Hiện tượng nghiên cứu: Quốc gia có nền công nghiệp chậm thì có khả năng thành công ở lĩnh vực môi trường nhờ tiếp nhận những kinh nghiệm, kỹ thuật giảm ô nhiễm môi trường từ những quốc gia đi trước.
Trang 1ĐỀ TÀI
The “advantage of latecomer”
in abating air-pollution: the East Asian experience
Môn: Phương pháp nghiên cứu Khoa học Lớp: K20 – Đêm 1
GVHD: Th.S Nguyễn Hùng Phong SVTH: Nhóm 4
Trần Hoài Cường - Ngn Mai Trúc Đào
Vũ Gia Hòa - Mai Quốc Hòa Đào Thị Bích Loan - Đỗ Hữu Lộc Ngn Thị Giang Thanh - Lâm Việt Toàn Nguyễn Minh Tuấn - Ngn Thị Hồng Vân
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu khoa học là một quá trình đòi hỏi người nghiên cứu phải năm bắt
được các quan điểm, nhận thức, phương pháp và công cụ để thực hiện một đề tài
nghiên cứu khoa học Môn học Phương pháp nghiên cứu khoa học của chương trình
Sau đại học trang bị cho học viên một số kiến thức cơ bản nhất làm nền tảng cho
quá trình này Để vận dụng kiến thức lý thuyết của môn học này, nhóm đã tiến hành
phân tích bài báo khoa học “The “advantage of latecomer” in abating
air-pollution: the East Asian experience”
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, chúng em sẽ trả lởi những câu hỏi sau:
- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Mô hình lý thuyết và mô hình cụ thể của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu mà tác giả đã sử dụng
- Việc tóm tắt lý thuyết liên quan có thích ứng hoặc ủng hộ cho mô hình
nghiên cứu của đề tài hay không
- Cách đặt câu hỏi hoặc giả thuyết nghiên cứu có chặt chẽ hay không
- Dựa vào kết quả xử lý thống kê, giải thích kết quả xử lý thống kê đó
2 Phương pháp thực hiện
Để thực hiện nghiên cứu bài báo này, chúng em đã thực hiện các công việc sau:
- Nghiên cứu tìm hiểu nội dung bài báo
- Thảo luận nội dung bài báo
- Tìm hiểu, tham khảo thêm các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Vận dụng kiến thức lý thuyết đã học để cùng phân tích bài báo
- Trả lời các câu hỏi
Trang 4II PHẦN NỘI DUNG
1: Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Tập trung vào ô nhiễm không khí như là một trong
những vấn đề môi trường có thể cải thiện khi ở mức thu nhập cao hơn
2: Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Tác giả sử dụng đồng thời 3 phương pháp:
1 Nghiên cứu lịch sử (Thu thập số liệu quá khứ để phân tích sự vận động
của hiện tượng nghiên cứu)
Hiện tượng nghiên cứu: Quốc gia có nền công nghiệp chậm thì có khả năng
thành công ở lĩnh vực môi trường nhờ tiếp nhận những kinh nghiệm, kỹ thuật
giảm ô nhiễm môi trường từ những quốc gia đi trước
Số liệu quá khứ để phân tích sự vận động của hiện tượng nghiên cứu:
- Sử dụng phương pháp phân tích bình phương bé nhất (OLS) qua công thức
