1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ ngôn ngữ học CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA của NGỮ ĐOẠN THAM số xác ĐỊNH GIÁ TRỊ THỂ TIẾNG ANH

103 538 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 626 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tiếng Anh, thể là một trong những phạm trù ngữ pháp đặc biệt quan trọng vì nó gắn liền với đơn vị nòng cốt của vị ngữ. Trong quá trình dạy và học tiếng Anh đã đặt ra cho người học, người dạy cũng như nhiều dịch giả khác những thách thức tương đối lớn. Mặc dù gần đây có nhiều công trình nghiên cứu về thể tiếng Anh nhưng đây vẫn là mối quan tâm của đại đa số các nhà nghiên cứu tiếng Anh. Các công trình đã được xuất bản trên thế giới của nhiều nhà nghiên cứu có tên tuổi như Krifka, Fillmore, Emmon Bach, Vendler, Verkuyl, Dowty, Hagit Borer, Ramchard …đều nói đến vấn đề thể trong tiếng Anh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN THỊ THANH TUYỀN

CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA NGỮ ĐOẠN

- THAM SỐ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ THỂ TIẾNG ANH

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số : 0305030922

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN THỊ THANH TUYỀN

CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA NGỮ ĐOẠN

- THAM SỐ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ THỂ TIẾNG ANH

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số : 0305030922

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN HOÀNG TRUNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này ngoài sự nỗ lực của chính bản thân còn có sự giúp

đỡ tận tình của các thầy cô, các anh chị và các bạn học cùng khóa Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến thầy hướng dẫn

TS Nguyễn Hoàng Trung, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, người đã hết lòng giúp đỡ, động viên,

và hướng dẫn khoa học cho tôi.

Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô đã nhiệt tình đóng góp ý kiến và truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu

Xin cảm ơn Phòng Đào Tạo Sau Đại Học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh, và Trường Cao Đẳng Nghề Lilama 2, Đồng Nai đã tạo điều kiện để tôi thực hiện và bảo vệ thành công luận văn

Sau cùng, tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã cỗ vũ khích lệ để tôi có thể yên tâm học tập và nghiên cứu Một lần nữa tôi xin gửi đến tất cả lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2011

Nguyễn Thị Thanh Tuyền

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân Nộidung nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nào Nếu có gì không đúng, tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Tác giả

NGUYỄN THỊ THANH TUYỀN

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của luận văn 7

6 Bố cục của luận văn 8

PHẦN NỘI DUNG 11

Chương I: KHÁI QUÁT VỀ SỰ TÌNH VÀ THỂ 11

1.1 Giới thiệu 11

1.2 Sự tình và thể 11

1.3 Các lý thuyết về sự tình và thể 18

1.3.1 Lý thuyết của Verkuyl (1972,1993) 19

1.3.2 Lý thuyết của Krifka (1992,1998) 25

1.3.3 Lý thuyết của Ramchard (2002) 27

1.3.4 Lý thuyết của Hagit Borer (2005b) 33

1.4 Giá trị thể và một số thuộc tính cấu trúc ngữ nghĩa của ngữ đoạn .37

1.4.1 Giá trị thể 37

Trang 6

1.4.1.2 Thuộc tính hữu đích/vô đích 39

1.4.2 Thuộc tính cấu trúc ngữ nghĩa của ngữ đoạn 40

1.4.2.1 Thuộc tính định lượng 40

1.4.2.2 Thuộc tính lũy tích 42

1.5 Tiểu kết 42

Chương 2: CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA NGỮ ĐOẠN- THAM SỐ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ THỂ TIẾNG ANH 44

2.1 Cấu trúc ngữ nghĩa của ngữ đoạn- tham số xác định giá trị thể 44

2.1.1 Cấu trúc ngữ nghĩa của ngữ vị từ 46

2.1.1.1 Thuộc tính [+động] của vị ngữ 46

2.1.1.2 Đoạn tính vs điểm tính 47

2.1.1.3 Hữu đích vs vô đích 50

2.1.2 Cấu trúc ngữ nghĩa của danh ngữ 52

2.1.2.1 Danh ngữ ở vị trí bổ ngữ 53

2.1.2.2 Danh ngữ ở vị trí chủ ngữ 56

2.1.3 Cấu trúc ngữ nghĩa của trạng ngữ 57

2.1.3.1 Trạng ngữ chỉ thời đoạn 58

2.1.3.2 Trạng ngữ until và at 63

2.1.4 Cấu trúc ngữ nghĩa của tham tố giới ngữ 63

2.1.4.1 Giới thiệu về giới ngữ 63

Trang 7

2.1.4.3 Cấu trúc ngữ nghĩa của giới ngữ chỉ vị trí 67

2.2 Tiểu kết 68

Chương III: SỰ TƯƠNG TÁC GIỮA CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA VỊ TỪ VỚI CÁC NGỮ ĐOẠN TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ THỂ TIẾNG ANH 69

3.1 Tương tác giữa tham tố danh ngữ với vị từ 70

3.1.1 Sự tác động của tham tố danh ngữ chủ ngữ đối với vị từ 70

3.1.1.1 Vị từ điểm tính chuyển thái tức thời 71

3.1.1.2 Với các vị từ chuyển vị 72

3.1.2 Sự tác động của tham tố danh ngữ bổ ngữ đối với vị từ 74

3.2 Sự tác động của tham tố trạng ngữ đối với vị từ 77

3.2.1 Trạng ngữ thời đoạn: in/for + time 77

3.2.2 Vai trò của các trạng ngữ khác 79

3.2.2.1 Trạng ngữ đo lường 79

3.2.2.2 Trạng ngữ tái diễn 81

3.3 Vai trò của tham tố giới ngữ và giới ngữ chỉ vị trí 82

3.3.1 Sự tác động của tham tố giới ngữ chỉ hướng lên vị ngữ 83

3.3.2 Sự tác động của tham tố giới ngữ chỉ vị trí lên vị ngữ 87

3.4 Tiểu kết 89

PHẦN KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong tiếng Anh, thể là một trong những phạm trù ngữ pháp đặc biệtquan trọng vì nó gắn liền với đơn vị nòng cốt của vị ngữ Trong quá trình dạy vàhọc tiếng Anh đã đặt ra cho người học, người dạy cũng như nhiều dịch giả khácnhững thách thức tương đối lớn Mặc dù gần đây có nhiều công trình nghiên cứu

về thể tiếng Anh nhưng đây vẫn là mối quan tâm của đại đa số các nhà nghiên cứutiếng Anh Các công trình đã được xuất bản trên thế giới của nhiều nhà nghiên cứu

có tên tuổi như Krifka, Fillmore, Emmon Bach, Vendler, Verkuyl, Dowty, HagitBorer, Ramchard …đều nói đến vấn đề thể trong tiếng Anh

Đối với người Việt Nam, khi học và sử dụng tiếng Anh không mấy người nắm

rõ được thể của vị từ Khó khăn chẳng những ở bình diện hình thái học với nhữngbiến đổi dạng thức của vị từ được chia khi nhiều người dễ lầm lẫn với khái niệm thì

mà còn ở bình diện ngữ nghĩa của các tham tố cấu tạo thể Đó là do thể của vị từkhông chỉ dùng để biểu đạt cấu trúc thời gian bên trong của hoạt động với tính chất lànhững quá trình có khởi đầu, tiếp diễn, kết thúc,… mà còn biểu đạt các thuộc tínhcủa sự tình với các khái niệm tĩnh, động, đoạn tính, điểm tính, hữu đích, vô đích…Hơn nữa, không chỉ đơn giản là có thể xác định được giá trị thể dựa vào yếu tố thờigian trong câu mà giá trị thể còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác mà trong luậnvăn này chỉ đề cập đến yếu tố cấu trúc ngữ nghĩa của ngữ đoạn vì giá trị thể khôngchỉ được thể hiện ở phạm vi từ, ngữ mà còn ở phạm vi câu Sự tương tác giữa cấutrúc ngữ nghĩa của các tham tố tạo thể chung quanh vị từ với cấu trúc ngữ nghĩa của

vị từ sẽ tạo ra nghĩa của vị ngữ và ý nghĩa này của vị ngữ sẽ kết hợp với từng chỉ tốtạo thể để xác lập ý nghĩa thể của sự tình (Nguyễn Hoàng Trung (2006)) Việc xácđịnh giá trị thể dựa vào cấu trúc ngữ nghĩa của các tham tố này hay còn gọi là các ngữđoạn không phải lúc nào cũng dễ dàng ngay cả đối với những người đã có một trình

độ tiếng Anh tương đối khá Ví dụ, phân biệt sự khác nhau về giá trị thể giữa nhữngcâu có cùng một vị từ nhưng kết hợp với những danh ngữ khác nhau sau đây:

Trang 9

(1) a John ate an apple.

(John ăn một trái táo)

b John ate apples.

(John ăn táo)Hay các câu có cùng vị từ nhưng với danh ngữ và trạng ngữ khác nhau:

(2) a Mary drank a glass of wine in an hour

(Mary uống một ly rượu mất một tiếng)

b Mary drank wine for an hour.

(Mary uống rượu một tiếng)Hay các câu có giới ngữ và không có giới ngữ:

(3) a Mary walked

(Mary đi bộ)

b Mary walked to the store.

(Mary đi bộ đến cửa hàng)Hoặc các câu có trạng từ và không có trạng từ:

(4) a John died

(John chết)

b John died at nine

(John chết lúc 9 giờ)Những cặp câu trên có gì khác nhau về giá trị thể trong khi chúng cócùng một vị từ được chia ở thì quá khứ đơn mà đa số người học tiếng Anh đềucho nó mang ý nghĩa hoàn thành? Câu trả lời không phải lúc nào cũng đơn giảnđối với tất cả những người đã học tiếng Anh

Luận văn này không có tham vọng giải quyết tất cả vấn đề thể của vị từđặt ra cho những người học và sử dụng tiếng Anh như một ngoại ngữ mà tácgiả chỉ muốn đi sâu nghiên cứu về vấn đề xác định giá trị thể trong tiếng Anh –một loại hình ngôn ngữ khác biệt với tiếng Việt của chúng ta, bằng những tham

Trang 10

tố cấu trúc ngữ nghĩa của ngữ đoạn Tìm hiểu một ngôn ngữ khác cũng là mộttrong những phương tiện giúp chúng ta hiểu rõ hơn tiếng mẹ đẻ của mình.

