1. Lý do chọn đề tài Để đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập với tiến trình phát triển của thế giới, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, coi trọng công tác giáo dục và đào tạo. Ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, phát triển giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Trong những năm qua, mặc dù điều kiện đất nước và ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn nhưng được sự quan tâm của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, tỷ trọng ngân sách dành cho giáo dục và đào tạo trong tổng chi ngân sách nhà nước đã tăng lên đáng kể: năm 2007, tỷ trọng chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục và đào tạo là 19,4% thì bắt đầu từ năm 2008 đến nay, hàng năm đã được Quốc hội phê chuẩn dành 20% ngân sách để chi cho giáo dục và đào tạo. Cùng với việc tăng chi ngân sách, Đảng và Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm huy động ngày càng nhiều nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục, như khuyến khích xã hội hoá giáo dục, huy động sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, xã hội, các tổ chức quốc tế hỗ trợ đầu tư cho giáo dục nói chung và cho giáo dục đại học nói riêng. Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020, để đạt được mục tiêu "Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân", trong đó đã đặt ra nhiệm vụ "Đổi mới việc huy động nguồn lực và cơ chế tài chính". Nghị quyết số 35/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về “Chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015” với mục tiêu "Xây dựng một số cơ chế tài chính mới cho giáo dục và đào tạo, nhằm huy động ngày càng tăng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và xã hội để nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô và bảo đảm công bằng trong giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần xây dựng hệ thống các chính sách để tiến tới mọi người ai cũng được học hành với nền giáo dục có chất lượng ngày càng cao" cũng đưa ra định hướng đổi mới "Hoàn thiện cơ sở pháp lý và chính sách để các cơ sở đào tạo nghề nghiệp và đại học công lập được tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính. Các cơ sở giáo dục và đào tạo phải bảo đảm sự tương quan giữa chất lượng giáo dục, đào tạo với nguồn tài chính được đầu tư, sử dụng; công bố mục tiêu, năng lực đào tạo, tài chính; thực hiện chế độ báo cáo tài chính với cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp theo quy định của nhà nước". Như vậy, bên cạnh sự ưu tiên đầu tư của ngân sách nhà nước việc tạo ra một cơ chế tài chính đủ mạnh để các các trường đại học công lập phát huy được tiềm năng sẵn có hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước giao phó trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với xu hướng phát triển đại học của các nước tiên tiến trên thế giới. Với phạm vi quản lý tài chính trực tiếp của đối với 50 trường đại học trong tổng số 139 trường đại học công lập (không kể các trường đại học thuộc khối Quốc phòng, An ninh), Bộ Giáo dục và đào tạo là cơ quan chủ quản có số lượng trường đại học công lập trực thuộc nhiều nhất. Chính vì những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu "Hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho các trường đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo".
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và trân trọng nhất, tác giả luận văn xin bày tỏlòng biết ơn sâu sắc đến Học viện Quản lý giáo dục, Trung tâm Đào tạo Sauđại học và các thầy, cô giáo, cán bộ và nhân viên đã tham gia giảng dạy, quản
lý và giúp đỡ lớp học trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Lê Phước Minh,người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo ân cần, hướng dẫn tác giảhoàn thành việc nghiên cứu luận văn này
Nhân dịp này, tôi xin được cám ơn lãnh đạo và các đồng nghiệp côngtác tại Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tạo mọi điều kiệnthuận lợi giúp đỡ tác giả trong việc cung cấp số liệu và tư vấn khoa học trongquá trình nghiên cứu luận văn
Đồng thời, tôi luôn biết ơn các bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã quantâm, chia sẻ động viên, khích lệ và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu
Mặc dù tôi đã cố gắng trong học tập và đặc biệt trong quá trình thựchiện luận văn, song chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót.Tôi kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy, cô giáo và các bạnđồng nghiệp
Hà Nội, tháng 6 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Những điểm mới của đề tài nghiên cứu: 9
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 10
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 11
6 Giả thuyết khoa học trong đề cương và trong luận văn 11
7 Phương pháp nghiên cứu 11
8 Cấu trúc luận văn 11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN BỔ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 13
1.1 Giáo dục đại học 13
1.1.1 Khái niệm 13
1.1.2 Mục tiêu của giáo dục đại học 13
1.1.3 Khái niệm trường đại học 14
1.2 Vai trò của giáo dục đại học trong nền kinh tế quốc dân 15
1.3 Hiệu quả của giáo dục đại học trong nền kinh tế quốc dân 18
1.4 Mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư và phát triển giáo dục đại học 21
1.5 Ngân sách 25
1.5.1 Khái niệm ngân sách 25
1.5.2 Các nguồn thu của ngân sách 25
1.5.3 Chi ngân sách cho các đơn vị trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo 26
1.6 Vai trò của NSNN đối với sự phát triển của giáo dục đại học 28
Trang 31.7 Cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học 32
1.7.1 Phân bổ ngân sách theo từng hoạt động 32
1.7.2 Phân bổ Ngân sách theo kiểu khoán chi một cục 33
1.7.3 Phân bổ Ngân sách dựa trên công thức 34
1.7.4 Phân bổ ngân sách khuyến khích 34
1.8 Một số cơ chế phân bổ NSNN và khả năng vận dụng cho giáo dục đại học Việt Nam 35
1.8.1 Cấp kinh phí theo đầu ra 35
1.8.2 Cấp kinh phí dựa vào sinh viên - ưu điểm và khả năng vận dụng cho giáo dục đại học Việt Nam 36
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN BỔ NGÂN SÁCH CHO CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRỰC THUỘC BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 39
2.1 Hệ thống các trường đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo 39
2.1.1 Qui mô mạng lưới 39
2.1.2 Qui mô sinh viên 40
2.1.3 Qui mô giảng viên 41
2.2 Thực trạng tình hình phân bổ ngân sách 42
2.2.1 Qui trình lập dự toán và phân bổ ngân sách 42
2.2.2 Nguyên tắc phân bổ ngân sách cho các trường đại học 44
2.2.3 Thống kê tình hình phân bổ chi ngân sách cho các trường đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo theo khoản mục 53
2.2.4 Tình hình tổ chức triển khai thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ ; 55
Trang 42.2.5 Thống kê tình hình phân bổ chi ngân sách cho các trường đại họctrực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo theo loại hình trường 562.3 Đánh giá về thực hiện phân bổ NSNN cho các trường đại học trực thuộc
Bộ Giáo dục và Đào tạo trong thời gian qua 582.3.1 Đánh giá chung về cơ chế chính sách phân bổ nguồn ngân sách nhànước cho giáo dục đại học trong những năm qua 582.3.2 Chính sách cấp kinh phí tính theo đầu vào ở Việt Nam 59Tiểu kết chương 2 61
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÂN BỔ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRỰC THUỘC
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 62
