước ta bây giờ
có vị trí, có uy tín lớn trên thế giới và ngày mai chắc chắn nó sẽ có vị trí, có
uy tín càng lớn hơn nữa Cho nên chúng ta cần ngoại ngữ Chúng ta cần lắm Vì tất cả những lẽ đó, ngoại ngữ là công cụ không thể thiếu được trong quá trình phát triển và tiến bộ của nước ta, đối với trong nước cũng như đối với nước ngoài "
Quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ có ý nghĩa vô cùng quan trọngđối với việc nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường Quản lý tốt hoạtđộng dạy học ngoại ngữ sẽ giúp người dạy và người học có được những bước
đi đúng đắn trong từng khâu của quá trình dạy học nhằm đạt được các yêu cầu
do mục tiêu giáo dục đề ra
Trang 7Học viện QLGD với sứ mạng “là cơ sở đào tạo chất lượng cao, tiênphong trong nghiên cứu và triển khai đổi mới QLGD đáp ứng yêu cầu pháttriển đất nước”, với mục tiêu chung “là cơ sở giáo dục có uy tín trong nước vàkhu vực về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học giáo dục, khoa học quản
lý giáo dục trong đó CBQL, GV, SV luôn có khát vọng học tập, sáng tạo vàcống hiến vì một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, nhân văn”
Những năm gần đây, việc dạy học tiếng Anh và quản lý dạy học tiếngAnh tại Học viện QLGD đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ như tất cả
SV đều được trang bị vốn kiến thức và kỹ năng sử dụng tiếng Anh cơ bảnphục vụ giao tiếp và đọc hiểu tài liệu chuyên ngành viết bằng tiếng Anh; Họcviện đã tích cực biên soạn, nghiệm thu giáo trình tiếng Anh chuyên ngànhQLGD và tiếng Anh chuyên ngành CNTT… Tuy nhiên, thực tế công tác quản
lý hoạt động dạy học tiếng Anh vẫn còn nhiều bất cập như chậm thực hiện đổimới phương pháp dạy học, công tác bồi dưỡng GV tiếng Anh chưa thườngxuyên… do đó chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra Đặc biệt mối quan hệ tươngtác giữa người dạy, người học và môi trường - yếu tố vô cùng quan trọng gópphần tạo hiệu quả trong dạy học tiếng Anh vẫn chưa được đặc biệt chú trọngkhai thác, tăng cường Ngoài ra, khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu quả CNTTcũng như các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại của GV tiếng Anh và SVvẫn còn hạn chế, điều kiện về CSVC nói chung và PTKTDH nói riêng cònyếu cả về số lượng lẫn chất lượng
Với những phân tích kể trên, là một GV tiếng Anh, tác giả xin chọn đề
tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường sư phạm tương tác tại Học viện Quản lý giáo dục”.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực trạng hoạt động dạy họctiếng Anh từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng dạyhọc tiếng Anh theo hướng tăng cường SPTT tại Học viện QLGD
Trang 83 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu: Tổng quannghiên cứu vấn đề; Các khái niệm có liên quan; Nội dung quản lý hoạtđộng dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường SPTT
3.2 Tìm hiểu thực trạng dạy học tiếng Anh; thực trạng quản lý hoạt độngdạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường SPTT tại Học viện QLGD 3.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theohướng tăng cường SPTT tại Học viện QLGD
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theohướng tăng cường SPTT tại Học viện QLGD
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếngAnh theo hướng tăng cường SPTT tại Học viện QLGD
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian và khả năng có hạn, đề tài tập trung nghiêncứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăngcường SPTT; tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theohướng tăng cường SPTT tại Học viện QLGD để từ đó đề xuất một số biệnpháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường SPTT tạiHọc viện QLGD trong giai đoạn hiện nay
6 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, công tác quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướngtăng cường SPTT tại Học viện QLGD đã đạt được một số kết quả nhất địnhsong vẫn còn nhiều bất cập Nếu lựa chọn, đề xuất và áp dụng được một sốbiện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường SPTTphù hợp với thực tiễn hiện nay thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học,nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao tại Học việnQLGD
Trang 97 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Sử dụng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, kháiquát hóa lí thuyết nhằm tổng quan các tài liệu về QLGD, SPTT, dạy họcngoại ngữ theo hướng tăng cường SPTT nhằm xây dựng các khái niệm công
cụ và khung lý thuyết cho đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra
Xây dựng và sử dụng phiếu điều tra để thu thập thông tin về thực trạnggiảng dạy và học tập tiếng Anh tại Học viện QLGD
- Phương pháp quan sát
Tổ chức quan sát các hoạt động dạy của GV tiếng Anh, hoạt động họccủa SV để thu thập thông tin về hoạt động dạy học tiếng Anh tại Học việnQLGD giai đoạn hiện nay
- Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia về tính cần thiết và tính khả thi của các biện phápquản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường SPTT
7.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu khác: Sử dụng phương pháp
thống kê toán học và một số phầm mềm để xử lý dữ liệu đã thu thập được
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụlục, nội dung chính của luận văn sẽ gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo
hướng tăng cường SPTT tại các cơ sở giáo dục đại học
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng
tăng cường SPTT tại Học viện QLGD
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo
hướng tăng cường SPTT tại Học viện QLGD trong giai đoạn hiện nay
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
TIẾNG ANH THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC
TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nước ngoài
Nghiên cứu về quan hệ tương tác giữa các yếu tố của hoạt động dạy vàhọc đã được đề cập từ rất sớm trong lịch sử giáo dục của nhân loại Khổng Tử(551 - 479 TCN) hay Socrate (469 - TCN) đã tỏ thái độ hết sức trân trọng đốivới người thầy giáo và đề cao vai trò tích cực, chủ động trong học tập củangười học khi mô tả hoạt động dạy học Các nhà giáo dục Liên Xô như: N.V.Savin, T.A Ilina, B.P Êsipốp, Iu.K Babanxki,… đã đánh giá tính chất nhiềunhân tố trong quá trình dạy học (ba nhân tố: Dạy - Nội dung - Học), khẳng
định mối quan hệ qua lại giữa hai yếu tố: Dạy và Học Tuy nhiên, vẫn chưa
bao quát hết chức năng và cấu trúc của từng yếu tố, chưa nêu rõ được cơchế tác động qua lại giữa các yếu tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học nênchưa có tác dụng phát huy hết tính tích cực, chủ động của học sinh trongquá trình dạy học
Hai tác giả Jean - Marc Denommé và Madeleine Roy trong tác phẩm
“Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” (Pour une pédagogie
interactive) đã đề cập tới một trường phái sư phạm tương tác cùng với nềntảng lý luận của nó Trong nghiên cứu của mình, những nhà lý luận dạy học
đã khẳng định yếu tố môi trường trong cấu trúc quá trình dạy học, theo đó, hệ
thống dạy học tối thiểu là sự tương tác của: người dạy - người học - môi trường đối với tri thức Như vậy, trong quá trình dạy học người dạy không tác
động trực tiếp đến người học mà thông qua một yếu tố trung gian đó là trithức Trong quá trình dạy học, người học là chủ thể hoạt động, còn kiến thức
Trang 11là đối tượng Yếu tố môi trường, theo nhóm tác giả này không phải là một yếu
tố tĩnh, bất động mà là một thành tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học; môitrường không chỉ ảnh hưởng đến người học mà quan trọng hơn là người họcphải thích nghi được với môi trường Quan điểm này đưa ra được các phươngtiện, công cụ để kích thích hứng thú - tình huống dạy học được lựa chọn kỹlưỡng, đặc biệt là cách thức tăng cường sự tương tác, hợp tác giữa người dạy
và người học trong môi trường dạy học để người học đạt được kết quả học tậpcao nhất
Những phân tích này cho thấy các tác giả đã xác nhận các yếu tố cơ bản
(hạt nhân) của SPTT là Người dạy - Người học - Môi trường, chức năng của
từng yếu tố và làm rõ các yếu tố trong quá trình dạy học Hai tác giả Jean
-Marc Denommé và Madeleine Roy đã thành công trong việc mô tả yếu tố môi trường một cách cụ thể và trực quan, nhưng lại chưa chỉ rõ bằng cách nào để
người dạy phát huy được tác động tích cực của môi trường đến người học vàhoạt động học Hai tác giả đã chỉ ra các thành phần không thể thiếu trong hoạtđộng dạy học theo quan điểm SPTT, đó là sự hứng thú, hợp tác và thànhcông, tuy nhiên lại chưa đề xuất phương tiện cụ thể để thực hiện các địnhhướng đó trong thực tiễn dạy học
Ngoài ra, một công trình nghiên cứu khác được nhiều người biết đến làcủa tác giả James G Clauson trường đại học Virginia xuất bản năm 2004.Ông đã đưa ra một hệ thống các biện pháp QLGD nói chung và quản lý việcdạy và học ngoại ngữ nói riêng, trong đó nhấn mạnh đến khâu dạy học ngoại
ngữ bằng phương pháp trực quan Theo ông: “Bản thân ngoại ngữ là rất phong phú, thú vị vì nó cung cấp cho ta những hiểu biết về con người, văn hóa, địa lý, chính trị của một dân tộc Ngoại ngữ không hề khô cứng, nó khô cứng do chính cái cách mà người dạy truyền tải nó”.[38, tr.2]
Trang 12Như vậy, có thể nói trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu vềQLGD nói chung, quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ nói riêng và hoạtđộng sư phạm tương tác Tuy nhiên, nghiên cứu kết hợp giữa quản lý hoạtđộng dạy học ngoại ngữ với hoạt động SPTT, vận dụng sư phạm tương táctrong dạy học ngoại ngữ cụ thể là tiếng Anh vẫn chưa có
1.1.2 Ở Việt Nam
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trongbối cảnh toàn cầu hóa Việt Nam gia nhập WTO năm 2006 là một bước điquan trọng trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới Nền kinh tế hơnbao giờ hết rất cần đến nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, có chất lượng
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới, nguồn nhân lực
có chuyên môn cao, tay nghề vững vàng, ngoại ngữ tốt để giao tiếp lại càngcần thiết và quan trọng Chính vì vậy mà trong Luật Giáo dục năm 2005 -
Điều 7 đã đề cập về vấn đề dạy ngoại ngữ: "Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần bảo đảm để người học được học liên tục và có hiệu quả".
