1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích vai trò của khoa học công nghệ đối với công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở việt nam

43 587 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 805 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích vai trò của khoa học công nghệ đối với công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở việt nam

Trang 1

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

KHOA QUỐC TẾ VÀ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

- -BÁO CÁO Phân tích vai trò của Khoa học công nghệ đối với công cuộc đẩy

mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa ở Việt Nam

GVHD: Nguyễn Thị Hồng Vân

Hà Nội 2015

Mục lục

Trang 2

Mục lục i

Lời nói đầu ii

Chương 1: Khoa học công nghệ 2

1.1 Khái niệm Khoa học 2

1.1.1 Khoa học là gì 2

1.1.2 Đối tượng và chức năng của Khoa học 5

1.1.3 Phân loại khoa học 6

1.2 Khái niệm công nghệ 6

1.2.1 Công nghệ là gì 6

1.2.2 Các bộ phận cấu thành của công nghệ 7

1.2.3 Các thuộc tính của công nghệ : 8

Chương 2: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa 11

2.1 Khái niệm CNH-HĐH 11

2.2 Thực trạng quá trình CNH – HDH ở Việt Nam 14

2.2.1 Những thành tựu đã đạt được 14

2.2.2 Một số những hạn chế và nguyên nhân: 15

Chương 3: Vai trò của Khoa học công nghệ đối với công cuộc đẩy mạnh Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở Việt Nam 17

3.1 Vai trò của KHCN đối với sự phát triển kinh tế- xã hội 17

3.2 Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp 18

3.3 Thành tựu nổi bật của KHCN trong quá trình CNH-HĐH 23

Kết luận 28

Phụ lục: Một số thành tựu KHCN trong quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam 29

Tài liệu tham khảo 40

Lời nói đầu

Khoa học-công nghệ luôn đóng vai trò quan trọng trong việc nắm bắt các cơ hội phát triển mới, rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới và làm biến đổi nền sản xuất Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của

Trang 3

đời sống xã hội loài người Tại Việt nam với đặc thù của nhà nước ta đang trong giaiđoạn quá độ tiến lên Xã hội chủ nghĩa mà lại bỏ qua giai đoạn Tư bản chủ nghĩa nênđòi phải thực hiện quá trình Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa., Đảng và Nhà nướccũng đã nhận thức rất rõ vai trò của Khoa học công nghệ đỗi với sự phát triển củađât nước mà cụ thể là trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

Dựa trên các nội dung đó, nhóm chúng tôi đã tổ chức nghiên cứu vai trò củaKHCN đối với công cuộc đẩy mạnh Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở Việt nam.Nghiên cứu của chúng tôi được chia làm 3 phần chính Trong phần đầu sẽ giới thiệu

sơ qua cái nhìn về Khoa học công nghệ Trong phần 2 sẽ điểm lại các đặc điểmchính của Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa Cuối cùng là phần 3, phần này sẽ phântích đanh giá vai trò của KHCN trong việc thúc đẩy quá trình CNH-HĐH tại Việtnam Nghiên cứu cũng sẽ cung cấp một số minh chứng cụ thể về vai trò của KHCNtrong việc thúc đẩy sự phát triển trong một số lĩnh vực kinh tế xã hội cụ thể

Do mới trong giai đoạn tập nghiên cứu và trong phạm vi một môn học nênchưa thực sự có nhiều thời gian cũng như tài liệu, chưa được trang bị đầy đủ cácphương pháp nghiên cứu chuyên sâu, do đó nghiên cứu sẽ không tránh khỏi nhữngthiếu sót Nhóm chúng tôi rất mong nhân được thêm các sự góp ý của các thày côcùng toàn thể các bạn đọc để giúp chúng tôi hoàn thiện nghiên cứu này

NHÓM 4

Trang 4

Chương 1: Khoa học công nghệ

1.1 Khái niệm Khoa học

1.1.1 Khoa học là gì

Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, đa dạng tuỳ theo mục đíchnghiên cứu và cách tiếp cận mà biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau

Khoa học là một hình thái ý thức xã hội:

Toàn bộ cuộc sống của xã hội loài người bao gồm hai lĩnh vực: vật chất (tồn tại xãhội) và tinh thần (ý thức xã hội) Tồn tại xã hội là tất cả những gì đang diễn biếnxung quanh chúng ta Ý thức xã hội là kết quả sự phản ảnh tồn tại xã hội vào bộnão con người; sự phản ảnh này được thực hiện ở nhiều mức độ khác nhau như: ýthức sinh hoạt đời thường, tâm lý, hệ tư tưởng

Khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ảnh hiện thực khách quan, tạo ra hệthống chân lý về thế giới Hệ thống chân lý này được diễn đạt bằng các kháiniệm, phạm trù trừu tượng, những nguyên lý khái quát, những giả thuyết, họcthuyết, Khoa học không những hướng vào việc giải thích thế giới mà còn nhắmđến việc quản lý thế giới bền vững phục vụ cuộc sống của con người

Những luận điểm, các nguyên lý của khoa học là hệ thống chân lý khách quan,chúng có thể được chứng minh bằng các phương pháp khác nhau Chân lý khoahọc chỉ có một, nó được kiểm nghiệm trực tiếp hoặc gián tiếp trong thực tiễn Bêncạnh đó thực tiễn xã hội không chỉ là cơ sở của nhận thức mà ngược lại nó còn lànhân tố kích thích sự phát triển khoa học

Thực tiễn và phát triển khoa học có mối quan hệ:

- Trình độ thực tiễn quyết định chiều hướng phát triển của khoa học:

Hoạt động xã hội và sản xuất gợi lên các yêu cầu mới để khoa học nghiêncứu giải quyết và từ đó làm cho khoa học vận động và phát triển khôngngừng

- Tư tưởng khoa học tiên tiến thường đi trước thời đại: khoa học luôn đi

tiên phong để phát triển tri thức, công nghệ, kỹ thuật và tìm cách ứng dụngchúng trong hoạt động thực tiễn, sản xuất

