TÓM TẮT Đề tài nghiên cứu “đánh giá sự thay đổi chất lượng nước do công nghệ thu gom và xử lý nước thải sơ bộ - giai đoạn I của Dự án vệ sinh môi trường thành phố Hồ Chí Minh thuộc lưu
Trang 1-
NGUYỄN PHI LONG
ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI CHẤT LƯỢNG NƯỚC
DO CÔNG NGHỆ THU GOM VÀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI SƠ BỘ - GIAI ĐOẠN I CỦA DỰ ÁN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THUỘC LƯU VỰC NHIÊU LỘC – THỊ NGHÈ
Trang 2Cán bộ hướng dẫn khoa học : GS.TSKH Lê Huy Bá
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
GS.TSKH Lê Huy Bá
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh ngày 25 tháng 04 năm 2014
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
1 GS.TSKH Nguyễn Trọng Cẩn - Chủ tịch Hội đồng 1
2 TS Trịnh Hoàng Ngạn - Phản biện 1
3 TS Nguyễn Xuân Trường - Phản biện 2
4 TS Nguyễ Thị Hai - Uỷ viên, Thư ký
5 TS Thái Văn Nam - Uỷ viên
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được
sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Phi Long
Trang 4Ngoài ra, trong suốt quá trình khi thực hiện luận văn này, em còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị thuộc Viện Môi trường Tài nguyên, Sở Tài Nguyên
và Môi trường, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh, Công ty Tư vấn CDM , Tổng Công ty Thoát Nước Đô Thị TpHCM và đồng nghiệp ở Ban Quản lý Đầu tư Dự án Vệ sinh Môi trường thành phố trong việc cung cấp tài liệu tham khảo và số liệu để tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, em xin cảm ơn tất cả các thầy cô và các bạn sinh viên khoa Môi trường và Công nghệ sinh học đã giúp đỡ, san sẻ cùng em trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Một lần nữa, tôi xin chân thành cám ơn
Họ và tên của Tác giả Luận văn
Nguyễn Phi Long
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “đánh giá sự thay đổi chất lượng nước do công nghệ thu
gom và xử lý nước thải sơ bộ - giai đoạn I của Dự án vệ sinh môi trường thành phố Hồ Chí Minh thuộc lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè”, nước thải sinh hoạt từ
lưu vực NL – TN rộng khoảng 33km2 được thu gom đưa về các thiết bị tách dòng được đặt dọc kênh được tách dòng nước thải và nước mưa Khi đó, nước kênh NL –
TN chỉ còn tiếp nhận nước mưa và các chất gây ô nhiễm dòng kênh sẽ được thau rửa bởi dòng triều từ sông Sài Gòn chảy vào kênh Qua mô hình diển biến hàm lượng chất lượng nước kênh và các kết quả phân tích chỉ tiêu chất lượng trước khi thực hiện dự án, cho thấy có sự chuyển biến chất lượng nước kênh NL – TN được cải thiện đáng kể bởi hầu hết chỉ tiêu lý hoá (pH, DO và BOD5) đạt quy chuẩn chất lượng nước mặt QCVN08: 2008/BTNMT, cột B2 trong mùa mưa do lưu lượng dòng chảy lớn đã thau rửa nhanh các chất nhiễm bẩn trong dòng kênh Mùa khô thì lưu lượng dòng chảy nhỏ không thể gội rửa các chất bẩn nhiễm trong dòng kênh đặc biệt ở phía thượng nguồn do địa hình kênh uốn khúc nên ảnh hưởng khả năng gội rửa của dòng triều bị hạn chế cho nên khối nhiễm bẩn vẫn không thoát khỏi kênh Bên cạnh đó, dòng kênh cũng đang tiếp nhận lượng nước thải chưa xử lý của các kênh nhánh (cụ thể rạch Bùi Hữu Nghĩa, rạch Phan Văn Hân, rạch Văn Thánh …)và một lượng rác thải do người dân thải trực tiếp xuống kênh gây ô nhiễm dòng kênh Sau khi nước thải đã được thu gom đưa về trạm bơm qua thiết bị lược rác của trạm bơm, sau đó được xả tạm thời ra sông Sài Gòn tại giếng bờ Đông Qua mô hình diển biến chất lượng nước sông Sài Gòn đều có các chỉ tiêu lý hoá đạt quy chuẩn chất lượng nước mặt QCVN08: 2008/BTNMT, cột B2 nhưng vẫn có chiều hướng tăng so với chất lượng nước năm 2002 Tuy nhiên, ảnh hưởng của nguồn thải đối với chất lượng nước sông Sài Gòn đang ở mức chấp nhận vì sông Sài Gòn còn khả năng tự làm sạch và chưa ảnh hưởng chất lượng nguồn cấp nước (cách trạm Bến Than khoảng 47km)
Ngoài ra, với công nghệ thu gom chuyển ra khỏi lưu vực và xử lý nước thải sơ
Trang 6bộ qua thiết bị lược rác của trạm bơm trược khi xả tạm ra sông Sài Gòn cũng là bước chuẩn bị cho kế hoạch xây dựng nhà máy xử lý nước thải trong tương lai Tuy nhiên, để có chất lượng môi trường nước phát triển một cách bền trong tương lai cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa mọi dân và các cơ quản lý nhà nước cùng chung tay xây dựng chính sách và bảo vệ môi trường đi vào cuộc sống Đồng thời, cần phải xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn trước khi xả thải ra môi trường
Trang 7ABSTRACT
“The assessment of the change of water quality after the wastewater collecting and treating of Ho Chi Minh City Environmental Sanitation Project – Phase I (Nhieu Loc – Thi Nghe Basin)”, the subsistence wastewater from Nhieu
Loc – Thi Nghe Basin (around 33km2) collected to the CSOs (combined sewer
water of NL – TN canal at that time has only received the storm water and the canal’s pollutant would be cleaned by the tide from Saigon River that flows into the canal Through the variation of the canal water quality and the analysis results of quality criteria before the project, the quality of canal water was significantly improved as almost of physical-chemical criteria (pH, DO and BOD5) met the standard of QCVN08: 2008/BTNMT, B2 column In the wet season, the large flow has rapidly cleaned the pollutant in the canal In the dry season, the slow flow couldn’t clean the pollutant in the canal, especially at the upstream, due to its wind, the cleaning ability of the tide was limited, the pollutant thus wouldn’t flow out the canal Besides, and the canal still received a large untreated of wastewater from small canals and garbage in basin (Bui Huu Nghia trench, Phan Van Han trench, Van Thanh trench …) and the garbage in the basin
The collected wastewater moved to the pumping station, to the trash screen of the pumping station, then temporarily discharged to Saigon River at the East Coast shaft Through the variation of the Saigon River water quality the physical-chemical criteria met the standard of QCVN08: 2008/BTNMT, B2 column but it tends to increase compared with the result in 2002 However, its impact to Saigon River water is acceptable as Saigon River has ability to clean themself and they doesn’t influence to the city water supply so far (the outfall 47km away from Ben Than pumping station upstream)
Moreover, with the results of the technology of this project – Phase 1, the moving of the collected wastewater to the pumping station, to the trash screen of the
Trang 8pumping station, then temporarily discharge to Saigon River is also the preparation for the upcoming construction of wastewater treatment plant
In order to have cleaner environment it should have the close coordination between citizen and the management unit and the environment protection policy As for the sustainable environment development, the wastewater must be satisfactory before discharging into the environment
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT v
DANH MỤC VIỀT TẮT x
DANH MỤC BẢNG xi
DANH MỤC HÌNH xii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiêm cứu: 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG LƯU VỰC SÔNG 6
1.1 Đánh giá tình hình nghiên cứu trên thế giới 6
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 7
CHƯƠNG 2 : DỰ ÁN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THUỘC LƯU VỰC NHIÊU LỘC – THỊ NGHÈ 11
2.1 Điều kiện tự nhiên: 11
2.1.1 Vị trí địa lý 11
2.1.2Khí tượng 12
2.1.3 Thủy văn và chế độ triều 16
2.1.3.1 Thủy văn: 16
2.1.3.2 Chế độ thủy triều: 19
2.2 Các hệ thống thoát nước của Thành phố Hồ Chí Minh 20
2.2.1 Sông Sài Gòn: 20
2.2.2 Kênh rạch trong thành phố Hồ Chí Minh 21
