1. Lý do chọn đề tài Thực tế đã minh chứng trên thế giới bất cứ một Quốc gia nào, dân tộc nào sớm quan tâm đến Giáo dục - Đào tạo, Quốc gia đó, dân tộc đó có nền kinh tế phát triển vượt trội. Uỷ ban Quốc tế về giáo dục đã coi giáo dục là quyền cơ bản của con người và cũng là giá trị chung nhất của nhân loại. Nước ta, mặc dù nền kinh tế còn phát triển ở mức độ thấp, chưa bền vững, nhưng ngân sách đầu tư cho giáo dục năm sau luôn cao hơn năm trước. Song mức độ đầu tư cho Giáo dục - Đào tạo chưa theo kịp với tốc độ và qui mô phát triển ngày một lớn. Chủ trương xã hội hoá Giáo dục - Đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người, của cả cộng đồng vừa là để huy động các nguồn lực. Đặc biệt là nguồn lực tài chính để tạo đà cho Giáo dục - Đào tạo phát triển một cách đúng hướng đang được coi là giải pháp tích cực và hữu hiệu phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong xu thế hội nhập. Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học giai đoạn 2006 - 2020 đã nêu rõ: Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục đại học nhằm đa dạng hoá nguồn lực và nâng cao hiệu quả đầu tư, trong đó “Cơ sở giáo dục đại học chủ động thực hiện đa dạng hoá nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục đại học, khai thác triệt để các nguồn lực từ nghiên cứu và triển khai: nguồn lực từ các dịch vụ và tư vấn, nguồn lực ngoài nhà nước và các đầu tư của nước ngoài” [12, tr.30].12 Nhằm cụ thể hoá chủ trương phát triển giáo dục và đảm bảo cho giáo dục & đào tạo Việt Nam phát triển đúng hướng, nhanh và bền vững trong thời gian tới Đảng, Nhà nước ta đã và đang tiếp tục giao nhiệm vụ cho Bộ Giáo dục & đào tạo xây dựng đề án “Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009 - 2014” với mục tiêu là xây dựng cơ chế tài chính mới cho giáo dục, nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước, xã hội để nâng cao chất lượng và tăng quy mô giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Đây sẽ là động lực cho ngành giáo dục nói chung và đào tạo đại học nói riêng tăng thêm nguồn lực tài chính cho giáo dục. Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương tiền thân là Trường Trung cấp Sư phạm Thể dục (thuộc Bộ Giáo dục & Đào tạo). Sau khi thành lập, trường mở thêm hệ Trung cấp Sư phạm Âm nhạc (năm 1968); Trung cấp Sư phạm Hội hoạ (năm 1970) và từ 1970 lấy tên là Trường Sư phạm Thể dục-Nhạc Hoạ Trung ương. Năm 1980 Trường được nâng cấp lên Cao đẳng Sư phạm Thể dục - Nhạc - Hoạ Trung ương và năm 1985 Hội đồng Bộ trưởng có Quyết định số 261/HĐBT do Phó Chủ tịch HĐBT Tố Hữu ký ngày 07/11/1985, tách trường Cao đẳng Sư phạm Thể dục - Nhạc Hoạ Trung ương thành: Trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc - Hoạ TW và Trường CĐSP Thể dục TW1 (nay là trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Tây). Ngày 26/5/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 117/2006/QĐ-TTg về việc thành lập trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương trên cơ sở trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc - Hoạ Trung ương. Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW là một cơ sở giáo dục hàng đầu của cả nước trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên về văn hóa nghệ thuật. Theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 Của Chính Phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, nhà trường đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại Quyết định số 1341/QĐ-BGDĐT ngày 26/03/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo[13] Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn, tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý nhằm tăng cường nguồn lực tài chính tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương”
Trang 1Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
PGS - TS Lê Phước Minh - người hướng dẫn khoa học - đã tận tình giúp đỡ,
chỉ bảo ân cần trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Nghệthuật Trưng Ương, phòng Kế hoạch - Tài chính, phòng Đào tạo, phòng hànhchính - Tổng hợp, phòng Khoa học Công nghệ, phòng Công tác Học sinh -Sinh viên Các khoa chuyên môn, giảng viên, chuyên viên phụ trách Kế toán,Tài chính, sinh viên của nhà trường đã nhiệt tình cung cấp số liệu, các tư liệutrong quá trình khảo sát, điều tra giúp tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viênkhích lệ, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập
Mặc dù cố gắng hết mình để hoàn thành luận văn này, nhưng do thờigian và khả năng có hạn, luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giảrất mong nhận được sự góp ý, phê bình, chỉ bảo của các thầy cô và các bạnđồng nghiệp góp ý, bổ sung để giúp cho luận văn được hoàn chỉnh hơn
Hà nội, ngày 28 tháng 5 năm 2012
Tác giả
ĐÀO THỊ VIỆT HÀ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Bố cục của đề tài 4
Chương 1: NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 5
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu về nguồn lực tài chính và quản lý các nguồn lực tài chính cho giáo dục 5
1.2 Nguồn lực tài chính và vai trò của nguồn lực tài chính trong phát triển giáo dục đại học 8
1.2.1 Khái niệm tài chính, nguồn lực tài chính và ngân sách nhà nước 8
1.2.2 Vai trò nguồn lực tài chính đối với phát triển giáo dục đại học 16
1.3 Sử dụng và Quản lý nguồn lực tài chính trong phát triển giáo dục đại học 17
1.3.1 Khái niệm về quản lý và quản lý giáo dục 17
1.3.2 Cơ sở pháp lý hiện hành về công tác quản lý tài chính giáo dục và đào tạo 19
1.3.3 Nội dung quản lý tài chính trong giáo dục đại học 20
1.4 Kinh nghiệm ở một số quốc gia về huy động các nguồn lực tài chính cho các trường đại học 30
1.4.1 Sự đầu tư của nhà nước luôn ở mức cao 30
1.4.2 Huy động nguồn tài chính từ cá nhân, các tổ chức và doanh nghiệp 31
Kết luận chương 1 34
Trang 4Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH VÀ HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ
THUẬT TRUNG ƯƠNG 36 2.1 Quá trình xây dựng và phát triển của Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương 36 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương 36 2.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương 38 2.1.3 Cơ cấu tổ chức, bộ máy 39 2.1.4 Kết quả đào tạo giai đoạn 2007 - 2012 40 2.2 Thực trạng công tác huy động và quản lý các nguồn tài chính của Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương 43 2.2.1 Thực trạng tình hình đầu tư tài chính từ nguồn ngân sách nhà nước cấp 43 2.2.2 Thực trạng thu chi tài chính từ nguồn ngoài ngân sách nhà nước cấp 46 2.3 Đánh giá chung về thực trạng về huy động và quản lý các nguồn tài chính
ở Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương trong thời gian qua 54 Kết luận chương 2 66
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM TĂNG CƯỜNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG TRONG GIAI ĐOẠN 2012-2020 67 3.1 Định hướng phát triển của Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương trong giai đoạn 2012-2020 67 3.1.1 Bám sát quan điểm của Đảng: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu và đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” 67 3.1.2 Phải quán triệt tính chất và quy luật của mối quan hệ giữa phát triển giáo dục với phát triển kinh tế - xã hội 68 3.1.3 Nắm vững và quán triệt nhiệm vụ đào tạo của trường Đại học Sư
phạm Nghệ thuật Trung Ương 69
Trang 53.2 Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường nguồn lực tài chính phục vụ đào
tạo tại trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương 70
3.2.1 Tăng cường quản lý, giám sát sử dụng có chất lượng, hiệu quả nguồn Ngân sách Nhà nước 70
3.2.2 Khai thác triệt để những ưu thế, mở rộng nguồn thu phục vụ công tác đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương 72
3.2.3 Điều chỉnh quy chế chi tiêu nội bộ trong đó chú trọng việc chi tiêu đúng người, đúng việc nhằm tiết kiệm và chi tiêu hợp lý mọi nguồn kinh phí của nhà trường 75
3.2.4 Xây dựng cơ chế khuyến khích mở rộng nguồn thu từ các các hoạt động dịch vụ có thu của nhà trường 80
3.2.5 Tăng cường xã hội hóa và huy động sự đóng góp xây dựng trường từ các cựu sinh viên, các cơ quan tổ chức văn hóa, xã hội, kinh tế trong và ngoài nước 82
Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
1 Kết luận 88
2 Khuyến nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 95
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy trường ĐHSP NTTW 39
Bảng 1.1 Tình hình đầu tư ngân sách nhà nước cho Giáo dục - Đào tạo giai đoạn 2001 - 2010) 28
Bảng 2.1: Quy mô đào tạo 41
Bảng 2.2: Quy mô đào tạo Đại học 42
Bảng 2.3 : Quy mô đào tạo cao học 42
Bảng 2.4: Nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp từ năm 2007 - 2012 cho trường ĐHSP Nghệ thuật TW 43
Bảng 2.5: Tổng thu kinh phí ngoài ngân sách nhà nước cấp từ năm 2007 - 2012 47
Bảng 2.6: Diễn biến nguồn lực tài chính qua 6 năm gần đây 49
Bảng 2.7: Tình hình sử dụng kinh phí ngoài ngân sách nhà nước cấp từ năm 2007 - 2011 50