Đề án: “Dạy và học Ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020 ” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 30 tháng 09
năm 2008 nêu rõ những mục tiêu cụ thể như: triển khai chương trình đào tạotăng cường môn ngoại ngữ đối với giáo dục đại học cho 100% SV vào năm
2020, phấn đấu có 5% cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước cótrình độ ngoại ngữ bậc 3 trở lên vào năm 2015 và đạt 30% vào năm 2020
Cùng với sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, nhiều hội thảo khoa học đãđược tổ chức nhằm thúc đẩy dạy học và đổi mới dạy học ngoại ngữ như
Hội thảo Quốc tế với chủ đề “Giáo dục ngôn ngữ và hội nhập” tổ chức
ngày 14, 15/11/2008 tại Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội,
Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT “Các giải pháp công nghệ và quản
Trang 13lý ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy - học” do trường Đại học
Sư phạm Hà Nội phối hợp với Dự án Giáo dục Đại học tổ chức ngày9,10/12/2006 tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội v.v… Các hội thảo trên
đã tập trung phân tích các yêu cầu, thực trạng và đề xuất các giải pháp dạyhọc ngoại ngữ trong thời kỳ hội nhập cũng như ứng dụng CNTT vào trongdạy học đặc biệt là dạy học ngoại ngữ
Bên cạnh đó, trong hướng nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy họctrong nhà trường, có thể kể tên một số đề tài đã được nghiên cứu như:
- Luận văn “Một số biện pháp quản lý của chủ nghiệm bộ môn đối vớihoạt động dạy học ngoại ngữ ở trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học TháiNguyên” của Hoàng Công Đình, 2004 Trường ĐHSP Hà Nội - TrườngCBQLGD&ĐT
- Luận văn “Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếngAnh của Bộ môn Ngoại ngữ trường Cao đẳng kỹ thuật y tế I” của Vũ ThịThuý, 2005 Trường ĐHSP Hà Nội - Trường CBQLGD&ĐT
- Luận văn “Các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm tăng cườnghoạt động SPTT trong nhà trường THPT ở thị xã Tuyên Quang” của NguyễnVăn Sơn, 2007 Học viện QLGD
- Luận văn “Một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy họcngoại ngữ ở trường Cao đẳng sư phạm TW của Vũ Hồng Ngọc, 2006 Họcviện QLGD
Trong các luận văn trên, các tác giả nhìn chung đều hướng về việc phântích quản lý hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ nói chunghoặc tăng cường hoạt động SPTT mà chưa có một công trình nghiên cứu nào kếthợp cả hai vấn đề với nhau, đó là quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theohướng tăng cường SPTT Bởi vậy, việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản
lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường SPTT là vô cùng quan
Trang 14trọng và cần thiết, nhất là đối với việc nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh tạicác cơ sở GDĐH trong giai đoạn hiện nay.
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Khái niệm “quản lý” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựatrên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau
Có thể tiếp cận khái niệm về “quản lý” theo các nhà nghiên cứu sau:
- Theo F.W.Tay lor (nhà quản lý người Mỹ 1856 - 1915) Ông cho rằng
“Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đóbằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.[5]
- Theo H.Fayol (1841-1925), kỹ sư người Pháp - Ông quan niệm:
“Quản lý hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểmtra”[4] và được thể hiện trên 14 nguyên tắc quản lý Trong học thuyết quản lýcủa mình H Fayol đưa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý là:
Dự báo và lập kế hoạch - Tổ chức - Chỉ huy - Phối hợp - Kiểm tra vàsau này được kết hợp thành 4 chức năng: Lập kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo -Kiểm tra
- Theo các tác giả Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ trong “Những vấn đềcốt yếu trong quản lý”: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mụctiêu quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định [11]
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang : “Quản lý là sự tác động có mụcđích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (kháchthể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.” [20, tr 14]
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lýnhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Với khái niệm trên quản lý bao gồm các điều kiện sau:
Trang 15- Phải có một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động, và một đốitượng bị quản lý phải tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra Tácđộng có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần.
- Phải có một mục tiêu đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này
là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
- Chủ thể có thể là một người, nhiều người, một thiết bị Còn đối tượng
có thể là con người (một hoặc nhiều người) hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết
bị, đất đai, thông tin, hầm mỏ…) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng)
Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Đó là tác động
có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thểquản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành
và đạt được mục đích của tổ chức [19]
Nói cách khác hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổchức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức,chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra Người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân
bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận haytoàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích
Chủ thể quản lý
Đối tượng bị quản lý
Mục tiêu
Trang 16Có thể nói có nhiều cách hiểu cũng như cách phân định khác nhau vềkhái niệm quản lý Tuy nhiên, nhìn chung các tác giả đều có một cách nhìntương đối thống nhất ở bốn chức năng chủ yếu, cơ bản của quản lý: Lập kếhoạch, Tổ chức, Chỉ đạo - Lãnh đạo và Kiểm tra
Sơ đồ 1.2: Các chức năng cơ bản của quản lý
* Kế hoạch hóa: Đó là xác định mục tiêu, mục đích cho những hoạt
động trong tương lai của tổ chức và xác định các biện pháp, cách thức để đạtđược mục đích đó
* Tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải
chuyển hóa những ý tưởng ấy thành những hoạt động hiện thực.Tổ chức làquá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộphận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch
và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Người quản lý phải phối hợp, điềuphối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức
* Lãnh đạo: Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình
thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫndắt tổ chức Đó là quá trình liên kết, liên hệ với người khác, hướng dẫn vàđộng viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của
tổ chức Tất nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch
và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó xuyên suốt trong hoạt động quản lý
* Kiểm tra: Đây là hoạt động theo dõi, giám sát các thành quả hoạt
động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết
Trang 17Như vậy quản lý là sự tác động có liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý (người bị quản lý) bằng việc sử dụng các phương tiện quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu quản lý.
