Các ngân hàng thương mại cổ phần có hoạt động gần gũi nhất với nhân dân và nền kinh tế, nền kinh tế càng phát triển, hoạt động dịch vụ của ngân hàng cổ phần càng đi sâu vào tận cùng nhữn
Trang 1GIỚI THIỆU
1 Đặt vấn đề
Trong các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng thì tín dụng chiếm tỷ trọng cao nhất, mang lại nhiều lợi nhuận nhất Đồng thời tín dụng cũng là hoạt động kinh doanh phức tạp nhất so với các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng thương mại (NHTM), đem lại nhiều rủi ro nhất cho ngân hàng
Bên cạnh đó, công tác quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các ngân hàng nói riêng và cả hệ thống tài chính nói chung Việc đánh giá, thẩm định và quản lý tốt các khoản cho vay, các khoản dự định giải ngân sẽ hạn chế những rủi ro tín dụng mà ngân hàng sẽ gặp phải, và tất yếu sẽ giảm bớt nợ xấu cho Ngân hàng Vì thế, làm thế nào để quản trị rủi ro hoạt động cho vay có hiệu quả đang là một vấn đề mà các ngân hàng thương mại rất quan tâm, nhất là trong tình hình kinh tế tài chính ngân hàng toàn cầu đầy biến động như hiện nay
Trong những năm vừa qua, tỷ lệ nợ xấu của các NHTM nói chung và Navibank nói riêng có dấu hiệu tăng cao vượt quá tỷ lệ cho phép theo quy định của Ngân hàng nhà nước Vậy đâu là nguyên nhân? Làm thế nào để nâng cao chất lượng quản trị các khoản vay trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Nam Việt? Đây là một vấn đề đang được ban lãnh đạo Navibank đặc biệt quan tâm
Trong bối cảnh trên, là một trong những nhân viên làm việc tại ngân hàng TMCP
Nam Việt, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi
ro trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Nam Việt” làm đề tài nghiên
cứu cho luận văn tốt nghiệp
2 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển biến tích cực cả về tốc độ tăng trưởng lẫn quy mô Mặt khác chúng ta vừa mới gia nhập WTO tháng 11/2006, hoạt động giao thương buôn bán giữa các vùng lãnh thổ trong nước, khu vực và rộng hơn là giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới không ngừng sôi động, thường xuyên hơn để đáp ứng nhu cầu thanh toán trao đổi ngoại tệ
Trang 2và luân chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, các ngân hàng xuất hiện ngày càng nhiều nhằm thực hiện chức năng trung gian tài chính Chính vì lẽ đó, ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp của đất nước, bởi nó vừa là huyết mạch của nền kinh tế vừa là động lực tạo ra nhịp độ phát triển nhanh và bền vững Các ngân hàng thương mại cổ phần có hoạt động gần gũi nhất với nhân dân và nền kinh tế, nền kinh tế càng phát triển, hoạt động dịch vụ của ngân hàng cổ phần càng đi sâu vào tận cùng những ngõ ngách của nền kinh tế và đời sống con người, mọi công dân đều chịu tác động của ngân hàng, dù họ là khách hàng gửi tiền, một người vay hay đơn giản là một người đang làm việc cho một doanh nghiệp có vay vốn và sử dụng các nghiệp vụ ngân hàng
Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng không đơn giản vì hiện nay có rất nhiều ngân hàng, tổ chức tín dụng của Nhà nước, nước ngoài đầu tư, các ngân hàng cổ phần của tư nhân đã tạo ra một môi trường cạnh tranh khá gay gắt Bên cạnh đó, việc xoá bỏ hoàn toàn hàng rào bảo hộ đối với ngành tài chính trong
xu thế hội nhập tất yếu vào các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới đem đến những thách thức rất lớn cho hệ thống ngân hàng trong thời gian tới, thậm chí sẽ có không
ít ngân hàng phải chấp nhận bị thâu tóm, sáp nhập hoặc “rút lui” khỏi thị trường nếu không đủ sức cạnh tranh với hệ thống ngân hàng nước ngoài
Riêng tại Thành Phố Hồ Chí Minh, một địa bàn kinh tế trọng điểm của đất nước, với tiềm năng phát triển kinh tế rất lớn và đó chính là sự cần thiết, tất yếu phải phát triển dịch vụ ngân hàng để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nơi đây Do vậy mà rất nhiều ngân hàng thương mại kể cả quốc doanh và cổ phần đặt trụ sở hoặc mở chi nhánh hoạt động ở địa bàn này Trong một địa bàn tương đối rộng về diện tích tuy nhiên mật độ ngân hàng dày đặc, có thể nói môi trường cạnh tranh tại địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh là quyết liệt và không thua kém bất kỳ địa phương nào trong cả nước
Sự phát triển là một quy trình vận động không ngừng theo quy luật đào thải để có thể tồn tại và phát triển với nhiều thách thức, cạnh tranh, hội nhập đòi hỏi mỗi ngân hàng cần phải có những “khoảng lặng” để tự đánh giá và tìm ra những mặt
Trang 3mạnh để phát huy, các điểm yếu khó khăn cần khắc phục nhằm tự hoàn thiện Chính
vì vậy một việc làm hết sức quan trọng, cần thiết và phải làm thường xuyên đó là phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng mình, trong đó hoạt động tín dụng là quan trọng nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng Huy động nhiều vốn cho vay hay không là một vấn đề nhưng sử dụng vốn đó có hiệu quả hay không lại là một vấn đề khác Rủi ro hoạt động của ngân hàng là rất lớn, nó không chỉ ảnh hưởng đến một ngân hàng mà cón phản ứng dây chuyền từ ngân hàng này đến ngân hàng khác, đến toàn bộ hệ thống ngân hàng của cả nước, thậm chí nó còn ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội của nước đó mà còn lan sang các quốc gia khác Vì vậy, không chỉ có vốn là có thể tuỳ tiện để khách hàng vay mà phải sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả và hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất có thể được
Nhận thức được tầm quan trọng đó, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra các quy định có tính định hướng cao cho các Ngân hàng thương mại Quyết định 403/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 về phân loại nợ, trích lập dự phòng của ngân hàng, Quyết định 457//QĐ-NHNN ngày 19/04/2005 về các tỷ lệ an toàn trong hoạt động của các
tổ chức tín dụng Các quy định này đã được Ngân hàng Nhà nước xây dựng dựa trên định hướng của những chuẩn mực và thông lê quốc tế, trong đó có dựa trên định hướng của những chuẩn mực và thông lệ quốc tế, trong đó vận dụng một số nguyên tắt của Ủy ban Basel tạo tiền đề cho hện thống Ngân hàng gia nhập thị trường tài chính ngân hàng thế giới Do đó, đây là đề tài dựa trên các quy định mới của Ngân hàng nhà nước để phân tích, đánh giá đúng thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Nam Việt nhằm tìn ra giải pháp hoàn thiện công tác công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại ngân hàng cho hiệu quả hơn nhằm để theo sát chuẩn mực quốc tế chuẩn bị cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 43 Mục tiêu, nội dung, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân Hàng
TMCP Nam Việt, nêu ra những nguyên nhân của thực trạng trên
- Một số giải pháp để hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong hoạt động cho
vay tại Ngân Hàng TMCP Nam Việt
Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan về tín dụng và rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
- Hoạt động quản trị rủi ro trong cho vay tại tại Ngân Hàng TMCP Nam Việt
- Thực trạng cho vay và công tác quản trị rủi ro các khoản vay tại ngân hàng TMCP Nam Việt
- Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại ngân hàng TMCP Nam Việt
Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân Hàng TMCP Nam Việt năm
2010, 2011, 2012
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp để rút ra các đánh giá về thực trạng quản trị rủi ro trong cho vay tại Ngân hàng TMCP Nam Việt
4 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Một số mô hình quản trị rủi ro tín dụng được sử dụng tại các ngân hàng Việt Nam hiện nay
Mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung
- Mô hình này có sự tách biệt một cách độc lập giữa 3 chức năng: quản lý rủi
ro, kinh doanh và tác nghiệp Sự tách biệt giữa 3 chức năng nhằm mục tiêu hàng đầu là giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy được tối đa
kỹ năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng
Điểm mạnh:
Trang 5• Quản lý rủi ro một cách hệ thống trên quy mô toàn ngân hàng, đảm bảo tính cạnh tranh lâu dài
• Thiết lập và duy trì môi trường quản lý rủi ro đồng bộ, phù hợp với quy trình quản lý gắn với hoạt động của các bộ phận kinh doanh nâng cao năng lực đo lường giám sát rủi ro
• Xây dựng chính sách quản lý rủi ro thống nhất cho toàn hệ thống
• Thích hợp với ngân hàng quy mô lớn
Mô hình quản lý rủi ro tín dụng phân tán
- Mô hình này chưa có sự tách bạch giữa chức năng quản lý rủi ro, kinh doanh
