Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những rủi ro mà ngành Hải quan gặp phảitrong quá trình hoạt động, điều hành và công tác quản trị rủi ro tron
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 1986, nhà nước ta bắt đầu thực hiện chương trình cải cách kinh tế toàndiện, Việt nam đã từng bước mở cửa và hội nhập quốc tế Lần lượt gia nhập khốiASEAN vào tháng 7/1995, gia nhập APEC vào tháng 11/1998, và gia nhập tổ chứcthương mại thế giới WTO tháng 11/2006 Cùng với quá trình đổi mới, hội nhập của đấtnước, ngành Hải quan đứng trước thử thách rất lớn, đòi hỏi hiện đại hoá công tác quản
lý, bắt nhịp với tiến bộ không ngừng của Hải quan khu vực và thế giới Trong nhữngnăm gần đây, ngành Hải quan đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm đơn giản hóa thủ tục hảiquan cho phù hợp với thông lệ và tập quán thương mại quốc tế; tạo thuận lợi cho doanhnghiệp trong quá trình làm thủ tục hải quan góp phần cải cách thủ tục hành chính, cũng
là giải quyết bài toán khó khăn về quản lý và giải quyết thủ tục hải quan hàng ngày tạicác Chi cục Hải quan Một trong các biện pháp có tính chất quyết định, làm thay đổi về
cơ bản tư duy quản lý hành chính là triển khai thủ tục hải quan điện tử
Thủ tục hải quan điện tử là phương pháp quản lý hải quan hiện đại dựa trên nềntảng ứng dụng công nghệ thông tin và áp dụng quản trị rủi ro Việc áp dụng quản trị rủi
ro trong thủ tục hải quan điện tử đã làm thay đổi cơ bản về phương thức quản lý, tạothuận lợi cho các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật, rút ngắn thời gian thông quan,giảm các thủ tục giấy tờ, hạn chế việc tiếp xúc giữa doanh nghiệp và công chức hảiquan và quan trọng hơn nữa là tạo ra một môi trường làm việc minh bạch, hiệu quả vàhiện đại hơn
Quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan đã được các nước tiên tiến trên thế giớinhư Nhật Bản, Hoa Kỳ, Singgapore… áp dụng từ lâu, nhưng tại Việt Nam thì đây làmột kỹ thuật nghiệp vụ hoàn toàn mới mẻ, cần phải nghiên cứu tìm ra những giải phápphù hợp để triển khai thành công tại Việt Nam Chính vì những lý do đó mà tác giả lựachọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử tại ViệtNam” để nghiên cứu
Trang 22 Tình hình nghiên cứu
Rủi ro và quản trị rủi ro đã được nhiều tác giả kinh điển trên thế giới nghiên cứu
như Willett Allan với tác phẩm The economic theory of risk and insurance
(Philadelphia: University of Pennsylvania Press, 1951), tác giả C.O.Hardy với tác
phẩm Risk and Risk Bearing (Chicago: The University of Chicago Press), tác giả C.Arthur William với tác phẩm Risk management and insurance Ở Việt Nam, rủi ro
và quản trị rủi ro cũng được nhiều tác giả nghiên cứu như GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân,
Th.S Kim Ngọc Đạt và Th.S Hà Đức Sơn với tác phẩm Quản trị rủi ro & khủng hoảng (NXB Lao động - xã hội, 2009), tác giả Dương Hữu Hạnh với tác phẩm Quản trị rủi ro
xí nghiệp trong nền kinh tế toàn cầu nguyên tắc và thực hành (NXB Tài Chính, 2009), tác giả PGS.TS Nguyễn Thị Quy với tác phẩm Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp(NXB Văn hóa thông tin, 2008), các tác giả TS Lê Thanh Tâm và Phạm Bích Liên với tác phẩm Quản trị rủi ro hoạt động: kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam (2009)
Tuy nhiên, về quản trị rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan điện tử ở Việt Namthì mới chỉ có những bài viết nhỏ và chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ nào về lĩnhvực này được công bố
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận có tính chung về quản trị rủi ro ápdụng trong quy trình thủ tục hải quan điện tử, đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trongquy trình thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam hiện nay, từ đó luận văn đề xuất nhữnggiải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro trong quy trình thủ tục hải quanđiện tử tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập khu vực và thế giới
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích, trình bày khái niệm và những lý luận chung về rủi ro và quản trị rủi
ro trong quy trình thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam
- Mô tả, phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan điện
tử ở Việt Nam Chỉ ra những mặt đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục tronghoạt động quản trị rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam
Trang 3- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi rotrong quy trình thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam.
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những rủi ro mà ngành Hải quan gặp phảitrong quá trình hoạt động, điều hành và công tác quản trị rủi ro trong quy trình thủ tụchải quan điện tử ở Việt Nam trong thời điểm hiện nay;
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn về mặt không gian là ngành Hải quanViệt Nam, có học tập kinh nghiệm của các nước láng giềng; về mặt thời gian là giaiđoạn từ khi ban hành Luật Hải quan năm 2001 đến năm 2012, chủ yếu tập trung vàogiai đoạn 2007-2012, từ khi ban hành “Quy trình quản lý rủi ro trong thủ tục hải quanđiện tử” của Tổng cục Hải quan
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này sử dụng phương pháp làm việc tại bàn Trong luận văn, thông tinthứ cấp đóng một vai trò quan trọng Thông tin thứ cấp được lấy từ các nguồn như sách(bao gồm cả sách tái bản), báo, tạp chí, website, …
Ngoài ra, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp và kỹ năng nghiên cứunhư phương pháp hệ thống hóa, phương pháp thu thập và tổng hợp thông tin, phươngpháp phân tích và so sánh, … Các phương pháp này được kết hợp với nhau để rút ranhững kết luận phục vụ cho đề tài
Trang 4CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ
1.1 Tổng quan về thủ tục hải quan điện tử
1.1.1 Khái niệm thủ tục hải quan điện tử
1.1.1.1Khái niệm thủ tục hải quan
Thủ tục hải quan được định nghĩa là “các công việc mà người khai hải quan vàcông chức hải quan phải thực hiện theo quy định của Luật hải quan đối với hàng hoá,phương tiện vận tải”1
Thủ tục hải quan được hiểu một cách cụ thể là “những công việc mà người cóhàng hóa xuất, nhập khẩu phải làm theo một trình tự nhất định khi hàng hóa đi qua biêngiới quốc gia của nước xuất, nhập khẩu”2 Thủ tục hải quan thường bao gồm 3 côngviệc chủ yếu, đó là: khai báo khải quan, xuất trình hàng hóa và thực hiện các quyếtđịnh hải quan
Đối với việc khai báo hải quan, chủ hàng khai báo các chi tiết về hàng hóa lên tờkhai để cơ quan hải quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ Nội dụng của tờ khai bao gồmnhững mục như: loại hàng (hàng mậu dịch, hàng trao đổi tiểu ngạch biên giới, hàngtạm nhập tái xuất,…), tên hàng, số, khối lượng, giá trị hàng, tên công cụ vận tải, xuấtkhẩu hoặc nhập khẩu với nước nào,… tờ khai hải quan phải được xuất trình kèm theovới một số chứng từ khác, mà chủ yếu là: giấy phép xuất nhập khẩu, hóa đơn, phiếuđóng gói, bảng kê chi tiết
Đối với việc xuất trình hàng hóa, hàng hóa xuất nhập khẩu phải được sắp xếptrật tự, thuận tiện cho việc kiểm soát Chủ hàng phải chịu chi phí và nhân công về việc
mở, đóng các kiện hàng Yêu cầu của việc xuất trình hàng hóa cũng là sự trung thựccủa chủ hàng Để thực hiện thủ tục kiểm tra và giám sát, chủ hàng phải nộp phí thủ tụchải quan
Trang 5Đối với việc thực hiện các quyết định của hải quan, sau khi kiểm soát giấy tờ vàhàng hóa, hải quan sẽ ra những quyết định như: cho hàng được phép đi qua biên giới(thông quan), cho hàng đi qua một cách có điều kiện (như phải sửa chữa, phải bao bìlại…), cho hàng đi qua sau khi chủ hàng đã nộp thuế; lưu kho ngoại quan (bondedwarehouse), hàng không được xuất (hoặc nhập) khẩu,… nghĩa vụ của chủ hàng là phảinghiêm túc thực hiện các quyết định đó Việc vi phạm các quyết định đó thuộc tội hình sự.