3.1 Định hướng phát triển giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2011-2020 623.1.1 Các định hướng chung về phát triển giáo dục đại học Việt Nam 623.1.2 Định hướng hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách cho giáo dục đạihọc Việt Nam 643.2 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 713.2.1 Đảm bảo theo đúng định hướng và mục tiêu chiến lược 713.2.2 Đáp ứng yêu cầu tăng cường chất lượng, nâng cao hiệu quả sử dụngnguồn lực 743.3 Giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế phân bổ NSNN cho các trường đại họctrực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo 763.3.1 Phân bổ ngân sách theo tiêu chí, định mức, đảm bảo công khai minhbạch 763.3.2 Đổi mới cơ chế giải ngân 793.3.3 Phân bổ ngân sách tập trung đầu tư cho nhóm trường, nhóm ngành,không dàn trải 80
Trang 53.3.4 Thực hiện tốt công tác dự báo, đảm bảo chủ động trong thực hiện
phân bổ NSNN cho các trường đại học 81
3.4 Khảo sát về sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất 83
3.4.1 Mục đích khảo sát 83
3.4.2 Nội dung và phương pháp khảo sát 83
3.4.3 Đối tượng khảo sát 83
3.4.4 Kết quả khảo sát về sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 84
Tiểu kết chương 3 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Kiến nghị : 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Hình 1.1: Lợi ích của đầu tư cho đào tạo 20
Hình 1.2: Mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư và phát triển GDĐH 22
Hình 1.3: Tương quan giữa hai đại lượng “đầu tư” và “đào tạo” 23
Bảng 1.1 Bảng biến thiên của mức lợi ích đầu tư 24
Bảng 2.1 : Quy mô sinh viên các trường trực thuộc Bộ GD&ĐT 40
Bảng 2.2 : Tổng quy mô giảng viên các trường trực thuộc Bộ GD&ĐT 41
Bảng 2.3: Tỷ trọng các loại ngân sách cấp cho các trường đại học trực thuộc Bộ GD&ĐT 53
Biểu đồ 2.1 Tỷ trọng các loại ngân sách cấp cho các trường trực thuộc Bộ GD&ĐT 54
Bảng 2.4 Cơ cấu phân bổ NSNN cho các trường đại học trực thuộc Bộ GD&ĐT theo nhóm trường 57
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu phân bổ NSNN cho các trường đại học trực thuộc Bộ GD & ĐT theo nhóm trường 57
Bảng 3.1: Đánh giá sự cần thiết của các giải pháp đề xuất (n= 30) 84
Bảng 3.2: Đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất (n=30) 86
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập với tiến trình phát triển củathế giới, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, coi trọng công tác giáo dục vàđào tạo Ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, phát triển giáo dục vàđào tạo cùng với khoa học công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu,đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
X tiếp tục khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triểngiáo dục và đào tạo là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơbản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Trong những năm qua, mặc dù điều kiện đất nước và ngân sách nhànước còn nhiều khó khăn nhưng được sự quan tâm của Đảng, Quốc hội vàChính phủ, tỷ trọng ngân sách dành cho giáo dục và đào tạo trong tổng chingân sách nhà nước đã tăng lên đáng kể: năm 2007, tỷ trọng chi ngân sáchNhà nước cho giáo dục và đào tạo là 19,4% thì bắt đầu từ năm 2008 đến nay,hàng năm đã được Quốc hội phê chuẩn dành 20% ngân sách để chi cho giáodục và đào tạo Cùng với việc tăng chi ngân sách, Đảng và Nhà nước ta cũng
đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm huy động ngày càng nhiềunguồn tài chính đầu tư cho giáo dục, như khuyến khích xã hội hoá giáo dục,huy động sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, xã hội, các
tổ chức quốc tế hỗ trợ đầu tư cho giáo dục nói chung và cho giáo dục đại họcnói riêng
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổimới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020, đểđạt được mục tiêu "Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo được
Trang 8chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế vànhu cầu học tập của nhân dân", trong đó đã đặt ra nhiệm vụ "Đổi mới việchuy động nguồn lực và cơ chế tài chính"
Nghị quyết số 35/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về “Chủtrương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo
từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015” với mục tiêu "Xây dựngmột số cơ chế tài chính mới cho giáo dục và đào tạo, nhằm huy động ngàycàng tăng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và xã hội để nângcao chất lượng, mở rộng quy mô và bảo đảm công bằng trong giáo dục và đàotạo, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;góp phần xây dựng hệ thống các chính sách để tiến tới mọi người ai cũngđược học hành với nền giáo dục có chất lượng ngày càng cao" cũng đưa rađịnh hướng đổi mới "Hoàn thiện cơ sở pháp lý và chính sách để các cơ sở đàotạo nghề nghiệp và đại học công lập được tăng quyền tự chủ, tự chịu tráchnhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính Các cơ
sở giáo dục và đào tạo phải bảo đảm sự tương quan giữa chất lượng giáo dục,đào tạo với nguồn tài chính được đầu tư, sử dụng; công bố mục tiêu, năng lựcđào tạo, tài chính; thực hiện chế độ báo cáo tài chính với cơ quan quản lý cấptrên trực tiếp theo quy định của nhà nước"
Như vậy, bên cạnh sự ưu tiên đầu tư của ngân sách nhà nước việc tạo ramột cơ chế tài chính đủ mạnh để các các trường đại học công lập phát huyđược tiềm năng sẵn có hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhànước giao phó trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợpvới xu hướng phát triển đại học của các nước tiên tiến trên thế giới
Với phạm vi quản lý tài chính trực tiếp của đối với 50 trường đại họctrong tổng số 139 trường đại học công lập (không kể các trường đại học thuộc
Trang 9khối Quốc phòng, An ninh), Bộ Giáo dục và đào tạo là cơ quan chủ quản có
số lượng trường đại học công lập trực thuộc nhiều nhất Chính vì những lý do
nêu trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu " Hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho các trường đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo".
2 Những điểm mới của đề tài nghiên cứu:
Trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu liênquan đến lĩnh vực quản lý tài chính đối với giáo dục đại học như:
- Ngân hàng thế giới (WB), Việt Nam Giáo dục đại học và Kỹ năng chotăng trưởng (năm 2007-2010)
- Trần Văn Phong (2001), Nguồn tài chính và quản lý tài chính ở cáctrường đại học công lập trong giai đoạn hiện nay, Luận án Thạc sỹ Kinh tế,Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Phạm Văn Ngọc (2001), Đổi mới quản lý tài chính đáp ứng mô hìnhĐại học quốc gia Hà Nội - Thực trạng và giải pháp, Luận án Thạc sỹ Kinh tế,Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Nguyễn Duy Tạo (2000), Hoàn thiện quản lý tài chính các trường đàotạo công lập ở nước ta hiện nay, Luận án Thạc sỹ Kinh tế, Học viện Chính trịQuốc gia Hồ Chí Minh
- Đặng Văn Du (2004), Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chínhcho đào tạo đại học ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Kinh tế, Học viện Tài chính
Các công trình nghiên cứu trên tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau
đã đề cấp đến nhiều khía cạnh đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý tàichính đối với các trường đại học công lập Tuy nhiên, chưa có đề tài nàonghiên cứu về cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước của nhóm các trường đạihọc công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là thông qua phân tích thực trạng
cơ chế tài chính của các trường đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo để
Trang 10đề xuất một số giải pháp đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước đối vớicác trường đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầuphát triển trong giai đoạn tới.