và tác nghiệp Trong đó, phòng tín dụng của ngân hàng thực hiện đầy đủ 3 chức năng và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản vay
Điểm mạnh:
• Gọn nhẹ
• Cơ cấu tổ chức đơn giản
• Thích hợp với ngân hàng quy mô nhỏ
Điểm yếu:
• Nhiều công việc tập trung hết một nơi, thiếu sự chuyên sâu
• Việc quản lý hoạt động tín dụng đều theo phương thức từ xa dựa trên số liệu chi nhánh báo cáo lên hoặc quản lý gián tiếp thông qua chính sách tín dụng
Trang 6* Định hướng áp dụng mô hình quản lý rủi ro
- Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của hoạt động tín dụng, theo khuyến cáo của
ủy ban Basel và tuân thủ thông lệ quốc tế, căn cứ vào các điều kiện chung về pháp lý, thị trường, công nghệ, con người, mô hình các NHTM VN khuyến nghị nên áp dụng mô hình quản lý rủi ro tập trung
- Tại Hội sở chính: tách bạch chức năng ra quyết định tín dụng với chức năng quản lý tín dụng trên cơ sở phân định trách nhiệm và chức năng rõ ràng giữa các bộ phận thẩm định, phê duyệt tín dụng, quản lý tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng
- Tại chi nhánh: Tiến hành tách các bộ phận, chức năng bán hàng (tiếp xúc khách hàng, tiếp thị…), chức năng phân tích tín dụng (phân tích, thẩm định,
dự báo, đánh giá khách hàng…) và chức năng tác nghiệp (xử lý hồ sơ, theo dõi, giám sát khoản vay, thu nợ, thu lãi…)
- Với mô hình này, bộ phận quan hệ khách hàng chịu trách nhiệm tìm kiếm, phát triển và chăm sóc khách hàng Bộ phận này sẽ tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, hướng dẫn khách hàng hoàn thiện hồ sơ vay vốn, sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ và các thông tin liên quan đến khách hàng cho bộ phận phân tích tín dụng
- Bộ phận phân tích tín dụng kiểm tra thông tin, thu thập các thông tin bổ sung qua các kênh thông tin lưu trữ ngân hàng, hỏi tin qua CIC, tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng… Trên cơ sở thông tin đó, bộ phận phân tích tín dụng thực hiện phân tích, đánh giá toàn bộ các nội dung từ tình hình chung về khách hàng, tình hình tài chính, phương án, dự án vay vốn đến các nội dung về đảm bảo tiền vay Bộ phận phân tích tín dụng trực tiếp báo cáo kết quả, phân tích đánh giá khách hàng lên người phê duyệt tín dụng Kết quả phê duyệt tín dụng sau đó sẽ được chuyển cho bộ phận phân tích tín dụng để lưu trữ thông tin đồng thời được chuyển cho bộ phận quan hệ khách hàng để thực hiện các khâu tiếp theo trong quy trình tín dụng
Trang 7Tổng quan về các đề tại có hiện nay đã được nghiên cứu
- Nguyễn Hồng Diệu Hương – Đại học Kinh Tế Quốc Dân, Nghiên cứu về
Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Techcombank – Chi Nhánh Đà nẵng (năm 2012) Đề tài nghiên cứu các vấn đề sau:
Phân tích thực trạng, nhận dạng ra một số rủi ro tín dụng và đưa ra một
số giải pháp tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Techcombank – Chi Nhánh Đà nẵng
- Nguyễn Hồng Thái – Đại học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh, Nghiên cứu
về Quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân Hàng Thương Mại
Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam (năm 2010) Đề tài nghiên cứu các vấn đề
- Lâm Ngọc Kiều – Đại Học Kinh Tế Hồ Chí Minh, Nghiên cứu Quản trị rủi
ro trong hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu Tư Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh (năm 2010) Đề tài nghiên cứu các vấn đề
Trên cơ sở đó Phân tích thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro
Trang 8tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tƣ và Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh
* Điểm khác của đề tài nghiên cứu
Điểm khác của đề tài này: ứng dụng các lý thuyết Basel giải thích và đƣa ra một số giải pháp mới và đề cập sâu hơn về công tác quản trị rủi ro trong công tác cho vay tại Ngân Hàng TMCP Nam Việt nói chung và từ đó áp dụng vào quản trị rủi
ro trong cho vay tại các Ngân hàng TMCP khác
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO
VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tín dụng và rủi ro trong hoạt động cho vay tại của ngân hàng thương mại 1.1.1 Khái niệm và phân loại hoạt động cho vay
1.1.1.1 Khái niệm hoạt động cho vay
Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ chữ latinh là Credo (tin tưởng – tín nhiệm) Nhưng trong quan hệ tài chính hoặc cuộc sống, tuỳ theo góc độ nhìn nhận của mỗi người mà tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ, tín dụng là sự chuyển dịch quỹ cho vay từ người cho vay sang người đi vay
Xét trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ
- Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết
giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và
lãi (Luật các TCTD 47/2010/QH12)
Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là
cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản, động sản)
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, người cho vay khi chuyển giao tài sản cho
người đi vay sử dụng phải dựa trên cơ sở lòng tin và phải tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng
Trang 10- Bên đi vay phải hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay sau khi hết thời hạn
sử dụng thỏa thuận - Thông thường giá trị được hoàn trả lớn hơn giá trị lúc cho vay - phần lớn hơn này là lợi tức
- Ngân hàng tham gia quan hệ tín dụng với hai tư cách: Vừa là người đi vay
vừa là người cho vay
1.1.1.2 Phân loại hoạt động cho vay
Tùy mục tiêu nghiên cứu, mục tiêu của quản trị mà người ta chia tín dụng ngân hàng thành các loại khác nhau
* Xét theo mục đích
- Cho vay kinh doanh bất động sản: Gồm các khoản cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà cửa, đất đai, bất động sản trong lãnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
- Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lãnh vực công nghiệp, thương mại
và dịch vụ
- Cho vay nông nghiệp: Loại vay nhằm hỗ trợ nông dân trong sản xuất như cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu
- Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng
và các công ty tài chính khác
- Cho vay cá nhân: Là loại để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng
- Cho thuê: Cho thuê các định chế tài chính bao gồm hai loại cho thuê vận hành và cho thuê tài chính Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản, trong đó chủ yếu là máy móc thiết bị
* Xét theo thời hạn
- Cho vay ngắn hạn: Là loại vay có thời hạn đến 12 tháng
Trang 11- Cho vay trung hạn: Là loại vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm
- Cho vay dài hạn: Là loại vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm tùy thuộc vào dự án và giấy phép đầu tư
* Xét theo tài sản đảm bảo
- Cho vay không đảm bảo: là loại vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc
sự bảo lãnh của người thứ ba, việc cấp tín dụng chủ yếu dựa vào mức độ tín nhiệm và uy tín của khách hàng; năng lực tài chính của khách hàng, phương
án vay hiệu quả và khả thi
- Cho vay có đảm bảo: Là loại vay dựa trên cơ sở các tài sản đảm bảo như thế chấp, cầm cố bằng tài sản của khách hàng; hoặc phải có sự bảo lãnh cầm cố, thế chấp bằng tài sản của người thứ ba; hay cho vay bằng tài sản hình thành
1.1.2 Khái niệm rủi ro trong hoạt động cho vay
1.1.2.1 Rủi ro và rủi ro trong kinh doanh
Theo cách nghĩ truyền thống: Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc
các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người Có thể nói với quan điểm này, rủi ro là những điều không may mắn, không tốt, bất ngờ xảy ra gây thiệt hại, tổn thất
Theo trường phái trung hoà: Rủi ro là giá trị và kết quả của hiện thời chưa biết
đến Rủi ro là sự bất trắc, bất ngờ xảy ra gây thiệt hại, mất mát, nguy hiểm và có thể lường được Trong lĩnh vực kinh doanh, rủi ro được hiểu là khả năng giảm sút về tài sản hay sự giảm sút lợi nhuận thực tế với lợi nhuận dự kiến, hoặc là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Một
Trang 12cách khác, rủi ro trong kinh doanh là khả năng xảy ra các biến cố không lường trước, khi xảy ra sẽ làm cho kết quả thực tế khác xa kết quả mong muốn, dự kiến
Do đó, chấp nhận có rủi ro trong kinh doanh và từ đó tìm ra giải pháp hạn chế rủi
ro là yêu cầu đòi hỏi chính đáng của mỗi doanh nghiệp
Đối với các NHTM, rủi ro là những biến cố không mong đợi có thể xảy ra gây
mất mát, thiệt hại về tài sản, thu nhập trong quá trình hoạt động Các NHTM cần đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận Các NHTM
sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà các NHTM gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được, đồng thời nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính của NHTM
Thành phần của rủi ro: Rủi ro bao gồm các thành phần sau
Mối nguy hiểm: là các điều kiện tạo ra hoặc làm tăng các khả năng rủi ro,
gồm Nguy hiểm vốn có: chất hóa học, chất phóng xạ, cơ học, năng lượng Nguy hiểm do con người: ý thức cá nhân, sai lầm của con người, tác động của môi trường
Nguồn gây ra rủi ro: có 07 nguồn chính là
- Rủi ro kinh tế vĩ mô như: Suy thoái kinh tế - sức mua của cá nhân giảm dẫn đến doanh thu của doanh nghiệp bị giảm; Thâm hụt ngân sách chính phủ cao hơn GDP; Lạm phát; Mất khả năng thanh toán của Chính phủ do
tỷ lệ nợ ngắn hạn cao hơn mức dự trữ ngoại tệ; Dự trữ ngoại tệ thấp hơn kim ngạch nhập khẩu; Nợ nước ngoài cao hơn GDP
- Rủi ro chính trị: Chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách về thuế, hạn ngạch và các giới hạn thương mại khác; Chính sách tài chính, lưu thông tiền tệ, kiểm soát ngoại hối, lãi suất; Chính sách lao động và tuyển dụng lao động; Chính sách môi trường, sức khỏe; Quốc hữu hóa và sung công
- Rủi ro pháp lý: các rủi ro liên quan đến pháp lý, kiện tụng làm hao tổn sức người và tài sản như Vi phạm hợp đồng kinh tế hoặc đầu tư; Tranh
Trang 13chấp hàng hóa, nhãn hiệu và thương hiệu; Bồi thường khiếu nại đối với khách hàng; Thay đổi luật pháp liên quan đến kinh doanh như: quy định
về nhãn hiệu hàng hóa, môi trường và lao động
- Rủi ro xã hội: Sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành vi của con người; Cấu trúc xã hội thay đổi; Trình độ dân trí
- Rủi ro hoạt động (vi mô): Tuyển dụng và sa thải lao động dẫn đến những rủi ro pháp lý Thải chất độc hại trong quá trình sản xuất gây ô nhiễm môi trường, làm tổn hại sức khỏe cộng đồng
- Rủi ro do ý thức con người: Nhận thức của mỗi người về nguồn rủi ro khác nhau và có thể không thấy được rủi ro; Sự bất cẩn của con người dẫn đến những rủi ro về hỏa hoạn hay tai nạn gây chết người; Phương pháp xử lý rủi ro chưa thấu đáo, bài bản
- Rủi ro do môi trường tự nhiên như: thiên tai, động đất, bão, lụt
Nguy cơ rủi ro gây ra:
- Rủi ro tài sản: là khả năng tổn thất về tài sản vật chất, tài sản tài chính hay tài sản vô hình (thanh danh, uy tín, quyền tác giả )
- Rủi ro trách nhiệm pháp lý: là những tổn thất có thể xảy ra có liên quan đến vấn đề pháp lý (tranh chấp, kiện tụng)
- Rủi ro nguồn nhân lực: là những khả năng tổn thất liên quan đến tính mạng con người của một tổ chức, trong đó có thể kể đến khách hàng, nhà cung cấp, chủ nợ, cổ đông và người lao động
1.1.2.2 Rủi ro trong hoạt động cho vay
Có nhiều quan niệm về rủi ro trong hoạt động cho vay (RRTCV) mà chúng ta có thể dẫn ra là:
Rủi ro trong hoạt động cho vay theo định nghĩa của Uỷ ban Basel: “Rủi ro trong hoạt động cho vay là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thoả thuận”; cũng theo Uỷ ban này, một định nghĩa khác có thể nêu ra là “Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp
Trang 14đồng”, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc và/hoặc lãi”
Theo quyết định 493/QĐ-NHNN, của Thống đốc NHNN, tại khoản 1, điều 2
đề cập khái niệm “Rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng của TCTD
là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức cho vay
do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Theo Timothy W.Koch tác giả quyển sách Quản trị ngân hàng do nhà xuất bản Dryden – Đại học tổng hợp Nam Carolina xuất bản năm 1995: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn
Theo Thomas P.Fitch tác giả Từ điển thuật ngữ Ngân hàng do nhà xuất bản Barron ấn hành năm 1997: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng
Theo Hennie van Greuning - Sonja B rajovic Bratanovic – chuyên viên nghiên cứu chính sách tài chính – Ngân hàng thế giới: Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ, và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng
Có thể có nhiều cách khác nhau để định nghĩa về rủi ro trong hoạt động cho vay,
song các quan niệm về rủi ro trong hoạt động cho vay đều hội tụ với nhau về bản chất đó là: Rủi ro trong hoạt động cho vay là khả năng (xác xuất) xảy ra
Trang 15những thiệt hại về kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay vốn thanh toán nợ không đúng hạn hoặc không hoàn trả được nợ vay (gồm gốc và/hoặc lãi)
Rủi ro trong cho vay gắn liền với chính hoạt động cho vay của NHTM Nguồn thu nhập từ hoạt động cho vay của NHTM phụ thuộc vào tình hình sử dụng vốn vay của người vay Rủi ro mà người đi vay tham gia cũng chính là rủi ro mà NHTM phải gánh chịu Vì vậy, có thể nói, chất lượng khoản vay sẽ quyết định hiệu quả của hoạt động cho vay và hiệu quả kinh doanh của NHTM Rủi ro trong hoạt động cho vay có thể gây tổn thất về tài chính cho NHTM đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn; trong trường hợp nghiêm trọng sẽ dẫn tới thua lỗ, nếu ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản ngân hàng Tuy nhiên, đứng trên góc độ quản lý, rủi ro trong cho vay là điều không thể tránh khỏi, luôn tồn tại song hành cùng hoạt động kinh doanh và chỉ có thể
đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ
1.1.2.3 Phân biệt rủi ro và tổn thất trong hoạt động cho vay NHTM
Cần phải có sự phân biệt giữa hai thuật ngữ được đề cập trong các khái niệm về Rủi ro trong hoạt động cho vay đó là rủi ro và tổn thất Rủi ro trong hoạt động cho vay là khả năng khách hàng không trả được nợ, vì vậy cần nhận thức rõ khả năng này có thể xảy ra hoặc không xảy ra Khi rủi ro trong hoạt động cho vay xảy ra, khách hàng thực sự không trả được nợ đúng hạn, ngân hàng không thu hồi được nợ thì được hiểu là tổn thất Trên thực tế, sẽ rất dễ bị nhầm lẫn và hiểu đồng nhất giữa giá trị tổn thất với khái niệm rủi ro trong hoạt động cho vay Sự nhầm lẫn này sẽ tác động bất lợi đến quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay, trong đó ảnh hưởng lớn nhất đến tính chủ động trong các biện pháp quản lý rủi
ro Đơn cử, xuất phát từ quan niệm chỉ khi khoản vay phát sinh quá hạn mới có rủi ro và việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro dựa trên cơ sở những khoản nợ quá hạn, chứ không đánh giá trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động cho vay trên
cơ sở mức độ xác xuất xảy ra nợ quá hạn, sẽ dẫn đến tình trạng:
Trang 16Thứ nhất, những khoản cho vay mà theo xác xuất thực sự có rủi ro sẽ không
được trích lập;
Thứ hai, làm mất tính chủ động trong quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay,
mức độ đáp ứng của nguồn bù đắp rủi ro sẽ rất hạn chế, trong những trường hợp
có cú sốc thì ngân hàng sẽ rất khó khăn trong việc chống đỡ rủi ro;
Thứ ba, nó làm cho ngân hàng không thể hiểu và đánh giá đúng mức độ rủi ro
của mình, mặc dù trên thực tế có những ngân hàng có nợ quá hạn rất thấp, nhưng danh mục cho vay lại rủi ro rất lớn vì tập trung quá nhiều dư nợ vào nhóm khách hàng hay ngành rủi ro phá sản cao
Đây chính là luận cứ xây dựng chính sách phân loại nợ, chủ động trích lập qủy
dự phòng và sử dụng quĩ này trong quá trình quản trị rủi ro trong cho vay
1.1.3 Phân loại rủi ro trong hoạt động cho vay
Có nhiều cách phân loại rủi ro trong cho vay, việc phân loại rủi ro trong hoạt động cho vay tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, phân tích Đối với hệ thống NHTM thì việc phân loại rủi ro trong cho vay có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập chính sách, qui trình, thủ tục và cả mô hình tổ chức quản trị
và điều hành nhằm bảo đảm nhận biết đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro và phân biệt trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, giữa các khâu trong toàn bộ quá trình tác nghiệp thẩm định, cấp cho vay giám sát thu hồi nợ và xử lý khoản nợ nếu nó
có dấu hiệu không bình thường Thực tế cho thấy sự phân chia trách nhiệm càng
rõ ràng, càng cụ thể, sẽ giúp cho quá trình quản rị rủi ro trong cho vay có hiệu quả
1.1.3.1 Phân loại theo đối tượng sử dụng vốn vay
Là rủi ro xảy ra khi cho các khách hàng là cá nhân vay vốn Thông thường số lượng khách hàng sẽ rất nhiều, tuy nhiên mức độ rủi ro của từng khoản vay đơn
lẻ sẽ thấp, mức độ ảnh hưởng của việc mất khả năng thanh toán của từng khoản vay là nhỏ; loại hình giao dịch, cơ cấu giao dịch dễ quản lý
1.1.3.2 Phân loại theo đối tượng sử dụng vốn vay
- Rủi ro khách hàng cá thể:
Trang 17Đây là rủi ro khi cho khách hàng là công ty, tổ chức kinh tế vay vốn Tùy theo qui mô của công ty, tổ chức kinh tế là lớn hay nhỏ thì mức độ ảnh hưởng của rủi
