Ngành công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực da giày không những chỉ riêng của TP.HCM mà đối với cả nước cũng rất khó phát triển, do sản xuất gia công phải chịu sự chi phối của khách hàng th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
-
LÊ THỊ THỦY TUYÊN
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ
CHO NGÀNH DA GIÀY TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số ngành: 60 34 01 02
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 12 năm 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
-
LÊ THỊ THỦY TUYÊN
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ
CHO NGÀNH DA GIÀY TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
LÊ THỊ THỦY TUYÊN
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Qua quá trình học tập và nghiên cứu, được sự tận tình giúp đỡ của các thầy cô giáo, các nhà quản lý tại công ty Giày An Lạc, tôi đã hoàn thành chương trình học tập
và nghiên cứu luận văn với đề tài “Phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành da
giày tại Thành phố Hồ Chí Minh”
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Trương Quang Dũng đã tạo mọi điều kiện và tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn các nhà quản lý trong Hội Da giày Thành phố Hồ Chí Minh đã góp ý cho tôi hoàn thiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị Phòng Tổng hợp- Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh, Hội Da giày TP Hồ Chí Minh đã cung cấp tài liệu thống kê, hướng dẫn tôi cách xử lý thông tin
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị đang công tác tại một số doanh nghiệp nơi tôi đến điều tra, khảo sát đã cung cấp nhiều thông tin quý báu và đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
Học Viên
LÊ THỊ THỦY TUYÊN
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM ) gần 100% doanh nghiệp da giày sản xuất gia công Ngành công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực da giày không những chỉ riêng của TP.HCM mà đối với cả nước cũng rất khó phát triển, do sản xuất gia công phải chịu sự chi phối của khách hàng theo chỉ định nhập nguyên liệu Bên cạnh đó, các doanh nghiệp công nghiêp phụ trợ ngành da giày, đặc biệt là các doanh nghiệp (DN) có vốn nhà nước và DN dân doanh, hoạt động yếu kém cả về trình độ, quy mô, khả năng cung cấp và khả năng tiếp cận thị trường, chất lượng sản phẩm không ổn định, chủ yếu phục vụ trong nước nên không đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài Điều này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến việc tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng sản xuất các sản
phẩm phụ trợ trong nước Từ thực tế đó, đề tài: “Phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành da giày tại thành phố Hồ Chí Minh” đã được tác giả lựa chọn nghiên
từ chuỗi giá trị, tác giả đi vào tìm hiểu những quan niệm về công nghiệp phụ trợ
và công nghiệp ngành da giày
Bằng phương pháp định lượng sử dụng các số liệu sơ cấp từ cuộc khảo sát riêng cho luận văn, thông qua phiếu điều tra và các cuộc phỏng vấn (toàn bộ số liệu khảo sát được xử lý bằng SPSS) Tác giả đánh giá được thực trạng ngành da giày và CNPT ngành da giày của TP.HCM, tuy có thể nói là vượt trội hẳn so với mặt bằng chung của cả nước, nhưng chủ yếu vẫn là gia công có giá trị gia tăng thấp Luận văn đưa ra 7 vấn đề cần bất cập cần giải quyết, gồm:
(i) Chính sách, biện pháp thu hút vốn đầu tư chưa có hiệu quả;
(ii) Các biện pháp thực hiện chiến lược nguồn nhân lực chưa phù hợp;
(iii) Hiệu quả các giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm thấp;
Trang 6(iv) Chưa có các biện pháp cho vấn đề liên kết trong ngành;
(v) Thực hiện quy hoạch đầu tư còn chậm chưa phát huy hiệu quả;
(vi) Nguyên liệu thượng nguồn, thuộc da, phụ liệu dệt, keo dán, phụ liệu kim loại, dụng cụ cơ khí và phụ tùng phát triển còn yếu;
(vii) Chưa có chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu
Vấn đề còn nhiều, thách thức lớn, nhưng cơ hội, tiềm năng cho phát triển sản xuất nguyên phụ liệu, đảm bảo phát triển ngành da giày- ngành kinh tế mũi nhọn một cách bền vững cũng rất lớn Việc chỉ ra những vấn đề bất cập trong phát triển CNPT ngành da giày là cơ sở quan trọng để đưa ra các giải pháp khắc phuc, phát huy tiềm năng để phát triển
Nắm bắt được thực trạng trên, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển CNPT cho ngành da giày trên địa bàn TP.HCM nhằm phát triển tỷ lệ nội địa hóa nguồn cung ứng Vì thế phải xác định đúng nguyên phụ liệu chủ lực tại các DN CNPT cho ngành da giày và phát triển tốt sản phẩm chủ lực trên địa bàn TP.HCM đến năm 2025 Từ đó đưa ra các mục tiêu định hướng, các giải pháp phát triển và sản xuất nguyên phụ liệu da giày Luận văn đã giải quyết các vấn đề:
Thứ nhất: Xu hướng phát triển của ngành da giày đến năm 2025;
Thứ hai: Đưa ra định hướng phát triển ngành da giày đến năm 2025;
Thứ ba: Đưa ra các giải pháp nhằm thức đẩy phát triển CNPT, gồm:
+ Các giải pháp về thu hút nguồn vốn;
+ Các giải pháp phát triển sản xuất kinh doanh;
+ Các giải pháp phát triển nguồn nguyên liệu thượng nguồn;
+ Các giải pháp đầu tư các trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu da giày; + Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực;
+ Tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động liên kết;
+ Các giải pháp đối với DN CNPT
Tuy nhiên, để nguyên phụ liệu của thành phố phát triển một cách bền vững, cần triển khai đồng bộ các giải pháp như qui hoạch, liên kết, đầu tư, thị trường , đồng thời các cấp, các ngành cần có sự quan tâm hỗ trợ tích cực, hiệu quả trên
Trang 7nhiều phương diện cần thiết, cũng như bản thân các doanh nghiệp và địa phương phải chủ động trong việc phối hợp qui hoạch đầu tư cho phát triển nguyên phụ liệu của chính doanh nghiệp, địa phương và ngành kinh tế Có vậy, việc phát triển CNPT cho ngành da giày của thành phố mới thuận lợi và đạt kết quả mong muốn
Trang 8ABSTRACT
Almost all of the leather and footwear firms in Ho Chi Minh City have done outwork Supporting industries in this field is hard to develop in not only Vietnam but also many other countries in the world because they have been controlled by customer with materials Moreover, firms in leather and footwear supporting industries, specially household ones and the ones which have capital share of the government, have worked weakly in the matter of labor qualifications, size, ability
to manufacture and approach market, (unstable) product quality and satisfaction of foreign customer requirements As a result, the investment and quality improvement in supporting industries is affected a lot Therefore, the author chooses „Develop supporting industries in leather and footwear‟ to be the master thesis
Using qualitative research which collects previous research results and secondary materials from associations, organizations and units The author concentrates on theories related to this matter beginning with quality chain to declare concepts on supporting industries and footwear and leather industry Using quantitative research which follows primary information from the own surveys through questionnaires and direct interviews after integrated and processed by statistics, supports the author to estimate the reality of supporting industries and footwear and leather industry The estimation shows that this industry mostly focuses on processing products to receive little value-added profit The thesis reaches seven problems including:
(i) Policy and methods to attract investment being ineffective
(ii) No suitable methods for human resource strategy;
(iii) Effectiveness of product trading comparativeness being low;
(iv) No method for domestic cooperation;
(v) Investment planning being low and ineffective;
(vi) Primary material, leather, textile sub-material, glue, metal sub-material, mechanical tools and accessories being in weak development;
Trang 9(vii) No strategy to popularize brand names
The problems and challenges are a lot; however, the chances and potentials are extremely large And making clear the difficulty in this industry is an important foundation for good future development
Handling above matters, the author gives some suggestions to develop footwear and leather supporting industries in Ho Chi Minh City and to increase localizing rate of material suppliers The results which are suitable strategies, conclusions and suggestions, are based on specifying main key material and developing production of that material until 2025 The thesis suggests results for the matters:
Firstly: Developing tendency of leather and footwear until 2025;
Secondly: Developing strategy of leather and footwear until 2025;
Thirdly: Suggestion for supporting industries, including:
+ Suggestion to attract investment capital;
+ Suggestion to improve business;
+ Suggestion for primary materials;
+ Suggestion to invest trading service center in leather and footwear industry; + Suggestion for human resource development;
+ Strengthening and improving cooperation;
+ Suggestion for supporting industries
However, the developing projects, cooperation, investment and matters of market need to be synchro-executed to have sustainable development in materials
At the same time, the governmental organizations have to consider and support this industry actively and effectively The firms and organizations also have to cooperate each other in the best way in household, local or even national material investment projects so that the footwear and leather supporting industries in Ho Chi Minh City should be advantageous and satisfactory
Trang 10MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN - I LỜI CÁM ƠN - II TÓM TẮT LUẬN VĂN - III ABSTRACT - VI MỤC LỤC - VIII DANH MỤC VIẾT TẮT - XI DANH MỤC CÁC BẢNG - XII DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ - XIV
MỞ ĐẦU - 1
1.Tính cấp thiết của đề tàì - 1
2 Mục tiêu nghiên cứu - 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 3
4 Phương pháp nghiên cứu - 3
5 Kết cấu đề tài - 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH DA GIÀY - 5
1.1 Cơ sở lý luận về công nghiệp phụ trợ - 5
1.1.1 Khái niệm về chuỗi giá trị - 5
1.1.2 Lý thuyết về lợi thế theo quy mô - 7
1.1.3 Ngành công nghiệp phụ trợ - 9
1.1.3.1 Khái niệm công nghiệp phụ trợ - 9
1.1.3.2 Vai trò của công nghiệp phụ trợ - 14
1.2 Các đặc thù của ngành da giày - 16
1.3 Công nghiệp phụ trợ ngành da giày - 21
1.3.1 Khái niệm về CNPT ngành da giày - 21
1.3.2 Các điều kiện phát triển CNPT ngành da giày - 24
1.3.3 Vai trò của CNPT ngành da giày - 27
1.3.4 Các sản phẩm CNPT ngành da giày - 28
Trang 11TÓM TẮT CHƯƠNG 1 - 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH DA GIÀY TẠI TP.HCM - 31
2.1 Tổng quan về kinh tế - xã hội TP.HCM - 31
2.2 Tổng quan về ngành da giày tại TP.HCM - 32
2.3 Thực trạng các điều kiện phát triển công nghiệp phụ trợ ngành da giày tại TP.HCM - 42
2.3.1 Về các yếu tố đầu vào sản xuất - 44
2.3.2 Về điều kiện đầu ra - 45
2.3.3 Các ngành có quan hệ và hỗ trợ đối với CNPT ngành da giày - 46
2.3.4 Chiến lược kinh doanh và cạnh tranh của DN - 48
2.3.5 Thời cơ và xu hướng phát triển CNPT - 49
2.3.6 Các chính sách của nhà nước về phát triển CNPT ngành da giày của Việt Nam - 49
2.4 Thực trạng công nghiệp phụ trợ ngành da giày tại TP.HCM - 50
2.4.1 Da tổng hợp, nhân tạo các loại - 50
2.4.2 Vải làm giày dép các loại - 51
2.4.3 Đế, gót giày dép các loại - 52
2.4.4 Phụ liệu kim loại - 52
2.4.5 Phụ liệu dệt, vải các loại - 53
2.4.6 Vật liệu giấy và bao bì - 53
2.4.7 Keo dán, dung môi, hóa chất trau chuốt các loại - 54
2.4.8 Phom giày các loại - 55
2.4.9 Dụng cụ cơ khí, phụ tùng, thiết bị máy móc - 55
2.4.10 Nhu cầu phát triển CNPT tại các DN da giày trên địa bàn TP.HCM - 59
2.5 Đánh giá thực trạng công nghiệp phụ trợ ngành da giày tại TP.HCM - 62
2.5.1 Những kết quả đạt được - 62
2.5.2 Những tồn tại và nguyên nhân - 63
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 - 68
Trang 12CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
PHỤ TRỢ CHO NGÀNH DA GIÀY Ở TP.HCM - 70
3.1 Quan điểm phát triển CNPT ngành da giày tại TP.HCM trong thời gian tới 70
3.2 Các định hướng phát triển CNPT ngành da giày tại TP.HCM - 73
3.3 Một số giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ ngành da giày tại TP.HCM- 76 3.3.1 Xây dựng và triển khai chương trình phát triển CNPT ngành da giày - 76
3.3.2 Các giải pháp chủ yếu phát triển công nghiệp phụ trợ ngành da giày - 77
3.3.2.1 Các giải pháp về thu hút nguồn vốn - 77
3.3.2.2 Các giải pháp về phát triển sản xuất kinh doanh - 80
3.3.2.3 Các giải pháp về phát triển nguyên liệu thượng nguồn - 81
3.3.2.4 Đầu tư các trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu da giày - 83
3.3.2.5 Các giải pháp phát triển nguôn nhân lực - 84
3.3.2.6 Các giải pháp về thị trường và nâng cao sức cạnh tranh - 86
3.3.2.7 Tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động liên kết - 87
3.3.3 Giải pháp về phía doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ ngành da giày - 89
3.3 Các giải pháp khác - 97
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 - 99
KẾT LUẬN - 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 102
PHỤ LỤC - 104
Trang 13DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
KCN Khu công nghiệp
MLSX Mạng lưới sản xuất
MMTB Máy móc thiết bị
NXB Nhà xuất bản
TĐĐQG Tập đoàn đa quốc gia
2 Viết tắt tiếng Anh
AFTA Asean Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do các nước
Đông Nam Á ASEAN Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
EU European Union Liên minh các nước Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Gia Vào Hệ Thống Phân Phối GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
JETRO The Japan External Trade
Organization JICA Japan International
Cooperation Agency
Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản
Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
R&D research & development Nghiên cứu và phát triển
WTO World Trade Organization
UNIDO The United Nations Industrial
Development Organization
Tổ chức Thương mại thế giới
Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc
USD United States Dollar Đô la Mỹ
VCCI Vietnam Chamber of Phòng thương mại và công nghiệp
Commerce and Industry Việt Nam VDF Vietnam Development Forum Diễn đàn phát triển Việt Nam
Trang 14
3 Bảng 2.3 Số lao động trong các DN ngành da giày 35
4 Bảng 2.4 Cơ cấu lao động phân theo hình thức pháp lý năm
11 Bảng 2.11 Tỷ lệ nội địa hóa của ngành da giày đối với da tổng
hợp, nhân tạo các loại (năm 2011) 50
12 Bảng 2.12 Tỷ lệ nội địa hóa của ngành da giày đối với sản
13 Bảng 2.13 Tỷ lệ nội địa hóa của ngành da giày đối với sản
phẩm đế, gót giày dép các loại (năm 2011) 52
14 Bảng 2.14 Tỷ lệ nội địa hóa của ngành da giày đối với phụ
