1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển công nghiệp thời trang may mặc thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025

95 346 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chương 3, nắm bắt được thực trạng của ngành CNTT may mặc tại TP.HCM, tác giả đưa ra các phương hướng phát triển của ngành, các mục tiêu, các giải pháp phát triển CNTT may mặc: 1 Xu

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Để thực hiện luận văn “PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP THỜI TRANG

MAY MẶC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2025”, tôi đã tự mình

nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề, vận dụng kiến thức đã học và trao đổi với giảng viên

hướng dẫn, đồng nghiệp và bạn bè…

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả trong luận văn này là trung thực Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Học viên thực hiện luận văn

Lê Hồng Hạnh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy/Cô giảng dạy lớp cao học 12SQT11 đã truyền đạt những kiến thức quý báu, làm nền tảng tốt giúp cho tôi có phương pháp

và tư duy khoa học

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hà Thị Ngọc Oanh đã hướng dẫn tận tình, nghiêm túc, có bài bản khoa học giúp tôi hoàn thành được luận văn thạc sỹ

Đồng thời tôi cũng gửi lời cảm ơn tới các lãnh đạo phòng (ban) của Hiệp hội dệt may Việt Nam, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Viện Fadin, Tổng công ty May Việt Tiến, Tổng công ty May Nhà Bè, Tổng công ty dệt may Việt thắng, Công ty Garmex Sài Gòn, phòng Tổng hợp – Cục thống kê và một số doanh nghiệp tại TP.HCM, các bạn đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu thống kê, cung cấp nhiều thông tin quý báu trong quá trình tìm hiểu thực tế và đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình nghiên cứu để thực hiện luận văn

Học viên thực hiện luận văn

LÊ HỒNG HẠNH

Trang 3

tài “Phát triển công nghiệp thời trang may mặc TP.HCM đến năm 2025” làm

đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ, nhằm góp phần giải quyết các vấn đề còn vướng mắc trong công nghiệp thời trang may mặc tại TP.HCM hiện nay

Trong chương 1, tác giả tập trung vào những lý thuyết liên quan đến thời trang, ngành công nghiệp thời trang may mặc (CNTT) Từ chuỗi giá trị, tác giả đi tìm hiểu những quan niệm về CNTT may mặc

Trong chương 2, tác giả phân tích, đánh giá thực trạng CNTT may mặc tại TP.HCM, tuy vượt trội hẳn so với mặt bằng chung của cả nước nhưng giá trị gia tăng thấp Luận văn đưa ra các vấn đề bất cập cần giải quyết:

(1) Các chính sách, biện pháp thu hút vốn đầu tư chưa có hiệu quả;

(2) Chưa có chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu;

(3) Nguyên phụ liệu, sản phẩm hỗ trợ phát triển còn yếu;

(4) Chưa thiết kế được các sản phẩm thời trang khác biệt;

(5) Thực hiện quy hoạch đầu tư chậm, chưa phát huy hiệu quả;

(6) Chưa có biện pháp cụ thể thực hiện chiến lược nguồn nhân lực phù hợp; (7) Hiệu quả cho các giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm thấp; (8) Chưa có biện pháp phù hợp cho vấn đề liên kết ngành

Tuy còn nhiều vấn đề, thách thức lớn; nhưng cơ hội, tiềm năng phát triển CNTT một cách bền vững cũng rất lớn Việc chỉ ra những vấn đề bất cập trong phát triển ngành CNTT – ngành kinh tế mũi nhọn là cơ sở quan trọng để đưa ra các giải

Trang 4

pháp khắc phục, phát huy tiềm năng để phát triển

Trong chương 3, nắm bắt được thực trạng của ngành CNTT may mặc tại TP.HCM, tác giả đưa ra các phương hướng phát triển của ngành, các mục tiêu, các giải pháp phát triển CNTT may mặc:

(1) Xu hướng phát triển ngành CNTT;

(2) Đưa ra định hướng phát triển CNTT đến năm 2025;

(3) Đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển CNTT gồm:

- Giải pháp về thu hút nguồn vốn;

- Phát triển sản xuất kinh doanh;

- Phát triển nguyên liệu;

- Giải pháp về đầu tư các trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu may mặc;

- Phát triển nguồn nhân lực;

- Các giải pháp về thị trường và nâng cao sức cạnh tranh;

- Tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động liên kết;

(4) Các giải pháp đối với phía DN CNTT may mặc

Để CNTT của TP.HCM phát triển một cách bền vững, cần triển khai đồng bộ các giải pháp; đồng thời các cấp, ngành cần có sự quan tâm hỗ trợ tích cực, hiệu quả trên nhiều phương diện cần thiết; bản thân các doanh nghiệp và địa phương phải chủ động trong việc phối hợp quy hoạch đầu tư cho phát triển nguyên phụ liệu của chính doanh nghiệp, địa phương Điều này sẽ giúp cho việc phát triển CNTT của TP.HCM thuận lợi và đạt kết quả cao

Trang 5

ABSTRACT

In recent years, the textile industry in Ho Chi Minh City (HCMC) has made a considerable progress, and has confirmed its role as a key economic sector, tried to innovate operating models towards sustainable development However, at present the textile industry in Vietnam in general, Ho Chi Minh City in particular is only pure production Machinery, equipment and raw materials are mainly imported from overseas The product designs are not various, mostly in the form of outsourcing overseas customers In the trend of today's global integration, Vietnam fashion and garment have a lot of changes and a great of opportunities, as a result, a requirement has arose, which requires the development of fashion industry to create high quality products, enhance competitiveness on the world market Therefore, the authors selected the topic "The development of fashion industry in HCMC until

2025 " as the thesis, in order to help address the issues arising in the fashion and garment technology in Vietnam today

In Chapter 1, the author will focus on the theories related to fashion-garment industry From value chain, authors explore the concepts of fashion-garment industry

In chapter 2, the author will analyze and assess the current state of garment industry in Vietnam, much superior compared to the national average but low added value

fashion-Thesis will mention the problems that need solving :

(1) The policies and measures to attract investment which are not effective enough;

(2) No building strategy and brand development;

(3) Raw materials and development of supplementary product are weak ; (4) There are no products designed differently;

(5) Perform investment planning slowly, not efficiently;

(6) There are no specific measures to implement human resource strategies; (7) The effect of measures to improve the competitiveness of products is low;

Trang 6

(8) There are no appropriate measures for problems related to other industries

Although there are many problems, big challenges and opportunities also comes, the development of fashion-garment industry in a sustainable way is also very potential The problems pointing out inadequacies in the fashion-garment industry sector- a key economic sector, is an important basis to give the solutions, the potential to promote development

In chapter 3, capturing the state of the fashion-garment industry in Vietnam garment, the author work out the direction of development, the objectives, and some solutions to the industry:

(1) The development trend of fashion-garment industry;

(2) Provide the directions for fashion-garment development until 2025;

(3) Solutions to promote the development fashion-garment industry including:

- The solution to attract the capital;

- The solutions to business development;

- The solutions to the development of materials;

- The solutions to the investment of fashion centers;

- The solutions to human resource development;

- Solutions to market and improve competitiveness;

- Measures to strengthen and enhance the efficiency associated operations;

- The solution to fashion-garment companies

In order to develop fashion-garment industry in HCMC stably, it is necessary

to use many solutions at the same time, the industry needs more support effectively

on many aspects necessary; and the industry itself and local businesses should be cooperate in investment plans for the development of the main raw materials business This makes the city's fashion-garment industry to develop and achieve a lot of advantages

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x

DANH MỤC CÁC BẢNG xi

DANH MỤC CÁC HÌNH xii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Nội dung nghiên cứu 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4

1.1 Cơ sở lý luận về công nghiệp thời trang 4

1.1.1 Khái niệm về chuỗi giá trị 4

1.1.2 Chuỗi giá trị CNTT may mặc toàn cầu 7

1.1.3 Ngành công nghiệp thời trang 10

1.1.3.1 Khái niệm mốt thời trang 10

1.1.3.2 Khái niệm ngành công nghiệp thời trang 12

1.1.3.3 Các sản phẩm của thời trang may mặc 13

1.2 Các điều kiện phát triển CNTT may mặc 14

1.3 Quá trình phát triển của ngành CNTT may mặc 19

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 22

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP THỜI TRANG TP.HỒ CHÍ MINH 23 2.1 Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội TP.HCM có liên quan đến sự phát triển của CNTT may mặc 23

2.2 Vai trò của ngành CNTT may mặc trong công nghiệp TP.HCM 24

Trang 8

2.3 Thực trạng ngành CNTT may mặc ở TP.HCM 27

2.3.1 Về số lượng cơ sở sản xuất 27

2.3.2 Về lao động 28

2.3.3 Đánh giá thực trạng phát triển ngành may mặc ở TP.HCM 30

2.4 Thực trạng các điều kiện phát triển công nghiệp thời trang tại TP HCM 32

2.4.1 Các yếu tố đầu vào 32

2.4.2 Điều kiện đầu ra 35

2.4.3 Các ngành có quan hệ và hỗ trợ đối với công nghiệp thời trang 37

2.4.4 Thách thức trong chiến lược kinh doanh và cạnh tranh của doanh nghiệp 38 2.4.5 Thời cơ và xu hướng phát triển công nghiệp thời trang 40

2.4.6 Các chính sách của Nhà nước về việc phát triển ngành công nghiệp thời trang may mặc 42

2.5 Đánh giá công nghiệp thời trang may mặc tại TP.HCM 43

2.5.1 Những kết quả đạt được 43

2.5.2 Những tồn tại và nguyên nhân 44

2.5.2.1 Về năng lực phát triển của ngành CNTT ở TP.HCM 44

2.5.2.2 Về khả năng cạnh tranh của ngành CNTT tại TP.HCM 45

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 48

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP THỜI TRANG TP HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2025 49

3.1 Quan điểm phát triển CNTT tại TPHCM 49

3.2 Các định hướng và phát triển ngành CNTT tại TP.HCM 50

3.2.1 Đầu tư có trọng điểm 50

3.2.2 Phát triển sản xuất sản phẩm theo hướng chất lượng, khác biệt hóa 52

3.2.3 Khai thác triệt để các nguồn lực 52

3.3 Một số giải pháp phát triển CNTT tại TP.HCM 53

3.3.1 Nhóm giải pháp vĩ mô 53

3.3.1.1 Xây dựng và triển khai chương trình phát triển ngành CNTT 53

3.3.1.2 Giải pháp về phát triển nguyên liệu 54

3.3.1.3 Đầu tư các trung tâm giao dịch 55

3.3.2 Nhóm giải pháp vi mô 56

3.3.2.1 Chiến lược phát triển 56

3.3.2.2 Công tác quản trị doanh nghiệp 57

Trang 9

3.3.2.3 Giải pháp về vốn 58

3.3.2.4 Giải pháp về phát triển sản xuất kinh doanh 60

3.3.2.5 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 62

3.3.2.6 Giải pháp về thị trường và nâng cao sức cạnh tranh 64

3.3.2.7 Giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động liên kết 65

3.3.2.8 Công tác marketing 67

3.3.2.9 Xây dựng cơ sở dữ liệu về các ngành hỗ trợ 68

3.3.2.10 Phát triển mạng lưới cụm liên kết ngành 68

3.4 Các giải pháp khác 69

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 70

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC 74

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

CNTT: Công nghiệp thời trang

DN: Doanh nghiệp

DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa

WTO (World Trade Organization): Tổ chức thương mại thế giới

AFTA (Asean Free Trade Area): Khu vực mậu dịch tự do Châu Á

EU (European Union): Liên minh Châu Âu

FDI (Foreign Direct Investment): Đầu tư trực tiếp nước ngoài

CMT (Cut/ Make/ Trim): Cắt/ May/ Hoàn thiện

FOB (Free On Board): Giao tại tàu

ODM (Original Design Manufacturer): Nhà sản xuất thiết kế gốc

OBM (Original Brand Manufacturer): Nhà sản xuất thương hiệu gốc

CAUS (The Color Association of the United State): Hiệp hội màu sắc của nước Mỹ ICA (The International Color Authority): Hội bản quyền màu sắc quốc tế

SWOT (Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats): Phân tích điểm mạnh –

điểm yếu – cơ hội – thách thức

TPP (Trans-Pacific Partnership) : Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương

FTA(Free TradeAgreement): Hiệp định thương mại tự do

Trang 11

Bảng 2.4: Số lượng cơ sở ngành may mặc TP.HCM qua các năm

Bảng 2.5: Số lượng lao động theo phân ngành

Bảng 2.6 : Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng của ngành dệt may

Bảng 2.7 : Số lượng sản phẩm may mặc TP.HCM (2011 – 2012)

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Mối liên kết trong chuỗi giá trị

Hình 1.2: Chuỗi giá trị của Porter

Hình 1.3: Mô hình chuỗi giá trị ngành

Hình 1.4: Mô hình chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

Hình 1.5: Đồ thị biểu diễn giá trị gia tăng của chuỗi giá trị may mặc Hình 1.6: Tháp nhu cầu của Abraham Maslow

Hình 1.7: Mô hình ngành công nghiệp thời trang

Hình 1.8: Mô hình Viên kim cương của Porter

Hình 2.1: Cơ cấu trình độ lao động ngành may mặc TP.HCM

Hình 2.2: Nhu cầu nhân lực theo ngành nghề giai đoạn 2012-2015

Trang 13

Mặt khác, khi kinh tế phát triển, thu nhập cũng như đời sống của người dân nâng cao, góp phần cải thiện đời sống của người dân, quần áo không chỉ giữ ấm

mà còn phải tôn lên được vẻ đẹp của người sử dụng, từ đó nhu cầu thời trang cũng được quan tâm và chú ý hơn

Công nghiệp thời trang may mặc trên thế giới có lịch sử phát triển lâu đời

ở nhiều quốc gia Nhiều tổ chức quốc tế đã quan tâm nghiên cứu ngành công nghiệp này trên các mặt kinh tế, kỹ thuật; cách quản lý, quy trình công nghệ … để ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về số lượng và chất lượng, góp phần đáng kể vào sự tiến bộ chung của nhân loại

Những năm gần đây ngành dệt may trên địa bàn TP.HCM đã có những bước tiến đáng kể, và đã khẳng định vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn, luôn nỗ lực đổi mới mô hình hoạt động để hướng tới phát triển bền vững Tuy nhiên hiện nay ngành dệt may Việt Nam nói chung, TP.HCM nói riêng còn mang nặng tính sản xuất thuần túy; máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu chủ yếu nhập từ nước ngoài, mẫu mã sản phẩm tự thiết kế chưa phong phú mà chủ yếu là gia công theo mẫu của khách hàng nước ngoài Hiện tại có nhiều đơn vị may hàng đầu của Việt Nam, có tiếng tăm trên thị trường thế giới vẫn chưa thể tạo ra sản phẩm thời trang mang nét riêng như Công ty Legamex, Công ty may Nhà Bè, Công ty Việt Tiến, công ty may An Phước…

Mặc dù Việt Nam hiện nay được đánh giá là một thị trường đầy tiềm năng cho lĩnh vực công nghiệp thời trang, các doanh nghiệp may cũng đã và đang xây

Trang 14

dựng trung tâm thời trang, song thời trang may mặc Việt Nam chưa thể phát triển

vì chưa có “công nghệ thời trang” mang tính chuyên nghiệp cao, mà chỉ dừng ở mức sáng tạo từng cá nhân

Hơn nữa, trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay, thời trang may mặc Việt Nam đang có nhiều biến đổi và có nhiều cơ hội lớn, vì thế phát sinh một yêu cầu đòi hỏi Việt Nam phải phát triển ngành công nghiệp thời trang để không chỉ đáp ứng các nhu cầu của thị trường trong nước mà còn đáp ứng yêu cầu xuất khẩu sản phẩm thời trang, góp phần tăng thu ngoại tệ đồng thời khẳng định vị thế của Việt Nam trên thị trường thời trang thế giới

Ngành công nghiệp thời trang Việt Nam đang được Nhà nước quan tâm, tạo tiền đề phát triển Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập tới chương trình phát triển ngành, quy hoạch và đầu tư ngành…Hiện tại, trước những diễn biến mới trong thời kỳ hội nhập toàn cầu, trong nước đang đổi mới cơ chế quản lý kinh

tế, ngành công nghiệp thời trang đang đòi hỏi có những giải pháp để đón cơ hội phát triển

Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Phát triển công nghiệp thời trang may mặc TP.HCM đến năm 2025” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ, nhằm góp

phần giải quyết các vấn đề còn vướng mắc trong CNTT may mặc Việt Nam hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích thực trạng và các điều kiện ngành công nghiệp thời trang may mặc trên địa bàn TP.HCM, qua đó xác định hiện trạng về cơ chế chính sách đối với phát triển ngành may mặc Việt Nam, và đề xuất các giải pháp phát triển ngành CNTT TP.HCM; nhằm đáp ứng xu hướng phát triển và hội nhập toàn cầu của thị trường CNTT thế giới nói chung và CNTT Việt Nam nói riêng

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ngành CNTT may mặc Việt Nam trong thời kỳ hội nhập toàn cầu qua góc nhìn ở TP.HCM

Trang 15

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về công nghiệp thời trang may mặc nhưng để đơn giản hóa vấn đề, tác giả viết là công nghiệp thời trang Đề tài tập trung nghiên cứu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp may trên địa bàn TP.HCM từ năm

2008 - 2012

Ngành may mặc luôn luôn gắn liền với ngành dệt Tuy nhiên trong luận văn này, tác giả không đề cập chi tiết đến ngành dệt, mặc dù luận văn có nhiều lần nhắc đến cụm từ “dệt may”

5 Phương pháp nghiên cứu

Việc phân tích, nghiên cứu, kết luận và đề xuất ý kiến trong đề tài này dựa trên các phương pháp: phương pháp đọc tài liệu, phương pháp phỏng vấn hoặc trò chuyện (người tiêu dùng, chuyên gia ngành thời trang), phương pháp quan sát (hành

vi sử dụng hàng thời trang may mặc, hoạt động mua bán ngành may mặc), phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp tài liệu, so sánh, suy luận logic

6 Nội dung nghiên cứu

Luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP THỜI TRANG TP HCM Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP THỜI

TRANG TP.HCM ĐẾN NĂM 2025

Trang 16

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trong xu hướng hội nhập toàn cầu và khi chất lượng cuộc sống được nâng cao thì nhu cầu về may mặc lại càng lớn, Việt Nam phải phát triển ngành công nghiệp thời trang, tạo ra những sản phẩm có giá trị cao, tăng sức cạnh tranh cả thị trường trong nước và ngoài nước

1.1 Cơ sở lý luận về công nghiệp thời trang

CNTT may mặc là ngành do người mua quyết định, việc tạo ra sản phẩm cuối cùng phải qua nhiều công đoạn và hoạt động sản xuất thường được tiến hành ở nhiều nước Ứng dụng lý thuyết về chuỗi giá trị để định vị vị trí của ngành may mặc Việt Nam hiện nay trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, từ đó tìm ra giải pháp phát triển CNTT may mặc Việt Nam nói chung, TP.HCM nói riêng

1.1.1 Khái niệm về chuỗi giá trị

* Theo tài liệu nghiên cứu về chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris (2001), chuỗi giá trị mô tả toàn bộ những hoạt động cần thiết để đưa một sản phẩm hay dịch

vụ từ khái niệm, đi qua các công đoạn sản xuất khác nhau (liên quan đến việc kết hợp giữa chuyển hóa vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đưa đến người tiêu dùng sau cùng và xử lý rác thải sau khi sử dụng Chuỗi giá trị tồn tại bởi các mối liên kết, giá trị tạo ra từ hoạt động của các chủ thể tham gia được xác định trong toàn chuỗi Theo nghĩa hẹp, chuỗi giá trị được nhìn từ hoạt động của các doanh nghiệp kết nối các quy trình sản xuất ra sản phẩm Theo nghĩa rộng, chuỗi giá trị được nhìn từ các mối liên kết ngược xuôi với sự tham gia của rất nhiều chủ thể Nhìn từ các mối liên kết nên nội dung của chuỗi giá trị không chỉ có điều hành sản xuất mà còn tích hợp cả các nội dung về điều phối, chiến lược, tương quan quyền lực trong chuỗi marketing, quản trị, thậm chí cả những vấn đề về văn hóa, xã hội, môi trường, kinh tế phát triển Cũng theo phương pháp tiếp cận toàn cầu, đưa các phân tích tổng quát hơn, hình thành nền tảng lý luận và phương pháp phân tích

về chuỗi giá trị, có bốn mối liên kết trong một chuỗi giá trị cơ bản thể hiện theo sơ

đồ (hình 1.1) bên dưới:

Trang 17

Hình 1.1: Mối liên kết trong chuỗi giá trị

(Nguồn: Raphael Kaplinsky và Mike Morris, Cẩm nang nghiên cứu chuỗi giá trị, Tài liệu giảng dạy của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, 2007)

Kaplinsky và Morris cho rằng, phân tích chuỗi gái trị có vai trò cực kỳ quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa Phân tích chuỗi giá trị giúp xác định các năng lực cốt lõi trong khả năng cạnh tranh mang tính hệ thống, hướng đến tính hiệu quả của các mối liên kết ở các phạm vi và quy mô khác nhau Đồng thời phân tích chuỗi giá trị bao quát toàn bộ chu kỳ sản xuất, tập trung vào tất cả các mối liên kết và các hoạt động trong mỗi liên kết, cả các kết nối đến thị trường cuối cùng Từ đó phân tích chuỗi giá trị giúp nhận diện được các điều kiện quyết định việc tham gia vào thị trường toàn cầu bên cạnh sự suy giảm của những rào cản thương mại, các nhân tố tác động trong phân phối lợi ích cũng như các kết hợp và lựa chọn về chính sách

* Thuật ngữ "chuỗi giá trị" được sử dụng bởi Michael Porter trong cuốn sách

"Lợi thế cạnh tranh: Tạo và Duy trì hiệu suất cao "(1985) Phân tích chuỗi giá trị mô

tả các hoạt động trong và xung quanh một doanh nghiệp và phân tích lợi thế cạnh tranh của DN Theo Porter, lợi thế cạnh tranh của DN không thể nhìn chung chung

mà phải đi vào các hoạt động riêng biệt trong quy trình thiết kế, sản xuất, marketing, giao nhận, hỗ trợ…; chính những yếu tố này mới tạo nên sự khác biệt và chi phí so sánh của DN Phân tích lợi thế cạnh tranh của DN chính là phân tích các hoạt động của DN và tương tác giữa các hoạt động ấy với chuỗi giá trị làm công cụ phân tích Porter đặt công cụ phân tích chuỗi giá trị trong một hệ thống giá trị (value system) Chuỗi giá trị của DN được nhìn trong các mối liên kết đơn hay đa ngành

Trang 18

Từ gốc độ DN, chuỗi giá trị được tạo thành từ 9 nhóm hoạt động cơ bản Các hoạt động tạo ra giá trị, phần chênh lệch giữa giá trị và tập hợp chi phí thực hiện các hoạt động đó được gọi là biên (margin) Các đặc thù của chuỗi giá trị tạo thành lợi thế cạnh tranh của DN

Hình 1.2: Chuỗi giá trị của Porter

(Nguồn: Michael Porter 1985)

* Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả giới thiệu sơ lược về chuỗi giá trị để bắt đầu tiếp cận khái niệm về ngành CNTT Chuỗi giá trị biểu thị một loạt các hoạt động tạo giá trị và các mối liên kết của chúng với những sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể Mô hình chuỗi giá trị cơ bản như sau:

Hình 1.3: Mô hình chuỗi giá trị ngành

(Nguồn: Tác giả dịch từ http://www.quickmba.com/strategy/value-chain/) Phân tích chuỗi giá trị để hiệu rõ hơn các hoạt động sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh tiềm năng, giúp xác định những khâu giá trị được tạo ra lớn hơn so với chi phí sản xuất và dịch vụ, những điểm có thể đạt được sự tối ưu hóa cũng như điều hòa được các liên kết hoạt động, những hoạt động hỗ trợ cũng có nhiều đóng góp trong việc tìm hiểu năng lực cạnh tranh của ngành và của công ty, chẳng hạn

dịch vụ VD: Sản xuất quần áo

Hậu cần ngoài VD: Kho bãi, vận chuyển, chứng nhận kiểm định chất lượng

Marketing, bán hàng VD: Giá cả, quảng cáo, phân phối

Dịch vụ VD: Dịch

vụ khách hàng

Trang 19

như áp dụng công nghệ thông tin trong sản xuất và quản lý, lao động có chuyên môn và phát triển sản phẩm, dịch vụ có tính sáng tạo (http://www.quickmba.com/ strategy/value-chain/)

1.1.2 Chuỗi giá trị CNTT may mặc toàn cầu

* Từ những lý thuyết về chuỗi giá trị đã nêu trên, Gereffi (2001) đã xây dựng lý thuyết về chuỗi cung ứng cho một ngành là:

- Thứ nhất, là chuỗi cung ứng do phía cung tạo ra Đây là những chuỗi hàng hóa mà trong đó tác nhân chính thường là những nhà sản xuất xuyên quốc gia hợp nhất theo chiều dọc, đóng vai trò trung tâm trong việc phối hợp các mạng lưới sản xuất quốc tế Các ngành công nghiệp thâm dụng vốn và công nghệ như sản xuất xe hơi, máy bay, điện tử là đặc trưng của chuỗi cung ứng do phía cung quyết định

- Thứ hai, là chuỗi cung ứng do phía cầu hay người mua quyết định Đây là đặc trưng của những ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thâm dụng lao động như ngành may mặc, giày dép, và các hàng thủ công khác Các nhà bán lẻ lớn

và các nhà sản xuất có thương hiệu là những tác nhân chính đóng vai trò cốt yếu trong việc hình thành các mạng lưới sản xuất được phân cấp tại nhiều quốc gia xuất khẩu Đặc điểm chính của chuỗi giá trị do người mua quyết định là sự hợp nhất theo mạng lưới để thúc đẩy sự phát triển của các khu chế xuất và thực hiện thuê gia công toàn cầu của các nhà bán lẻ

Ngành may mặc thời trang là một minh họa kinh điển của chuỗi giá trị do người mua quyết định, việc tạo ra sản phẩm cuối cùng phải qua nhiều công đoạn và hoạt động sản xuất thường được tiến hành ở nhiều nước Trong đó các nhà sản xuất với thương hiệu nổi tiếng, các nhà buôn, nhà bán lẻ lớn đóng vai trò then chốt trong việc thiết lập mạng lưới sản xuất và định hình việc tiêu thụ hàng loạt thông qua các thương hiệu mạnh và sự phụ thuộc của chúng vào những chiến lược thuê gia công toàn cầu nhằm thỏa mãn nhu cầu này

Theo kết quả nghiên cứu về chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Gereffi và Memodovic (2003) có thể phân chia chuỗi giá trị dệt may làm 5 phân khúc chính:

Trang 20

Hình 1.4: Mô hình chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

Phân khúc 1:

Mạng lưới nguyên

Mạng lưới sản xuất Phân khúc 2:

Mạng lưới nguyên phụ liệu Mạng lưới xuất khẩu Phân khúc 4: Mạng lưới tiếp thị Phân khúc 5:

Trang 21

* Ứng dụng lý thuyết đường cong nụ cười, các nhà nghiên cứu đã biểu diễn chuỗi giá trị dệt may thế giới hiện nay gồm 5 mắt xích chính như sau:

Hình 1.5: Đồ thị biểu diễn giá trị gia tăng của chuỗi giá trị may mặc

(Nguồn: Nguyễn Thị Hường (2009), Tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu)

- Mắt xích 1- Thiết kế: Đây là khâu có tỷ suất lợi nhuận cao trong chuỗi giá trị và rất thâm dụng tri thức Các nước đi trước trong ngành CNTT, sau khi đã dịch chuyển hoạt động sản xuất sang các nước đi sau, họ thường chỉ tập trung vào khâu nghiên cứu và thiết

kế sản phẩm mới nhằm tạo ra những thương hiệu nổi tiếng để đạt được tỷ suất lợi nhuận cao nhất Yếu tố quan trọng để thâm nhập và “trụ” vững được ở mắt xích này đòi hỏi các doanh nghiệp cần có các nhà thiết kế có khả năng nắm được xu hướng, thị hiếu thời trang của người mua toàn cầu

- Mắt xích 2 - Sản xuất nguyên phụ liệu: Đây là mắt xích quan trọng hỗ trợ cho ngành may mặc phát triển và là khâu thâm dụng đất đai và vốn Đối với hàng may mặc, giá trị của phần nguyên phụ liệu chiếm tỷ trọng lớn và quyết định đến chất lượng sản phẩm Nguyên phụ liệu trong CNTT may mặc thường chia thành hai phần: nguyên liệu chính và phụ liệu Nguyên liệu chính là các loại vải, thành phần chính tạo nên sản phẩm may mặc Phụ liệu là các vật liệu đóng vai trò liên kết nguyên liệu, tạo thẩm mỹ cho một sản phẩm may mặc, gồm có hai loại phụ liệu chính là chỉ may và vật liệu dựng

- Mắt xích 3 – Cắt may: Đây là mắt xích thâm dụng lao động nhất nhưng lại có tỉ suất lợi nhuận thấp nhất chỉ chiếm khoảng 10-15% (Jocelyn Trần, 2011), vì nó không đòi

Trang 22

hỏi đầu tư cao về công nghệ và rất thâm dụng lao động Các quốc gia có ngành dệt may phát triển, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu không còn thực hiện các công đoạn trong khâu này nữa mà hợp đồng gia công lại cho các quốc gia mới gia nhập ngành, có nguồn lao động giá rẻ và việc sản xuất nguyên phụ liệu đầu vào chưa phát triển như Bangladesh, Pakistan và Việt Nam Đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động gia công, tỷ lệ giá trị thu về trong phân khúc may cũng sẽ khác nhau tùy theo phương thức xuất khẩu là CMT, FOB hay ODM, OBM

- Mắt xích 4 - Mạng lưới xuất khẩu: Đây là khâu thâm dụng tri thức, gồm các công

ty may mặc có thương hiệu, các văn phòng mua hàng, và các công ty thương mại của các nước Một trong những đặc trưng đáng lưu ý nhất của chuỗi dệt may do người mua quyết định là sự tạo ra các nhà buôn với các nhãn hiệu nổi tiếng, nhưng không thực hiện bất cứ việc sản xuất nào Trong chuỗi dệt may toàn cầu, chính các nhà buôn, các nhà cung cấp là các trung gian đóng vai trò then chốt và nắm giữ phần lớn giá trị trong chuỗi mặc dù họ không hề sở hữu nhà máy sản xuất nào Hiện nay các nhà buôn, người mua ở Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc đang nắm đa số các điểm nút của mạng lưới này, cung ứng hàng thời trang may mặc thế giới

- Mắt xích 5 - Thương mại hóa: Đây là mắt xích có suất sinh lợi cao nhất Mắt xích này bao gồm mạng lưới marketing và phân phối sản phẩm Các công ty trong khâu này không trực tiếp làm ra sản phẩm, chỉ thực hiện hoạt động phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng nhưng họ đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và tác động đến chuỗi CNTT thế giới vì họ nắm rõ nhu cầu của những người tiêu dùng, cung cấp xu hướng thời trang cho các nhà thiết kế sản phẩm và nắm giữ hệ thống bán hàng, kênh phân phối trên toàn cầu

1.1.3 Ngành công nghiệp thời trang

1.1.3.1 Khái niệm mốt thời trang

* Khái niệm thời trang

- Theo từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia, Thời trang là một thuật ngữ chung cho một phong cách phổ biến hoặc thực hành, đặc biệt là trong quần áo, giày dép, phụ kiện, trang điểm, xâu khuyên trên người, hoặc đồ nội thất Thời trang đề cập đến một xu hướng đặc biệt và thường xuyên thói quen trong phong cách trong trang phục mà một

Trang 23

người hoặc một phong cách phổ biến trong hành vi Thời trang cũng đề cập đến những sáng tạo mới nhất của nhà thiết kế dệt may

- Thời trang là nói về một xu thế trong xã hội liên quan đến cách suy nghĩ, giao tiếp, lối sống, được thể hiện bằng cách ăn mặc hoặc bằng một phong cách nào đó và phong cách này có thể thay thế bởi một phong cách khác

* Khái niệm mốt thời trang

- Mốt là một kiểu sinh hoạt đang thịnh hành Như vậy mốt thời trang là sự xảy ra, tồn tại của sản phẩm và ý thích thời trang, được lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng và được số đông người biết đến trong một thời gian ngắn

Trong thực tế có nhiều nghiên cứu về mốt thời trang, nổi bậc nhất là Tháp nhu cầu của Abraham Maslow, Nhà tâm lý học Abraham Maslow đã phân tích các nhu cầu của con người và đã sắp xếp các nhu cầu đó theo mức độ cấp tiến từ thấp tới cao Ở cấp độ thấp nhất là nhu cầu bản năng, ở cấp độ cao nhất là nhu cầu về mốt, trang phục để làm đẹp cho người mặc; trang phục thể hiện khiếu thẩm mỹ, tiềm năng kinh tế, cá tính, trình

độ văn hóa của người mặc

Hình 1.6: Tháp nhu cầu của Abraham Maslow

Trang 24

Cấp độ Nhu cầu

5 Là thanh bậc nhu cầu cao nhất; trang phục để làm đẹp cho người

mặc, thể hiện khiếu thẩm mỹ, tiềm năng kinh tế, cá tính, trình độ văn hóa của người mặc

4 Nhu cầu được tôn trọng; trang phục giúp người mặc khẳng định

mình thuộc nhóm người nào của xã hội và thể hiện địa vị xã hội

3 Nhu cầu giao tiếp xã hội; quần áo trang phục giúp con người đáp

ứng nhu cầu tâm lý trong quá trìnnh giao tiếp xã hội

2 Nhu cầu an toàn; quần áo trang phục phải bảo vệ được con người an

toàn trong các điều kiện khí hậu bất lợi hay các nguy cơ từ môi trường

1 Nhu cầu để tồn tại như lương thực, nước, ngủ và quần áo phải được

đáp ứng trước tiên

1.1.3.2 Khái niệm ngành công nghiệp thời trang

Theo từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia, Ngành CNTT là một “sản phẩm” của thời hiện đại Trước thế kỷ 19, hầu như tất cả quần áo đều được người thợ làm thủ công cho các cá nhân, những người khách đặt hàng từ thợ may Đến đầu thế kỷ 20 với sự nổi lên của công nghệ mới và sự phát triển của hệ thống nhà máy sản xuất, và sự gia tăng của các cửa hàng bán lẻ như cửa hàng bách hóa thì quần áo đã ngày càng trở thành nhu cầu,

nó được sản xuất hàng loạt trong kích thước tiêu chuẩn và được bán với giá cố định

Xét về mức độ chuyên môn hóa của ngành dệt may, CNTT bao gồm bốn cấp độ: sản xuất nguyên liệu (chủ yếu là sợi dệt may, da, lông thú), sản xuất hàng thời trang (sản phẩm của nhà thiết kế, nhà sản xuất), doanh số bán lẻ và các hình thức khác nhau của quảng cáo, khuyến mãi Mặc dù CNTT bao gồm nhiều lĩnh vực riêng biệt nhưng phụ thuộc lẫn nhau, tất cả đều hướng đến mục tiêu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho may mặc trong điều kiện người tham gia trong ngành công nghiệp hoạt động đều có lợi nhuận, ngành CNTT phát triển ở châu Âu và Mỹ nhưng ngày nay nó là một ngành công nghiệp quốc tế và toàn cầu hóa cao

Mô tả quá trình chuyên môn hóa của ngành CNTT theo mô hình dưới đây:

Trang 25

Hình 1.7: Mô hình ngành công nghiệp thời trang

Lĩnh vực quan trọng của ngành công nghiệp thời trang là sản xuất và thiết kế dệt may Hầu hết thời trang được làm từ dệt may, vải được sản xuất với một loạt các hiệu ứng thông qua nhuộm, dệt, in, sản xuất khác và hoàn tất, cùng với dự báo thời trang, các nhà sản xuất dệt may đã làm tốt trước khi chu kỳ sản xuất hàng may mặc để tạo ra các loại vải với màu sắc, kết cấu, và phẩm chất khác mà dự đoán nhu cầu tiêu dùng Hàng may mặc lắp ráp đi qua nhiều quá trình khác nhau bao gồm nghiên cứu thị trường, thiết

kế kiểu mẫu, sản xuất lắp ráp sản phẩm, hoàn tất đóng gói sản phẩm, kinh doanh bán hàng Trong lĩnh vực may mặc của phụ nữ, các nhà sản xuất thường sản xuất một số dòng sản phẩm (bộ sưu tập) một năm, cung cấp cho các nhà bán lẻ để đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng

1.1.3.3 Các sản phẩm của thời trang may mặc

* Khái niệm sản phẩm thời trang là sản phẩm mà người sử dụng dùng để thể hiện cách ăn mặc cho phù hợp với xu hướng thời trang, bao gồm những sản phẩm như: (1) Quần áo; (2) Nón, mũ, khăn; (3) Giày, dép; (4) Găng, tất; (5) Thắt lưng, túi xách,…; (6)

Đồ trang sức Tuy nhiên, sản phẩm quần áo là sản phẩm quan trọng trong lĩnh vực thời trang

* Phân loại sản phẩm thời trang là cơ sở để các doanh nghiệp xác định sản phẩm kinh doanh của mình cho phù hợp với phân khúc thị trường Trong thực tế mỗi nhóm

Trang 26

người có những đặc điểm về tỉ lệ cơ thể, tâm lý khác nhau nên trang phục được phân loại theo các đối tượng:

- Phân loại sản phẩm phù hợp với giới tính: nam, nữ

- Phân loại theo lứa tuổi: trẻ em, thanh niên, trung niên, riêng trang phục trẻ em được phân nhỏ cho từng loại đối tượng: tuổi nhà trẻ, mẫu giáo, PTCS, PTTH

- Phân loại theo mùa, khí hậu: do mỗi mùa có đặc điểm riêng về khí hậu và thời tiết nên việc chọn trang phục phù hợp sẽ tạo cảm giác dễ chịu và thoải mái

- Phân loại theo công dụng: mặc lót, thường ngày, khoác ngoài

- Phân loại theo ý nghĩa xã hội: mặc thường ngày, lễ hội, lao động sản xuất, thể dục thể thao, biểu diễn nghệ thuật

1.2 Các điều kiện phát triển CNTT may mặc

Việc phát triển CNTT may mặc là một vấn đề rất phức tạp trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia Với các nước đang trong quá trình công nghiệp hoá, khi các nguồn lực còn hẹp, qui mô các ngành kinh tế còn nhỏ, việc giải quyết bài toán phát triển CNTT may mặc lại càng khó khăn và phức tạp hơn Phát triển CNTT may mặc chịu sự tác động của nhiều nhân tố ở các mức độ khác nhau Sử dụng “Mô hình kim cương Porter” [tr.19] để xác định các điều kiện và mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển CNTT may mặc

Theo Michael E Porter (1990) quan niệm rằng: Khả năng cạnh tranh của một ngành công nghiệp là khả năng sáng tạo và đổi mới của ngành đó Khả năng này được hình thành bởi 4 yếu tố, bao gồm: (1) điều kiện các yếu tố sản xuất, (2) điều kiện cầu, (3) các ngành CNPT và các ngành liên quan, (4) chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh nội bộ ngành Cả 4 yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau tạo thành “Mô hình kim cương Porter” nhằm để chỉ khả năng chịu “va đập” của một ngành công nghiệp ở mỗi quốc gia trước môi trường cạnh tranh gay gắt Porter lý luận rằng Mô hình Viên kim cương là một hệ thống tác động tăng cường lẫn nhau Hiệu quả của một thuộc tính này lệ thuộc vào tình trạng của các thuộc tính khác, chúng không phải hoàn toàn độc lập mà là tương trợ lẫn nhau Porter cũng cho rằng hai biến số bổ sung sau có thể ảnh hưởng đến mô hình viên kim cương của quốc gia bằng các phương thức quan trọng: đó là (5) Thời cơ và (6) Chính phủ Mối quan hệ 2 chiều giữa các yếu tố được thể hiện qua mô hình sau:

Trang 27

Hình 1.8: Mô hình Viên kim cương của Porter

(Nguồn: The Michael E Porter (1990)) Theo hình 1.8, tác giả đi phân tích một số nội dung chủ yếu của từng điều kiện ảnh hưởng tới sự phát triển CNTT may mặc tạo lợi thế cạnh tranh như sau:

* Các đóng góp của yếu tố đầu vào sản xuất:

Các yếu tố đầu vào thường bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, nguồn tri thức, nguồn vốn, kết cấu hạ tầng Tỷ lệ sử dụng yếu tố đầu vào của ngành khác nhau là khác nhau, vì vậy mỗi quốc gia có thể khai thác lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng chiến lược phát triển ngành công nghiệp với tỷ lệ sử dụng yếu tố đầu vào thích hợp

Yếu tố đầu vào của CNTT may mặc cũng có đầy đủ đầu vào của nhiều ngành công nghiệp khác Trong đó, các yếu tố đầu vào cơ bản lại chiếm tỷ trọng lớn, đóng vai trò quyết định như lao động, vải, giấy, phụ liệu, cơ sở hạ tầng hành chính –thông tin – khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, thổ nhưỡng khí hậu

Tuy vậy, khi khoa học công nghệ phát triển thì lợi thế cạnh tranh lại thuộc về những nước có nhiều yếu tố đầu vào cao cấp Các nước này sản xuất ra được nguyên liệu đầu vào nhân tạo hoặc nâng cao chất lượng, nâng cao năng suất của sản phẩm đầu vào có nguồn gốc từ tự nhiên Những nước có trình độ lao động cao, công nghệ cao sẽ sản xuất

ra nhiều yếu tố đầu vào cao cấp như nguyên liệu cao cấp, chỉ, mex, nút,…

Trang 28

* Các điều kiện về mức cầu

Yếu tố về cầu thị trường bao gồm: các yếu tố cấu thành cầu thị trường, quy mô và

sự tăng trưởng của cầu và phương thức chuyển ra thị trường nước ngoài Các yếu tố thuộc nhóm này có ý nghĩa là căn cứ quan trọng nhất trong sự phát triển CNTT may mặc

cả về quy mô, cơ cấu sản phẩm cũng như về tốc độ

* Các ngành liên hệ và hỗ trợ

Ngành CNTT may mặc luôn chịu ảnh hưởng của các ngành công nghiệp liên quan, bao gồm:

- Ngành cơ khí chế tạo các thiết bị, dây chuyền sản xuất hàng may mặc, vải… Đây

là một ngành rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, đổi mới mẫu mã sản phẩm

- Ngành sản xuất và cung cấp năng lượng mà chủ yếu là điện năng cho sản xuất cũng vô cùng quan trọng Bởi lẽ, sản xuất sản phẩm, có đạt được trình độ cơ khí hóa, tự động hóa cũng như ứng dụng các công nghệ hiện đại khác vào sản xuất hay không nó phụ thuộc vào sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất điện, vào sự cung cấp điện ổn định và với mức giá chấp nhận được Ngoài ra, ngành cung cấp nước cũng rất quan trọng đối với tất cả các ngành nghề kinh doanh, vì nó phục vụ trực tiếp cho các công đoạn sản xuất sản phẩm

- Các ngành cung cấp dịch vụ như giao thông vận tải, hải quan, bảo hiểm, y tế,…cũng rất ảnh hưởng đến sự phát triển của CNTT may mặc Các ngành này nếu phát triển tốt thì phục vụ và có tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các DN Trong

đó, đặc biệt là giao thông vận tải, đây là ngành dịch vụ mà TP.HCM rất yếu, đã ảnh hưởng không nhỏ đến chi phí và tiến độ kinh doanh của các DN, từ đó ảnh hưởng đến việc thu hút vốn FDI Các dịch vụ hải quan, với chính sách và thủ tục hành chính rườm

rà, thường xuyên thay đổi cũng đã và đang ảnh hưởng đến sự phát triển của các ngành có liên quan, trong đó có CNTT may mặc

* Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh của DN

Yếu tố này bao gồm việc thiết lập, tổ chức quản lý một DN, một ngành cũng như tình hình cạnh tranh trên thị trường Một DN, một ngành có được phương pháp quản lý tốt, có được các chiến lược tốt sẽ tạo lợi thế cạnh tranh của một ngành hay một quốc gia

Trang 29

Các nội dung cụ thể của nhân tố này bao gồm:

- Thứ nhất, khả năng phân tích và xây dựng các chiến lược Chủ DN xác định được DN đang ở đâu, khả năng cạnh tranh như thế nào, nguồn lực ra sao; DN muốn đến đâu, tầm nhìn, mục tiêu chiến lược là gì; DN phải làm gì để đến được đích, lên kế hoạch chiến lược, triển khai và giám sát thực hiện chiến lược

- Thứ hai, chiến lược và cơ cấu tổ chức của các DN trong ngành Phương pháp cạnh tranh và quản lý của một DN trong một quốc gia thường bị ảnh hưởng bởi đặc điểm của quốc gia đó Ngành công nghiệp của một nước sẽ có lợi thế cạnh tranh khi các phương pháp và các thông lệ quản lý phù hợp với đặc trưng của quốc gia và khả năng cạnh tranh của ngành Chiến lược phát triển DN phụ thuộc vào thông lệ quản lý, quan điểm của các lãnh đạo, đào tạo cán bộ, quan điểm làm việc của cá nhân, quan hệ với khách hàng, quan điểm mở rộng thị trường ra nước ngoài, mối quan hệ giữa lao động và quản lý

- Thứ ba, các yếu tố mục tiêu Mục tiêu của quốc gia và DN tạo động lực cho mỗi công dân, mỗi nhà quản lý Lợi thế cạnh tranh mỗi quốc gia phụ thuộc vào nỗ lực và mục tiêu phấn đấu của mỗi DN và mỗi cá nhân Nếu có sự thống nhất trong mục tiêu của Nhà nước, DN và mỗi cá nhân thì chắc chắn quốc gia đó sẽ đạt được lợi thế cạnh tranh hơn các quốc gia khác

- Thứ tư, yếu tố cạnh tranh nội địa Nhiều nhà kinh tế cho rằng cạnh tranh nội địa không mang lại lợi ích cho chính quốc gia đó mà chỉ dẫn đến những hạn chế về lợi thế cạnh tranh so với các quốc gia khác do cạnh tranh ngăn cản khai thác lợi thế kinh tế quy

mô Tuy nhiên, trên thực tế hiếm có ngành công nghiệp nào có thế mạnh cạnh tranh trên trường quốc tế lại không đã và đang chịu sức cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa Cạnh tranh từ thị trường nội địa đòi hỏi DN phải không ngừng đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ

* Thời cơ

Theo M.Porter, các sự kiện về thời cơ như các việc canh tân chủ yếu, tạo ra việc bất liên tục cũng có thể làm giải đông hay tạo hình DN của quốc gia hay lãnh thổ để hất cẳng các DN khác Vì vậy, khả năng dự báo và phán đoán cũng như phản ứng lại của các chính phủ, ngành công nghiệp và DN có ý nghĩa quan trọng khi xem xét và phân tích yếu

Trang 30

tố này Yếu tố cơ hội là một yếu tố khách quan, vì vậy, một DN, một đất nước nếu có khả năng phán đoán tốt, có chiến lược kinh doanh linh hoạt, hợp lý sẽ phát huy tốt các điểm mạnh, khắc phục điểm yếu và hạn chế nguy cơ Trong phát triển CNTT may mặc hiện nay cần chú ý tới một số xu hướng tất yếu sau:

- Thứ nhất, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế và khu vực:

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra nhanh chóng, quyết liệt và trở thành xu thế phát triển không thể đảo ngược của nền kinh tế thế giới hiện nay Xu thế này mang lại cho nền CNTT may mặc cả những cơ hội và nguy cơ không nhỏ

Hiện nay, có một xu thế đẩy mạnh toàn cầu hóa kinh tế thế giới là sự chia nhỏ quá trình sản xuất thành các công đoạn đang diễn ra nhanh chóng Các nước đều cố gắng đạt được ở mức độ nào đó về chuyên môn hóa và tham gia vào mạng lưới sản xuất trong khu vực hoặc trên thế giới Điều này đặt ra yêu cầu các quốc gia phải định hướng lại các lựa chọn phát triển của mình về mặt cơ cấu Vấn đề quan trọng là TP.HCM có thể đảm nhận

bộ phận có tầm quan trọng và giá trị gia tăng cỡ nào trong chuỗi giá trị ấy

Quá trình hội nhập quốc tế này cũng đem lại những cạnh tranh khốc liệt với các nước khác Trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã tiếp nhận khá thuận lợi nguồn vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) Nhưng các DN TP.HCM đang bỏ lỡ một cơ hội lớn là trong khi dòng vốn ĐTNN chảy vào rất mạnh thì khả năng hấp thu, tiếp thu chuyển giao công nghệ từ các DN có vốn ĐTNN lại rất hạn chế Các DN TP.HCM cũng đang tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng đang ở vị trí nào Theo lộ trình cắt giảm thuế quan, các sản phẩm CNPT sẽ đổ ồ ạt vào thị trường trong nước, tiếp tục nhấn sâu nước ta trong vòng gia công hàng hóa cho thế giới, chỉ được hưởng tiền công rẻ mạt, trong khi

đó, chuỗi giá trị gia tăng lại tiếp tục rơi vào các nhà ĐTNN Và trong tình thế này ngay các cơ sở sản xuất trong nước cũng sẽ ảnh hưởng tới dùng sản phẩm của CNPT nước ngoài, đồng nghĩa với việc thị trường nội địa bị lấn chiếm Điều này đặt ra cho ngành và các nhà hoạch định chính sách phát triển với những trở ngại không nhỏ

- Thứ hai, sự phát triển của các cụm liên kết ngành:

Cụm liên kết ngành “là khu vực tập trung các DNNVV cùng ngành, theo cùng một khu vực địa lý, cùng sản xuất và bán các loại hàng hóa phụ trợ hay có liên quan với nhau

Trang 31

và do đó gặp các khó khăn và thuận lợi tương tự” [3, tr.60] Các DN trong một cụm có thể tạo nên chuỗi giá trị của sản phẩm, từ khâu cung cấp nguyên liệu cho đến việc đem sản phẩm tới người tiêu dùng Do đó, một cụm liên kết ngành (CLKN) không chỉ bao gồm các DN sản xuất, mà còn bao gồm cả các nhà cung cấp nguyên liệu thô, các nhà thầu phụ, người mua, người xuất khẩu, các nhà cung cấp máy móc Ngoài ra, rất nhiều tổ chức

hỗ trợ, các hiệp hội, các cơ quan luật pháp, các nhà tư vấn, các nhà vận chuyển và các nhà cung cấp các dịch vụ khác, trực tiếp hoặc gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất của cụm

* Chính phủ

Bằng các chọn lựa chính sách của mình, Chính phủ có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến các nhóm nhân tố ảnh hưởng trên Chẳng hạn, chính sách nội địa hoá, chính sách đầu tư phát triển, chính sách thuế đánh vào khâu nhập khẩu và khâu sản xuất các sản phẩm hỗ trợ, mức độ đầu tư của Nhà nước vào nghiên cứu khoa học và công nghệ ở khu vực ngành… Các chính sách này tạo điều kiện hay kìm hãm phát triển CNTT là do quan điểm định hướng phát triển của Chính phủ về vấn đề này

1.3 Quá trình phát triển của ngành CNTT may mặc

Trong thời phong kiến khi máy móc, khoa học kỹ thuật ở nước ta chưa phát triển thì ngành dệt may Việt Nam đã hình thành từ ươm tơ, dệt vải với hình thức đơn giản thô

sơ nhưng mang tính tinh xảo và có giá trị rất cao (từ giai cấp thượng lưu đến dân thường

và xuất sang cho triều đình Trung Quốc) Sau đó ươm tơ dệt vải trở thành nghề truyền thống của Việt Nam được truyền từ đời này sang đời khác nhờ vào đôi bàn tay khéo léo của phụ nữ Việt Nam Dù những công việc đó rất đơn giản nhưng chính nghề truyền thống này đã tạo ra một phong cách rất riêng cho ngành may mặc Việt Nam

Ngành may mặc của Việt Nam bắt đầu được quan tâm từ năm 1958 ở miền Bắc và đến năm 1970 ở miền Nam, nhưng tới năm 1975 khi đất nước thống nhất, thì hệ thống các nhà máy, xí nghiệp của ngành mới thực sự bước vào giai đoạn phát triển; các nhà máy dệt, xí nghiệp may, xí nghiệp hỗ trợ (nhuộm, in,…) được hình thành ở cả 3 miền (Bắc, Trung, Nam) đã thu hút và giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động

Khi đất nước còn trong tình trạng kinh tế trì trệ kém phát triển thì các cơ sở của ngành đóng vai trò to lớn đối với đất nước, sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu trong

Trang 32

nước; tuy nhiên sản lượng không nhiều vì máy móc, thiết bị còn lạc hậu và trình độ quản

lý cũng rất hạn chế; ngay cả việc sản xuất để phục vụ nhu cầu trong nước cũng không đáp ứng đủ yêu cầu về chất lượng, mẫu mã còn nghèo nàn

Từ năm 1975 đến năm 1985 nền kinh tế nước ta hoạt động theo cơ chế tập trung bao cấp, đầu vào và đầu ra của sản xuất theo chỉ tiêu của Nhà nước, việc sản xuất và quản

lý theo ngành khép kín và hướng và nhu cầu nội địa là chính, còn xuất khẩu trong giai đoạn này chỉ thực hiện trong khuôn khổ Hiệp định và Nghị định thư được ký kết với khu vực Đông Âu – Liên Xô Do đó hàng may mặc Việt Nam xuất khẩu đi nước ngoài chủ yếu là sang thị trường Liên Xô và một số nước Đông Âu Tuy nhiên, sản phẩm chủ yếu là gia công loại hàng bảo hộ lao động của hai thị trường này với nguyên liệu, thiết bị do họ cung cấp Sản lượng dệt may cho tới năm 1980 chỉ đạt 50 triệu sản phẩm các loại, 80% xuất sang Liên Xô, còn lại Đông Âu và khu vực II (một số nước ở Đông Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan,…)

Đến cuối năm 1990, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa tan rã, thị trường xuất khẩu bị ảnh hưởng do nước ta rơi vào thế cô lập Ngành may mặc cũng giống như nhiều ngành khác trở nên đình trệ, thất nghiệp tăng, Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta bắt đầu chính sách đổi mới kinh tế, chuyển đổi từ kinh tế bao cấp sang cơ chế quản lý tự hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Thời kì này, ngành dệt may vẫn chưa phát triển được do phải đối mặt với nhiều khó khăn: thiếu vốn, thiếu công nghệ, đặc biệt thiếu đối tác đầu mối tiêu thụ hàng hóa

Năm 1990-1995 nhờ có chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mọi ngành, mọi lĩnh vực, trong đó có ngành may mặc Việt Nam

Những năm gần đây, ngành CNTT trang Việt Nam đã dần định hình, từng bước khẳng định bản sắc và sự hội nhập với thời trang thế giới Hoạt động thời trang đã có những thành quả đáng mừng Ngày 20/11/2009, Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội Thời trang châu Á (AFF) Việc tham gia vào AFF sẽ tạo điều kiện cho thời trang Việt Nam chia sẻ thông tin và học hỏi nhiều từ các nước thành viên, đồng thời sẽ phát triển mạnh các thiết kế tinh xảo chứ không nặng về gia công như hiện nay Theo các chuyên gia đánh giá, Việt Nam có tiềm năng trở thành một thế lực thời trang trong tương lai Việt

Trang 33

Nam có đủ ba yếu tố để tạo tam giác cho sự phát triển thời trang là nhà thiết kế, truyền thông và công nghiệp thời trang đang phát triển

Nền công nghiệp thời trang Việt Nam đã được nói đến và đặt nền móng, đầu tư phát triển từ năm 1995 Sự ra đời của trung tâm thời trang đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh là Legafashion, sau đó là Viện Mốt Việt Nam – Fadin và lần lượt tiếp theo là những thương hiệu thời trang Việt như Sanding, Việt Tiến, An Phước, Sifa, Có thể nói ngành công nghiệp thời trang Việt Nam tuy còn non trẻ nhưng phát triển khá là mạnh mẽ Đồng hành cùng chương trình Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao, các thương hiệu thời trang Việt đã giành được chỗ đứng trên thị trường tiêu dùng cho người Việt Người tiêu dùng bắt đầu chấp nhận hàng thời trang công nghiệp theo cỡ vóc, bỏ dần thói quen sử dụng hàng may đo Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế thì tầm nhận thức của người tiêu dùng cũng phát triển cao hơn Chính vì thế, để chinh phục các vị “Thượng đế” cũng đòi hỏi nhà sản xuất phải đầu tư chất xám nhiều hơn nữa Cuộc cạnh tranh giành thị phần trên thị trường thời trang ngày càng trở nên gay gắt Các doanh nghiệp thời trang Việt sẽ tiếp tục đưa ra "chiêu thức" nào để tồn tại và phát triển

Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay, đã khiến ngành công nghiệp thời trang gặp nhiều khó khăn hơn trước Đứng trước thách thức của thời cuộc nhiều cạnh tranh khốc liệt, nhiều hãng thời trang nội đã vươn lên và khẳng định được mình bởi giá

cả, chất liệu phù hợp, mẫu mã đa dạng ;các thương hiệu Việt lao vào cuộc đua khẳng định giá trị thương hiệu Nhờ mẫu mã đa dạng, chất lượng tốt, hàng may mặc của Việt Nam ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trên thị trường, không chỉ ở dòng sản phẩm phổ thông mà

cả những sản phẩm cao cấp Theo nhu cầu và thị hiếu của phần lớn các khách hàng hiện nay, bên cạnh mẫu mã đẹp, chất lượng là điều được quan tâm lớn nhất Hàng may mặc Việt Nam hiện nay có rất nhiều mẫu mã đẹp, không thua kém gì hàng nhập khẩu, trong khi giá cả lại phải chăng Ở những dòng sản phẩm cao cấp, các công ty may mặc trong nước ngày càng tạo được uy tín với người tiêu dùng Nhiều hãng thời trang được khách hàng tin dùng như An Phước, Việt Tiến, Nhà Bè, Nem, Eva de Eva, Chicland, Yoshino, N&M, PT2000, Blue Exchange, AD, Việt Thy, Sanding, Ninomaxx, Sifa, Foci,

Trang 34

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, tác giả tập trung vào những lý thuyết liên quan đến thời trang, ngành CNTT Từ chuỗi giá trị, tác giả đi tìm hiểu những quan niệm về CNTT may mặc Từ đó có hai luận điểm được rút ra:

- Ngành CNTT may mặc càng được mở rộng và tích hợp thêm nhiều nội dung mới Hướng đến xu hướng phát triển CNTT may mặc là xoay quanh việc hình thành giá trị cao, nhanh chóng rút khỏi những lĩnh vực không còn hấp dẫn và tập trung hướng đến các lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng cao như: cung ứng giải pháp những nguyên phụ liệu mới, thiết kế hàng thời trang Việc này đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản trong quan niệm ngành dệt may, tiến đến ngành CNTT

- Từ sự vận động sáng tạo của chuỗi giá trị, ngành may mặc đã linh động; không còn bị bó hẹp trong cách hiểu cứng nhắc là sản xuất lắp ráp gia công đơn thuần mà là sản xuất các sản phẩm may mặc thời trang

Trang 35

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP THỜI TRANG

cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngỏ quốc tế

Hiện nay, TP.HCM gồm 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành với 259 phường,

58 xã và 5 thị trấn Dân số hiện có 7.123.340 người (theo kết quả điều tra dân số ngày 1/4/2009), gồm 1.812.086 hộ dân, bình quân 3,93 người/hộ; trong đó nam có 3.425.925 người chiếm 48,1%, nữ có 3.697.415 người chiếm 51,9%

Trang 36

- Thứ nhất, dân cư và cơ cấu dân cư ảnh hưởng rất quan trọng trong ngành may mặc TP.HCM tập trung dân cư đông nhất cả nước, theo thống kê dân số TP.HCM là trên

7 triệu người Dân số ngày càng gia tăng nên nhu cầu về sản phẩm thời trang may mặc cũng tăng, vì thế TP.HCM là một thị trường rất hấp dẫn đối với ngành CNTT may mặc

- Thứ hai, theo thống kê từ năm 2008 – 2012, GDP bình quân đầu người ở TP.HCM tăng, nhưng giá thành hàng may mặc rẻ, do đó việc chi tiêu cho các hàng may mặc thời trang tăng cao

- Thứ ba, TP.HCM là nơi tiếp cận với kinh tế thị trường nhanh, rộng lớn nên xu hướng phát triển CNTT may mặc rất nhanh TP.HCM có một hệ thống trung tâm thương mại, siêu thị, chợ đa dạng từ hiện đại lẫn truyền thống như: hệ thống siêu thị CO.OP Mark, Satra, Big C, Vincom, Saigon Trade Centre, Diamond Plaza, Chợ Bến Thành phục

vụ khách du lịch nước ngoài tại trung tâm, ; điều này giúp cho lượng tiêu thụ hàng thời trang may mặc tăng cao, góp phần tăng doanh thu bán lẻ hàng hóa của TP.HCM

Mặc dù trong giai đoạn kinh tế khó khăn, nhưng ngành dệt may là một trong 4 ngành công nghiệp của thành phố ổn định Cụ thể, năm 2006 chiếm 54,6%, năm 2011 chiếm 55,8%, năm 2012 chiếm 57,3% về tỷ trọng công nghiệp thành phố Ngành may mặc sử dụng nhiều lao động, mang lại giá trị xuất khẩu cao, được củng cố và phát triển theo hướng tăng tỷ trọng giá trị gia tăng trong sản phẩm, chuyển dịch sang hướng công nghiệp thiết kế, tạo mẫu, công nghiệp thời trang và các dòng sản phẩm cao cấp theo phân khúc thị trường Các xí nghiệp may có hình thức gia công đơn giản, sử dụng nguồn lao động phổ thông lớn đã được chuyển dịch về các địa phương có lợi thế về lao động phổ thông Cơ sở vật chất của thành phố đã được các doanh nghiệp trong ngành đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển dịch sang hướng thiết kế, công nghiệp thời trang

2.2 Vai trò của ngành CNTT may mặc trong công nghiệp TP.HCM

Ngành may mặc Việt Nam đã phát triển một cách mạnh mẽ trong những năm qua Tập đoàn Dệt may Việt Nam đóng vai trò chủ đạo trong quá trình thúc đẩy sự phát triển ngành dệt may cả nước Sản phẩm may mặc là mặt hàng xuất khẩu dẫn đầu, năm 2012 kim ngạch hàng dệt may của Việt Nam đạt 17,2 tỷ USD, tăng 8,5 % so với năm

2011, chiếm trên 13% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và cao hơn so với nhóm hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn thứ 2 (điện thoại các loại & linh kiện) tới 2,38 tỷ USD

Trang 37

Bảng 2.2: Thứ hạng và tỷ trọng một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam

Ngành may mặc ở TP.HCM có đóng góp đáng kể trong giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố Trong giai đoạn 10 năm từ 2001-2010, ngành luôn duy trì ổn định

về tỷ trọng trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp thành phố với tỷ trọng từ 12%-13% (theo giá hiện hành) Năm 2012 kim ngạch xuất khẩu trên 2,4 tỉ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2011 Đồng thời cũng là ngành thu hút nhiều lao động, lao động của ngành chủ yếu là các dòng lao động phổ thông, nghèo từ các khu vực nông thôn đổ về các thành phố, các khu công nghiệp để tìm kiếm việc làm Trong quá trình phát triển của ngành, tay nghề của đội ngũ lao động này dần dần được nâng lên đáp ứng được yêu cần của sản xuất; công việc tương đối ổn định

Trang 38

Ngành CNTT may mặc đã đóng góp lớn và có vị trí quan trọng trong sự phát triển của công nghiệp TP.HCM trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa Tốc độ tăng trưởng cao, bình quân 17% năm, đóng góp đến gần 40% giá trị sản xuất hàng dệt may của cả nước Ngành may mặc luôn đóng góp giá trị sản xuất lớn đối với công nghiệp thành phố với các phân ngành công nghiệp của thành phố, ngành dệt may chỉ đứng sau 3 ngành: hoá chất, cơ khí - gia công kim loại và ngành chế biến thực phẩm đồ uống

Bảng 2.3: Tỷ trọng đóng góp GTSX (giá hiện hành) của công nghiệp dệt may trong tổng GTSX của công nghiệp TP.HCM và so với 4 ngành công nghiệp trọng yếu

giai đoạn 2005-2012

Đơn vị tính: %

Phân ngành công nghiệp 2005 2010 2011 2012

lệ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu và nặng về phương thức gia công Một chiếc áo chúng ta mặc phải trải qua 5 công đoạn: bông-sợi-dệt-nhuộm-may, nhưng hàng dệt may của Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng được thực hiện theo phương thức CMT Tình trạng này nếu không cải thiện nhanh thì sẽ khó khai thác được lợi thế do TPP

và FTA mang lại Trong dài hạn, ngành dệt may không kích thích được người lao động,

dễ bị tổn thương khi xuất hiện những thị trường lao động giá rẻ hơn và điều quan trọng hơn là không tạo được sự phát triển bền vững của ngành

Hiện cục diện ngành may mặc toàn cầu đang có những thay đổi lớn Thế giới hình thành 3 khu vực sản xuất chính là Trung Quốc, nhóm các nước Tây Nam Á (Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Thổ Nhĩ Kỳ) và khối ASEAN; các khu vực sản xuất này đồng thời cũng là những trung tâm tiêu thụ lớn của thế giới Sự cạnh tranh khốc liệt giữa các trung tâm này đã thúc đẩy sự ra đời của các khối liên kết khu vực kèm theo những biện pháp

Trang 39

bảo hộ mậu dịch trong mỗi khối Đối với ngành công nghiệp dệt may, Trung Quốc luôn

là sức ép lớn về các lợi thế cạnh tranh Với những nhận đinh trên, cơ hội luôn có đối với ngành và để nắm bắt các cơ hội đó cần có một số điều kiện nhất định Các điều kiện phát triển ngành CNTT may mặc gồm:

- Thứ nhất, phát triển ngành CNTT may mặc là điều kiện tiên quyết để phát triển công nghiệp TP.HCM

- Thứ hai, phát triển CNTT may mặc cần nguồn nhân lực chất lượng cao Ngành may mặc sản xuất theo quy trình với tính tiêu chuẩn cao

- Thứ ba, phát triển ngành phụ trợ cung cấp nguồn nguyên phụ liệu cho ngành CNTT may mặc

- Thứ tư, sự định hướng đúng và hỗ trợ của khung chính sách về phát triển công nghiệp là điều kiện cho việc phát triển CNTT may mặc

2.3 Thực trạng ngành CNTT may mặc ở TP.HCM

2.3.1 Về số lượng cơ sở sản xuất

TP.HCM là một trong những trung tâm sản xuất hàng may mặc lớn nhất nước Trong những năm gần đây, hoạt động kinh doanh hàng thời trang may mặc trên địa bàn TP.HCM đã đạt được những kết quả đáng kể Theo thống kê đến năm 2012, trên địa bàn thành phố hiện có 19.882 cơ sở sản xuất ngành may mặc, chiếm 27,9% tổng số cơ sở công nghiệp toàn thành phố

Bảng 2.4: Số lượng cơ sở ngành may mặc TP.HCM qua các năm

Trang 40

Trong giai đoạn 10 năm 2001-2010 và đến năm 2012, các cơ sở sản xuất ngành dệt may ở TP.HCM đều có những bước tăng nhanh về số lượng, cụ thể:

- Khu vực Nhà nước: Trong giai đoạn 2001-2010, với chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp, nên số lượng cơ sở sản xuất của khu vực Nhà nước từ 31 cơ sở đến năm

2005 giảm còn 19 cơ sở cho đến năm 2010 Tuy nhiên, hiện khu vực Nhà nước đã tăng thêm 02 cơ sở, đưa số cơ sở của khu vực đạt 21 cơ sở vào năm 2012

- Khu vực ngoài Nhà nước: Cơ sở sản xuất khu vực ngoài Nhà nước luôn chiếm số lượng đông đảo nhất trong ngành Số lượng cơ sở của khu vực này đã tăng nhanh từ 7.241 cơ sở năm 2000 lên 15.639 năm 2010 và đạt 19.579 cơ sở năm 2012 Tuy nhiên, sự gia tăng cơ sở của khu vực kinh tế này chủ yếu là từ các cơ sở cá thể với số lượng chiếm 81,4% số lượng của khu vực ngoài Nhà nước

- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: Hiện có 282 cơ sở, chiếm 1,4% số lượng toàn ngành Theo thống kê các năm, số lượng cơ sở sản xuất của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài luôn ổn định ở mức dưới 2% số lượng cơ sở dệt may của TP.HCM

2.3.2 Về lao động

Số lượng lao động: Công nghiệp may mặc TP.HCM năm 2012 là 413.094 người Giai đoạn 2006 – 2010, số lao động trong lĩnh vực may mặc tăng với tốc độ bình quân 3,7 %/năm, thấp hơn so với giai đoạn năm 2001 – 2005 (khoảng 13 %/năm)

Bảng 2.5: Số lượng lao động theo phân ngành

Đơn vị: Người

Ngành 2000 2005 2009 2010 2011 2012

May trang phục 133.974 246.871 269.115 295.912 352.903 413.094 Tổng cộng 197.503 313.798 324.407 360.517 424.212 488.107

(Nguồn: Niên giám thống kê TP.HCM các năm)

Về trình độ lao động: Theo Báo cáo thống kê của Tổng cục thống kê, năm 2012 trình độ lao động của các doanh nghiệp ngành may mặc TP.HCM như sau:

- Lao động chưa qua đào tạo chiếm 3,5%, trình độ sơ cấp nghề chiếm 84,1%; trung cấp chiếm 6,3%, cao đẳng và cao đẳng nghề chiếm 2,9%, đại học chiếm 3,176% và trên đại học là 0,024%

Ngày đăng: 30/07/2015, 22:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mối liên kết trong chuỗi giá trị - Phát triển công nghiệp thời trang may mặc thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025
Hình 1.1 Mối liên kết trong chuỗi giá trị (Trang 17)
Hình 1.2: Chuỗi giá trị của Porter - Phát triển công nghiệp thời trang may mặc thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025
Hình 1.2 Chuỗi giá trị của Porter (Trang 18)
Hình 1.3: Mô hình chuỗi giá trị ngành - Phát triển công nghiệp thời trang may mặc thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025
Hình 1.3 Mô hình chuỗi giá trị ngành (Trang 18)
Hình 1.4: Mô hình chuỗi giá trị dệt may toàn cầu - Phát triển công nghiệp thời trang may mặc thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025
Hình 1.4 Mô hình chuỗi giá trị dệt may toàn cầu (Trang 20)
Hình 1.5: Đồ thị biểu diễn giá trị gia tăng của chuỗi giá trị may mặc - Phát triển công nghiệp thời trang may mặc thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025
Hình 1.5 Đồ thị biểu diễn giá trị gia tăng của chuỗi giá trị may mặc (Trang 21)
Hình 1.6: Tháp nhu cầu của Abraham Maslow - Phát triển công nghiệp thời trang may mặc thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025
Hình 1.6 Tháp nhu cầu của Abraham Maslow (Trang 23)
Hình 1.7: Mô hình ngành công nghiệp thời trang - Phát triển công nghiệp thời trang may mặc thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025
Hình 1.7 Mô hình ngành công nghiệp thời trang (Trang 25)
Hình 1.8: Mô hình Viên kim cương của Porter - Phát triển công nghiệp thời trang may mặc thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025
Hình 1.8 Mô hình Viên kim cương của Porter (Trang 27)
Bảng 2.1: Tổng hợp kinh tế - xã hội TP.HCM - Phát triển công nghiệp thời trang may mặc thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025
Bảng 2.1 Tổng hợp kinh tế - xã hội TP.HCM (Trang 35)
Bảng 2.2: Thứ hạng và tỷ trọng một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam - Phát triển công nghiệp thời trang may mặc thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025
Bảng 2.2 Thứ hạng và tỷ trọng một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam (Trang 37)
Bảng 2.3: Tỷ trọng đóng góp GTSX (giá hiện hành) của công nghiệp dệt may  trong tổng GTSX của công nghiệp TP.HCM và so với 4 ngành công nghiệp trọng yếu - Phát triển công nghiệp thời trang may mặc thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025
Bảng 2.3 Tỷ trọng đóng góp GTSX (giá hiện hành) của công nghiệp dệt may trong tổng GTSX của công nghiệp TP.HCM và so với 4 ngành công nghiệp trọng yếu (Trang 38)
Hình 2.2: Nhu cầu nhân lực theo ngành nghề giai đoạn 2012-2015 - Phát triển công nghiệp thời trang may mặc thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025
Hình 2.2 Nhu cầu nhân lực theo ngành nghề giai đoạn 2012-2015 (Trang 41)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w