ro các khoản vay vào đối tượng này sẽ được đánh giá ở mức vừa hay lớn, tác động của nó đến khả năng thanh toán khoản nợ là vừa hay cao
- Rủi ro khách hàng công ty, tổ chức kinh tế:
Đây là rủi ro khi cho khách hàng là công ty, tổ chức kinh tế vay vốn Tùy theo qui mô của công ty, tổ chức kinh tế là lớn hay nhỏ thì mức độ ảnh hưởng của rủi
ro các khoản vay vào đối tượng này sẽ được đánh giá ở mức vừa hay lớn, tác động của nó đến khả năng thanh toán khoản nợ là vừa hay cao
- Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý:
Những ngân hàng hoạt động phạm vi toàn cầu có sự phân chia theo lãnh thổ quốc gia, nếu trong phạm vi một quốc gia phân chia rủi ro trong cho vay tập trung theo khu vực địa lý, ví dụ như mức độ rủi ro khu vực Miền Bắc, Miền Trung, Miền Nam
1.1.3.3 Phân loại theo giai đoạn phát sinh
- Rủi ro trong thẩm định:
Là rủi ro mà TCTD đánh giá sai khách hàng Do hiện tượng thiếu thông tin dẫn đến “thông tin không cân xứng” làm cho TCTD thường chấp nhận cho các khách hàng có khả năng trả nợ tồi vay vốn dẫn đến rủi ro không thu hồi được vốn sau khi cho vay Hơn nữa, do thiếu thông tin và tin tưởng vào tài sản đảm bảo, bảo lãnh, bảo hiểm từ phía khách hàng dẫn đến đánh giá sai giá trị các khoản thế chấp, bảo lãnh bảo hiểm gây ra rủi ro không thu hồi được nợ khi khách hàng không trả được nợ
- Rủi ro khi cho vay:
Là rủi ro mà khi giải ngân vốn sai mục đích làm cho khoản vay không phát huy hiệu quả Rủi ro này có thể phát sinh trong quá trình đưa ra quyết định cho vay khi thiếu thông tin hoặc có sự thoái hoá đạo đức của cán bộ cho vay để cho khách hàng cố ý sử dụng vốn sai mục đích ngay từ đầu làm cho cơ cấu khoản
Trang 18vay và mục đích vay không tương thích dẫn đến rủi ro không trả được nợ của người vay
- Rủi ro trong quản lý, thu hồi nợ:
Là rủi ro phát sinh do quá trình giám sát thu hồi nợ không theo dõi được dòng tiền của khách hàng để khách hàng sử dụng vốn quay vòng vào việc khác không thu được nợ đúng kỳ hạn, hoặc không thu được nợ
1.1.4 Chỉ tiêu cơ bản đo lường rủi ro trong hoạt động cho vay
Để đo lường rủi ro trong hoạt động cho vay của một TCTD, người ta thường dùng hệ thống các chỉ số : xác xuất bị rủi ro, tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ
nợ lãi treo và tỷ lệ miễn giảm lãi vay
- Xác suất bị rủi ro = Số món bị rủi ro trong kỳ/Tổng số món cho vay trong kỳ (hoặc bằng giá trị các món bị rủi ro trong kỳ/tổng giá trị các món cho vay trong kỳ)
- Tỷ lệ nợ quá hạn = Giá trị các khoản nợ quá hạn trong kỳ/Tổng dư nợ bình quân trong kỳ
- Tỷ lệ nợ xấu = Giá trị các khoản nợ xấu trong kỳ/Tổng dư nợ bình quân trong
kỳ
- Tỷ lệ lãi treo = Lãi treo phát sinh/Tổng thu nhập từ cho vay
- Tỷ lệ miễn giảm lãi = Lãi miễn giảm/Tổng thu nhập từ cho vay
Nhìn vào các chỉ số này có thể thấy mức độ rủi ro trong danh mục khoản vay của một TCTD hoặc của cả một hệ thống tài chính Vì vậy, Chính phủ các nước thường quy định cụ thể về mức độ rủi ro chấp nhận được của một TCTD thông qua việc khống chế giá trị các chỉ tiêu đo lường rủi ro này Để đạt được mục tiêu duy trì các chỉ số đo lường rủi ro theo đúng quy định Chính phủ, các TCTD phải thiết lập một hệ thống đo lường rủi ro của riêng họ theo quan điểm quản trị rủi ro hiện đại
1.1.5 Các nguyên nhân rủi ro trong hoạt động cho vay
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong cho vay, chúng ta có thể phân chia ở những nhóm nguyên nhân chủ yếu sau:
Trang 191.1.5.1 Những nguyên nhân bất khả kháng (nguyên nhân khác từ bên ngoài)
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động đến khách hàng vay vốn làm cho họ
bị suy giảm hoặc mất khả năng thanh toán cho ngân hàng, như: Thiên tai, chiến tranh, hoặc những thay đổi về chính sách vĩ mô (chính sách xuất nhập khẩu, thuế quan ) nằm ngoài tầm kiểm soát của khách hàng và ngân hàng
1.1.5.2 Nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay (khách hàng)
Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếu kém trong quản lý, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng, là nguyên nhân gây ra rủi ro trong hoạt động cho vay Nhiều người vay sẵn sàng mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao, để đạt được mục đích của mình họ sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn ứng phó với ngân hàng, như cung cấp thông tin sai sự thật, mua chuộc Nhiều khách hàng vay vốn không tính toán kỹ lưỡng, thích mở rộng đầu
tư, hoặc không có khả năng tính toán kỹ những bất trắc có thể xảy ra, không có khả năng thích ứng và khắc phục những khó khăn trong kinh doanh Trường hợp còn lại là khách hàng vay vốn kinh doanh có lãi nhưng vẫn không trả nợ đúng hạn, họ chây ỳ với hy vọng có thể được xoá nợ, quỵt nợ, sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt
1.1.5.3 Nguyên nhân thuộc về ngân hàng
Ngoài những nguyên nhân thuộc về chủ quan của phía đối tác (khách hàng), những nguyên nhân chủ quan thuộc về ngân hàng được Uỷ ban Basel (2000) đã thống kê cho thấy, rủi ro trong hoạt động cho vay thường xảy ra ở 2 lĩnh vực chủ yếu: ( i ) mức độ tập trung, ( ii ) các vấn đề về quy trình cấp cho vay
Mức độ tập trung có thể coi là nguyên nhân quan trọng nhất trong vấn đề Rủi ro trong hoạt động cho vay
Rủi ro tập trung cho vay tồn tại khi mức độ rủi ro trong hoạt động cho vay của một nội dung trong danh mục cho vay trở nên tương đối lớn so với mức vốn hoặc tài sản của Ngân hàng Rủi ro tập trung cho vay có thể được phân thành 2 loại: Rủi ro tập trung cho vay thông thường và rủi ro tập trung cho vay do các yếu tố rủi ro chung hay có liên hệ với nhau Rủi ro tập trung cho vay thông thường xảy
Trang 20ra khi cho vay được tập trung quá nhiều vào một khách hàng, nhóm khách hàng, hoặc ngành/lĩnh vực, chẳng hạn lĩnh vực bất động sản Trong khi đó, rủi ro tập trung cho vay do sự liên hệ qua lại của các yếu tố rủi ro lại liên quan nhiều đến các yếu tố đặc thù, mà chỉ có thể phát hiện thông qua phân tích Ví dụ cho loại rủi ro này là cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á năm 1997 Trong cuộc khủng hoảng này, sự liên hệ rủi ro thị trường và Rủi ro trong hoạt động cho vay, cũng như giữa rủi ro này với rủi ro thanh khoản, đã tạo ra các khoản lỗ/mất vốn rộng
khắp (hiệu ứng domino)
Các vấn đề trong quy trình cấp cho vay cũng là một nguyên nhân gây ra rủi
ro trong hoạt động cho vay, trong đó chủ yếu liên quan đến quá trình thẩm định và theo dõi cho vay
Rất nhiều Ngân hàng thấy rằng rất khó thực hiện một quá trình đánh giá cho vay
kỹ càng bởi áp lực cạnh tranh trong Ngân hàng ngày càng tăng Do áp lực này
mà nhiều Ngân hàng có xu hướng dựa vào một số chỉ tiêu đơn giản để cấp cho vay Bên cạnh đó, việc không có hệ thống kiểm định và đánh giá các kỹ thuật cho vay mới cũng đã gây ra nhiều rủi ro Chính vì thế, một trong những nguyên tắc theo thông lệ tốt nhất của lĩnh vực Ngân hàng là phải áp dụng một số bước bắt buộc đối với các sản phẩm cho vay mới
Các nguyên nhân khác liên quan đến qui trình cho vay gồm: Thiếu đánh giá lại chất lượng cho vay; Không theo dõi, giám sát thường xuyên khách hàng hoặc tài sản bảo đảm; Áp dụng lãi suất không dựa trên rủi ro; Không tính đến chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế, chu kỳ sống của sản phẩm hàng hoá, nhất là đối với các Ngân hàng có mức độ tập trung cao vào lĩnh vực bất động sản Đây là sự yếu kém trong quản lý danh mục cho vay; Không dự kiến phương án trong trường hợp xấu nhất, làm cho Ngân hàng không có sự chuẩn bị kỹ càng để đối phó với rủi ro
Trang 211.2 Quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết phải quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay 1.2.1.1 Khái niệm quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay
Quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách quản lý và kinh doanh cho vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận trong phạm vi mức rủi ro có thể chấp nhận Kiểm soát rủi ro trong hoạt động cho vay ở mức có thể chấp nhận là việc NHTM tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh cho vay, nhằm tăng doanh thu cho vay, giảm thấp chi phí bù đắp rủi ro, nhằm đạt được hiệu quả trong kinh doanh cho vay cả trong ngắn hạn và dài hạn Kiểm soát quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt tử cho sự thành công của ngân hàng trong dài hạn
Tóm lại, có thể đề cập khái niệm quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay ở các góc