D1(thể hiện các nước công nghiệp hóa ở thời kỳ giữa bao gồm Nhật, Đài
Loan), chỉ số D2 (thể hiện các nước công nghiệp ở thời kỳ cuối bao gồm
Indonesia, Malaysia, Thái Lan) EM để phân tích mối quan hệ giữa tình
2 Nghiên cứu tương quan: Quan hệ giữa các hiện tượng
nghiệp hóa muộn so với đất nước công nghiệp hóa sớm (Nhật Bản)
được giảm thiểu tại đất nước công nghiệp hóa muộn
Trang 5Lý do:
Đất nước công nghiệp hóa muộn được nước công nghiệp hóa sớm chuyển
giao công nghệ
Một mặt, công nghệ tạo ra quy mô công nghiệp và tăng lượng khí thải
Mặt khác, công nghệ giảm khí thải cũng được chuyển giao cho nước công
nghiệp hóa muộn
3 Nghiên cứu thực nghiệm: Thiết kế hai nhóm để so sánh quan hệ nhân
quả
Hai nhóm đối tượng:
Các nước công nghiệp hóa ở thời kỳ giữa (Hàn Quốc, Philippines, Sing) và
các nước công nghiệp hóa muộn (Indonesia, Malaysia, Thái Lan)
Quan hệ nhân quả: quan hệ giữa thời gian công nghiệp hóa và tình trạng ô
với nước công nghiệp hóa sớm (Nhật Bản)
công nghiệp hóa sớm (Nhật Bản)
Trang 63: Xây dựng mô hình lý thuyết và mô hình nghiên cứu của đề tài
* Mô hình lý thuyết:
Air pollution (Ô nhiễm không khí)
Environmental management (Sự quản lý môi trường)
“Advantage of late comer”
(Lợi thế của người đi sau)
Trang 7* Mô hình thực tế:
Air pollution
(Ô nhiễm không khí)
Environmental management
(Sự quản lý môi trường)
“Advantage of late comer”
(L i th c a ng i đi sau)
EKC and Air pollution
Kinh nghiệm của Nhật Bản:
- Khởi xướng của chính quyền
- Qui chế và chính sách kiểm soát môi trường
- Khía cạnh kỹ thuật trong xử
lý vấn đề môi trường
Kinh nghiệm của các nước Đông Á:
- Các phản ứng về chính trị
- Công suất năng lượng
- Kỹ thuật xử lý sunfua
- Các tiêu chuẩn khí thải cho nguồn di động (ô tô)
- Sự chuyển giao công nghệ
- Xuất khẩu ô nhiễm
Phân tích OSL cho khí
EM cho 9 quốc gia Đông
Á
So sánh nồng độ khí quyển
(nhằm xác định mức độ ô nhiễm không khí trong mối tương quan với thu nhập GDP trên đầu người)
Giữa các quốc gia Đông Á và Nhật Bản
Giữa Nhật Bản và các nước phát triển
(Tây Âu) Nhật Bản
Trang 84: Việc tóm lược các lý thuyết liên quan có thích ứng hay ủng hộ mô hình
nghiên cứu đó hay không
Qua bài báo nghiên cứu, ta thấy việc tóm lược các lý thuyết liên quan thích
ứng với mô hình nghiên cứu nhưng nó vẫn còn một số hạn chế trong phân tích các
lý thuyết đó (định tính và định lượng) của tác giả qua một số điểm sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu chỉ dựa trên phương pháp phân tích cross-sectional
analysis do hạn chế về dữ liệu chuỗi thời gian Khi giới hạn như vậy là không tránh
khỏi, chúng ta cũng nên biết rằng ngoài mức thu nhập thì các yếu tố khác cũng có
hiệu ứng khác nhau ở các quốc gia khác nhau