Điều này cho thấy khoa học có mối quan hệ biện chứng với các hình thái ý thức

xã hội và đồng thời cũng có vị trí độc lập đối với chúng Tất cả hình thái ý thức xãhội đều là đối tượng của nghiên cứu khoa học

Trang 5

Khoa học là hệ thống tri thức gồm những quy luật về tự nhiên xã hội và

tư duy tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn được thể hiệnbằng những khái niệm, phán đoán học thuyết bản chất của khoa học ở góc độnày là hệ thống tri thức mang tính chất quy luật vai trò nhiệm vụ của nó baogồm cả hai chức năng nhận và cải tạo thế giới

Khoa học cũng có thể được xem là một hiện tượng của đời sống xã hội

Nó vừa là những hệ thống tri thức, vừa là sự sản xuất tinh thần, sản xuất ranhững tri thức cũng như hoạt động thực tiễn dựa vào tri thức đó Khoa học là

hệ thống tri thức chân thực về thế giới đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn

Chúng ta có thể xem khoa học là hệ thống hoạt động ta có thể địnhnghĩa sơ lược khoa học là hệ thống những khoa học đặc biệt, những đòi hỏilàm hàm lượng chất xám Chủ thể của oạt động này phải được đào tạo, có nănglực chuyên môn Sãn phẩm của hoạt động này là sản phẩm của khoa học mộtthứ hàng hóa công cộng Đó là lí do giải thích vì sao hoạt động khoa học đượcxếp vào khu vực kinh tế nhà nước

Trình độ phản ánh của khoa học ở giai đoạn nhận thức cảm tính và kinhnghiệm Tri thức khoa học rõ ràng không phải từ trên trời rơi xuống tỉnh dạysau một đêm là có tri thức khoa Tri thức khoa học phải kế thừa hệ thống trithức cũ đã có để đi đến những tri thức mới Khoa học là sự biểu hiện của sựkhôn ngoan của trí tuệ đồng thời là một tài nguồn tài nguyên vô tận cho cuộcsống của con người

Khoa học là một hệ thống tri thức về thế giới khách quan:

Trong quá trình phát triển, nhận thức của con người được thực hiện với nhiều trình

độ, cách thức khác nhau và tạo nên các hệ thống tri thức:

Tri thức thông thường: Trong đời sống, con người tiếp xúc với tự nhiên và

xã hội; bằng các giác quan, tri giác con người cảm nhận về bản thân, về thếgiới và xã hội xung quanh; từ đó thu được kinh nghiệm sống và những hiểubiết nhiều mặt Đó là tri thức thông thường, tri thức này được tạo ra từ phépquy nạp đơn giản; do vậy chưa chỉ ra được bản chất bên trong, chưa pháthiện được quy luật của tự nhiên và xã hội, do đó chưa tạo thành hệ thống trithức vững chắc

Tri thức khoa học: Đây là hệ thống tri thức khái quát về sự vật, hiện tượng

của thế giới và về các quy luật vận động của chúng Đây là hệ thống tri thứcđược xác lập trên căn cứ xác đáng, có thể kiểm tra được và có tính ứng dụng.Tri thức khoa học là kết quả của quá trình nhận thức có mục đích, có kếhoạch, có phương pháp và phương tiện thích hợp và do đội ngũ các nhà khoa

Trang 6

học thực hiện.

Tri thức khoa học và tri thức thông thường tuy khác nhau nhưng có mối quan

hệ mật thiết Tri thức khoa học có thể xuất phát từ gợi ý của những hiểu biếtthông thường để tiến hành những nghiên cứu sâu sắc Tuy nhiên tri thứckhoa học không phải là tri thức thông thường được hệ thống hoá lại

Tri thức bản địa: Trong quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng cao, một dạng

tri thức đang được nói đến là tri thức bản địa Đây là tri thức của cộng đồngdân tộc thiểu số, được hình thành trên cơ sở hoạt động sản xuất và quản lý tàinguyên thiên nhiên, sự thích ứng của đời sống, sản xuất của các cộng đồngvới môi trường thiên nhiên Tri thức này tạo ra các cách ứng xử và giải phápquản lý môi trường sống của các cộng đồng, nó là cơ sở quan trọng để pháttriển công nghệ, giải pháp quản lý mới kết hợp với tri thức khoa học tronggiai đoạn hiện nay và tương lai Rõ ràng nó không phải là tri thức thôngthường và có sự khác biệt một ít với tri thức khoa học Đó là tri thức củangười dân bản địa, cộng đồng, không phải là của nhà khoa học hàn lâm; nógần gũi với kinh nghiệm nhưng có tính hệ thống và có cơ sở thực tiễn vàthường không được viết thành văn Hiện nay tri thức này đang được nhiềuquốc gia trong đó có Việt Nam nghiên cứu, phát hiện, lưu trữ để làm cơ sở

kế thừa trong phát triển kinh tế xã hội và quản lý tài nguyên thiên nhiên vùngcao bền vững dựa vào cộng đồng; đồng thời góp phần bảo tồn và phát triểncác nền văn hoá bản địa của các cộng đồng dân tộc thiểu số

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể tham khảo khái niệm khoa

học: “Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội và tư duy, về những quy luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri thức này được hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội” (Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ), quyển XIX, theo Phạm Viết Vượng (2000)) hoặc: “Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư tưởng tích luỹ trong quá trình lịch sử, có mục đích phát hiện những quy luật khách quan của các hiện tượng và giải thích các hiện tượng đó”

“Khoa học, theo nghĩa rộng, là bất kỳ hệ thống kiến thức với cố gắng mô hình hóa thực tế khách quan bằng cách sử dụng phương pháp luận, thủ thuật để đưa ra dự báo chắc chắn và định lượng cho các sự vật, hiện tượng tương lai Với nghĩa hẹp hơn, khoa học cung cấp một hệ thống kiến thức dựa vào phương pháp khoa học cũng như tổ chức sắp xếp toàn bộ hệ thống kiến thức thu được từ nghiên cứu.