Bảng 2.8: Phân tích tỷ trọng các khoản chi nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước cấp 52
Bảng 2.9: Phân tích tỷ trọng các khoản chi tổng nguồn kinh phí 53
Bảng 2.10: Số lượng khách thể được điều tra về các nội dung cơ bản 55
Bảng 2.11: Nhận thức về tầm quan trọng của nguồn lực tài chính phục vụ đào tạo (1≤X≤3) 56
Bảng 2.12: Đánh giá về tính kịp thời của việc sử dụng nguồn lực tài chính (1≤X≤3) 58
Bảng 2.13: Đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực tài chính phục vụ đào tạo (1≤X≤3) 61
Bảng 2.14: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính (1≤X≤3) 62
Biểu đồ 2.1: Nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp từ năm 2007 - 2012 cho trường ĐHSP Nghệ thuật TW 44
Biểu đồ 2.2: Tổng thu kinh phí ngoài ngân sách nhà nước cấp từ năm 2007 - 2012 48
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thực tế đã minh chứng trên thế giới bất cứ một Quốc gia nào, dân tộcnào sớm quan tâm đến Giáo dục - Đào tạo, Quốc gia đó, dân tộc đó có nềnkinh tế phát triển vượt trội Uỷ ban Quốc tế về giáo dục đã coi giáo dục làquyền cơ bản của con người và cũng là giá trị chung nhất của nhân loại
Nước ta, mặc dù nền kinh tế còn phát triển ở mức độ thấp, chưa bềnvững, nhưng ngân sách đầu tư cho giáo dục năm sau luôn cao hơn năm trước.Song mức độ đầu tư cho Giáo dục - Đào tạo chưa theo kịp với tốc độ và qui
mô phát triển ngày một lớn
Chủ trương xã hội hoá Giáo dục - Đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu họctập của mọi người, của cả cộng đồng vừa là để huy động các nguồn lực Đặcbiệt là nguồn lực tài chính để tạo đà cho Giáo dục - Đào tạo phát triển mộtcách đúng hướng đang được coi là giải pháp tích cực và hữu hiệu phù hợp vớiđiều kiện của Việt Nam trong xu thế hội nhập
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ về đổi mới cơ bản vàtoàn diện giáo dục đại học giai đoạn 2006 - 2020 đã nêu rõ: Đổi mới cơ chếtài chính giáo dục đại học nhằm đa dạng hoá nguồn lực và nâng cao hiệu quả
đầu tư, trong đó “Cơ sở giáo dục đại học chủ động thực hiện đa dạng hoá nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục đại học, khai thác triệt để các nguồn lực
từ nghiên cứu và triển khai: nguồn lực từ các dịch vụ và tư vấn, nguồn lực ngoài nhà nước và các đầu tư của nước ngoài” [12, tr.30].12
Nhằm cụ thể hoá chủ trương phát triển giáo dục và đảm bảo cho giáodục & đào tạo Việt Nam phát triển đúng hướng, nhanh và bền vững trong thờigian tới Đảng, Nhà nước ta đã và đang tiếp tục giao nhiệm vụ cho Bộ Giáo
dục & đào tạo xây dựng đề án “Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn
2009 - 2014” với mục tiêu là xây dựng cơ chế tài chính mới cho giáo dục,
nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước, xã hội để
Trang 8nâng cao chất lượng và tăng quy mô giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Đây sẽ là động lực chongành giáo dục nói chung và đào tạo đại học nói riêng tăng thêm nguồn lựctài chính cho giáo dục
Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương tiền thân là TrườngTrung cấp Sư phạm Thể dục (thuộc Bộ Giáo dục & Đào tạo) Sau khi thànhlập, trường mở thêm hệ Trung cấp Sư phạm Âm nhạc (năm 1968); Trung cấp
Sư phạm Hội hoạ (năm 1970) và từ 1970 lấy tên là Trường Sư phạm Thể Nhạc Hoạ Trung ương Năm 1980 Trường được nâng cấp lên Cao đẳng Sưphạm Thể dục - Nhạc - Hoạ Trung ương và năm 1985 Hội đồng Bộ trưởng cóQuyết định số 261/HĐBT do Phó Chủ tịch HĐBT Tố Hữu ký ngày07/11/1985, tách trường Cao đẳng Sư phạm Thể dục - Nhạc Hoạ Trung ươngthành: Trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc - Hoạ TW và Trường CĐSP Thể dụcTW1 (nay là trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Tây) Ngày 26/5/2006, Thủtướng Chính phủ đã ký Quyết định số 117/2006/QĐ-TTg về việc thành lậptrường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương trên cơ sở trường Cao đẳng
dục-Sư phạm Nhạc - Hoạ Trung ương Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW
là một cơ sở giáo dục hàng đầu của cả nước trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ,giáo viên về văn hóa nghệ thuật Theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25tháng 4 năm 2006 Của Chính Phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị
sự nghiệp công lập, nhà trường đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại Quyết định số 1341/QĐ-BGDĐTngày 26/03/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo[13]
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn, tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên
cứu: “Biện pháp quản lý nhằm tăng cường nguồn lực tài chính tại Trường
Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương”
Trang 93 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp quản lý nhằm tăng cường nguồn lực tài chính phục
vụ đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, công tác quản lý tài chính của Trường Đại học Sư phạmNghệ thuật Trung Ương đã có nhiều đổi mới và đạt được kết quả đáng khích
lệ Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế thể hiện: chưa huy động tốt các nguồnlực tài chính; Hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính đối với các hoạt động củanhà trường chưa cao
Nếu đề xuất và thực hiện một số biện pháp quản lý khoa học, hợp lý sẽ
góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới hoạt động quản lý tài chính của nhà trường
trong bối cảnh hiện nay nhằm tăng cường nguồn lực tài chính phục vụ cho sựnghiệp phát triển của Nhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về nguồn lực tài chính và quản lý
nguồn lực tài chính cho Giáo dục - Đào tạo
5.2 Phân tích và đánh giá thực trạng đầu tư tài chính, sử dụng và quản
lý nguồn lực tài chính phục vụ cho công tác đào tạo ở của Trường Đại học Sưphạm Nghệ thuật Trung Ương
5.3 Đề xuất được các biện pháp quản lý có tính khả thi nhằm tăngcường nguồn lực tài chính đối với Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuậtTrung Ương
Trang 106 Phạm vi nghiên cứu
Trọng tâm của đề tài là đề xuất biện pháp quản lý nhằm tăng cường vàđảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động đào tạo của nhà trường
Nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý tài chính tại Trường Đại học
Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương từ năm 2007 đến nay
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Trên cơ sở nghiên cứu các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước; các điều lệ, quy chế của ngành GD&ĐT; Bộ Tài chính; cáccông trình khoa học có liên quan đến vấn đề quản lý tài chính để xác định cơ
sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Tác giả sử dụng phương pháp quan sát, khảo sát, chuyên gia, tổng kếtkinh nghiệm nhằm khảo sát và đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chínhcủa Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính và huy động các
nguồn lực tài chính tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương
Chương 3: Biện pháp quản lý nhằm tăng cường nguồn lực tài chính tại
Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương trong giai đoạn 2012-2020
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 11Chương 1 NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
sẽ tạo ra sự sinh lợi gấp bốn lần cho nền kinh tế
Khi đề cập đến vấn đề tổng quát của lịch sử phát triển loài người,C.Mác đã chỉ rõ ở mỗi giai đoạn phát triển đều đòi hỏi một sức lao động xãhội nhất định Sức lao động đó là: “Toàn bộ các sức mạnh thể chất và sứcmạnh tinh thần ở trong cơ thể con người, ở trong nhân cách sinh động củacon người, những sức mạnh thể chất và tinh thần mà con người phải cho hoạtđộng để sản xuất ra một vật có ích”[7;Tr.233]
Sức mạnh này do đâu mà có C.Mác đã chỉ ra đó là do đào tạo Ông đưa
ra khái niệm lao động phức tạp và lao động giản đơn Ông viết: “Một lao động được coi là cao hơn, phức tạp hơn so với lao động xã hội trung bình thì
đó là biểu hiện của một sức lao động đòi hỏi những chi phí đào tạo cao hơn, người ta phải tốn nhiều thời gian lao động để đào tạo ra nó, và vì vậy nó có một giá trị cao hơn so với sức lao động giản đơn Nếu giá trị của sức lao động đó cao hơn và do đó trong khoảng thời gian lao động bằng nhau nó sẽ được vật hoá trong những giá trị tương đối lớn hơn” [7;Tr.370]
Trong định đề này của Mác đã bao hàm quan điểm sau: Bất cứ sức laođộng phức tạp nào cũng đòi hỏi phải có đào tạo Sự đào tạo cần có chi phí,
Trang 12sức lao động phức tạp sẽ tạo ra các giá trị tương đối lớn hơn so với lao độnggiản đơn
Chính vì thế trong vài thập kỷ gần đây người ta nói đến vai trò kinh tế quản lý giáo dục Vấn đề của giáo dục đối với phát triển kinh tế - sản xuất vàphát triển khoa học - kỹ thuật ngày càng được các nước quan tâm nghiên cứunhiều hơn Cũng vì vậy, họ đã chú trọng đến vấn đề đầu tư vào giáo dục (ngânsách của giáo dục các nước chiếm khoảng 3,5% đến 6% tổng thu nhập nhậpquốc dân) Việc nghiên cứu tính toán sao cho tác dụng của vốn đầu tư vàogiáo dục đạt hiệu quả kinh tế lớn nhất và việc áp dụng các phương pháp phântích kinh tế vào đổi mới công tác tổ chức, quản lý các nguồn lực cho giáo dục,trong đó nhất là nguồn lực tài chính cho giáo dục, đang trở thành một vấn đềcấp thiết