1.1.1.2Khái niệm thủ tục hải quan điện tử
Thủ tục hải quan điện tử được hiểu là những việc phải làm của người có hànghóa xuất khẩu, nhập khẩu, có phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh hoặc của ngườiđược ủy quyền theo quy định của Luật Hải quan và các luật khác có liên quan, đượcthực hiện nhờ ứng dụng công nghệ thông tin thông qua việc sử dụng đường truyềninternet giúp tiết kiệm tối đa thời gian và chi phí
Như vậy, “Thủ tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan trong đó việc khai, tiếpnhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của phápluật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý
dữ liệu điện tử hải quan”3
1.1.2 Sự ra đời của thủ tục hải quan điện tử
1.1.2.1 Hải quan thế giới với nhu cầu hiện đại hóa
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, khi mà thách thức ngày cànglớn, thương mại và đầu tư sẽ chảy vào những nơi được coi là hiệu quả và thuận lợi.Đồng thời, thương mại và đầu tư sẽ rút khỏi những nơi bị coi là quan liêu, quản lýkhông tốt và chi phí cao Do đó, hệ thống và quy trình hải quan không được là một ràocản đối với thương mại quốc tế và tăng trưởng Thực hiện thủ tục hải quan hiệu quả vàhiệu lực có ảnh hưởng to lớn đến việc thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế nhờ môitrường thương mại an toàn hơn Để giải quyết những thách thức này hải quan thế giới
đã có những thay đổi căn bản nhằm hiện đại hóa hải quan, đó chính là cơ sở cho sự rađời và triển khai áp dụng thủ tục hải quan điện tử tại hàng loạt nước trên thế giới nhằmvừa đảm bảo tạo thuận lợi thương mại vừa tăng cường thực thi pháp luật hải quan
Trang 61.1.2.2 Hải quan thế giới với thương mại điện tử
Đặt nền móng cho sự ra đời của thủ tục hải quan điện tử còn là sự ra đời và pháttriển nhanh chóng của thương mại điện tử Thương mại điện tử xuất hiện cùng với sựphổ cập mạng internet và máy tính từ cuối những năm 1999 đầu những năm 2000.Thương mại điện tử đề cập đến một phương pháp kinh doanh mới Thương mại điện tửtác động đến nhiều khía cạnh của kinh doanh hiện đại như hoạt động marketing, hoạtđộng ngân hàng, hoạt động ngoại thương… Các cơ quan hải quan ngày nay đều phảiđiều chỉnh để phù hợp với thông lệ kinh doanh mới Đó là sự ra đời của hải quan điện
tử với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình thông quan hàng hóa
Có thể nói, hải quan điện tử đã ra đời cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng củathương mại quốc tế và sự ra đời của thương mại điện tử
1.1.3 Vai trò của thủ tục hải quan điện tử
1.1.1 Đối với ngành hải quan
Trong bối cảnh số lượng các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu cũng như sốlượng hàng hóa xuất nhập khẩu tăng lên không ngừng, việc thực thi thủ tục hải quanđiện tử là một trong những bước đi tất yếu nhằm đáp ứng các yêu cầu về khối lượngcông việc, về cải cách hành chính và quản lý nhà nước
Việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử đồng thời còn đáp ứng các yêu cầu vềhội nhập quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam
1.1.2 Đối với thương mại điện tử
Với việc thực thi thủ tục hải quan điện tử, thông quan hải quan cho các lô hàng quốc tế được tiến hành một cách kịp thời, tạo thuận lợi cho thương mại
Thực thi thủ tục hải quan điện tử giúp cho thống kê thương mại được chính xác
và kịp thời
Việc thực thi thủ tục hải quan điện tử giúp tạo ra một cộng đồng thương mại bao gồm tất cả các bên liên quan được gắn kết với nhau qua mạng lưới điện tử
Trang 71.1.3 Đối với khách hàng
Việc thực thi thủ tục hải quan điện tử điều kiện tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian làm thủ tục hải quan Cụ thể khi ngồi tại vănphòng doanh nghiệp vẫn có thể mở tờ khai hải quan mà không cần có mặt tại các chicục hải quan tiếp xúc trực tiếp với cán bộ hải quan Doanh nghiệp cũng có thể gửi tờkhai trong bất kỳ thời điểm nào trong ngày chứ không bó buộc trong giờ hành chínhnhư khai hải quan truyền thống Kết quả phê duyệt và phản hồi của cơ quan hải quancũng được gửi trực tiếp cho doanh nghiệp mà không cần doanh nghiệp phải đến cơquan hải quan Các công việc này giúp doanh nghiệp tiết kiệm được rất nhiều thời gian
đi lại và chờ đợi Đây là lợi ích lớn nhất đối với doanh nghiệp4
Nhờ tiết kiệm thời gian đi lại và chờ đợi doanh nghiệp cũng tiết kiệm được chi phí Nhờ hệ thống tự động phân luồng tờ khai và áp dụng quản trị rủi ro trong thủ tụchải quan điện tử doanh nghiệp còn tiết kiệm được rất nhiều chi phí nhờ việc giảm kiểmtra thực tế các lô hàng
Khai hải quan điện tử là phù hợp với thông lệ quốc tế nên các doanh nghiệp trong nước làm việc với các doanh nghiệp nước ngoài sẽ thuận lợi hơn Việc thực thithủ tục hải quan điện tử giúp tăng độ minh bạch của các quyết định quản lý đối vớidoanh nghiệp, giảm cơ hội để cán bộ hải quan đưa ra những quyết định tùy ý
1.2 Tổng quan về Quản trị rủi ro
1.1 Khái niệm chung về rủi ro
Rủi ro được Allan H Willett định nghĩa: “rủi ro là sự không chắc chắn về tổnthất”1 Rủi ro cũng được định nghĩa là: “rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất”5 Đặc biệtFank H.Knight lại có một quan điểm hoàn toàn khác về rủi ro khi coi “rủi ro là sựkhông chắc chắn có thể đo lường được”6 Như vậy có thể thấy rủi ro là sự kiện khôngmay xảy ra luôn gắn liền với hoạt động và môi trường sống của con người
Trang 8 Các kết quả của các nhà nghiên cứu về rủi ro đã chỉ ra một số thuộc tính củarủi ro như sau:
- Thứ nhất, rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn không mang tính chắc chắn Đó là một sựviệc, một hành động hoặc một hiện tượng… có thể xảy ra và có thể gây ra những thiệthại tuỳ thuộc vào các yếu tố làm nảy sinh, tác động đến nó;
- Thứ hai, rủi ro được cấu thành bởi hai yếu tố: tần suất xuất hiện rủi ro và hậuquả của nó Khi xem xét rủi ro người ta thường xem xét đến khả năng chắn chắn haykhông chắc chắn xảy ra của rủi ro và mức độ hậu quả khi rủi ro đó xảy ra;
- Thứ ba, rủi ro có tính chất động, luôn thay đổi theo môi trường và các yếu tố tácđộng liên quan;
- Thứ tư, rủi ro có thể đo lường được thông qua việc đánh giá về mức độ tần suất
và hậu quả của rủi ro
Rủi ro được phân loại theo:
- Tính chất của rủi ro: rủi ro suy đoán và rủi ro thuần túy;
+ Rủi ro suy đoán hay còn gọi là rủi ro suy tính hay rủi ro đầu cơ, tồn tại cơ hộikiếm lời cũng như nguy cơ tổn thất Đây là loại rủi ro gắn liền với khả năng thành bạitrong hoạt động đầu tư, kinh doanh và đầu cơ Ví dụ, mua cổ phiếu: khoản đầu tư này
có thể lãi, hòa, hoặc lỗ vốn;
+ Rủi ro thuần túy là loại rủi ro mà nếu xảy ra thì chỉ có thể dẫn đến tổn thất màkhông có cơ hội kiếm lời Ví dụ: lụt bão, sóng thần, hỏa hoạn, động đất, khủng hoảngkinh tế, đầu tư sai lầm v.v
- Phạm vi ảnh hưởng của rủi ro: rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt:
+ Rủi ro cơ bản là những rủi ro phát sinh từ nguyên nhân ngoài tầm kiểm soát củamọi người Hậu quả của rủi ro cơ bản thường rất nghiêm trọng, khó lường, có ảnh hưởngtới cộng đồng và toàn xã hội Ví dụ: lạm phát, khủng hoảng kinh tế, động đất ;
+ Rủi ro riêng biệt là loại rủi ro xuất phát từ các biến cố chủ quan và khách quan
Trang 9của từng cá nhân, tổ chức Loại rủi ro này chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của từng cá nhânhoặc tổ chức Nếu xét về hậu quả đối với một doanh nghiệp có thể rất nghiêm trọng,nhưng không ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế xã hội Ví dụ: cháy nổ, rủi ro thanh toán,đắm tầu v.v
- Nguyên nhân của rủi ro bao gồm do các yếu tố khách quan và chủ quan:
+ Rủi ro do các yếu tố khách quan là rủi ro xảy ra ngoài ý muốn của con người vàkhông thể lường trước hay kiểm soát được Đây thường là những nguyên nhân xảy ra
từ môi trường tự nhiên như: động đất, cháy nổ, gió, mưa, bão lụt, hạn hán… rủi ro dokhủng hoảng kinh tế hoặc có nguồn gốc từ chính sách kinh tế và điều hành vĩ mô củachính phủ;
+ Rủi ro do các yếu tố chủ quan là loại rủi ro do hành vi trực tiếp từ con ngườihoặc từ các tổ chức kinh doanh Ví dụ, hệ thống pháp luật luôn thay đổi, thể chế chínhtrị không ổn định, quyết định một chính sách quản lý vĩ mô lệch hướng
- Tác động môi trường vĩ mô gây nên rủi ro: rủi ro do điều kiện tự nhiên, rủi rochính trị, rủi ro kinh tế, rủi ro pháp luật, rủi ro văn hóa…
1.2 Khái niệm quản trị rủi ro
Rủi ro xuất hiện ở mọi nơi trong cuộc sống, luôn đe dọa cuộc sống của conngười Do vậy con người luôn quan tâm và tìm cách đối phó với rủi ro nhằm ngăn ngừagiảm thiểu rủi ro Thuật ngữ “quản trị rủi ro” bắt đầu xuất hiện phổ biến từ những năm
50 của thế kỷ trước, tuy nhiên khái niệm về nó đã từng được đề cập trước đó khá lâu,vào năm 1916 trong tác phẩm của Henri Fayol, một nhà quản trị học nổi tiếng ngườiPháp7 Tuy xuất hiện sớm như vậy, nhưng cho đến nay, quan niệm về quản trị rủi rovẫn chưa hoàn toàn thống nhất
Quản trị rủi ro có thể hiểu một cách đơn giản là “quản trị các sự kiện không dựđoán được, các sự kiện đã gây các hậu quả bất lợi”8
Quản trị rủi ro theo quan điểm của Kloman, Haimes và các tác giả khác là việcđối phó với những sự kiện bất lợi đối với mình hay nói cách khác đó là việc xử lý đốivới những nguy cơ rủi ro có thể xảy ra9
Trang 10Theo cách nhìn mới, với quan điểm “quản trị rủi ro toàn diện” thì quản trị rủi rođược định nghĩa là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, liên tục và có
hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mấtmát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro, đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơhội thành công10
1.2 Nội dung quản trị rủi ro
1.1 Nhận dạng- phân tích-đo lường rủi ro
Để quản trị rủi ro trước hết phải nhận dạng được rủi ro Nhận dạng rủi ro là quátrình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động của tổ chức Hoạt độngnhận dạng rủi ro nhằm phát triển các thông tin về nguồn gốc rủi ro, các yếu tố mạohiểm, hiểm họa, đối tượng rủi ro và các loại tổn thất Nhận dạng rủi ro bao gồm cáccông việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạtđộng của tổ chức nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những loại rủi ro đã
và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện đối với tổchức, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp Phươngpháp nhận dạng rủi ro có thể là:
+ Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra;
+ Phân tích các báo cáo tài chính;
Trang 11nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân gần và nguyên nhân xa
Để tìm ra biện pháp phòng ngừa rủi ro một cách hữu hiệu thì cần phân tích rủi ro, tìm
ra các nguyên nhân, rồi tác động đến các nguyên nhân, thay đổi chúng, từ đó sẽ phòngngừa được rủi ro
Nhận dạng được rủi ro là bước khởi đầu của quản trị rủi ro, nhưng rủi ro có rấtnhiều loại, một tổ chức không thể cùng một lúc kiểm soát, phòng ngừa tất cả mọi loạirủi ro Từ đó cần phân loại rủi ro, loại nào xuất hiện nhiều, loại nào xuất hiện ít, loạinào gây ra hậu quả nghiêm trọng, còn loại nào ít nghiêm trọng hơn từ đó có biệnpháp quản trị rủi ro thích hợp Để làm việc này cần tiến hành đo lường mức độ nghiêmtrọng của rủi ro đối với tổ chức Để đo lường rủi ro, cần thu thập số liệu và phân tích,đánh giá theo hai khía cạnh: Tần suất xuất hiện rủi ro và mức độ nghiêm trọng của rủi