1.2.2 Quản lý giáo dục và Quản lý nhà trường
1.2.2.1 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người và quản lý giáo dục làmột loại hình của quản lý xã hội Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lýgiáo dục
Theo Trần Kiểm, đối với cấp vĩ mô “QLGD là sự tác động liên tục, có
tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ratính trồi của hệ thống, sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của
hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiệnbảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động’’ [29, tr.37]
Trong quan điểm giáo dục hiện đại của các tác giả Nguyễn Quốc Chí Nguyễn Thị Mỹ Lộc, chỉ rõ: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kếhoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đếntất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hìnhthành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quyluật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triểnthể lực, trí lực và tâm lý của con người Chất lượng của giáo dục chủ yếu donhà trường tạo nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục phải nói đến quản lýnhà trường cùng với hệ thống quản lý giáo dục” [19, tr.71]
-Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoáVIII cũng đã viết: “quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý tớikhách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tớikết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [4]
Trang 18Từ những định nghĩa trên cho thấy: QLGD là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý
mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục ở các cơ sở giáo dục
1.2.2.2 Quản lý nhà trường
Trường học là hình thức thể hiện của hệ thống giáo dục trên quy môtoàn xã hội, là nơi diễn ra hầu hết các hoạt động giáo dục của hệ thống giáodục quốc dân
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động củacác cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS vàcác lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáodục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”.[27, tr.205]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợpnhững tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộkhác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hộiđóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọihoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thựchiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lêntrạng thái mới" [20, tr.43]
Vậy bản chất của hoạt động quản lý nhà trường là quản lý hoạt độngdạy học để đưa hoạt động này phát triển đi lên theo xu thế tất yếu của thời đại
và đạt tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo Trong đó cần lưu ý, quản lýnhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những những lí luậnchung của khoa học quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của
nó Quản lý nhà trường khác với việc quản lý các tổ chức hoạt động trong lĩnhvực sản xuất, kinh doanh và các tổ chức xã hội khác, bởi nhà trường là một tổchức đặc biệt, là nơi tạo ra những “sản phẩm” cũng hết sức đặc biệt, đó lànhân cách của con người
Trang 191.2.3 Quản lý hoạt động dạy học
Theo tác giả Phan Thị Hồng Vinh: “Quản lý các hoạt động dạy học vàgiáo dục là những hoạt động có mục đích, có kế hoạch của Hiệu trưởng đếntập thể GV, HS và những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằmhuy động họ tham gia, cộng tác, phối hợp trong các hoạt động của nhà trườnggiúp quá trình dạy học và giáo dục vận động tối ưu tới các mục tiêu dự kiến” [28]
Dạy học bao gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: hoạt động dạycủa GV và hoạt động học của HS Trong đó dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điềukhiển của GV, người học tự giác, tích cực, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt độnghọc tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học Trong hoạt độngdạy học, hoạt động dạy của GV có vai trò chủ đạo, hoạt động học của HS cóvai trò tự giác, chủ động, tích cực Hoạt động dạy của GV và hoạt động họccủa HS có liên hệ, tác động lẫn nhau Nếu thiếu một trong hai hoạt động đóviệc dạy học không diễn ra
Nội dung quản lý hoạt động dạy học:
- Lập kế hoạch: Xây dựng kế hoạch năm học, kế hoạch hoạt động củacác tổ, nhóm chuyên môn, các đoàn thể, hội cha mẹ học sinh
- Tổ chức: Hoàn thiện cơ cấu các tổ chức, huy động các nguồn nhânlực, vật lực, tài lực để thực hiện kế hoạch
- Chỉ đạo: Việc thực hiện mục tiêu chương trình dạy học, hoạt động bồidưỡng năng lực sư phạm cho GV, xây dựng nề nếp dạy học, đổi mới phươngpháp dạy học
- Kiểm tra đánh giá kết quả dạy học và việc thực hiện mục tiêu, kếhoạch dạy học
1.2.4 Phương pháp dạy học
Như chúng ta đã biết Phương pháp dạy học là một thành tố hết sứcquan trọng của quá trình dạy học vì nó quyết định trực tiếp đến chất lượngcũng như hiệu quả của quá trình này Cùng một nội dung dạy học trong những
Trang 20hoàn cảnh, điều kiện tương tự nhau nhưng sự hứng thú học tập, tính tự giác,tích cực của HS có thể không giống nhau vì còn phụ thuộc vào phương phápdạy học.
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Phương pháp dạy học là tổng hợp cáccách thức hoạt động phối hợp của GV và HS, trong đó phương pháp dạy chỉđạo phương pháp học, nhằm giúp HS chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học
và hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo thực hành sáng tạo” [27, tr.93]
Theo tác giả Thái Duy Tuyên các định nghĩa về Phương pháp dạy học
có thể tóm tắt dưới ba dạng sau đây:
- Theo quan điểm điều khiển học, Phương pháp dạy học là cách thức tổchức hoạt động nhận thức của HS và điều khiển hoạt động này
- Theo quan điểm lôgíc, Phương pháp dạy học là những thủ thuật lôgícđược sử dụng để giúp HS nắm kiến thức kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác
- Theo bản chất của nội dung, Phương pháp dạy học là sự vận động củanội dung dạy học [27, tr.107]
Từ những định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu Phương pháp dạy học là
tổ hợp các cách thức hoạt động của người dạy và người học trong những điềukiện nhất định nhằm đạt được mục đích dạy học
1.2.5 Đổi mới phương pháp dạy học
Theo quan điểm chung, đổi mới phương pháp dạy học là thay đổi cáchdạy và cách tổ chức hoạt động dạy học để phát huy tính sáng tạo, tích cực và
tự giác học tập của SV, giúp SV nâng cao khả năng tự học và biết cách vậndụng những tri thức đã lĩnh hội được vào trong thực tiễn cuộc sống Đổi mớikhông đồng nghĩa với sự thay đổi hoàn toàn cái cũ bởi cái mới Đổi mớiphương pháp dạy học không phải là thay đổi hoàn toàn phương pháp dạy học
cũ bằng những phương pháp dạy học mới mà đó là sự thay đổi trên cơ sở có chọnlọc, kế thừa và phát huy ưu điểm của các phương pháp dạy học trước đây
Trang 21Mục đích cuối cùng của việc đổi mới phương pháp dạy học đó là hướngtới hoạt động chủ động, chống lại thói quen dạy truyền thụ một chiều của GV,học thụ động của SV; tăng cường dạy cách tự học, tự tìm tòi sáng tạo cho SV.
Như chúng ta đã biết, quá trình dạy học là một chỉnh thể thống nhất baogồm nhiều nhân tố, các nhân tố của quá trình dạy học quy định, chế ước lẫnnhau Chẳng hạn: mục đích dạy học quy định nội dung dạy học, nội dung dạyhọc quy định phương pháp dạy học, đến lượt mình phương pháp dạy học lạiquy định các hình thức tổ chức và các phương tiện dạy học… Vì vậy khi tiếnhành đổi mới phương pháp dạy học cần phải đặt trong mối quan hệ biệnchứng với các nhân tố của quá trình dạy học
1.2.6 Biện pháp quản lý
Theo từ điển Tiếng Việt: “Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành một công việc cụ thể nào đó”.
Biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành của chủ thể quản
lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề trongcông tác quản lý, tức là người quản lý sử dụng các chức năng quản lý, công
cụ quản lý một cách khéo léo đem lại hiệu quả cao nhất cho từng tình huống
mà mình quản lý, làm cho quá trình quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thểquản lý đã đề ra Muốn làm được điều này đòi hỏi người quản lý phải có trình
độ về lý luận khoa học quản lý, có kinh nghiệm thực tiễn trong công tác quản
lý để có thể xây dựng được những biện pháp quản lý đem lại hiệu quả nhưmong muốn
1.3 Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các cơ sở GDĐH
GDĐH hay đào tạo đại học là một phần của hệ thống liên tục bắt đầu từgiáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên suốt đời.GDĐH đa dạng về chuyên môn, tính khoa học cao và có tính tự chủ đặc thù.Mục tiêu, nội dung và phương pháp được xác định trên cơ sở yêu cầu của
Trang 22phát triển KT&XH Sứ mạng cốt lõi của GDĐH là đào tạo nguồn nhân lực cóchất lượng, đào tạo những công dân có trách nhiệm và tạo cơ hội học tập suốtđời.