Để thực hiện mục tiêu trên nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của luận văn là:
- Trình bày có hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tầmquan trọng của giáo dục đào tạo nói chung, giáo dục đại học nói riêng và kinh
tế, đầu tư cho giáo dục đại học trong điều kiện nền kinh tế thị trường có địnhhướng Xã hội Chủ nghĩa
- Thông qua phân tích tình hình thực hiện các chính sách tài chính chogiáo dục đại học, trong đó nhấn mạnh phân tích hiện trạng phân bổ nguồnngân sách Nhà nước, so sánh với kinh nghiệm quốc tế ở các nước đang pháttriển, phân tích các khía cạnh về chi tiêu đơn vị, hiệu quả đầu tư, chính sách
đa dạng hóa nguồn thu (xã hội hóa) trong giáo dục đại học, để chỉ ra các mặtmạnh mặt yếu của cơ chế và chính sách phân bổ ngân sách hiện tại
- Trên cơ sở định hướng phát triển giáo dục đại học đến năm 2020.phân tích các cơ hội, thách thức để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơchế phân bổ ngân sách nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng bộ phậnvốn ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục đại học, đồng thời nêu ra các giảipháp nhằm huy động các nguồn lực và tiết kiệm chi phí xã hội, nâng cao chấtlượng đồng thời mở rộng quy mô giáo dục đại học
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác phân bổ ngân sách nhà nước cho các trường đại học trựcthuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính của đề tài là các giải pháp nhằm đổi mới cơ chế phân
bổ ngân sách nhà nước cho các trường đại học trực thuộc Bộ GD&ĐT
Trang 115 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
5.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Hoạt động phân bổ ngân sách nhà nước cấp cho các trường đại học trựcthuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
5.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Các trường đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
6 Giả thuyết khoa học trong đề cương và trong luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa góp phần làm sáng tỏ cơ sởkhoa học và thực tiễn của cơ chế phân bổ ngân sách nhằm sử dụng có hiệuquả nguồn ngân sách nhà nước có hạn, đảm bảo điều kiện nâng cao chấtlượng cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu của các trường đại học
7 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sửcủa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách pháttriển của Đảng ta, các chủ trương, định hướng, đường lối chính sách tài chính,chính sách giáo dục nói chung và chính sách giáo dục đại học nói riêng củanước ta và các luận điểm kinh tế trong phát triển đào tạo nguồn nhân lực
Trong từng nội dung cụ thể, còn sử dụng phương pháp phân tích tổnghợp, khái quát hóa tài liệu sẵn có kết hợp với quan sát đánh giá thực tiễn,đồng thời sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, đánh giá để
xử lý số liệu, các kết quả điều tra khảo sát nhằm làm sáng tỏ những vấn đềcần nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu thamkhảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân bổ ngân sách nhà nước cho các
trường đại học
Trang 12Chương 2: Thực trạng công tác phân bổ ngân sách nhà nước cho các
trường đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
Chương 3: Hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho các
trường đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN BỔ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
ii) Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm học tùytheo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổthông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đốivới người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi đếnhai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành;
iii) Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đốivới người có bằng tốt nghiệp đại học;
v) Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối vớingười có bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm học đối với người cóbằng thạc sĩ Trong trường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ cóthể được kéo dài theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
1.1.2 Mục tiêu của giáo dục đại học
i) Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chấtchính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thựchành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêucầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 14ii) Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn
và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộcchuyên ngành được đào tạo
iii) Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyênmôn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sángtạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo
iv) Đào tạo trình độ thạc sĩ giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình
độ cao về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lựcphát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo
v) Đào tạo trình độ tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lýthuyết và thực hành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát hiện vàgiải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứukhoa học và hoạt động chuyên môn
1.1.3 Khái niệm trường đại học
Điều 42 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục 2009 quyđịnh như sau:
Đại học, trường đại học, học viện (gọi chung là trường đại học) đào tạotrình độ cao đẳng, trình độ đại học; đào tạo trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ khiđược Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép
1.1.4 Các loại hình trường (theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP)
Theo nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế vàtài chính đối với sự nghiệp công lập, căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị
sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm vềtài chính như sau:
a) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt độngthường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động);
Trang 15b) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạtđộng thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn
vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động);
c) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không cónguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ dongân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sựnghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động)
Trên cơ sở đó, các trường trực thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo được giao
dự toán gồm 3 nhóm là: nhóm (1) đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạtđộng, nhóm (2) đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động và nhóm (3)đơn vị do ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ chi hoạt động
- Nhóm 1 (gồm 6 trường): Các trường đại học khối kinh tế - tài chính tựđảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước hỗ trợ mộtphần các hoạt động không thường xuyên
- Nhóm 2 (gồm 32 trường)
+ Các trường thuộc khối sư phạm
+ Các trường đại học khối văn hoá - thể thao
+ Các trường đại học khối Nông - Lâm - Ngư
+ Các trường đại học khối công nghệ - kỹ thuật
- Nhóm 3 (gồm 7 trường): Các trường có nguồn thu thấp chủ yếu đàotạo học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số, ngân sách nhà nước đảm bảotoàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên;
1.2 Vai trò của giáo dục đại học trong nền kinh tế quốc dân
Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực hoạt động có vị trí thiết yếu đối với
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Mỗi quốc gia trong quátrình phát triển kinh tế, xây dựng xã hội văn minh đều đòi hỏi phải có một
Trang 16nguồn nhõn lực phỏt triển cả về thể chất lẫn trớ tuệ Giỏo dục và đào tạo đúngvai trũ quyết định trong phỏt triển nguồn nhõn lực