2.2.3.Các hạng mục thoát nước trong lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè 22
2.3 Tình hình dân số và kinh tế xã hội 25
2.3.1 Dân số 25
2.3.2 Kinh tế - Xã hội 25
2.4 Hiện trạng các nguồn nước thải : 26
2.4.1 Tình hình nước thải sinh hoạt trong lưu vực NL - TN 27
2.4.2 Tình hình thu gom rác trong khu vực kênh NL-TN 28
Trang 102.4.3 Tải lượng nhiễm bẩn từ các lưu vực ảnh hưởng đến chất lượng sông Sài
Gòn: 30
2.5 Mô tả thông tin Dự án Vệ sinh Môi trường thành phố Hồ Chi Minh thuộc lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè 32
2.5.1 Chủ đầu tư: 32
2.5.2 Phạm vi và Mục tiêu của Dự án 32
2.5.3 Tổng mức đầu tư và tiến độ thực hiện giai đoạn I của Dự án vệ sinh môi trường thành phố Hồ Chí Minh thuộc lưu vực NL – TN 38
2.5.4 Chi tiết các hạng mục công nghệ thu gom và xử lý nước thải sơ bộ giai đoạn I của Dự án Vệ sinh Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh thuộc lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè: 38
2.5.4.1 Công trình tách dòng 39
2.5.4.2 Tuyến cống bao Nhiêu Lộc – Thị Nghè 40
2.5.4.3 Thiết bị thu nước chết 41
2.5.4.4 Trạm bơm 43
2.5.4.5 Đường ống vượt sông và miệng xả ngầm 47
2.5.4.6 Thay thế, mở rộng cống cấp 2 và cấp 3: 47
2.5.4.7 Cải tạo kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè : 48
2.5.4.8 Kiểm tra cống cấp 2& 3: 48
2.5.4.9 Xây dựng tuyến cống cấp 4 49
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊM CỨU VÀ THẢO LUẬN 51
3.1 Chất lượng nước kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè 51
3.1.1 Kết quả phân tích chất lượng nước NL – TN năm 1996 51
3.1.2 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt kênh NL – TN năm 2013 52
3.1.3 Đánh giá sự thay đổi chất lượng nước kênh NL – TN do công nghệ thu gom và xử lý nước thải sơ bộ giai đoạn I của dự án: 63
3.2 Chất lượng nước sông Sài Gòn: 65
3.2.1 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt sông Sài Gòn năm 2002: 65
3.2.2 Kết quả phân tích chất lượng mặt sông Sài Gòn năm 2013 68
3.2.3 Đánh giá sự thay đổi chất lượng nước mặt sông Sài Gòn 76
3.2.4 Đánh giá ảnh hưởng lên chất lượng nước sông Sài Gòn sau khi tiếp nhận nước thải đi qua thiết bị lược rác của trạm bơm: 77
3.2.4.1 Tính toán tải lượng ô nhiễm 77
3.2.4.2 Đánh giá tác động lên sông Sài Gòn tại vị trí cách miệng xả ngầm 50m 78 3.2.4.3 Đánh giá sức chịu tải của sông Sài Gòn tại vị trí tiếp nhận nước thải 78
Trang 113.2.4.4 Khả năng tiếp nhận tải lượng ô nhiễm củ a sông Sài Gòn tại vị trí cách
miệng xả ngầm 50m 82
CHƯƠNG 4: XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ CHẤT LƯỢNG NƯỚC KÊNH NHIÊU LỘC - THỊ NGHÈ VÀ SÔNG SÀI GÒN 85
4.1 Xây dựng các giải pháp bảo vệ chất lượng nước kênh NL – TN 85
4.1.1 Công cụ quản lý bảo vệ môi trường kênh NL – TN 85
4.1.2 Áp dụng mô hình hóa quản lý chất lượng nước trong từng chi lưu thuộc lưu vực 87
4.2 Xây dựng giải pháp bảo vệ môi trường lưu vực sông Sài Gòn: 88
4.2.1 Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm tại nguồn 89
4.2.2 Thu gom và xử lý nước thải 92
2.2.3 Xây dựng kế hoạch giám sát chất lượng nước định kỳ : 94
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
5.1 Kết luận 95
5.2 Kiến nghị 96
PHỤ LỤC 98
PHỤ LỤC 1: BẢNG PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT TRÊN KÊNH NL – TN 99
PHỤ LỤC 2: BẢNG PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT SÔNG SÀI GÒN 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO 161
Trang 12DANH MỤC VIỀT TẮT
Sở KHCNTPHCM Sở Khoa học &Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
CDM Công ty Camp Dresser& McKee International Inc
Trang 13DANH MỤC BẢNG
Bảng 2 1 Thống kê về nhiệt độ tại Tp.HCM 13
Bảng 2 2 Số giờ nắng các tháng trong năm tại TpHCM 13
Bảng 2 3 Độ ẩm trung bình các tháng trong năm, % 14
Bảng 2 4 Lượng mưa các tháng trong năm tại TpHCM 15