độ khác nhau, nhưng bản chất là giống nhau và đứng trên góc độ của quản trị học, chúng ta có thể diễn giải khái niệm quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay là quá trình các ngân hàng tiến hành hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp cho vay, nhằm tối đa hoá lợi nhuận của ngân hàng với mức rủi ro có thể chấp nhận
Quản trị rủi ro là quá trình ngăn ngừa tiềm năng xuất hiện một kết quả không mong đợi của các biến cố sẽ xảy ra trong tương lai Hay nói cách khác, quản trị rủi ro là quá trình nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tài trợ những nguy cơ rủi ro về tài sản
và thu nhập từ các hoạt động xản xuất - kinh doanh - dịch vụ của một tổ chức Quản trị rủi ro không có nghĩa là né tránh rủi ro mà là đối diện với rủi ro để lựa chọn rủi
ro nào sẽ lưu giữ và rủi ro nào phải chuyển giao Mục tiêu của quản trị rủi ro là: tối
thiểu hóa hậu quả của tổn thất, loại trừ tổn thất từ các rủi ro bất ngờ, tối thiểu hóa tổn thất có thể xuất hiện
Quản trị rủi ro của NHTM có thể hiểu là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của các nhà quản trị ngân hàng lên các đối tượng quản trị và khách thể kinh doanh nhằm mục tiêu phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh từ
Trang 22đó nâng cao mức độ an toàn, khả năng sinh lời và đạt được các mục tiêu tăng trưởng trong ngắn hạn và dài hạn của mỗi NHTM
Nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng cho rằng: Đối với các NHTM quản trị kinh doanh cũng chính là quản trị rủi ro, hay nói cách khác quản trị rủi ro chính là trung tâm của hoạt động quản trị và điều hành của mỗi NHTM Hiểu một cách đơn giản thì quản trị rủi ro chính là quá trình các NHTM áp dụng các nguyên lý, các phương pháp và kinh nghiệm quản trị kinh doanh của các NHTM ở các quốc gia phát triển vào hoạt động kinh doanh của mình để giám sát phòng ngừa hạn chế giảm thấp rủi ro trong hoạt động cho vay, đầu tư và hoạt động kinh doanh khác để giảm thiểu tổn thất cho ngân hàng, đồng thời không ngừng nâng cao sức cạnh tranh và uy tín của ngân hàng trên thương trường
Từ những vấn đề ở trên, chúng ta cũng có thể thấy nếu nói quản trị rủi ro chính là trung tâm quản trị và điều hành của NHTM, trong khi rủi ro trong hoạt động cho vay là rủi ro thường gây thiệt hại lớn nhất cho NHTM, dễ dẫn đến rủi ro phá sản một NHTM, thì cũng có thể nói quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay là trung tâm của mọi hoạt động quản trị rủi ro
1.2.1.2 Sự cần thiết phải thực hiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay
Quá trình xây dựng khung lý thuyết cho quản trị hoạt động của NHTM đa phần được đúc kết từ thực tiễn hoạt động của NHTM, vì vậy trong lịch sử hoạt động ngân hàng, thì rủi ro trong hoạt động cho vay là loại rủi ro được đề cập sớm nhất và cũng
là nhiều nhất Điều này xuất phát từ bản chất của hoạt động ngân hàng với vai trò của một trung gian tài chính, huy động vốn để cho vay Hoạt động cho vay là chức năng chính của NHTM với việc trao quyền sử dụng vốn cho người khác sử dụng và nhận được lời cam kết sẽ hoàn trả đủ gốc và lãi sau một thời gian nhất định Như vậy, bản thân khi khoản tiền vay xuất ra khỏi ngân hàng đã tiềm ẩn rủi ro không có khả năng thu hồi, một khi kinh doanh của khách hàng vay vốn gặp rủi ro thì ngay lập tức khoản vốn cho vay của NHTM cũng bị ảnh hưởng Vì vậy, giống như bảo hiểm, hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động kinh doanh rủi ro Hoạt động cho vay vẫn là hoạt động chính của ngân hàng, nó chiếm tới trên 1/2 đến 2/3 bảng
Trang 23cân đối và mang lại thu nhập chính cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, nhưng đi liền bên cạnh là rủi ro trong cho vay cũng mang lại hậu quả thiệt hại thu nhập, thậm chí có thể phá sản một NHTM, và ở mức cao có thể gây khủng hoảng cả
hệ thống tài chính ngân hàng Vấn đề là để chấp nhận một mức rủi ro và đạt được lợi nhuận tối đa NHTM cần phải tổ chức quản trị tốt rủi ro trong cho vay Hay nói cách khác quản trị rủi ro trong cho vay chính là chốt hết sức quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng
Tính cấp thiết của quản trị rủi ro trong cho vay không chỉ xuất phát từ tính chất phức tạp và nguy cơ rất lớn của rủi ro trong cho vay mà còn do xu hướng kinh doanh của ngân hàng ngày nay càng trở nên rủi ro hơn Một số nguyên nhân chủ yếu làm cho rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng gia tăng:
Thứ nhất, do quá trình tự do hoá, nới lỏng qui định trong hoạt động ngân hàng trên
phạm vi toàn thế giới Trong những thập kỷ gần đây, xu hướng toàn cầu hoá, tự do hoá kinh tế, đề cao cạnh tranh đã trở thành phổ biến Khi gia tăng cạnh tranh cũng đồng nghĩa với rủi ro và phá sản gia tăng
Thứ hai, hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng theo xu hướng đa năng
phức tạp, với công nghệ ngày càng phát triển, cùng với xu hướng hội nhập cạnh tranh gay gắt vừa tăng thêm mức độ rủi ro và nguy cơ rủi ro mới Trong lĩnh vực cho vay các sản phẩm cho vay có bước phát triển mạnh mẽ, vượt xa so với sản phẩm cho vay truyền thống Các sản phẩm cho vay dựa trên cơ sở của sự phát triển công nghệ như thẻ cho vay, cho vay cá thể…luôn chứa dựng rủi ro mới Với sự đa dạng phức tạp của sản phẩm cho vay cũng như rủi ro trong cho vay càng đòi hỏi quản trị rủi ro trong cho vay phải được chú trọng nâng cấp tương xứng
Thứ ba, đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước đang trong quá trình
chuyển đổi như Việt Nam, thì môi trường kinh tế không ổn định, hệ thống pháp luật đang xây dựng, mức độ minh bạch của thông tin thấp, thì hoạt động ngân hàng càng trở nên rủi ro hơn, vì vậy việc bắt tay ngay từ đầu thực hiện tốt công tác quản trị rủi
ro trong cho vay là một công việc tối quan trọng
Trang 241.2.2 Quá trình quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay
Trên thực tế, quá trình quản trị rủi ro có 4 khâu: xác định; đo lường; quản lý và kiểm soát Điều quan trọng quá trình quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay muốn
đạt hiệu quả thì phải bảo đảm rằng các công đoạn như phát hiện kịp thời, xác định được rủi ro đang tồn tại, phân tích và định lượng nó để từ đó có công cụ cũng như biện pháp ứng phó Quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay hiệu quả không có nghĩa
là rủi ro không xảy ra mà là rủi ro có thể xảy ra nhưng xảy ra trong mức độ dự đoán trước và ngân hàng đã chuẩn bị đủ nguồn lực để bù đắp các rủi ro có thể xảy ra đó
1.2.3.1 Xác định/phát hiện rủi ro trong hoạt động cho vay
Đây là việc nhận biết được các nguy cơ rủi ro tồn tại trong hoạt động cho vay Sự phát triển của công nghệ, thị trường và xu hướng toàn cầu hoá làm cho số lượng rủi
ro ngày càng gia tăng, và khả năng xảy ra rủi ro sẽ thường xuyên hơn Vì vậy một
hệ thống quản trị rủi ro có hiệu quả phải là hệ thống có khả năng nhận biết hết các rủi ro hiện hữu trong cho vay Ngân hàng nắm được tình hình rủi ro của danh mục cho vay và ngân hàng xác định rõ nguyên nhân rũi ro trong cho vay
1.2.3.2 Tìm hiểu, đo lường, phân tích
Đây là các bước tiếp theo sau khi đã phát hiện được nguy cơ rủi ro Trên thực tế các bước này khá gần gũi với nhau và thường được gộp chung lại trong quá trình thực hiện tác nghiệp Mục đích của các bước này là giúp cho toàn bộ bộ máy quản trị rủi
ro hiểu chính xác và nhất quán nguy cơ rủi ro đã xác định, phân tích rõ nguyên nhân
và quan trọng nhất là lượng hoá mức độ rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng
1.2.3.3 Theo dõi
Sau khi đã xác định, phân tích và hình thành các chỉ tiêu đo lường, rủi ro cần phải được theo dõi thường xuyên Mục đích của khâu này giúp cho bộ máy quản trị rủi
ro nắm được tình trạng rủi ro của ngân hàng diễn biến theo thời gian như thế nào
1.2.3.4 Quản lý, báo cáo, kiểm soát rủi ro
Đây là những khâu thể hiện rõ nhất tính chiến lược, cũng như tư tưởng của ngân hàng về rủi ro trong hoạt động cho vay Trước hết ngân hàng cần xây dựng được hệ thống các công cụ quản lý hạn chế rủi ro như hạn mức rủi ro, mức uỷ quyền, các
Trang 25tiêu chuẩn cấp tín dụng, xếp hạng cho vay….Bên cạnh đó là chính sách chuẩn bị nguồn lực để bù đắp cho rủi ro kỳ vọng
Kiểm soát rũi ro trong cho vay là việc giám sát một cách độc lập rủi ro trong cho vay và quản lý rủi ro đó, quá trình kiểm soát rũi ro trong cho vay phải bảo đảm đánh giá một cách độc lập nhằm tuân thủ các mục tiêu và chỉ thị cho vay của ban lãnh đạo ngân hàng
1.2.4 Công cụ quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay
Trên thực tế, công tác quản trị rủi ro trong cho vay của ngân hàng được thể hiện cụ thể qua chính sách quản trị rủi ro trong cho vay và bộ máy thực hiện các biện pháp quản trị rủi ro trong cho vay tại Ngân hàng