15 Bảng 2.15 Tỷ lệ nội địa hóa của ngành da giày đối với phụ liệu dệt, vải các loại (năm 2011) 53
Trang 1516 Bảng 2.16 Tỷ lệ nội địa hóa của ngành da giày đối với vật liệu
17 Bảng 2.17 Tỷ lệ nội địa hóa của ngành da giày dép đối với keo dán, dung môi, hoá chất trau chuốt các loại
(năm 2011)
54
18 Bảng 2.18 Tỷ lệ nội địa hóa của ngành da giày đối với phom giày các loại (năm 2011) 55
19 Bảng 2.19 Thực trạng máy móc, thiết bị của ngành da giày TP.HCM (năm 2011) 56
20 Bảng 2.20 Tỷ lệ nội địa hóa của ngành da giày đối với dụng cụ cơ khí, phụ tùng và thiết bị máy móc (năm
2011)
57
21 Bảng 2.21 Tổng hợp tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm CNPT cho ngành da giày của TP.HCM (năm 2011) 58
22 Bảng 2.22 Những khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn sản phẩm phụ trợ 59
23 Bảng 2.23 Các cách thức tiếp cận nguồn nguyên phụ liệu hiệu quả nhất 60
24 Bảng 2.24 Tầm quan trọng của một số yếu tố khi lựa chọn nhà cung cấp 60
25 Bảng 2.25 Tỷ lệ nội địa hóa dự kiến 4 năm tới 61
26 Bảng 2.26 Giải pháp gia tăng năng lực của các DN phụ trợ 62
Trang 162 Hình 1.2 Mối liên kết trong chuỗi giá trị 6
4 Hình 1.4 Cấu trúc cơ bản của quy trình sản xuất 10
5 Hình 1.5 Các mô hình chia sẻ của các ngành công nghiệp
9 Hình 1.9 Mô hình Viên kim cương của Porter 24
10 Hình 2.1 Cơ cấu thị trường xuất khẩu da giày năm 2011 33
11 Biểu đồ 2.1 Số lượng DN công nghiệp da giày TP.HCM
(2000-2011)
35
Trang 17MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tàì
Nền kinh tế Việt Nam đang dần hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và thế giới, môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp được mở rộng song sự cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn Điều này vừa tạo ra các cơ hội kinh doanh đồng thời cũng chứa đựng những nguy cơ tiềm tàng đe dọa sự phát triển của các doanh nghiệp Đặc biệt là ngành công nghiệp da giày tại thị trường Việt Nam Ngành công nghiệp da giày Việt Nam đã phát triển rất nhanh và được xem là một trong những ngành công nghiệp chính đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển
Số liê ̣u do Cu ̣c Thống kê TP HCM công bố , năm 2011 TP.HCM kim ngạch nhập siêu là đạt 27.524,3 triệu USD (tăng 19,1% so với năm 2010) Một trong những nguyên nhân khiến nhập siêu tăng được các chuyên gia kinh tế đưa ra là sự yếu kém của nền công nghiệp phụ trợ Các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này chủ yếu định hướng nhập khẩu, không hướng đến những kết nối thúc đẩy phát triển công nghiệp phụ trợ trong nước để tạo ra sự chuyển dịch trên chuỗi giá trị nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nội địa Một lần nữa vấn đề phát triển công nghiệp phụ trợ, tăng công tác nội địa hóa lại được đưa ra bàn bạc và nhắc lại
Trong một thời gian dài, công nghiệp da giày thiếu đi một định hướng chiến lược phát triển công nghiệp phụ trợ, do đó thiếu sự đầu tư trong thiết kế chính sách cũng như nhận thức đúng đắng về vai trò và cách tiếp cận Đối với xây dựng chính sách, quan niệm về ngành công nghiệp phụ trợ hiện rất mơ hồ Hiện nước ta vẫn chưa có khái niệm chính thức về ngành công nghiệp phụ trợ Trong khi đó, đã có rất nhiều nghiên cứu của Nhật Bản về ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam, tiêu biểu như nghiên cứu của Kenichi Ohno, Junichi Mori, Kyoshiro Ichikawa đã được đăng tải trên diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) Điều này cho thấy sự quan tâm đặc biệt của các nhà đầu tư nước ngoài đối với ngành công nghiệp phụ trợ, đơn giản chỉ
vì họ muốn hiệu quả và triển vọng lâu dài đối với đồng vốn đầu tư bỏ ra Để nắm bắt các cơ hội phát triển của ngành da giày trong thời đại của toàn cầu hóa và chuỗi
Trang 18giá trị, cần có sự quan tâm tương ứng đối với các nghiên cứu phục vụ xây dựng chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ theo ngành, trên địa bàn TP.HCM
Nhiều năm gần đây, chính phủ đã có nhiều chính sách chú trong phát triển các ngành CNPT trong nước, đặc biệt, Quyết định Số 12/2011/QĐ-TTg ra ngày 24/02/2011 về việc ban hành Chính sách khuyến khích phát triển một số ngành CNPT, kèm theo đó là Quyết định số 1483/QĐ-TTg ra ngày 26/8/2011 về việc ban
hành Danh mục CNPT ưu tiên phát triển (trong đó, ngành da - giày có 6 đầu mục
ưu tiên phát triển: da thuộc; vải giả da; hóa chất thuộc da; da muối; chỉ may giày)
Đồng thời, gần đây, trong nước cũng đã có rất nhiều hội thảo nhằm đề xuất giải pháp chính sách phát triển CNPT nói chung và CNPT ngành da giày nói riêng Tuy nhiên, thực tế phát triển lại không được như mong đợi và đang rơi vào tình trạng
“nói thì nhiều, làm thì ít” Thực trạng này là do chính sách của Chính phủ chưa đủ
mạnh, những ưu đãi phát triển CNPT chưa đủ hấp dẫn để tạo động cơ thu hút sự đầu tư của các DN
Hiện nay, trên địa bàn TP.HCM gần 100% doanh nghiệp da giày sản xuất gia công Ngành công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực da giày không những chỉ riêng của TP.HCM mà đối với cả nước cũng rất khó phát triển, do sản xuất gia công phải chịu
sự chi phối của khách hàng theo chỉ định nhập nguyên liệu1 Bên cạnh đó, các DNCNPT ngành da giày, đặc biệt là các DN có vốn nhà nước và DN dân doanh, hoạt động yếu kém cả về trình độ, quy mô, khả năng cung cấp và khả năng tiếp cận thị trường, chất lượng sản phẩm không ổn định, chủ yếu phục vụ trong nước nên không đáp ứng yêucầu của các nhà đầu tư nước ngoài Điều này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến việc tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng sản xuất các sản phẩm phụ trợ trong nước Từ thực tế đó, đề tài: “ Phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành
da giày tại thành phố Hồ Chí Minh”đã được tác giả lựa chọn nghiên cứu
1
Ông Nguyễn Văn Khánh, Tổng Thư ký Hội Da giày TPHCM (Sla) chia sẻ
Trang 192 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống và làm rõ các quan niệm, nội dung và cách tiếp cận đối với ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ ngành da giày
Phân tích hiện trạng và các điều kiện phát triển ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ cho công nghiệp da giày trên địa bàn TP.HCM nhằm xác định ảnh hưởng của phát triển CNPT ngành da giày đến phát triển ngành d a giày, hiện trạng về cơ chế chính sách đối với phát triển ngành da giày và công nghiệp phụ trợ phục vụ ngành da giày
Đề xuất các giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ cho ngành
da giày của TP.HCM nhằm đáp ứng xu hướng phát triển và toàn cầu hóa của thị trường da giày hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ngành công nghiệp phụ trợ da giày
* Phạm vi nghiên cứu
Các doanh nghiệp da giày trên địa bàn TP.HCM từ năm 2007-2011 Đồng thời, nghiên cứu sẽ giới hạn chỉ trong những ngành công nghiệp phụ trợ có vai trò rõ nét trong phục vụ phát triển ngành da giày
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng cả phương pháp định tính và phương pháp định lượng Trong đó phương pháp định tính là chủ yếu
- Phương pháp định tính sử dụng kết quả nghiên cứu và số liệu thứ cấp từ các hiệp hội, tổ chức, đơn vị có liên quan và từ các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến CNPT và CNPT ngành da giày ở TP.HCM
- Phương pháp định lượng sử dụng các số liệu sơ cấp từ cuộc khảo sát riêng cho luận văn, thông qua phiếu điều tra và các cuộc phỏng vấn (toàn bộ số liệu khảo sát được xử lý bằng SPSS) Cụ thể:
(1) Nội dung khảo sát:
