1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỰ KỲ VỌNG CỦA CẤP DƯỚI ĐỐI VỚI LÃNH ĐẠO TRONG BỘ MÁY QUAN LIÊU ĐÃ ĐƯỢC TRONG SẠCH HÓA

16 632 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự kỳ vọng của cấp dưới đối với lãnh đạo trong bộ máy quan liêu đã được trong sạch hóa
Tác giả Nguyễn Thanh Sơn, Ngô Thị Ngọc Sương, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Tiến Thông, Lê Thị Phương Trình, Hà Thị Thu Huệ, Nguyễn Phương Như, Nguyễn Xuân Yên, Nguyễn Thu Trang, Ngô Huỳnh Trang
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Hùng Phong
Trường học Trường Đại học Kinh tế TP. HCM
Chuyên ngành Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Tp Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 421,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tựa đề “Subordinate Expectations of Leadership Within a Cleaned-Up Bureaucracy: A Grounded Theory Study” – Sự kỳ vọng của cấp dưới với lãnh đạo trong bộ máy quan liêu đã được trong sạch hóa - nghiên cứu lý thuyết nền.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

SỰ KỲ VỌNG CỦA CẤP DƯỚI ĐỐI VỚI LÃNH ĐẠO

TRONG BỘ MÁY QUAN LIÊU ĐÃ ĐƯỢC TRONG SẠCH HÓA

NHÓM 13 :

1.Nguyễn Thanh Sơn 6 Hà Thị Thu Huệ

2 Ngô Thị Ngọc Sương 7 Nguyễn Phương Như

3 Phạm Hồng Thái 8 Nguyễn Xuân Yên

4 Nguyễn Tiến Thông 9 Nguyễn Thu Trang

5 Lê Thị Phương Trình 10 Ngô Huỳnh Trang

GV : Th.S NGUYỄN HÙNG PHONG

LỚP: ĐÊM 1 - K20 CAO HỌC

Robert Jones Khoa Kinh doanh và Doanh Nghiệp, Đại học Công nghệ Swinburne, Hawthorn, Australia

George Kriflik Trường Kinh doanh và Phát Triển chuyên nghiệp Đại học Wollongong, Wollongong, Australia

Nghiên cứu Lý thuyết nền

Trang 2

MỤC LỤC

Phần I: Giới thiệu chung 1

1 Tác giả 1

2 Bài báo 2

Phần II : Đề tài nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.2 Phương pháp nghiên cứu 3

2.3 Mô hình nghiên cứu 4

2.3.1 Mô hình lý thuyết 4

2.3.2 Mô hình cụ thể 5

2.4 Thiết lập câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 6

2.5 Tóm lược các lý thuyết có liên quan 9

2.6 Thu thập và xử lý thông tin 10

2.7 Kết luận sơ bộ 11

Phần III : Kết luận 13

Trang 3

Trường ĐH Kinh tế TP HCM

Khoa Sau Đại học

Lớp Đêm 1 - Nhóm 13

BẢNG ĐÁNH GIÁ THAM GIA MÔN PPNC

STT Họ và tên

Đánh giá (từ 0-1)

Công việc đóng góp

1 Ngô Thị Ngọc Sương 1 - Dịch phần "Introduction"

- Thảo luận đề cương và trả lời các câu hỏi

2 Phạm Hồng Thái 1 - Dịch phần "The case"

- Thảo luận đề cương và trả lời các câu hỏi

3 Nguyễn Tiến Thông 1 - Dịch phần "Methodology"

- Thảo luận đề cương và trả lời các câu hỏi

4 Nguyễn Thanh Sơn 1

- Dịch phần "Data collection and analysis "

- Thảo luận đề cương và trả lời các câu hỏi

- Chỉnh sửa bài dịch, bài tổng hợp

- Phụ trách in ấn

5 Lê Thị Phương Trình 1 - Dịch phần "Data collection and analysis " (tt)

- Thảo luận đề cương và trả lời các câu hỏi

6 Hà Thị Thu Huệ

- Phân công nhiệm vụ, Dịch phần "Findings"

- Tổng hợp bài dịch

- Thảo luận đề cương và trả lời các câu hỏi

- Tổng hợp các câu trả lời

7 Nguyễn Phương Như 1 - Dịch phần "Findings" (tt)

- Thảo luận đề cương và trả lời các câu hỏi

8

Nguyễn Xuân Yên 1 - Dịch phần "Leader actioning"

- Thảo luận đề cương và trả lời các câu hỏi

9 Ngô Huỳnh Trang 1 - Dịch phần "Leader actioning" (tt)

- Thảo luận đề cương và trả lời các câu hỏi

10 Nguyễn Thu Trang 1 - Dịch phần "Discussion and conclusion"

- Thảo luận đề cương và trả lời các câu hỏi

Trang 4

PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG

1 Tác giả:

Robert Jones:

 Là một chuyên gia trong lĩnh vực Quản trị nguồn nhân lực,

sự lãnh đạo và thay đổi của tổ chức

 Hiện tại ông đang công tác tại Khoa Kinh doanh và Doanh

nghiệp, Đại học Công nghệ Swinburne, Hawthorn, Australia

 Tốt nghiệp cử nhân kinh tế, ông tiếp tục theo học Thạc sĩ kinh tế tại trường Đại học Luân Đôn, Anh Không dừng ở đó, ông đã xuất sắc để lấy được bằng Tiến sĩ tại trường Đại học Witwatersrand

 Ông đã xuất bản 3 quyển sách và 45 bài báo được chứng nhận trên 30 tạp chí khác nhau bao gồm tạp chí Organization Studies (Nghiên cứu về tổ chức), Public Administration (Quản lý công), Journal of Organisational Change Management (Tạp chí quản trị sự thay đổi của tổ chức), Public Money and Management (Tiền công và việc quản lý), Journal of Small Business Management (Tạp chí quản trị doanh nghiệp nhỏ), Personnel Review (Đánh giá công chức), Management Learning (Quản trị việc đào tạo), Managerial and Decision Economics (Ban quản trị và các quyết định kinh tế), Leadership and Organisation Development Journal (tạp chí sự phát triển của lãnh đạo và tổ chức)

George Karl Kriflik:

 Ông là giảng viên tại trường Kinh doanh và phát triển chuyên

môn, trực thuộc trường đại học Wollongong, Wollongong, Australia,

chuyên về lĩnh vực hành xử trong tổ chức và vấn đề chiến lược

 Nghiên cứu mà ông quan tâm là căn cứ vào việc tiếp cận đến

cách hành xử trong tổ chức thể hiện qua quan điểm của nhân viên, và một

cách tiếp cận khác là nghiên cứu những người giám sát học hỏi được gì từ khả năng của những người lãnh đạo họ

Trang 5

2 Bài báo nghiên cứu

 Tựa đề “Subordinate Expectations of Leadership Within a Cleaned-Up Bureaucracy: A Grounded Theory Study” – Sự kỳ vọng của cấp dưới với lãnh đạo trong

bộ máy quan liêu đã được trong sạch hóa - nghiên cứu lý thuyết nền

 Đây là bài báo thuộc thể loại nghiên cứu ứng dụng, nó được gửi đến tạp chí vào tháng 8/2004, chỉnh sửa vào tháng 12/2004, được chấp nhận tháng 3/2005 và phát hành chính thức trong năm 2006 trên tạp chí “Journal of Organizational Change Management” quyển số 19, số báo thứ 2, từ trang 154 – đến 172 do công ty “Emerald Group Publishing Limited” phát hành

Trang 6

PHẦN II: ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là đưa ra mô hình lý thuyết về qui trình lãnh đạo thông qua việc tìm hiểu những mối quan tâm chính yếu của cấp dưới trong bộ máy quan liêu đã được trong sạch hóa

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Ngày càng nhiều tác giả đã đặt vấn đề về sự vượt trội hơn của phương pháp định lượng trong nghiên cứu sự lãnh đạo và đã có những lời yêu cầu sử dụng nhiều hơn phương pháp định lượng trong lĩnh vực này (Alvesson, năm 1996; Bryman et al, 1996, 1988; Conger, 1998; Parry , 1998) Tuy nhiên, Conger (1998, trang 108) tin rằng

phương pháp định tính rất lý tưởng để giải quyết sự phức tạp như vậy và "nó phải đóng một vai trò trung tâm trong nghiên cứu sự lãnh đạo "

Với mục đích của nghiên cứu được trình bày trong bài báo này không phải là để đưa ra một sự giải thích toàn diện, mà là phát biểu về một lý thuyết của quá trình lãnh đạo

trong một môi trường cụ thể Chính vì mục đích này mà lý thuyết nền chính thống là

phương pháp được lựa chọn để nghiên cứu Lý thuyết nền chính thống rất thích hợp cho việc nghiên cứu các thực thể phức tạp theo một quy trình như sau:

DỮ LIỆU

PHẠM TRÙ (Category) KHÁI NIỆM (Concept)

LÝ THUYẾT (Theory)

MÃ HÓA (Code)

Trang 7

Khi sử dụng phương pháp lý thuyết nền chính thống, việc đầu tiên không phải là đặt giả thiết mà là thu thập dữ liệu bằng nhiều cách khác nhau Từ dữ liệu thu thập được, các điểm trọng yếu sẽ được đánh dấu bằng các “mã” (Code) Các mã này sau đó được nhóm thành các “khái niệm” (concept) Các “phạm trù” (Category) được tạo ra từ những

“khái niệm” này; và các “phạm trù” là cơ sở để xây dựng “lý thuyết” (Theory) – hay còn gọi là giả thiết nghiên cứu ngược (reverse engineering)

2.3 Mô hình nghiên cứu

2.3.1 Mô hình lý thuyết

Thông qua việc thu thập, mã hóa và phân tích dữ liệu, cụ thể là qua 26 cuộc phỏng vấn chính thức cùng với nhiều cuộc phỏng vấn không chính thức (đối thọai thân mật), tác giả đã đưa ra mô hình lý thuyết của bài báo như sau:

Mô hình lý thuyết : Đó chính là mô hình MAD hay mô hình " Tối thiểu hóa sự khác biệt nhận thức" Đây là mẫu hình chuẩn mực về cách cư xử tương tác giữa cấp dưới

và cấp trên của họ, để giải quyết mối quan tâm hàng đầu của của cấp dưới

Trong một bộ máy hoạt động thì "Hành động của cấp dưới" và " Hành động của cấp trên " luôn luôn tương tác qua lại lẫn nhau Từ đó, phát sinh ra nhiều vấn đề mâu thuẫn và sẽ gây ra nhiều hậu quả tiếp theo đó Vì vậy, mô hình MAD nhằm tập trung xử

lý quá trình tương tác này Nhằm mục đích tối thiểu hóa sự khác biệt về nhận thức dẫn

Cốt lõi

Thay thế

Tối thiểu hóa sự khác biệt nhận thức (Minimising attainment difference)

Hành động của cấp dưới Hành động của cấp trên

Trang 8

2.3.2 Mô hình cụ thể

Từ mô hình lý thuyết trên, tác giả xây dựng và phát triển mô hình cụ thể của bài báo như dưới đây Đó là mô hình xử lý của cấp lãnh đạo trong bộ máy quan liêu AGRO - một Tổ chức công ích ở Bang phía Đông nước Úc được sử dụng làm ví dụ điển hình

“Bối cảnh bên ngòai là nhu cầu về dịch vụ công tăng lên “,

“Bối cảnh bên trong công ty Argo là cần phải tập trung hóa; phân bổ lại chính sách; áp dụng qui trình quản lý chất lượng tòan diện… ”,

Bối cảnh bên ngoài:

Nhu cầu về trách nhiệm dịch vụ công tăng lên

Bối cảnh bên trong :

Tập trung hóa Phân bổ chính sách Luật lệ Quản lý chất lượng toàn diện

(TQM)

Văn hóa hợp đồng Bên mua – Bên cung ứng

Mong đợi của

nhân viên cấp

dưới

Thực hiện,

hoặc tiếp cận

bằng tất cả tiềm

năng của mình

Đánh giá của nhân viên cấp dưới về sự tự mâu thuẫn

Thiếu hụt gặp phải (nhận thức

về việc bị “hạn chế”) Quá tải gặp phải (nhận thức về việc bị “quá tải”)

Đạt được sự cân bằng (nhận thức về việc không được “vay mượn”)

Cảm xúc của nhân viên cấp dưới

Thái độ của nhân viên cấp dưới

Chiến lược của nhà lãnh đạo

Bảo vệ nhân viên cấp dưới

1.hỗ trợ nhân viên

2 làm dịu môi trường

Điều kiện của nhà lãnh đạo

Nhận thức Quan tâm Trách nhiệm giải quyết vấn

đề Không

Trang 9

Trên cơ sở mô hình MAD, tác giả tiếp tục tiếp cận phỏng vấn các nhân viên cấp dưới của công ty và nhận thấy rằng nhân viên cấp dưới bị hạn chế về mặt nhận thức và luôn cảm thấy bị “quá tải” Tuy nhiên, các vị lãnh đạo của Argo không nhìn thấy được điều này Và từ đó, tác giả đưa ra chiến lược dành cho các nhà lãnh đạo Argo là: “Chiến lược làm dịu và chiến lược hổ trợ”

Như vậy, mô hình tập trung giới thiệu chiến lược của các vị lãnh đạo, nhằm giảm thiểu sự khác biệt với cấp dưới “Chiến lược hỗ trợ cấp dưới" quan tâm đến việc hỗ trợ

và khích lệ nhân viên nhằm phát triển kiến thức, khả năng, và thái độ của nhân viên cấp dưới " Chiến lược làm dịu " với mục đích làm giảm thiểu sự cản trở của môi trường làm việc đến cấp dưới khi họ bị quá tải và giới hạn Cấp dưới mong đợi lãnh đạo trong việc điều chuyển công việc, tái thiết công việc, xây dựng quy trình làm việc, làm giảm bớt rào cản đối thoại và thiết lập cơ chế làm việc

2.4 Thiết lập câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp lý thuyết nền chính thống, nghĩa là đi từ dữ liệu thu thập được để đưa ra mô hình lý thuyết (giả thiết không được đặt ra tại bước đầu của quá trình nghiên cứu) và cách đặt câu hỏi phỏng vấn cũng thay đổi theo quá trình xây dựng

mô hình lý thuyết (các câu hỏi phỏng vấn đầu tiên mang tính định hình để tìm hướng đi cho đề tài và định hướng để tiếp tục đặt ra các câu hỏi cho các cuộc phỏng vấn sau)

Khi sử dụng phương pháp lý thuyết nền chính thống, việc đầu tiên không phải là đặt giả thiết mà là thu thập dữ liệu bằng nhiều cách khác nhau Từ dữ liệu thu thập được, các điểm trọng yếu sẽ được đánh dấu bằng các “mã” (Code) Các mã này sau đó được nhóm thành các “khái niệm” (concept) Các “phạm trù” (Category) được tạo ra từ những

“khái niệm” này; và các “phạm trù” là cơ sở để xây dựng “lý thuyết” (Theory) – hay còn gọi là giả thiết nghiên cứu ngược (reverse engineering)

Thực tế trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng nghiên cứu dạng nhân chủng

Trang 10

cuộc phỏng vấn và nhiều cuộc trò chuyện không chính thức khác với các nhân viên của AGRO Thông qua 4 cuộc phỏng vấn đầu tiên, tác giả đã ghi được 51 thẻ khái niệm (concept card) và xếp chúng thành 9 phạm trù (category) khác nhau với phạm trù chính là

“Ứng xử của thuộc cấp” với 2 phạm trù con là “ảnh hưởng của nhà lãnh đạo” và “đặc tính của thuộc cấp”

Câu hỏi được đặt ra trong suốt quá trình nghiên cứu lý thuyết nền là “điều gì đang xảy ra?” và “vấn đề của người tham gia là gì? và họ đang tìm cách giải quyết nó như thế nào?” Trong nghiên cứu thực tế của các tác giả, câu hỏi trên đã giúp tìm ra điểm thiếu hụt trong việc xác định các phạm trù đã đặt ra ở trên Sau khi phân tích lại dữ liệu một lần nữa, tác giả đã định hướng lại mối quan tâm của mình thành “mong muốn được làm việc

ở mức toàn dụng tiềm lực của mình hoặc hướng tới làm việc ở mức toàn dụng tiềm lực của mình”