Trong thời đại hiện nay, GDĐH ngày càng có tính phổ quát, vai trò củatrường đại học trong xã hội hiện đại ngày càng cao GDĐH giúp SV nắmvững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả nănglàm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngànhđược đào tạo GDĐH là sự nghiệp chung, không chỉ được hiểu với nghĩa là tất
cả các thành phần trong xã hội tích cực đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực cho
sự nghiệp phát triển GDĐH mà còn được hiểu là mọi người được tạo cơ hộitiếp cận với học vấn đại học
1.3.1 Yêu cầu đối với hoạt động dạy học tiếng Anh tại các cơ sở GDĐH
Tiếng Anh là một môn học trong chương trình giảng dạy ở trường đạihọc Việt Nam SV các trường đại học đều phải học một ngoại ngữ (khôngtính các trường chuyên ngữ) Hiện tại, hầu hết các trường đều dạy tiếng Anh.Việc phát triển năng lực dạy học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêngcũng như quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh đóng vai trò quan trọng trongviệc nâng cao chất lượng đào tạo của trường
Tiếng Anh cũng như bất kì ngoại ngữ nào khác đều có chức năng làcông cụ giao tiếp, được thể hiện ở bốn dạng hoạt động cơ bản: nghe, nói, đọc,viết Do tính đa dạng kể trên của công cụ giao tiếp nên các yêu cầu cụ thể củangười học được xác định tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của họ Người học saukhi học xong chương trình đào tạo tiếng Anh ở trường đại học sẽ sử dụngtiếng Anh để phục vụ nhu cầu giao tiếp, tìm kiếm thông tin thông qua đọchiểu sách, báo khoa học thường thức phù hợp với trình độ học vấn
Yêu cầu của xu thế hội nhập quốc tế ngày nay đòi hỏi phải có mộtnguồn nhân lực chất lượng cao làm việc được trong một môi trường đa ngôn
Trang 23ngữ, đa văn hóa khiến cho việc dạy học ngoại ngữ nói chung và dạy học tiếngAnh nói riêng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trong hệ thống giáo dụcquốc dân, đặc biệt là trong giáo dục đại học Nhận định về những hạn chếtrong việc dạy và học ngoại ngữ hiện nay, dự thảo 5-7-2007 của Bộ Giáo dục
& Đào tạo trình Chính phủ Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2007 - 2015 có ghi: “Hiệu quả sử dụng ngoại ngữ của
SV, SV tốt nghiệp còn thấp Phần lớn SV cao đẳng, đại học chưa có khả năng
sử dụng ngoại ngữ để tham khảo, nghiên cứu tài liệu nước ngoài hoặc theohọc các chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài Trong môi trường làmviệc, đặc biệt trước yêu cầu hội nhập thì ngoại ngữ được xem như một điểmyếu kém của lực lượng lao động Việt Nam”
Xuất phát từ những yếu kém nêu trên, cùng với chủ trương đổi mớigiáo dục đại học của Chính phủ, Bộ GD&ĐT tạo đã có dự thảo ngày 5/7/2007trình Chính phủ Đề án đổi mới dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục
quốc dân với mục tiêu: “Đến năm 2015 nâng cao rõ rệt trình độ ngoại ngữ của một số đối tượng ưu tiên, đồng thời triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới đối với các cấp học và trình độ đào tạo, tạo điều kiện để đến năm 2020 tăng đáng kể tỷ lệ thanh thiếu niên Việt Nam có đủ năng lực sử dụng ngoại ngữ một cách độc lập và tự tin trong giao tiếp, học tập và làm việc trong môi trường đa ngôn ngữ, đa văn hóa phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước.”
Từ chủ trương lớn của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáodục đại học Việt Nam, chủ trương của Bộ GD&ĐT về việc chuyển từ quản lýđào tạo theo niên chế sang quản lý đào tạo theo tín chỉ và chủ trương đổi mớidạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân cùng với điều kiện thực
tế của các trường đại học, cao đẳng hiện nay đòi hỏi tất yếu phải có những
Trang 24biện pháp quản lý những hoạt động dạy học ngoại ngữ phù hợp với điều kiệnđổi mới.
1.3.2 Quản lý hoạt động dạy tiếng Anh tại các cơ sở GDĐH
Tại các cơ sở GDĐH, công tác quản lý hoạt động giảng dạy tiếng Anhcủa GV được thực hiện qua hai nội dung cơ bản: quản lý hoạt động giảng dạytrên lớp và quản lý hồ sơ chuyên môn của GV tiếng Anh
Quản lý hoạt động giảng dạy bao gồm một số nội dung cơ bản sau:
- Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy (nội dung, tiến trình)
- Quản lý giảng dạy trên lớp, vận dụng phương pháp dạy học và sử dụngphương tiện dạy học Hình thức dạy học tiếng Anh trên lớp đối với các cơ sởGDĐH hiện nay vẫn được coi là một trong các hình thức cơ bản và chủ yếucủa quá trình dạy học Vì vậy chất lượng của hoạt động dạy học phụ thuộc rấtlớn vào chất lượng của hoạt động dạy trên lớp của GV
- Quản lý việc thực hiện quy chế kiểm tra, đánh giá chất lượng Kiểm trađánh giá là khâu quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động dạy học.Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV là quá trình thu thập và xử lý thôngtin về trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập của SV, trên cơ sở đó
đề ra những biện pháp phù hợp giúp SV học tập tiến bộ
Quản lý hồ sơ chuyên môn của GV tiếng Anh:
- Quản lý hồ sơ chuyên môn của GV là phương tiện giúp người quản lýnắm chắc được tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của GV trong bộmôn, khoa đồng thời hồ sơ chuyên môn của GV là một trong những cơ sởpháp lý đánh giá việc thực hiện nề nếp chuyên môn của họ Hồ sơ cơ bản cầnphải có của mỗi GV gồm:
+ Chương trình phân môn được phân công giảng dạy;
+ Kế hoạch năm học: kế hoạch hoạt động chuyên môn chung của GV;+ Kế hoạch giảng dạy môn học;
+ Tập bài soạn;
Trang 25+ Sổ dự giờ;
+ Sổ theo dõi chuyên cần và điểm của SV;
+ Hồ sơ nghiên cứu khoa học;
+ Hồ sơ tự học, tự bồi dưỡng (kế hoạch, nội dung và tài liệu học tập)
1.3.3 Quản lý hoạt động học tiếng Anh tại các cơ sở GDĐH
Hoạt động học của SV là hoạt động song song cùng tồn tại với hoạtđộng dạy của GV Quản lý hoạt động học của SV là quản lý việc thực hiệncác nhiệm vụ học tập, nghiên cứu và rèn luyện nghề nghiệp của SV
Yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý hoạt động học tiếng Anh của SVtại các cơ sở GDĐH là phải làm cho SV có động cơ và thái độ đúng đắn tronghọc tập; có ý thức tự giác tìm tòi, nghiên cứu, chủ động lĩnh hội kiến thứctiếng Anh, rèn luyện các kỹ năng thực hành tiếng Anh và kỹ năng giao tiếp
Quản lý hoạt động học của SV bao gồm các nội dung cụ thể sau:
- Xây dựng động cơ học tiếng Anh cho SV: Động cơ học tập của SVcũng có nhiều thứ bậc khác nhau: bắt đầu từ nhu cầu phải hoàn thành nhiệm
vụ học tập, nhu cầu chiếm lĩnh các kỹ năng ngôn ngữ, tự khẳng định mình,cao hơn nữa là cơ hội việc làm và công danh sự nghiệp Động cơ là tiền đề, làđiều kiện cho hoạt động học tiếng Anh của SV Vì vậy, việc giúp cho SV cóđộng cơ và thái độ học tập tích cực, có ý thức tự giác tìm tòi, nghiên cứu, chủđộng lĩnh hội kiến thức là nội dung cơ bản, rất quan trọng của công tác quản
lý hoạt động học tiếng Anh của SV
- Quản lý phương pháp học tiếng Anh của SV: Tổ chức hướng dẫn SVhọc tập, tìm ra phương pháp học tiếng Anh phù hợp, hình thức rèn luyện kỹnăng thực hành tiếng Anh có hiệu quả và vững chắc Phương pháp học tập cóvai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập và kỹ năng nghềnghiệp cho SV Ngoài ra, cần hướng dẫn SV tự học, giúp SV làm quen vớiphương pháp và cách thức sử dụng PTKTDH trong khi học tiếng Anh
Trang 26- Xây dựng nội quy, quy định về hoạt động học tập cho SV: Quản lý nềnếp học tập là xây dựng và duy trì hệ thống những quy định về nề nếp học tậpcho SV nhằm rèn luyện cho SV có tính tự giác trong học tập, chấp hành tốtcác quy chế, nội quy do Học viện đề ra.
- Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động học tiếng Anh của SV:Việc xây dựng kế hoạch đầu tư CSVC, PTKTDH hiện đại trong dạy học tiếngAnh sẽ thu hút, kích thích học viên tham gia học tốt hơn Để tăng cường hiệuquả học tập cho SV cần phải đảm bảo điều kiện về CSVC như: lớp học,phòng tự học, thư viện, tài liệu tham khảo… và các trang thiết bị nhưcassette, đầu video, băng đĩa hình, máy tính, Internet…
Theo quy định của Bộ GD&ĐT, SV các trường không chuyên ngữ học
15 đơn vị học trình tiếng Anh, tương đương 225 tiết học Với thời lượng nhưvậy, đòi hỏi SV phải tự học ngoài giờ lên lớp rất nhiều để có thể sử dụngtiếng Anh thành thạo trong giao tiếp và để đọc hiểu các tài liệu tham khảochuyên ngành bằng tiếng Anh Để đạt được các mục tiêu trên, công tác quản
lý quá trình tự học tiếng Anh của SV phải được quan tâm và thực hiện tốt.Ngoài giờ học trên lớp, SV có thể tự học tiếng Anh ở nhiều nơi khác nhưgiảng đường, phòng tự học, thư viện, phòng ở tại khu ký túc xá, tại nhà Địađiểm tự học tiếng Anh đa dạng dẫn tới công tác quản lý hoạt động tự họctiếng Anh của SV gặp nhiều khó khăn Để hạn chế những khó khăn này, cầntạo ra cơ chế mới, thích hợp để khuyến khích SV tự học tiếng Anh như đàotạo theo tín chỉ
1.3.4 Quản lý các điều kiện phục vụ dạy học tiếng Anh
Các điều kiện phục vụ hoạt động dạy học tiếng Anh chính là CSVC nóichung và PTKTDH nói riêng Đây là các điều kiện có ảnh hưởng rất nhiều tớihiệu quả của hoạt động dạy học Để tăng cường hiệu quả hoạt động dạy họcthì phải đảm bảo điều kiện về CSVC như các giảng đường với trang thiết bịđầy đủ, phòng tự học, thư viện, tài liệu, giáo trình và các trang thiết bị cho SV
Trang 27tự học tiếng Anh như cassettle, đầu video, CD, VCD, các chương trình dạytiếng Anh, các phần mềm học tiếng Anh…
Quản lý CSVC và PTKTDH phục vụ cho dạy học tiếng Anh đảm bảođược các yêu cầu liên quan mật thiết với nhau, đó là: tổ chức quản lý tốt, đảmbảo đầy đủ và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện
kỹ thuật phục vụ hoạt động dạy học trong nhà trường
Nội dung quản lý CSVC và PTKTDH thực chất là quản lý các việc sau:
- Xây dựng kế hoạch, nguồn kinh phí để đầu tư trang bị, mua sắmCSVC và PTKTDH phù hợp với các yêu cầu và đặc thù của hoạt động dạyhọc tiếng Anh
- Quản lý việc tổ chức bồi dưỡng kỹ năng sử dụng hiệu quả CSVC vàPTKTDH nhằm khai thác và tận dụng tối đa tiện ích của của các PTKTDHhiện đại mang lại
- Quản lý bảo quản CSVC và PTKTDH (trường lớp, phòng học, bànghế, bảng, máy tính v.v )
1.4 Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường sư phạm tương tác tại các cơ sở GDĐH
1.4.1 Khái niệm Sư phạm tương tác
Sư phạm tương tác (SPTT) được hiểu theo nhiều nghĩa Có quan niệmcho rằng SPTT là một tư tưởng, một triết lý trong dạy học hoặc là phươngpháp dạy học, quan niệm khác lại cho rằng là một kiểu dạy học hay thậm chí
là hình thức tổ chức dạy học Theo tác giả, đây chỉ là những cách hiểu khácnhau khi xem xét theo các góc độ về một vấn đề Tuy nhiên, tựu chung lại,xem xét SPTT như là một hoạt động theo nghĩa rộng có thể sẽ hợp lý hơn
Theo tiếng Hy Lạp, từ “sư phạm” có nguồn gốc xuất phát từ một danh
từ và một động từ có nghĩa là “hướng dẫn một đứa trẻ” Nguồn gốc của từ chỉ
ra rằng có sự tham gia của hai nhân vật: người hướng dẫn và người được
Trang 28hướng dẫn Ngày nay, người ta đồng hoá một cách ngẫu nhiên vào người dạy
sư phạm là khoa học về giáo dục, còn tương tác là sự tác động qua lại.
Thực tế trong quá trình hoạt động giáo dục, người dạy và người học
phát triển với những tính cách cá nhân trong một môi trường (MT) rất cụ thể
ảnh hưởng đến hoạt động của họ Vì vậy, MT trở thành một tác nhân tham giatất yếu và là nhân tố chính thứ ba trong hoạt động sư phạm
Đứng về quan điểm này và cho rằng những ảnh hưởng của yếu tố MTđến người học và người dạy còn bị đánh giá hạn chế, các tác giả Jean - Marc
Denommé và Madeleine Roy (Canada) đưa ra hoạt động với tên gọi SPTT; chứng tỏ rằng bộ ba các nhân tố người dạy, người học và MT là tập hợp các
tác nhân chính tham gia vào quá trình dạy học bằng việc mô tả vai trò riêngcủa từng nhân tố và và mối quan hệ giữa chúng
Theo các tác giả, SPTT là một cách nhìn mới về hoạt động dạy và hoạtđộng học Đó là sự thiết lập một cấu trúc tư duy - cách thức phối hợp giữangười dạy, người học và MT để người học đạt được kiến thức trên nền tảngvững chắc có tính khoa học và mang tính tự nhiên SPTT chính là một cáchtiếp cận xoay quanh vai trò người học, người dạy và MT
Như vậy SPTT là cách tiếp cận hoạt động dạy học, trong đó nhấn mạnh các mối quan hệ biện chứng giữa ba nhân tố người học, người dạy và
MT trong hoạt động giáo dục.
Trang 291.4.2 Đặc điểm cấu trúc của Sư phạm tương tác
Cấu trúc của SPTT xem xét cơ chế tương tác trong mối quan hệ tam
giác: Người dạy - Người học - Môi trường Các yếu tố này tác động qua lại
với nhau, tương tác với nhau nhằm đạt mục dạy học đề ra
1.4.2.1 Người dạy
Theo quan điểm truyền thống, người thầy giảng dạy thông qua truyềnđạt kiến thức đơn thuần theo cách thầy đọc, tìm hiểu kỹ lưỡng một bài giảngtrước học trò hay theo một cách nào đó, người dạy có xu hướng phổ biếnkhoa học, hay truyền đạt một chân lý
Tuy nhiên theo quan điểm SPTT, người dạy là người tổ chức, địnhhướng và giúp đỡ người học Sự uyên bác về tri thức, trình độ văn hoá cao vàphong cách, giá trị của người dạy sẽ tạo động lực cho người học hứng thú họctập, kích thích người học tích cực trong hoạt động học Người dạy chỉ chongười học cách tìm ra chân lý, tạo điều kiện cho người học tích luỹ phươngpháp hành động, khả năng thực hiện các công việc trong suốt cả cuộc đời,giúp họ trưởng thành Có thể khẳng định chức năng chính của người dạy làgiúp đỡ người học
Người dạy là người người hướng dẫn, lập kế hoạch trong công việc
Xây dựng kế hoạch là việc làm bắt buộc và không thể thiếu để ngườidạy giúp đỡ một cách tốt nhất cho người học trong việc thu lượm tri thức mới.Nhiệm vụ xây dựng kế hoạch là xác định trước một định hướng cho cả quátrình học của người học cũng như phương pháp sư phạm của người dạy
Song song với việc lập kế hoạch, nắm vững chương trình dạy, ngườidạy cũng cần tìm hiểu được đối tượng người học của mình, biết rõ những điềukiện người học đã biết khi bắt đầu học hoặc bắt đầu bài học mới Từ đó,người dạy biết những điều kiện nào mà người học cần có để có biện pháp
Trang 30khắc phục trước khi dạy kiến thức mới Điều này là cho mối quan hệ giữangười dạy và người học có hiệu quả hơn.