Trang 20Thực trạng và nhu cầu phát triển CNPT tại các DN giày: nghiên cứu tỷ trọng các sản phẩm phụ trợ tại DN giày, tỷ lệ nội địa hóa nguồn cung ứng, những khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn cung ứng, cách thức tiếp cận nguồn cung ứng, tiêu chí lựa chọn nguồn cung ứng
(2) Phương thức nghiên cứu và khảo sát:
Các sản phẩm CNPT cho ngành da giày được nghiên cứu chia thành 9 nhóm:
Da tổng hợp, nhân tạo các loại; Vải làm giày dép các loại; Đế, gót giày dép các loại; Phụ liệu kim loại làm giày dép; Phụ liệu dệt, vải các loại; Vật liệu giấy và bao bì; Keo dán, dung môi, hoá chất trau chuốt các loại; Phom giày các loại; Dụng cụ cơ khí, phụ tùng, thiết bị máy móc
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1 – Cơ sở lý luận về công nghiệp phụ trợ ngành da giày
Chương 2 – Thực trạng công nghiệp phụ trợ ngành da giày tại TP.HCM
Chương 3 – Một số giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho phục vụ ngành da giày tại TP.HCM
Trang 21CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ
NGÀNH DA GIÀY
1.1 Cơ sở lý luận về công nghiệp phụ trợ
1.1.1 Khái niệm về chuỗi giá trị
Theo Kaplinsky và Morris (2001), chuỗi giá trị đơn giản được định nghĩa là việc mô tả toàn bộ dãy hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng Chuỗi giá trị tồn tại bởi các mối liên kết, giá trị tạo ra từ hoạt động của các chủ thể tham gia được xác định trong toàn chuỗi Từ định nghĩa này, góc nhìn về chuỗi giá trị có thể bó hẹp với những liên kết trong nội bộ doanh nghiệp hay nội bộ ngành, hoặc
mở rộng ra đến các liên kết toàn cầu
Cũng đi theo phương pháp tiếp cận toàn cầu, Kaplinsky và Morris (2001) đưa các phân tích tổng quát hơn, hình thành nền tảng lý luận và phương pháp phân tích
về chuỗi giá trị Theo Kaplinsky và Morris, có bốn mối liên kết trong một chuỗi giá trị cơ bản thể hiện theo hình vẽ dưới đây:
Thiết kế và phát
triển sản phẩm
Sản xuất
- Hậu cần bên trong
Hình 1.1: Mối liên kết trong chuỗi giá trị
(Nguồn: Kaplinsky, Raphael Kaplinsky và Mike Morris, Cẩm nang nghiên cứu chuỗi
giá trị, Tài liệu giảng dạy của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, 2007)
Thuật ngữ chuỗi giá trị được Michael E Potter sử dụng đầu tiên vào năm
1985, trong cuốn “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior
Trang 22Performance”- một cuốn sách kinh điển về quản trị Potter đưa ra khái niệm
chuỗi giá trị như một công cụ cơ bản để hình dung và phân tích lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Theo ông, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp không thể nhìn chung chung mà phải đi vào các hoạt động riêng biệt trong những quy trình thiết kế, sản xuất, marketing, giao nhận, hỗ trợ… Chính những yếu tố này mới tạo nên sự khác biệt và chi phí so sánh của doanh nghiệp Phân tích lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp chính là phân tích các hoạt động của doanh nghiệp và tương tác giữa các hoạt động ấy, với chuỗi giá trị làm công cụ phân tích
Hình 1.2: Chuỗi giá trị Potter
( Nguồn: Michael E Potter 1985) Potter đặt công cụ phân tích chuỗi giá trị trong một hệ thống giá trị (value system) Chuỗi giá trị của doanh nghiệp được nhìn trong các mối liên kết đơn hay đa ngành Từ góc độ doanh nghiệp, chuỗi giá trị được tạo thành từ 9 nhóm hoạt động cơ bản Các hoạt động tạo ra giá trị, phần chênh lệch giữa giá trị
và tập hợp chi phí thực hiện các hoạt động đó được Potter gọi là biên (margin) Các đặc thù của chuỗi giá trị tạo thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả giới thiệu sơ lược về chuỗi giá trị để bắt đầu tiếp cận khái niệm về ngành CNPT Chuỗi giá trị biểu thị một loạt các hoạt động tạo giá trị và các mối liên kết của chúng với những sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể Một mô hình chuỗi giá trị cơ bản như sau:
Trang 23Hình 1.3: Mô hình chuỗi giá trị ngành
( Nguồn: Tác giả dịch từ trang: http://www.quickmba.com/strategy/value-chain/)
Những hoạt động này được tiến hành thuận lợi hơn khi công nghiệp phụ trợ
được phát triển, trong đó có khâu mua nguyên liệu thô, vật liệu phụ trợ và trang
thiết bị máy móc; nghiên cứu phát triển công nghệ và phát triển sản phẩm/dịch vụ,
tự động hóa quy trình; phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng, năng lực quản lý; và
phát triển cơ sở hạ tầng như luật pháp, quy định, quản lý chất lượng và tài chính
Phân tích chuỗi giá trị để hiểu rõ hơn các hoạt động sẽ ảnh hưởng đến năng
lực cạnh tranh tiềm năng, giúp xác định những khâu giá trị được tạo ra lớn hơn so
với chi phí sản xuất và dịch vụ, những điểm có thể đạt được sự tối ưu hóa cũng như
điều hoà được các liên kết hoạt động Mặc dù được mô tả như những yếu tố về chi
phí, nhưng những hoạt động bổ trợ cũng có nhiều đóng góp trong việc tìm hiểu
năng lực cạnh tranh của ngành và của công ty, chẳng hạn như việc áp dụng hệ thống
thông tin trong sản xuất và quản lý, lao động có chuyên môn và phát triển sản phẩm
và dịch vụ có tính sáng tạo2
Chuỗi giá trị của ngành da giày có thể thay đổi tùy thuộc vào mức độ sử dụng
công nghệ sản xuất và việc sử dụng nguồn lực đầu vào trong nước như nguyên liệu
thô, máy móc sản xuất và dịch vụ hỗ trợ
1.1.2 Lý thuyết về lợi thế kinh tế theo quy mô
Khi quy mô cầu thị trường lớn cho phép DN khai thác lợi thế kinh tế theo quy
mô, đồng thời, khuyến khích các DN đầu tư vào thiết bị, cải tiến công nghệ nâng
Cung ứng
đầu vào
Hoạt động SX/dịch vụ ngoài nước Hậu cần Marketing và bán hàng
Trang 24cao năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh khi tham gia thị trường quốc
tế
Lợi thế kinh tế theo quy mô: thể hiện khoảng sản lượng mà ở đó, càng tăng sản lượng thì chi phí bình quân dài hạn càng giảm Trong miền sản lượng này, sản xuất với quy mô lớn hơn tỏ ra có ưu thế hơn so với quy mô nhỏ Khi đó, tăng quy
mô sản lượng là một giải pháp để doanh nghiệp có thể hạ được chi phí bình quân dài hạn Tại sao lợi thế kinh tế theo quy mô lại xuất hiện Thông thường, khi sản lượng còn nhỏ, việc tăng quy mô đầu ra có thể làm giảm chi phí bình quân dài hạn
vì những lý do sau:
Thứ nhất, để sản xuất doanh nghiệp luôn luôn phải bắt đầu bằng việc sử dụng một số lượng tối thiểu các yếu tố đầu vào không thể phân chia được nào đó Nếu sản lượng cần tạo ra là quá thấp, những yếu tố sản xuất trên sẽ không được sử dụng hết công suất hay năng lực Trong trường hợp này, tăng sản lượng không làm tăng chi phí lên một cách tương ứng Sản lượng cao hơn cho phép doanh nghiệp khai thác hiệu quả hơn các năng lực hay công suất dư thừa của các đầu vào Trong phạm
vi này, sản xuất với quy mô lớn hơn sẽ là một lợi thế: chi phí bình quân sẽ giảm xuống
Thứ hai, quy mô sản lượng lớn hơn cho phép doanh nghiệp khai thác được lợi thế của việc chuyên môn hóa Lao động, máy móc phải với số lượng đủ lớn mới cho phép người ta tổ chức sử dụng chúng theo kiểu chuyên biệt Chúng có thể được phân bổ và được sử dụng riêng cho những khâu, những công đoạn sản xuất khác nhau mà nhờ đó, năng suất của chúng có thể tăng lên Khi sản lượng còn quá nhỏ, điều đó không xảy ra vì số lượng đầu vào được sử dụng quá thấp
Thứ ba, trong nhiều trường hợp, việc chế tạo một chiếc máy có công suất gấp đôi lại rẻ hơn việc chế tạo hai chiếc máy có công suất nhỏ bằng một nửa chiếc máy trên Điều đó có nghĩa là chi phí để mua một chiếc máy lớn thường nhỏ hơn mua hai cái máy nhỏ có tổng công suất là tương đương Sản lượng phải đủ lớn mới tạo ra