1.2.4.1 Chính sách quản trị rủi ro trong cho vay
Ba nhóm chính sách cơ bản liên quan đến quản trị rủi ro trong cho vay là: Các chính sách nhằm giới hạn hoặc giảm thiểu rủi ro trong cho vay; các chính sách liên quan đến phân loại nợ; và chính sách liên quan đến trích lập dự phòng rủi ro (hay tổn thất) để bù đắp cho các rủi ro dự kiến
* Xây dựng các giới hạn cho vay nhằm giảm rủi ro trong cho vay
Chính sách này được xây dựng đề cập vào ba giới hạn cơ bản đó là: Giới hạn dư
nợ cho vay khách hàng lớn; Giới hạn dư nợ cho vay nhóm khách hàng có liên quan; Giới hạn dư nợ theo ngành, lĩnh vực hay khu vực địa lý
Giới hạn cho vay một khách hàng lớn:
Luật pháp các nước đều đưa ra qui định rõ về giới hạn này nhằm ngăn chặn các NHTM tập trung quá lớn vào một khách hàng Giới hạn này được thiết lập trên
cơ sở vốn của ngân hàng, thông thường mức dư nợ cho vay vào một khách hàng không quá 10 –25% vốn của NHTM Thực tế ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, NHTM thường thiết lập mức thấp hơn so qui định của pháp luật
Giới hạn cho vay nhóm khách hàng có liên quan:
Theo thông lệ chung thì giới hạn cho vay vào nhóm khách hàng có liên quan không vượt quá 50% vốn tự có của ngân hàng và 60% nếu tính cả số dư bảo lãnh;
Trang 26hoặc ở mức khống chế chặt đối với nhóm khách hàng có liên quan đều do hội đồng quản trị xem xét, quyết định
Giới hạn cho vay theo ngành hoặc lĩnh vực:
Chính sách này nhằm khống chế dư nợ tối đa cho vay vào một ngành kinh doanh hay lĩnh vực, thậm chí theo khu vực địa lý (vùng, quốc gia) Chính sách nhằm ngăn chặn tổn thất cho vay do hàng loạt khách hàng gặp khó khăn với cùng một
lý do, ví dụ lĩnh vực kinh doanh bất động sản với rủi ro lớn khi thị trường đóng băng, có thể dẫn tới loạt khách hàng vay vốn kinh doanh trong lĩnh vực này phá sản, không trả được nợ ngân hàng
* Chính sách phân loại nợ
Chính sách phân loại nợ là chính sách mà các NHTM đưa ra các tiêu chí xếp hạng các khoản dư nợ hiện tại theo tiêu chuẩn cụ thể vào các nhóm nợ để từ đó thực hiện trích lập dự phòng rủi ro bù đắp rủi ro trong hoạt động cho vay theo tỷ
lệ tương ứng cho mỗi nhóm nợ, nhằm chủ động bù đắp tổn thất cho vay khi có rủi ro xảy ra Đây là chính sách cốt lõi của công tác quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay Về nguyên tắc phân loại phải được tiến hành ngay khi cấp cho vay
và thông thường được đánh giá lại vài lần trong năm
* Trích lập dự phòng rủi ro trong cho vay
Việc trích lập dự phòng bù đắp rủi ro là nhằm giúp ngân hàng chủ động đối phó với các tổn thất dự kiến Phân loại nợ là cơ sở cho chính sách trích lập dự phòng rủi ro, bên cạnh đó các yếu tố như kinh nghiệm thu hồi nợ vay trong quá khứ, mức tăng trưởng cho vay, sự thay đổi của các điều kiện kinh tế cũng cần được cập nhật trong khi xây dựng chính sách trích lập dự phòng tổn thất cho vay
1.2.4.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức thực hiện đánh giá rủi ro trong cho vay
Bộ máy tổ chức thực hiện đánh giá rủi ro trong cho vay phải được thực hiện theo hướng phân tách rõ rệt giữa các chức năng tiếp xúc khách hàng, thẩm định, ra quyết định và theo dõi kiểm soát khoản vay Trong đó vai trò của hệ thống kiểm soát nội
bộ và quản lý tín dụng là rất quan trong trong việc nhận diện, kiểm soát và phòng ngừa khắc phục rủi ro
Trang 271.2.5 Phương pháp đánh giá quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay
Nếu như quản trị rủi ro trong cho vay đóng vai trò sống còn đối với ngân hàng, thì việc đánh giá được hiệu quả trong hoạt động quản trị rủi ro trong cho vay của một ngân hàng còn là vấn đề quan trọng hơn Ngân hàng không chỉ nhận thức vai trò của quản trị rủi ro trong cho vay, mà còn phải biết cách xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro trong cho vay đáp ứng được các mục tiêu đề ra
Để đánh giá được quản trị rủi ro trong cho vay có đạt hiệu quả hay không thì thường các ngân hàng dùng tiêu chuẩn an toàn vốn của Basel II như sau:
Basel II là hiệp ước quốc tế về tiêu chuẩn an toàn vốn, tăng cường quản trị toàn cầu hóa tài chính cũng như việc khai thác tối đa tiềm năng lợi nhuận và hạn chế rủi
ro Đây được xem là giải pháp được đưa ra nhằm nâng cao các tiêu chuẩn ngân hàng châu Á Dự thảo Hiệp ước Basel II đề cập tới các vấn đề chính gồm những quy định liên quan tới tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu, quá trình xem xét giám sát của
cơ quan quản lý và cuối cùng là các quy tắc thị trường
Về tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu, dự thảo Basel II đề cập tới vấn đề vốn tự có của
tổ chức tín dụng, các tài sản được điều chỉnh theo mức độ rủi ro trong đó nhấn mạnh tới các phương pháp để tính mức độ rủi ro tín dụng như phương pháp chuẩn hóa, phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá rủi ro nội bộ
Theo quy định trong Basel II, một tổ chức tài chính được gọi là đủ vốn khi hệ
số đủ vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) đạt tối thiểu 4% đối với vốn cấp 1
và 8% đối với vốn cấp 2
Hệ số được tính như sau = Vốn ngân hàng/Tài sản có điều chỉnh rủi ro
Tài sản có điều chỉnh rủi ro được chia làm hai cấp: Vốn cấp 1 và vốn cấp 2
Vốn cấp 1: Cổ phần thường và dự trữ bắc buộc công bố
Vốn cấp 2: Dữ trữ không được công bố, dự trữ tài sản đánh giá lại, dự phòng chung/ dự phòng tổn thất cho vay chung, các công cụ vốn lai (nợ/vốn chủ sở hữu), nợ thứ cấp
Về quá trình xem xét giám sát của cơ quan quản lý, dự thảo Hiệp ước Basel
II quy định các quy tắc giám sát, quản trị và hướng dẫn quản lý rủi ro đối với
Trang 28các ngân hàng Quá trình giám sát và quản trị này không những nhằm mục đích khẳng định việc các ngân hàng duy trì một mức vốn phù hợp đối với toàn bộ những rủi ro trong hoạt động kinh doanh mà còn khuyến khích các ngân hàng phát triển và sử dụng các kỹ thuật để quản lý rủi ro tốt hơn
Ủy ban Basel đã đưa ra 4 quy tắc cơ bản giám sát và quản trị ngân hàng gồm:
- Các ngân hàng phải có một quy trình đánh giá mức vốn an toàn tương ứng với cơ cấu rủi ro của ngân hàng và một chiến lược để duy trì mức vốn của mình;
- Các cơ quan quản lý phải liên tục xem xét và đánh giá hệ thống xác định vốn an toàn của nội bộ các ngân hàng cũng như khả năng giám sát và tuân thủ của họ đối với quy định về tỷ lệ vốn tối thiểu đồng thời các cơ quan quản lý cũng phải có biện pháp can thiệp thích đáng nếu họ không hài lòng về kết quả đánh giá;
- Các cơ quan quản lý phải yêu cầu các ngân hàng hoạt động với mức vốn cao hơn mức vốn an toan tối thiểu và phải có khả năng bắt các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu;
- Các cơ quan quản lý phải sớm can thiệp nhằm ngăn chặn vốn của ngân hàng tụt xuống thấp hơn mức yêu cầu và phải yêu cầu ngân hàng có biện pháp sửa chữa kịp thời nếu mức vốn an toàn không được khôi phục và duy trì
Trong phần các quy tắc thị trường, Basel II cũng đưa ra các khuyến cáo
không bắt buộc và các yêu cầu mang tính bắt buộc đối với ngân hàng Ủy ban Basel II để nghị các ngân hàng tuân thủ nguyên tắc: "Ngân hàng phải có chính sách về tính minh bạch và công khai được hội đồng quản trị thông qua Chính sách này phải thể hiện rõ các mục tiêu và chiến lược dành cho việc công khai hóa các thông tin về thực trạng tài chính và hoạt động ngân hàng"
Ngoài ra, các ngân hàng cũng phải xây dựng kế hoạch thực hiện công khai tài chính bao gồm cả chu kỳ công bố Đó là công khai cơ cấu vốn, công khai cơ cấu rủi ro và các đánh giá rủi ro, công khai hiện trạng phù hợp vốn
1.2.6 Nhận dạng những rủi ro trong hoạt động cho vay (có 7 phương pháp)
Phương pháp phân tích báo cáo tài chính (phương pháp A.H Criddle)
Phương pháp lưu đồ
Trang 29 Phương pháp thanh tra hiện truờng
Phương pháp phối hợp với các bộ phận khác trong tổ chức
Phương pháp thông qua tư vấn
Cũng như mọi doanh nghiệp khác, ngân hàng thương mại có thể gặp rủi ro, thua lỗ trong kinh doanh Hơn nữa, là một ngành kinh tế nhạy cảm, ngân hàng thương mại
có thể gặp nhiều rủi ro như rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái và rủi
ro trong cho vay
Trong đó, vì hoạt động tín dụng là hoạt động trọng yếu của ngân hàng thương mại nên rủi ro tín dụng – xảy ra khi khách hàng vay không có khả năng hoàn trả nợ gốc, lãi hoặc cả hai – được xem là rủi ro tiêu biểu nhất trong hoạt động ngân hàng Mặt khác, thua lỗ trong hoạt động của mỗi ngân hàng thương mại có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến cả hệ thống ngân hàng, thậm chí cho cả nền kinh tế; vì vậy, việc nhận diện và ngăn ngừa rủi ro tín dụng là một trong những việc làm bức thiết của các ngân hàng thương mại