Là học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học khát khao được nghiêncứu tìm hiểu sâu về ngôn ngữ của nhân loại, đồng thời là giáo viên giảng dạyngoại ngữ, với lòng nhiệt huyết và yêu nghề, mong muốn mang lại cho người

học những bài giảng bổ ích và hiệu quả, tác giả mạnh dạn chọn đề tài “ Cấu

trúc ngữ nghĩa của ngữ đoạn- tham số xác định giá trị thể tiếng Anh ” Với đề

tài này, tác giả mong muốn đóng góp phần sức bé nhỏ của mình vào sự nghiệpnghiên cứu cũng như giảng dạy và học tiếng ở nước ta Bên cạnh đó, tác giảcòn mong muốn được trau dồi thêm kiến thức ngôn ngữ trong quá trình khảosát và nghiên cứu đề tài Dù rằng hiểu biết của con người là có hạn nhưng tácgiả vẫn luôn khao khát được khám phá kho tàng kiến thức ngôn ngữ vô tận, bao

la và quý báu của nhân loại trong những năm tháng tiếp theo của cuộc đời

viết trên Tập san Khoa học xã hội & Nhân văn (26), 72- 79, Trường Đại Học

Khoa học Xã hội & Nhân văn, TP HCM)

Trang 11

2.2 Những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài:

Có nhiều công trình do các nhà ngôn ngữ học nước ngoài nổi tiếng phải được

kể đến đó là: Bach, (1981) (“On time, tense and aspect: An essay in Englishmetaphysics”); Bach, (1986) (“The algebra of events”); Dowty (1972) (“Studies inthe logic of verb aspect and time reference in English”); Filip (1997) (“Integratingtelicity, aspect and NP semantics: the role of thematic structure”); Jackendoff,(1996) (“'The proper treatment of measuring out, telicity, and perhaps evenquantification in English”); Krifka (1992) (“Thematic relations as links betweennominal reference and temporal constitution”); Krifka, (1998) (“The origins oftelicity”); Verkuyl (1993) (“A Theory of aspectuality: The interaction betweentemporal and atemporal”); Verkuyl (1999) (“ Aspectual issues Studies on timeand quantity”); Naumann (1995) (“Aspectual composition and dynamic logic”);…

Bên cạnh đó, Kenny Smith đã có công trình nghiên cứu về thể (Aspect and

Aktionsart (2004)) Kenny đã đưa ra lý thuyết hai thành tố về thể: thứ nhất, xác định

loại sự tình của câu, thứ hai, giá trị thể của một câu được xác định thông qua loại sựtình và giác độ Bernald Comrie (1976) dựa vào sự khác biệt vê các mối quan hệthời gian giữa thì và thể đã đưa ra định nghĩa về thể như là cách thức miêu tả cấutrúc thời gian bên trong của một sự tình Vendler (1957) cũng đã có công trìnhnghiên cứu về thể dựa vào cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ Ông đã phân loại giá trị thểthành: sự tình trạng thái (states), sự tình hoạt động (activities), sự tình điểm tính hữuđích (achievements), sự tình đoạn tính hữu đích (accomplishments) Philip I

Dudchuk có công trình nghiên cứu về thành phần cấu tạo thể (Aspectual

Composition) đã đóng góp không nhỏ cho kho tàng ngôn ngữ thế giới Howard

Garey có công trình nghiên cứu về thể vị từ trong tiếng Pháp (Verbal Aspect in

French, 1957) Ông đã phân biệt giữa vị từ hữu đích và vị từ vô đích Krasimir

Kabakchiev với công trình nghiên cứu về mối quan hệ tương hỗ giữa hai yếu tố

danh từ và vị từ đối với việc xác định giá trị thể tiếng Anh (Aspect in English: a

'common-sense' view of the interplay between verbal and nominal referents, 2000).

Trang 12

Ngoài ra, còn có một số tác giả như: Alexander P D Mourelatos (1978),Sigurd Agrell (1908), Jennifer Hay, Christopher Kennedy and Beth Levin (1999)

… cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về giá trị thể Mỗi người có nhữnghướng tiếp cận và nghiên cứu riêng với nhiều đề tài phong phú về thể đáng đểtham khảo và học hỏi theo

2.3 Về vấn đề xác định giá trị thể tiếng Anh dựa vào cấu trúc ngữ nghĩacủa ngữ đoạn mà trong luận văn này tôi giới hạn ở các ngữ đoạn: vị ngữ, danhngữ, giới ngữ và trạng ngữ, cho đến nay, chúng tôi chưa tìm thấy một công trìnhnghiên cứu nào trình bày rõ và đầy đủ về cả các loại ngữ đoạn này trong việc xácđịnh giá trị thể tiếng Anh

*Trên tinh thần học hỏi và kế thừa những thành quả của thệ hệ đi trước, tácgiả đã tổng hợp những tài liệu có liên quan đồng thời đi sâu nghiên cứu, tìm hiểuthêm để làm rõ cấu trúc ngữ nghĩa của ngữ đoạn nhằm góp phần vào việc xác địnhgiá trị thể tiếng Anh

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về cấu trúc ngữ nghĩa của ngữ đoạn- tham số để xác định giátrị thể tiếng Anh là một vấn đề không đơn giản cần phải xem xét đến nhiều yếu tố.Khi phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của ngữ đoạn (vị ngữ, danh ngữ, giới ngữ, trạngngữ) trong tiếng Anh để biết được sự tình trong câu có khởi điểm, diễn tiến và kếtđiểm hay không, luận văn chủ yếu xem xét đến một số đối tượng nghiên cứu sau:Đối với vị ngữ, luận văn chủ yếu đi sâu phân tích thuộc tính ngữ nghĩa [+động],[đoạn tính] và [hữu đích] của vị ngữ Đối với danh ngữ, luận văn quan tâm đếncác danh ngữ định lượng được giới thiệu bởi các hạn định từ bao gồm chỉ định từ,định lượng từ, số từ, mạo từ và các danh ngữ khối hay còn gọi là danh ngữ lũy tíchđược thể hiện qua hình thức số nhiều hay không đếm được của danh ngữ, nhữngdanh ngữ này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị thể tiếng Anh

Trang 13

Đối với trạng ngữ, luận văn quan tâm đến một số trạng từ thời đoạn in/for + time

và trạng ngữ bắt đầu bằng until và at Đối với giới ngữ, luận văn quan tâm đến

một số giới ngữ chỉ hướng có đích và không có đích, bên cạnh đó luận văn tìmhiểu về một số thuộc tính ngữ nghĩa của giới ngữ chỉ vị trí tiêu biểu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn giới hạn đề tài ở phạm vi nghiên cứu về bình diện cấu trúc ngữnghĩa của các ngữ đoạn: vị ngữ, danh ngữ, giới ngữ và trạng ngữ có tác động đếnviệc xác định giá trị thể của câu trong tiếng Anh Luận văn tập trung nghiên cứu

và phân tích dựa trên cấu trúc ngữ nghĩa của các yếu tố tạo thể Ngoài ra, luận văncòn tìm hiểu về sự tương tác giữa thuộc tính ngữ nghĩa của các các tham tố “vệtinh” (Nguyễn Hoàng Trung) với vị ngữ dẫn đến sự thay đổi về giá trị thể của câu

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu về cấu trúc ngữ nghĩa của ngữ đoạn- tham số để xác định giátrị thể tiếng Anh là quá trình yêu cầu phải áp dụng khéo léo nhiều phương phápnghiên cứu lý thuyết dựa trên nguồn ngữ liệu khá phong phú để có thể chứngminh vấn đề một cách chính xác nhất Sau đây là một số phương pháp chính màtác giả sẽ sử dụng trong quá trình hoàn thành luận văn:

4.1 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa- cú pháp

Với phương pháp này, chúng tôi tiến hành khảo sát và phân tích mộtcách chi tiết các ngữ đoạn mà cụ thể là phân tích cấu trúc ngữ nghĩa và một sốđặc trưng cú pháp của vị ngữ, danh ngữ, trạng ngữ và giới ngữ để rút ra nhữnggiá trị thể tương ứng

4.2 Phương pháp miêu tả

Qua quá trình phân tích, luận văn miêu tả các tham tố ảnh hưởng đến giá trịthể thông qua một số mô hình phân tích cấu trúc tham tố- vị từ

Trang 14

Ngoài hai phương pháp nghiên cứu trên, đề tài còn áp dụng các phươngpháp nghiên cứu diễn dịch, quy nạp- những phương pháp của lô gích trong quátrình miêu tả, cũng như một vài phương pháp, thủ pháp nghiên cứu của các ngànhkhoa học khác

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

5.1 Về mặt lý luận

Luận văn này cung cấp một cái nhìn mới cho các nghiên cứu về cấu trúcngữ nghĩa của ngữ đoạn nhằm xác định được giá trị thể tiếng Anh, bên cạnh đó,

nó còn giúp ta hiểu được một khía cạnh nào đó về phạm trù thể trong tiếng Việt

Có thể nói đây là luận văn thạc sĩ đầu tiên khảo sát giá trị thể trong tiếng Anhthông qua cấu trúc ngữ nghĩa của các tham tố (vị ngữ, danh ngữ, trạng ngữ, giớingữ ) quanh vị từ Luận văn cũng góp thêm cái nhìn sâu sắc cho quá trình nghiêncứu một trong những phạm vi khái niệm trọng tâm của ngôn ngữ, các khái niệmthời gian thông qua cấu trúc hình thái vị từ Chẳng hạn, nghiên cứu hai câu sau: 1)

John walked to the park (John đi bộ đến công viên) và 2) John walked in the park

(John đi bộ trong công viên) Nghe có vẻ như hai câu này đều mang ý nghĩa thể

giống nhau vì hình thái vị từ của chúng đều ở thì quá khứ đơn, tuy nhiên trong câu

(1), vì có giới ngữ bắt đầu với to nên câu này mang giá trị thể hữu đích còn trong câu (2) có giới ngữ bắt đầu với in nên câu này mang giá trị thể vô đích vì sự tình

được miêu tả không đạt đến một kết điểm Vấn đề này sẽ được phân tích rõ ởchương II và III của luận văn này Hiểu sâu sắc vấn đề xác định giá trị thể trongtiếng Anh cho phép chúng ta hiểu rõ mô hình lý thuyết quan trọng phục vụ chonghiên cứu thể ở các ngôn ngữ khác