-Nếu trên bình diện của “kinh tế chuẩn tắc” thì sự đóng góp của giáodục với mục đích phát triển kinh tế nâng cao chất lượng cuộc sống rất lớn.Đầu thế kỷ XX, nhà kinh tế học WalRas MarShall đã nêu vai trò to lớn của
những đồng vốn bỏ vào giáo dục Ông nói: “Những khoản tiền bỏ vào giáo dục để mở trường học sẽ thừa sức được thanh toán bằng sự xuất hiện của Niutơn, Moazrart, Bethoven và hàng loạt những nhà khoa học, nghệ thuật lỗi lạc khác” Tuy nhiên, tăng cường quản lý để mỗi khoản tiền chi cho giáo dục
có chất lượng, hiệu quả luôn là một thách thức với mọi quốc gia, và là mộtchủ đề được nhiều nhà kinh tế, quản lý trong và ngoài ngành giáo dục quantâm Một nền kinh tế vững mạnh và tăng trưởng liên tục nếu có một hệ thốnggiáo dục cơ bản với cơ chế đào tạo tiến bộ và được phát triển một cách cânđối cả về số lượng và chất lượng Ngược lại, một nền giáo dục muốn pháttriển được cần có một điểm tựa và sự hỗ trợ bởi một nền kinh tế tiên tiến
Những giai đoạn trước đây, nghiên cứu tài chính cho giáo dục đã được
sự quan tâm của các nhà kinh tế, các nhà giáo dục ở Liên Xô cũ Nhiều tácphẩm nghiên cứu về vấn đề này đã được công bố như:
Trang 13- V.I.Ba Xôv - Những vấn đề tài chính cho giáo dục Nhà xuất bản Tàichính Matxcơva năm 1971 [28]
- V.A.Jamin - Kinh tế học giáo dục Nhà xuất bản kinh tế Matxcơva
dự báo nhu cầu đào tạo cán bộ chuyên môn và công nhân kỹ thuật, dự báo đầu
tư và giáo dục ) nhằm xác định các thông số chủ yếu làm luận cứ cho cácmục tiêu phát triển Giáo dục - Đào tạo
Năm 1998, Vụ Khoa học giáo dục Môi trường thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư đã thực hiện đề tài :“Một số vấn đề về chính sách đầu tư phát triểnGiáo dục - Đào tạo trong thời gian tới” Đề tài đã khái quát thực trạng và nêugiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho Giáo dục - Đào tạo ở nước tatrong những năm 2000
-Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều luận án Tiến sĩ về kinh tế đã nghiêncứu về đầu tư tài chính được đầu tư cho giáo dục như Luận án Tiến sĩ kinh tếcủa Trần Thị Thu Hà :“Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách hệthống giáo dục quốc dân” (2002); Luận án Tiến sĩ kinh tế của Lê PhướcMinh: "Hoàn thiện cơ chế tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam" (2005);Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Bá Cần: "Hoàn thiện chính sách phát triểngiáo dục đại học Việt Nam (2009); Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của ChữThị Hải "Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại trường caođẳng kinh tế Kỹ thuật Điện biên trong giai đoạn hiện nay (2009) và nhiều luận
Trang 14án tiến sỹ, thạc sĩ kinh tế - quản lý giáo dục được nghiên cứu tại Học việnquản lý giáo dục, trường Đại học sư phạm, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam
và nhiều cơ sở đào tạo sau đại học khác Hầu hết các công trình nghiên cứu đã
đề cập các khía cạnh của đầu tư và quản lý tài chính trong giáo dục đại học và
đã đi đến những kết luận khái quát:
- Sự phát triển của nền giáo dục và đào tạo sẽ không thể có được nếunhư không có sự đầu tư thích đáng, thể hiện việc tăng cường nguồn kinh phí
và những biện pháp quản lý nguồn kinh phí đó một cách hiệu quả
- Có một sự liên quan mật thiết giữa sự phát triển con người và pháttriển kinh tế - xã hội
- Đầu tư cho lĩnh vực giáo dục là đầu tư có hiệu quả nhất và nó đangtrở thành quốc sách của các quốc gia trên thế giới
Tiếp nối các nghiên cứu, trong luận văn này, trên cơ sở các nền tảngcăn bản của lý luận quản lý giáo dục, quản lý kinh tế - tài chính trong giáodục, tôi đã đi sâu tìm hiểu khía cạnh của kinh tế học giáo dục dưới góc độquản lý, về khía cạnh đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ công tác đào tạo
1.2 Nguồn lực tài chính và vai trò của nguồn lực tài chính trong phát triển giáo dục đại học
1.2.1 Khái niệm tài chính, nguồn lực tài chính và ngân sách nhà nước.
1.2.1.1 Khái niệm tài chính:
Kinh tế chính trị học Mác - Lênin đã chỉ rõ, tài chính là một phạm trùkinh tế khách quan, nó thuộc về phạm trù phân phối Như mọi phạm trù kinh
tế khách quan khác, tài chính có lịch sử phát sinh, phát triển của nó Lịch sửphát sinh, phát triển của tài chính có thể nhận thấy, tài chính chỉ ra đời và tồntại trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi mà ở đó có những hiện tượngkinh tế - xã hội khách quan nhất định xuất hiện và tồn tại Có thể xem nhữnghiện tượng kinh tế - xã hội khách quan đó như những tiền đề khách quanquyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính với tư cách một phạm
Trang 15trù kinh tế - lịch sử.
Cuối chế độ công xã nguyên thuỷ, phân công lao động xã hội đã bắtđầu phát triển đặc biệt là sự phân công giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp,sản xuất và trao đổi hàng hoá đã làm cho tiền tệ xuất hiện cũng vào thời kỳnày chế độ tư hữu xuất hiện, xã hội bắt đầu đầu phân chia giai cấp và đấutranh giai cấp trong điều kiện lịch sử đó nhà nước xuất hiện, với tư cách làngười có quyền lực chính trị, nhà nước đã nắm lấy việc đúc tiền, in tiền và lưuthông đồng tiền, tác động đến sự độc lập của đồng tiền, trên phương diện quyđịnh hiệu lực pháp lý của đồng tiền và tạo ra môi trường pháp lý cho việc tạolập và sử dụng tiền tệ
Trong điều kiện kinh tế hàng hoá - tiền tệ, hình thức tiền tệ đã được cácchủ thể trong xã hội sử dụng vào việc tham gia phân phối sản phẩm xã hội vàthu nhập quốc dân để tạo lập nên các quỹ tiền tệ riêng phục vụ cho các mụcđích riêng của mỗi chủ thể
Thông qua các thứ thuế bằng tiền và công trái bằng tiền Nhà nước đãtập trung vào tay mình một bộ phận sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dândưới hình thức tiền tệ để lập ra các quỹ tiền tệ riêng phục vụ cho hoạt độngcủa nhà nước và thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
Theo từ điển tiếng việt (2002): thứ nhất, “Tài chính là tiền nong và sự thu chi” Thứ hai, “Tài chính là việc quản lý của cải vật chất xã hội tính bằng tiền theo những mục đích nhất định” [27,Tr.145]
Trong điều kiện tồn tại và phát triển các quan hệ hàng hoá- tiền tệ,nguồn lực tài chính tạo lập ra trước hết được phân phối dưới hình thức giá trị
và biểu hiện ở quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
Sự tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ phản ánh kết quả của các quátrình phân phối Trong quá trình đó phát sinh hàng loạt các quan hệ kinh tếdưới hình thức giá trị, như:
- Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và tổ chức kinh tế phát sinh trong quá
Trang 16trình Nhà nước huy động vốn vào ngân sách Nhà nước và cấp phát tài trợ vốn
từ ngân sách cho các tổ chức kinh tế
- Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các cơ quan quản lý nhà nước,quản lý kinh tế - xã hội thông qua cấp phát kinh phí hoạt động từ ngân sáchnhà nước cho các tổ chức đó
- Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và dân cư phát sinh thông qua quátrình phân phối lại quỹ ngân sách nhà nước tiền tệ trong khu vực dân cư
- Quan hệ kinh tế giữa các tổ chức kinh tế với nhau và với khách hàngcủa mình: Được thực hiện thông qua việc cung ứng tiêu thụ hàng hoá và dịch
vụ với nhau và huy động vốn trên thị trường tài chính
- Quan hệ kinh tế trong nội bộ các tổ chức kinh tế
Từ những sự phân tích trên có thể định nghĩa về tài chính trong cơ chế
thị trường như sau: Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính bằng việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong
xã hội.
Tài chính trong cơ chế thị trường không chỉ bó hẹp ở ngân sách nhànước, tài chính Doanh nghiệp mà còn mở rộng ra các quỹ như quỹ bảo hiểm,quỹ tín dụng, tài chính hộ gia đình Qua đó chúng ta cần có các giải phápnhằm khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính cho phát triểnkinh tế nói chung và cho sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo nói riêng
Tài chính luôn được hiểu là một phạm trù phân phối dưới hình thứcgiá trị, không những thế còn được nhấn mạnh: tài chính là một phạm trù củalĩnh vực giá trị, nó có thể đo lường giá trị và biểu hiện giá trị Chính vì vậy
“Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực tài chính thông qua tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích luỹ hay tiêu dùng của các chủ thể (pháp nhân hay thể nhân) trong xã hội ”
Trang 17Qua đó, chúng ta cần phải có những giải pháp nhằm khai thác và sửdụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế nói chung vàcho sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo nói riêng Cũng cần nhận rõ rằng, trong tiếntrình phát triển của xã hội loài người, thông qua chính sách và cơ chế quản lýkinh tế của mình, nhà nước giữ vai trò tác động thúc đẩy, hoặc kìm hãm sựphát triển của sản xuất hàng hoá thông qua công cụ nguồn lực tài chính.