Người dạy là người hỗ trợ, giúp đỡ người học trong quá trình dạy học
Người dạy luôn hợp tác và chia sẻ các khó khăn với người học trongquá trình dạy học Người dạy đặt vị trí của mình vào vị trí người học, cảmnhận và thông hiểu các vấn đề người học vướng mắc; từ đó đề xuất và trợgiúp các phương hướng khả thi giải quyết vấn đề
Người dạy luôn tạo điều kiện và môi trường thân thiện trong hoạt độnghọc của người học Người dạy sẵn sàng tư vấn cho người học trong học tậpnhưng không thay thế người học giải quyết công việc Bên cạnh đó, ngườidạy có trách nhiệm dự báo cho người học những khó khăn phía trước phảivượt qua và người dạy phải xây dựng chiến lược hỗ trợ cho người học
Người dạy là người tạo điều kiện trong hoạt động dạy học
Người dạy là người điều phối các hoạt động dạy học, điều hoà các mốiquan hệ giữa người dạy và người học Trong quá trình học của người học,người dạy thể hiện vai trò người tạo điều kiện bằng việc tạo động lực chongười học và giúp họ thành công Người học có đặc điểm tâm lý và nhân cáchkhác nhau, người dạy cần biết và hiểu điều này để giải thích các hành vi vàmức độ nhận thức khác nhau của mỗi người học, tạo nên sự tương tác hiệuquả giữa người dạy và người học
Người dạy trong vai trò là người tạo điều kiện cho người học không chỉtạo động lực cho người học mà còn tạo điều kiện cho người học thành côngtrong tất cả các môn học
Trang 31Theo quan điểm hiện đại, người học tự giác, tích cực, độc lập chiếmlĩnh tri thức Người học chủ động tiếp nhận tri thức, không ghi nhớ chúng mộtcách thụ động, máy móc Người học là chủ thể của hoạt động học, tự khámphá tri thức trên cơ sở những kinh nghiệm sống của bản thân hoặc cùng hợptác với các thành viên khác trong tập thể.
Theo quan điểm SPTT đòi hỏi người học phải là người thợ chính trongquá trình học của mình Người học cần thể hiện thái độ hứng thú ngay khi bắtđầu việc học và có hành vi tham gia tích cực liên tục, có trách nhiệm trongsuốt quá trình học
* Sự hứng thú của người học phụ thuộc rất nhiều vào nội dung môn học
và người dạy Nội dung môn học phong phú, có nhiều vấn đề đòi hỏi ngườihọc phải động não, đồng thời khả năng sư phạm tốt của người dạy, điều phốigiờ học một cách khoa học và dân chủ, kích thích sự sáng tạo của người học.Người học sẽ thực sự hứng thú trong học tập nếu những kiến thức thực sự có
ý nghĩa và đem lại lợi ích cho bản thân
Ngược lại, người học tự tạo cho mình hứng thú đối với môn học bằngcách thấy được tầm quan trọng và lợi ích của nội dung học trong cả hiện tại
và tương lai Từ đó tạo tâm thế phấn khởi, say mê đi vào nghiên cứu, tìm hiềunhững kiến thức cần thu lượm
Sự hứng thú ở một phương diện rộng hơn, đó là lòng tin Người học tựtin trong việc học sẽ giúp họ học hỏi được nhiều hơn, tự tạo cho mình độnglực và vượt qua rào cản đầu tiên trong quá trình lĩnh hội tri thức
* Những trải nghiệm của người học liên quan đến vốn kinh nghiệm
sống và kiến thức tích lũy theo thời gian của người học Vấn đề này ảnhhưởng trực tiếp đến hoạt động học Từ những trải nghiệm đã qua làm phongphú cho vốn kinh nghiệm của người học, từ đó tạo điều kiện thuận lợi tronghoạt động học tập cho người học; và ngược lại, những tri thức mà người họcthu nhận trong nhà trường sẽ được áp dụng vào trong thực tiễn cuộc sống
Trang 32* Các giá trị kích thích sự hứng thú và điều tiết mối quan hệ tương tác
giữa người học trong tập thể lớp học Các giá trị phụ thuộc vào xã hội, nềnvăn hoá, tôn giáo, kinh nghiệm của cá nhân và môi trường sống của ngườihọc Những giá trị này được kế thừa từ truyền thống gia đình, từ nhà trường
và xã hội, từ các điều kiện vùng miền tự nhiên nơi người học sinh sống và họctập Người học chịu ảnh hưởng của các giá trị truyền thống và sẽ có nhữngđiều chỉnh phù hợp với cuộc sống hiện tại
Tóm lại: Nhà quản lý phải đề ra giải pháp sao cho người học luôn biếtvận dụng và phát huy hết các giá trị của mình để tham gia liên tục vào quátrình học tập của mình một cách chủ động, bền bỉ và luôn tích cực giải quyếtvấn đề đồng thời tận dụng trải nghiệm vào trong việc học Sự hứng thú, sự trảinghiệm cùng với các giá trị là ba yếu tố không thể thiếu được để người họchọc thực sự
MT thường là toàn bộ các yếu tố và các điều kiện xung quanh và ảnhhưởng đến con người Tuy nhiên nhiều công trình nghiên cứu về Tâm lý học,Giáo dục học, Lý luận dạy học trước đây lại ít quan tâm và đánh giá thấp ảnhhưởng của MT đến hoạt động học và phương pháp tiến hành sư phạm; MTthường chỉ được đề cập đến như những yêu cầu của xã hội đặt ra cho giáodục, cho nhà trường hoặc các điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến nhàtrường và người dạy Khi nói tới MT, các tác giả thường chỉ quan tâm đếnyếu tố bên ngoài, nhưng ở đây tác giả Jean - Marc Denommé và MadelenieRoy còn chỉ ra các yếu tố bên trong của người dạy và người học Đó là tiềm
Trang 33năng xúc cảm, giá trị, vốn sống, phong cách, nhân cách Rõ ràng tác giả muốnthể hiện mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố bên trong và bên ngoài, khẳngđịnh vai trò chủ động của người học và người dạy trước những tác động từbên ngoài [35, tr.46]
MT theo quan điểm SPTT được hai tác giả mô tả một cách tường minh,khá phong phú Người dạy và người học không phải là những sinh vật trừutượng, xung quanh họ là thế giới vật chất, xã hội và văn hoá Cả người học vàngười dạy đều có một tính cách rõ rệt và các giá trị cá nhân được phát triểndưới sự ảnh hưởng của các yếu tố: cơ chế chính trị, xã hội, nhà trường và giađình Như vậy, MT được hai tác giả xem xét dưới nhiều bình diện khác nhau:
MT vật chất và MT tinh thần, MT rộng và MT hẹp, MT bên trong và MT bênngoài, tất cả tạo thành MT của người dạy và người học MT là tác nhân có thểgây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến cả người dạy và người học
MT bên ngoài: chỉ các yếu tố bên ngoài người học, người dạy như: MT
(không gian vật chất và tâm lý, thời gian, ánh sáng,…), người dạy (hình thứcbên ngoài, đời sống nội tâm, kỹ năng giao tiếp,…) ảnh hưởng tới người học.Người học, đặc biệt là tập thể SV với không khí học tập thi đua của lớp ảnhhưởng tới người dạy, nhà trường, tính di truyền, tập tính của cha mẹ, nhữnggiá trị truyền thống, sự quan tâm của bố mẹ, xã hội, chế độ chính trị, hệ thốngđịnh hướng, chính sách kinh tế - xã hội,
Cụ thể hơn, MT trong dạy học tiếng Anh cần được hiểu là các tìnhhuống dạy học do GV tạo ra cho SV hoạt động, cải biến và thích nghi Căn cứvào tính chất của nội dung tri thức và khả năng của SV trong tình huống lớphọc cụ thể, GV xây dựng tình huống Trong từng tình huống dạy học ấy, cácnhiệm vụ nhận thức và cả các điều kiện, phương tiện cần thiết để giải quyếtcác nhiệm vụ nhận thức đều đã được GV trù liệu, cân nhắc kĩ lưỡng và chuẩn
bị trước cho SV
Trang 34Những nhiệm vụ nhận thức được đề xuất một cách hợp lí trong từngtình huống dạy học nhanh chóng được SV nhận thức và tự giác thực hiệnbằng việc chủ động huy động và sử dụng một cách hiệu quả tất cả các điềukiện bên trong (như động cơ học, tri thức, kĩ năng, vốn sống được hình thànhtrước đó, tình cảm và ý chí), và các điều kiện bên ngoài (như tài liệu học tập,thời gian và các thiết bị kĩ thuật, sự giúp đỡ của GV, của bạn cùng học vànhững người lớn khác ), kết quả là họ lĩnh hội được tri thức, kĩ năng củamôn học và nhiều giá trị khác Từ sự phân tích này, tình huống dạy học màcốt lõi là các nhiệm vụ nhận thức được GV đề xuất một cách hợp lí trở thànhmột yếu tố trung tâm của MT dạy học Nhiệm vụ học tập đã chuyển tất cácyếu tố, các điều kiện khác của MT vốn đã tồn tại xung quanh người họcnhưng ở thể tĩnh sang thể động vì khi đó chúng được người học huy động,khai thác phục vụ cho việc giải quyết nhiệm vụ học tập - nhận thức.