- Thứ hai, chúng ta biết rằng thực tế là các dữ liệu thường thay đổi đáng kể
Jakarta vào năm 1996 như sau: trung bình hàng tháng thấp nhất (0,002ppm) vào
tháng 1 và trung bình cao nhất (0,008ppm – gấp 4 lần so với con số thấp nhất) vào
tháng 8 và tháng 9; nồng độ NOx trong cùng 1 năm cho thấy con số thấp nhất
(0,005ppm) vào tháng 1 và con số này cao nhất (0,009ppm – gấp khoảng 19 lần so
với con số thấp nhất) vào tháng 7
Ngoài ra, các địa điểm khác nhau, cho dù các thành phố lớn, khu vực nông
thôn hay ở các khu công nghiệp vẫn có sự khác biệt về mức độ ô nhiễm không khí,
có thể có khác biệt lớn giữa các thành phố, ngay cả trong cùng một quốc gia Ví dụ
như tùy thuộc vào vị trí địa lý và khoảng cách với khu công nghiệp
Điều này cho thấy số liệu đo đạc được vẫn còn nhiều hạn chế và không thật
sự phản ảnh chính xác ý nghĩa giá trị số liệu thu thập được trong nghiên cứu Vậy
vấn đề đặt ra là liệu tác giả có thể so sánh chính xác tình hình môi trường của một
quốc gia với GDP bình quân đầu người của quốc gia đó? Ví dụ như trong một quốc
Trang 9gia rộng lớn như Trung Quốc thì việc sử dụng số liệu thu thập ở địa phương sẽ thích
hợp hơn
- Thứ ba, với cách phân tích mức độ ô nhiễm không khí bằng cách sử dụng
dữ liệu lượng khí thải hay nồng độ khí quyển của tác giả liệu có đáng tin cậy hơn
khí quyển được quan sát trực tiếp, còn dữ liệu về lượng khí thải được ước tính gián
tiếp từ sự tiêu thụ năng lượng và hàm lượng lưu huỳnh trong mỗi nguồn năng
lượng
Hơn nữa, việc sử dụng dữ liệu nồng độ của tác giả cho chúng ta đặt ra câu
hỏi liệu các vị trí quan sát có thực sự đai diện hay không
- Thứ tư, lượng khí thải gây ô nhiễm không khí nếu có liên quan trực tiếp
đến mức thu nhập thì chúng cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác ngoài thu
nhập chẳng hạn như mật độ của các hoạt động kinh tế cũng như mật độ dân số có
thể làm tăng ô nhiễm không khí nhưng nó cũng có thể có xu hướng thúc đẩy các
biện pháp nhằm giảm bớt ô nhiễm
5: Cách đặt hỏi hay giả thuyết có chặt chẽ hay không
Qua mô hình lý thuyết, ta thấy được giả thuyết mà tác giả đặt ra cho nghiên cứu của
mình khá chặt chẽ như sau:
- Giả thuyết thứ nhất: Vấn đề ô nhiễm không khí ở các quốc gia Đông Á (“late
comer”) như thế nào? Điều này thể hiện trong mối tương quan giữa mức ô nhiễm
không khí và mức thu nhập (mô hình EKC và ô nhiễm không khí)
- Giả thuyết thứ hai: Các minh chứng cho thấy “lợi thế của người đi sau” có hay
không?
Trang 10Tác giả đã chỉ ra hàng loạt các lợi thế mà người đi sau có được trong việc cải thiện
môi trường, cải thiện mức ô nhiễm không khí qua mức thu nhập GDP trên đầu
người ngày càng tốt hơn những nước đi trước
- Giả thuyết thứ ba: Việc quản lý các vấn đề môi trường như thế nào?