Trang 7

Các lĩnh vực khoa học nói chung thường được phân chia làm hai loại: i) Khoa học tự nhiên nghiên cứu các sự vật hiện tượng bao gồm đời sống sinh vật; ii) Khoa học xã hội nghiên cứu hành vi của con người và xã hội Khái niệm khoa học nói trên đôi khi chỉ là giới hạn trong khoa học thuần túy, thực

tế hơn, là khoa học ứng dụng nhằm nghiên cứu để đáp ứng các nhu cầu của con người” Tham khảo web: http://en.wikipedia.org/wiki/Science

Khoa học bao gồm khoa học thuần túy và khoa học ứng dụng Theođịnh nghĩa chung, khoa học là cơ sở, phương pháp có lý luận, tư duy và chứngminh

Khoa học thuần túy là các môn học bao gồm các phương diện triết

lý, tôn giáo, khoa học, tín ngưỡng, xã hội học, nhân chủng học, chính trị học,luận lý học, đạo đức học, tâm lý học, phân tâm học, thần kinh bệnh học, ngônngữ học, tôn giáo học huyền bí học

Khoa học ứng dụng là khoa học chính xác sử dụng các kiến thứcthuộc một hay nhiều lĩnh vực của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội đểgiải quyết những vấn đề thực tế Nó có liên hệ mật thiết hoặc đồng nhất với

kỹ nghệ Khoa học ứng dụng có thể sử dụng để phát triển công nghệ

Tóm lại Khoa học hiểu một cách chung nhất là hệ thống tri thức củanhân loại về tự nhiên, xã hội và tư duy được con người tích lũy trong lịch sử

1.1.2 Đối tượng và chức năng của Khoa học

Khoa học có đối tượng và chức năng rõ ràng là:

Đối tượng của khoa học:

Là những hình thức tồn tại khách quan khác nhau của vật chất đang vận động

và cả những hình thức phản ánh chúng vào ý thức con người Đối tượngcủa khoa học cụ thể là:

- Thế giới khách quan đang vận động bao gồm tự nhiên và xã hội

- Phương pháp nhận thức thế giới khách quan đó.

Chức năng của khoa học:

Khoa học có các chức năng chính như sau:

- Phát hiện, khám phá bản chất các hiện tượng của thế giới khách quan,

giải thích nguồn gốc phát sinh, phát hiện quy luật vận động và pháttriển của hiện tượng ấy

- Hệ thống hoá các tri thức đã khám phá được tạo thành lý thuyết, học

Trang 8

thuyết khoa học

- Nghiên cứu thử nghiệm, ứng dụng những thành quả sáng tạo khoa học

để phát triển thực tiễn đời sống

Sự phát triển của khoa học dựa vào nhu cầu thực tiễn của cuộc sống và nhậnthức của con người Nhu cầu thực tiễn là cơ sở để phát hiện vấn đề nghiên cứu đồngthời là mục tiêu phải giải quyết của mọi nghiên cứu khoa học

Đồng thời khoa học còn là một hoạt động xã hội đặc biệt, nó có thể đượchiểu như các hoạt động văn hoá, nghệ thuật Tuy nhiên hoạt động khoa học cóđặc thù riêng đó là quá trình phát minh sáng tạo ra tri thức mới cho nhân loại

1.1.3 Phân loại khoa học

Bản chất của phân loại khoa học là sắp xếp các ngành khoa học theo hệthống thứ bậc trên cơ sở những đặc trưng riêng của chúng Việc phân loại giúp cho:

- Phân định rõ từng lĩnh vực khoa học

- Làm căn cứ lựa chọn chiến lược phát triển

- Quy hoạch đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực

- Sắp xếp các cơ quan, tổ chức nghiên cứu khoa học, đào tạo, phát

- Khoa học xã hội và nhân văn

1.2 Khái niệm công nghệ

1.2.1 Công nghệ là gì

Công nghệ có xuất xứ từ hai từ trong tiếng Hy Lạp cổ: “techno” là tàinăng, sự khéo léo, kỹ thuật, nghệ thuật, là từ “logy” là lời lẽ, ngôn từ, cáchdiễn đạt, học thuyết Trước đây, trong giai đoạn đầu Công nghiệp hóa, người tathường dùng khái niệm kỹ thuật trong sản xuất, sau đó khái niệm công nghệxuất hiện với ý nghĩa ban đầu rất hẹp, đơn giản chỉ là tuần tự các giải pháp kỹthuật trong một dây chuyền sản xuất Công nghệ được hiểu theo một nghĩarộng là sự ứng dụng các trí thức khoa học vào giải quyết một nhiệm vụ thực

Trang 9

tiễn Như vậy công nghệ là một sản phẩm do con người tạo ra làm công cụ đểsản xuất ra của cải vật chất Cho tới này định nghĩa về công nghệ chưa toàndiện thống nhất, điều này được lý giải là do số lượng các công nghệ có nhiềuđến mức không thể thống kê được Người sử dụng công nghệ trong những điềukiện và hoàn cảnh khác nhau dẫn đến sự hiểu biết về công nghệ cũng khácnhau như:

Theo UNIDO (United Nation’s Industrial Development organization) tổchức phát triển công nghệ của liên hợp quốc thì: công nghệ là việc áp dụngkhoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý

nó một cách có hệ thống và có phương pháp

Theo ESCAP (Economic and Social Commission for Asia and thePaciíĩc) Uỷ ban kinh tế và xã hội Châu Á Thái Bình Dương thì: công nghệ làmột hệ thống kiến thức về quy trình kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu vàthông tin Sau đó ESCAP mở rộng định nghĩa của mình: Nó bao gồm tất cả các

kỹ năng kiến thức thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất chế tạo, dịch

vụ, quản lý, thông tin

Định nghĩa này được coi là bước ngặt trong lịch sử quan niệm về côngnghệ Định nghĩa này không coi công nghệ phải gắn chặt với quá trình sản xuấtchế tạo ra các sản phẩm cụ thể mà mở rộng khái niệm ra các lĩnh vực mới nhưdịch vụ và quản lý

Cuối cùng một định nghĩa được coi là khái quát nhất về công nghệ:công nghệ là tất cả những cái gì dùng để biến đổi đầu vào thành đầu ra

Công nghệ được phân biệt rõ với khoa học và kỹ thuật.