MT bên trong: chỉ rõ sức mạnh nội tại của người học và người dạy, tạo
sức ép lên quá trình học và phương pháp sư phạm Đó chính là nguồn nănglượng bên trong làm dễ dàng hoặc gây bất lợi cho hoạt động sư phạm Môitrường bên trong bao gồm: tiềm năng trí tuệ, xúc cảm, giá trị, vốn sống,phong cách học và dạy, tính cách
MT có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến người dạy và ngườihọc và hoạt động của họ Sự ảnh hưởng này đến từ nhiều phía, có khi ảnhhưởng từ một yếu tố, có khi ảnh hưởng cộng hưởng của nhiều yếu tố một lúclàm cho tác động của MT được gia tăng và phức tạp hơn đến người học và tácđộng sư phạm của người dạy
Có thể nói những đòi hỏi của MT buộc người học và người dạy phảithích nghi, qua đó làm phát triển chính họ (sắp xếp lại hệ thống giá trị, kinhnghiệm, nâng cao vốn sống,…) Người dạy và người học có thể thay đổi được
MT Điều này được thể hiện ở sự tác động qua lại, tương hỗ giữa người dạy,người học và MT; hành động của người này gây nên phản ứng của người kia
Trang 35Người dạy với phong cách dạy của mình tác động lên người học làm chongười học thay đổi phong cách học của mình Như vậy, MT là tập hợp củanhiều nhân tố và các giá trị khác nhau Các nhân tố và giá trị này tác độngtrực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động dạy và học.
1.4.3 Tăng cường sư phạm tương tác
Quan điểm SPTT đặc biệt làm gia tăng giá trị các mối quan hệ tác độngqua lại giữa ba tác nhân người dạy, người học và MT Sự tham gia đa dạngcủa ba tác nhân: người học, người dạy và MT là nguồn gốc của các quan hệnăng động giữa chúng Đó cũng chính là yếu tố đặc trưng nhất của quan điểmSPTT
Do đó, tăng cường SPTT là tập trung xây dựng và phát huy tối đa cáctương tác trong hoạt động sư phạm Trong thực tế dạy học chúng ta nhận thấycác dạng tương tác sư phạm sau:
* Tương tác Người dạy - Người học là sự tương tác thể hiện tính chất
hai mặt của quá trình dạy học Hoạt động dạy và hoạt động học diễn ra đồngthời và song song Mối quan hệ biện chứng này mang sự tương tác qua lại:người dạy thiết kế - người học thi công Hoạt động tương tác hướng vàongười học, đề cao vai trò chủ động, tích cực của người học dưới vai trò tổchức, điều phối của người dạy
Do vậy, muốn tăng cường SPTT trước tiên người dạy phải đóng vai tròhướng dẫn và điều phối các hoạt động, còn người học tích cực chủ động thamgia giải quyết các vấn đề của bài học Các hoạt động như thảo luận hay hợptác nhóm; tìm kiếm và thu thập thông tin để giải quyết vấn đề trong các dự án;động não của người học nhằm phát triển tư duy phê phán luôn được triển khaitrong các giờ học Chính thông qua các hoạt động này, tương tác giữa ngườidạy và người học được nhìn nhận theo lý thuyết dạy học hiện đại: người dạy
là người điều khiển, người học là người tự điều khiển trong quá trình dạy học
Trang 36Người dạy không truyền thụ tri thức có sẵn cho người học mà dạy cho ngườihọc cách thức tìm ra tri thức đó.
* Tương tác Người học - MT đóng vai trò quan trọng trong quá trình
phát triển trí tuệ và hình thành phẩm chất đạo đức cho người học Thực tiễngiáo dục cho thấy, mối quan hệ giữa người học và MT được biểu đạt dướinhiều góc độ khác nhau
Về tự nhiên, MT tác động đến người học bởi các điều kiện về khí hậu,vùng miền, về các điều kiện địa lý nới người học sinh sống và học tập Vềkhông gian, MT tác động đến người học mọi nơi, mọi chỗ: trong gia đình, nơisinh sống, nhà trường và các lớp học, trong xã hội trên bình diện rộng nhất.Các địa điểm không gian khác nhau sẽ ảnh hưởng và tương tác với người họckhác nhau Về thời gian, MT tác động đến người học từng khoảnh khắc tronggiờ học Sự biến đổi của thời gian gắn liền với sự biến đổi của lịch sử, tácđộng vào người học và làm biến đổi quan niệm, tư duy của họ
* Tương tác Người dạy - Người học - MT là sự tác động qua lại toàn
diện giữa ba yếu tố trong sư phạm học Điều cần lưu ý ở đây đó là yếu tố MTđược nghiên cứu xem xét ở trạng thái động, luôn có xu hướng biến đổi và tácđộng từ nhiều phía đến người dạy và người học Trong mối quan hệ tương tác
này, gia đình là MT đầu tiên của người học, có ảnh hưởng lớn đến nhân cách
bởi các yếu tố khác nhau như: di truyền, phong tục tập quán, điều kiện kinh
tế, các giá trị gia đình, sự khuyên bảo của bố mẹ Bên cạnh đó, nhà trường
đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của người học và người dạy Nhàtrường là một xã hội thu nhỏ của người học Đây là nơi dạy cho người họcnhững bước đầu tiên làm người MT nhà trường là nơi hình thành và rènluyện nhân cách của người học Tương tác giữa gia đình và nhà trường làbước khởi đầu tương tác khi người học bắt đầu hoạt động học của mình
Một điểm khác nữa cần lưu ý nếu muốn tăng cường tác động tích cực
của MT đó là MT lớp học - MT thu nhỏ trong nhà trường mà hoạt động sư
Trang 37phạm diễn ra trong đó Nó bao gồm các vấn đề về không gian, thời gian, ánhsáng, âm thanh, sự bố trí sắp xếp trong lớp học Chúng tác động trực tiếp tớingười dạy và người học trong hoạt động dạy học Bởi lẽ đó, người dạy cần tạo
ra MT dạy học thân thiện và an toàn, còn người học hưởng ứng MT học tậptích cực và hướng đến chất lượng và hiệu quả của mục đích học tập đề ra
Cuối cùng, tăng cường SPTT đòi hỏi các nhà quản lý nhận thức rõ tác
động của của MT xã hội đối với người dạy và người học thông qua các thể
chế chính trị, chính sách của Nhà nước, các định hướng cải cách giáo dục,luật giáo dục Những tác động từ MT vật chất, MT tinh thần, MT giáo dục sẽluôn thâm nhập vào hoạt động tương tác của người dạy và người học
1.4.4 Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường sư phạm tương tác tại các cơ sở GDĐH
1.4.4.1 Quản lý thiết kế kế hoạch bài học nhằm tổ chức hoạt động nhận thức cho SV theo hướng tăng cường sư phạm tương tác
Trong hoạt động dạy học tiếng Anh, tương tác giữa GV với MT là việcsắp xếp tư liệu, qua đó cung cấp tư liệu và tạo tình huống cho các hoạt độngcủa SV; tương tác của GV tới SV là sự định hướng của GV tới hành động của
SV đối với tư liệu, sự tương tác trao đổi giữa các SV với nhau và những thôngtin liên hệ ngược từ phía SV; tương tác của SV với tư liệu hoạt động dạy học
là sự thích ứng của SV với tình huống học tập đồng thời cũng là hành độngchiếm lĩnh, xây dựng kỹ năng thực hành tiếng Anh cho bản thân, qua đó cũngmang lại cho GV những thông tin ngược cần thiết; Tương tác giữa SV vớinhau và giữa SV với GV thông qua trao đổi thảo luận nhờ đó từng cá nhântranh thủ sự hỗ trợ từ phía GV và tập thể SV trong quá trình học tiếng Anh