5.2 Về mặt thực tiễn

Nghiên cứu về cấu trúc ngữ nghĩa của ngữ đoạn và xác định được giá trịthể tiếng Anh không những giúp cho người học tiếng Anh có được kiến thức sâuhơn về cú pháp và ngữ nghĩa của ngôn ngữ này mà còn giúp các nhà nghiên cứu

Trang 15

ngôn ngữ dễ dàng tiếp cận, đi sâu tìm tòi, và khám phá những điều mới hơn vềthể Hiểu rõ giá trị thể tiếng Anh giúp cho quá trình học thứ ngoại ngữ này củangười Việt đạt hiệu quả cao nói chung và giúp cho người viết có hướng tiếp cậntốt hơn khi giảng dạy ngoại ngữ nói riêng

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục,phần chính của luận văn bao gồm ba chương :

Chương 1: Khái quát các lý thuyết về sự tình và thể

Chương này trình bày vấn đề lý thuyết được coi là cơ sở để vận dụng trongnội dung nghiên cứu của đề tài Dựa vào các phương pháp nghiên cứu về sự tình

và thể của các nhà nghiên cứu đi trước góp phần vào việc xác định giá trị thể,chúng tôi sẽ giới thiệu bốn lý thuyết của bốn nhà ngôn ngữ nổi tiếng

Thuyết đầu tiên là của Verkuyl (1972, 1993), thuyết này đã cung cấpthông tin quan trọng về mối quan hệ giữa các tham tố sự tình và các thuộc tínhcủa sự tình Lý thuyết của Verkuyl thuộc về cấu trúc và không quy định mộtloại ngữ nghĩa riêng biệt nào cho các sự tình Ông đã rút ra các mối quan hệthông qua một hệ thống bao gồm hai đặc điểm kết hợp lại tạo thành đặc điểmthứ ba Các đặc điểm được xây dựng thành khối có liên quan đến ngữ nghĩa của

vị từ và với các thuộc tính định lượng của các tham tố Thuyết thứ hai là củaKrifka (1992, 1998), thuyết này mở rộng phạm vi các mối quan hệ liên quan vàcác tham tố của chúng Krifka đưa ra nhiều chiến lược để phân tích các mốiquan hệ này, giải pháp chính của Krifka đó là ánh xạ giữa các thuộc tính bộphận- tổng thể của các tham tố với các thuộc tính bộ phận- tổng thể của sự tình,điều này giống với những gì mà Verkuyl đã trình bày Krifka xem sự tình nhưmột loại cơ bản riêng biệt mà vị từ đòi hỏi phải có tham tố và ý nghĩa của toàn

bộ vị ngữ được tạo thành gần nghĩa với ý nghĩa vị từ đó Thuyết thứ ba là củaRamchand (2002), lý thuyết này về cơ bản cũng dựa vào cú pháp nhưng bà vẫn

Trang 16

quan tâm đến vai trò quan trọng về ngữ nghĩa của các sự tình Bà xây dựng môhình phân tách sự tình và rút ra cấu trúc tham tố và các giá trị thể Mô hìnhphân tách của bà không đòi hỏi một loại cơ bản riêng biệt nào như Krifka vàBorer và cũng không liên quan đến bất kỳ ánh xạ hay quy định phạm vi nào:kết quả định lượng được xem như là kết quả của các mối quan hệ được thiết lậpgiữa các định lượng từ theo quan hệ phân chia Thuyết cuối cùng là của Borer(2005b), thuyết này lấy cú pháp làm quỹ tích của tất cả các mối quan hệ về ngữpháp thích hợp cho cả thể lẫn cấu trúc tham tố Borer giới thiệu hình chiếu cúpháp để giải thích ý nghĩa thể và cho rằng nó thuộc cùng loại với định lượng từxuất hiện trong danh ngữ Do đó, nếu một tham tố có định lượng từ hay bằng cáchnào đó có thuộc tính thích hợp thì tham tố đó sẽ quy định thuộc tính này cho thành

tố chính trong hình chiếu cú pháp của nó Điều này giống với phương pháp ánh xạcủa Krifka, tuy nhiên phương pháp này có sự ràng buộc mạnh về mặt ngữ pháp.Borer cũng xem sự tình như loại cơ bản như Krifka nhưng bà bỏ qua hình thứctruyền thống của mô hình cấu trúc phân tách sự tình

Nhìn chung, có thể rút ra hai hướng tiếp cận chính để xác định giá trị thểtrong bốn thuyết trên như sau: thứ nhất là xem giá trị thể như là một hiện tượngphân tách sự tình; thứ hai là xem giá trị thể như là một vấn đề của các thuộctính định lượng hay bộ phận- tổng thể Hướng thứ nhất xem sự tình mang thuộctính hữu đích nếu cấu trúc sự tình đơn gồm một bộ phận thường được coi là kếtđiểm Hướng thứ hai xem một ngữ đoạn mang thuộc tính hữu đích nếu nó mô

tả các thuộc tính nào đó liên quan đến định lượng như tính giới hạn hay tínhkhông đồng thời

Chương 2: Cấu trúc ngữ nghĩa của ngữ đoạn- tham số xác định giá trị Thể tiếng Anh

Trong chương này, chúng tôi trình bày một số thuộc tính ngữ nghĩa củabốn loại ngữ đoạn: vị ngữ, danh ngữ, giới ngữ, và trạng ngữ gây ảnh hưởng đếngiá trị thể Tác giả đi phân tích từng loại ngữ đoạn một để làm rõ vấn đề xác

Trang 17

định giá trị thể Chương này có bố cục như sau: Phần 1 giới thiệu về cấu trúcngữ nghĩa của ngữ đoạn- tham tố xác định giá trị thể của vị ngữ và câu Trongphần này, chúng tôi chia ra thành bốn tiểu mục với bốn ngữ đoạn: thứ nhất làgiới thiệu các thuộc tính ngữ nghĩa của vị ngữ có tác động đến giá trị hữu đích

và vô đích của thể sự tình Thứ hai, trình bày cấu trúc ngữ nghĩa của danh ngữ

ở vị trí chủ ngữ và tân ngữ dựa vào các thuộc tính định lượng của các hạn định

từ như chỉ định từ, định lượng từ, số từ, và mạo từ và thuộc tính lũy tích đóngvai trò quan trọng vào việc xác định giá trị thể Thứ ba, chúng tôi bàn về cấutrúc ngữ nghĩa của trạng ngữ: in/ for + time giữ chức năng cú pháp và chức năng ngữ nghĩa trong câu và trạng ngữ thời gian until và at Cuối cùng, chúng

tôi trình bày về cấu trúc ngữ nghĩa của giới ngữ làm định ngữ (modifier) đối

với một vị từ chẳng hạn như giới từ chỉ hướng: from…to…, towards, to… và một số giới từ chỉ vị trí: in, at, on… Chúng tôi đi sâu phân tích nhằm làm rõ giá

tác của trạng ngữ thời đoạn in/for + time và trạng ngữ until, at lên vị ngữ thông

qua thuộc tính hạn định và không hạn định của trạng ngữ, sự tương tác của giớingữ chỉ hướng và chỉ vị trí lên vị ngữ thông qua tính xác định hay không xác địnhcủa giới ngữ để làm rõ vấn đề đã nêu trong luận văn

Chương I:

Trang 18

KHÁI QUÁT VỀ SỰ TÌNH VÀ THỂ 1.1 Giới thiệu

Trước hết, chương này giới thiệu khái quát về sự tình và thể, cụ thể sẽ đưa

ra khái niệm sự tình và cách phân loại sự tình, khái niệm thể và các loại thể trongtiếng Anh

Tiếp theo, chương này sẽ trình bày một số lý thuyết mà chúng tôi xem làtiêu biểu cho các hướng tiếp cận xác định giá trị thể, bao gồm: Lý thuyết củaVerkuyl (1972, 1993) cung cấp thông tin quan trọng về mối quan hệ giữa cáctham tố cấu thành sự tình và các thuộc tính của sự tình Lý thuyết của Krifka(1992, 1998) mở rộng phạm vi các mối quan hệ liên quan giữa sự tình và cáctham tố góp phần cấu thành sự tình Lý thuyết của Ramchand (2002), lý thuyếtnày về cơ bản cũng dựa vào các thuộc tính cú pháp nhưng vẫn xem trọng cácthuộc tính ngữ nghĩa của các sự tình Lý thuyết của Borer (2005b) lấy cú pháplàm trung tâm để phân tích tất cả các mối quan hệ về ngữ pháp giải thích cho cảthể lẫn cấu trúc tham tố

Cuối cùng, chương này sẽ trình bày về giá trị thể và một số thuộc tính ngữnghĩa của ngữ đoạn có ảnh hưởng quan trọng đến vấn đề xác định giá trị thể trongtiếng Anh Đây là tiền đề quan trọng để phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của các ngữđoạn trong chương II và đồng thời làm cơ sở lý thuyết để giải thích cho ý nghĩacủa sự tương tác giữa các tham tố và vị ngữ- đơn vị nòng cốt để xác định giá trịthể trong chương III

1.2 Sự tình và thể

Những nghiên cứu gần đây cho thấy thể không chỉ được xem xét ở cấp độ

vị từ, vị ngữ hay cao hơn là ở bình diện câu Thể biểu thị mối quan hệ giữa haimặt: giác độ thể được biểu đạt bởi hình thái vị từ hay còn gọi là thể ngữ pháp và ýnghĩa từ vựng tự thân được biểu hiện bởi một loại vị ngữ nhất định hay gọi là thể

từ vựng Về mặt truyền thống, thể ngữ pháp quy định thuộc tính của giá trị thể, tuy

Trang 19

nhiên theo quan điểm hiện đại, thể từ vựng cũng là yếu tố cơ bản cấu thành loại sựtình Thể ngữ pháp phản ánh quan điểm của người nói lên hành động Người nói

có thể quan sát hành động trên bình diện tổng thể hay trên từng bộ phận

Xét ví dụ (5):

(5) a Yesterday it was pouring with rain (từng bộ phận)

(Hôm qua lúc đó trời đang mưa)

b Yesterday it rained all day (tổng thể)(Hôm qua trời mưa suốt ngày)

Trong câu (5a), người nói muốn đề cập đến một thời điểm nào đó của cơnmưa (rain) vào ngày hôm qua nên mang tính bộ phận còn trong câu (5b), ngườinói muốn nhấn mạnh sự tình mưa diễn ra suốt cả ngày hôm qua nên mang tínhtổng thể