Nguồn nhõn lực (human resource) là chỉ những người đang và sẽ bổsung vào lực lượng lao động xó hội đa dạng và phong phỳ, bao gồm cỏc thế
hệ trẻ đang được nuụi dưỡng, học tập ở cỏc cơ sở giỏo dục phổ thụng, giỏodục nghề nghiệp, giỏo dục đại học (gồm cao đẳng và đại học) Núi đến nguồnnhõn lực là chỉ mới núi đến tiềm lực Khi tiến hành giỏo dục và đào tạo, sửdụng, phỏt huy, phỏt triển nguồn nhõn lực thỡ khi ấy nguồn nhõn lực mới thực
sự trở thành lực tỏc động tới phỏt triển kinh tế xó hội
Phỏt triển nguồn nhõn lực (human resource development) được hiểu về
cơ bản là làm tăng giỏ trị của con người về mặt trớ tuệ, đạo đức, thể lực vàthẩm mỹ; làm cho con người trở thành những người lao động cú năng lựcphẩm chất mới, cao hơn Phỏt triển nguồn nhõn lực chịu tỏc động bởi nămnhõn tố là: giỏo dục và đào tạo; sức khỏe và dinh dưỡng; mụi trường; việc làm
và sự giải phúng con người Trong đú giỏo dục và đào tạo là nhõn tố cốt lừi, là
cơ sở của cỏc nhõn tố khỏc và đồng thời cũng là cơ sở quan trọng nhất cho sựphỏt triển nền kinh tế - xó hội bền vững
Nhõn lực (manpower) là chỉ người lao động kỹ thuật được đào tạotrong nguồn nhõn lực ở một trỡnh độ nào đú để cú năng lực tham gia vào laođộng xó hội Năng lực của người lao động kỹ thuật được cấu thành bởi cỏcyếu tố: kiến thức (knowledge), kỹ năng (skill), thỏi độ (attitude), và thúi quenlàm việc (workhabit) Cơ cấu nhõn lực thường được hỡnh thành và phỏt triểntheo dạng hỡnh thỏp cỏc trỡnh độ Thỏp trỡnh độ từ đỉnh trở xuống gồm: sau
đại học và đại học (postgraduate and undergraduate); trung cấp kỹ thuật,nghiệp vụ (technician); cụng nhõn kỹ thuật ở ba cấp trỡnh độ: lành nghề trỡnh
độ cao (highly - skilled worker), lành nghề (skilled worker), bỏn lành nghề(semi skilled worker)
Trang 17Giáo dục đại học (higher education) được hiểu một cách chung nhất là
giáo dục bậc ba (tertiary education), hay tức là giáo dục sau trung học secondary education) Tuy nhiên, khái niệm giáo dục đại học thường đượchiểu một cách phân biệt so với khái niệm giáo dục nghề (professionaleducation or vocational education)
(post-Giáo dục đại học đã và đang đóng vai trò then chốt trong phát triểnnguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội Vai trò của giáo dục đại họccµng được nhấn mạnh trong bối cảnh một nền kinh tế thế giới ngày càng liên
hệ chặt chẽ với nhau, thách thức về công nghệ trong chiến lược phát triển dựavào trí tuệ, và thách thức về chính trị trong quá trình dân chủ hóa Thươngmại quốc tế, đầu tư, sự di chuyển các nguồn lao động, chuyển giao công nghệ
và các hệ thống thông tin liên lạc đang đưa các quốc gia xích lại gần nhau.Tiến bộ kỹ thuật đã trở thành động lực chính thúc đẩy những thay đổi về năngsuất lao động, khiến cho việc đầu tư vào các nguồn nhân lực nhằm hỗ trợ pháttriển kinh tế ngày càng có vai trò quan trọng
Sự đóng góp của giáo dục đại học vào sự nghiệp phát triển nguồn nhân
lực của một quốc gia được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Thứ nhất, giáo dục đại học có trách nhiệm chính trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ
chuyên môn kỹ thuật và quản lý có trình độ cao Theo các chuyên gia củaNgân hàng Thế giới, một trong những chỉ số về tầm quan trọng của chức năngđào tạo này là đầu tư vào giáo dục đại học có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với
đầu tư về vốn vật chất Thứ hai, giáo dục đại học tạo ra những kiến thức mới
thông qua nghiên cứu và đào tạo ở trình độ cao về khoa học, đồng thời làphương tiện để chuyển giao, thích nghi và truyền bá những kiến thức mới
này Thứ ba, giáo dục đại học đóng vai trò xã hội quan trọng trong việc thúc
đẩy hòa nhập dân tộc và mở đường đi lên cho mỗi công dân trong sự nghiệp
Trang 18công danh của mình Thứ tư, giáo dục đại học cung cấp các diễn đàn cho các
cuộc thảo luận rộng rãi mang tính xây dựng về phát triển và đổi mới
1.3 Hiệu quả của giáo dục đại học trong nền kinh tế quốc dân
Nhiều nhà kinh tế, giáo dục đã tính toán hiệu quả của giáo dục đào tạotrong phát triển kinh tế quốc dân, tách riêng phần đóng góp của các nguồnđầu vào cho việc tăng hiệu quả sản xuất, qua đó chỉ ra mức độ đóng góp củagiáo dục đào tạo trong mức tăng hiệu quả sản xuất chung
Nhà kinh tế học người Nga, Dainopski, đã đưa ra phương pháp tínhhiệu quả của giáo dục đào tạo thông qua các yếu tố: (i) Tổng chi phí đào tạocho một người trong suốt thời gian học (ii) ước lượng giá trị sản phẩm hằngnăm do người đó tạo ra cho xã hội (iii) Xác định tiền công hằng năm (iv) Ướclượng thời gian lao động của người đó (v) Tính sản phẩm thặng dư trong thờigian lao động (vi) So sánh chi phí đào tạo với sản phẩm thặng dư
Công thức tổng quát là:
P
Z
Trong đó: Z tổng chi phí cho giáo dục và đào tạo
P sự tăng sản phẩm do giáo dục đào tạo mang lại
E hiệu quả kinh tế của giáo dục đào tạo
Sự sinh lợi của giáo dục đào tạo về giá trị tuyệt đối là:
D = P - Z Chỉ số sinh lợi được tính như sau:
D P - Z P Z
R = - = - = - - - = E - 1
Z Z Z Z
Trang 19Hai nhà kinh tế Mỹ, Robert Solow và Eduard Denison, đã đề ra hàm sốphản ánh mối quan hệ giữa sự tăng lên về đầu ra với sự tăng lên về đầu vàocủa lao động lành nghề và không lành nghề cùng một số biến số khác Theophương pháp của Robert Solow và Eduard Denison, có thể tách riêng phầnđóng góp của các nguồn đầu vào cho việc tăng hiệu quả sản xuất
Công thức dạng tổng quát như sau:
Trong đó: J đầu ra hay tổng sản phẩm quốc dân
K vốn (hay tư bản)
L số lượng lao động
R tài nguyên thiên nhiên, đất trồng trọt
T nhân tố đầu vào tổng hợp của sự gia tăng do kỹ
thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại, lao động lànhnghề, quản lý hợp lý, hàm ý ở đây là nhân tố giáodục đào tạo
Sau khi biến đổi, hàm số J được đưa về dạng:
T = Gn - (Wk Gk + Wl Gl + Wt Gt)Trong đó: G tỉ lệ tăng trưởng của các biến số
W giá trị cấu thành trong sản phẩm
n thu nhập quốc dân
k dự trữ vốn
l lao động
t tài nguyên thiên nhiên, đất trồng trọt thêmGiá trị T cho ta biết trong sự tăng trưởng GNP (Gn) thì năng suất laođộng chiếm T phần, trong đó năng suất lao động tăng thêm nhờ chủ yếu vàogiáo dục đào tạo
Trang 20Để tính toán và đánh giá được hiệu quả của đầu tư cho phát triển giáodục đại học, các nhà kinh tế đã so sánh giữa chi phí hiện tại và các khoản lợihiện tại với chi phí và các nguồn lợi trong tương lai (Hình 1.1)
Hình 1.1: Lợi ích của đầu tư cho đào tạo
Nguồn: Kinh tế học, David Begg, Tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1992, tr 286.
Hình 1.1 cho thấy lợi ích của đầu tư phát triển giáo dục đại học được đobằng khoản thu nhập bổ sung trung bình cho những người được đào tạo so vớinhững người tốt nghiệp phổ thông trung học đi làm ngay (với giả thiết cácyếu tố thu nhập khác không đổi) Chi phí và thu nhập của việc đầu tư này thểhiện trên Hình 1.1 được minh họa như sau:
Trục hoành biểu diễn về chi phí cho giáo dục đại học Gồm có chi phítrực tiếp và chi phí gián tiếp (chi phí cơ hội - opportunity cost) Chi phí trựctiếp bao gồm các khoản chi tiêu cá nhân có liên quan đến việc đi học vàkhoản chi của xã hội (nguồn ngân sách và các dịch vụ công cộng khác có liênquan) để cung cấp dịch vụ giáo dục đại học được trợ cấp từ Nhà nước mà các
cá nhân hoặc gia đình họ không phải trả Chi phí gián tiếp là khoản chi phítương ứng với khoản thu nhập mà người học phải từ bỏ do tiếp tục theo họctại các cơ sở giáo dục đại học
Thu nhập phải từ bỏ Lợi ích
Chi phí trực tiếp do đi học ĐH
Trang 21Trục tung biểu diễn về thu nhập Ta thấy rằng thu nhập (ĐĐ) của mộtngười tốt nghiệp đại học cao hơn một mức “lợi ích” so với thu nhập giả định(PP) của chính người đó nếu anh ta thôi học và bắt đầu đi làm ngay sau khihọc xong phổ thông trung học Thu nhập phải từ bỏ được chỉ ra như là sựchênh lệch thu nhập âm trong khi cá nhân đó tiếp tục theo học đại học Hiệuquả của đầu tư cho giáo dục đại học được thể hiện ở chênh lệch thu nhập
dương khi so sánh mức “lợi ích” và mức “thu nhập phải từ bỏ”.