1.2.1.2 Khái niệm nguồn lực tài chính:
Nguồn lực là yếu tố quan trọng đối với hiệu quả hoạt động của một tổchức Việc quản lý các tổ chức hiện nay diễn ra trong điều kiện các nguồn lựccủa tổ chức ngày càng trở nên chặt chẽ Huy động và sử dụng hợp lý cácnguồn lực nói chung và tài chính nói riêng luôn luôn là một yêu cầu được đặt
ra hàng đầu đối với các chủ thể quản lý
Nguồn lực tài chính là tiền tệ đang vận động với chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ
Sự vận động của các nguồn lực tài chính được phản ánh thông qua sựvận động của những bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị (tiền tệ).Nguồn lực tài chính luôn thể hiện một khả năng về sức mua nhất định
Nguồn lực tài chính Với nhận thức về tầm quan trọng đặc biệt củangân sách nhà nước dành cho Giáo dục - Đào tạo trong quá trình phát triểnđất nước, các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng luônquan tâm đầu tư thích đáng cho sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo Đầu tư cho sựnghiệp này được coi là đầu tư cơ bản, là đầu tư cho sự nghiệp phát triển hoànchỉnh con người - động lực trực tiếp của sự phát triển kinh tế - xã hội Garey
Becker, nhà kinh tế học Hoa kỳ đã khẳng định: “Không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn nhân lực” “Đầu tư cho sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo xét về nguồn hình thành bao gồm nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp và nguồn ngân sách ngoài nhà nước”.[3,Tr 197]
Trang 18Sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo là sự nghiệp của toàn dân, do dân và vìdân Do đó việc quan tâm đến sự nghiệp này là trách nhiệm của toàn xã hội.Với định hướng phát triển Giáo dục - Đào tạo, thực hiện xã hội hoá trongGiáo dục - Đào tạo, đa dạng hoá các nguồn đầu tư cho sự nghiệp Giáo dục -Đào tạo với phương trâm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”.
Tóm lại, nguồn lực tài chính cung cấp cho giáo dục và đào tạo được tạo ra từ việc phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm quốc dân, chủ yếu được phân phối từ quỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng.
1.2.1.3 Khái niệm ngân sách nhà nước:
Đối với nguồn ngân sách nhà nước, như ta đã biết ngân sách nhà nước
là hệ thống các mối quan hệ tiền tệ giữa nhà nước với các chủ thể khác trong
xã hội Ngân sách luôn gắn liền với nhà nước, một nhà nước ra đời trước hếtphải có nguồn lực tài chính để chi tiêu cho mục đích bảo vệ sự tồn tại và hoạtđộng của mình.Với sự nghiệp đào tạo thì sự đầu tư từ ngân sách nhà nước làyếu tố có tính chất quyết định đối với sự hình thành, mở rộng và phát triển
Trước hết chi ngân sách cho sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo là một nộidung cơ bản nhất của hoạt động chi ngân sách nhà nước và được ưu tiên hàngđầu Ngân sách nhà nước đã từng bước đảm bảo ổn định đời sống của đội ngũcán bộ giảng dạy, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tài liệu phục vụ giảng dạy,học tập và nghiên cứu Ngoài ra ngân sách nhà nước còn có vai trò điều phối
cơ cấu của mỗi trường cũng như toàn bộ hệ thống
Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử Sựhình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện vàphát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ trong các phương thức sản xuất củacác cộng đồng và nhà nước Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tạicủa kinh tế hàng hoá - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và pháttriển của ngân sách nhà nước
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà
Trang 19nước” Ăng ghen đã chỉ ra rằng: nhà nước ra đời trong cuộc đấu tranh của xãhội có giai cấp, nó là sản phẩm của đấu tranh giai cấp Nhà nước xuất hiện với
tư cách là cơ quan có quyền lực công cộng để duy trì và phát triển xã hội Đểthực hiện chức năng đó, nhà nước phải có nguồn lực tài chính Bằng quyềnlực công cộng, nhà nước đã ấn định các thứ thuế, bắt công dân phải đóng góp
và chi tiêu cho bộ máy nhà nước, quân đội, cảnh sát nhưng dần dần nhữngtham vọng về lãnh thổ, về chủ quyền đưa đến các cuộc chiến tranh xâm lượclàm cho bộ máy thống trị, quân đội ngày càng lớn Thuế không đảm bảo đượcnhu cầu chi tiêu buộc nhà nước phải vay nợ bằng cách phát hành công trái
Dưới chế độ phong kiến, chi tiêu của Nhà nước và chi tiêu của nhà Vuakhông có sự khác biệt nhau Khi giai cấp tư sản ra đời, sự lớn mạnh về kinh tếcủa giai cấp này đòi hỏi phải bỏ căn cứ phong kiến, mở rộng thị trường và lưuthông hàng hóa tự do Giai cấp tư sản gây áp lực về kinh tế, tài chính đối vớiNhà Vua, từng bước tham gia và khống chế Nghị viện Giai cấp tư sản đấutranh đòi hỏi nhà Vua không được quyền quyết định thu thuế mà phải do Nghịviện quyết định Sau đó cuộc chiến tranh chuyển sang đòi tách chi tiêu củanhà Vua ra khỏi chi tiêu của Nhà nước và toàn bộ chi tiêu của Nhà nước phải
do Nghị viện quyết định Tất nhiên, nhà Vua không dễ dàng chấp nhận,nhưng với thế lực đang lên ngày càng lớn mạnh nhất là khi đã khống chếNghị viện, giai cấp tư sản đã giành được thắng lợi Tuy nhiên, thu của Nhànước và chi của Nhà nước vẫn là hai mảng riêng biệt Giai cấp tư sản tiếp tụccuộc đấu tranh đòi hỏi thống nhất thu nhập và chi tiêu của Nhà nước vào một
và Ngân sách Nhà nước đã ra đời Ngân sách Nhà nước chỉ các khoản thu nhập và các khoản chi tiêu của Nhà nước được thể chế hóa bằng Pháp luật.
Quốc hội thực hiện quyền lập pháp về Ngân sách Nhà nước còn quyền hànhpháp giao cho Chính phủ thực hiện
NSNN đã có quá trình ra đời và hình thành suốt từ thế kỷ XII đến thế kỷXVIII Cho đến nay, các nhà nước khác nhau đến tạo lập và sử dụng NSNN
Trang 20Thế nhưng người ta vẫn chưa có sự nhất trí về NSNN là gì? có nhiều ý kiếnkhác nhau về khái niệm NSNN mà phổ biến là:
Thứ nhất: NSNN là bản dự toán thu - chi tài chính của nhà nước trongmột khoảng thời gian nhất định, thường là một năm
Thứ hai: NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạch tàichính cơ bản của nhà nước
Thứ ba: NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhànước huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính khác nhau
Các ý kiến trên xuất phát từ cách tiếp cận vấn đề khác nhau và có nhân
tố hợp lý của chúng song chưa đầy đủ Khái niệm NSNN là một khái niệmtrừu tượng, nhưng NSNN là một hoạt động tài chính cụ thể của nhà nước.Khái niệm NSNN, phải được xem xét trên các mặt hình thức, thực thể vàquan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN
Xét về hình thức: NSNN là một bản dự toán thu và chi do chính phủ lập
ra, để trình quốc hội phê chuẩn và giao cho chính phủ tổ chức thực hiện
Xét về thực thể: NSNN bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoảnchi cụ thể và được định lượng Các nguồn thu đều được nộp vào quỹ tiền tệ vàcác khoản chi đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy
Thu và chi quỹ này có quan hệ ràng buộc với nhau gọi là cân đối Cânđối thu, chi NSNN là một cân đối lớn trong nền kinh tế thị trường và đượcnhà nước quan tâm đặc biệt Vì lẽ đó, có thể khẳng định NSNN là một quỹtiền tệ lớn của nhà nước
Xét về các quan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN, các khoản thu nhậpquỹ NSNN, các khoản chi - xuất quỹ NSNN để phản ánh những quan hệ kinh
tế nhất định giữa nhà nước và người nộp, giữa nhà nước với cơ quan, đơn vịthụ hưởng quỹ Hoạt động thu chi NSNN là hoạt động tạo lập - sử dụng quỹNSNN làm cho vốn tiền tệ, nguồn lực tài chính vận động giữa một bên là nhànước và một bên là chủ thể phân phối và ngược lại Hoạt động đa dạng phong
Trang 21phú được tiến hành trên mọi lĩnh vực và có tác động trên mọi chủ thể kinh tế
-xã hội Những quan hệ thu nộp và cấp phát qua quỹ NSNN là những quan hệđược xác định trước, được định lượng và nhà nước sử dụng chúng để điềuchỉnh vĩ mô kinh tế - xã hội
Từ sự phân tích trên ta có thể xác định: NSNN được đặc trưng bằng sựvận động của các nguồn lực tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụngquỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của nhànước trên cơ sở luật định Nó phản ánh các quan hệ kinh tế giữa nhà nước vàcác chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối các nguồnlực tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu
Ngân sách nhà nước, xét về hình thức là một bảng tổng hợp các khoảnthu chi của nhà nước, xét về nội dung kinh tế thì ngân sách nhà nước là hệthống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các tổ chức kinh tế và dân cư
Điều 1 Luật Ngân sách nhà nước đã được Quốc hội Khoá IX kỳ họp
thứ 9 xác định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán và đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước” Qua đó thấy rằng
ngân sách nhà nước được huy động và sử dụng tuỳ thuộc vào chính sách nhànước và các mục tiêu nhà nước đặt ra trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau
Trong cơ chế thị trường, ngân sách nhà nước không còn là ngân sáchcủa toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhưng trong tất cả nguồn đầu tư cho sựnghiệp đào tạo thì nguồn ngân sách nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo và quantrọng thứ nhất Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã
khẳng định: “Đầu tư cho Giáo dục - Đào tạo lấy từ nguồn chi thường xuyên
và nguồn chi phát triển trong ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho Giáo dục - Đào tạo và phải được tập trung Tăng dần tỷ trọng chi ngân sách cho Giáo dục - Đào tạo để đạt được 15% tổng chi ngân sách vào năm 2000”.
Trang 22Chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục đào tạo là khoản chimang tính chất tiêu dùng xã hội nhằm góp phần đảm bảo, duy trì và phát triểnkinh tế - xã hội thông qua việc sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nướcdưới hình thức không hoàn trả trực tiếp, Tuy nhiên, về mặt tác dụng lâu dàichi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo là khoản chi có tínhchất tích luỹ bởi khoản chi này là nhân tố quyết định đến việc tăng trưởng nềnkinh tế trong tương lai.