cơ hội để doanh nghiệp khai thác được lợi thế của chiếc máy lớn
Thứ tư, quy mô sản lượng lớn cho phép doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều chi phí giao dịch Khi bán một khối lượng hàng lớn hơn, chi phí đàm phán, liên lạc (qua
Trang 25thư từ, điện thoại, fax v.v…) không tăng tương ứng so với trường hợp bán một khối lượng hàng nhỏ hơn…
Tóm lại, các lợi thế kinh tế nhờ quy mô là những lợi thế chính của việc tăng quy mô sản xuất và trở thành "big".Tại sao lợi thế kinh tế nhờ quy mô quan trọng
- Thứ nhất, bởi vì một doanh nghiệp lớn có thể đạt được chi phí thấp hơn cho khách hàng thông qua các mức giá thấp hơn và gia tăng thị phần của thị trường Điều này đặt ra một mối đe dọa cho các doanh nghiệp nhỏ có thể được "cắt xén" bởi đối thủ cạnh tranh
- Thứ hai, một doanh nghiệp có thể lựa chọn để duy trì mức giá hiện tại của nó đối với sản phẩm của mình và chấp nhận mức lợi nhuận cao hơn Ví dụ, một hãng sản xuất chỉ may, có thể sản xuất 1.000 cuộn tại 250 đ/cuộn có thể mở rộng và có thể sản xuất 2.000 cuộn ở 200 đ/cuộn Tổng chi phí sản xuất sẽ tăng lên đến 400.000 đ so với 250.000 đ, nhưng chi phí cho mỗi đơn vị đã giảm từ 250 đ/cuộn đến 200 đ/cuộn Giả sử các doanh nghiệp bán giá 350 đ/cuộn, lợi nhuận mỗi cuộn chỉ tăng lên từ 100 đ/cuộn đến 150 đ/cuộn
Đối với ngành da giày, nghiên cứu lợi thế theo kinh tế quy mô là một vấn đề rất quan trọng vì ngành da giày cần rất nhiều các nguyên phụ liệu Nếu một vài doanh nghiệp sản xuất và cung ứng một loại phụ liệu nào đó, chẳng hạn như chỉ may khi tăng quy mô sản xuất thì có thể cung cấp cho các DN khác sẽ hiệu quả hơn
DN da giày nào cũng tự sản xuất chỉ may Do vậy lợi thế kinh tế theo quy mô có thể được hiểu là cơ sở khoa học cho công nghiệp phụ trợ nói chung, cho ngành da giày nói riêng
1.1.3 Ngành công nghiệp phụ trợ
1.1.3.1 Khái niệm công nghiệp phụ trợ
Thuật ngữ “công nghiệp phụ trợ” được sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở các nước Đông Á Tuy nhiên, khái niệm công nghiệp phụ trợ chưa hình thành một cách hiểu thống nhất trong các lý thuyết kinh tế cũng như trên thực tế, nhìn chung vẫn chưa hình thành các chuẩn để quan niệm thế nào về công nghiệp phụ trợ
Theo lý thuyết kinh tế, công nghiệp phụ trợ được định nghĩa là các ngành sản
Trang 26xuất đầu vào (manufactured inputs) Hàng hóa, sản phẩm sau cùng đƣợc tạo ra từ
những quá trình sản xuất và lắp ráp các đầu vào [13, tr 7-8] CNPT chính là
những ngành sản xuất các sản phẩm đầu vào, gồm:
- Các sản phẩm, hàng hóa trung gian (intermediate goods)
- Các sản phẩm, hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất (capital goods)
Trong thực tiễn sản xuất kinh doanh, có hai cách hiểu về công nghiệp phụ trợ
Ở góc độ hẹp, công nghiệp phụ trợ là các ngành sản xuất linh kiện phục vụ cho
công đoạn lắp ráp ra sản phẩm hoàn chỉnh Ở góc độ rộng hơn, công nghiệp phụ trợ
đƣợc hiểu nhƣ toàn bộ các ngành tạo ra các bộ phận của sản phẩm cũng nhƣ tạo ra
các máy móc, thiết bị hay những yếu tố vật chất nào khác góp phần tạo thành sản
phẩm Khái niệm công nghiệp phụ trợ trên thực tế chủ yếu sử dụng trong các ngành
công nghiệp có sản phẩm đòi hỏi sự kết nối của nhiều chi tiết phức tạp đòi hỏi tính
chính xác cao, dây chuyền sản xuất đồng loạt với các công đoạn lắp ráp tách biệt
Tuy nhiên, nếu đặt góc nhìn rộng hơn, công nghiệp phụ trợ phải đƣợc hiểu một cách
tổng quát nhƣ một hình dung về toàn bộ quá trình sản xuất nói chung, chứ không
thể bổ dọc, cắt lớp theo ngành hay sản phẩm vì mỗi ngành, mỗi loại sản phẩm đều
có những đặc thù riêng và đều có những đòi hỏi ở các mức độ khác nhau về yếu tố
Nguyên vật liệu
Hình 1.4: Cấu trúc cơ bản của quy trình sản xuất
(Nguồn: Junichi Mori, Development of Supporting Industries for Vietnam’s
Industrialization, M of Arts in Law and Diplomacy Thesis, The Fletcher School,
2005.)
Kenichi Ohno (2005) đƣa ra mô hình chia sẻ của các ngành công nghiệp phụ
Trang 27trợ Ohno không đi vào định nghĩa thế nào là công nghiệp phụ trợ Theo Ohno, thuật ngữ các ngành công nghiệp phụ trợ liên quan nhiều hơn đến sản xuất theo kiểu lắp ráp, theo đó các quy trình, các sản phẩm có thể chia sẻ các đầu vào chung Các ngành dệt may, giày dép, chế biến thực phẩm đòi hỏi những loại nguyên liệu đặc thù cho từng ngành, do đó không nhấn mạnh nhiều đến phát triển công nghiệp phụ trợ trong các chiến lược đầu tư vào thượng nguồn [1, tr 56]
Đặt trong khung phân tích chuỗi giá trị, với mục tiêu xây dựng một chiến lược quốc gia về phát triển công nghiệp, Kenichi Ohno tổng quát hóa thành các nhóm ngành công nghiệp phụ trợ sẽ đóng vai trò đảm bảo quá trình công nghiệp hóa “lành mạnh và trôi chảy” [1, tr 20]:
- Các ngành cứng như sản xuất nguyên vật liệu và linh kiện…
Các ngành mềm như thiết kế sản phẩm, mua sắm, marketing quốc tế, viễn thông, vận tải, năng lượng, cấp nước…
- Các ngành phục vụ nhu cầu nội địa như thép, hóa chất, giấy, ximăng… Những ngành này, theo Ohno, cần phải đánh giá về chi phí và khả năng cạnh tranh trước khi đi theo chiến lược tập trung nội lực phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo
Điện tử I và II Dệt may và giày dép Chế biến thực phẩm
Hình 1.5: Các mô hình chia sẻ của các ngành công nghiệp phụ trợ
( Nguồn: Kenichi Ohno và Nguyễn Văn Thường (chủ biên), Hoàn thiện
chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam, NXB Lý luận chính trị, 2005.)
Có thể nói, công nghiệp phụ trợ cho đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất Không chỉ về chuẩn hóa định nghĩa hay cách tiếp cận, còn có hai quan điểm trái ngược nhau về đặc thù của ngành công nghiệp phụ trợ
- Quan điểm từ các lý thuyết kinh tế phát triển về công nghiệp thượng nguồn
Trang 28và hạ nguồn cho rằng, công nghiệp phụ trợ có đặc tính thâm dụng vốn, có độ phủ rộng phục vụ và chia sẻ với nhiều ngành sản xuất [13, tr.9] Khác với ngành hình thành sản phẩm cuối cùng có thể cần nhiều nhân lực phổ thông, các thiết bị, linh kiện, sản phẩm hỗ trợ được sản xuất với sự đầu tư tốn kém về máy móc và nguồn nhân lực kỹ thuật cao Chính vì vậy, công nghiệp phụ trợ là những ngành thâm dụng vốn, đòi hỏi cao vềchất lượng lao động Mặt khác, công nghiệp phụ trợ có độ phủ rộng, sản phẩm có thể sử dụng chung cho nhiều ngành, do đó phải đáp ứng được những yêu cầu nghiêm ngặt về công nghệ và tiêu chuẩn kỹ thuật Cả hai đặc tính này khiến công nghiệp phụ trợ ở các nước đang phát triển kém tính cạnh tranh Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các nước đang phát triển thường không đủ nguồn lực về vốn cũng như về lao động kỹ thuật cao để có thể phát huy vai trò của công nghiệp phụ trợ khi tham gia chuỗi giá trị
- Ngược lại, công nghiệp phụ trợ trong quan điểm khác gắn với khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Khái niệm công nghiệp phụ trợ của Trần Văn Thọ (2006) chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính, cụ thể gồm những linh kiện, phụ tùng, phụ liệu, bao bì…và bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế [2, tr 173] Sản phẩm công nghiệp phụ trợ, theo ông, thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa Do đó, những ngành sản xuất thâm dụng vốn như quan điểm trên sẽ không được tính là công nghiệp phụ trợ
Do các quan niệm khác nhau về công nghiệp phụ trợ, việc hiểu và vận dụng đúng khái niệm này trong các chính sách công nghiệp thường gặp nhiều khó khăn Xem công nghiệp phụ trợ là những ngành sử dụng công nghệ thấp là một quan niệm sai lệch thường thấy ở các nước đang phát triển, dẫn đến không có các chính sách