1.4 Mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư và phát triển giáo dục đại học
Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của sự nghiệp phát triển giáodục đào tạo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, mọi quốcgia trên thế giới luôn luôn dành sự quan tâm đầu tư thích đáng cho khu vựcgiáo dục và đào tạo từ nguồn ngân sách Chính phủ, trong đó giáo dục đạihọc luôn được quan tâm chú trọng với tư cách là nguồn cung cấp nhân lực
có trình độ cao cho nền kinh tế Bên cạnh đó là các chính sách vĩ mô nhằmkhuyến khích thu hút các đầu tư tư nhân cho phát triển giáo dục đại học vàgiáo dục đào tạo nói chung
Đầu tư cho giáo dục đại học được xem là đầu tư cơ bản, là đầu tư cho
sự phát triển hoàn chỉnh cho con người - động lực trực tiếp quyết định sựphát triển kinh tế - xã hội Garey Becker nhà kinh tế học Hoa kỳ, giải thưởng
Nobel kinh tế năm 1992 đã khẳng định: “Không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn nhân lực” Hiệu quả của việc đầu tư
cho sự nghiệp giáo dục đại học được phát huy trên phạm vi toàn xã hội,đồng thời được xác định đầy đủ khi những sản phẩm của đào tạo đi vào cuộcsống và thực sự thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Sự tăngtrưởng kinh tế, bình ổn về chính trị, xã hội là một bằng chứng của hiệu quảtrong đầu tư cho giáo dục và đào tạo nói chung, trong đó nhất là của giáodục đại học
Trang 22Mọi quỏ trỡnh đầu tư (bao gồm cả Nhà nước và tư nhõn) vào phỏt triểngiỏo dục đại học cú quan hệ qua lại, nhõn quả Nhờ cú đầu tư vào giỏo dụcđại học, vốn con người (lao động) sẽ được tớch lũy và tăng lờn, là cơ sở và làchỡa khoỏ để duy trỡ sự tăng trưởng kinh tế và tăng thu nhập trong tương lai.Nhờ cú thu nhập tăng lờn, một phần lớn hơn sẽ được tớch lũy cho giỏo dụcđại học qua đầu tư, gúp phần quyết định cho phỏt triển sự nghiệp giỏo dụcđại học Mối quan hệ nhõn quả giữa đầu tư và phỏt triển giỏo dục đại họcđược thể hiện trong Hỡnh 1.1 Rừ ràng, đầu tư cho giỏo dục đại học là đầu tư
“lợi ớch tương lai”, hiệu quả khụng thấy ngay được ở đầu ra của quỏ trỡnh
giỏo dục đại học mà sẽ được phản ỏnh thụng qua sự tăng trưởng kinh tế, tiến
bộ xó hội, cụng bằng và ổn định phỏt triển Lợi ớch đớch thực của việc đầu tư
cho giỏo dục đại học là tạo ra “tiềm năng” của sự phỏt triển thụng qua việc
tạo ra cỏc sản phẩm vụ hỡnh, nhưng cú thể đo lường được là nhõn tài, nhõnlực và dõn trớ
Hỡnh 1.2: Mối quan hệ nhõn quả giữa đầu tư và phỏt triển GDĐH
Từ quan hệ tỏc động qua lại nhõn quả như trờn, rừ ràng giữa đầu tư vàgiỏo dục đại học cú quan hệ tương quan thuận, tức là, trong cỏc điều kiện bỡnh
Đầu t cho giáo dục đại học
Tăng trưởng kinh tế và tiến
bộ xó hội, cụng bằng và phỏt triển ổn định
Phát triển giáo dục
đại học
Đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhõn tàỡ, nõng cao dõn trớ cho xó hội
Trang 23thường thì sự tăng lên về đầu tư sẽ đưa đến sự phát triển của giáo dục đại học,
và ngược lại
Để xác định mức độ chặt chẽ của quan hệ tương quan thuận này giữa đầu
tư và giáo dục đại học, ta sử dụng hàm số tương quan toán học như sau:
Trong đó: x là mức đầu tư cho giáo dục đại học
y là mức lợi ích của đầu tư cho giáo dục đại học
n tỷ lệ tăng sinh viên hàng năm
f(x) là hàm số thể hiện lợi ích biên (MB) của việc đầu tư
cho giáo dục đại học
nx là đường bù đắp chí phí biên (MC) của giáo dục đại
học
Hình 1.3: Tương quan giữa hai đại lượng “đầu tư” và “đào tạo”
Nguồn: Kinh tế học vĩ mô, N.Gregory Mankiew, Nxb Thống kê, tr.109
Theo Hình 1.3, tỷ suất lợi ích biên lớn nhất, hay chính là mức lợi íchbình quân cho người học là lớn nhất khi EF đạt giá trị cực đại:
EF = MB(i) - MC(i) = max
xi x0 x 0
y
y 0
Trang 24Tổng lợi ích thu được từ đầu tư cho giáo dục đại học đạt giá trị lớn nhấtkhi MB(i) = MC(i) Điểm D là điểm cân bằng, tại đó với mọi giá trị đầu tưtăng thêm ( xi > xo ) sẽ đem lại kết quả lợi ích tăng thêm cho giáo dục đại họcnhỏ hơn chi phí đầu tư thêm (MB(i) < MC(i))
Sự biến thiên của mức lợi ích của giáo dục đại học (y) theo mức đầu tư(x) được thể hiện qua Bảng 1.1
Bảng 1.1 Bảng biến thiên của mức lợi ích đầu tư
Theo bảng biến thiên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:
- Nếu tốc độ tăng đầu tư > tốc độ tăng sinh viên (n) thì đường f(x) nằmtrên đường nx, tức là hàm lợi ích biên nằm trên đường bù đắp chi phí biêncủa giáo dục đại học Khi đó, lợi ích thu được từ đầu tư vào giáo dục đạihọc tăng lên
- Nếu tốc độ tăng đầu tư = n, thì hàm lợi ích biên f(x) trùng với đường
bù đắp chi phí biên của giáo dục đại học Khi đó mỗi đơn vị tăng lên của tỷ lệđầu tư sẽ đưa đến một đơn vị tăng lên về tỉ lệ sinh viên
- Nếu tốc độ tăng đầu tư < n, hàm lợi ích biên (f(x) nằm dưới đường bùđắp chi phí biên của giáo dục đại học, khi đó cho lợi ích được hưởng qua giáodục đại học bị giảm sút
Qua phân tích trên, việc xác định mức đầu tư hợp lý cho giáo dục đạihọc để giá trị (x) xoay quanh giá trị x = xi, cùng với sự điều tiết vĩ mô về quy
Trang 25mô đào tạo tăng lên (n) sẽ đem lại cho nền kinh tế quốc dân cũng như từngngười học lợi ích cao nhất thông qua giáo dục đại học
1.5 Ngân sách
1.5.1 Khái niệm ngân sách
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm
để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Về bản chất, NSNN là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước với cácchủ thể khác như doanh nghiệp, cơ quan hành chính sự nghiệp, hộ gia đình,
cá nhân… trong và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sửdụng quỹ ngân sách
Ngân sách nhà nước Việt Nam gồm ngân sách trung ương và ngân sáchđịa phương Ngân sách địa phương có ngân sách của đơn vị hành chính cáccấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Phù hợp với mô hình tổ chứcchính quyền Nhà nước ta hiện nay, ngân sách địa phương bao gồm ngân sáchcấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; ngân sách cấp huyện, quận, thị xã,thành phố thuộc tỉnh và ngân sách cấp xã, phường, thị trấn
1.5.2 Các nguồn thu của ngân sách
Điều 30 Luật Ngân sách nhà nước quy định các nguồn thu của ngânsách trung ương gồm:
a) Các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%:
- Thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu;
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hoá nhập khẩu;
- Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành;
- Các khoản thuế và thu khác từ dầu, khí theo quy định của Chính phủ;
Trang 26- Tiền thu hồi vốn của ngân sách trung ương tại các tổ chức kinh tế, thuhồi tiền cho vay của ngân sách trung ương (cả gốc và lãi), thu từ quỹ dựtrữ tài chính của trung ương, thu nhập từ vốn góp của Nhà nước;
- Viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế,các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam;
- Các khoản phí, lệ phí nộp vào ngân sách trung ương;
- Thu kết dư ngân sách trung ương;
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
b) Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trungương và ngân sách địa phương:
- Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩuquy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
- Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp củacác đơn vị hạch toán toàn ngành quy định tại điểm d khoản 1 Điều này;
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao;
- Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, không kể thuế chuyển lợi nhuận
ra nước ngoài từ lĩnh vực dầu, khí quy định tại điểm đ khoản 1 Điềunày;
- Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hoá, dịch vụ trong nước;
- Phí xăng, dầu
1.5.3 Chi ngân sách cho các đơn vị trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
1.5.3.1 Chi thường xuyên sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Kinh phí chi thường xuyên được phân bổ cho các trường và các đơn vịtrực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện nhiệm vụ đào tạo và các nhiệm
vụ chung toàn ngành, cụ thể gồm các khoản mục như sau:
- Chi đào tạo sau đại học