“Khoa học là lĩnh vực nghiên cứu nhằm đưa ra những tri thức mới về tựnhiên, xã hội và tư duy”, còn “kỹ thuật có thể hiểu là tổng hợp các tư liệu vậtchất như công cụ lao động, năng lượng, vật liệu và phương pháp do con ngườisáng tạo ra và được sử dụng trong quá trình lao động để tạo ra của cải vật chấtcho xã hội” Qua đó, chúng ta có thể thấy công nghệ có cái đồng nhất với kỹthuật, song cái khác nhau cơ bản là kỹ thuật chỉ nặng về phần cứng, còn côngnghệ thì đi sâu vào phần mềm của quy trình Hơn nữa công nghệ còn bao gồm

cả sự năng động trong nhận thức của con người để cải tiến quy trình sản xuất,đặc biệt là khả năng chuyển giao công nghệ (CGCN) trong hoạt động sản xuấtkinh doanh

1.2.2 Các bộ phận cấu thành của công nghệ.

Công nghệ là phương tiện để giải quyết các mục tiêu kinh tế nên thước

Trang 10

đo của hoạt động công nghệ là phần tăng trưởng kinh tế, góp phần vào việcnâng cao năng suất lao động, thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội.

Công nghệ phụ thuộc vào môi trường kinh tế, môi trường xã hội trongthực tế Yêu cầu chất lượng, xu thế phát triển của thị trường, sản phẩm là nhân

tố hạn chế sự lựa chọn Đồng thời lựa chọn công nghệ lại bị ràng buộc bởiquan hệ buôn bán trong nước và quốc tế, do đó vấn đề áp dụng công nghệ vàoquá trình phát triển kinh tế giải quyết một mục tiêu cụ thề là một tập hợp cácvấn đề cần tính toán và đồng bộ

Bất cứ một công nghệ nào, dù công nghệ đơn giản hay công nghệ phứctạp thì cũng đều được cấu thành từ 4 yếu tố cơ bản, bốn thành phần đó tácđộng qua lại lẫn nhau và hợp thành một chính thể khoa học

- Con người - đội ngũ lao động kỹ thuật vận hành điều khiến và quản lý

có kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm (Human ware - Viết tắt là H)

- Thiết bị máy móc, dụng cụ, phụ tàng Đây là phần vật chất, phần cứng

của công nghệ được gọi là kỹ thuật (Techno ware - viết tắt là T)

- Thông tin dữ liệu, dữ kiện, thuyết minh kỹ thuật, đặc trưng kỹ thuật,

tài liệu hướng dẫn (Inforware- viết tắt là I)

- Quản lý là chỉ các hoạt động giữ mối liên kết trong phân bổ các nguồn

lực, thiết kế và thực thi các chính sách quản lý sản xuất và kinh doanh

Có thể gọi đây là phần tổ chức của công nghệ (Orga ware - viết tắt làO)

Vậy trong 4 bộ phận cấu thành cơ bản đó thì con người đóng vai trò chủđạo trong quá trình vận hành và biến đổi công nghệ Nhờ đó sử dụng tốt hơncác nguồn lực, thiết bị là cốt lõi Nhưng thiết bị lại do con người lắp đặt và vậnhành: thông tin là sự tích luỹ kiến thức Khối lượng kiến thức càng tăng càngđỏi hỏi công tác quản lý thông tin ngày càng cao; tố chức là quá trình điều phốithông tin

1.2.3 Các thuộc tính của công nghệ :

Công nghệ là một loại hàng hoá đặc biệt, tuy nhiên với tư cách là một

hệ thống công cụ chế biến vật chất và chế biến thông tin, hàng hoá công nghệ

có những thuộc tính riêng Các thuộc tính này quy định và ảnh hưởng trực tiếpđến việc mua bán định giá, trao đổi, sử dụng công nghệ Công nghệ bao gồm 4thuộc tính cơ bản :

- Tính hệ thống

Trang 11

1.2.4 Công nghệ điển hình:

Công nghệ vật liệu mới

Trong vòng 40 năm trở lại đây, khoa học và công nghệ đã tạo ra đượccác loại vật liệu đáp ứng được tất cả các yêu cầu trong mọi lĩnh vực hoạt độngcủa con người Một vài thành tựu nối bật về công nghệ vật liệu mới là:

- Vật liệu siêu dẫn

- Vật liệu composit (vật liệu tố họp hay phức hợp)

- Gốm kim loại

Công nghệ Điện tử và vi điện tử

Trong rất nhiều lĩnh vực khoa học-kinh tế, người ta phải dùng đến cácthiết bị điện tử để thực hiện các chức năng như khuyếch đại, phát tín hiệu điện,biến đổi tín hiệu điện., tạo hình, tạo âm thanh lúc đầu, linh kiện chính trongcác thiết bị đó là đèn điện tử, được phát minh vào năm 1906, năm 1947 xuấthiện các linh kiện bán dẫn, năm 1961 xuất hiện mạnh tích hợp IC và năm 1971

là các mạch vi xử lý thường phát minh các dụng cụ điện tử mở ra kỷ nguyêncủa máy tính điện tử