Để chuẩn bị đầy đủ tư liệu dạy học, đề xuất các tình huống học tập phùhợp nhằm cụ thể hóa và tăng cường các mối quan hệ tương tác giữa GV - SV
- MT trong quá trình dạy học tiếng Anh, nhà quản lý phải đưa ra một số định
Trang 38hướng sau cho GV tiếng Anh trong công tác chuẩn bị, thiết kế giáo án dạyhọc Ngoài yêu cầu phải đảm bảo tuân thủ đầy đủ cấu trúc một giáo án dạyhọc tích cực như: mục đích, yêu cầu của bài học gồm kiến thức, kỹ năng, thái
độ (KAS); chuẩn bị PTKTDH gồm PTKTDH truyền thống và PTKTDH hiệnđại; những phương pháp, biện pháp sẽ được phối hợp sử dụng trong quá trìnhgiảng dạy; tiến trình dạy học: giải quyết các nhiệm vụ nhận thức, các khâutrong thiết kế giáo án dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường SPTT phảiđảm bảo thực hiện được các nội dung cơ bản sau:
- Khâu chuẩn bị: Trước khi thiết kế kế hoạch bài học, GV cần tìm hiểu
kiến thức đã có của SV về nội dung bài sắp học, trình độ tiếng Anh của SV,
GV phải nắm vững kiến thức về bài sắp dạy, xác định rõ kiến thức nào là kiếnthức mà SV phải khám phá, phải chuẩn bị kĩ các phương tiện dạy học có liênquan đến bài dạy
- Khâu tìm hiểu thăm dò: Để giúp SV đạt được các mục tiêu học tập đề
ra, GV phải dựa vào kiến thức, kỹ năng thực hành tiếng Anh vốn có của SV,chính xác hóa một số kiến thức (vốn từ mới, ngữ pháp, cấu trúc ) và kỹ năng(nghe, nói, đọc, viết ) liên quan đến nội dung học tập để tạo cơ sở cho SVlĩnh hội các nội dung kiến thức mới Trong hoạt động tìm tòi, GV phải thiết
kế tình huống có vấn đề, các hoạt động thảo luận hoặc đặt các câu hỏi mở liênquan đến kiến thức vốn có đồng thời kích thích sự tìm tòi, luyện tập hìnhthành kỹ năng và phù hợp với điều kiện thực tế, năng lực thực hành của SV
- Khâu đặt tình huống: Khi thiết kế giáo án, GV cần phân bổ thời gian
nhằm tạo điều kiện cho SV đặt câu hỏi về tình huống cần tìm hiểu Câu hỏicủa SV thường dựa trên vốn kiến thức có sẵn và hướng tới nhận thức nhữngvấn đề có ý nghĩa thực tiễn, gần gũi đối với họ Đặc biệt, loại câu hỏi phủđịnh hoặc khẳng định thường được áp dụng trong giai đoạn này Việc ra cácbài tập tình huống như vậy thực chất là việc đề ra một loạt giả thuyết, hay nói
Trang 39cách khác nhằm tạo ra MT để SV có cơ hội vận dụng kiến thức, kỹ năng sẵn
có nhằm giải quyết vấn đề
- Lựa chọn câu hỏi để tăng cường tương tác: Các câu hỏi SV đặt ra
càng nhiều chứng tỏ SV tích cực tham gia vào quá trình suy nghĩ giải quyếtvấn đề Song để đạt được kiến thức đã định, bằng cách tiếp cận trao đổi,tương tác, GV thảo luận và phân tích cùng SV để lựa chọn những câu hỏi cóliên quan đến chủ đề bài học mà có thể khám phá trong điều kiện cho phép.Công việc này đòi hỏi GV phải xử lí nhanh, tế nhị
- Báo cáo kết quả thảo luận: Đây cũng là một yêu cầu rất quan trọng
của dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường SPTT Trong khi thiết kế bàihọc, GV cần thiết kế thời gian cho phần trình bày kết quả thảo luận của cácnhóm, yêu cầu đại diện các nhóm báo cáo công việc đã làm và các kết luận rút
ra được từ những công việc đó Thông qua hoạt động thuyết trình, SV sẽ nắmđược các nội dung bài học, định hướng nhận thức thông qua góp ý của GV,các SV khác, đồng thời phản hồi lại những góp ý, nhận xét đó để tìm ra đượcnhững kiến thức đúng Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động thảo luận, traođổi, trình bày kết quả, SV rèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, trình bàybằng tiếng Anh Yêu cầu đối với GV trong hoạt động này là cùng SV trao đổi,thảo luận, so sánh kết quả khám phá của các nhóm, sau đó GV trình bày nộidung chính xác của bài học Thông qua hình thức này SV sẽ tự điều chỉnh, bổsung nhận thức của bản thân và nắm bắt kiến thức cần đạt
- Ứng dụng CNTT&TT: GV khi thiết kế giáo án cần khai thác tối đa
tiện ích của CNTT&TT làm tăng tính hấp dẫn của bài học cho SV, tiết kiệmthời gian để dành cho các hoạt động thảo luận, tương tác khác GV lựa chọn
và chắt lọc kỹ các nội dung có thể ứng dụng CNTT&TT cụ thể như các hìnhảnh, video clip minh họa đi kèm các nội dung kiến thức giúp SV quan sát vànắm bắt trực tiếp và nhanh nhất Tuy nhiên, GV cần điều chỉnh mức độ ứngdụng CNTT trong khi thiết kế kế hoạch bài học của mình cho phù hợp vừa tạo
Trang 40hiệu quả tương tác với kiến thức vừa đảm bảo hợp lý thời gian cho các hoạtđộng của bài học.
1.4.4.2 Quản lý công tác đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên GV tiếng Anh
Con đường đi cơ bản và chủ yếu để duy trì và không ngừng nâng caonăng lực, phẩm chất nguồn nhân lực trong bất kì tổ chức nào là tổ chức hoạtđộng đào tạo bồi dưỡng Theo GS Hồ Ngọc Đại: “Chừng nào chúng ta coitrong việc đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng đội ngũ GV thì chúng ta mới cónhiều chuyên gia giỏi để đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước” [13, 550]
Do đặc thù công việc, GV tiếng Anh phải thường xuyên được bồidưỡng để hoàn thành nhiệm vụ và nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn.Công tác bồi dưỡng càng được quan tâm thì càng tạo sự năng động, sáng tạocho GV Nhằm nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh theo hướng tăngcường SPTT, yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý hoạt động đào tạo, bồidưỡng cho đội ngũ GV tiếng Anh tại các cơ sở GDĐH cần chú ý một số nộidung sau:
- Có kế hoạch tuyển dụng, đào tạo GV tiếng Anh đủ về số lượng, đạtchuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu của hoạt động dạy học tiếng Anh theomục tiêu đã đề ra
- Quyết định cử GV tiếng Anh đi học đạt trình độ chuẩn theo quy định,
đi học sau đại học nhằm nâng cao tỷ lệ GV tiếng Anh đạt chuẩn và trên chuẩnhướng tới hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, tháiđộ ở mức cao hơn để hình thành nhân cách ở mỗi cá nhân
- Tổ chức bồi dưỡng GV tiếng Anh theo chu kỳ về chuyên môn vànghiệp vụ sư phạm thông qua các hình thức: bồi dưỡng kiến thức về SPTT,bồi dưỡng kỹ năng soạn giáo án, bồi dưỡng sử dụng PTKTDH hiện đại nhưmáy tính, máy chiếu, bảng thông minh, phần mềm dạy học tiếng Anh đểđáp ứng yêu cầu dạy học theo chương trình cũng như những đòi hỏi của việcđổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh theo hướng tăng cường SPTT