Trong phương pháp nghiên cứu lý thuyết nền, ghi chép ý tưởng là việc ghi lại việc

lý thuyết hóa các ý tưởng Ghi chép ý tưởng là một bước quan trọng trong giai đoạn đầu của việc nghiên cứu lý thuyết nền Ghi chép ý tưởng là công cụ rất quan trọng trong việc sàng lọc và theo dõi các ý tưởng xuất hiện trong quá trình so sánh các sự kiện, so sánh các khái niệm dọc quá trình tiến hóa của lý thuyết Ghi chép ý tưởng là một cách góp nhặt để có một ngân hàng ý tưởng về các khái niệm và mối liên hệ của chúng Việc ghi chép ý tưởng là hoàn toàn tự do, bất kể các quy luật văn viết hay văn phạm Việc ghi chép chỉ giúp ghi thoát ý tưởng chứ không nhằm mục tiêu nào khác Quá trình ghi chép giúp ý tưởng trở nên thực tế hơn do người viết phải chuyển từ những cái trong đầu sang giấy; điều này giúp cho ý tưởng trở nên dễ hiểu hơn Trong phạm vi bài báo nghiên cứu,

việc ghi chép ý tưởng giúp người nghiên cứu dần hình thành ý tưởng về hành vi lãnh đạo

để giúp cấp dưới “ Tối thiểu hóa sự khác biệt trong thành quả” Đây chính là quy trình

lãnh đạo mà tác giả muốn xây dựng

Đa phần các nghiên cứu lý thuyết nền được xem là nghiên cứu về chất vì phương pháp thống kê không được sử dụng, cũng như những con số sẽ không xuất hiện trong

Trang 11

phương pháp này Kết quả của nghiên cứu lý thuyết nền không phải là một báo cáo về các xác suất thống kê có nghĩa mà là một nhóm các phát biểu về mối quan hệ giữa các

“khái niệm”, hoặc một nhóm các giả thiết dạng khái niệm được phát triển từ dữ liệu có trước Cách đặt câu hỏi và giả thiết là chặt chẽ vì lý thuyết đặt ra từ phương pháp lý thuyết nền được đánh giá bởi 4 tiêu chuẩn (Fit, relevance, modifiable, workable)

Tính phù hợp (fit): sự phù hợp của các khái niệm với các sự kiện mà nó đại diện Tính xác đáng (Relevance): Một nghiên cứu xác đáng nhắm tới các mối quan tâm thực tế của người tham gia chứ không chỉ nhắm tới các vấn đề học thuật

Khả năng khai thác (Workability): Lý thuyết đặt ra có thể giải thích hiệu quả cách giải quyết vấn đề trong các điều kiện biến động

Khả năng thay đổi (Modifiability): Khả năng điều chỉnh lý thuyết hoặc thay đổi lý thuyết bằng một lý thuyết mới khi xuất hiện dữ liệu mới

Lý thuyết nền không có đúng sai mà nó chỉ phù hợp nhiều hay ít, có xác đáng, có khả năng khai thác và có khả năng thay đổi nhiều hay ít

Nhóm chúng tôi đánh giá đề tài nghiên cứu dựa trên 4 tiêu chuẩn trên bằng 3 dấu cộng và 1 dấu trừ như sau:

+ Fit: Các khái niệm đưa ra phù hợp với thực tế kỳ vọng của cấp dưới

+ Relevance: Nhắm đến điều cấp dưới cảm nhận trong môi trường quan liêu đã được làm sạch

+ Workable: Giải thích được trạng thái vô vọng, lạc lõng của cấp dưới; cảnh báo cho giới quản lý về mối lo lắng của cấp dưới

- Modifiable: Nghiên cứu giới hạn ở một tổ chức ở một đất nước duy nhất; Giới hạn trong mô hình quan liêu đã được trong sạch hóa

“Tất cả là dữ liệu” là đặc tính căn bản của phương pháp nghiên cứu sử dụng lý thuyết nền Điều này có nghĩa là tất cả mọi thứ mà người nghiên cứu bắt gặp trong quá trình nghiên cứu đều có thể là một phần của dữ liệu bao gồm các ghi chú tại chỗ từ các

Ngày đăng: 13/04/2013, 21:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w