So với các thuật ngữ có liên quan đến hình thái vị từ như Thì hoặc Thức,thể là một thuật ngữ khá xa lạ đối với sinh viên học ngoại ngữ Tiếng Anh cóhai loại thể: thể hoàn thành (perfective) và thể chưa hoàn thành (imperfective).Thể hoàn thành bao gồm cả thể khởi phát (ingressive/inchoative) trong khi thểchưa hoàn thành bao gồm trạng thái và thể tiếp diễn Trạng thái tương thích với

vị từ tĩnh (stative verbs) và thể tiếp diễn tương thích với vị từ động (dynamicverbs) Givón (1993) đã minh họa sự khác biệt giữa thể hoàn thành và chưahoàn thành thông qua ý nghĩa phóng to và thu nhỏ (zoom) của máy ảnh Thểhoàn thành được ví như một bức ảnh được thu nhỏ nên có thể bao quát toàn bộcảnh nhưng không thể cung cấp thông tin chi tiết của vật thể, trong khi thểchưa hoàn thành được ví như một bức ảnh được phóng to để có thể xem từng

bộ phận chi tiết của vật thể

Xét ví dụ (6):

(6) a He read a book – Thể hoàn thành

Trang 20

(Anh ta đọc sách)

b He was reading a book – Thể chưa hoàn thành

(Lúc đó anh ta đang đọc sách)

c John had lunch at 11 a.m yesterday – Thể khởi phát

(John đã ăn trưa vào 11 giờ ngày hôm qua)

d John was sick – Trạng thái

(John ốm)Các sự tình trong những câu trên đều giống nhau về giá trị “thì”, chúng đều

ở thì quá khứ (past tense), tuy nhiên xét về giá trị thể thì chúng lại khác nhau Câu(6a) miêu tả một sự tình trong toàn cục, còn (6b) miêu tả một khúc đoạn của sựtình: sự tình đọc sách đang tiếp diễn tại một thời điểm quy chiếu nào đó và chưa

kết thúc Sự có mặt của trạng từ chỉ thời điểm at 11 a.m trong (6c) đã đặt sự tình

dưới giác độ khởi phát Câu (6d) mô tả trạng thái John ốm Xem lại hai câu (6a) và(6b), sự tình được mô tả của vị ngữ trong hai câu này đều mang giá trị thể hữu

đích nhờ vào danh ngữ ở vị trí tân ngữ a book mặc dù hình thái vị từ của chúng

khác nhau, do đó kết luận là giá trị thể của sự tình không chỉ xem xét ở cấp độhình thái vị từ mà còn ở cấp độ cao hơn là vị ngữ, có nghĩa là khi xem xét giá trịthể không chỉ dựa trên hình thái vị từ mà còn phải xét đến cấu trúc ngữ nghĩa củacác tham tố quanh vị từ chẳng hạn như danh ngữ thuộc vị ngữ đó

Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu gần đây thì thể không chỉ là phạm trùngữ pháp (thể ngữ pháp) mà còn là phạm trù ngữ nghĩa (thể từ vựng) của vị từ,ngữ đoạn và câu (Vendler (1967), Krifka (1992,1998), Verkuyl (1972, 1993),Ramchand (2002), và Borer (2005b))

Giá trị thể luôn luôn do vị ngữ biểu đạt trong đó một sự tình được phân loạitheo đặc điểm ngữ nghĩa của vị ngữ mô tả nó Zeno Vendler (1967) đã đưa ra một

hệ thống phân loại chính gồm bốn loại vị ngữ dựa trên quan điểm cá nhân, nhữnghiện tượng chuyển dịch ý nghĩa sự tình và phân tích cấu trúc nội tại của các sựtình đó Vendler phân loại vị từ tiếng Anh thành bốn loại chính tương ứng với bốn

Trang 21

loại sự tình: (a) sự tình tĩnh (state): John loves Mary, (b) sự tình hoạt động (activities): John ran, (c) sự tình đoạn tính hữu đích (accomplishment): John ran

a mile, (d) sự tình điểm tính hữu đích (achievement): John reached the submit; sau

đó được Carlota Smith (1991) bổ sung thêm sự tình nhất cố (semelfactive): John

jumped và phát triển chúng dựa vào ba thông số: tĩnh/ động, đoạn tính/ điểm tính,

và hữu đích/ vô đích (thuật ngữ dịch Anh- Việt (Nguyễn Hoàng Trung (2006))

Sau này, dựa trên hai tiêu chí quan trọng: [± động], [± tăng tiến], và [± hữu đích],

Nguyễn Hoàng Trung đã phân loại sự tình thành: sự tình tĩnh, sự tình hoạt động,

sự tình điểm tính hữu đích, sự tình đoạn tính hữu đích và sự tình nhất cố (NguyễnHoàng Trung, (2006), tr 59)

Sự tình tĩnh không mang thuộc tính tăng tiến, thuộc tính động, và hữu đích

Sự tình hoạt động mang thuộc tính động, tăng tiến và vô đích Sự tình điểm tínhhữu đích mang thuộc tính động và hữu đích nhưng không có thuộc tính tăng tiến

Sự tình đoạn tính hữu đích mang thuộc tính động, tăng tiến và hữu đích Sự tìnhnhất cố mang thuộc tính động, không tăng tiến và vô đích Có thể tóm tắt sự phânloại qua bảng sau:

sự tình là cơ sở để xác định giá trị thể của sự tình

Trang 22

Giá trị thể không chỉ được quyết định bởi hình thái và ý nghĩa của vị từ màcòn bởi các tham tố xung quanh vị từ đó Nói cách khác, giá trị thể không chỉ phụthuộc vào ý nghĩa của sự tình mà còn liên quan đến các tham tố của nó, ví dụ như

John, a bag và the closet trong John put a bag into the closet (John đặt túi xách vào tủ rồi) Ý nghĩa sự tình tạo ra mối quan hệ giữa ba tham tố: John thực hiện

hành động đối với cái túi xách nhờ đó chiếc túi xách được nằm ở trong tủ Ý nghĩahữu đích này được tạo ra bởi vị từ (put), ngoài ra còn có thể bởi giới từ (into), ýnghĩa của nó gắn liền với các tham tố của sự tình hay từ các kết cấu hình thái của

vị từ ở thì quá khứ đơn Hay trong câu Mary slept (Mary ngủ rồi) giới thiệu sự

tình tĩnh: có một trạng thái nhất định liên quan đến nội dung khái niệm như đôimắt nhắm lại, vô thức, có thể chìm vào giấc mơ và thực thể muốn nói đến đó là

Mary đang ở trong tình huống đó Bất cứ câu nào được viết đúng cấu trúc trong

ngôn ngữ đều có thể có đặc điểm: mỗi câu đều có một ý nghĩa sự tình như là ýnghĩa của các thành phần ngữ nghĩa cốt yếu của nó Do đó, có thể kết luận rằng sựtình chính là các ý nghĩa, nó là một phần nghĩa của câu, vì thế nó là một bộ phậncủa cấu trúc ngữ nghĩa Dựa vào ý nghĩa từ vựng của vị từ và các tham tố xungquanh vị từ để phân loại sự tình thành các loại sự tình như trong (7):

(7) a John loves Mary → sự tình tĩnh

(John yêu Mary)

b John ran → sự tình hoạt động(John chạy rồi)

c John ran a mile to school → sự tình đoạn tính hữu đích(John chạy một dặm đến trường)

d John reached the submit → sự tình điểm tính hữu đích(John đến đích)

e John jumped into the river → sự tình nhất cố(John nhảy xuống sông)

Trang 23

Dựa vào cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ, chúng tôi đưa ra sự phân loại trong

(7) như sau: Trong câu (7a) sử dụng vị từ trạng thái loves/yêu nên có thể mô tả sự tình tĩnh Trong câu (7b) sử dụng vị từ hoạt động run/chạy nên biểu thị sự tình hoạt động Với vị từ hoạt động run/chạy và danh ngữ a mile/ một dặm trong (7c)

biểu thị ý nghĩa hoàn thành và hữu đích, sự tình diễn ra được xác định trong mộtkhoảng không gian một dặm nên nó là sự tình đoạn tính hữu đích Trong (7d) nhờ

vị từ điểm tính reach/đạt đến và the submit/đích là đích của hành động nên sự tình mang ý nghĩa điểm tính hữu đích Trong (7e) với vị từ điểm tính jumped/nhảy xảy

ra nhất thời và không có điểm dừng nên nó biểu thị sự tình nhất cố

C Smith (1991) đưa ra lý thuyết hai thành phần: loại sự tình (situationtype) và giác độ thể (viewpoint aspect) Loại sự tình gồm có năm loại như đã được

đề cập ở (3) là sự tình hoạt động, sự tình đoạn tính hữu đích, sự tình điểm tính hữuđích, sự tình trạng thái và sự tình nhất cố Giác độ thể bao gồm: giác độ hoàn

thành và giác độ chưa hoàn thành Chẳng hạn, để mô tả sự việc: John ran a mile

to school yesterday/Ngày hôm qua John chạy một dặm đến trường, người nói

chọn giác độ hoàn thành (John ran a mile to school/John chạy một dặm đến

trường và hiện giờ John đang ở trường hoặc người nói có thể chọn giác độ chưa

hoàn thành (John was running a mile/ John chạy một dặm và hiện giờ John đang

chạy).

Giác độ chưa hoàn thành miêu tả sự tình từ bên trong, không xét kết điểmhay khởi điểm Điều này cho thấy một số vị từ điểm tính hữu đích không tương

thích với thể chưa hoàn thành như trong ví dụ He is noticing a friend/Anh ta chú ý

đến một người bạn Mặc dù vị từ điểm tính hữu đích không tương thích với thể

tiếp diễn nhưng đôi khi muốn nhấn mạnh quá trình dẫn đến kết điểm hay mô tả

phân đoạn trước sự tình thì có thể sử dụng thể tiếp diễn Chẳng hạn như John was

reaching the summit of the mountain/John gần đến đỉnh núi có nghĩa là John đã ở

giai đoạn ngay trước khi chạm đến đỉnh núi chứ không phải John đang ở giữa

đoạn đường leo lên đỉnh núi Một ví dụ khác John is winning the race/John thắng

Trang 24

thế cuộc đua chỉ thích hợp khi con ngựa của John đến trước tất cả các con ngựa

khác trong cuộc đua mặc dù anh ta chưa thực sự đạt đến vạch đích

Sự tình nhất cố là loại sự tình nhất thời, điểm tính và không có quá trình.Trong trường hợp này, người nói có thể áp đặt quan điểm nội tại lên sự tình khi có

sự lặp đi lặp lại nhiều lần để tạo nên một quá trình Do đó, John is coughing/John

đang ho, thường chỉ hành động ho lặp đi lặp lại, nghĩa là cùng nói về một hành

động ho nhưng có nhiều lần ho

Ngược lại với các vị từ điểm tính hữu đích và sự tình nhất cố, các loại vị từtĩnh, hoạt động và đoạn tính hữu đích có thể chấp nhận giác độ thể Cả hai cáchđánh dấu thể không hoàn thành và tiếp diễn đều tạo ra nghĩa hành động tiếp diễnkhi thêm vào các vị từ hoạt động và vị từ đoạn tính hữu đích nhằm nhấn mạnh đếnquá trình động của sự tình do vị từ đó mô tả Xét về vị từ trạng thái có một chútkhác biệt đó là vị từ này không kết hợp với thể tiếp diễn, chẳng hạn như các vị từ

chỉ tâm lí và tri nhận: want/muốn, need/cần, like/thích, love/yêu, believe/tin tưởng,

know/biết, các vị từ tri giác: see/nhìn thấy, hear/nghe thấy, feel/cảm thấy, và các vị

từ chỉ quan hệ và sự tồn tại: resemble/giống như, possess/sở hữu, have/có, và be/là.

M Krifka (1992, 1998) đưa ra cặp khái niệm đối lập: lũy tích(cumulativity) và định lượng (quantization) dựa trên mối quan hệ bộ phận- tổng

thể (part- whole relation) Chẳng hạn như John ate apples/John ăn táo, trong đó

apples/ táo là danh ngữ lũy tích nên vị ngữ ate apples/ ăn táo cũng là vị ngữ lũy

tích do đó nó là sự tình vô đích Trái lại, nếu ta thay apples thành an apple/một

quả táo hay three apples/ba quả táo thì vị ngữ ở đây là vị ngữ định lượng nên

mang thuộc tính hữu đích Vị ngữ vô đích có thuộc tính lũy tích còn vị ngữ hữuđích thì có thuộc tính định lượng

Tóm lại, các sự tình hoạt động và đoạn tính hữu đích tương thích với thểtiếp diễn còn trạng thái, sự tình điểm tính hữu đích và sự tình nhất cố không tươngthích với thể tiếp diễn ngoại trừ trường hợp sự tình điểm tính hữu đích và sự tìnhnhất cố mang ý nghĩa tái diễn, lặp lại Giá trị thể không chỉ phụ thuộc vào hình

Trang 25

thái và ý nghĩa của vị từ mà còn phụ thuộc vào ngữ nghĩa của các tham tố danhngữ, giới ngữ hay trạng ngữ xung quanh vị từ hay còn mở rộng hơn đến danh ngữ

ở vị trí chủ ngữ, vấn đề này sẽ được trình bày rõ hơn trong các chương tiếp theokhi bàn về cấu trúc ngữ nghĩa của ngữ đoạn

1.3 Các lý thuyết về sự tình và thể

Phần này sẽ bàn về vấn đề mối quan hệ giữa các tham tố sự tình và cấu trúcthể Một số nhà nghiên cứu cho rằng cấu trúc tham tố và cấu trúc sự tình có mốiliên quan với nhau thông qua thuộc tính định lượng của các tham tố và các mốiquan hệ chúng thiết lập với sự tình (Verkuyl 1972, Tenny 1994) Ramchard (2002)cho rằng mối quan hệ giữa cấu trúc ngữ nghĩa và thể nằm ở cấu trúc sự tình và các

mô hình mà sự tình đó lựa chọn

Zeno Vendler (1957) đã phân loại sự tình thành: sự tình tĩnh, sự tình hoạt

động, sự tình đoạn tính hữu đích và sự tình điểm tính hữu đích dựa vào tính hạn

định về mặt thời gian và diễn tiến của sự tình Diễn tiến mà ông muốn nói đến đó

là một bộ phận của sự tình xảy ra trong khoảng thời gian liên quan đến một chuỗikhông giới hạn, đồng thời là một bộ phận của những thay đổi về tính nhất địnhnào đó Xem lại ví dụ trong (7a-e), ta thấy, sự tình tĩnh là các sự tình đơn giảnnhất về giá trị thể vì nó không bị giới hạn thời gian cũng như không có diễn tiếnlàm thay đổi thuộc tính Sự tình tĩnh chỉ dừng lại chứ không bị thay đổi hay được

hoàn thành Ví dụ (7a) với sự tình loves (yêu) : mối quan hệ yêu đương giữa Mary

và John, trong đó John cảm thấy yêu nhưng không có khoảng thời gian thay đổi

cần thiết nào cho mối quan hệ này Cấu trúc ngữ nghĩa của sự tình tĩnh là nhữngđoạn bất biến, đồng nhất Trong (7b) phải có quá trình ảnh hưởng đến vị trí củaJohn cũng như có sự chuyển động chân tay của anh ấy Sự tình đoạn tính có kết

điểm và có quá trình: trong (7c) phải có một thời điểm để sự tình run (chạy) xảy ra

và một thời điểm hoàn thành mà kết quả là John đã chạy được một dặm Sự tình này phải bao gồm quá trình chạy từ khởi điểm cho đến một dặm Cuối cùng, sự tình

điểm tính liên quan đến giới hạn và quá trình của sự tình này xảy ra rất nhanh và

Trang 26

ngắn nên không thể xác định được, do đó nó mang tính thay đổi đột ngột và điểm

kết thúc kề cận tương tự như trong (7d) Trong (7e) có khởi điểm để John nhảy và kết điểm để John không còn dính líu đến điểm cuối cùng anh ta dậm chân để nhảy

xuống sông Sự tình này có thể được bắt đầu bằng hành động nhảy của John

Nhiều nhà ngôn ngữ học đã xác định giá trị thể chỉ trong phạm vi xem xétthuộc tính của vị từ và thuộc tính đó được quy vào sự tình và do đó cũng quy vàotoàn bộ vị ngữ Thậm chí Vendler (1957) cũng chỉ xác định được giá trị thể của vị

từ mà chưa xem xét đến giá trị thể của vị ngữ Tuy nhiên, có một số nhà ngôn ngữhọc khác lại có những quan điểm và phương pháp khác nhau khi đi tìm giá trị thểcho vị từ, vị ngữ hoặc câu Đầu tiên, Verkuyl (1972,1993) coi sự tình như lànhững cấu trúc kết hợp giữa vị từ và các tham tố của nó Tiếp theo, Krifka (1992,1998) xem sự tình như là một loại ngữ nghĩa riêng biệt sử dụng các tham tố- sựtình mà có thể duy trì được cấp độ cấu tạo nhất định thông qua định nghĩa các vainghĩa của nó và hiện tượng phóng chiếu Ramchard (2002) xem xét sự phóngchiếu giữa sự tình và các tham tố của nó ở hai trường hợp: định lượng và cấu tạo

vị ngữ dưới góc độ cú pháp và ngữ nghĩa Cuối cùng, Borer (2005b) chỉ xét các

tham tố sự tình bỏ qua các vai nghĩa, chỉ xem xét giá trị thể dưới góc độ cú pháp

1.3.1 Lý thuyết của Verkuyl (1972,1993)

Henk Verkuyl là một trong những nhà ngôn ngữ học đầu tiên bàn luận vềgiá trị thể của vị từ đặc biệt là ý nghĩa từ vựng của nó Phần này chỉ chú trọng vàoVerkuyl (1972) và Verkuyl (1993) Verkuyl (1972) bắt đầu với một số các tham tốgiải thích cho cấu trúc tham tố và cấu tạo thể Sau đó, ông đưa ra lý lẽ ủng hộ cho

mô hình cấu tạo thể tương ứng với các thuộc tính động xuất hiện trên vị từ vàthuộc tính định lượng trên các tham tố của nó Việc cấu tạo vị ngữ của chúng tạonên giá trị thể của sự tình

Verkuyl (1972) quan sát và cho thấy không chỉ có vị từ là yếu tố duy nhất

có khả năng tác động đến giá trị thể mà các thuộc tính nhất định của các tham tố

sự tình cũng đóng vai trò trung tâm trong vấn đề này Bằng cách sử dụng bài trắc

Trang 27

nghiệm trạng ngữ thời gian bắt đầu với in/for và rút ra kết luận: những sự tình hữu đích được đo bởi cụm giới từ in trong khi sự tình vô đích được đo bằng cụm từ

for Sự tình ăn (ate) trong (8a) bên dưới dường như mang thuộc tính hữu đích khi

người ăn và đối tượng được ăn đang tham gia vào sự tình này Khi vật thể được ănđược chuyển từ số ít sang một số lượng không xác định trong (8b) (dạng số nhiều

sandwiches) thì sự tình trở nên vô đích, và xảy ra tương tự nếu người ăn ở dạng số

lượng không xác định như trong (8c) Điều này cho thấy không chỉ có vị từ đóngvai trò duy nhất vào việc xác định giá trị thể: có thể thay thế một vị từ khác vàocâu (8a) thì sự tình có thể trở nên vô đích như trong (8d) Dựa vào những ví dụnày, Verkuyl đã kết luận rằng giá trị thể cũng xuất hiện ở cấp độ vị ngữ chứ khôngchỉ ở cấp độ vị từ

(8) a John ate a sandwich in an hour/?for an hour

(John ăn một cái bánh xăng-đuých mất một giờ/?một giờ rồi)

b John ate sandwiches for an hour/?in an hour

(John ăn bánh xăng-đuých một giờ rồi/?mất một giờ)

c For an hour/?in an hour nobody ate a sandwich

(Không ai ăn một cái bánh xăng-đuých một giờ/?mất một giờ)

d John disliked a sandwich for an hour/?in an hour

(John không thích bánh xăng-đuých một giờ/?mất một giờ) Khi giới thiệu về hiện tượng này, luận văn chỉ mô tả thuộc tính thích hợpcủa các tham tố khi không có số lượng xác định Verkuyl sử dụng thuật ngữ chínhxác là số lượng xác định A (Specific Quantity of A, viết tắt là SQA) như là thuộctính xuất hiện trong các cụm từ danh lượng miêu tả các tham tố sự tình (trongSQA thì A thay thế cho vật mô tả danh lượng trong cấu trúc tham tố), sau nàychúng tôi sử dụng [+/- SQA] để biểu thị cho thuộc tính này, trong đó giá trị dươngbiểu thị sự tồn tại của thuộc tính định lượng và thuộc tính không định lượng đượcbiểu thị bằng giá trị âm Thuộc tính này tồn tại nhờ các lượng từ (số đếm như

three/ba, twenty/hai mươi, hay các từ “hạn định” khác như more than three but

Trang 28

less than seven/nhiều hơn ba nhưng ít hơn bảy) hay nhờ vào tính xác định của

danh ngữ (có thể được đánh dấu bởi mạo từ xác định hay những vật để đánh dấu

như (a) certain/một lượng nhất định, hay do ngữ cảnh quy định) Một tham tố cấu

trúc (ví dụ như danh ngữ) có thuộc tính định lượng thì tương thích với vị ngữ hữuđích (thực ra Verkuyl sử dụng thuật ngữ đoạn tính (durative) thay vì vô đích(atelic) và thuật ngữ kết điểm thay vì hữu đích (telic)), nghĩa là để vị ngữ mangthuộc tính hữu đích thì cả hai tham tố cấu trúc (chủ ngữ và tân ngữ) phải tồn tạithuộc tính định lượng [+SQA]

Thuộc tính hữu đích có phải là thuộc tính của vị từ hay không Theo quanđiểm của Verkuyl, thuộc tính thích hợp của vị từ là thuộc tính có ý nghĩa biểu thịmột quá trình nhất định Quá trình là kết quả biểu thị của vị từ bao gồm các vị từ

động đối lập với vị từ tĩnh Các sự tình bao gồm những vị từ to turn/trở nên, to

hit/đánh, to slide/trượt, to reach/đạt đến, to redden/làm đỏ, to lengthen/kéo dài,

hay to build/xây dựng tất cả đều yêu cầu thuộc tính của một vài thực thể thay đổi giá trị trong suốt thời gian xảy ra sự tình Trái lại, đối với các vị từ như to

sleep/ngủ, to shine/chiếu sáng, hay to sit/ngồi, nghĩa là các vị từ thường được

phân loại như trạng thái của Vendler thì tất cả các thuộc tính có liên quan đều giữnguyên giá trị giống nhau kể cả trước, trong suốt và sau khi xảy ra sự tình

Verkuyl (1972) đã sử dụng thuật ngữ [+/- SQA] biểu thị thuộc tính địnhlượng nhưng trong một nghiên cứu sau này, ông gọi thuộc tính này là thuộc tínhtăng tiến/không tăng tiến (sau này được viết tắt là [+/- ADD TO]) trong đó giá trịdương biểu thị sự có mặt của thuộc tính tăng tiến và giá trị âm biểu thị sự có mặtcủa thuộc tính không tăng tiến Hai cách gọi này khác nhau ở chỗ: [+/- ADD TO]xuất hiện trên vị từ và được quyết định bởi ý nghĩa từ vựng trong khi [+/- SQA]được quyết định trong miền chức năng bởi vì nó phụ thuộc trực tiếp vào sự có mặtcủa các từ hạn định và lượng từ trên danh ngữ Tuy nhiên, xét về giá trị thể thì thuộctính tăng tiến/không tăng tiến [+/- ADD TO] lại giống thuộc tính định lượng/lũytích [+/- SQA]: nếu không có sự tồn tại của nó trong vị từ thì sự tình xảy ra mang

Trang 29

giá trị thể vô đích Để sự tình mang giá trị hữu đích thì các tham tố cấu trúc phảimang thuộc tính định lượng [+SQA] và vị từ phải mang thuộc tính tăng tiến [+ADDTO] Verkuyl gọi đây là nguyên lý tăng tiến được minh họa trong (9):

(9) a John ate a sandwich

[+SQA] [+ADD TO] [+SQA] [Hữu đích]

(John ăn một cái bánh xăng- đuých)

b John ate sandwiches

[+SQA] [+ADD TO] [–SQA] [Vô đích]

(John ăn bánh xăng- đuých)

c Nobody ate a sandwich

[–SQA] [+ADD TO] [+SQA] [Vô đích]

(Không ai ăn cái bánh xăng- đuých đó)

d John disliked a sandwich

[+SQA] [–ADD TO] [+SQA] [Vô đích]

(John không thích cái bánh xăng- đuých đó)

e John disliked sandwiches

[+SQA] [–ADD TO] [–SQA] [Vô đích]

(John không thích bánh xăng- đuých)Thật vậy, cả hai thuộc tính này đều có liên quan đến tính định lượng Tuy nhiênkhông thể xác định được ý nghĩa sự tình có thuộc tính tăng tiến [+ADD TO] màkhông có ít nhất hai thời điểm Không có vị từ mô tả thuộc tính tăng tiến nào nếugiá trị của thuộc tính này không được đánh giá tại hai điểm khác nhau trongkhoảng thời gian xảy ra sự tình Các sự tình mang thuộc tính [-ADD TO] thường

là các trạng thái có thể được chấp nhận xem xét trong một thời điểm

Verkuyl (1993) đã trình bày rõ hơn về mối quan hệ giữa thuộc tính tăngtiến [+ADD TO] và định lượng [+SQA] Ông đã phân tích một hệ thống cấu trúc

và đưa ra kết luận về ba loại sự tình: (1) Trạng thái không mang thuộc tính tăngtiến ([-ADD TO]); (2) Quá trình mang thuộc tính tăng tiến nhưng hai tham tố cấu

Trang 30

trúc không mang thuộc tính định lượng ([+ADD TO], [-SQA]) tương ứng với sựtình hoạt động của Vendler; (3) Sự tình mang thuộc tính tăng tiến và định lượng([+ADD TO], [+SQA]) tương ứng với sự tình đoạn tính hữu đích và sự tình điểmtính hữu đích của Vendler.

Tóm lại, Verkuyl cho rằng sự tình không phải là thuộc tính của một đơn vịriêng biệt nào đó mà nó được thiết lập dựa trên sự kết hợp giữa cú pháp và ngữnghĩa bao gồm nhiều thành phần khác nhau tương ứng với nhiều thuộc tính khácnhau của vị từ và các tham tố của vị từ Ông đưa ra một hệ thống tương đối đơngiản bao gồm hai thuộc tính ([+/–SQA] và [+ADD TO]), tạo nên ba loại thể khácnhau của sự tình: trạng thái, diễn tiến và sự tình Ông cũng giới thiệu rõ về kháiniệm phóng chiếu giữa sự tình/tiểu sự tình và thuộc tính định lượng của các tham tố

Cấu trúc (9a) John ate a sandwich chứng minh quan điểm của Verkuyl về

cấu tạo thể đối với các tham tố tương ứng của nó Các tham tố cấu trúc của vị từlàm nên giá trị thể của vị ngữ Đối với các ngoại vị từ (ate) mang thuộc tính tăngtiến ([+ADD TO]) làm nên ý nghĩa sự tình vì tân ngữ trực tiếp (a sandwich)[+SQA] và chủ ngữ (John) [+SQA] chưa đủ để làm nên thuộc tính hữu đích cho

sự tình Nhờ vậy câu này mang giá trị thể hữu đích do có vị từ mang thuộc tínhtăng tiến và hai tham tố cấu trúc mang định lượng

Tuy nhiên, Verkuyl giải thích các ngoại vị từ mang thuộc tính tăng tiến[+ADD TO] và sự tình vô đích khi cả hai tham tố cấu trúc đều mang thuộc tính

định lượng [+SQA] trong (10) ở bên dưới với vị từ to move/di chuyển và các vị từ tương tự như to push/đẩy hay to drive/ lái xe, hoặc các vị từ khác như to heat/đun

nóng, to gobble/nuốt lấy nuốt để hay to analyze/phân tích Theo lý thuyết của

Verkuyl thì câu (10) mang thuộc tính hữu đích bởi vì có vị từ tăng tiến moved và danh ngữ định lượng the cart, tuy nhiên do không có vai nghĩa Đích xác định kết điểm cho sự tình và có trạng ngữ chỉ thời gian không giới hạn for three hours nên

sự tình mang thuộc tính vô đích- không giới hạn Vì thế, Verkuyl cho rằng vainghĩa Đích cũng góp phần quan trọng vào vấn đề xác định giá trị thể của sự tình

Trang 31

(10) John moved the cart for three hours/?in three hours.

(John di chuyển chiếc xe kéo đó ba tiếng/ mất ba tiếng)

Tóm lại, Verkuyl (1972,1993) đã giải thích mối liên hệ giữa giá trị thể của

sự tình và các thuộc tính nhất định của các tham tố cấu trúc Ông đưa ra mô hìnhcấu tạo sự tình trong đó các sự tình được tạo nên từ những vị ngữ được giới thiệubởi vị từ và một số các tham tố danh ngữ Verkuyl đã định nghĩa hai thuộc tính:thuộc tính tăng tiến/không tăng tiến ([+/-ADD TO]) được giới thiệu bởi vị từ vàthuộc tính định lượng ([+/- SQA]) được giới thiệu bởi mỗi một cụm từ danh lượng

có vai trò như tham tố cấu trúc Để sự tình hữu đích (terminative) phải có một vị

từ tăng tiến ([+ADD TO]) và tất cả các tham tố cấu trúc của nó phải định lượng([+ SQA]) và ngược lại thì sự tình đó mang ý nghĩa vô đích như được minh họatrong ví dụ (9a)

Verkuyl quan sát thấy có một lớp các loại sự tình được cấu tạo từ các vị từ

động như move hay push có ý nghĩa không giới hạn dù tất cả các tham tố cấu trúc

của chúng là định lượng [+ SQA] Verkuyl đã giải thích rằng nếu xuất hiện tham

tố Đích hay một tiểu từ thì sự tình sẽ mang ý nghĩa hữu đích và Verkuyl đã chứngminh điều này khi thêm tham tố cấu trúc là tiểu từ hay giới ngữ chỉ hướng bắt đầu

với to Mặc dù lý thuyết của Verkuyl chỉ dừng lại ở việc xác định giá trị thể ở cấp

độ vị từ nhưng cách phân tích của ông cho thấy giá trị thể có thể được xét ở cấp độcao hơn đó là ngữ đoạn hoặc câu

1.3.2 Lý thuyết của Krifka (1992,1998)

Theo một vài nghiên cứu trước đây về ý nghĩa sự tình (Hinrichs (1985)),(Krifka 1989, 1991), Krifka (1992, 1998) cũng cho rằng ảnh hưởng của thể vị

từ lên việc phân tích các tham tố danh ngữ phụ thuộc vào cấu trúc ngữ nghĩa của

vị ngữ Krifka lấy quan điểm thời gian Aristotle và định nghĩa sự tình thông quacác khoảng thời gian và các thuộc tính của chúng mà không cần viện đến các thờiđiểm như Verkuyl Krifka đã sử dụng quan hệ bộ phận- tổng thể bao gồm khoảng

Trang 32

thời gian phân nhỏ (subinterval) mà có thuộc tính giúp xác định được sự tình hữuđích hay vô đích Krifka (1992,1998) giải thích thuộc tính hữu đích xung quanh haihiện tượng: một là khả năng phóng chiếu phù ứng với thuộc tính tăng tiến/khôngtăng tiến [+/-ADD TO] của Verkuyl và hai là các thuộc tính của sự tình và các tham

tố tương ứng được phóng chiếu với thuộc tính định lượng/lũy tích [+/-SQA] và tínhhữu đích Các thuộc tính được phóng chiếu liên quan đến mối quan hệ tổng thể- bộphận của một vật định danh đối với vị ngữ mô tả nó Krifka gọi các thuộc tính này

là các loại tham chiếu, và xác định hai loại đó đều thích hợp cho cấu trúc thể của sựtình Thuật ngữ mà Krifka sử dụng cho hai loại này là tham chiếu lũy tích và thamchiếu định lượng được định nghĩa như trong (11) (dẫn từ lời dịch Anh- Việt củaTiến sĩ Nguyễn Hoàng Trung (Luận án Tiến sĩ ngữ văn (2006)):

(11) a Tính lũy tích: P.CUM(P)  [x, yP(x)Λ P(y)  P(xy)]Một vị ngữ P được gọi là vị ngữ lũy tích nếu và chỉ nếu chỉ ít nhất hai thựcthể khu biệt nhau, và bất cứ thực thể x và thực thể y nào thuộc P thì tổng củachúng x+ y cũng thuộc P (Krifka (1998), tr.200)

Xem câu John drink beer, trong đó P = beer, bất kỳ tập hợp các bộ phận nào là bia thì đều là bia, nên vị ngữ drink beer là vị ngữ lũy tích.

b Tính định lượng: P.QUA(P)  [x, yP(x)Λ P(y)  P(xy)]Một vị ngữ P được gọi là vị ngữ định lượng (quantized predicate) nếu vàchỉ nếu không thực thể P nào có thể là bộ phận của một thực thể khác cũng là P(Krifka (1998), tr.200)

Xem câu Mary drank a glass of beer, trong đó P = drank a glass of beer,

khi John uống hết ly bia này không thể nói John uống một ly bia khác thuộc ly bia

này do đó vị ngữ drank a glass of beer là vị ngữ định lượng.

Cũng như thuộc tính [+/- SQA] của Verkuyl (1972), các loại tham chiếuthích hợp với ý nghĩa của các lượng từ và hạn định từ Danh ngữ số nhiều vàkhông đếm được luôn luôn tương ứng với vị ngữ lũy tích còn các cụm định lượng

Trang 33

từ như các danh ngữ hạn định và xác định thích hợp với vị ngữ định lượng Với ví

dụ Mary drank a glass of beer/Mary đã uống một ly bia, Krifka lý giải như sau:

khi chúng ta uống một ly bia thì lượng bia trong ly giảm dần theo diễn tiến của sựviệc “uống” Sự biến đổi bậc lượng của lượng bia trong ly giúp chúng ta kiểm soát

được sự tình uống Danh ngữ a glass of beer là danh ngữ định lượng nhờ vào đơn

vị đo là a glass of nên vị ngữ drank a glass of beer cũng là vị ngữ định lượng và

vô đích Loại tham chiếu sự tình này thích hợp với loại tham chiếu của các tham tố

sự tình được phóng chiếu tạo thành phần nghĩa của các vai nghĩa thường được quycho các tân ngữ trực tiếp Các vai nghĩa có thuộc tính này được phóng chiếu giữaloại tham chiếu sự tình của các tham tố danh lượng và loại tham chiếu sự tình củacác tham tố sự tình

Ngoài ra, Krifka cũng đề cập đến các vai Đích (Goal) và Nguồn (Source)được xác định dựa vào Con Đường (Path) của sự tình và chúng được xem như cóchung cấu trúc như Con Đường Theo quan điểm của Krifka, chỉ có một số vị từphóng chiếu Con Đường Ông liên hệ thuộc tính này với yếu tố chuyển động cótrong vật biểu thị Các vị từ chuyển động không phóng chiếu Đối tượng bị tácđộng (Undergoer) mà phóng chiếu Nguồn và Đích, có Nguồn và Đích sẽ làm cho

sự tình trở nên hữu đích Xét ví dụ (12):

(12) a Mary walked to school

(Mary đi bộ đến trường)

b Mary walked in school

Trang 34

(Mary đi bộ ở trường)

c Mary walked from Dongnai to Ho Chi Minh City

(Mary đi bộ từ Đồng Nai đến Thành phố Hồ Chí Minh)Trong (12a), sự tình đi bộ mang thuộc tính hữu đích vì có vai nghĩa Đích,(12b) sự tình vô đích với vai nghĩa Địa điểm (Location), (12c) sự tình hữu đíchvới vai nghĩa Con Đường (Path) cho thấy nguồn và đích

Nhìn chung, lý thuyết của Krifka được xây dựng dựa trên cơ sở tính lũytích và định lượng của vị ngữ và các tham tố vị từ Vị ngữ lũy tích quy định ýnghĩa thể vô đích và vị ngữ định lượng quy định giá trị thể hữu đích

1.3.3 Lý thuyết của Ramchard (2002)

Gillian Ramchard đã giới thiệu mô hình phân tích cú pháp của sự tìnhxoay quanh hai vấn đề quan trọng Một là, trực giác Aristotele trước đây xem sự

tình xuất hiện khi kết hợp hai thành phần: quá trình và kết quả Thứ hai là vấn đề

hai lớp sự tình được quan sát về vai trò của đối tượng bị tác động (Undergoer).Trong hai lớp sự tình thì một lớp có một thuộc tính nhất định nào đó của đốitượng bị tác động ([+/- SQA], loại tham chiếu, định lượng) quyết định giá trị thểcủa sự tình còn lớp kia thì không có như vậy Phương pháp tiếp cận củaRamchard gợi nhớ đến lý thuyết của Borer (2005b): bà cố gắng không phân tích

về mặt ngữ nghĩa của vấn đề mà chỉ xem vấn đề dưới góc độ cú pháp, tuy nhiên

bà không phủ nhận vai trò của ngữ nghĩa từ vựng có thể cung cấp các thông số

về các thuộc tính giới hạn và mở rộng đơn vị ngữ nghĩa

Bà quy định cấu trúc bản thể cho các ý nghĩa sự tình phản ánh sự phântích cú pháp và ngữ nghĩa như trong (13) ở bên dưới Bản thể bao gồm sự tìnhkhởi đầu, tiểu sự tình quá trình và tiểu sự tình kết quả luôn luôn kết hợp với nhautheo trình tự đã quy định Mỗi sự tình được quyết định bởi các thuộc tính củachính nó (mang ý nghĩa khởi đầu, quá trình và kết quả) được trình bày trongnhững thành tố chính của các cụm từ tương đương Ba cụm từ nhận biết ba yếu

Trang 35

tố của bản thể được đánh dấu thể bởi vì chúng tạo nên cấu trúc thể của sự tình.Chúng cũng có thể được gọi là các cụm từ tham tố bởi vì mỗi yếu tố có khả năngtạo ra tham tố cấu trúc cho vị ngữ

(13) Mô hình phân tích cú pháp của sự tình

(14) Phân đoạn sự tình

Một sự tình được tạo ra từ ít nhất ba yếu tố luôn luôn xuất hiện theo mộttrật từ cố định Những yếu tố này được gọi là tiểu sự tình và chúng được chiathành ba loại: tiểu sự tình khởi đầu (initiating subevent) hay còn gọi là Tác nhân(Initiator), tiểu sự tình diễn tiến (process subevent) hay còn gọi là đối tượng chịutác động (Undergoer) và tiểu sự tình kết quả (result subevent) hay còn gọi là kếtquả Mỗi tiểu sự tình có thể có chủ ngữ và một vị ngữ và trong khi mỗi một chủ

vP- AsppP (Mô hình cấu tạo thể)

Trang 36

ngữ có thể làm tham tố cấu trúc riêng biệt thì mỗi một vị ngữ kết hợp chặt chẽthành đơn vị mang ý nghĩa từ vựng

Mô hình trong (13) và (14) cho thấy cấu trúc toàn diện nhất khi cấu tạo sựtình Khi được nhận biết một cách đầy đủ thì nó tương ứng với sự tình hữu đích.Khi cấu tạo vị ngữ thì một vài phần trong cấu trúc bị loại bỏ, trong trường hợp nàynhững loại khác của cấu trúc tham tố được tạo thành, sự tình có thể hữu đích hay vôđích Ramchard gọi ba yếu tố này trong mô hình là tiểu sự tình nên sẽ không nhầmlẫn với khái niệm định lượng- lũy tích của Krifka Hơn nữa, những tiểu sự tình củaRamchard tạo nên nhiều phân đoạn của một sự tình và xác định yếu tố ngữ nghĩa

mà chúng đóng góp cho sự tình đó để quyết định tham tố cấu trúc mà chúng tạo ra,được gọi là chủ thể của tiểu sự tình Chủ thể của sự tình khởi đầu là Tác nhân(Initiator), chủ thể của tiểu sự tình quá trình là đối tượng chịu tác động (Undergoer),chủ thể của tiểu sự tình kết quả là kết quả (Resultee) Do đó Ramchard có chủ thểkhởi đầu, chủ thể bị thay đổi và chủ thể kết quả Ba tham tố này được tạo ra ở các

vị trí nhất định trong các cụm tiểu sự tình tương ứng trong (13)

Vấn đề quan trọng ở đây là Ramchard chỉ đưa ra cấu trúc cho các sự tìnhđộng Trong lý thuyết của bà, sự tình tĩnh nói chung tạo thành một loại khác, tức

là một đơn vị phức tạp ở cấp thấp hơn Khi sự tình có đầy đủ cả ba tham tố thể(khởi điểm, quá trình, kết điểm) thì cấu trúc luôn luôn tương ứng với sự tình hữuđích bởi vì cấu trúc được xây dựng trên nền tảng quan sát có sự xuất hiện đồngthời của quá trình và kết quả trong cùng một sự tình sẽ dẫn đến hữu đích Do đó,các sự tình vô đích sẽ xuất hiện trong cấu trúc không có hai yếu tố này So sánhvới cấu trúc của âm tiết, Ramchard đưa ra một nguyên tắc rằng không thể loại bỏyếu tố quá trình cũng giống như hạt nhân của âm tiết phải luôn được giữ lại đểtồn tại âm tiết Bà đưa ra hai tiểu sự tình khác như sự tình trạng thái liên quanđến quá trình, một tiểu sự tình khởi đầu quá trình và một tiểu sự tình khác kếtthúc quá trình Do đó, chính tiểu sự tình quá trình giới thiệu loại mới vào hệthống mà phân biệt sự tình không tĩnh và sự tình tĩnh Với hai sự tình tĩnh tương

Trang 37

ứng sẽ tạo nên một cấu trúc lớn hơn Nếu không có tiểu sự tình quá trình thì tất

cả các sự tình đều là sự tình tĩnh đơn lẻ Bởi vì luôn bắt buộc phải có tiểu sự tìnhquá trình nên cách duy nhất để tạo nên vị ngữ vô đích trong cấu trúc (13) ở trên

là loại bỏ tiểu sự tình kết quả Điều này được thể hiện trong (15):

(15) Cấu trúc sự tình động vô đích

Mặc dù vô đích và không có kết quả nhưng cấu trúc này có thể là của vị từchuyển tác và vị từ phi chuyển tác Là vị từ chuyển tác khi có đối tượng bị tácđộng và ngược lại vị từ phi chuyển tác khi không có đối tượng bị tác động Cấutrúc này giống như sự phân loại thể của sự tình hoạt động của Vendler (1967)

Do đó ví dụ trong (16a) cho thấy một sự tình tương ứng dùng để giải thích cho

cấu trúc (15) Tiểu sự tình kết quả bị loại bỏ và the cart/xe ngựa chỉ là chủ thể

của quá trình nên sự tình này vô đích Tuy nhiên, trong (16b) do có đích đạt đến

rõ ràng hay trong (16c) dựa vào ngữ cảnh mà sự tình trở nên hữu đích Nguyênnhân để sự tình vô đích hay hữu đích là do sự có mặt của cái đích đạt đến

(16) a John pushed the cart for ten minutes/?in ten minutes

(John đẩy chiếc xe ngựa 10 phút/?mất 10 phút)

b John pushed the cart to the shop in ten minutes/*for ten minutes

(John đẩy chiếc xe ngựa đến cửa hiệu mất 10 phút /?10 phút)

vP- AsppP (Mô hình cấu tạo thể)

Trang 38

c John pushed the button in ten minutes/*for ten minutes

(John ấn nút mất 10 phút/*10 phút rồi)Ramchard nhận biết sự tình mô tả sự thay đổi trạng thái hay địa điểmnhưng không có giá trị cuối cùng nào mà chỉ có duy nhất một tham tố, nhưđược minh họa trong (17a) Dưới điều kiện tự do về nội dung sự tình, các câunhư (17b) có thể trình bày sự tình chứa tiểu sự tình quá trình nhưng không có cáctham tố cấu trúc tác nhân và kết quả

(17) a The stone rolled (downwards) for seven minutes/?in seven minutes

(Hòn đá đã lăn (xuống dưới) trong 7 phút/?7 phút rồi)

b It rained for seven minutes/?in seven minutes

(Trời đã mưa trong 7 phút/? 7 phút rồi)

c The vase broke in a second/?for a second

(Bình hoa đã vỡ 1 giây rồi/?trong một giây)

Trong (18) cấu trúc sự tình loại bỏ tiểu sự tình khởi đầu tạo nên sự tình không đốicách, hữu đích

(18) Cấu trúc sự tình không đối cách, hữu đíchAsp

pP (Mô hình cấu tạo thể)

Trang 39

Nhìn chung, mô hình của Ramchard giải thích vấn đề về đối tượng chịu tácđộng (the vase) không được phóng chiếu lên loại tham chiếu của sự tình theo cáchđơn giản hơn hướng tiếp cận của Verkuyl (1972) và Krifka (1998)

Về vấn đề tương tác giữa các tham tố và sự tình, Ramchard cho rằngtheo Jackendoff (1996), Hay (1999) và những nhà ngữ học khác, chỉ có thuộctính của tham tố trải qua sự thay đổi còn bản thân tham tố thì không Bà quansát thấy ở những sự tình mà tham tố bị ảnh hưởng bởi quá trình thì cấu trúc đóhữu đích Nếu một trạng thái nào đó của tham tố trãi qua sự thay đổi bao gồm

cả thay đổi về vị trí thì giá trị kết quả của trạng thái này cần phải được xácđịnh để mang ý nghĩa hữu đích

Đối với Verkuyl (1972) và Krifka (1992, 1998), thuộc tính định lượng[+SQA] của bổ ngữ trực tiếp tương ứng với thuộc tính hữu đích của sự tình chỉtrong trường hợp khi có một khía cạnh vật chất của bổ ngữ trực tiếp bị ảnh

hưởng, ví dụ như John ate an apple, một khía cạnh vật chất của bổ ngữ trực tiếp

là an apple bị ảnh hưởng do sự tình cắn từng miếng táo Trong những trường

hợp khác, thuộc tính sẽ là thuộc tính định lượng [+SQA] khi có sự thay đổi xảy

ra trong sự tình.Theo Ramchard, các vị từ hữu đích như to kill/giết mô tả sự tình

có kết điểm và bị thay đổi Killing nghĩa là giết thì phải làm cho ai đó chết.

Ramchard cho rằng vị từ mô tả trạng thái cuối cùng của sự tình tức là vị ngữ của

nó có tiểu sự tình kết quả Sự đối lập giữa các vị từ thuộc các vị ngữ kết quả liênquan đến bản chất vô hướng của các vị ngữ đó Để trở thành vô đích, vị ngữ vô

hướng straightened the rope như trong (19a) chỉ cần ngữ cảnh thông báo hướng

Trang 40

đi bị thay đổi Tuy nhiên, không phải tất cả đều có thể áp dụng cho các vị ngữ có

hướng như sự tình giết trong (19b).

(19) a John straightened the rope in an hour/?for an hour

(John kéo thẳng dây thừng mất một giờ/?một giờ)

b John killed Mary in an hour/*for an hour

(John giết Mary mất một giờ/*một giờ)

Ramchard đã giới thiệu ngắn gọn mối quan hệ giữa tính định lượng vàphóng chiếu bộ phận- tổng thể giữa các tham tố và sự tình Ramchard cho rằngloại phóng chiếu liên quan đến danh ngữ số nhiều và định lượng là kết quả của ýnghĩa phân xuất sự tình theo từng tham tố Trong (20a) cho thấy sự phân xuất sựtình dựa vào bánh xăng- đuých, có một số lượng không xác định sandwiches, và

sự tình John ăn chiếc bánh xăng-đuých này mang giá trị vô đích Trong (20b- c),

có một số lượng bánh xăng- đuých xác định three sandwiches và somesandwiches và sự tình John đã ăn những chiếc bánh này mang giá trị hữu đích

Do đó, những kết quả của tính định lượng phải được giải thích về mặt lýthuyết định lượng chứ không bằng bất kỳ công cụ đặc biệt nào như phóngchiếu (mapping) hay quy đinh thuộc tính (range assignment)

(20) a John ate sandwiches for an hour/*in an hour

(John ăn xăng- đuých một giờ/*mất một giờ)

b John ate three sandwiches in an hour/?for an hour

(John ăn ba cái xăng-đuých mất một giờ/*một giờ)

c John ate some sandwiches in an hour/?for an hour

(John ăn một vài cái xăng-đuých mất một giờ/*một giờ)

Tóm lại, mô hình của Ramchard là mô hình tốt nhất trình bày vấn đề ởgóc độ giao thoa giữa cú pháp và ngữ nghĩa Lý thuyết này sử dụng các nguyêntắc cú pháp để giải thích hiện tượng liên quan đến cú pháp đồng thời sử dụng môhình cấu trúc ngữ nghĩa để giải thích các vấn đề ngữ nghĩa Ramchard chỉ xem

Ngày đăng: 31/07/2015, 09:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thiện Giáp, 2005, Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Cao Xuân Hạo, 1998, Tiếng Việt- Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa, NXB Giáo dục, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt- Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp và ngữnghĩa
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Cao Xuân Hạo, 1998, Về ý nghĩa “Thì” và “Thể” trong tiếng Việt, Ngôn ngữ (5), 1- 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thì” và “Thể
4. Cao Xuân Hạo, 1991, Tiếng Việt, sơ khảo ngữ pháp chức năng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt, sơ khảo ngữ pháp chức năng
Nhà XB: NXBKhoa học xã hội
5. Nguyễn Ngọc Thanh, 2001, Phạm trù thời gian trong tiếng Việt, Luận án tiễn sĩ ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm trù thời gian trong tiếng Việt
7. Nguyễn Hoàng Trung, 2006, Thể trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Pháp và Anh), Luận án tiến sĩ ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể trong tiếng Việt (so sánh với tiếngPháp và Anh)
8. Nguyễn Hoàng Trung, 2002, So sánh thể hoàn thành trong tiếng Việt và tiếng Pháp, Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh thể hoàn thành trong tiếng Việt vàtiếng Pháp
9. Nguyễn Hoàng Trung, 2004, Cách diễn đạt thể hoàn thành trong tiếng Việt và ứng dụng trong việc dạy tiếng Việt, Kỷ yếu hội thảo khoa học“Tiếng Việt và phương pháp dạy tiếng”, 365- 385, NXB ĐH Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học"“Tiếng Việt và phương pháp dạy tiếng”
Nhà XB: NXB ĐH Quốc Gia
11. Bach, Emmon: 1981, “On time, tense and aspect: An essay in English metaphysics”, in P. Cole (Ed.), Radical Pragmatics, New York, Academic Press %P 63-81, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: On time, tense and aspect: An essay in Englishmetaphysics
12. Bach, Emmon: 1986, “The algebra of events”, Linguistics and Philosophy, 9, 5-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The algebra of events
6. Bùi Khánh Thế, 1984, Cách biểu hiện ý nghĩa thời- thể trong tiếng Chàm, Ngôn ngữ (2) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân loại sự tình - Luận văn thạc sỹ ngôn ngữ học CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA của NGỮ ĐOẠN THAM số xác ĐỊNH GIÁ TRỊ THỂ TIẾNG ANH
Bảng 1 Phân loại sự tình (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w