ro Trên cơ sở kết quả thu thập được, lập Ma trận đo lường rủi ro:
Bảng 1.1: Ma trận đo lường rủi ro
Tần suất xuất hiện
Mức độ nghiêm trọng của rủi ro đo bằng những tổn thất, mất mát, nguy hiểm,…Trên hình 1.1, ta thấy:
Ô I tập trung những rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao và tần suất xuất hiện cũng cao;
Ô II tập trung những rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao, nhưng tần suất xuất hiệnthấp;
Trang 12 Ô III gồm những rủi ro có mức độ nghiêm trọng thấp, nhưng tần suất xuất hiện cao;
Ô IV bao gồm những rủi ro có mức độ nghiêm trọng thấp và tần suất xuất hiệncũng thấp
Để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro đối với tổ chức người ta sử dụng cả 2tiêu chí: mức độ tổn thất nghiêm trọng và tần suất xuất hiện, trong đó mức độ tổn thấtnghiêm trọng đóng vai trò quyết định Vì vậy, sau khi đo lường, phân loại các rủi ro sẽtập trung quản trị trước hết những rủi ro thuộc nhóm I, sau đó theo thức tụ mới đếnnhững rủi ro nhóm II, III và sau cùng là những rủi ro thuộc nhóm IV
1.2 Kiểm soát-phòng ngừa rủi ro
Công việc trọng tâm của quản trị rủi ro là kiểm soát rủi ro Kiểm soát rủi ro làviệc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạtđộng… để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởngkhông mong đợi có thể đến với tổ chức Các biện pháp cơ bản để kiểm soát rủi ro đượcchia thành các nhóm:
- Các biện pháp né tránh rủi ro: đây là các biện pháp trong đó nhà quản trị sẽ tìmcách phát hiện những dự án kinh doanh có nguy cơ xảy ra rủi ro cao để tránh chodoanh nghiệp không tham gia vào, nhờ đó không phải chịu rủi ro
- Các biện pháp ngăn ngừa rủi ro: đây là các biện pháp nhằm vào nguyên nhângây ra rủi ro khiến cho rủi ro không thể xảy ra Chẳng hạn để ngăn chặn những rủi ro
do thiếu thông tin khi tham gia vào một thị trường mới, có thể sử dụng hình thức bánhàng qua đại lý thay vì trực tiếp bán hàng
- Các biện pháp giảm thiểu rủi ro: Một khi không thể né tránh rủi ro nhà quản trị
sẽ phải tìm cách giảm thiểu số lần xảy ra rủi ro Ví dụ để giảm rủi ro bị đối tác lừa đảo,doanh nghiệp cần thu thập đầy đủ thông tin đến mức có thể để nắm rõ về đối tác
- Các biện pháp chia sẻ rủi ro: Để chia sẻ rủi ro, doanh nghiệp sẽ phải ký kếtnhững hợp đồng với những điều khoản đặc biệt Ví dụ để tránh rủi ro giá cả biến động,doanh nghiệp sẽ phải ký những hợp đồng dài hạn với giá cả cố định, hoặc doanh
Trang 13nghiệp sẽ phải tham gia vào các hợp đồng ngoại tệ kỳ hạn để tránh rủi ro tỷ giá Vớinhững hợp đồng như vậy rủi ro sẽ được chia sẻ với cả bên mua và bên bán.
- Chấp nhận rủi ro và lập quỹ dự phòng để bù đắp tổn thất nếu rủi ro xảy ra
- Chuyển giao rủi ro: chuyển tài sản hoặc hoạt động có rủi ro đến cho người khác,
tổ chức khác; chuyển rủi ro thông qua con đường ký hợp đồng với người khác, tổ chứckhác trong đó có quy định chỉ chuyển giao rủi ro
1.3 Công ước Kyoto về quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử
1.1 Sự cần thiết của quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử
1.3.1.1 Khái niệm quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử
Trong thực thi kiểm soát biên giới, mỗi cơ quan Hải quan đều đưa ra những biệnpháp, quy định dựa trên sự hiểu biết, thông tin và kinh nghiệm nhằm phát hiện, ngănchặn những hành vi bất hợp pháp Đây được hiểu là cách làm “truyền thống” của Hảiquan Việc áp dụng này đã hình thành nên các hình thức kiểm tra rủi ro mang tính thủcông, đáp ứng các yêu cầu nào đó trong nỗ lực kiểm soát của cơ quan Hải quan
Thời gian gần đây, mức độ phức tạp, tốc độ và lưu lượng thương mại quốc tếđang tăng lên do tác động bởi tiến bộ khoa học kỹ thuật đã làm cách mạng hoá cácthông lệ thương mại toàn cầu, làm ảnh hưởng một cách đáng kể đến phương pháp quản
lý của Hải quan Các cơ quan Hải quan đã chuyển đổi phương thức quản lý trong cáclĩnh vực hải quan bằng cách áp dụng một loạt các kỹ thuật quản trị rủi ro, những kỹ
Trang 14thuật tiên tiến của công nghệ thông tin, hướng các nguồn lực vào các lĩnh vực có nguy
cơ rủi ro, đồng thời qua đó hỗ trợ việc tối đa hoá tính hiệu quả và hiệu lực của công táchải quan nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho thương mại Một phương pháp luận về quản
lý hải quan hiện đại, trong đó cách tiếp cận mang tính hệ thống, logic và dựa trên quanđiểm đặc biệt coi trọng kỹ thuật quản trị rủi ro được gọi là quản trị rủi ro Hiện nay,quản trị rủi ro được Tổ chức Hải quan thế giới phát triển thành những chuẩn mựcchung và khuyến nghị Hải quan các nước thành viên áp dụng, nhằm đạt đến sự hài hòa,thống nhất và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển
Như vậy, thuật ngữ quản trị rủi ro trong lĩnh vực hải quan có thể được tiếp cận ở
ba cấp độ:
Thứ nhất, ngành Hải quan áp dụng một số biện pháp và quy định để phát hiện
và ngăn chặn rủi ro;
Thứ hai, ngành Hải quan phát triển và áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro vào một
số lĩnh vực và theo một số cách thức nhằm xác định rủi ro liên quan tới các giaodịch và hoạt động; qua đó tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực này để có thể đạtkết quả tốt nhất;
Thứ ba, ngành Hải quan áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro một cách có hệ thốngtrong các lĩnh vực hải quan trên cơ sở chiến lược về quản lý rủi ro
Từ ba cách tiếp cận nêu trên về quản trị rủi ro trong lĩnh vực hải quan có thểđịnh nghĩa “quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử là việc áp dụng một cách có
hệ thống các thủ tục và thông lệ với sự trợ giúp của công nghệ thông tin nhằm cung cấpcho cơ quan Hải quan những thông tin cần thiết để tập trung vào xử lý các hoạt độnghoặc các chuyến hàng có dấu hiệu rủi ro”11
Định nghĩa này có thể hiểu một cách cụ thể như sau: “Quản lý rủi ro là việc ápdụng có hệ thống các biện pháp, quy trình nghiệp vụ và thông lệ nhằm giúp cơ quanhải quan bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để tập trung quản lý có hiệu quả đối với cáclĩnh vực, đối tượng được xác định là rủi ro”12
Trang 15Quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử được thực hiện theo một quy trìnhmang tính chất logic và hệ thống từ thiết lập bối cảnh, xác định - phân tích - đánh giá -
xử lý cũng như gắn rủi ro với tác động của nó
1.3.1.2 Sự cần thiết của quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử
Quản trị rủi ro đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực nghiệp vụ hải quan nóichung và thủ tục hải quan điện tử nói riêng Quản trị rủi ro tạo ra định hướng giải phápduy nhất trước yêu cầu quản lý hải quan hiện nay là vừa phải đảm bảo tạo thuận lợi chothương mại vừa phải quản lý tốt, duy trì tốt kiểm soát hải quan
Quản trị rủi ro trong Thủ tục hải quan điện tử giúp cơ quan hải quan thực hiện tốtchức năng quản lý của mình, nhờ kỹ thuật quản trị rủi ro cơ quan hải quan có thể duytrì tốt kiểm soát hải quan, nâng cao kết quả việc ngăn chặn trốn thuế, chống buôn lậu
và gian lận thương mại trong công tác quản lý hải quan
Quản trị rủi ro trong Thủ tục hải quan điện tử giúp cơ quan hải đảm bảo đượcthuận lợi cho thương mai nhờ giảm chi phí thông quan và tăng tốc độ thông quan, giảmtắc nghẽn hàng hóa tại các cửa khẩu
Việc cùng áp dụng kỹ thuật quản trị rủi ro trong nhiều nội dung nghiệp vụ khácnhau mang đến lợi ích ở tất cả các cấp:
Cấp chiến lược: Thông qua việc đánh giá các nguồn thông tin, dữ liệu toàndiện, ngành Hải quan có thể xác định được nhiều lĩnh vực công việc có độ rủi ro thấp
và chỉ can thiệp tới khi xét thấy cần thiết nhờ vào sự xét đoán và kinh nghiệm thực tiễncủa mình, lấy đó làm căn cứ xây dựng kế hoạch, chiến lược của Ngành;
Cấp chiến thuật: Áp dụng kỹ thuật quản trị rủi ro vào thực tiễn như việc xácđịnh mức độ kiểm tra một chủ hàng hoặc cách thức triển khai lực lượng và trang thiết
bị làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch ở qui mô cấp Cục, vùng;
Cấp tác nghiệp: Vận dụng để quyết định, xử lý các tình huống tức thời trongthực tiến quản lý Như quyết định kiểm tra hàng hóa hoặc hành khách xuất nhập cảnh
Trang 16Quản trị rủi ro có mối quan hệ hết sức đặc biệt với các công tác nghiệp vụ hải quannhư công tác thông tin tình báo, qui trình xử lý thông quan hàng hóa, công tác kiểm trasau thông quan, công tác điều tra chống buôn lậu Do đặc điểm của kỹ thuật quản trị rủi
ro là luôn phải kết hợp với những chu trình làm việc đan xen, kế tiếp nhau liên tục, mọithao tác của cán bộ đều được qui định sẵn và ghi nhận lại đầy đủ nên đây là một công cụquản lý, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ rất hiệu quả, khách quan, nhờ đó nâng cao được
ý thức tự giác, chấp hành nhiệm vụ, góp phần đảm bảo liêm chính của cán bộ hải quan làyêu tố quyết định đối với hiệu quả của hệ thống quản lý hải quan
Quản trị rủi ro đặc biệt cần thiết đối với các nước đã triển khai quá trình tự độnghóa, áp dụng quy trình thủ tục hải quan điện tử Quản trị rủi ro trong thủ tục hải quanđiện tử có vai trò quan trọng trong việc gắn kết qui trình nghiệp vụ với công nghệthông tin, khai thác tối đa tính ưu việt của công nghệ thông tin phục vụ cho mọi yêucầu khác nhau của quản lý hải quan hiện đại
Từ những vấn đề nêu trên, cho thấy vai trò không thể thiếu, thậm chí sống còncủa quản trị rủi ro trong toàn bộ hệ thống quản lý hải quan nói chung và thủ tục hảiquan điện tử nói riêng
1.2 Công ước Kyoto về quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử
1.3.2.1 Giới thiệu chung về Công ước Kyoto
Công ước Kyoto là Công ước quốc tế về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tụchải quan được Tổ chức hải quan thế giới thông qua năm 1973 tại Kyoto (Nhật Bản) và
có hiệu lực năm 1974 Đây là sự đáp ứng của hải quan thế giới đối với đòi hỏi của nềnkinh tế thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa Công ước bao gồm Thân quy định các nộidung về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan và 31 phụ lục quy định về từngloại hình thủ tục hải quan cụ thể Cho đến tháng 5/2005 tổng số có 63 quốc gia và vùnglãnh thổ là bên tham gia Công ước Tuy nhiên, Công ước Kyoto năm 1973 có nhiềuhạn chế như chỉ cần tham gia ở mức độ tối thiểu, mức độ ràng buộc không cao, khôngtạo được chuyển biến mạnh mẽ về thủ tục hải quan ở các bên tham gia nên Tổ chứcHải quan Thế giới đã quyết định sửa đổi Công ước Kyoto năm 1973 và thông qua
Trang 17Nghị định thư sửa đổi vào tháng 6 năm 1999 Nghị định thư sửa đổi Công ước Kyotonăm 1973 có hiệu lực vào ngày 3 tháng 2 năm 2006 sau khi có 40 bên tham gia Côngước Kyoto đầu tiên gia nhập Công ước này Từ đây Công ước Kyoto có tên gọi mới làCông ước Kyoto sửa đổi Hiện nay, Công ước Kyoto sửa đổi có 59 thành viên, ViệtNam là thành viên thứ 56 Công ước Kyoto sửa đổi bao gồm: Nghị định thư sửa đổi,Thân công ước, Phụ lục tổng quát, Phụ lục chuyên đề và Hướng dẫn thực hành13.