1.2.2 Vai trò nguồn lực tài chính đối với phát triển giáo dục đại học
Thứ nhất, Nguồn lực tài chính đảm bảo duy trì hoạt động của các
trường trong hệ thống giáo dục đại học
Nguồn lực tài chính nếu đáp ứng đầy đủ và kịp thời các yêu cầu donhiệm vụ và chức năng của bộ máy đạt ra nó sẽ đóng vai trò là công cụ, làđiều kiện quan trọng nhằm vận hành bộ máy thực hiện tốt các hoạt động Cụthể, phải có những trang thiết bị phục vụ cho quá tình dạy học như trường,lớp, phòng học, thư viện, các phòng chuyên môn như phòng múa, phòng tậpđàn, phòng triển lãm tranh Mặt khác, phải xây dựng được các chương trìnhđào tạo cùng hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo, phải trả lương cho độingũ cán bộ, giảng viên trong nhà trường Với khả năng chuyển hóa thànhnguồn lực vật chất và sử dụng nguồn nhân lực Tài chính là điều kiện quantrọng cho việc tạo dựng môi trường để hoạt động giáo dục đại học diễn ra.Nếu thiếu yếu tố tài chính, những đề xuất, biện pháp không thể trở thành hiệnthực được
Thứ hai, Chính sách tài chính góp phần điều phối các hoạt động giáo
dục đại học
Trong quá trình phân bố kinh phí, các nguồn lực tài chính đảm bảocung cấp đủ nhân lực, vật lực cho hoạt động giáo dục Điều phối hay tăngcường nguồn lực tài chính cho ngành học hay cấp học sẽ giúp ngành học haycấp học đó phát triển, từ đó tạo nên hợp lực thúc đấy sự phát triển của hệthống giáo dục đại học
Trang 23Tài chính còn góp phần thực hiện công bằng trong giáo dục, đảm bảoquyền được học tập của con người Nhờ có chức năng phân phối của tàichính, nhà nước có thể tăng cường đầu tư hoặc ban hành những cơ chế, chínhsách tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận giáo dục ở mức độ cầnthiết Từ đó, góp phần quan trọng tạo lập sự công bằng cho xã hội.
Thứ ba, tài chính kiểm tra, giám sát hoạt động giáo dục, hướng hoạt
động giáo dục đến những mục tiêu đã định với những chi phí thấp nhất
Kiểm tra, giám sát tài chính là kiểm tra giám sát bằng đồng tiền Chủthể có thể tiến hành kiểm tra giám sát đối tượng thường xuyên, liên tục vàtrên bình diện rộng Thông qua công tác kiểm tra, giám sát, chủ thể có thểnắm bắt nhanh chóng tình hình hoạt động của đối tượng, thực hiện biện phápphân phối lại tài chính nếu cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của đốitượng cũng như của hoạt động đầu tư tài chính
Giáo dục là vấn đề lớn của quốc gia, cũng là vấn đề nhạy cảm được xãhội quan tâm Những biểu hiện sai lệch trong đầu tư phát triển giáo dục để lạihậu quả nghiêm trọng về kinh tế - xã hội Kiểm tra, giám sát tài chính, vớinhững đặc tính ưu việt của nó, giúp chủ thể đề xuất những giải pháp tìnhhuống, cũng như chiến lược nhằm sử dụng các nguồn lực đầu tư phát triểngiáo dục một cách hợp lý vì sự tiến bộ của con người và sự phát triển của nềnkinh tế - xã hội
1.3 Sử dụng và Quản lý nguồn lực tài chính trong phát triển giáo dục đại học
1.3.1 Khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục và quản lý đào tạo
1.3.1.1 Khái niệm về quản lý:
Quản lý bao giờ cũng là quá trình có mục tiêu đòi hỏi những tác độngtương ứng, phù hợp để hướng dẫn điều khiển những đối tượng quản lý nhằmđạt được mục tiêu Quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống.Trong quản lý bao giờ cũng có những thành phần được liên kết với nhau trong
Trang 24một cấu trúc nào đó Tóm lại, quản lý là sự tác động có ý thức để điều khiển,hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để đạt đượcmục đích đúng với ý chí của nhà quản lý
Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có mộtđịnh nghĩa thống nhất Có người cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sựhoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác
Có tác giả lại quan niệm một cách đơn giản hơn, coi quản lý là sự cótrách nhiệm về một cái gì đó
Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một
hành động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra 1.3.1.2 Khái niệm Quản lý giáo dục:
Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích có kế hoạch hợpquy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối vànguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trườngXHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ,đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến lên trạng thái mới về chất Hay nói cáchkhác Quản lý giáo dục là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi tráchnhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục đểtiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệtrẻ và với từng học sinh
Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cảitiến quản lý giáo dục theo nguyên tắc tăng cường phân cấp quản lý nhà trườngnhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể quản
lý trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo mà xã hội đang yêu cầu
Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp thực hiện mục tiêuđào tạo, giáo dục nhân cách bằng việc truyền thụ những tri thức, đạo đức mànhân loại đã sàng lọc, chiết xuất được cho thế hệ trẻ Vì vậy, nhà trường trong
Trang 25bất cứ xã hội nào cũng sẽ tâm điểm hội tụ của mọi hoạt động giáo dục vàquản lý giáo dục.
1.3.1.3 Quản lý đào tạo:
Quản lý đào tạo là việc nhà trường xây dựng mục tiêu đào tạo, tổ chứcxây dựng và ban hành chương trình nội dung, tổ chức thực hiện kế hoạch đàotạo các chuyên ngành đã được giao Các khoa trực tiếp điều hành mọi hoạtđộng đào tạo giáo viên theo chương trình, kế hoạch đào tạo và những quyđịnh chung của nhà trường
1.3.2 Cơ sở pháp lý hiện hành về công tác quản lý tài chính giáo dục và đào tạo
Luật ngân sách nhà nước năm 2002: Điều 5, luật ngân sách nhà nước
năm 2002 quy định: Chi ngân sách Nhà nước được thực hiện khi có đủ 3điều kiện, trong đó có điều kiện: “Đúng điều lệ, tiêu chuẩn, định mức do cơquan nhà nước có thẩm quyền quy định”[222,Tr.46] Điều 72 luật này cũngkhẳng định “Chi sai chế độ, không đúng mục đích, không đúng dự toán ngânsách được giao”
Luật kiểm toán Nhà nước số 37/2005/QH XI ngày 14/6/2005 của Quốc
hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định “Kiểm toán Nhànước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính Nhà nước doQuốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.[21,Tr.76]
Đề án cải cách cơ chế tài chính giáo dục 2009 - 2014 đã được Quốc hộithông qua
Tại phiên họp ngày 05 tháng 3 năm 2009, Bộ Chính trị đã kết luận vềviệc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 Khóa - VIII, phương hướng pháttriển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 (Thông báo số 242 - TB/TW ngày 15tháng 4 năm 2009) Trong đó, có các nội dung trọng tâm về đổi mới cơ cấu tàichính trong giáo dục như sau:
Tăng đầu tư tài chính cho giáo dục và đào tạo, ưu tiên các chương trình
Trang 26mục tiêu Quốc gia, khắc phục tình trạng bình quân, dàn trải.
Đổi mới cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo nhằm góp phần quantrọng nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô và đảm bảo công bằng trong giáodục; thực hiện chế độ học bổng, học phí, hỗ trợ học phí giáo dục nghề nghiệp
và Đại học thực hiện nguyên tắc chia sẻ chi phí đào tạo giữa Nhà nước vàngười học Miễn học phí cho học sinh, sinh viên các hộ cận nghèo và hỗ trợhọc sinh, sinh viên các hộ có thu nhập thấp Thực hiện tốt chủ trương cho họcsinh học nghề, sinh viên các gia đình có hoàn cảnh khó khăn được vay tiềnngân hàng để học
Nghị định số 43/2006/NĐ- CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế tài chínhđối với đơn vị sự nghiệp công lập
1.3.3 Nội dung quản lý tài chính trong giáo dục đại học
1.3.3.1 Nội dung cơ bản của quản lý tài chính là quản lý thu và chi.
Nguồn thu của cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng công lập gồm: NguồnNSNN cấp và nguồn thu ngoài NSNN
Chi tiêu và sử dụng tốt nguồn lực tài chính trong phát triển giáo dục đạihọc chính là thực hiện nghiêm túc các quy trình của quá trình quản lý tàichính nhằm đảm bảo cho công tác đào tạo trong nhà trường thông qua 4 chứcnăng của quản lý sau đây:
+ Khâu lập kế hoạch: Khi lập kế hoạch tài chính cho đào tạo phải dựavào quy mô đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển sự nghiệp Giáo dục - Đàotạo Nắm đầy đủ số liệu về biên chế, học sinh, sinh viên, cơ sở vật của nhàtrường năm báo cáo để có cơ sở dự kiến cho năm kế hoạch Dựa vào số liệu
đã hực hiện trong năm báo cáo về tổng số chi cho các hoạt động trong nhàtrường như chi cho con người, chi quản lý hành chính, chi mua sắm sửachữa, chi nghiệp vụ chuyên môn và các khoản chi xây dựng cơ bản, chươngtrình mục tiêu để làm cơ sở dự kiến cho năm kế hoạch
Trang 27+ Khâu điều hành thực hiện: Cấp phát kinh phí và thực hiện các khoảnchi tiêu kịp thời theo kế hoạch để đảm bảo các hoạt động thường xuyên chonhà trường Giám sát việc điều hành việc chi tiêu cho các bộ phận đảm bảođúng chế độ, đúng mục đích có hiệu quả.
+ Khâu quyết toán kinh phí: Là khâu cuối cùng của việc sử dụng kinhphí, nhằm phản ánh đầy đủ các khoản chi và báo cáo quyết toán ngân sáchtheo đúng chế độ qui định của luật ngân sách và pháp lệnh kế toán thống kê
về biểu mẫu, thời gian, nội dung các khoản chi tiêu Trên cơ sở báo cáo quyếttoán để phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi tiêu cho công tácđào tạo, rút ra được những ưu nhược điểm trong quá trình quản lý đồng thờilàm cơ sở cho việc lập kế hoạch năm sau sát thực hơn
+ Cuối cùng là khâu kiểm tra: Việc thực hiện kế hoạch không phải baogiờ cũng đúng như dự kiến Vì vậy, đòi hỏi phải có sự kiểm tra thường xuyên
để nắm tình hình về quản lý tài chính nhằm bảo đảm hiệu quả đầu tư
Để quản lý các nguồn lực tài chính cho Giáo dục - Đào tạo ở cấp vĩ mô,Nhà nước xây dựng các định mức chi Các định mức chi này do Bộ Tài chính,
Bộ Kế hoạch Đầu tư và Bộ Giáo dục - Đào tạo quyết định và xem xét hàngnăm đối với Giáo dục - Đào tạo, các định mức chi được xác định trên cơ sở sốlượng học sinh, sinh viên Thông qua định mức chi ngân sách hàng năm cho
sự nghiệp đào tạo đã góp phần định hướng, sắp xếp cơ cấu mạng lưới trườngtrong hệ thống giáo dục quốc dân, các viện nghiên cứu nhằm phát huy tiềmlực của đội ngũ cán bộ giảng dạy, cơ sở vật chất của mỗi trường trong toàn
hệ thống, tạo ra chất lượng cao và hiệu quả lớn của hệ thống các cơ sở đàotạo Phân biệt ngành nghề đào tạo theo khối trường Tập trung ngân sách nhànước cho những mục tiêu chương trình quốc gia như: xác định hệ thốngtrường, phổ cập giáo dục, xây dựng các trường Đại học trọng điểm quốc gia,Đại học vùng, miền
Bên cạnh đó, thông qua cơ cấu chi ta thấy chi phí thường xuyên của các
Trang 28trường đại học chiếm khoảng 90% tổng số kinh phí cho sự nghiệp giáo dụcđại học Chi phí thường xuyên có nhiều nội dung khác nhau, nhưng chủ yếu làchi lương và phụ cấp lương cho bộ máy của Trường , chi cho công tác giảngdạy và học tập và chi mua sắm sửa chữa tài sản cố định đó là những khoảnchi phí nhằm đảm bảo các hoạt động cho các cơ sở đào tạo.
Nội dung quản lý nguồn lực tài chính của ngân sách nhà nước đượcphân cấp theo ngành học thông qua hệ thống kho bạc Nhà nước Bộ Tài chính
là đơn vị tổng dự toán Trung ương, hàng năm khi lập kế hoạch trình lênChính phủ phải dựa vào yêu cầu phát triển của sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo,nắm đầy đủ số liệu về biên chế số học sinh, sinh viên, cơ sở vật chất của cáctrường Đại học thuộc các Bộ chủ quản đã lập kế hoạch và dựa vào số liệuthực hiện của các năm trước
Các Bộ chủ quản khi được Bộ Tài chính giao kế hoạch cũng tiến hànhphân bổ kinh phí cho các cơ sở đào tạo trực thuộc theo các chỉ tiêu như trên
và các cơ sở đào tạo là đơn vị dự toán cấp II, là nơi trực tiếp sử dụng kinh phí
Khâu cấp phát kinh phí cũng phải kịp thời, đảm bảo kế hoạch hoạtđộng thường xuyên cho công tác đào tạo Cuối cùng là khâu quyết toán kinhphí phải đảm bảo các khoản chi, báo cáo quyết toán đúng chế độ và biểumẫu, nội dung và thời gian báo cáo theo quy định
Đối với các cơ sở đào tạo, việc quản lý tài chính trong công tác đào tạocũng phải theo một quy trình đã quy định chung Trước hết về khâu lập kếhoạch, hàng năm, căn cứ vào chỉ tiêu tuyển sinh đã được giao, căn cứ vàonhiệm vụ đào tạo, thực tế nhu cầu chi tiêu và dựa vào báo cáo tài chính củanăm trước để lập kế hoạch ngân sách cho công tác đào tạo năm nay
Khi được giao kế hoạch ngân sách, để triển khai thực hiện chi tiêu, các
cơ sở đào tạo phải làm việc với từng bộ phận, khoa, phòng trong đơn vị đểthông báo về số kinh phí được chi trong năm, từ đó lên kế hoạch cho từng nộidung công việc và cuối cùng phòng tài vụ là nơi thực hiện việc thu, chi, kinh
Trang 29phí cho từng bộ phận, cá nhân được giao nhiệm vụ thực hiện kế hoạch chitheo đúng các quy định hiện hành của nhà nước Các khoa phòng, đơn vị, cánhân khi có nhu cầu chi tiêu cho công việc đã có trong kế hoạch (ví dụ như kếhoạch giảng dạy, học tập, thực tế chuyên môn, viết giáo trình, mua sắm vật tưcho phòng thí nghiệm ), lập dự trù kinh phí trình lãnh đạo phê duyệt và đếnlàm các thủ tục khác về tài chính với phòng Tài vụ.
Cuối năm, khi kết thúc năm tài chính, phòng Hành chính - Tài vụ cótrách nhiệm lập báo cáo tài chính gửi các cơ quan có thẩm quyền để báo cáo
và đề nghị được phê duyệt
Các khoản chi thường xuyên cho đào tạo từ ngân sách nhà nước làkhoản chi nhằm thực hiện việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội của địa phương vì vậy khoản chi này tương đối ổnđịnh và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong ngân sách sự nghiệp giáo dục
Xét theo nội dung chi quản lý hành chính, chi thường xuyên cho giáodục được chia thành bốn nhóm chi:
- Nhóm I chi cho con người
- Nhóm II chi quản lý hành chính
- Nhóm III chi giảng dạy học tập
- Nhóm IV chi mua sắm sửa chữa
Chi cho con người: bao gồm lương, phụ cấp, phúc lợi, các khoản bảohiểm xã hội Đây là khoản chi bù đắp hao phí lao động, đảm bảo duy trì quátrình tái sản xuất sức lao động cho đội ngũ giáo viên, cán bộ công nhân viêncủa đơn vị Khoản chi này theo kế hoạch thường chiếm 55% - 60% trongtổng số chi, thậm chí một số năm hoặc một số đơn vị đào tạo có khi lên đến75%-80% Trong thực tế, chi cho con người năm nào cũng cao hơn kế hoạchnhưng vẫn chưa đảm bảo được cuộc sống cho cán bộ giáo viên vì vậy việctăng cường đầu tư cho giáo dục và có các chính sách ưu đãi với giáo viên làcấp thiết
Trang 30- Nhóm chi quản lý hành chính: bao gồm các mục chi về công tác phí,công vụ phí (điện nước, xăng xe, hội nghị, văn phòng phẩm ) Đây là khoảnchi mang tính gián tiếp đòi hỏi phải chi đúng, chi đủ, chi kịp thời và cần phảiquản lý chi một cách tiết kiệm và có hiệu quả, khoản chi này thường chiếm5%-8% trong tổng chi thường xuyên.
- Nhóm chi giảng dạy học tập: Bao gồm việc mua tài liệu, sách giáokhoa, giáo trình, băng, đĩa, đồ dùng học tập, phấn viết bảng, thực tập thực tế Khoản chi này phần nhiều phụ thuộc vào cơ sở vật chất, quy mô đào tạo, đây
là khoản chi nhằm đáp ứng phương tiện phục vụ cho việc giảng dạy, giúp chogiáo viên truyền đạt kiến thức cho học sinh một cách có hiệu quả Chính vìvậy, có thể nói đây là khoản chi có ảnh hưởng trực tiếp nhiều nhất đến chấtlượng đào tạo Để đáp ứng nhu cầu giảng dạy học tập khoản chi này thườngchiếm tỷ lệ từ 15%-20% trong tổng số chi thường xuyên
- Nhóm chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định là khoản chi cho việcsửa chữa nâng cấp phòng học, bàn ghế, trang thiết bị cho lớp học đảm bảo cơ
sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy học tập Đây là một khoản chi cầnđược ưu tiên vì tình trạng chung trong những năm gần đây cơ sở vật chất bịxuống cấp một cách nghiêm trọng, trang thiết bị, đồ dùng dạy học thiếu thốndẫn đến chất lượng dạy học không đảm bảo
Ở mỗi giai đoạn khác nhau Thì tỷ trọng giữa các nhóm chi còn tuỳthuộc vào những nhân tố ảnh hưởng như mục tiêu về việc đào tạo con người,mức độ phát triển của kinh tế - xã hội
1.3.3.2 Thực tiễn về hoạt động quản lý tài chính cho giáo dục đào tạo ở Việt Nam trong những năm gần đây
Có thể nói Việt Nam là một nước nghèo nhưng đã thành công trongviệc thiết lập một hệ thống giáo dục toàn diện trên cả nước Tuy nhiên, khinghiên cứu tài chính cho giáo dục Việt Nam, các chuyên gia của Ngân hàngthế giới đã viết “Một trong những thử thách lớn đối với Việt Nam là đảm bảo
Trang 31rằng hệ thống Giáo dục - Đào tạo đáp ứng được những nhu cầu mới nảy sinhcủa kinh tế thị trường đang tăng trưởng Việc mở rộng và hiện đại hoá hệthống giáo dục và đào tạo là những yếu tố quan trọng trong chiến lược củaChính phủ nhằm duy trì sự tăng trưởng kinh tế cao và xoá đói giảm nghèo.Chính phủ đã đặt ra những mục tiêu bao gồm việc đạt được phổ cập giáo dụctiểu học năm 2000, phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010 và tăng số sinhviên lên 65% từ năm 1994 tới năm 2004 Thực hiện được những kế hoạch nàyđòi hỏi những chi phí đáng kể [19,Tr.132].
Trong trong điều kiện nước ta, nền kinh tế còn có nhiều khó khăn songĐảng và nhà nước đã rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục- đào tạo, tăng dần
tỷ trọng chi cho giáo dục- đào tạo qua từng năm Ngân sách nhà nước đảmbảo ổn định từng bước đời sống của cán bộ giáo viên, tuy nhiên so với yêucầu chi của sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo chưa năm nào đáp ứng được quá65% Trước hết tỷ lệ tăng ngân sách chưa bù đủ tỷ lệ trượt giá và tăng quy mô
tự nhiên do nhu cầu học tập của học sinh ở các độ tuổi ở các cấp học, ngànhhọc (hệ quả của sự tăng cơ học dân số) Phần chi cho giảng dạy và học tập chỉchiếm khoảng 20% vì thế tình trạng phổ biến là dạy chay Cụ thể, tốc độ tăngngân sách nhà nước cho giáo dục trong thời gian qua là 10 - 14% chưa đủ đápứng nhu cầu học sinh tăng 15 - 20% và giáo viên tăng 18% năm, đồng thờicác khoản chi khác cũng tăng do giá cả thị trường biến động
Tuy nhà nước đã cố gắng tăng ngân sách đào tạo đến năm 2000 là 15%tổng chi ngân sách nhưng vẫn còn kém khá xa các nước trong vùng và trênthế giới
Thí dụ Việt Nam 10,2%, nhưng Bangladesh 11,2%, Newzeland 12,5%,Trung quốc 14,6%, Nhật bản 16,2%, Mianma 16,8%, Philippin 16,9%, HànQuốc 19,6%, Thái lan 20,1%, Ghana 25,7% (Nguồn:ASAWEEK 10.03.1995)
Trong thực tiễn cho thấy trình độ Giáo dục - Đào tạo sẽ quyết định mứcthu nhập của người lao động bằng cấp càng cao thì thu nhập hàng năm càng
Trang 32lớn Sự đầu tư cho giáo dục quá ít sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự phát triểnkinh tế Về phương diện này chúng ta có thể rút ra những bài học bổ ích từ sựphát triển kinh tế của các nước đang trỗi dậy về kinh tế Nhật bản đầu tư chogiáo dục 20,1% tổng ngân sách, Hàn Quốc 23,7% còn Đài Loan với tổng sảnphẩm quốc dân mỗi năm là 60 tỷ đô la đã chi cho đầu người học mỗi năm là6.500 đô la Do hạn hẹp về ngân sách nên việc chi cho các hoạt động nghiệp
vụ (giảng dạy học tập) rất hạn chế Cụ thể là:
Về giáo dục (giáo dục phổ thông, mầm non, bổ túc văn hoá ) ngânsách chủ yếu để trả lương và các khoản phụ cấp theo lương cho đội ngũ giáoviên (thường chiếm từ 70 - 80% Cá biệt ở nhũng tỉnh giáo dục phát triển tỷ
lệ này chiếm tới 90%), do đó những yêu cầu tối thiểu cần thiết để phục vụcho nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của các trường không đượcđáp ứng [19,Tr.147]
Về đào tạo (giáo dục Đại học, Trung học chuyên nghiệp, dạy nghề ) tỷ
lệ phổ biến cơ cấu chi cho ngân sách đào tạo từ 55-60% cho con người (lương+ phụ cấp của cán bộ giáo viên), còn lại chi cho các hoạt động chiếm 40-45%
Đó là khu vực ở các trường do trung ương quản lý (chi bằng NSNN) Còn cáctrường do địa phương quản lý thì việc đầu tư còn hạn hẹp hơn, phần ngânsách giành cho các hoạt động của các trường thường chỉ được 20-30% trongtổng kinh phí chi cho đơn vị
Nếu quan niệm đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển thì ngânsách dành cho xây dựng cơ bản của giáo dục còn quá thấp; chưa năm nào sốngân sách giành cho xây dựng cơ bản của Giáo dục - Đào tạo đạt được 5%trong tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước (theo quy định tạiquyết định 248/ttg thì hàng năm phải giành ít nhất 5% vốn xây dựng cơ bảncho Giáo dục - Đào tạo trong tổng số vốn xây dựng cơ bản của nhà nước)
Trang 33Ngân sách sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo vốn đã hạn hẹp mà lại cònphải sử dụng để chi các loại hình trường không nằm trong hệ thống giáo dụcquốc dân (theo nghị định 90/CP của chính phủ) như: hệ thống trường Đảng,trường các đoàn thể, các trung tâm chính trị tại huyện, đào tạo lại côngchức Như vậy, ngân sách thực sự chi cho Giáo dục - Đào tạo lại càng hạnhẹp thêm.
Với chủ trương xã hội hoá giáo dục, nhưng do chưa được thể chế hoátạo cơ ở pháp lý, quy định rõ ràng, do đầu tư ngân sách có hạn không đủ bùchi cho các yêu cầu chi, nên khó khắc phục tình trạng phải thu của người họcngoài quy định của nhà nước Có nhiều cơ sở đặt ra nhiều khoản thu, chi bấthợp lý gây ảnh hưởng xấu tới chủ trương xã hội hoá giáo dục của Đảng vàNhà nước
Để chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá cần phải có chiến lược đầu tư cho Giáo dục - Đào tạo theo hướng
- Đầu tư cho Giáo dục - Đào tạo được huy động từ nhiều nguồn: ngânsách nhà nước, đóng góp của xã hội, viện trợ và vay ưu đãi của nước ngoài và
- Mở rộng nguồn đầu tư nước ngoài theo các phương thức viện trợ, vay
ưu đãi theo con đường nhà nước và ngoài nhà nước
Chính vì vậy, một trong những thể hiện quan trọng nhất trong thực tế
về mức độ quán triệt quan điểm “ giáo dục là quốc sách hàng đầu” chính làchính sách đầu tư cho Giáo dục - Đào tạo Mọi mục tiêu của chiến lược phát
Trang 34triển đào tạo sẽ là không trở thành hiện thực nếu như không có sự đầu tư choGiáo dục - Đào tạo một cách thoả đáng Phải xem đầu tư cho Giáo dục - Đàotạo là đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng xã hội Trong 10 năm qua tỷ trọngđầu tư cho Giáo dục - Đào tạo trong ngân sách nhà nước tăng đáng kể quatừng năm, từ 10.4% năm 2001 đến 12,9% năm 1996 và dự kiến sẽ đạt 15%năm 2010.
Bảng 1.1 Tình hình đầu tư ngân sách nhà nước cho Giáo dục - Đào tạo
Ngân sách nhà nước đảm bảo từng bước ổn định đời sống của đội ngũcán bộ giáo viên, tuy đời sống giáo viên còn ở mức thấp nhưng ngân sách đã
Trang 35đảm bảo mức lương cho đội ngũ giáo viên toàn ngành Giáo dục - Đào tạo ưutiên có hệ số, phụ cấp đứng lớp để tổng mức thu nhập cao hơn mốt số ngànhhành chính sự nghiệp khác.
- Tuy vậy, tỷ lệ tăng ngân sách hàng năm chưa đủ bù tỷ lệ trượt giá vàtăng quy mô tự nhiên do nhu cầu học tập của học sinh ở các độ tuổi ở các cấp,các ngành học (hệ quả tăng dân số)
Nhìn chung, tài chính cho Giáo dục - Đào tạo trong những năm qua cónhững chuyển biến tích cực Tỷ trọng chi cho Giáo dục - Đào tạo trong ngânsách nhà nước tăng đáng kể qua từng năm về cơ bản đảm bảo nhu cầu chilương và các khoản chi khác theo chế độ chính sách cho giáo viên và cán bộquản lý Nguồn lực tài chính đã được đa dạng hoá, huy động được kinh phíngoài ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu phát triển Giáo dục - Đào tạo
Cơ chế quản lý, phân bổ ngân sách đã từng bước được điều chỉnh và hoànthiện Tuy nhiên vẫn còn những vấn đề bất cập trong việc đầu tư cho Giáodục - Đào tạo như:
Nhà nước chưa có chiến lược đầu tư tài chính để phát triển toàn diện hệthống Giáo dục - Đào tạo Việc đầu tư cho Giáo dục - Đào tạo thường đượcquyết định theo từng năm trên cơ sở cân đối nguồn thu chi của ngân sách nhànước, do đó đầu tư cho Giáo dục - Đào tạo còn thiếu căn cứ khoa học, chưangang tầm, vị trí của Giáo dục - Đào tạo
- Do hạn hẹp về ngân sách nên việc chi tiêu cho các hoạt động chuyênmôn giảng dạy, học tập còn hạn chế, thiếu điều kiện hạn chế để nâng cao chấtlượng giáo dục
- Cơ chế phân bổ và quản lý ngân sách chưa hợp lý, nhiều chương trìnhmục tiêu quốc gia không được đầu tư đúng chỗ, hiệu quả thấp Cơ cấu phân
bổ ngân sách giáo dục giữa các cấp học, bậc học, giữa các vùng, miền, giữacác khoản chi chưa hợp lý Ngoài ra, sự cứng nhắc trong việc cấp phát vàcách phân bổ nguồn lực tài chính dẫn tới sự không công bằng, kém hiệu quả
Trang 361.4 Kinh nghiệm ở một số quốc gia về huy động các nguồn lực tài chính cho các trường đại học
1.4.1 Sự đầu tư của nhà nước luôn ở mức cao
Nhận thức rõ vai trò của giáo dục, chính phủ các nước luôn quan tâm
và tăng cường đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo,trong đó, có giáo dục đại học
Từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước trở lại đây, Mỹ rất chú trọngđầu tư cho giáo dục, nhất là giáo dục đại học Theo đó, ngân sách đầu tư chogiáo dục của Mỹ rất cao: năm 1985 khoảng 300 tỉ USD, năm 1989 là 353 tỉUSD, đến năm 1999 đạt 653 tỉ USD, kéo theo đó là sự gia tăng về số lượngtuyệt đối chi ngân sách cho giáo dục đại học Hiện nay, tỷ lệ đầu tư cho giáodục của Mỹ chiếm khoảng 7% GDP, toàn bộ chi tiêu cho giáo dục đào tạohằng năm xấp xỉ 1.000 tỉ USD, trong đó giáo dục đại học chiếm khoảng hơn
700 tỉ USD[19,Tr.157]
Ngân sách nhà nước là thành phần chính trong các nguồn vốn cho giáodục đại học ở Trung Quốc, điều đó được ghi rõ trong Điều 60, Luật Giáo dụcđại học của nước này Từ năm 1994, thực hiện yêu cầu “3 tăng trưởng”, cónghĩa là “mức tăng ngân sách nhà nước cho giáo dục phải cao hơn mức tăng
Trang 37thu nhập ngân sách thường xuyên để từng bước tăng chi phí giáo dục tínhbình quân theo đầu học sinh, bảo đảm tăng lương giáo viên và tăng chi phídùng chung tính theo đầu học sinh”, từ đó đến nay, ngân sách đầu tư chogiáo dục của Trung Quốc không ngừng tăng lên Tuy nhiên, sức ép về nhucầu mở rộng quy mô nâng cao chất lượng giáo dục đại học cộng với nhu cầuđầu tư cho các lĩnh vực khác đã buộc Chính phủ Trung Quốc phải giảm tỷ lệđầu tư từ ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học và chỉ tăng lượng đầu tưtuyệt đối Hiện nay, mức chi cho giáo dục của Trung Quốc chiếm khoảng3,28% GDP.
1.4.2 Huy động nguồn tài chính từ cá nhân, các tổ chức và doanh nghiệp
Huy động các nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước để đầu tư chogiáo dục đại học là biện pháp phổ biến ở các nước trên thế giới, từ nước pháttriển cho đến những nước chậm phát triển nhằm góp phần giảm gánh nặngcho ngân sách nhà nước và giải quyết bài toán về nhu cầu mở rộng quy mô,nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay Hàn Quốc,Nhật Bản, Mỹ là những nước có tỷ lệ đóng góp của tư nhân cao hơn so vớiđóng góp của ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học Những khoản đónggóp tư nhân được thể hiện dưới các hình thức sau:
Một là, đóng góp học phí của các bậc cha, mẹ sinh viên Đây là một
hình thức chuyển gánh nặng chi phí trong giáo dục đại học từ những ngườiđóng thuế hoặc từ công dân nói chung sang người học, cha, mẹ người học
Ở nước Mỹ, thu học phí của sinh viên được xem là một giải pháp chủyếu nhằm chia sẻ chi phí giáo dục đại học Học phí đại học được tính toán saocho có thể bù đắp đáng kể các chi phí hoạt động của nhà trường và các chi phí
do lạm phát gây ra Vì vậy, mức học phí ở các trường đại học luôn thay đổitheo xu hướng tăng lên
Ở Trung Quốc, trước năm 1989, Nhà nước bao cấp hoàn toàn kinh phícho giáo dục đại học Từ năm 1989 trở lại đây, Chính phủ nước này đã thực
Trang 38hiện chế độ thu học phí đối với giáo dục đại học trong các trường công lập,ngay cả sinh viên được học bổng theo kế hoạch tuyển sinh của Nhà nướccũng phải đóng học phí từ 100 đến 300 nhân dân tệ một năm học Năm 1995,Trung Quốc chính thức quy định mức thu học phí cao nhất của các trường đạihọc là 1.200 nhân dân tệ (trường hợp cụ thể có thể tăng thêm 20%).
Ở Hàn Quốc, trong điều kiện thuận lợi, các bậc cha mẹ sẵn sàng chi trảcao để cho con em họ có học vấn càng cao càng tốt Thực tế, chi phí tư nhântrong lĩnh vực giáo dục đại học của Hàn Quốc chiếm tỷ lệ cao nhất trong cácnước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) Chính điều đó đãgiúp Hàn Quốc huy động được nguồn lực tài chính rất lớn từ khoản đóng gópcủa các bậc cha, mẹ sinh viên Chỉ trong vòng bốn thập niên, Hàn Quốc đãgiải quyết thành công bài toán đuổi kịp về giáo dục cùng lúc với bài toán đuổikịp về kinh tế so với các nước phát triển
Hai là, phát triển khu vực giáo dục đại học tư nhân Đây là chính sách
của nhiều quốc gia nhằm góp phần chia sẻ gánh nặng chi phí và mở rộng cơhội học tập cho nhiều người dân, đồng thời huy động được nguồn lực xã hộitham gia phát triển giáo dục Hệ thống các trường đại học tư thường đượcphân thành hai loại: phi lợi nhuận và vì lợi nhuận Ở một số nước như HànQuốc, Mỹ, nhiều trường thuộc nhóm vì lợi nhuận được đánh giá cao về chấtlượng, và do vậy, đã thu hút được ngày càng nhiều sinh viên theo học, mặc dùchi phí theo học tại các trường tư thục ở những nước này rất cao
Ở Hàn Quốc, giáo dục đại học tư thục phát triển rất mạnh mẽ Từnhững năm 1960, các trường đại học tư này đã thu hút được rất nhiều nguồntài chính Vì vậy, giáo dục được coi như một ngành kinh tế lớn thứ hai saunông nghiệp Ngay từ năm 1962, quy mô sinh viên theo học tại các trườngcao đẳng và đại học tư thục đã chiếm 3/4 tổng số sinh viên của Hàn Quốc.Thông qua nhà trường tư thục và khát vọng học tập của người dân, giáo dụcHàn Quốc đã có sự phát triển theo kiểu đón đầu, kịp thời bổ sung nguồn nhân
Trang 39lực trình độ đại học cho yêu cầu phát triển kinh tế tri thức từ những năm1990.
Ở Mỹ hiện có khoảng 3.900 trường đại học, trong đó, có khoảng trên1.800 trường tư do những người không có chuyên môn về học thuật điều hành
và trên 1.800 trường công lập Hệ thống các trường tư thục có tiêu chuẩn caochủ yếu tuyển chọn sinh viên thuộc tầng lớp thượng lưu trong xã hội, đồngthời, cũng có loại trường dành cho sinh viên nghèo Có một số trường đại học
tư thục nổi tiếng đã đào tạo ra nhiều nhân tài kiệt xuất cho nước Mỹ và thếgiới như Harvard, Yale, Columbia, Stanford Tuy nhiên, ở các trường này,sinh viên phải đóng kinh phí mỗi năm cũng rất cao (khoảng 20.000USD/nămtrở lên)
Ba là, các trường đại học tự tạo nguồn vốn thông qua các hoạt động
dịch vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học Xu hướng hiện nay trên thế giới làcác trường đại học tận dụng lợi thế sẵn có của mình để thực hiện các hoạtđộng dịch vụ, liên kết đào tạo và nghiên cứu khoa học để tăng nguồn thu chohoạt động của trường
Ở Mỹ, việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao được các công ty
Mỹ rất chú trọng Mỗi năm, các công ty ở Mỹ đóng góp khoảng trên 150 tỉUSD cho giáo dục đại học Các trường đại học Mỹ chịu tác động sâu sắc củathị trường và có mối quan hệ đa dạng với thị trường thông qua các doanhnghiệp Họ nhận được sự đầu tư dồi dào của các doanh nghiệp qua cạnh tranhcác hợp đồng nghiên cứu khoa học, dịch vụ tư vấn, đào tạo nhân lực chấtlượng cao
Ở Nhật Bản, công tác giáo dục phát triển nghề nghiệp được tiến hànhmột cách có hệ thống trong nội bộ các công ty Nhiều công ty lớn ở Nhật tìmkiếm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bằng cách kết hợp với cáctrường đại học để đào tạo và giáo dục mở rộng cho nhân viên Điều đó đã
Trang 40giúp cho các công ty chủ động trong việc nâng cao chất lượng cán bộ, đồngthời cũng góp phần tăng nguồn thu cho các trường đại học.
Bốn là, các nguồn hỗ trợ, tài trợ tư nhân khác Trong lúc học phí là
nguồn lực tư nhân chủ yếu hỗ trợ cho các trường đại học, vẫn có một sốnguồn lực tư nhân khác ngày càng chi phối nhiều trường Đó là, các khoản hỗtrợ thường đến dưới hình thức quà tặng Một số trường đại học tư thục nhưHarvard, Yale, Columbia, Stanford ở Mỹ đã sản sinh ra hàng trăm nhà triệuphú, những nhà triệu phú này quay lại giúp đỡ tài chính cho trường phát triển.Nhiều trường công ở Mỹ và các nước khác cũng gia tăng hoạt động gây quỹbằng những nỗ lực tăng nguồn lực tư nhân như một cách làm giảm mức baocấp của ngân sách đối với giáo dục đại học
Kết luận chương 1
Nguồn lực tài chính là tiền tệ đang vận động với chức năng phương tiệnthanh toán và phương tiện cất trữ trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sửdụng các quĩ tiền tệ
Nguồn lực tài chính cho giáo dục - đào tạo được tạo ra từ việc phânphối và phân phối lại tổng sản phẩm quốc dân, chủ yếu được phân phối từ quĩtích lũy và quĩ tiêu dùng
Trong giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dục đại học nói riêng nguồnlực tài chính giữ vai trò cơ sở, làm đòn bẩy, thúc đẩy cho sự phát triển Không
có sự phát triển nào của giáo dục- đào tạo, lại không gắn liền với đầu tư tàichính Thông qua quá trình phân phối, cùng với những chính sách, nguồn lựctài chính đã chi trả lương cho bộ máy của hệ thống giáo dục quốc dân., đàotạo đội ngũ, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng trường, lớp và các trangthiết bị giảng dạy, học tập
Mặc dầu là một quốc gia nghèo, nhưng với chiến lược phát triển giáo