Công nghệ thông tin

Thành quả của công nghệ Điện tử-Vi điện tử tạo ra máy tính điện tửcùng với phần mềm là các chương trình ứng dụng, tạo ra một công nghệ mới

là tin học (informaties) Cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ

XX xuất hiện kỹ thuật số (digital) tạo bước ngoặt trong lĩnh vực truyền tin Tinhọc cùng viễn thông tạo ra ngành công nghiệp mới, công nghệ thông tin quacác hoạt động lưu trữ và truyền số liệu điện tử (EDI) dẫn đến các hoạt độngnhư vay vốn chuyến vốn ngoại tệ, mua bán cổ phần, tìm chênh lệch giá tíndụng, chứng khoán Tạo ra một xã hội hoàn toàn mới

Công nghệ sinh học

Công nghệ sinh học sử dụng các tác nhân sinh vật vào quá trình sảnxuất, có đặc trưng công nghiệp, sản xuất tư liệu sản xuất cho nó và các nànhkhác, có quy mô sản xuất là tế bào trong lĩnh vực này có 4 khía cạnh cụ thể:

Trang 12

Sự ra đời của máy tính điện tử đã làm thay đổi về chất của tự động hoá

và mở rộng nó ra không chỉ trong lĩnh vực sản xuất vật chất mà cả trong thôngtin, dịch vụ và quản lý, đưa các lĩnh vực này trở thành các ngành công nghệmũi nhọn trên phạm vi toàn thế giới

Trong lĩnh vực sản xuất, các thành tựu của tự động hoá bao trùm lên tất

cả các ngành sản xuất, là cơ sở của các thành tựu trong lĩnh vực kỹ thuật cao:

Du hành vũ trụ thông tin, năng lượng mới, công nghệ sinh học thiết bị chủyếu trong tự động hoá là Người máy các loại, có thể hoạt động theo mộtchương trình cứng, hay thao tác theo sự điều khiển trực tiếp của con ngườihoặc hoạt động nhờ trí năng nhân tạo

Trang 13

Chương 2: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

2.1 Khái niệm CNH-HĐH

Muốn hiểu thế nào là CNH-HDH trước tiên ta cần lưu ý một số khái niệm sau đây:

Tiền đề vật chất: bao gồm các yếu tố vật chất của nền sản xuất xã hội mà

trước hết là công cụ sản xuất Như vậy khái niệm về tiền đề vật chất có nội dunghẹp hơn nội dung khái niệm về lực lượng sản xuất

Cơ sở vật chất – kỹ thuật của xã hội: Trước hết bao gồm các yếu tố vật chất,

yếu tố khách thể của nền sản xuất, sau nữa là trình độ của phân công và hợp tác laođộng theo nghành và theo lãnh thổ Như vậy khái niệm cơ sở vật chất kỹ thuật của

xã hội có nội dung rộng hơn khái niệm lực lượng sản xuất xã hội Khái niệm nàyphản ánh nội dung về kinh tế kỹ thuật và kinh tế xã hội vì vậy cơ sở vật chất kỹthuật của xã hội chỉ có thể ra đời và phát triển đầy đủ khi có quan hệ sản xuất của xãhội mới giữ vị trí thống trị

Cách mạng kỹ thuật: Kỹ thuật gắn liền với lao động sản xuất vật chất của

con người Trong quá trình lao động sản xuất kỹ thuật trên có ba mặt: công cụ, nănglực và động lực, nguyên vật liệu cả ba mặt này cùng tiến bộ tạo nên sự thay đổi vềchất về kỹ thuật được gọi là cách mạng kỹ thuật Cho đến nay loài người đã tiếnhành hai cuộc cách mạng kỹ thuật: Lần thứ nhất chuyển lao động bằng thủ công lênlao động bằng máy móc và ngày nay đang tiến hành cuộc cách mạng kỹ thuật lầnthứ hai gọi là cách mạng khoa học – kỹ thuật vì nó không chỉ tiến hành trong kỹthuật mà cả trong khoa học và hiện nay nó còn tiến hành trong công nghệ cho nêngọi là cách mạng khoa học công nghệ chuyển cơ giới hóa sang tự động hóa

Cơ cấu kinh tế: Mỗi một nền kinh tế đều dựa trên một cơ cấu kinh tế nhất

định, cơ cấu kinh tế hiểu theo nghĩa đơn giản là xem nền kinh tế của nước mình baogồm những nghành kinh tế gì vai trò và tác dụng của các ngành kinh tế đó như thếnào và phân bố trên địa bàn lãnh thổ ra sao… Trong cấu trúc của cơ cấu kinh tế thì

cơ cấu kinh tế nghành là quan trọng nhất vì vậy cơ cấu kinh tế hợp lý và hiện đại

mà nước ta cần xây dựng là cơ cấu kinh tế công nông nghiệp và dịch vụ hiện đai

Bằng sự nghiên cứu và hiểu hai khái niệm về tiền đề vật chất và cơ sở vậtchất kỹ thuật của xã hội, thấy được sự thay đổi của chúng trong từng giai đoạn lịch

sử Ta có thể phần nào hiểu được khái niệm công nghiệp hóa theo nghĩa ban đầu làquá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc Tuy nhiên,chính sách CNH trong giai đoạn hiện nay có nhiều khác biệt so với chính sách CNH

Trang 14

giai đoạn trước đây Chính điều này làm cho chính sách ở các nước, ở các thời kỳthêm đa dạng Kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại, rút ranhững bài học kinh nghiệm trong lịch sử để tiến hành CNH và từ thực tiễn CNH ởViệt Nam trong thời kỳ đổi mới

Khái niệm công nghiệp hoá mang tính lịch sử, tức là luôn có sự thayđổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của khoa học - côngnghệ Do đó, việc nhận thức đúng đắn khái niệm này trong từng giai đoạnphát triển của nền sản xuất xã hội có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thựctiễn

Kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại, rútnhững kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành công nghiệp hoá, và từ thực tiễncông nghiệp hoá ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Hội nghị Ban Chấphành Trung ương lần thứ bảy khoá VI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định:công nghiệp hoá, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.