Những thay đổi căn bản trong Công ước sửa đổi so với Công ước năm 1973 baogồm: (I)Công ước quy định áp dụng tối đa công nghệ thông tin; (II) Công ước quy định
áp dụng kỹ thuật tiên tiến như quản lý rủi ro, kiểm tra trên cơ sở kiểm toán, các biệnpháp đảm bảo và trao đổi thông tin trước khi hàng đến cho phép giải quết được mâuthuẫn giữa đảm bảo tăng cường kiểm soát hải quan và tạo thuận lợi thương mại; (III)Công ước yêu cầu tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa hải quan và doanh nghiệpnhằm tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp tuân thủ pháp luật và ngược lại doanhnghiệp cam kết cộng tác chặt chẽ với hải quan trong lĩnh vực kiểm soát và tăng cườngpháp luật; (IV) Công ước có cấu trúc liên kết tạo ra hệ thống công cụ pháp lý logic vàgắn kết giữa Thân, Phụ lục tổng quát và 10 Phụ lục chuyên đề; (V) Công ước có mức
độ ràng buộc cao đối với các thành viên Công ước, quy định cơ chế bảo lưu chặt chẽ,yêu cầu các bên tham gia tối thiểu phải chấp nhận Thân và Phụ lục tổng quát và khôngđược phép bảo lưu với chuẩn mực và chuẩn mực chuyển tiếp Bảo lưu chỉ được phépvới khuyến nghị thực hành của phụ lục chuyên đề nhưng phải nêu lý do và phải xemxét bảo lưu định kỳ 3 năm một lần; (VI) Cơ chế sửa đổi và bổ sung thông qua Ủy banquản lý Công ước bao gồm các bên tham gia giúp Công ước vận động linh hoạt và luônphù hợp với thực tiễn của thương mại; (VII) Công ước cho phép thời gian quá độ là 3năm với chuẩn mực và 5 năm với chuẩn mực chuyển tiếp kể từ khi Công ước có hiệulực đối với bên tham gia
Sau khi được sửa đổi, bổ sung, Công ước Kyoto được công nhận là cẩm nangcho thủ tục hải quan hiện đại và hiệu quả trong thế kỷ 21 Công ước Kyoto sửa đổimang đến một bộ nguyên tắc toàn diện, thống nhất, đơn giản, hiệu quả và dễ dự đoán
Trang 18về thủ tục hải quan Công ước Kyoto sửa đổi hướng dẫn cho cơ quan Hải quan về cáchthức ứng dụng và triển khai công nghệ thông tin đối với quá trình thông quan, giúp họtriển khai áp dụng thủ tục hải quan điện tử
1.3.2.2 Công ước Kyoto hướng dẫn quy trình quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử
Phụ lục tổng quát - Công ước KYOTO sửa đổi, bổ sung năm 1999 đã đưa ra quytrình quản trị rủi ro trong lĩnh vực hải quan cũng như trong thủ tục hải quan điện tửgồm 06 bước, mang tính logic và hệ thống (như hình 1.1), đó là: thiết lập bối cảnh; xácđịnh rủi ro; phân tích rủi ro; đánh giá, phân loại rủi ro; xử lý rủi ro; theo dõi, kiểm trathông qua đo lường tuân thủ
Bước 1: Thiết lập bối cảnh
Bước này xây dựng nên bối cảnh của tổ chức và chiến lược được thực hiện trongquản lý rủi ro
Cuối bước 1, cần xây dựng được các tài liệu: Mục tiêu hay xác định mục đích của
dự án hay hoạt động; Thông tin về môi trường bên trong và bên ngoài; Danh sách đốitượng trong và ngoài tổ chức; Chiến lược dự định sử dụng; Danh sách các nhóm thànhviên và phân công công việc; Chi tiết về bản yêu cầu các nguồn lực khác; Biểu đồ (ví dụbiểu đồ Gantt) để chỉ ra thời điểm các sự kiện liên quan được dự đoán sẽ xảy ra
Bước 2: Xác định rủi ro
Trong bước xác định rủi ro, điều quan trọng là cố gắng nhận biết các rủi ro nảysinh từ tất cả mọi khía cạnh của môi trường, như đã được xác định trong bước 1, dù nónhỏ như thế nào Chúng ta sẽ kiểm tra ý nghĩa của các rủi ro trong bước kế tiếp, nhưngbất kì loại rủi ro nào bị chệch ra khỏi bước này sẽ có rất ít cơ hội được xem xét trongbước tiếp theo của quá trình Cuối bước 2, cần xây dựng được các tài liệu sau:
Danh sách rủi ro đã được nhận biết;
Chi tiết các loại rủi ro, rủi ro bất ổn và bất ổn như thế nào;
Trang 19 Bản kế hoạch dự án cập nhật (nếu việc cập nhật được yêu cầu).