- Chi đào tạo đại học, cao đẳng
Trang 27- Đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề
- Đào tạo học sinh dự bị và phổ thông dân tộc nội trú và năng khiếu
- Giáo dục phổ thông chuyên, thực hành, năng khiếu
- Đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ công chức
- Các hoạt động sự nghiệp gắn với ngành giáo dục, các nhiệm vụ chỉ đạochuyên môn toàn ngành
- Triển khai một số chương trình, đề án đã được Chính phủ phê duyệtnhư "Đề án đào tạo theo chương trình tiên tiến tại một số trường đạihọc Việt Nam giai đoạn 2008-2015", "Đề án đào tạo và phát triểnnguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử"
- Chi hợp tác đào tạo với nước ngoài : Các Đề án đào tạo cán bộ khoahọc kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước; Đào tạo đề án xử
lý nợ với Liên bang Nga; Đào tạo lưu học sinh diện Hiệp định với 16nước; Đào tạo lưu học sinh nước ngoài vào học tại Việt Nam
- Chi vốn đối ứng các dự án vay nợ, viện trợ
1.5.3.2 Chi sự nghiệp khoa học công nghệ
Thực hiện chi cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Nhà nước,cấp Bộ, nhiệm vụ khoa học và công nghệ của các đơn vị trực thuộc, trong đóchi:
- Quỹ lương và hoạt động bộ máy
- Nhiệm vụ khoa học công nghệ độc lập cấp nhà nước
- Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ
- Chi tăng cường năng lực nghiên cứu các cơ sở khoa học công nghệ
Trang 28- Thanh tra Giáo dục
- Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
- Cục Nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục
- Cục Đào tạo với nước ngoài:
1.5.3.3 Chi chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo
1.5.3.4 Chi đầu tư phát triển
Bộ Giáo dục và Đào tạo giao kế hoạch vốn đầu tư cho các đơn vị và dự
án trực thuộc Bộ theo cơ cấu thực hiện như sau:
- Chuẩn bị đầu tư
- Các công trình giáo dục và đào tạo
- Khoa học công nghệ
- Môi trường
- Thể dục thể thao
- Cấp nước và xử lý nước thải
Ngoài ra, NSNN được cấp cho Bộ Giáo dục và Đào tạo còn thực hiệnmột số hạng mục chi khác như: Chi sự nghiệp bảo vệ môi trường; Chi sựnghiệp kinh tế; Chi sự nghiệp đảm bảo xã hội; Chi trợ giá báo chí
1.6 Vai trò của NSNN đối với sự phát triển của giáo dục đại học
Ngân sách - nguồn thu nhập chủ yếu của giáo dục đại học
Hầu hết các quốc gia đang vận động theo xu hướng chuyển dịch từcung cấp tài chính dựa trên đầu vào sang sự cung cấp tài chính dựa trên đầu rađối với hầu hết các dịch vụ công, trong đó có giáo dục đại học Việc chuyểndịch này được xem như là sự chuyển biến to lớn về tư duy trong sử dụngnguồn tài chính Chính phủ cho các dịch vụ công
Có nhiều mô hình đã và đang được vận dụng ở các quốc gia khác nhau.Tùy theo điều kiện kinh tế, văn hóa, lịch sử mỗi quốc gia có thể có lựa chọn
Trang 29mô hình hữu hiệu cho mình Một vấn đề cần lưu ý là các cơ chế trong thực tếthường là sự kết hợp của hai hoặc nhiều hơn các mô hình
Những ý nghĩa đối với những nhà quản lý tài chính trong sự chuyểndịch từ việc xác định về số liệu đầu vào sang xác định về số liệu đầu ra là rấtlớn Nó thể hiện sự chuyển dịch của mối quan hệ quyền lực giữa trường đạihọc và cơ quan cung cấp tài chính bên ngoài và cũng như mối quan hệ bêntrong trường giữa cán bộ quản lý và cán bộ giảng dạy
Trong vòng 10 năm qua, ở nhiều nước đã diễn ra sự chuyển dịch việccung cấp quỹ công cho các trường đại học thay vì dựa trên đầu vào chuyểnsang dựa trên đầu ra
Trong các hệ thống cung cấp ngân quỹ dựa vào các khoản tiền Nhànước được cung cấp để đáp ứng các chi phí đầu vào của các trường, ví dụ trảlương cho giáo viên, thiết bị, các khoản chi, nhà cửa Các nhà quản lý nhàtrường được yêu cầu chi tiêu các quĩ cho các đầu vào mà họ được cungcấp, nhưng trong khuôn khổ trường đại học sẽ quyết định đầu ra màtrường sẽ sản xuất
Việc cung cấp tài chính dựa trên đầu ra trả tiền cho trường về cácdịch vụ mà trường cung cấp Trên thực tế có thể xem đó là việc Chính phủ
"mua" các dịch vụ của các trường Trường cần quyết định phân bổ các
nguồn lực như thế nào cho các đầu vào khác nhau nhằm tạo ra được đầu
Trang 30Những ý nghĩa đối với những nhà quản lý tài chính trong sự chuyểndịch từ việc xác định về số liệu đầu vào sang xác định về số liệu đầu ra là rấtlớn Nó thể hiện sự chuyển dịch của mối quan hệ quyền lực giữa trường đạihọc và cơ quan cung cấp tài chính bên ngoài và cũng như mối quan hệ bêntrong trường giữa cán bộ quản lý và cán bộ giảng dạy.
Về cơ chế phân bổ ngân sách cho các trường đại học, nói chung,thường có 5 cách để Chính phủ phân bổ tài chính cho các trường đại học
Một là, tường trình một dự toán ngân sách định kỳ (thường là hàng
năm) dựa trên những tính toán của trường về chi phí lương giáo viên và cácđầu vào cơ bản khác Trường có thể thương thuyết với Chính phủ về tỉ lệphần trăm của ngân sách cần được đáp ứng Những khoản tiền được "đánhdấu" hay coi là "tiền đề", có nghĩa là trường phải dùng các khoản tiền đượcphân bổ từ ngân sách vào những mục đích mà Chính phủ đề ra (cách nàytương tự như cách trong quá khứ nhiều năm của hệ thống giáo dục đại họcViệt Nam)
Hai là, trường nhận được một khoản cấp kinh phí một lần dựa trên số
tiền được cấp trong giai đoạn trước cộng với một khoản tăng, và được phép tựchủ trong việc sử dụng số tiền này theo ý muốn của mình trong khuôn khổgiới hạn luật pháp cho phép Cách này tương tự cách mà giáo dục đại họcViệt Nam vận hành kể từ khi áp dụng Nghị định 10/2002/NĐ-CP, tiếp theo làNghị định 43/2006/NĐ-CP
Ba là, tiền được cấp dựa trên một công thức phân bổ ngân sách phản
ánh được hoạt động đã qua, nhưng trường được tự do sử dụng tiền theo ýmình khi trường nhận được tiền từ nguồn ngân sách nhà nước Cơ sở để tínhcho phần lớn công thức là số lượng sinh viên (số môn, cấp học v.v), nhưng
Trang 31ngày càng có nhiều Chính phủ cố gắng đưa vào công thức một hệ số quy đổi
để phản ánh kết quả học tập của sinh viên
Bốn là, Chính phủ mua các dịch vụ học thuật của trường đại học Điều
này tương tự như trường hợp thứ 3 nêu ở trên, nhưng kinh phí được tính dựatrên khả năng hoạt động của trường trong tương lai chứ không dựa trên hoạtđộng đã qua của trường
Năm là, Trường đại học bán các dịch vụ giảng dạy, nghiên cứu và tư
vấn cho nhiều loại khách hàng khác nhau, cho những người sử dụng sinh viên
và các cơ quan công quyền
Một vấn đề cần lưu ý là các cơ chế trong thực tế thường là sự kết hợpcủa hai hoặc nhiều hơn các mô hình trên Đặc biệt, người ta hay thảo luận đếncác kết hợp khác nhau của mô hình (3), (4), và (5) Ví dụ, các công thức cóthể quyết định phần lớn việc cung cấp tài chính, trong khi một tỉ lệ ngân sách
sẽ được xác định việc bán những chỗ tăng số lượng sinh viên cho Chính phủ.Tuy nhiên, thường có thể xác định được một mô hình chủ đạo tương ứng vớimột trong những loại hình lý tưởng nêu trên
Một số điểm quan trọng khác là hầu hết các mô hình cung cấp tàichính, trong thực tế là tăng thêm so với sự phân bổ mà trường nhận đượctrong năm trước cộng với, hoặc trừ đi, khoản tăng thêm đưa đến những hệ quảkhác nhau: Khi số tăng là dương thì thường ít có những phức tạp xảy ra; Khi
số tăng là âm, thường có những khó khăn lớn trong việc phân bổ những khoảntiền cắt giảm và cần quản lý tài chính chặt chẽ nếu muốn tài sản không bịphân phối một cách tuỳ tiện (ví dụ: cắt giảm nhân viên dựa trên việc ra đi củacác cá nhân chứ không phải là sự quyết định của chính sách) để dẫn đến thiệthại về lâu dài cho trường đại học
Không thể đặt mối quan hệ chính xác giữa cơ cấu cấp ngân quỹ từ bênngoài với tiến trình phân bố nguồn lực từ bên trong, nhưng kinh nghiệm của
Trang 32nhiều nước đã cho thấy rằng cách thứ nhất ở trên, và trong một chừng mựcnào đó, cách thức ba đòi hỏi một biện pháp quy chế hành chính để đảm bảocác nguồn lực được sử dụng theo yêu cầu của Chính phủ hoặc cơ quan cungcấp tài chính Trung ương Cách thứ tư và thứ năm cần những cấp độ khácnhau của quản lý theo hướng thị trường theo cách kinh doanh và sự thoả mãncác nhu cầu của thị trường.