Giả thuyết này được làm sáng tỏ qua kinh nghiệm của Nhật Bản và các quốc gia
Đông Á trong các chính sách, qui định và tiêu chuẩn quản lý của Chính phủ cũng
như các khởi xướng trong các vấn đề môi trường của cá tổ chức, cá nhân nhằm cải
thiện môi trường tốt hơn, giảm ô nhiễm không khí khi mức thu nhập GDP đầu
người của các quốc gia càng tăng
Ba giả thuyết này đã được tác giả sử dụng các phương pháp phân tích định tính và
định lượng để giải quyết các vấn đề liên quan nhằm ủng hộ cho các giả thuyết mà
tác giả đã đưa ra bên trên một cách chặt chẽ Điều này có thể thấy được qua việc
xây dựng mô hình cụ thể bên trên
6: Phân tích số liệu thống kê trong bài báo nghiên cứu
Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Indonesia, Malaysia và
Thái Lan qua công thức:
Với EM: đại diện cho mức khí thải/đầu người (tấn) là biến phụ thuộc
EF: hiệu suất năng lượng (GDP/mỗi đơn vị năng lượng tiêu thụ) (USD) là
biến giải thích
Trang 11 IS: tỷ trọng của ngành sản xuất trong GDP của một nước (ngoại trừ Trung
Quốc, nơi IS đại diện cho tỷ trọng của ngành công nghiệp thứ cấp, bao gồm
không chỉ sản xuất mà còn khai thác mỏ, xây dựng, điện, khí đốt và nước)
u: sai số (phần dư)
Ngoài biến IS ra, các biến khác đều lấy logarit
Ngoài ra tác giả còn sử dụng biến giả cho “người đi sau”, nó được xác định
bằng cách lấy chỉ số IS năm 1990 chia cho chỉ số IS năm 1973 Một chỉ số
lớn ở đây cho thấy công nghiệp hóa nhanh chóng giữa năm 1973 và 1990,
thể hiện tình trạng của “người đi sau”
trung bình, cụ thể là Hàn Quốc, Philippines, và Singapore
Indonesia, Malaysia, và Thái Lan
Các nước có chỉ số nhỏ hơn 1, cụ thể là Nhật Bản, Đài Loan và Trung Quốc,
đã có kinh nghiệm giảm tỷ trọng sản xuất Tác giả gọi họ là những người tiền
nhiệm được đại diện bởi các hằng số của phương trình
Trang 12Phân tích kết quả:
Phương trình (a) trong bảng I là kết quả của ước lượng bình phương bé nhất
mà không có các biến giả (dummy) Phương trình (b) và (c) thì bao gồm các
biến giả (dummy): trước đây bao gồm 9 quốc gia nhưng sau này không bao
gồm Trung Quốc Khi thực hiện, phương trình (c) không có bất kỳ sự khác
biệt đáng kể nào so với phương trình (b)
EF được thể hiện giá trị âm tương ứng với lượng khí thải, hay nói cách khác,
hiệu suất năng lượng cao hơn sẽ làm giảm lượng khí thải
Phương trình (a) - (c) cho thấy hiệu suất năng lượng mang dấu trừ, với ý
nghĩa thống kê đầy đủ
Ngoài ra, các hệ số ước tính của cả hai Y tuyến tính và bậc hai cho thấy
những dấu hiệu mong đợi từ các đường cong hình chữ U ngược, với ý nghĩa
thống kê t
Giá trị IS trong phương trình (a) cho thấy dấu cộng với ý nghĩa thống kê t
như mong đợi, điều này cho thấy khi mức công nghiệp hóa cao hơn sẽ làm
tăng lượng khí thải Nhưng phương trình (b) và (c) thể hiện đầy đủ ý nghĩa
thống kê cho IS, cho rằng tỷ trọng sản xuất được thể hiện tốt hơn trong điều
kiện tốc độ công nghiệp hóa, phản ánh trong các biến dummy
trong phương trình (a), (b), (c) cao (gần bằng 1), điều này cho ta biết được tỷ trọng tổng biến thiên của biến phụ thuộc (EM: mức khí
thải/đầu người) có thể giải thích được bởi biến thiên của biến độc lập (EF:
hiệu suất năng lượng (GDP/mỗi đơn vị năng lượng tiêu thụ)) rất cao
một mức độ cao biến động của biến phụ thuộc
cho những “người đến sau trung bình”, mang dấu cộng, cho thấy một xu
hướng phát thải lớn hơn so với người tiền nhiệm Mặt khác, D2 - “những
Trang 13người đến sau nhất”, mang dấu trừ, cho thấy xu hướng giảm đối với lượng
khí thải
Điều này thể hiện rõ lợi thế của người đi sau Tức những nước đi sau có
lượng khí thải giảm so với những người tiền nhiệm