Hình 1.1: Quy trình quản lý rủi ro
Bước 3: Phân loại rủi ro
Rủi ro được phân tích bằng các phương pháp tổng hợp của việc tính toán nhữngkhả năng có thể xảy ra (độ thường xuyên hay độ có thể) và tính đến hậu quả (tác độnghay là tầm quan trọng của hậu quả) bằng những công cụ đo lường hiện tại Việc phântích bao gồm:+) Phân tích những rủi ro đã được nhận biết ở bước 2 về mặt khả năng cóthể xảy ra và hậu quả;+) Xác định tỉ lệ rủi ro cho từng loại rủi ro trên;+) Tách riêngnhững rủi ro có tỉ lệ thấp và có thể chấp nhận được ra khỏi những rủi ro có tỉ lệ cao; +)
Trang 20Nắm bắt được những dữ liệu sẽ dùng cho việc đánh giá ở bước 4;
Cuối bước 3, cần xây dựng được các tài liệu sau:
Định nghĩa, nhận xét về các loại rủi ro;
Tỉ lệ khả năng có thể xảy ra và hậu quả của các loại rủi ro đã được nhận biết;
Tỉ lệ cụ thể của tất cả các cấp độ cho từng loại rủi ro đã được nhận biết;
Bước 4: Đánh giá và xếp loại rủi ro
Tại bước này có 2 mục tiêu chính:+) Nhận biết rủi ro nào có thể và không thểchấp nhận được;+) Ưu tiên cho những rủi ro không chấp nhận được
Cần chú ý rằng, trong hầu hết các trường hợp, rủi ro ở mức “Trung bình” hoặc
“Cao” thường được xem như là không thể chấp nhận Cũng như vậy, rủi ro ở mức
“Thấp” được xem như có thể chấp nhận và sẽ được xử lý theo nhiều cách
Cuối bước 4 ta có được các tài liệu gồm:
Rủi ro đã được phân loại thành “ Có thể chấp nhận” và “ Không thể chấp nhận”;
Ưu tiên cho các rủi ro không thể chấp nhận;
Lập kế hoạch cập nhật cho dự án ( nếu được yêu cầu);
Bước 5: Xử lý rủi ro
Sau khi tiến hành phân loại, đánh giá, và ưu tiên các loại rủi ro khác nhau có liênquan đến các hoạt động, chúng ta cần xác định phương pháp phù hợp để xử lý rủi ro.Cách xử lý rủi ro có thể bao gồm: Tránh rủi ro; Chấp nhận rủi ro; Giảm thiểu rủi ro;Chuyển giao rủi ro; Chấp nhận và giữ lại rủi ro
Cuối bước 5 cần làm rõ các vấn đề sau:
Những cách xử lý đối với những rủi ro được ưu tiên và không thể chấp nhận nhất;
Các cách xử lý giành riêng cho các rủi ro;
Hoàn thành bản Kế hoạch xử lý rủi ro;
Hoàn thành Kế hoạch hành động xử lý rủi ro, bao gồm cả việc thực hiện chỉ dẫn
Trang 21Bước 6: Theo dõi đánh giá lại và đo lường mức độ tuân thủ
Quá trình theo dõi đánh giá lại là những chức năng liên tục phát triển của quátrình xử lý rủi ro Quá trình này có 2 yếu tố chính:
*Kiểm tra
Trong suốt dự án, yêu cầu cần phải kiểm tra liên tục, có những rủi ro là tĩnhnhưng đôi khi môi trường thay đổi làm quyền ưu tiên hết hiệu lực Cụ thể là cần kiểmtra một số nội dung như:
- Rủi ro mức độ cao có bị giảm xuống không;
- Rủi ro mức độ thấp có vẫn giữ nguyên hay đã thay đổi;
- Những giả định về khả năng có thể xảy ra và hậu quả là vẫn giữ nguyên haythay đổi;
- Xử lý rủi ro có đem lại được kết quả như mong muốn không
*Tổng kết việc thực hiện
Một khi việc xử lý rủi ro đã được hoàn tất, quá trình còn lại là tổng kết Chúng tahọc được gì từ quá trình này? Và liệu chúng ta đã có thể làm được tốt hơn nữa không? ởbước này tất cả các quyết định, hành động, kết luận đều cần phải xem lại Và ta sẽ họcđược từ bất kì sai lầm nào, cũng như thành công nào Các vấn đề cần quan tâm bao gồm:
- Sự phù hợp và tương xứng của việc thực hiện chỉ dẫn;
- Chúng ta đã đạt được mục tiêu một cách hiệu quả như thế nào;
- Chiến lược đã hiệu quả chưa? Rủi ro được giảm chưa;
- Xử lý rủi ro có đem lại được kết quả như mong muốn không;
- Chi phí tính trước có đúng không;
- Tính bền vững của các giả định;
- Liệu có sự dính líu nào trong việc xử lý rủi ro không;
- Phản ứng của dự án, cả trong và ngoài, là gì;
Tài liệu dẫn chứng
Trang 22Cuối bước 6, cần xây dựng được các tài liệu sau:
- Kế hoạch kiểm tra và tổng kết dự án;
- Kết quả của các hành động
1.4 Kinh nghiệm quản trị rủi ro của một số nước trên thế giới
1.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro của hải quan Hoa kỳ
1.4.1.1 Tình hình áp dụng quản trị rủi ro của hải quan Hoa Kỳ
Văn phòng liên lạc tình báo và điều tra (Office of Intelligence and InvestigativeLiaison – OIIL) là đơn vị cấp Cục thuộc Cao ủy Hải quan Hoa kỳ Đơn vị này đảmnhận nhiệm vụ xác định trọng điểm và áp dụng QTRR trong phạm vi toàn ngành.Thông qua việc công tác này OIIL hỗ trợ tất cả đối với các hoạt động trên các tuyếnvận tải: Hàng không, đường bộ và đường biển
Cách tiếp cận của OIIL đối với vấn đề xác định trọng điểm và QTRR là phốihợp đồng thời 3 cấu phần: thông tin điện tử gửi đến trước, phương pháp xác định trọngđiểm phân lớp và hợp tác với các đối tác
- Thứ nhất, Thông tin điện tử gửi đến trước cơ quan Hải quan và Phòng vệ Biêngiới Hoa kỳ (CBP) nhận được (Tàu biển-24h trước khi cập cảng, Tàu hỏa-2h trước khiđến, Xe tải-1h trước khi đến hoặc 30 phút đối với những đối tượng tham gia Chươngtrình thương mại tự do và an toàn (FAST) và Hàng không là 4h trước khi hạ cánh hoặccất cánh tới địa điểm nước ngoài lân cận
- Thứ hai, phương thức tiếp cận xác định trọng điểm phân lớp bao gồm sự thamgia của Sáng kiến an ninh Công ten nơ (CSI) và Trung tâm xác định trọng điểm quốcgia (NTC) và các đơn vị xác định trọng điểm tại địa phương
- Thứ ba, bao gồm sự tham gia của các đối tác gồm các cơ quan quản lý nhưDoanh nghiệp ưu tiên (AEO) và Chương trình cộng tác Hải quan-Doanh nghiệp chốngkhủng bố (C-TPAT), các cơ quan của nhà nước như Bộ Năng lượng, cơ quan Phòngchống Ma túy…và các đối tác nước ngoài
Văn phòng liên lạc tình báo và điều tra có các nhiệm vụ sau:
Trang 23- Quản lý, điều hành trung tâm xác định trọng điểm quốc gia (NTC) bao gồm:điều phối và hỗ trợ tất cả các hoạt động chống khủng bố của Hải quan Hoa Kỳ; hỗ trợ
và đáp ứng các yêu cầu từ các hoạt động tác nghiệp; thực hiện xác định trọng điểmtheo chiến thuật để xác định các đối tượng cần xử lý; phát triển các nguyên tắc của Hệthống xác định trọng điểm tự động; hỗ trợ các chiến dịch dựa trên thông tin tình báo
- Vận hành hệ thống xác định trọng điểm tự động (ATS): Là công cụ hỗ trợquyết định sử dụng thông tin từ các nguồn cơ sở dữ liệu để thực hiện việc phân tíchtoàn diện hơn; sử dụng thông tin quá khứ và phân tích khuynh hướng, đánh giá các tậphợp dữ liệu lớn- rà soát thông tin về tất cả các du khách và hàng hóa Được áp dụngcho mọi phương tiện vận chuyển bằng đường bộ, đường sắt và hàng không; sử dụngcác quy tắc và thuật toán đánh giá rủi ro dựa trên các thông tin tình báo mang tínhchiến lược về các mối đe dọa khủng bố để làm nổi bật các rủi ro tiền ẩn, các quy luật
và các đối tượng; sử dụng ATS để hoàn thiện việc thu thập, sử dụng và phân tích thôngtin nhằm xác định trọng điểm, phân biệt và ngăn chặn các đối tượng khủng bố và vũkhí khủng bố tiềm ẩn xâm nhập vào Hoa Kỳ đồng thời phân biệt các hành vi vi phạmluật pháp Hoa Kỳ
1.4.1.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm quản trị rủi ro của hải quan Hoa Kỳ cho thấy muốn áp dụng
kỹ thuật rủi ro, cần bảo đảm thông tin đầy đủ, đồng bộ, cập nhật, nhất là hệ thốngthông tin cảnh báo trước, thông tin tình báo ở nước ngoài Hệ thống đảm bảo thôngtin này đòi hỏi sự đầu tư lớn về phương tiện, tài chính và con người, nhất là nhữngngười làm nhiệm vụ phân tích phải có trình độ cao Muốn áp dụng kỹ thuật quản trịrủi ro có hiệu quả, Việt Nam phải chú trọng đầu tư xây dựng hệ thống đảm bảo thôngtin ngay từ đầu, nhất là vấn đề tổ chức thu thập thông tin tình báo ở nước ngoài và tổchức hệ thống nối mạng hiệu quả trong nước
Trang 241.4.2 Kinh nghiệm quản trị rủi ro của hải quan Trung Quốc
1.4.2.1 Tình hình áp dụng quản trị rủi ro của hải quan Trung Quốc
Trong bối cảnh kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tăng nhanh (năm 2010 đạt20% so với năm 2009), quản lý rủi ro là công cụ hữu hiệu giúp Hải quan Trung Quốctập trung nguồn lực để triển khai kiểm tra và kiểm soát hải quan, nâng cao hiệu quả vàhiệu lực quản lý
Việc thu thập thông tin rủi ro được hỗ trợ bằng một hệ thống phần mềm chứcnăng mà tất cả các công chức Hải quan ở các vị trí khác nhau đều được phân quyền và
có nhiệm vụ cập nhật thông tin tại chỗ Do vậy, thông tin rủi ro trên hệ thống quản lýrủi ro của Hải quan Trung Quốc có tính toàn diện và kịp thời, giúp nâng cao hiệu quảphân tích rủi ro và có những hướng dẫn nghiệp vụ, chỉ định kiểm tra tập trung, chínhxác cao
Hệ thống quản lý rủi ro được thiết kế để xác định và phân tích các điểm rủi ro ở
cả ba giai đoạn thông quan, trong từng quy trình thủ tục hải quan, trong các thông tin
hồ sơ hải quan của hàng hóa Đồng thời, việc phân tích rủi ro cũng được thực hiện theotừng cấp, với từng phạm vi thông tin phù hợp là cấp Tổng cục, cấp vùng và cấp cửakhẩu Hải quan Trung Quốc sử dụng các phương pháp phân tích khác nhau, cùng với
sự hỗ trợ tối đa của các công cụ công nghệ thông tin, để đưa ra các kết quả có tínhtrọng điểm và đạt hiệu quả cao
Kiểm soát rủi ro cũng là một mắt xích quan trọng trong quản lý rủi ro của Hảiquan Trung Quốc Bằng nghiệp vụ kiểm soát rủi ro, Hải quan sẽ áp dụng các biện phápphù hợp để ngăn ngừa hoặc kiểm soát các rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện cácthủ tục hải quan
Nguyên tắc của kiểm soát rủi ro là: phân lớp để kiểm soát, tối thiểu hóa sự canthiệp từ bên ngoài, phù hợp với thực tế, và ứng dụng công nghệ thông tin Do đó, Hảiquan áp dụng các phương pháp kiểm soát phù hợp với từng đối tượng và từng loại rủi
ro, như: loại bỏ rủi ro, chuyển giao rủi ro, ngăn ngừa rủi ro…
Trang 25Thông qua kiểm soát rủi ro, Hải quan Trung Quốc xây dựng các tiêu chí rủi ro
để đưa vào hệ thống thông quan điện tử (trong năm 2010, Hải quan Thượng Hải đã có
83 lần xem xét và đánh giá lại các tiêu chí rủi ro; điều chỉnh 102 nghìn tiêu chí; bổsung 61 nghìn tiêu chí; và loại bỏ 41 nghìn tiêu chí Trên hệ thống thủ tục hải quan,thường xuyên duy trì 22 nghìn tiêu chí rủi ro trực tuyến)
Bằng cách áp dụng các tiêu chí rủi ro trên hệ thống thông quan điện tử, Hải quanTrung Quốc đã tiến hành tự động hóa nhiều nội dung kiểm tra và xây dựng các chỉ dẫnnghiệp vụ cho công chức hải quan thực hiện trong khi làm thủ tục hải quan cho doanhnghiệp Dựa trên các chỉ dẫn, tùy trường hợp cụ thể, công chức hải quan sẽ buộc phảithực thi theo đúng quy trình đã định (nếu là chỉ dẫn bắt buộc) hoặc tự quyết định biệnpháp nghiệp vụ phù hợp (nếu là chỉ dẫn định hướng)
Ngoài ra, Hải quan Trung Quốc quản lý trọng điểm trước hết theo đối tượngdoanh nghiệp Mỗi đối tượng doanh nghiệp được phân loại và có quy định về chế độthủ tục hải quan hay hình thức – mức độ kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu
Hệ thống quản lý rủi ro của Hải quan Trung Quốc thực hiện thu thập thông tin
về doanh nghiệp trên mọi mặt hoạt động: thời gian và lịch sử hoạt động, lĩnh vực đầu
tư, ngành hàng kinh doanh xuất nhập khẩu, địa điểm và khu vực hoạt động, quy môđầu tư, nhân thân người sở hữu và các nhà quản lý… Từ phân tích thông tin doanhnghiệp, Hải quan Trung Quốc phân chia các doanh nghiệp thành 5 loại: Doanh nghiệp
AA, doanh nghiệp A, doanh nghiệp B, doanh nghiệp C và doanh nghiệp D
Về cơ bản, các doanh nghiệp loại AA và A đều là những doanh nghiệp có quy
mô đầu tư lớn, có lịch sử hoạt động tốt, kinh doanh xuất nhập khẩu các loại hàng hóakhông đánh thuế, có cam kết và bảo đảm bằng tiền (ký quỹ hoặc bảo lãnh của ngânhàng) với Hải quan về tuân thủ pháp luật
Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cũng là đối tượng được phân tích, đánh giátrong quản lý rủi ro theo nhiều tiêu thức phân loại:
Trang 26- Phân loại theo chính sách thuế bao gồm: hàng hóa có thuế, hàng miễn thuế,hàng có ân hạn thuế, hàng tạm miễn thuế, hàng không có thuế và hàng hóa có chínhsách thuế đặc biệt.