và đầu tư thỏa đáng Tuy nhiên, xem công nghiệp phụ trợ theo nghĩa thâm dụng vốn
và sử dụng lao động kỹ thuật cấp cao không mấy ý nghĩa đối với việc hình thành các chính sách và chiến lược phát triển công nghiệp do điều kiện, năng lực hạn chế của các nước đang phát triển Trên thực tế, khái niệm công nghiệp phụ trợ được hiểu và tiếp cận một cách “thực dụng”, nghĩa là tùy mục tiêu, tùy chiến lược mà sử
Trang 29dụng hay tiếp nhận
- Ở Việt Nam, tận đến năm 2007, khi Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) cho ban hành “Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành CNPT Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020”, cụm từ “CNPT” mới được chính thức hóa Theo đó, CNPT được hiểu là: “hệ thống CNPT là hệ thống các nhà sản xuất (sản phẩm) và công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng, cho khâu lắp ráp cuối cùng” [8, tr.8] Ngày 24/2/2011, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg về chính sách phát triển một số ngành CNPT, theo đó, CNPT được hiểu là “các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng, phụ kiện, linh kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng” [46, tr.2] Đồng thời, Chính phủ cũng đã chỉ định danh mục các sản phẩm ưu tiên phát triển đối với 5 nhóm ngành: ô tô, cơ khí chế tạo, dệt
- may, da - giày, điện tử
Tuy nhiên, theo Đỗ Minh Thụy (2012) công nghiệp phụ trợ nếu xét trên phương diện công nghệ, thì khái niệm trên vẫn rộng và cần thiết được xác định cụ thể hơn, đó là: CNPT là công nghiệp tạo ra các yếu tố đầu vào phục vụ cho công nghiệp chế tạo [ 1, tr.15]
Hình 1.6: Khái niệm về CNHT
( Nguồn: Luận án TS Đỗ Minh Thụy, Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép- nghiên
cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng )
Trang 30Qua các quan điểm và lý thuyết khác nhau, tác giả nhận thấy, công nghiệp phụ trợ là một khái niệm dựa trên nền tảng chính sách Tùy vào chiến lược và chính sách phát triển công nghiệp, mỗi vùng, mỗi nước, mỗi khu vực, mỗi ngành tự lựa chọn cho mình một phạm vi thích hợp cho định nghĩa về công nghiệp phụ trợ Tuy nhiên, một lựa chọn đúng đắn cho quan niệm thế nào là công nghiệp phụ trợ phụ phải phù hợp với các nhân tố khách quan như xu hướng phát triển ngành, các chuỗi giá trị, các mối tương quan… cũng như nhất thiết phải đặt trong một tổng thể thống nhất chiến lược và chính sách phát triển công nghiệp cấp quốc gia
Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả không sử dụng thuật ngữ công nghiệp
hỗ trợ do công nghiệp phụ trợ là cụm từ được sử dụng từ đầu và đã được thể hiện trong nhiều nghiên cứu trước đây Mặt khác, do giới hạn nghiên cứu của đề tài nên không cần thiết phải đào sâu hay mở rộng độ phủ của khái niệm công nghiệp phụ trợ đến mức phải theo một cách thể hiện khác
1.1.3.2 Vai trò của công nghiệp phụ trợ
Vai trò của công nghiệp phụ trợ đối với phát triển kinh tế trong thời đại toàn cầu hóa gắn với cái gọi là lợi thế toàn cầu Theo The Boston Consulting Group [2, tr.8], lợi thế toàn cầu bao gồm 3 thành phần cơ bản: lợi thế về chi phí, lợi thế về tiếp cận thị trường, lợi thế về năng lực Cụ thể từ các lợi thế này, có 7 tiêu chí chính khi các công ty quyết định chuyển dịch các cơ sở sản xuất sang các quốc gia có chi phí thấp, gồm: Hàm lượng lao động; Tăng trưởng cầu trên thị trường nước nhà; Quy mô của các thị trường; Mức độ phát triển của nhà cung ứng; Mức độ chuẩn hóa; Hàm lượng tài sản trí tuệ; Yêu cầu về tiếp vận (logistics)
Các tiêu chí trên đều gắn bó chặt chẽ với việc phát triển công nghiệp phụ trợ Lợi thế chi phí đến từ các nguồn lao động giá rẻ, chi phí đầu tư vốn thấp, giảm chi phí nhờ tìm được nguồn cung ứng nội địa, lợi thế kinh tế nhờ quy mô và các biện pháp ưu đãi của chính phủ Vai trò của các nhà cung ứng địa phương ngoài sự thể hiện trong lợi thế về chi phí, còn thúc đẩy phát triển lợi thế về tiếp cận thị trường và lợi thế về năng lực do các mối liên kết và hiệu ứng lan truyền công nghệ
Vai trò của công nghiệp phụ trợ được nhìn nhận trên hai mặt sau đây:
Trang 31- Đối với thu hút và định hướng cho các nguồn FDI
Rất nhiều nghiên cứu đã thống nhất rằng, FDI không phải phương thuốc thần cho sự phát triển Tác động từ FDI có tính hai mặt Một mặt, FDI tạo tác động lan tỏa thông qua các mối liên kết với các doanh nghiệp nội địa trong cấu trúc chuỗi giá trị, chia sẻ kinh nghiệm, công nghệ, phương thức quản lý… Mặt khác, FDI có thể là mối đe dọa lớn đối với các ngành sản xuất trong nước, vốn yếu thế hơn hẳn về năng suất cũng như khả năng cạnh tranh Ban đầu, FDI có thể được thu hút bằng những lợi thế về nguồn nhân lực, tài nguyên, thị trường nội địa hoặc bằng các chính sách
ưu đãi tại các quốc gia đang phát triển Tuy nhiên, các lợi thế này thường không bền vững, các ưu đãi phải có sự đánh đổi, lực hút vì vậy mất dần và FDI có thể chuyển hướng Trong dài hạn, chỉ có tham gia vào việc định hình các chuỗi giá trị, gắn bó lợi ích trong phát triển các mối liên kết mới có thể tạo tính bền vững trong khai thác FDI
Công nghiệp phụ trợ thể hiện vai trò trong chuỗi giá trị, tạo ra sự thu hút và định hướng cho các luồng FDI Một mặt, công nghiệp phụ trợ tạo ra các mối kết nối tham gia vào chuỗi giá trị, từ đó khai thác các tác động tích cực của FDI, mở rộng các liên kết tạo bàn đạp cho phát triển Mặt khác, mặt bằng nền công nghiệp phụ trợ hiện tại chính là một yếu tố quan trọng đối với thu hút và định hướng FDI vì xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ chuỗi giá trị đòi hỏi vai trò chủ động và khả năng hấp thu của các quốc gia tiếp nhận FDI Nền tảng công nghiệp phụ trợ quyết định vai trò của FDI trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Từ đây xuất hiện một nghịch lý: công nghiệp phụ trợ khai thác tác động tích cực từ nguồn FDI tạo bàn đạp cho phát triển công nghiệp nhưng nếu chưa có một nền tảng công nghiệp phụ trợ tương đối vững chắc thì khó có thể thu hút và định hướng nguồn FDI theo hướng tích cực và bền vững Giải quyết nghịch lý này, các chính sách và chiến lược phát triển công nghiệp cần phải xác định một xuất phát điểm phù hợp
- Đối với chuyển dịch trên nấc thang chuỗi giá trị
Công nghiệp phụ trợ đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa theo
Trang 32hướng vừa mở rộng vừa theo chiều sâu Mối quan hệ tương hỗ này xuất phát từ việc các đầu vào hình thành nên sản phẩm cuối cùng có thể đến từ 3 nguồn: các nhà cung ứng trong nước, các nhà cung ứng FDI và các nhà cung ứng từ nước ngoài thông qua nhập khẩu Việc nhập khẩu hoặc cung ứng từ các doanh nghiệp nước ngoài thường tạo sức ép về chi phí trong khi kỳ vọng của các công ty đa quốc gia là tìm kiếm nguồn cung ứng rẻ hơn ở địa phương Chuyển dịch trong chuỗi giá trị là
cả một quá trình cạnh tranh mạnh mẽ để đáp ứng các đòi hỏi ngày càng cao của các doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân trong mạng sản xuất Có kết nối được mới có thể mở rộng và chuyển dịch Công nghiệp phụ trợ thể hiện sự kết nối và sức cạnh tranh của các nhà cung ứng nội địa, từ đó quyết định khả năng và tốc độ chuyển dịch trong các chuỗi giá trị
Sự phát triển ban đầu sẽ kích thích mở rộng mạng lưới cung ứng, ngày càng