Khái niệm công nghiệp hoá trên đây được Đảng ta xác định rộnghơn những quan niệm trước đó, bao hàm cả về hoạt động sản xuất, kinhdoanh, cả về dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, được sử dụng bằng cácphương tiện và các phương pháp tiên tiến, hiện đại cùng với kỹ thuật vàcông nghệ cao Như vậy, công nghiệp hoá theo tư tưởng mới là không bóhẹp trong phạm vi trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơnthuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như quan niệmtrước đây

Sở dĩ nước ta phải đưa ra khái niệm kép về CNH – HDH là do quátrình CNH đã được chủ nghĩa tư bản tiến hành từ thế kỷ XV đến thế kỷXVIII ở Tây Âu mà ta gọi là cuộc cách mạng công nghiệp mở đầu từ nướcAnh Còn ngày nay thế giới đang tiến hành cuộc cách mạng khoa học –công nghệ để chuyển từ cơ giới hóa lên tự động hóa, nước ta phải tiến hànhCNH trong điều kiện thế giới đang tiến hành cuộc cách mạng khoa hoc –công nghệ do đó nước ta phải kết hợp cả hai cuộc cách mạng kỹ thuật vìvậy khái niệm kép về CNH – HDH ra đời Do những biến đổi của nền kinh

tế thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước, công nghiệp hoá ở nước ta hiện

Trang 15

nay có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá Sở dĩ nhưvậy là vì trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệhiện đại, một số nước phát triển đã bắt đầu chuyển từ kinh tế công nghiệpsang kinh tế tri thức, nên phải tranh thủ ứng dụng những thành tựu củacuộc cách mạng khoa học và công nghệ, tiếp cận kinh tế tri thức để hiệnđại hoá những ngành, những lĩnh vực có điều kiện nhảy vọt

Thứ hai, công nghiệp hoá, hiện đại hóa trong điều kiện cơ chế thịtrường có sự điều tiết của Nhà nước Điều này làm cho công nghiệp hoátrong giai đoạn hiện nay khác với công nghiệp hoá trong thời kỳ trước đổimới Trong cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung - hành chính, baocấp, công nghiệp hoá được thực hiện theo kế hoạch, theo mệnh lệnh củaNhà nước Trong cơ chế kinh tế hiện nay, Nhà nước vẫn giữ vai trò hết sứcquan trọng trong quá trình công nghiệp hoá Nhưng công nghiệp hoá khôngxuất phát từ chủ quan của Nhà nước, nó đòi hỏi phải vận dụng các quy luậtkhách quan mà trước hết là các quy luật thị trường

Thứ ba, công nghiệp hoá nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.Công nghiệp hoá là tất yếu với tất cả các nước chậm phát triển nhưng với mỗinước, mục tiêu và tính chất của công nghiệp hoá có thể khác nhau ở nước ta,côngnghiệp hoá nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, tăngcường sức mạnh kinh tế, chính trị quốc phòng và an ninh để bảo vệ nền độc lập dântộc Thứ tư, CNH – HDH nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàn cầu hoákinh tế, vì thế mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế là tất yếu

Công nghiệp hoá trong điều kiện “chiến lược” kinh tế mở có thể đi nhanhnếu chúng ta biết tận dụng, tranh thủ được thành tựu của thế giới và sự giúp đỡquốc tế Công nghiệp hoá trong điều kiện “chiến lược” kinh tế mở cũng gây nênkhông ít trở ngại do những tác động tiêu cực của nền kinh tế thế giới, do "trật tự"của nền kinh tế thế giới mà các nước tư bản phát triển thiết lập không có lợi cho cácnước nghèo, lạc hậu Vì thế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải bảo đảm xây dựng

nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế độc lập, tự chủ.

Hiểu rõ khái niệm cũng như những đặc điểm của quá trình CNH – HDH củaViệt Nam, chúng ta có thể thấy được tính tất yếu khách quan của quá trình này Mỗiphương thức sản xuất xã hội chỉ có thể được thiết lập trên cơ sở vật chất – kỹ thuậttương ứng Chủ nghĩa xã hội muốn tồn tại và phát triển, cũng cần phải có một nềnkinh tế tăng trưởng và phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độcông hữu XHCN về tư liệu sản xuất

Việt Nam đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất – kỹ

Trang 16

thuật còn hạn chế, trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát triển, quan hệ sản xuấtXHCN mới được thiết lập, chưa được hoàn thiện Vì vậy, quá trình CNH chính làquá trình xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân Nhiệm vụquan trọng của nhà nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH không qua chế độTBCN, là phải xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH, trong đó có côngnghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến Muốn thực hiệnthành công nhiệm vụ trong quá trình nói trên, nhất thiết phải tiến hành công nghiệphóa hiện đại hóa, tức là chuyển đổi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh

tế công nghiệp

Quán triệt rõ khái niệm cùng với các đặc điểm cũng như tầm quan trọng của

sự nghiệp CNH – HDH nước nhà Đảng và nhà nước ta đã đề ra những quan điểm

cụ thể về CNH – HDH ở Việt Nam hiện nay: Đó là xây dựng một nền kinh tế tựchủ, biết phát huy mọi nguồn lực đặc biệt là yếu tố con người cùng với sự tiến bộ

KH – CN nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài ra còn phải có sự kết hợp chặtchẽ và toàn diện phát triển kinh tế với củng cố nền quốc phòng an ninh