- Phân loại theo chính sách thương mại bao gồm: hàng thông thường, hàng cóchế độ đặc thù; hàng hóa là nguyên liệu sản xuất sản phẩm xuất khẩu, hàng tạm quản,hàng quá cảnh và hàng hóa xuất nhập khẩu theo chính sách đặc biệt
- Phân loại theo quy trình thủ tục hải quan bao gồm: thủ tục thông thường; thủtục thông quan nhanh - khai trước và kiểm tra sau thông quan trong thời hạn nhất định;thủ tục hải quan nhanh và thanh lý (thanh khoản) sau khi kết thúc giai đoạn quản lý;thủ tục hải quan nhanh trên cơ sở có bảo đảm và thanh lý sau khi tái xuất - tái nhậphàng hóa; thủ tục hải quan trên cơ sở thủ tục đối với phương tiện vận tải; và thủ tục hảiquan đặc biệt
Với hệ thống quản lý rủi ro như trên, Hải quan Trung Quốc đã và đang triểnkhai rất hiệu quả các mặt hoạt động quản lý hải quan Các bộ phận nghiệp vụ và từngcông chức hải quan được xác định rất rõ phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình vàcùng hợp tác chặt chẽ với nhau để nâng cao hiệu quả hoạt động chung của Ngành14.
1.4.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm của Hải quan Trung Quốc cho thấy muốn áp dụng có hiệu quàcông tác quản trị rủi ro thì việc thu thập thông tin phải được thực hiện theo hệ thốngkhép kín, gồm các bước: thu thập thông tin rủi ro - phân tích rủi ro - kiểm soát rủi ro -đánh giá rủi ro - quyết định xử lý nghiệp vụ Ngoài ra, cần phải xây dựng các tiêu chí
để đánh giá để phân loại doanh nghiệp để có những biện pháp quản lý phù hợp; chọnlựa các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật để có chế độ ưu tiên trong quá trình làmthủ tục hải quan
Trang 271.4.3 Kinh nghiệm quản trị rủi ro của hải quan Thái Lan
1.4.3.1 Tình hình áp dụng quản trị rủi ro của hải quan Thái Lan
Quản lý rủi ro ở hải quan Thái Lan nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ chươngtrình tự động hóa Thái Lan đã thực hiện Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) để kiểm soáttất cả các giao dịch thương mại của doanh nghiệp thông qua áp dụng hệ thống thôngquan bằng máy tính cho hàng xuất khẩu từ năm 1998 Hệ thống này được mở rộng đốivới hàng nhập khẩu và được triển khai đầy đủ tại các cảng biển, cảng hàng không trêntoàn quốc từ năm 2000
Hải quan Thái Lan sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ cácnhu cầu của chính cơ quan hải quan và doanh nghiệp trên hai mảng hoạt động: dịch
vụ công cho nhà xuất - nhập khẩu, bao gồm xử lý tờ khai hàng hoá, xử lý thông quanhàng hoá, thu thuế, hoàn thuế, thu thập số liệu thống kê, quản lý rủi ro và các hoạtđộng văn phòng của cơ quan hải quan Ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạtđộng của hải quan Thái Lan đã giúp cho việc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro thựchiện thuận lợi hơn
Trước hết là hỗ trợ của hệ thống thông tin Trong những năm gần đây, hải quanThái Lan đã chuyển đổi từ EDI sang quan điểm triết lý Hệ thống mở, nghĩa là hệ thống
dữ liệu phải được trao đổi bằng nhiều phương tiện với tất cả các khách hàng (kể cảngười làm kinh doanh và phi kinh doanh), với các đối tác (các cơ quan chính phủ, kể cảtrong và ngoài nước) và các nhân viên để tăng hiểu biết lẫn nhau, nhằm kích thích thái
độ tự giác tuân thủ Thứ hai, để hỗ trợ thông quan theo luồng, hải quan Thái Lan đãtriển khai một thế hệ tự động hoá hải quan mới có tên gọi “ e-Customs” hay hải quanđiện tử Hải quan điện tử sử dụng các dịch vụ của Internet và tuân thủ các chuẩn mực
và hướng dẫn của Công ước Kyoto sửa đổi Các thủ tục và quy trình xử lý chính củahải quan được tái thiết kế như một phần của hệ thống hải quan điện tử, bao gồm cáclĩnh vực ứng dụng chính như kiểm soát hàng hoá, xử lý tờ khai hàng hoá và tính thuế.Hơn nữa, hệ thống tự động hoá mới cũng được tích hợp với các hệ thống của các cơquan chính phủ và các khách hàng, trong đó có cả doanh nghiệp, ngân hàng, các nhà
Trang 28kinh doanh kho ngoại quan và các nhà quản lý khu thương mại tự do Hệ thống mới cóthể xử lý nhiều loại dịch vụ hải quan với độ đảm bảo an toàn, an ninh cao và thời gianphản hồi thông tin nhanh chóng Nhờ đó, khách hàng ở luồng xanh có thể được thôngquan rất nhanh Từ khâu nộp tờ khai hải quan đến khâu ra quyết định kiểm tra thực tếđều được thực hiện tự động bằng máy móc trên cơ sở bộ tiêu chí chọn lọc
Ngoài thực hiện quản lý rủi ro theo các chuẩn mực quốc tế, hiện nay hải quanThái Lan đang thực hiện Chương trình thẻ vàng ưu tiên nhằm tạo thuận lợi cho cácdoanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu Theo quy định, các doanh nghiệpxuất nhập khẩu có lịch sử chấp hành tốt pháp luật, có vị thế đáng tin cậy và thoả mãnnhững tiêu chí do hải quan Thái Lan đưa ra sẽ được hưởng chế độ thẻ vàng ưu tiêncùng nhiều quyền lợi trong quá trình làm thủ tục hải quan Những doanh nghiệp thamgia phải đáp ứng đủ các điều kiện: là pháp nhân có vốn đăng ký từ 05 triệu Baht trởlên; tham gia hoạt động xuất nhập khẩu ít nhất là 03 năm và thực hiện các thủ tục hảiquan thông qua hệ thống tự động; là thành viên của một trong các tổ chức có uy tín ởThái Lan và được các tổ chức này đứng ra chứng nhận tình trạng tài chính của doanhnghiệp xin tham gia chương trình; có quá trình hoạt động 03 năm (tính từ ngày nộp đơnxin tham gia trở về trước) không vi phạm luật pháp trong lĩnh vực hải quan và các lĩnhvực có liên quan khác Bộ hồ sơ tối thiểu phải nộp để tham gia chương trình gồm: đơn
đề nghị theo Thông báo số 8/2542 của cơ quan hải quan; công văn của Bộ Thương mạichứng thực việc đăng ký kinh doanh của pháp nhân; bản xác nhận tình trạng tài chínhcủa một trong số các tổ chức được quy định tại điểm 1.4, Thông báo số 8/2542 của cơquan hải quan; công văn chứng nhận đăng ký thuế VAT, giấy phép hoạt động, giấychứng nhận của Cơ quan Bất động sản Công nghiệp Thái Lan; báo cáo tài chính trong
03 năm gần nhất; bản sao giấy chứng minh thư của giám đốc doanh nghiệp; danh sách
cổ đông/góp vốn của doanh nghiệp; bảng thống kê khối lượng hàng hoá làm thủ tụcxuất nhập khẩu và doanh số bán hàng trong nước của doanh nghiệp; bản kiểm kênguyên liệu thô tồn kho và một số tài liệu có liên quan
Những doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia chương trình thẻ vàng ưu tiên nộpđơn đề nghị cùng các tài liệu có liên quan lên Vụ Trị giá và các Quy trình tiêu chuẩn.Sau khi được chấp thuận là thành viên của chương trình thẻ vàng ưu tiên, hải quan Thái
Trang 29Lan sẽ cấp cho doanh nghiệp giấy chứng nhận để hưởng các ưu đãi trong quá trình giaodịch với cơ quan hải quan
Các doanh nghiệp được cấp thẻ vàng ưu tiên sẽ phải tuân thủ đầy đủ các nghĩa
vụ sau: tuân thủ các quy định pháp luật hiện tại và tương lai trong lĩnh vực hải quan; kýcam kết và nộp chứng nhận bảo lãnh ngân hàng hoặc giấy tờ tương đương cho cơ quanHải quan với giá trị đảm bảo 02 triệu baht Số tiền đảm bảo này sẽ chỉ còn 01 triệu bahtđối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa là thành viên chương trình thẻ vàng ưu tiênvừa là thành viên của Dự án đối tác hải quan minh bạch; lưu giữ hồ sơ khai báo hảiquan gốc và những chứng từ liên quan ít nhất là 05 năm
Lợi ích của doanh nghiệp được hưởng chế độ thẻ vàng ưu tiên được thể hiệnqua: được đưa vào “luồng xanh” khi làm thủ tục nhập khẩu, xuất khẩu; được nộp bảnlược khai hàng hoá sau khi đã thông quan hàng; hàng hoá được miễn kiểm tra trừtrường hợp bị kiểm tra theo xác suất ngẫu nhiên; số tiền hoàn thuế, bồi thường tiềnthuế và lệ phí được chấp thuận ngay khi nộp đơn yêu cầu
Khi phát hiện doanh nghiệp được hưởng chế độ thẻ vàng ưu tiên vi phạmnghiêm trọng pháp luật về hải quan và các quy định khác có liên quan hoặc cố ý trốntránh nghĩa vụ thuế, lệ phí hoặc gian lận trong quá trình đề nghị hoàn, bồi thường tiềnthuế, lệ phí, cơ quan hải quan có quyền áp dụng những chế tài xử phạt nặng nhất đốivới doanh nghiệp15
1.4.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm quản trị rủi ro của hải quan Thái Lan cho thấy cần áp dụng cáchình thức quản trị rủi ro đa dạng, phong phú trong quy trình nghiệp vụ hải quan nóichung, trong thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu nói riêng Bêncạnh cách phân loại luồng xanh, luồng vàng, luồng đỏ theo bộ tiêu chí chuẩn, cầnnghiên cứu thêm các sáng kiến kiểu “Chương trình ưu đãi thẻ vàng” để khuyến khíchmạnh hơn thái độ tuân thủ của doanh nghiệp, qua đó nâng cao tầm ảnh hưởng của quảntrị rủi ro
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
2.1 Khái quát chung về quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam
2.1.1 Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ ngành Hải quan
2.1.1.1Cơ cấu tổ chức bộ máy của ngành Hải quan
Các hình 2.1 minh họa về cơ cấu tổ chức của Hải quan việt Nam và của Tổngcục Hải quan
Hải quan Việt Nam được chia thành 03 cấp gồm: Tổng cục hải quan; 33 Cục Hảiquan tỉnh, thành phố; 94 Chi cục Hải quan cửa khẩu, 55 Chi cục Hải quan nội địa, 34khu kiểm tra hải quan, 01 đội tuần tra biển
* Cơ cấu Tổng cục Hải quan gồm các Vụ, Cục và đơn vị sự nghiệp:
- 08 Vụ không có vai trò quản trị: Vụ Kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩu; VụGiám sát và quản lý hải quan; Vụ tổ chức cán bộ; Vụ Pháp chế; Vụ kế hoạch tài chính;
Vụ hợp tác quốc tế; Văn phòng Tổng cục Hải quan;
- 03 Cục có vai trò quản trị: Cục Điều tra chống buôn lậu; Cục Kiểm tra sauthông quan; Cục Công nghệ thông tin và Thống kê Hải quan;
- 06 đơn vị sự nghiệp: Trung tâm bồi dưỡng cán bộ Hải quan; Viện Nghiên cứuHải quan; Báo Hải quan; 03 Trung tâm phân tích phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu
* Các Cục hải quan tỉnh, thành phố được thành lập theo khu vực địa lý Nhìnchung mỗi Cục đều chịu trách nhiệm quản lý các Chi cục trong tỉnh, thành phố ngoạitrừ một số Cục lớn chịu trách nhiệm cả một số tỉnh bên ngoài Các Cục Hải quan tỉnh,thành phố đều có cơ cấu phòng, ban tương tự như nhau gồm: Phòng hành chính, quảntrị; Phòng Nghiệp vụ; Phòng tổ chức cán bộ; Phòng kiểm tra sau thông quan; Phòngtham mưu xử lý, chống buôn lậu; Phòng trị giá hải quan; Trung tâm dữ liệu và CNTT
Trên thực tế, có thể thấy rằng cơ cấu phòng ban ở các Cục Hải quan tỉnh, thành phốđều giống như cơ cấu của Tổng cục Hải quan, ngoại trừ một vài chức năng trung tâm
Trang 31Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan
Ở cấp độ chi cục, có từ 2 đến 8 đội công tác, phụ thuộc vào quy mô và mức độhoạt động của các đơn vị
Ban cải cách hiện đại hóa hải quan
Văn phòng Tổng cục
Phó tổng cục trưởng
Điều tra chống buôn lậu
Cục CNTT và
TK Hải quan
Vụ Giám sát quản lý
Phó tổng cục trưởng
Vụ tổ chức cán bộ
Vụ pháp chế
Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ
Phó tổng cục trưởng
Vụ hợp tác quốc tế
Viện nghiên cứu HQ
Báo Hải quan
Trung tâm phân tích phân loại miền Bắc
Trung tâm phân tích phân loại miền Trung
Trung tâm phân tích phân loại miền Nam
Trang 322.1.1.2 Chức năng của ngành Hải quan
Chức năng của ngành Hải quan gồm:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển Hảiquan Việt Nam;
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hải quan;
- Hướng dẫn, thực hiện và tuyên truyền pháp luật hải quan;
- Quy định về tổ chức và hoạt động của Hải quan;
- Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ công chức hải quan;
- Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, phương pháp quản lýhải quan hiện đại;
- Thống kê nhà nước về hải quan;
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật vềhải quan;
- Hợp tác quốc tế về hải quan16
2.1.1.3Nhiệm vụ của ngành Hải quan
Theo quy định của Luật Hải quan, Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiệnkiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyểntrái phép hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoáxuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương,biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuấtcảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu17
Địa bàn hoạt động hải quan bao gồm các khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đườngsắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụngquốc tế, các địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoạiquan, kho bảo thuế, khu vực ưu đãi hải quan, bưu điện quốc tế, các địa điểm kiểm trahàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ và trên vùng biển thực hiện quyền chủquyền của Việt Nam, trụ sở doanh nghiệp khi tiến hành kiểm tra sau thông quan và các
Trang 33địa bàn hoạt động hải quan khác theo quy định của pháp luật Trong địa bàn hoạt độnghải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hànghoá, phương tiện vận tải.
2.1.2 Sự ra đời của hải quan điện tử ở Việt Nam
2.1.2.1 Cơ sở pháp lý ra đời hải quan điện tử ở Việt Nam
Tính đến năm 2005, cơ sở pháp lý cho việc triển khai thủ tục hải quan điện tử ởViệt Nam đã được hoàn tất mà quan trọng hơn cả là sự ra đời của Luật Giao dịch điện
tử ngày 29/11/2005 Thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam được chính thức ra đời và ápdụng với việc ban hành Quyết định 149/2005/QĐ-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2005 củaThủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử; Quyết định103/2009/QĐ-TTg ngày 12 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Quyết địnhsửa đổi, bổ sung một số điều Quyết định 149/2005/QĐ-TTg; Thông tư số222/2009/TT-BTC ngày 25 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thí điểmthủ tục hải quan điện tử
2.1.2.2 Thực tế ra đời hải quan điện tử ở Việt Nam
Việc triển khai áp dụng thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại các Chi cục hảiquan từ năm 2005 đánh dấu sự ra đời trên thực tế của hải quan điện tử ở Việt Nam Thủtục hải quan điện tử thực hiện thí điểm gồm 4 nội dung chính như sau:
Thủ tục Hải quan điện tử được thực hiện bằng các phương tiện điện tử thôngqua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan Hải quan
Hồ sơ hải quan điện tử đảm bảo sự toàn vẹn, có giá trị pháp lý như hồ sơ hảiquan giấy
Thực hiện các quy định về việc người khai hải quan được tự nộp khai, tự nộp thuế
và các khoản thu khác (áp dụng nộp hàng tháng đối với lệ phí làm thủ tục hải quan)
Cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan trên cơ sở hồ sơ hải quan điện tử dodoanh nghiệp gửi tới; quyết định thông quan dựa trên hồ sơ điện tử do doanh nghiệp
Trang 34triển khai; quyết định việc kiểm tra hải quan dựa trên kết quả phân tích thông tin từ cơ
sở dữ liệu của hải quan và các nguồn thông tin khác
Thời gian, địa điểm thực hiện thí điểm được xác định gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn I (năm 2005) Tổ chức thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tạiCục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh và Cục Hải quan thành phố Hải Phòng
Giai đoạn II (từ ngày 01/01/2006 đến ngày 30/8/2006)
Sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện thí điểm giai đoạn I
Lựa chọn thêm một số Cục Hải quan tỉnh, thành phố có đủ điều kiện để thựchiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử
Giai đoạn 3 (từ tháng 9/2006 đến tháng 02/2007)
Tổng kết, đánh giá, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện thí điểm
Địa điểm, thời gian thực hiện thí điểm sau đó được bổ sung như sau :
Địa điểm thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Cục Hải quan thành phốHải Phòng, Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh, Cục Hải quan thành phố Hà Nội,Cục Hải quan thành phố Đà Nẵng, Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai, Cục Hải quan tỉnhBình Dương, Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn, Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh, Cục Hảiquan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi và Cục Hải quan cáctỉnh, thành phố khác theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính
Thời gian thực hiện thí điểm đến hết năm 2012
Cuối quý III năm 2012, Bộ Tài chính báo cáo tổng kết, đánh giá việc thí điểm vàkiến nghị thực hiện thủ tục hải quan điện tử cho giai đoạn tiếp theo trình Thủ tướngChính phủ
Trang 352.1.3 Sự cần thiết có quản trị rủi ro trong Thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam
2.1.1 Thủ tục hải quan điện tử với yêu cầu của hàng hóa xuất nhập khẩu thương mại
Chặng đường xuất nhập khẩu của Việt Nam trong hơn một thập kỷ qua cho thấynhững bước tiến ngoạn mục Bước vào năm đầu tiên của thế kỷ 21 (năm 2001), tổng kimngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mới chỉ ở con số khiêm tốn 31,2 tỷ USD, năm 2006đạt 84 tỷ USD Tháng 01/2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chứcthương mại thế giới (WTO) tạo cơ hội cho hàng hoá Việt Nam xuất khẩu ra thị trườngthế giới phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, đồng thời cũng tạo điều kiện cho hànghoá các nước thâm nhập vào thị trường Việt Nam, vì thế kim ngạch xuất nhập khẩu hànghóa cũng tăng lên nhanh chóng Cụ thể: năm 2007 đạt 111 tỷ USD, năm 2008 đạt 143 tỷUSD, năm 2009 đạt 127 tỷ USD, năm 2010 đạt 157 tỷ USD
Năm 2011 và 2012, mặc dù chịu tác động của khủng hoảng và suy thoái kinh tếtoàn cầu nhưng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tiếp tục xu hướng tăng với hàng loạt mốcđáng nhớ trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam như: năm 2011 đạt 203
tỷ USD và năm 2012 đạt 228 tỷ USD
Hình 2.2: Biểu đồ tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2006
Đến năm 2012
Trang 36Cùng với việc tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, số lượng doanh nghiệp được cấp
mã số trên thực tế có tham gia hoạt động xuất nhập khẩu cũng tăng vọt với tốc độ tăngtrưởng bình quân 28% và đã đạt con số hơn 60 nghìn
Tổng số tờ khai hàng hoá xuất nhập khẩu cũng theo đó tăng nhanh, đặc biệt làtrong những năm gần đây Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, năm 2009tổng số tờ khai hàng hoá xuất nhập khẩu đạt 3,512 nghìn tờ, năm 2010 đạt 4,115 nghìn
tờ, năm 2011 đạt 4,625 nghìn tờ, năm 2012 đạt 5.186 nghìn tờ
Tất cả những vấn đề trên đây là một áp lực đối với hải quan Việt Nam Thủ tụchải quan điện tử ở Việt Nam phải triển khai như thế nào để vừa có thể thông quannhanh lại vừa đảm bảo thực thi pháp luật hải quan
2.1.2 Sự cần thiết có quản trị rủi ro trong Thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam
Mục tiêu chính của cơ quan hải quan là nâng cao kết quả việc ngăn chặn trốnthuế, chống buôn lậu và gian lận thương mại Với một nguồn lực có hạn, hải quankhông thể kiểm tra khám xét tất cả các lô hàng xuất nhập khẩu Vì vậy, để thực hiệnchức năng của mình, hải quan cần tiến hành kiểm tra một cách có chọn lọc và việc ápdụng quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan là một yêu cầu tất yếu
Việc đánh giá rủi ro và sàng lọc đối tượng kiểm tra nhằm xác định những lôhàng hay những loại chứng từ cần kiểm tra vẫn có thể thực hiện được khi áp dụng thủtục hải quan truyền thống, tuy nhiên, trong thủ tục hải quan điện tử, công việc này đượctiến hành nhanh chóng kịp thời, chính xác và có cơ sở hơn rất nhiều Do vậy, đối vớiViệt Nam là nước đã áp dụng thủ tục hải quan điện tử, thì quản trị rủi ro càng cần thiết
và có ý nghĩa càng lớn
Tiếp nhận, trao đổi, xử lý thông tin trước khi hàng đến/đi cũng là một nội dunghết sức quan trọng trong thủ tục hải quan điện tử Thông qua quá trình này, cơ quan hảiquan có thể thẩm tra các thông tin liên quan đến lô hàng và bằng biện pháp quản trị rủi
ro, cơ quan hải quan sẽ có thể quyết định thông quan trước khi những đối tượng nàyđến hoặc đi khỏi lãnh thổ hải quan vì vậy tạo điều kiện rất thuận lợi cho luồng lưuchuyển hàng hóa Áp dụng quản trị rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan điện tử làmột yêu cầu tất yếu
Trang 37Quản trị rủi ro trong Thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam còn đặc biệt cần thiết
vì nó giúp Việt Nam thực hiện quá trình hiện đại hóa hải quan cũng như thực hiện cáccam kết quốc tế về hải quan Quyết định số 810/QĐ-BTC ngày 16/3/2004 về kế hoạchcải cách phát triển hiện đại hoá ngành Hải quan đã cụ thể hoá chương trình, kế hoạchhiện đại hoá Ngành Hải quan, trong đó quy định:
- Xây dựng hệ thống đánh giá rủi ro liên quan đến hàng hoá xuất nhập khẩu, doanhnghiệp, hành khách, và tập trung nhân lực, vật lực vào xử lý các lĩnh vực có độ rủi ro cao;
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung, thống nhất, đảm bảo thông tin đầy
đủ, toàn diện và chính xác; đặc biệt, tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống thôngtin tình báo nhằm hỗ trợ cho quản lý rủi ro của toàn Ngành
Trong công ước KYOTO sửa đổi, bổ sung năm 1996 có khuyến nghị:
- Tiêu chuẩn 6.3 Khi thực hiện kiểm tra hải quan, cơ quan Hải quan phải ápdụng kỹ thuật đánh giá rủi ro
- Tiêu chuẩn 6.4 Cơ quan Hải quan phải sử dụng kỹ thuật phân tích rủi ro đểxác định những người và hàng hoá, kể cả phương tiện vận tải cần được kiểm tra cũngnhư mức độ kiểm tra
- Tiêu chuẩn 6.5 Cơ quan Hải quan phải xây dựng một chiến lược xác định mức
độ tuân thủ luật pháp để hỗ trợ cho việc đánh giá khả năng vi phạm
Như vậy, để đáp ứng được tốt nhất quá trình thông quan hàng hoá, các quy định,công ước quốc tế và các chương trình cải cách đổi mới đề ra thì việc áp dụng quản lýrủi ro trong quy trình thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam là một yêu cầu tất yếu
2.2 Hoạt động quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam
2.2.1 Những quy định chung về áp dụng quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan
điện tử ở Việt Nam
2.2.1.1Nguyên tắc áp dụng quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam
Quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam được áp dụng trên cơ
sở các nguyên tắc sau:
Trang 38Thứ nhất: Cơ quan hải quan áp dụng quản lý rủi ro nhằm tạo thuận lợi đối vớicác tổ chức, cá nhân chấp hành tốt pháp luật về hải quan; đồng thời kiểm soát chặt chẽcác đối tượng không tuân thủ các quy định của pháp luật.
Thứ hai: Cơ quan hải quan thực hiện thu thập, phân tích thông tin, đánh giá rủi
ro ở các giai đoạn trước, trong và sau thông quan theo các tiêu chí được xác định trongtừng thời điểm, phù hợp với quy định của pháp luật về hải quan, điều kiện và khả năngthực tế để ra quyết định việc kiểm tra, giám sát, kiểm tra sau thông quan, kiểm soát hảiquan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh,nhập cảnh, quá cảnh theo các trường hợp dưới đây :
a) Không tuân thủ pháp luật hải quan;
b) Có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan;
c) Kết quả phân tích, đánh giá xác định mức độ rủi ro cao;
d) Lựa chọn ngẫu nhiên
Thứ ba: Cơ quan hải quan áp dụng miễn kiểm tra đối với các đối tượng khôngthuộc các trường hợp quy nêu trên
Thứ tư: Cơ quan hải quan áp dụng quản lý rủi ro theo quy trình và các quy định
về quyền hạn, trách nhiệm được quy định tại Quyết định 48/2008/QĐ-BTC về việcBan hành Quy định áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan,
Thứ năm: Các quy trình nghiệp vụ hải quan phải được xây dựng, áp dụng dựatrên các quy định về áp dụng quản lý rủi ro18
2.2.1.2 Đối tượng áp dụng quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam
Để có thông tin phục vụ quản trị rủi ro cơ quan Hải quan thu thập, phân tích,đánh giá thông tin về các đối tượng sau:
Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá,xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải hoặc các tổ chức, cá nhân liên quan;
Nơi xuất xứ hàng hoá nhập khẩu;
Trang 39 Quốc gia, khu vực xuất nhập khẩu hàng hoá hoặc là địa điểm trung chuyểnhàng hoá ra vào Việt Nam;
Thông tin và chính sách quản lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với hànghoá xuất khẩu, nhập khẩu;
Quy trình thủ tục hải quan và các hoạt động liên quan đến hàng hoá xuất khẩu,nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh (hàng hóa, trịgiá, thanh toán, phương tiện vận tải, địa điểm làm thủ tục, );
Trên cơ sở thu thập thông tin phục vụ quản trị rủi ro nêu trên, đối tượng quản trịrủi ro trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam được xác định gồm các trường hợp sau:
Đối tượng được xác định từ kết quả phân tích, đánh giá rủi ro của hệ thốngthông tin hỗ trợ quản lý rủi ro;
Đối tượng theo hồ sơ quản lý rủi ro;
Đối tượng được xác định từ kết quả thu thập, phân tích thông tin nghiệp vụhải quan;
Đối tượng có dấu hiệu rủi ro;
Không có thông tin hoặc thông tin không rõ ràng về hàng hoá xuất khẩu, nhậpkhẩu, tổ chức, cá nhân thực hiện hoặc có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩuhàng hoá
2.2.1.3Phạm vi áp dụng quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam
Quản trị rủi ro được áp dụng trong nghiệp vụ hải quan, bao gồm các lĩnh vực:
Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hảiquan phải thực hiện theo quy định của Luật Hải quan đối với hàng hoá, phương tiệnvận tải;
Kiểm tra hải quan là việc kiểm tra hồ sơ hải quan, các chứng từ liên quan vàkiểm tra thực tế hàng hoá, phương tiện vận tải do cơ quan hải quan thực hiện;
Trang 40 Giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để bảođảm sự nguyên trạng của hàng hoá, phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lýhải quan;
Kiểm soát hải quan là các biện pháp tuần tra, điều tra hoặc biện pháp nghiệp
vụ khác do cơ quan hải quan áp dụng để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phéphàng hoá qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan;
Kiểm tra sau thông quan: trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạmpháp luật hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan, cơ quanhải quan được áp dụng biện pháp kiểm tra sau thông quan
Các hoạt động nghiệp vụ khác liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu,quá cảnh hàng hoá, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải
Trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam phạm vi và lĩnh vực áp dụng quản trịrủi ro bao gồm:
Quy trình thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải đường biển xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cảng; bao gồm vi phạm các quy định về:
- Chính sách quản lý đối với hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu;
- An ninh, môi trường, sức khỏe cộng đồng;
- Hàng hoá quản lý theo quy định công ước CITES và công ước BASEL;
- Các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại khác
Quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu bao gồm vi phạm các quy định về:
- Khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;
- Hồ sơ, chứng từ khai hải quan;
- Trị giá hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;
- Phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;