Các quy định quản lý tài chính ở một trường phụ thuộc nhiều vào cácchính sách điều hành do Chính phủ áp dụng Tuy nhiên cho dù không có thực
tế này đi nữa thì ngân sách của nhà trường vẫn là một công cụ quản lý quantrọng Việc chuẩn bị kế hoạch tài chính và ngân sách cho trường và mỗi đơn
vị thành viên trong trường làm nên một công cụ quản lý quan trọng cho cácchức năng: Phối hợp; Kiểm soát; Đánh giá
Trong thực tế thường thường ở các hệ thống đại học/cao đẳng truyềnthống, Hội đồng trường đưa ra những hướng dẫn cho các khoa về cách thứcchuẩn bị kế hoạch ngân sách Một tiến trình lặp lại cũng sẽ diễn ra khi các kếhoạch được đệ trình, xem xét và sửa chữa Trong thực tế, đây là tiến trình mặc
cả mà mỗi mục đích riêng lẻ được trao đổi vì lợi ích chung của các tổ chức
1.7 Cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học
1.7.1 Phân bổ ngân sách theo từng hoạt động
Đây là cơ chế phân bổ ngân sách khá truyền thống và là một phươngthức chủ đạo trong một thời kỳ dài trong quá khứ ở nhiều nước, trong đó cóViệt Nam Trong hệ thống này, cơ sở giáo dục đại học nhận được ngân sáchcủa Nhà nước được chia nhỏ thành từng loại chi tiêu Các khoản tiền cụ thểđược phân bổ cho mỗi hoạt động hoặc mỗi loại chi tiêu và tiền chỉ được chitiêu trong khuôn khổ các tiêu chí đã được quy dịnh Các tiêu chí đó đượcquyết định bởi các yếu tố đầu vào của chức năng “sản xuất” giáo dục đại học,
Trang 33gồm nhân sự, cơ sở vật chất, tiền, tài liệu giảng dạy và nghiên cứu, các khoảnchi phí đi lại, chi phí bảo dưỡng nhà cửa v.v.
Trong khuôn khổ này, đặc trưng của mối quan hệ giữa Nhà nước và cơ
sở giáo dục đại học có thể coi là do đầu vào điều phối Các chức năng lập kếhoạch và kiểm soát được hoà nhập vào ngân sách, chủ yếu nhấn mạnh vàoviệc lập kế hoạch và quản lý đầu vào và cơ cấu tiến trình hoạt động bằng việcquyết định chặt chẽ từ trước tỉ lệ phân bổ các yếu tố đầu vào của giáo dục đạihọc Điều đó có nghĩa là không có khuyến khích về chất lượng đầu ra, hoặccải thiện đầu ra, mà chỉ tính đến trong mô hình ngân sách giáo dục đại họcnày là các khoản tiền thực tế được phân bổ cho các trường dựa trên các khoảntăng tương ứng với tỉ lệ lạm phát và gia tăng nhân viên
Đây là phương pháp chung được áp dụng ở Châu Âu trước khi cónhững khó khăn về tài chính đặt ra do việc mở rộng tràn lan giáo dục đại họcvào đầu những năm 1980 Cho đến nay, những hệ thống như thế này vẫn làchủ đạo ở một số nước ở Châu Âu lục địa và ở phần lớn các nước Đông Âu
1.7.2 Phân bổ Ngân sách theo kiểu khoán chi một cục
Các trường đại học, cao đẳng theo hệ thống tự chủ nhận được ngânsách khoán một cục, chứ không chia ra theo các khoản chi tiêu và kiểu tổchức Điều này sẽ cho phép các trường quyết định cách thức phân bổ cáckhoản tiền được nhận từ ngân sách nhà nước
Các Chính phủ áp dụng cơ chế phân bổ ngân sách khoán chi một cụcsau một thời gian áp dụng việc phân bổ ngân sách theo từng hoạt động chuyểnhướng chú ý từ trách nhiệm đầu vào sang trách nhiệm đầu ra Điều này cónghĩa là các trường đại học phải báo cáo kết quả về các kết quả giáo dục vànghiên cứu của mình trước Chính phủ và công chúng
Trang 34Các khoản tiền một cục cho các chương trình giảng dạy chỉ là một phầnngân sách của trường đại học, ví dụ như trả lương nhân viên, quản lý, bảodưỡng, dựa trên số lượng sinh viên tính theo từng môn học Công tác nghiêncứu và đầu tư sẽ được chi trả bằng các khoản tiền khác nhau theo một côngthức cố định.
1.7.3 Phân bổ Ngân sách dựa trên công thức
Một số công thức rất phức tạp đã được thiết lập dựa trên các chỉ số giá
cả và dùng làm căn cứ cho việc phân bổ ngân sách cho các trường đại học.Các chỉ số liên quan đến việc giảng dạy như: số lượng sinh viên theo học; sốlượng sinh viên tốt nghiệp; số chỗ được sử dụng; số giờ dạy tính theo cơ cấuchương trình và số lượng sinh viên nhập học Bên cạnh đó, các chỉ số liênquan đến hoạt động nghiên cứu khoa học, như là: kết quả thực hiện công tácnghiên cứu theo đánh giá của đồng nghiệp; kết quả công tác nghiên cứu theocác nguồn thu ngoài Nhà nước; số cán bộ nghiên cứu (nhằm quyết định cáckhoản tiền hiện hành)
Trong thực tiễn ngày càng có xu hướng chia các nguồn tài chính theocác lĩnh vực giảng dạy và nghiên cứu khoa học hoặc các mục tiêu mà Chínhphủ mong muốn đạt được Theo cách đó, việc cung cấp tài chính theo mụcđích đặc biệt (chương trình mục tiêu) được áp dụng để phân bổ các khoản tiền
để dành riêng (các khoản tiền mà mục đích đã được xác định rõ) Điều này cónghĩa là có thể sẽ thành lập các chương trình hoặc đơn vị nghiên cứu nhấtđịnh tại một hoặc một số trường, cấp tiền cho đầu tư, giới thiệu công nghệthông tin, phụ cấp việc dạy quá giờ của giáo viên v.v Các khoản tiền dànhcho mục đích đặc biệt (chương trình mục tiêu) có thể được thực hiện dướidạng hợp đồng theo đó tiền được cấp với điều kiện các mục đích đặc biệt cóthể sẽ được hoàn thành trong phạm vi các nguồn lực hiện có
1.7.4 Phân bổ ngân sách khuyến khích
Trang 35Là cơ chế phân bổ những khoản tiền bổ sung của Chính phủ để sử dụngnhằm đạt được những hiệu quả nhất định Biện pháp khuyến khích cũng cóthể hướng vào các mục đích chung hơn, như nâng cao chất lượng, rút ngắnthời gian học tập, hoặc có thể tập trung vào những mục đích cụ thể nào đónhư ảnh hưởng đến việc cân đối nhóm môn học để hỗ trợ cho những môn họcnhất định Đặc điểm chủ yếu của cơ chế phân bổ ngân sách khuyến khích làcác khoản tiền hạn chế với tác động vào các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ
1.8 Một số cơ chế phân bổ NSNN và khả năng vận dụng cho giáo dục đại học Việt Nam
1.8.1 Cấp kinh phí theo đầu ra
Là một cơ chế cấp ngân sách trên cơ sở mức độ hoàn thành nhiệm vụ(các chỉ tiêu quan trọng là: tỷ lệ sinh viên hoàn thành khoá học, tỷ lệ bỏ học,
tỷ lệ lên lớp hoặc lưu ban), tức là phân phối ngân sách nhằm khuyến khích các trường trên cơ sở tính hiệu quả trong của đào tạo Hầu hết kinh nghiệm
cấp ngân sách theo đầu ra là còn mới để có thể rút ra các kết luận một cáchchuẩn xác Tuy nhiên theo các chuyên gia nghiên cứu về tài chính của giáodục đại học đã thừa nhận rằng cấp kinh phí theo đầu ra có hiệu quả khi cáctrường đại học có tỷ lệ lưu ban và bỏ học cao, khi các trường đại học có cơchế sàng lọc tốt (ví dụ như các trường có ngành đào tạo mở rộng điều kiệntuyển đầu vào nhưng lại đảm bảo yêu cầu chặt chẽ đối với đầu ra: Luật, Quảntrị kinh doanh, Ngoại ngữ, Văn hóa nghệ thuật, )