2.2 Thực trạng quá trình CNH – HDH ở Việt Nam

2.2.1 Những thành tựu đã đạt được

Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã thu được những thành tựu

to lớn, trong đó có những thành tựu nổi bật của công nghiệp hóa, hiện đạihóa

Một là, cơ sở vật chất - kỹ thuật của đất nước được tăng cường đáng

kể, khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế được nâng cao Từ một nềnkinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất yếu kém đi lên, đếnnay cả nước đã có hơn 100 khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung, nhiềukhu hoạt động có hiệu quả, tỉ lệ ngành công nghiệp chế tác, cơ khí chế tạo

và nội địa hóa sản phẩm ngày càng tăng Ngành công nghiệp sản xuất tưliệu như luyện kim, cơ khí, vật liệu xây dựng, hóa chất cơ bản, khai thác vàhóa dầu đã và đang có những bước phát triển mạnh mẽ Một số sản phẩmcông nghiệp đã cạnh tranh được trên thị trường trong và ngoài nước Ngànhxây dựng tăng trưởng nhanh, bình quân thời kỳ 2001 - 2005 đạt 16,7%/năm, năng lực xây dựng tăng nhanh và có bước tiến đáng kể theo hướnghiện đại Việc xây dựng đô thị, nhà ở đạt nhiều hiệu quả Hàng năm đưathêm vào sử dụng hàng triệu m2 nhà ở (bình quân thời kỳ 2001-2005, tăngmỗi năm 20 triệu m2) Công nghiệp nông thôn và miền núi có bước tăngtrưởng cao hơn tốc độ trung bình của cả nước Nhiều công trình quan trọngthuộc kết cấu hạ tầng được xây dựng, sân bay, cảng biển, đường bộ, cầu,nhà máy điện, bưu chính - viễn thông… theo hướng hiện đại

Trang 17

Hai là, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa,

hiện đại hóa đã đạt được những kết quả quan trọng: tỷ trọng công nghiệp

và xây dựng tăng, tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm (giai đoạn2001-2005, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng từ 36,7% năm 2000 lên41% năm 2005; còn tỷ trọng của nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ24,5% năm 2000 xuống 20,9% năm 2005) Trong từng ngành kinh tế đều

có sự chuyển dịch tích cực về cơ cấu sản xuất, cơ cấu công nghệ theohướng tiến bộ, hiệu quả, gắn với sản xuất, với thị trường

Cơ cấu kinh tế vùng đã có điều chỉnh theo hướng phát huy lợi thế so sánh củatừng vùng Các vùng kinh tế trọng điểm phát triển khá nhanh đóng gópquan trọng vào sự tăng trưởng và là đầu tàu của nền kinh tế

Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục dịch chuyển theo hướng phát huy tiềm năngcủa các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu

Cơ cấu lao động đã có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế Từ năm 2000 - 2005, tỷ trọng lao động trong côngnghiệp và xây dựng tăng từ 12,1% lên 17,9%; dịch vụ tăng từ 19,7% lên25,3%, nông lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 68,2% xuống còn 56,8%;lao động qua đào tạo tăng từ 20% lên 25%

Ba là, những thành tựu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã góp

phần quan trọng đưa nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân

từ năm 2000 đến nay đạt trên 7,5%/năm Điều đó đã góp phần quan trọngvào công tác xóa đói giảm nghèo Thu nhập đầu người bình quân hàng nămtăng lên đáng kể Năm 2005, đạt 640 USD/người, đời sống vật chất, tinhthần của nhân dân tiếp tục được cải thiện

Những thành tựu trên có ý nghĩa rất quan trọng; là cơ sở để phấnđấu đạt mục tiêu: sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và cơbản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 mà Đạihội X của Đảng đề ra

Trang 18

Nguồn lực của đất nước chưa được sử dụng có hiệu quả cao, tàinguyên, đất đai và các nguồn vốn của Nhà nước còn bị lãng phí, thất thoátnghiêm trọng Nhiều nguồn lực trong dân chưa được phát huy.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm Trong công nghiệp các sảnphẩm có hàm lượng tri thức cao còn ít Trong nông nghiệp sản xuất chưagắn kết chặt chẽ với thị trường Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp, nông thôn còn thiếu cụ thể Chất lượng nguồn nhân lực củađất nước còn thấp Tỷ trọng lao động qua đào tạo còn thấp, lao động thiếuviệc làm và không việc làm còn nhiều

Các vùng kinh tế trọng điểm chưa phát huy được thế mạnh để đinhanh vào cơ cấu kinh tế hiện đại Kinh tế vùng chưa có sự liên kết chặtchẽ, hiệu quả thấp và chưa được quan tâm đúng mức

Cơ cấu thành phần kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềmnăng, chưa tạo được đầy đủ môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng vàkhả năng phát triển của các thành phần kinh tế

Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý Công tác quy hoạch chất lượng thấp,quản lý kém, chưa phù hợp với cơ chế thị trường

Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.Nhìn chung, mặc dù đã cố gắng đầu tư, nhưng kết cấu hạ tầng kinh tế xãhội vẫn còn lạc hậu, thiếu đồng bộ chưa đáp ứng được yêu cầu, làm hạnchế sự phát triển kinh tế xã hội

Những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là nguyên nhân chủ quannhư:

Nhiều chính sách và giải pháp chưa đủ mạnh để huy động và sửdụng được tốt nhất các nguồn lực, cả nội lực và ngoại lực vào công cuộcphát triển kinh tế - xã hội

Cải cách hành chính còn chậm và kém hiệu quả, công tác tổ chức,cán bộ chậm đổi mới, chưa đáp ứng được yêu cầu

Chỉ đạo và tổ chức thực hiện yếu kém

Ngoài các nguyên nhân chung nói trên, còn có các nguyên nhân cụthể, trực tiếp như: Công tác quy hoạch chất lượng kém, nhiều bất hợp lýdẫn đến quy hoạch “treo” khá phổ biến gây lãng phí nghiêm trọng; cơ cấuđầu tư bất hợp lý đầu tư kém hiệu quả, công tác quản lý yếu kém gây lãngphí, thất thoát, tham nhũng

Trang 20

Chương 3: Vai trò của Khoa học công nghệ đối với công cuộc đẩy mạnh Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở Việt Nam

Trong thời đại ngày nay, có lẽ không còn ai không nhận thức được rằng khoahọc và công nghệ có vai trò rất quan trọng về nhiều mặt đối với sự phát triển Khoahọc và công nghệ là cái không thế thiếu được trong đời sống kinh tế - văn hoá củamột quốc gia Vai trò này của khoa học và công nghệ càng trở lên đặc biệt quantrọng đối với nước ta đang trên con đường rút ngắn giai đoạn phát triến để sớm trởthành một xã hội hiện đại Ngay từ khi bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đấtnước, Đảng ta đã xác định khoa học và công nghệ là cái giữ vai trò quan trọng trong

sự phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao trình độ quản lý, bản đảm chất lượng

và tốc độ phát triển của nền kinh tế Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mụctiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, văn minh, khoa học và công nghệ phảitrở thành “quốc sách hàng đầu”

3.1Vai trò của KHCN đối với sự phát triển kinh tế- xã hội.