có nhiều doanh nghiệp nội địa tham gia Thị trường công nghiệp phụ trợ phát triển thu hút thêm nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời chia sẻ mặt bằng phát triển với các ngành công nghiệp nội địa Sự tích lũy và tiếp nhận công nghệ, kỹ năng sẽ tạo ra các bước chuyển dịch trong chuỗi giá trị, đúng hơn là trong mạng giá trị - mạng sản xuất với các liên kết xuyên quốc gia Quá trình chuyển dịch diễn ra dần dần theo các công đoạn khác nhau với đặc thù của từng chuỗi giá trị
và giá hàng ngàn đôla một đôi Có nhiều loại giày dép với những tên loại khác nhau tùy theo cơ sở phân loại cụ thể như sau :
Trang 33- Theo nguyên liệu chủ yếu dùng làm mũ giày và đế giày có: Giày da, giày
vải, giày chất dẻo, giày cao su…
- Theo chiều cao của cổ giày có: Giày thấp cổ (cổ giày nằm dưới mắt cá chân), giày cổ lửng hay còn gọi là bốt (cổ giày đủ che mắt cá chân), ủng lửng (cổ giày chỉ tới nửa bắp chân), ủng cao cổ (cổ giày che tới đầu gối)…
- Theo công dụng cụ của giày dép có: Giày lễ hội dùng trong những dịp trang trọng, giày bảo hộ dùng bảo vệ đôi chân trong lúc lao động, giày thông thường dùng hàng ngày, giầy thể thao dung khi chơi các môn thể thao…có thể gọi ( giày công sở, dạ hội, dạo phố, pinic)
- Theo kiểu dáng của giày dép có:
Giày buộc dây: Sau khi xỏ chân vào giày, cửa giày được làm khít lại bởi dây buộc Loại giày này có hai loại điển hình: Giày decby và giày oxpho Giày decby thông thường có chi tiết má nằm trên
Chi tiết lắc: Cửa giày mở đến tận điểm kết của đầu decby – giày oxpho thường có chi tiết lắc đè lên má, cửa giày thường bị chặn lại bởi các chi tiết lắc
Giày không buộc dây: Có thun hoặc loại giầy kiểu thẳng
Giày thuyền: Cửa giày khoét sâu không có dây chun hoặc dây buộc
Giày đóng mở bằng khóa cài hoặc khóa kéo…
- Theo sách sản xuất giày dép: Chủ yếu theo cách lắp ráp mũ giày với đế giày
có giày dán, giày khâu, giày lưu hóa, giày ép phun…
- Theo giới tính: Lứa tuổi sử dụng giày, theo thời tiết trong năm: Giày nam, giày nữ, giày trẻ em, giày đông , giày hè…
Nghiên cứu quá trình sản xuất giày vải tại công ty Giày An Lạc Qua đó có thể thấy, để sản xuất một sản phẩm giày dép hoàn chỉnh cần phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp, như:
Phân xưởng chuẩn bị sản xuất lĩnh nguyên vật liệu ở kho theo định mức vật tư của từng lệnh sản xuất mà phòng Kế toán - Vật tư đó ban hành Kết hợp với quy trình kỹ thuật mà phòng Kỹ thuật công nghệ và KCS (kiểm tra chất lượng sản phẩm) đó lập, phân xưởng bắt đầu tiến hành sản xuất: Vải được bồi với mộc mành
Trang 34hoặc với xốp hoặc phin (tuỳ theo yêu cầu của khách hàng) để làm mặt tẩy Sau đó
vải bồi được chặt thành mũ giày, chặt độn, chặt mặt tẩy, nẹp ô-de…Phân xưởng
chuẩn bị bán thành phẩm để chuyển sang phân xưởng may mũ giày
Phân xưởng may mũ giày: Tiếp nhận các chi tiết là sản phẩm của phân xưởng
chuẩn bị sản xuất chuyển sang và tiến hành may mũ giày hoàn chỉnh Công đoạn
may này đòi hỏi công nhân phải có tay nghề cao, cẩn thận và có nhiều chi tiết rất
khó như: đấu hậu, nẹp Ô-de, đường viền…Mũ giày phải được vệ sinh sạch sẽ, kiểm
hoá từng đôi, đạt yêu cầu mới chuyển sang phân xưởng giày để gõ thành giày hoàn
chỉnh
Phân xưởng cán – ép: Có nhiệm vụ chế biến cao su từ nguyên liệu là cao su
hoặc các loại hoá chất khác Trước tiên, cán luyện thô cao su, đưa chất xúc tác để
cán tinh cao su, sau đó đưa hỗn hợp này vào máy cán, cán mỏng theo quy trình kỹ
thuật, chặt thành đế cán, bím giày pho hậu, nẹp Ô-de Nếu giày có sử dụng đế đúc
thì hỗn hợp này được chuyển sang phân xưởng ép để ép thành đế giày
Phân xưởng giày nhận mũ giầy từ phân xưởng máy và đế cao su từ phân
xưởng cán ép, phân xưởng tiến hành gõ giày bằng các phom giày, sản phẩm giày
được lưu hoá, tẩy bẩn, làm vệ sinh sạch sẽ và chuyển cho phân xưởng hoàn thiện
Phân xưởng hoàn thiện nhận sản phẩm từ phân xưởng giày sau đó hoàn thành
nốt các công đoạn sau cùng là xỏ dây giày, nhét giấy vào mũi giày, làm vệ sinh,
kiểm tra sản phẩm đủ phẩm chất, sắp sếp thành đôi, cho vào túi nilon hoặc vào hộp
giày tuỳ theo yêu cầu của khách hàng và chờ xuất hàng Các loại sản phẩm khác nhau sẽ có một số công đoạn sản xuất khác nhau, ví
dụ dép đi trong nhà hoặc xăng đan thì không qua khâu gò đế bằng máy Mức độ gia
tăng giá trị là khác nhau ở từng công đoạn sản xuất và đối với từng loại sản phẩm
Đối với giày thể thao và giày vải, công đoạn gia công nguyên liệu bồi vải và cán
luyện cao su mang tính quyết định trong khi đó đối với giày nữ, công đoạn pha cắt
nguyên liệu có thể gia tăng nhiều giá trị với việc trang trí bán thành phẩm pha cắt
như in, thêu Tương tự như vậy là công đoạn lắp ráp với nhiều hình thức may ráp
mũ giày nữ phong phú tạo ra các sản phẩm hợp thời trang Chất liệu giày dép quyết
Trang 35định chất lượng và đẳng cấp sản phẩm Hiện nay chất liệu da vẫn được đánh giá là cao cấp nhất, tiếp theo là chất dẻo và cao su và các chất liệu khác Các tính năng đặc thù của giày dép cũng được đánh giá cao, ví dụ như giày dép không thấm nước, giày thể thao có bánh xe, giày dép thời trang hoặc giày dép có chất liệu hoàn toàn từ
tự nhiên (vegan & vegetarian shoes-không dùng da và không sử dụng keo dán có
Thựng Carton, dây giày,
PX May giấy gúi, giấy nhét,…
Mũi giày PX Giày Đế giày
Giày hoàn chỉnh
Kho thành phẩm
Hình 1.7: Sơ đồ quy trình sản xuất giày
( Nguồn: Phòng Kỹ thuật công ngh và KCS Công ty Giày An Lạc)
Đối với TP.HCM hiện nay thì ngành da giày, đặc biệt là phục vụ xuất khẩu được xem là ngành công nghiệp mũi nhọn phát triển khá hiệu quả Trong điều kiện hội nhập và quốc tế hóa các hoạt động kinh tế diễn ra nhanh chóng, cạnh tranh ngày càng khốc liệt để phát triển mạnh mẽ hơn nữa ngành da giày thì cần phải nhận thức các lợi thế này sẽ mất dần đi nếu không khai thác được các yếu tố về khoa học công nghệ, con người để phát triển sản xuất các yếu tố đầu vào Đối với ngành da giày,
Trang 36những làn sóng mới tập trung phát triển theo chiều sâu Bước chuyển từ quy mô và
số lượng lên chất lượng và chiều sâu sẽ phải vượt qua nhiều khoảng cách Các khoảng cách này sẽ là lợi thế cho các nước đang phát triển, nếu tận dụng được sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, sử dụng chiến lược thích hợp, nhất là chiến
lược về nguồn nhân lực kỹ thuật cao
Bên cạnh đó, các ngành cùng tiếp nhận các yếu tố đầu vào với ngành da giày, như sản xuất các sản phẩm từ da, vải, cao su, giấy, hóa chất… cũng ảnh hưởng tới
sự phát triển của CNPT ngành da giày Một DN sản xuất sản phẩm hỗ trợ cho ngành da giày, đồng thời họ cũng phải sản xuất các sản phẩm hỗ trợ cho các ngành khác nhằm gia tăng lợi ích từ quy mô sản xuất Ví dụ, một DN sản xuất phom, đế, gót giày từ cao su, họ không chỉ sản xuất các sản phẩm này mà phải đồng thời sản xuất các sản phẩm từ cao su khác như ống, hộp cao su phục vụ cho các ngành công nghiệp lắp ráp khác Khi các ngành công nghiệp lắp ráp này phát triển sẽ là cơ sở giúp các DN sản xuất phom, đế, gót giày phát triển theo Ở TP.HCM, ngành may mặc, đồ da cũng có mối quan hệ khá quan trọng đối với da giày
Công nghiệp da giày gắn liền với các bước tiến nhanh chóng trong công nghệ
và thiết kế Đây là đặc điểm quan trọng nhất của ngành da giày Bắt đầu từ việc tái thiết các nền tảng công nghiệp sau chiến tranh, ngành da giày đã có những bước tiến mạnh mẽ gắn với sự phát triển công nghệ và đa dạng hóa sản phẩm Để thực hiện hệ thống các mục tiêu kinh tế xã hội đã định, trong quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp phải xác định được cơ cấu sản xuất sản phẩm chính Đó
là cơ cấu sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường, trên cơ sở khả năng của doanh nghiệp cho phép tối đa hóa lợi nhuận