Để nhận diện và ngăn ngừa rủi ro tín dụng cũng như trong hoạt động cho vay một cách hiệu quả, các ngân hàng thương mại cần xây dựng chính sách và quy trình tín dụng một cách chặt chẽ dựa trên các mô hình cụ thể và sau đó không thể bỏ qua việc tuân thủ nghiêm ngặt chính các chính sách đã đề ra
Trang 30CHƯƠNG 2
TH C TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ C NG T C QUẢN TRỊ RỦI
RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP NAM VIỆT 2.1 Tổng quan về Ngân Hàng TMCP Nam Việt (Navibank)
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Được thành lập từ năm 1995 theo Giấy phép số 00057/NH–CP ngày 18/09/1995 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với tên gọi ban đầu là Ngân hàng TMCP Sông Kiên, với vốn điều lệ là 3 tỷ đồng Với điểm xuất phát là ngân hàng thương mại nông thôn nên hoạt động chính của ngân hàng tập trung chủ yếu với tín dụng nông nghiệp dành cho các khách hàng là nông gia trên toàn tỉnh Kiên Giang Trải qua hơn 17 năm hoạt động, Ngân hàng TMCP Nam Việt – Navibank đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trường tài chính – tiền tệ Việt Nam thể hiện qua sự tăng trưởng bền vững và ổn định về quy mô tổng tài sản lẫn hiệu quả kinh doanh Hơn 17 năm, quãng thời gian không phải quá dài nhưng cũng đã đủ để khẳng định sức sống mãnh liệt của một thương hiệu cũng như thể hiện tính đúng đắn của đường hướng chiến lược kinh doanh Như để khẳng định cho sự trưởng thành, tính minh bạch và tuân thủ trong hoạt động kinh doanh, ngày 13/09/2010, Ngân hàng TMCP Nam Việt đã chính thức niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) theo quyết định số 566/QĐ–SGDCK ngày 12/08/2010 Theo đó, 182.023.485 cổ phiếu phổ thông của Navibank với ký hiệu NVB, mệnh giá 10.000VND đã chính thức được giao dịch trên thị trường tài chính
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế dẫn đến áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, Navibank xác định mũi nhọn mang tính chiến lược là tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thông qua việc nâng cao năng lực tài chính, hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin và thực hiện tốt công tác quản trị rủi ro Tất cả những việc làm này đều nhắm đến việc thực hiện thành công mục tiêu chiến lược trở thành ngân hàng thương mại bán lẻ chuẩn mực, hiện đại và hàng đầu Việt Nam của Navibank Đối với Navibank, sự phát triển ổn định và bền vững của một tổ chức chỉ có thể có được nếu tổ chức đó tạo dựng được uy tín và lòng tin đối với
Trang 31công chúng Ý thức được điều này, toàn bộ các mảng hoạt động nghiệp vụ của Navibank đều được chuẩn hóa trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế thông qua việc triển khai vận dụng Hệ thống quản trị ngân hàng cốt lõi (core banking) – Microbank Với hệ thống này, Navibank sẵn sàng cung cấp các sản phẩm dịch vụ chính xác, an toàn, nhanh chóng và hiệu quả để hỗ trợ khách hàng của mình đạt được những thành công ngày càng rực rỡ hơn trong kinh doanh và trong cuộc sống Đến năm 2004, vốn điều lệ chỉ còn 1.5 tỷ, nợ quá hạn ngày càng lớn, ngân hàng có
nguy cơ phá sản và phải ở trong tầm kiểm soát đặc biệt
Sau đó các doanh nghiệp lớn như tập đoàn dệt may Việt Nam, Công ty cổ phần liên hiệp vận chuyển Gemadept, Công ty cổ phần khu công nghiệp Tân Tạo, Công ty cổ phần phát triển đô thị Kinh Bắc … tham gia đầu tư Đến năm 2005, ngân hàng mới khôi phục và bắt đầu có lãi Năm 2006, được sự chấp thuận của ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, ngân hàng đã chuyển đổi mô hình hoạt động từ ngân hàng TMCP nông thôn thành ngân hàng TMCP đô thị
Đến nay, vốn điều lệ vốn điều lệ của ngân hàng đã tăng lên hơn 3.000 tỷ đồng và Navibank luôn luôn mở rộng thị trường và cải thiện các sản phẩm địch vụ nhằm đáp
ứng nhu cầu của khách hàng
2.1.2 Mục tiêu chiến lược và phương thức hoạt động của Navibank
2.1.2.1 Mục tiêu chiến lược Navibank
Navibank định hướng trở thành một trong những ngân hàng thương mại bán lẻ hàng đầu của Việt Nam, hoạt động đa năng với sản phẩm đa dạng, chất lượng dịch vụ cao, mạng lưới kênh phân phối rộng dựa trên nền tảng mô hình tổ chức và quản lý theo chuẩn mực quốc tế, công nghệ thông tin hiện đại, công nghệ ngân hàng tiên tiến
* Chiến lược thâm nhập thị trường
Chiến lược duy trì thị phần hiện tại, tập trung giải quyết vấn đề gia tăng thị phần của Ngân hàng trên các thị trường hiện có Chiến lược này được thực hiện thông qua kế hoạch quảng cáo, khuyến mại, quan hệ công chúng,… nhằm gia tăng khả
Trang 32năng nhận biết cũng như tạo điều kiện thuận lợi để khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính của Ngân hàng
* Chiến lược phát triển thị trường (mở rộng mạng lưới hoạt động)
Bên cạnh việc tập trung cho công tác đánh giá, đẩy mạnh hoạt động các kênh phân phối hiện tại nhằm hỗ trợ một cách hữu hiệu trong hoạt động kinh doanh, chiến lược phát triển thị trường tập trung giải quyết vấn đề đa dạng hóa hệ thống kênh phân phối (bao gồm kênh phân phối truyền thống lẫn các kênh phân phối ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại) tại các thị trường mới nhằm đón đầu và chiếm lĩnh thị trường Tiếp tục phát triển mạng lưới một cách chọn lọc trên các địa bàn trọng điểm đông dân cư, có tiềm năng phát triển mạnh về công nghiệp, dịch vụ
* Chiến lược phát triển sản phẩm
Tạo sự khác biệt cho các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng bằng việc ứng dụng công nghệ hiện đại để tăng tính chính xác, an toàn, bảo mật, nhanh chóng trong quá trình giao dịch Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khảo sát nhu cầu và thị hiếu của khách hàng để phục vụ cho công tác thiết kế sản phẩm nhằm tạo ra những sản phẩm dịch
vụ chủ đạo, nổi bật dẫn đầu cho từng nhóm khách hàng Sản phẩm dịch vụ tài chính của Ngân hàng phải được thiết kế theo hướng mở, đảm bảo tính linh hoạt cần thiết nhằm đáp ứng các nhu cầu khác biệt của khách hàng
2.1.2.2 Phương thức hoạt động
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa tài chính đang diễn ra mạnh mẽ, Navibank hướng đến hiện đại hóa công nghệ ngân hàng để nhanh chóng tiếp cận và phát triển các dịch vụ ngân hàng thương mại hiện đại-đa năng, tăng cường công tác quản lý rủi ro nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về hệ số an toàn tín dụng, nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh Những năm vừa qua, Navibank đã có những tiến bộ vượt bậc trong việc cơ cấu lại tổ chức và hoạt động
đi đôi với việc hiện đại hóa công nghệ ngân hàng Với sức mạnh nội lực được tích
tụ và phát triển qua nhiều năm hoạt động cùng tinh thần quyết tâm của tập thể lãnh dạo và cán bộ nhân viên, chúng tôi tự tin có thể vượt qua mọi thách thức để trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam
Trang 33Navibank chú trọng đẩy mạnh công tác huy động vốn với nhiều hình thức phong phú, chủ yếu huy động vốn trung dài hạn trong dân cư để tạo nguồn cho vay, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế trên phạm vi cả nước
Navibank hướng đến phát triển bền vững và nhanh chóng mạng lưới hoạt động tại các tỉnh thành lớn trong cả nước, mục tiêu chiếm lĩnh thị phần tại 3 địa bàn trọng điểm như TP.Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và TP.Đà Nẵng
Navibank tập trung phát triển sản phẩm thẻ (ATM và thẻ thanh toán) thông qua việc nghiên cứu gia tăng những tiện ích của thẻ như thanh toán, chuyển khoản và các giao dịch tiện ích khác,…nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng
Navibank sẽ tăng cường tìm kiếm và thu hút các cổ đông lớn chiến lược là các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư lớn, tiềm lực tài chính mạnh, đủ sức nâng vốn điều lệ cho Navibank
Navibank luôn quan tâm nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng thông qua việc tìm hiểu nhu cầu, kỳ vọng của mỗi đối tượng khách hàng để đưa ra các giải pháp chăm sóc hữu hiệu, thỏa mãn cao nhất các nhu cầu hợp lý của khách hàng trong khả năng cho phép của mình
Trang 342.1.2.3 Cơ cấu bộ máy tổ chức của Navibank
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Navibank
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng TMCP Nam Việt giai đoạn (2010 – 2012)
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu tài chính cơ bản của Navibank
Đơn vị: Triệu đồng
2012/2011 Tỷ lệ %
Chênh lệch 2011/2010 Tỷ lệ %
Trang 35Qua bảng số liệu trên ta nhận thấy rằng doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng biến động khá lớn qua các năm Cụ thể trong năm 2011 doanh thu tăng 56,94% và lợi luận trước thuế tăng 6.05% so với năm 2010, năm 2012 doanh thu hầu như không tăng, lợi nhuận trước thuế giản khá mạnh Nguyên nhận giảm chủ yếu là do ngân hàng rơi vào tình trạng mất thanh khoản và nợ xấu gia tăng
Trong giai đoạn như hiện nay hầu hết các ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng khác điều rơi vào tình trạng nợ xấu tăng cao Nguyên nhân chủ yếu do tình hình biến động giá cả, lãi suất, lạm phát… Tuy nhiên xâu xa hơn cũng được đề cập đến
là trong khâu xét duyệt cho vay có vấn đề, và cách quản lý quá lõng lẽ trong quá trình xét duyệt hạn mức cũng như giải ngân
Tình hình nợ xấu ở các tổ chứng tính dụng ngày càng gia tăng, vì thế trong thời gian gần đây ngân hàng nhà nước đã có nhiều chính sách mạnh và một mặt giám sát các ngân hàng yếu kém, cho tái cơ cấu hay xác nhập
Tuy nhiên, Navibank cũng không nằm trong trường hợp ngoại lệ, và hiện Navibank đang tái cơ cấu toàn bộ bộ máy hoạt động nhằm cải thiện tình hình nợ xấu trong thời gian qua
2.2 Thực trạng hoạt động cho vay tại ngân hàng TMCP Nam Việt
2.2.1 Các sản phẩm và dịch vụ tín dụng của Navibank
2.2.1.1 Sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân, hộ gia đình
- Cho vay mua xe ô tô
- Cho vay mua bất động sản
- Cho vay xây dựng, sửa chữa nhà
- Cho vay bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh
- Cho vay mua sắm máy móc thiết bị, đầu tư nhà xưởng
- Cho vay trung hạn bổ sung vốn sản xuất kinh doanh
- Cho vay tiêu dung
- Cho vay du học
- Cho vay cầm cố sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi
- Cho vay mua xe gắn máy trả góp
Trang 362.2.1.2 Sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng doanh nghiệp
- Cho vay bổ sung vốn lưu động
- Tài trợ nhập khẩu hàng hoá, nguyên vật liệu
- Tài trợ sản xuất, gia công hàng xuất khẩu
- Cho vay đầu tư tài sản cố định
- Cho vay thực hiện dự án nhà ở, đất ở
- Gói sản phẩm tín dụng dành cho doanh nghiệp kinh doanh xe ô tô
- Cho vay đầu tư xe ô tô đối với các doanh nghiệp vận tải
2.2.2 Hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay tại Navibank
2.2.2.1 Hoạt động huy động vốn
- Trong giai đoạn 2010 – 2012, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, thị trường tiền tệ có nhiều biến động về lãi suất, tình hình lạm phát, cạnh tranh về huy động vốn giữa các TCTD trong nước gây ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của NHTM nói chung và ngân hàng Nam Việt nói riêng Trước biến động về giá huy động vốn trên thị trường, ngân hàng TMCP Nam Việt đã chủ động áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt trên cơ sở cung cầu vốn thị trường, tích cực cải thiện chênh lệch lãi suất cho vay - huy động, cải thiện quản trị thanh khoản dựa trên hệ thống thông số an toàn và phát triển nhiều công cụ huy động vốn mới Các biện pháp chủ động và linh hoạt trong điều khiển lãi suất đối với cá nhân, doanh nghiệp để góp phần giảm thiểu tác động thị trường lên công tác huy động vốn, nâng cao hệ số sử dụng vốn, chất lượng quản trị vốn và sau cùng là hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
- Trong 3 năm trở lại đây, Navibank đã cố gắng rất nhiều để vượt qua khủng hoảng, điều đó được thể hiện qua tình hình biến động nguồn vốn trong 3 năm
2010, 2011, và 2012
Trang 37Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn Navibank 2010, 2011, 2012
(Nguồn: Báo cáo thường niên Navibank 2010, 2011, 2012)
Biểu đồ 2.1: Tình hình biến động nguồn vốn của Navibank (2010-2012)
Đvt:Triệu đồng
(Nguồn: Báo cáo thường niên Navibank 2010, 2011, 2012)
- Nhìn chung nguồn vốn của ngân hàng giữ ổn định từ khoảng 20.000.000 triệu đồng đến hơn 22.000.000 triệu đồng Cụ thể: năm 2010 tổng nguồn vốn là 20.016.385 triệu đồng thì sang năm 2011 là 22.496.046, với tốc độ phát triển 112% (tăng 12%) Sang năm 2012, tổng nguồn vốn sụt giảm từ 22.496.046 triệu đồng xuống còn 21.584.000 triệu đồng (giảm 4%) Nguyên nhân chủ yếu là do lƣợng tiền gửi từ các TCTD khác giảm mạnh (3.475.827 triệu đồng xuống còn 1.906 triệu đồng) Trong bối cảnh khó khăn chung của khủng hoảng kinh tế, và
Trang 38quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, Navibank đã khẳng định được nỗ lực của ngân hàng trong hoạt động huy động vốn, góp phần giúp Navibank ổn định nguồn vốn, vượt qua khó khăn
- Tuy nhiên nguồn vốn huy động của ngân hàng đa phần là nguồn vốn có kỳ hạn, chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn Tỷ trọng nguồn vốn trung dài hạn trên tổng nguồn vốn huy động thấp sẽ gây khó khăn cho việc mở rộng hoạt động tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng Trong tương lai, Navibank cần có nhiều phương thức hiệu quả hơn nữa để tăng khả năng thu hút nguồn vốn này trong dân cư
- Công tác huy động vốn của Navibank qua các năm tương đối ổn định, và thể hiện được năng lực quản lý về huy động vốn
2.2.2.2 Hoạt động cho vay
Bảng 2.3: Tổng doanh số cho vay của Navibank 2010, 2011, 2012
Đvt: Triệu đồng
2010 2011 2012
Mức tăng giảm
Tỷ lệ tăng giảm (%)
Mức tăng giảm
Tỷ lệ tăng giảm (%)
(Nguồn: Báo cáo thường niên Navibank 2010, 2011, 2012)
- Doanh số cho vay năm 2011 so với năm 2010 tăng tương đối cao, 10.638.963 triệu đồng lên 12.755.542 triệu đồng Tuy nhiên, so với năm 2011, năm 2012 tổng doanh số cho vay của Navibank giảm 0.7%, từ 12.755.542 triệu đồng xuống còn 12.667.467 triệu đồng Nguyên nhân là năm 2012, tình hình kinh tế khó khăn, hàng tồn kho lớn khiến cho hàng loạt doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, nên Navibank đã tạm gác lại mục tiêu tăng trưởng tín dụng, tập trung rà soát, tái đánh giá lại các khoản nợ Nhìn chung, Navibank đã cho thấy sự nỗ lực trong
Trang 39hoạt động tín dụng, góp phần tạo doanh thu cho ngân hàng và cung ứng vốn cho thị trường
- Ngân hàng chủ yếu tập trung cho vay các doanh nghiệp và dân cư Hoạt động cho vay của ngân hàng đã phần nào đáp ứng được nhu cầu vốn cho nền kinh tế, tuy không đáng kể so với các ngân hàng đã có một quá trình phát triển lâu dài như Vietcombank, ACB… Tính đến nay, ngân hàng Nam Việt đã có những cải tiến tích cực cơ cấu tín dụng, nâng cao tỷ lệ cho vay trung và dài hạn, mạnh dạn
hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ với nhiều hình thức tín dụng cho vay khá phong phú
2.2.3 Tình hình dư nợ qua các năm (2010-2012)
Rủi ro tín dụng phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng còn được gọi là rủi
ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn Biểu hiện lớn nhất của rủi ro tín dụng là tỉ
lệ nợ quá hạn và nợ xấu tăng cao Quy định hiện nay của NHNN là dư nợ quá hạn không được vượt quá 5% trên tổng dư nợ, khi tỷ lệ này trên 5% thì được coi là đáng báo động
Do đó, Để đánh giá rủi ro tín dụng, người ta thường đánh giá qua hệ số:
o Hệ số nợ quá hạn = (Dư nợ quá hạn/ Tổng dư nợ cho vay) x 100% < 5%
o Hệ số rủi ro tín dụng = Tổng dư nợ cho vay/ Tổng tài sản có
Thường thì hệ số này càng cao thì lợi nhuận sẽ càng lớn đồng thời rủi ro tín dụng cũng rất cao
Bảng 2.4: Tình hình dư nợ của Navibank 2010, 2011, 2012
Đvt: Triệu đồng
Mức tăng giảm Tỷ lệ tăng
giảm (%) Mức tăng giảm
Tỷ lệ tăng giảm (%)
Trang 40Biểu đồ 2.2: Tình hình dư nợ của Navibank năm 2010, 2011, 2012
Đvt: Triệu đồng
(Nguồn: Báo cáo thường niên Navibank 2010, 2011, 2012)
Trên cơ sở nhận định mức độ rủi ro của thị trường, Ngân hàng đã thực hiện nhiều biện pháp để kiểm soát tăng trưởng và luôn có sự điều chỉnh về chính sách tín dụng cho phù hợp với những diễn biến của thị trường, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong hoạt động tín dụng Cụ thể:
- Dư nợ tín dụng của toàn ngân hàng năm 2011 đạt 12.914.681 triệu Đồng, tăng
2.148.128 triệu Đồng (tăng 20%) so với năm 2010 Dư nợ tín dụng tăng chủ yếu
từ khách hàng tổ chức kinh tế (tăng 2.470.690 triệu Đồng) và tập trung ở nhiều hơn vào ngắn hạn (60%) Dư nợ cho vay trung - dài hạn chiếm 40% và cho vay khách hàng tổ chức kinh tế chiếm 73% tổng dư nợ
- Dư nợ tín dụng của toàn Ngân hàng năm 2012 đạt 12.886.000 triệu đồng, giảm 28.681 triệu đồng (giảm 0.2%) so với năm 2011 (tăng trưởng tín dụng đối với toàn ngành chỉ đạt 7%) Thực hiện chính sách tái cơ cấu của Chính phủ, Ngân hàng đã nỗ lực vượt qua khó khăn, triển khai tín dụng hiệu quả, an toàn và đúng quy định Mặt khác, ngân hàng cũng đã thực hiện chính sách thắt chặt tín dụng, hạn chế cho vay cá nhân (giảm 36% so với năm 2011), rà soát lại hồ sơ tín dụng nhằm triệt để xử lý nợ xấu