Nước ta đang bước vào một thời kỳ phát triển mới- thời kỳ đẩy mạnh HĐH Nghị quyết Trung ương hai của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII

CNH-đã xác định rõ: “CNH- HĐH đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và côngnghệ, khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho CNH- HĐH”.Chỉ bằng con đường CNH- HĐH, phát triển khoa học và công nghệ mới có thế đưanước ta từ nghèo nàn lạc hậu trở thành một nước giàu mạnh văn minh Việc đưakhoa học và công nghệ, trước hết là phổ cập những tri thức khoa học và công nghêcần thiết vào sản xuất và đời sống xã hội là một nhu cầu cấp thiết của xã hội ta hiệnnay

Nghị quyết trung ương II cũng đã nhấn mạnh phải thật sự coi “Sự phát triểnkhoa học và công nghệ là sự nghiệp cách mạng của toàn dân, phát huy cao độ khảnăng sáng tạo của quần chúng” Bởi lẽ dù chúng ta có tiến hành cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ, có đưa trang thiết bị kỹ thuật tân tiến nhất, những quy trìnhcông nghệ hiện đại nhất vào nước ta thì cũng không có gì để có thể bảo đảm đẩymạnh được CNH- HĐH Nếu không có được những con người am hiểu và sử dụngchúng Do đó, phát triển khoa học và công nghệ là một nhu cầu thiết thực, cấp báchnhất và với một tầm quan trọng chiến lược đế đấy mạnh sự nghiệp CNH- HĐH đấtnước

Phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá là quá trình phát triển và nâng cao

Trang 21

trình độ công nghiệp Việc nâng cao trình độ công nghệ được thực hiện trong quátrình điện khí hoá, cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, hoá học hoá và sinh họchoá Trong các ngành lĩnh vực kinh tế quốc dân, các thành phần kinh tế, các vùngkinh tế của đất nước trong đó cần ưu tiên đưa ngành công nghệ hiện đại thích hợpvào các ngành, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế, các vùng lãnh thô mũi nhọntrọng điếm, đạt hiệu quả kinh tế cao, tích luỹ nhanh và lớn Có như vậy mới tạo khảnăng thu hút và thúc đấy CNH- HĐH các ngành, các lĩnh vực và các thành phầnkinh tế /

Khoa học công nghệ là một trong bốn nguồn lực quyết định sự phát triển kinh

tế xã hội của mỗi quốc gia Ngày nay, khi mà nhân loại bước vào kỷ nguyên tri thứcthì khoa học công nghệ càng khẳng định hơn vai trò quyết định đến quá trình tăngtrưởng kinh tế của mỗi quốc gia Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển trongquá trình tiến hành CNH- HĐH, nó chính là động lực lớn thúc đẩy và góp phần tíchcực rút ngắn quá trình này

3.2 Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

Khoa học là một hệ thống tri thức được tích luỹ trong quá trình lịch sử vàđược thực tiễn kiểm nghiệm, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bênngoài cũng như hoạt động tinh thần con người, giúp con người có năng lực cải tạothế giới Như vậy, khoa học là “văn hoá biết”, còn sản xuất, kỹ thuật, công nghệ là

“văn hóa làm” Từ “biết” đến “làm” có một khoảng nhất định nhưng không hề cóbức tường nào ngăn cản tuyệt đối cả Khoảng cách ấy có thể bị rút ngắn và được rútngắn đến đâu là tuỳ thuộc ở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của kỹ thuật,công nghệ và khoa học

Khoa học là kết quả nghiên cứu của quá trình hoạt động thực tiễn, nhưng đếnlượt mình nó lại có vai trò to lớn tác động mạnh mẽ trở lại hoạt động sản xuất Do

đó con người hoàn toàn có khả năng biến khoa học thành lực lượng sản xuất trựctiếp Trong thực tế, sự phát triển của khoa học đã giúp con người tăng cường sứcmạnh trong quá trình chinh phục tự nhiên, sử dụng có hiệu quả những sức mạnh của

nó Nếu không có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, làm sao con người có thểtạo ta năng lượng hạt nhân, phóng tàu vũ trụ lên thám hiếm các hành tinh, hay sảnxuất ra máy tính điện tử và người máy công nghiệp thay thế nhiều hoạt động phứctạp của mình

Khi còn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kỹ thuật và sản xuất còn rấtyếu, nhưng đã phát triển đến trình độ cao như ngày nay thì nó tác động mạnh mẽ vàtrực tiếp tới sản xuất Kỹ thuật và công nghệ là kết quả sự vận dụng những hiếubiết, tri thức khoa học của con người để sáng tạo, cải biến các công cụ, phương tiện

Ngày đăng: 31/07/2015, 00:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình minh họa máy thu phát vô tuyến điện sóng ngắn cầm tay VRP612 dùng cho quân đội để sử dụng liên lạc trong dải tần số từ 2MHz đến 11,9999MHz. - Phân tích vai trò của khoa học công nghệ đối với công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở việt nam
Hình minh họa máy thu phát vô tuyến điện sóng ngắn cầm tay VRP612 dùng cho quân đội để sử dụng liên lạc trong dải tần số từ 2MHz đến 11,9999MHz (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w