Cách cấp kinh phí căn cứ đầu ra là cấp ngân sách theo số sinh viên tốtnghiệp, chuẩn chi ngân sách đơn vị hàng năm và thời gian học theo kế hoạchcủa chương trình đào tạo Trong thực tế nếu mức độ tuyển lựa đầu vào thấp(ghi danh vào học), các trường đại học nếu có xu hướng chấp nhận sinh viêndưới mức trung bình, hệ thống sàng lọc không tốt, thì việc cấp kinh phí theođầu ra không phát huy tác dụng Giáo dục đại học Việt Nam hiện nay hệ
Trang 36thống sàng lọc không khắt khe, hầu hết (98-100%) sinh viên qua kỳ thi tuyểnquốc gia được vào các trường đại học và cao đẳng đều có khả năng hoànthành khoá học theo đúng kế hoạch thời gian của chương trình đào tạo Tuynhiên, hệ thống sàng lọc sẽ được phát triển và đảm bảo độ tin cậy chỉ khi màviệc tuyển lựa đầu vào không giống như việc thi tuyển sinh hiện nay ở nước
ta Bởi vì một mặt ít ai muốn quan tâm phải sàng lọc lại khi đã có một kỳ thituyển sinh rất khó khăn như hiện nay ở Việt Nam, mặt khác, các trườngkhông muốn loại (trừ trường hợp đã vi phạm nội quy) số sinh viên theo chỉtiêu đã được Nhà nước cấp đồng nghĩa với nguồn ngân sách
Việc cấp kinh phí theo đầu ra sẽ cho phép mở rộng quy mô đầu vào(thậm chí một số trường đại học và cao đẳng có thể chỉ cần ghi danh vào học
mà không cần qua thi tuyển) song song với việc kiểm tra thi cử sàng lọc tốttrong các trường đại học và cao đẳng có thể đồng thời đạt được hai mục tiêu:tăng cơ hội học tập thông qua việc mở rộng quy mô đầu vào tạo điều kiện chonhững học sinh ở những vùng sâu xa không có điều kiện ôn luyện thi đại họcnhưng lại rất cố gắng và có khả năng theo học tại các trường cao đẳng đạihọc; bên cạnh đó sức ép tuyển lựa đầu vào sẽ tùy thuộc vào từng trường, tăngtính tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các trường Cơ chế này cho phép BộGiáo dục và Đào tạo tập trung vào việc xây dựng các chuẩn mực và theo dõi
giám sát việc thực hiện, thay vì phải “vừa đá bóng vừa thổi còi”.
1.8.2 Cấp kinh phí dựa vào sinh viên - ưu điểm và khả năng vận dụng cho giáo dục đại học Việt Nam
Là một cơ chế phân phối ngân sách có lựa chọn và có hiệu quả thôngqua việc chuyển tài trợ cho chính các sinh viên bằng các khoản trợ cấp hoặccho vay thay vì phân bổ và cấp trực tiếp cho các trường đại học Cách tài trợnày điển hình nhất là vừa mới được thực hiện ở Chi Lê trong vòng khoảng 10
Trang 37năm trở lại đây, nó đã tạo thuận lợi cho sinh viên lựa chọn ngành đào tạo vàtrường Đồng thời nó buộc các trường phải có trách nhiệm hơn với nhu cầuthị trường lao động
Tuy nhiên hệ thống tiêu chí dựa vào sinh viên và định hướng theo thịtrường một mặt đòi hỏi hệ thống giáo dục đại học phải được đa dạng hoá đểsinh viên có thể lựa chọn Mặt khác nhu cầu của thị trường, nhất là ở nhữngnước thị trường lao động chưa phát triển (ví dụ như ở Việt Nam hiện nay vàtrong ít nhất 3 đến 5 năm tới), thị trường lao động thường bị biến dạng méo
mó, đã gây khó khăn cho sinh viên (và phụ huynh) trong quá trình lựa chọn.Kinh nghiệm cho sinh viên toàn Liên bang vay tiền ở Mỹ chỉ ra rằng, ngaymột nước có thị trường lao động phát triển, có một hệ thống thông tin đầy đủ
về các trường đại học và kết quả của thị trường lao động, phần nhiều sinhviên vẫn bị mắc sai lầm bởi các cơ sở đào tạo (nhất là các cơ sở tư nhân) cóchuẩn đào tạo thấp
Trang 38Tiểu kết chương 1
Trong chương I, chúng tôi đã tổng hợp một số vấn đề lý luận liên quanđến giáo dục đại học, vai trò của giáo dục đại học với nền kinh tế quốc dân,hiệu quả đầu tư cho giáo dục đại học Đồng thời, chúng tôi cũng đã hệ thốnghóa một số vấn đề liên quan đến ngân sách, vai trò của ngân sách với giáo dụcđại học, chi ngân sách cho giáo dục, các cơ chế phân bổ ngân sách Phần cơ
sở lý luận này sẽ là tiền đề cho việc chúng tôi tiến hành nghiên cứu về thựctrạng công tác phân bổ ngân sách nhà nước cho các trường đại học trực thuộc
Bộ Giáo dục và đào tạo, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chếphân bổ NSNN cho các trường nhằm đảm bảo tính hiệu quả, bền vững
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN BỔ NGÂN SÁCH CHO CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRỰC THUỘC BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
2.1 Hệ thống các trường đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
2.1.1 Qui mô mạng lưới
Các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ hiện nay bao gồm 38 trường đại học,cao đẳng (trong đó có 3 Đại học vùng, 3 trường cao đẳng và 30 trường đạihọc,1 Học viện, 1 Viện); 4 trường dự bị đại học, 3 trường dân tộc nội trú Nếutính các trường đại học thành viên, tổng số trường đại học, cao đẳng trựcthuộc Bộ là 50 trường đại học, cao đẳng (năm 2011 thành lập Trường Đại họcCông nghệ Thông tin và Truyền thông thuộc Đại học Thái Nguyên, trên cơ sởnâng cấp Khoa Công nghệ Thông tin) Năm 2011, một số trường đại học đã
có Đề án trình Bộ xin phép thành lập cơ sở 2 là: Trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM, Trường Đại học MởTPHCM, Trường Dự bị đại học dân tộc TW Nha Trang, Trường Dự bị Đạihọc dân tộc Sầm Sơn
Năm 2011, Trường Đại học Vinh đã được Thủ tướng Chính phủ phêduyệt đưa vào danh mục các trường Đại học trọng điểm, nâng tổng số trườngđại học trọng điểm trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo lên 11 trường trongtổng số 16 trường trong toàn quốc Đây là cơ hội nhưng cũng là những tháchthức lớn, đòi hỏi các trường cần sớm có qui hoạch tổng thể và kế hoạch cụ thểtrong việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất nhà trường, bồi dưỡng, bổ sung độingũ giáo viên có chất lượng cao, tiếp tục đổi mới nội dung và chương trìnhđào tạo… để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu xãhội Đến nay mới có 11 trường trực thuộc Bộ (chiếm 22%) đã xây dựng quyhoạch phát triển tổng thể nhà trường đến năm 2020
Trang 402.1.2 Qui mụ sinh viờn
Bảng 2.1 : Quy mụ sinh viờn cỏc trường trực thuộc Bộ GD&ĐT
Số
TT Tờn trường
ĐTSau đại học Đào tạo
Đại học
Đào tạo Cao
đẳng
Đào tạo TCCN Nghề ĐT
Dự bị
ĐH, CĐ
Đào tạo PT Tiến
Dtộc nội trú Tổng cộng 2.571 40.104 450.486 46.456 25.498 2.199 3.760 2.205 2.600
1 Đại học Thỏi Nguyờn 160 3.237 37.895 5.050 1.500 1.450