Trong điều kiện nhu cầu thị trường rất đa dạng và thường xuyên biến động, tiến bộ khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp phải được coi là cơ cấu động, nghĩa là phải liên tục hoàn thiện và đổi mới Đó là một trong những điều kiện bảo đảm doanh nghiệp thích ứng với môi trường kinh doanh để tồn tại và phát triển Đổi mới cơ cấu sản phẩm được thực hiện theo nhiều hướng khác nhau:
Trang 37- Thu hẹp danh mục sản phẩm bằng cách loại bỏ những sản phẩm lỗi thời, những sản phẩm có sức cạnh tranh kém và những sản phẩm không có khả năng tạo
ra lợi nhuận
- Giữ nguyên chủng loại sản phẩm đang sản xuất nhưng cải tiến, hoàn thiện
về hình thức, hoàn thiện về nội dung, tạo ra nhiều kiểu dáng
- Bổ sung thêm vào danh mục sản phẩm những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu thị trường và xu hướng phát triển của khoa học công nghệ
- Chuyển hóa vị trí các sản phẩm trong cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp, bằng cách thay đổi định lượng sản xuất của mỗi loại
1.3 Công nghiệp phụ trợ ngành da giày
1.3.1 Khái niệm về CNPT ngành da giày
Nền tảng công nghiệp phụ trợ là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển ngành da giày Sự yếu kém của công nghiệp phụ trợ được đưa ra như nguyên nhân chủ yếu khiến công nghiệp da giày chưa kết nối được với mạng sản xuất toàn cầu, mãi lẩn quẩn trong khâu gia công với lợi thế về giá nhân công rẻ Trong công nghiệp da giày, khâu gia công mang lại giá trị gia tăng thấp nhất và có kết nối yếu nhất Mối kết nối với mạng sản xuất toàn cầu bằng khâu gia công không tạo đủ lực
để thúc đẩy phát triển công nghiệp địa phương, khai thác hiệu ứng lan tỏa trong chuỗi giá trị Chính sách công nghiệp các nước thường liệt kê những ngành nào được xem là ngành phụ trợ trong phạm vi một ngành cụ thể Công nghiệp phụ trợ vốn là khái niệm nổi lên từ châu Á, do đó mang tính “địa phương”, gắn liền với vai trò của những công ty dẫn đầu trong chiến lược chuyển dịch các cơ sở sản xuất nhằm đạt được hiệu quả về chi phí Công nghiệp phụ trợ phải bắt đầu từ nhu cầu của các công ty đang kiểm soát chuỗi giá trị một phần hoặc toàn bộ Tùy vào cấu trúc chuỗi giá trị một lớp hay nhiều lớp, các công ty này đóng vai trò hạt nhân, tạo
ra nhiều quỹ đạo xoay quanh Công nghiệp phụ trợ quyết định khả năng tham gia và tăng tốc trên các quỹ đạo này Và điểm xuất phát tham gia vào chuỗi giá trị sẽ quyết định cần phải hiểu thế nào về công nghiệp phụ trợ Chính vì vậy, khái niệm công nghiệp phụ trợ ngành da giày có thể khác nhau tùy quốc gia, tùy địa phương, tùy
Trang 38thời điểm Tóm lại, khái niệm công nghiệp phụ trợ da giày phải được đặt trong một khung phân tích nhất định, gồm:
- Bối cảnh thực tế, gồm phân công hàng ngang hay hàng dọc trong ngành
- Mục tiêu chính sách, gồm định hướng xuất khẩu hay thay thế nhập khẩu, phát triển các nhà cung ứng ở thượng nguồn hay tập trung vào hạ nguồn với các dịch vụ xoay quanh tiếp cận thị trường và sản phẩm cuối cùng
- Xuất phát điểm trong chuỗi giá trị hay mạng sản xuất toàn cầu
- Các điều kiện phát triển công nghiệp ngành da giày
Tùy vào các yếu tố cấu thành khung phân tích, khái niệm công nghiệp phụ trợ ngành da giày được vận dụng mang ý nghĩa chiến lược nhiều hơn là lý thuyết Bắt đầu từ xuất phát điểm thấp, công nghiệp phụ trợ ngành da giày được tiếp cận theo hướng thượng nguồn Trong đó, nổi lên đặc thù và điều điều kiện phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ là độ phủ rộng, bao trùm việc cung ứng đầu vào của nhiều quy trình sản xuất sản phẩm da giày thuộc các phân ngành khác nhau, thậm chí cả những ngành sản xuất khác không thuộc công nghiệp da giày như sản xuất điện tử, cơ khí… Do đó, nếu phát triển công nghiệp phụ trợ một cách tách biệt thì nguồn lực về con người và kinh nghiệm sẽ là lực cản rất lớn, đặc biệt với điều kiện của các nước đang phát triển Tuy nhiên, công nghiệp phụ trợ có thể là điểm then chốt, là bàn đạp phát triển công nghiệp nếu kết nối được với mạng sản xuất toàn cầu, đáp ứng nhu cầu của các công ty dẫn đầu khi chuyển dịch các cơ sở sản xuất Trên cơ sở khái niệm về CNPT, theo TS Đỗ Minh Thụy “CNHT ngành da giày là công nghiệp tạo ra các yếu tố đầu vào phục vụ cho công nghiệp chế tạo giày dép” [1, tr.25]
Trang 39Hình 1.8 Chuỗi giá trị ngành giày
( Nguồn: Luận án TS Đỗ Minh Thụy, Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép - nghiên
cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng )
Cũng cần lưu ý, chuỗi giá trị của ngành da giày có thể thay đổi tùy thuộc vào mức độ sử dụng công nghệ sản xuất và việc sử dụng nguồn lực đầu vào trong nước như nguyên liệu thô, máy móc sản xuất và dịch vụ hỗ trợ Mặt khác, chất liệu giày dép quyết định chất lượng và đẳng cấp sản phẩm Hiện nay chất liệu da vẫn được đánh giá là cao cấp nhất, tiếp theo là chất dẻo và cao su và các chất liệu khác Các tính năng đặc thù của giày dép cũng được đánh giá cao, càng ngày các công nghệ mới càng được ứng dụng trong ngành da giày để đưa ra các sản phẩm cực kỳ sáng tạo, đi trước xu hướng thời đại và vì vậy có giá trị rất cao Đơn cử như nhãn hiệu giày dép Geox (http://www.geox.com) của Ý với ý tưởng độc đáo thiết kế những đôi giày có thể “thở” được, đặc biệt cho giày thể thao với công nghệ thiết kế giày thẩm thấu được tối đa mồ hôi chân Công nghệ này hiện nay được ứng dụng nhiều nơi và thậm chí cả trong ngành dệt may Công ty này cũng phát triển công nghệ sản xuất da chống thấm nước Những sáng tạo thành công này đã trở thành một phân ngành mới trong ngành giày dép và đưa tên tuổi những hãng giày dép này nổi tiếng toàn thế giới Hoặc công ty Nike thể hiện đẳng cấp đầu đàn của mình với các dự án thân thiện với môi trường như “tái chế” giày với công nghệ phân tách, tái chế và tái
sử dụng lại các nguyên liệu của đôi giày cũ
Công nghiệp phụ trợ ngành da giày yêu cầu cao về công nghệ và nguồn nhân lực Các yếu tố này tạo nên khoảng cách giữa các DN da giày và các nhà cung ứng
Trang 40địa phương Các doanh nghiệp nội địa không đủ năng lực để liên kết mạnh hơn trong chuỗi giá trị còn các công ty đa quốc gia sẽ không có động cơ mạnh mẽ để lấp đầy khoảng trống này nếu họ vẫn còn có lựa chọn khác từ những nguồn nhập khẩu
và các các nhà cung ứng theo hợp đồng Như vậy, sự chủ động phải đến từ chính các nhà cung ứng địa phương Họ phải tiếp cận được với nhu cầu của các DN da giày, nâng cao tầm vóc, mở rộng đầu tư và hạ giá thành để đạt được tính kinh tế theo quy mô trong sản xuất
1.3.2 Các điều kiện phát triển CNPT ngành da giày
Việc phát triển CNPT ngành da giày là một vấn đề rất phức tạp trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia Với các nước đang trong quá trình công nghiệp hoá, khi các nguồn lực còn hẹp, qui mô các ngành kinh
tế còn nhỏ bé, việc giải quyết bài toán quan hệ giữa phát triển CNPT ngành da giày và ngành da giày lại càng khó khăn và phức tạp hơn Phát triển CNPT ngành
da giày chịu sự tác động của nhiều nhân tố ở các mức độ khác nhau Chúng ta có thể sử dụng “Mô hình kim cương Porter” để xác định các điều kiện và mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển CNPT ngành da giày
Hình 1.9: Mô hình Viên kim cương của Porter
(Nguồn: The Michael E Porter (1990)) Theo Hình 1.9, tác giả đi phân tích một số nội dung chủ yếu của từng điều kiện ảnh hưởng tới sự phát triển CNPT ngành da giày tạo lợi thế cạnh tranh như sau: