So sánh giữa sự khác biệt giữa Carl rogers và các nhà giáo dục khác trong phương pháp “lấy người học làm trung tâm” ..... Ông được biết đến như là một trong những người đặt nền tảng cho
Trang 1KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC LỚP TÂM LÝ GIÁO DỤC 3 MÔN LỊCH SỬ GIÁO DỤC THẾ GIỚI
Đề tài:
GVHT : TS Hồ Văn Liên SVTH : Trương Diệp Thùy Trâm
Nguyễn Hữu Quốc Trần Thị Minh Hải
Th ành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 10 năm 2012
Trang 2Mục lục
I Sơ lược tiểu sử - tư tưởng của Carl Rogers 2
I.1 Carl Rogers (1902 – 1987) 2
I.1 Các tác phẩm nổi tiếng 3
II Mục đích giáo dục 4
II.1 Sự trung thực 5
II.2 Chấp nhận và tin tưởng 6
II.3 Thấu cảm 6
III Phương pháp giáo dục 6
IV Áp dụng những nguyên tắc của Carl Gogers trong phát triển giáo dục 8
IV.1 Những nguyên tắc của Carl Rogers trong giáo dục 8
IV.2 Áp dụng những nguyên tắc của C Rogers 10
V So sánh giữa sự khác biệt giữa Carl rogers và các nhà giáo dục khác trong phương pháp “lấy người học làm trung tâm” 11
Trang 3I Sơ lược tiểu sử - tư tưởng của Carl Rogers
I.1 Carl Rogers (1902 – 1987)
Carl Rogers (8/1/1902 – 4/2/1987) Nhà tâm lý giáo dục lỗi lạc người Mỹ Ông được biết đến như là một trong những người đặt nền tảng cho việc nghiên cứu liệu pháp tâm lý và được vinh danh vì những cống hiến tiên phong của ông về cách tiếp cận Nhân văn có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong Tâm lý học
Rogers được xem là một trong sáu nhà tâm lý học kiệt suất nhất của thế kỷ
20, và được xếp thứ hai sau Sigmund Freud
Carl Ransom Rogers sinh vào ngày 8 tháng 1 năm 1902, tại Oak Park, ngoại ô Chicago Cha của ông Walter Rogers là một kỹ sư, mẹ ông làm nội trợ và là người sùng đạo Thiên Chúa
Rogers từ nhỏ đã tỏ ra thông minh và nổi bật Theo học nền giáo dục tôn giáo nghiêm khắc trong nhà xứ Jimpley, môi trường đạo đức đã nuôi dưỡng Rogers Ông sống khá tách biệt, độc lập và có kỷ luật, ham thích với kiến thức và cách đánh giá khoa học về thế giới thực nghiệm
Năm 1931, ông lấy bằng tiến sĩ
Năm 1930, ông là giám đốc Hội Phòng chống Bạo hành Trẻ em tại Rochester, New York
Năm 1940, ông là giáo sư tâm lý lâm sàng tại trường đại học tiểu bang Ohio
Trang 4Từ năm 1945-1957, ông được mời thành lập nên Trung tâm Tham vấn tại trường Đại học Chicago và giảng dạy tâm lý học tại đây
Năm 1956 Rogers trở thành chủ tịch đầu tiên của Viện Hàn Lâm các nhà Trị liệu Tâm lý Mỹ
Khoảng 1957- 1963, Ông giảng dạy tâm lý học tại đại học Wisconsin Ông trở thành chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu vì Con người tại La Jolla năm 1963, và làm việc tại đây cho đến cuối đời Cùng với con gái của mình, Natalie Rogers, những năm 1975-1980, ông đã xây dựng hàng loạt chương trình dân sự (residential programme) tại Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, làm việc theo tiếp cận đặt con người làm trọng tâm, chú trọng đến những cách thức giao tiếp có tính giao lưu văn hóa (cross-cultural communications), sự trưởng thành của con người, tăng nội lực, thay đổi xã hội Rogers mất năm 1987, sau một cơn đau tim đột ngột
Năm 1956 ông được Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ trao giải Cống hiến Khoa
học Nổi bật (Distinguished Scientific Contributions) Và tiếp tục nhận giải Người có cống hiến nổi bật về Tâm lý học (Distinguished Professional Contributions to
Psychology) năm 1972
I.1 Các tác phẩm nổi tiếng
_ Trị liệu lâm sàng các vấn đề của trẻ em (The Clinical Treatment of the Problem Child) năm 1939
_ Tham vấn và Trị liệu Tâm lý (Counseling and Psychotherapy) năm
1942
_ Liệu pháp Thân chủ Trọng tâm (Client-Centered Therapy) năm 1951
Trang 5_ Liệu pháp Tâm lý và sự Thay đổi Nhân cách (Psychotherapy and Personality Change) năm 1954
_ Tiến trình thành nhân (On Becoming a Person) năm 1961
_ Nội lực (Personal Power) năm 1977
_ Tự do để học tập trong thập kỷ 80 (Freedom to Learn for the 80’s) năm
1983
Là một nhà tâm lý đã khởi xướng cách tiếp cận trị liệu không hướng dẫn, thân chủ trọng tâm, nhấn mạnh đến quan hệ liên cá nhân giữa nhà trị liệu và thân chủ, Rogers cũng xác định tiến trình, tốc độ và sự dai dẳng của việc điều trị
Tiếp cận Thân chủ Trọng tâm là cách tiếp cận tâm lý đặc trưng của ông nhắm đến sự thông hiểu bản tính con người và các mối quan hệ nhân bản, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực có liên quan khác như Trị liệu Tâm lý và Tham vấn (Liệu pháp thân chủ trọng tâm), Giáo dục (phương pháp người học trọng tâm), tổ chức nhân sự, thiết lập nhóm
II Mục đích giáo dục
Mục đích duy nhất của giáo dục là giúp người học tìm ra được cách thích nghi
và thay đổi; giúp người học nhận ra rằng khơng cĩ kiến thức nào là cố định, mà chỉ
cĩ quá trình tìm kiếm tri thức mới mang lại nền tảng cho sự bền vững Sự thay đổi- tin tưởng vào quá trình tìm kiếm hơn là kiến thức cố định- điều duy nhất cĩ thể được coi là mục tiêu của giáo dục trong thế giới hiện đại Rogers diễn tả các mục
tiêu của ơng như sau “Tơi coi việc tạo thuận tiện cho quá trình học là mục đích
của giáo dục, là cách mà chúng ta phát triển người học, là cách chúng ta cĩ thể học
để sống như các cá nhân đang phát triển Tơi coi việc tạo thuận tiện cho quá trình học là chức năng hoạt động nắm giữ các câu trả lời cĩ tính chất tích cực, khám
Trang 6phá, thay đổi, tiến triển đối với một vài vấn đề khó hiểu nhất đang ám ảnh con người ngày nay” Có thể hiểu một cách khái quát, mục đích giáo dục của ông đề ra
là để tạo thuận tiện cho quá trình học để phát triển người học theo hướng tích cực Như vậy mục đích ông đề ra là để đổi mới phương pháp giáo dục Mặt khác, ông cho rằng sự khởi đầu của việc học không phải dựa trên kĩ năng giảng dạy của nhà giáo, không phải kinh nghiệm của nhà giáo hoặc chương trình giảng dạy của mình mà học tập dựa trên phẩm chất nhất định thái độ trong mối quan hệ cá nhân giữa người điều hành và người học
II.1 Sự trung thực
Điều đầu tiên trong những phẩm chất thái độ tạo thuận tiện cho quá trình học
là sự trung thực trong vai trò người tạo ra sự thuận tiện cho quá trình học Về phẩm
chất này Rogers nói “Có lẽ điều cơ bản nhất trong số những thái độ cần thiết này là
sự trung thực và thành thật Khi người thầy là là một người thực sự như là bản thân anh ta, bước vào mối quan hệ với người học không chỉ với vẻ bề ngoài, thì anh ta có thể gây ấn tượng nhiều hơn Điều này có nghĩa là các cảm xúc mà anh ta đang trải nghiệm phù hợp với anh ta, phù hợp với ý thức của anh ta và anh ta có thể sống với những cảm xúc ấy, có thể diễn đạt chúng nếu thích hợp Như vậy có nghĩa là anh ta bước vào mối tương giao cá nhân trực tiếp với người học trên cơ sở con người với con người Và anh ta chính là bản thân anh ta, không chối bỏ bản thân mình”
Từ đó ta có thể hiểu người thầy là một con người trung thực trong mối quan hệ của anh ta với học sinh Anh ta có thể nhiệt tình, có thể chán nản, có thể quan tâm đến học sinh, có thể tức giận, có thể nhạy cảm và đồng cảm Bởi vì anh ta chấp nhận những cảm xúc này như là của riêng anh ta, anh ta không cần phải đẩy chúng cho học sinh của mình Anh ta có thể thích hay không thích kết quả học tập của học sinh nào đó mà không có ý là kết quả đó về khách quan tốt hay xấu Anh ta chỉ đơn giản đang bộc lộ cảm xúc về kết quả học tập, một cảm xúc đang tồn tại trong bản thân anh ta Do đó, anh ta là một con người đối với học sinh của mình, không phải
Trang 7là hiện thân khơng bản sắc của yêu cầu giảng dạy, cũng khơng phải là tàu điện ngầm thơ cứng vận chuyển kiến thức từ thế hệ này truyền sang thế hệ khác
II.2 Chấp nhận và tin tưởng
Nhĩm thứ hai gồm các phẩm chất đánh giá cao, chấp nhận và tin tưởng Thái
độ này là sự đánh giá cao người học như là con người khơng hồn hảo với nhiều cảm xúc, nhiều tiềm năng Về các phẩm chất này Rogers cho rằng việc đánh giá cao người học, đánh giá cao cảm xúc của anh ta, con người của anh ta đĩ là sự quan tâm đến người học, chấp nhận người học như là một con ngwofi riêng biệt, cĩ giá trị theo quyền riêng của anh ta Đĩ là sự tin tưởng cơ bản- một niềm tỉn rằng người khác ở mức độ cơ bản nào đĩ là đáng tin cậy Người thầy cĩ thể chấp nhận hồn tồn nỗi sợ hãi và do dự của học sinh khi tiếp cận với một vấn đề mới, cũng như sự chấp nhận thỏa mãn của học sinh khi đạt được thành tựu Một người thầy như vậy
cĩ thể chấp nhận tính đơi lúc thờ ơ của học sinh, ước muốn thất thường thích khám phá khía cạnh nhỏ của tri thức, cũng như nỗ lực nghiêm túc đạt được những mục tiêu chính của học sinh
II.3 Thấu cảm
Một thành phần nữ thiết lập nên thái độ chung cho việc học hỏi theo kinh nghiệm và tự thúc đẩy bản thân là sự hiểu biết thấu cảm Khi người thầy cĩ khả năng hiểu phản ứng từ nội tâm của học sinh, cĩ ý thức nhạy cảm về cách thức, quá trình giáo dục và học hỏi tạo ấn tượng đối với học sinh, thì sau đĩ việc học hỏi sẽ tiến triển đáng kể
III Phương pháp giáo dục
Carl Roger được chúng ta biết đến với liệu pháp trị liệu tâm lý Thân chủ trọng tâm, ở lý thuyết này ơng đặt thân chủ lên hang đầu và tơn trọng những giá trị cá nhân của họ, Phương pháp của ơng phản ánh quan điểm của ơng về bản chất con người Quan điểm này là cĩ, người cĩ một khả năng hiện thực hĩa và sự tự giải quyết vấn đề của riêng của mình
Trang 8Chính vì vậy, trong lĩnh vực giáo dục, ơng chủ trương lấy người học làm trung tâm cho hoạt động giáo dục, giáo viên là người hướng dẫn và phải tìm mọi cách hỗ trợ giúp đỡ học sinh của mình để họ phát huy khả năng sâu xa tiềm tang trong con người của họ
Năm 1969: cuốn”Tự do để học hỏi” đã bắt đầu phản ánh sự quan tâm sâu sắc của ông về giáo dục
Năm 1983: tái bản lại thành “Tự do để học hỏi trong những năm 1980” Ở đây ơng nhấn mạnh việc tìm kiếm tri thức Ơng quan niệm bởi vì mơi trường sống của chúng ta luơn luơn thay đổi, do đĩ, chúng ta phải : Đối mặt với hồn cảnh hồn tồn mới trong giáo dục, khi mà mục tiêu giáo dục, nếu chúng ta phải tiếp tục, là làm cho việc thay đổi và học hỏi diễn ra thuận tiện
C Rogers là người đầu tiên đưa ra phương pháp giảng dạy hướng vào con người từ những năm 60 của thế kỷ trước Đây là ý tưởng chính trong phương pháp tiếp cận nhân văn đối với vấn đề chất lượng giáo viên
Ông đã có cái nhìn nhận khác về giáo dục, mở ra con đường mới về giáo
dục, lấy học sinh làm trung tâm Ông đã khẳng định rằng: “Học sinh có mối quan
tâm và hứng thú riêng, nhiệm vụ của người thầy là phải khơi dậy, giúp đỡ chúng bộc lộ và phát triển” Theo ơng “Thực sự chúng ta khơng thể dạy người khác, chúng ta chỉ cĩ thể làm cho việc học của anh ta trở nên dễ dàng hơn mà thơi”, và
“Người dạy là người đặt ra hình thức diễn đạt bằng các cách khác nhau, làm rõ ràng các mục tiêu cho thành viên trong lớp và cung cấp phương pháp học thích hợp, linh hoạt cho họ”
Carl Roger nhấn mạnh: “Trong phương pháp sư phạm hướng vào người học trước hết xuất phát từ nhân tính của con người để đi đến hình thành và phát triển nhân tính ở thế hệ trẻ để mỗi con người phát huy hết tính độc lập, tự chủ, sáng
Trang 9tạo, đi đến việc truyền thụ (giảng dạy, giáo dục) có chất lượng và có hiệu quả, thể hiện cuối cùng là ở thế hệ trẻ lĩnh hội được các tri thức, kỹ năng, thái độ, các giá trị của thế hệ trước truyền cho và tự thế hệ mình tiếp tục duy trì và phát triển”
IV Áp dụng những nguyên tắc của Carl Gogers trong phát triển giáo dục
IV.1 Những nguyên tắc của Carl Rogers trong giáo dục
Những nguyên tắc của Carl Rogers đã được đưa vào sử dụng trong một số bối cảnh giáo dục chẳng hạn như các chương trình nhằm mục đích nhân bản giáo dục y tế, cố gắng để thay đổi hệ thống trường học ở California, giáo viên giáo dục và một chương trình sau đại học trong điều dưỡng tại Đại học Y Ohio
Trong chương trình này, sử dụng các nguyên tắc Rogerian thiết lập bằng thạc sĩ trong điều dưỡng, có hai vấn đề định kỳ Một đã phải làm với các giảng viên và chia sẻ quyền lực trách nhiệm Trong một số trường hợp các giảng viên đã không tôn trọng giới hạn của riêng mình và học sinh cấp quyền tự do mà các giảng viên không thoải mái
Ví dụ, một số giảng viên đã cho phép học sinh để thương lượng các hoạt động mà các giảng viên được coi là cần thiết để học sinh học tập Đôi khi, các giảng viên cảm thấy bị tổn thương khi các sinh viên đã không nhận ra hoặc giá trị các giảng viên đã cung cấp
Các tác giả của bài viết (Chickodonz et al, 1986) mô tả này kinh nghiệm:
Trang 10Nỗ lực đáng kể đã được yêu cầu để tạo ra một môi trường trong đó học sinh có thể thể hiện bản thân một cách công khai để giảng viên Dần dần nó trở nên rõ ràng rằng cách tiếp cận người làm trung tâm không phải là một hình thức giáo dục lý tưởng, không tưởng Điều gì đã được phát hiện ra là đúng là người làm trung tâm là phương pháp tiếp cận cơ bản là một mối quan hệ người-đến-người giữa giáo viên và sinh viên Những gì đã được yêu cầu là kinh nghiệm của cả giáo viên và người học được công nhận
Vấn đề lớn thứ hai là đánh giá sinh viên và cho họ cấp cho khóa học Là một phần của một tổ chức học tập, giảng viên đã được dự kiến ##để đánh giá học sinh Các thông thường loại đánh giá của giảng viên đã không được nhìn thấy học sinh chia sẻ với họ sức mạnh vàtrách nhiệm đối với việc học tập của mình Dần dần, giảng viên phát hiện ra các chiến lược để chia sẻ quyết định trong quá trình đánh giá với học sinh Một trong số đó là rất rõ ràng về các tiêu chí để thẩm định trước khi các giấy tờ đã được chỉ định và bằng văn bản Một người khác là nhận xét về dự thảo và cho phép các sinh viên để viết lại giấy tờ trước khi chúng được đưa ra một lớp
Tuy nhiên, một là sử dụng ngang hàng đánh giá trong việc cho điểm các loại giấy tờ
Chương trình này cĩ ba tác động đối với học sinh:
Một là, hợp tác với khoa để chia sẻ quyền và trách nhiệm
Hai là, cho điểm và đánh giá sinh viên ở mỗi khóa học:
Rõ ràng về tiêu chuẩn đánh giá trước khi ấn định và viết bài thi
Phải ghi nhận xét vào tờ nháp và cho phép sinh viên viết lại bài thi trước khi chấm điểm và trả bài
Trang 11 Ba là sinh viên thiết lập mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn với giảng viên
Những nguyên tắc giáo dục Rogers đã chứng minh được thành công Tuy nhiên, đôi khi chính quyền trường học và các cơ quan nhà nước cố thủ chống lại các thay đổi đã được đang diễn ra và chấm dứt một số chương trình Rogers thấy rằng chính trị của giáo dục và cơ sở giáo dục là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của việc sử dụng các nguyên tắc này Ngoài các báo cáo về sự thành công hay thất bại của các chương trình mà những nguyên tắc này đã được thử ra, nghiên cứu cũng đã được tiến hành trên những ảnh hưởng của thái độ tạo điều kiện thuận lợi cho của giáo viên trên học sinh
IV.2 Áp dụng những nguyên tắc của C Rogers
Aùp dụng nguyên tắc GD của C Rogers, trong nghiên cứu của Aspy và Roebuck (1969) và thu được kết quả như sau:
1 Số ngày nghỉ học ít hơn
2 Có sự tự trọng tích cực hơn
3 Mức độ điểm cao hơn
4 Ít vi phạm kỷ luật hơn
5 Ít có hành vi phá hoại tài sản nhà trường
6 Chỉ số IQ tăng
7 Tăng điểm số về khả năng sáng tạo
8 Thoải mái hơn và sử dụng năng lực tư duy cao hơn