Bảng 2 5 Mực nước sông thấp nhất các tháng trong năm của sông Sài Gòn 18
Bảng 2 6 Mực nước cao nhất các tháng trong năm của sông Sài Gòn 18
Bảng 2 7 Mật độ cống trên lưu vực NL - TN 24
Bảng 2 8 So sánh tải lượng nhiễm bẩn dựa theo BOD 31
Bảng 2 9 Chiều dài các loại cống tại mỗi quận 47
Bảng 3 1 Chất lượng nước ở kênh NL – TN, năm 1996 51
Bảng 3 2 Tổng hợp kết quả phân tích trong 2 đợt (mùa khô và mùa mưa) 55
Bảng 3 3 Lượng mưa trung bình trong tháng năm 2013 57
Bảng 3 4 Chất lượng nước sông Sài Gòn quanh điểm xả nước thải (tháng 9/2002) 66
Bảng 3 5 Tổng hợp giá trị chất lượng nước mặt trên sông Sài Gòn trong 2 đợt 70
Bảng 3 6 Tải lượng ô nhiễm trong nước thải từ trạm bơm Nhiêu Lộc- Thị Nghè đưa vào sông Sài Gòn 78
Bảng 3 7 Giá trị giới hạn các chất ô nhiễm trong nước sông Sài Gòn 79
Bảng 3 8 Lưu lượng dòng chảy lúc triều xuống và triều lên tại vị trí cách miệng xả ngầm 50m 79
Bảng 3 9 Tải lượng ô nhiễm tối đa sông Sài Gòn có thể tiếp nhận đối với các chất ô nhiễm 80
Bảng 3 10 Kết quả tính toán tải lượng chất ô nhiễm có sẵn trong sông Sài Gòn 80
Bảng 3 11 Kết quả tính toán tải lượng chất ô nhiễm từ nguồn xả đưa vào sông Sài Gòn 81
Bảng 3 12 Khả năng tiếp nhận của sông Sài Gòn sau khi tiếp nhận nước thải lúc triều xuống 82
Bảng 3 13 Khả năng tiếp nhận của sông Sài Gòn sau khi tiếp nhận nước thải lúc triều lên 83
Trang 14DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1 Bản đồ phân chia vùng chất lượng nước sông và kênh rạch 9
Hình 1 2 Bản đồ phân chia vùng chất lượng nước sông và kênh rạch 9
Hình 2 1 Các lưu vực tại thành phố Hồ Chí Minh 30
Hình 2 2 Vị trí Dự án ở Thành phố Hồ Chí Minh 35
Hình 2 3 Địa hình và Ranh giới Dự án Nhiêu Lộc – Thị Nghè 36
Hình 2 4 Tuyến kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè 37
Hình 2 5 Mặt cắt đặc trưng của công trình xả tràn (CSO) 40
Hình 2 6 Sơ đồ mặt bằng tuyến cống bao và các giếng 42
Hình 2 7 Sơ đồ vị trí trạm bơm 45
Hình 2 8 khái quát từ trạm bơm đến giếng bờ đông sông Sài gòn 46
Hình 2 9 Mặt cắt dọc đường ồng vượt sông 47
Hình 2 10 Hạng mục nước mưa của Dự án 50
Hình 3 1 Sơ đồ tổng thể dòng chảy kết hợp nước mưa và nước thải 53
Hình 3 2 Sơ đồ thể hiện các vị trí lấy mẫu trên Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè 54
Hình 3 3 Biểu đồ thể hiện hàm lượng TSS tại vị trí khảo sát so với QCVN 08:2008/BTNMT (cột B2) 59
Hình 3 4 Biểu đồ thể hiện hàm lượng BOD5tại vị trí khảo sát so với QCVN 08:2008/BTNMT, (cột B2) 60
Hình 3 5 Biểu đồ thể hiện hàm lượng COD tại các vị trí khảo sát so với QCVN 08: 2008/BTNMT (cột B2) 61
Hình 3 6 Biểu đồ thể hiện hàm lượng N_NH3tại các vị trí khảo sát so với QCVN 08: 2008/BTNMT (cột B2) 62
Hình 3 7 Biểu đồ thể hiện hàm lượng feacal coliform tại các vị trí khảo sát 63
Hình 3 8 Sơ đồ thể hiện các vị trí lấy mẫu trên sông Sài Gòn 70
Hình 3 9 Diển biến hàm lượng DO tại các vị trí khảo sát 72
Hình 3 10 Diển biến hàm lượng TSS tại các vị trí khảo sát trong 2 đợt 73
Hình 3 11 Diển biến hàm lượng BOD5 tại vị trí khảo sát trong 2 đợt 74
Hình 3 12 Diễn biến nồng độ COD tại các vị trí khảo sát trong 2 đợt 75
Hình 3 13 Diễn biến nồng độ N_NH3 tại các vị trí khảo sát trong 2 đợt 75
Hình 3 14 Diễn biến nồng độ N_NH3 tại các vị trí khảo sát trong 2 đợt 76
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, chính trị lớn nhất nước Với 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích tự nhiên khoảng 2095,01 km2, với dân số Thành phố hiện nay khoảng 7,5 triệu dân và 2,5 triệu dân là lượng khách vãng lai và tạm trú, mật độ trung bình 4773 người/km2 Tp
Hồ Chí Minh luôn giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam
Vấn đề lớn nhất hiện nay của Thành phố là thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt Hệ thống thống thoát nước đô thị và nước thải hiện trạng được quy hoạch là
hệ thống thoát nước chung mà không được xử lý trước khi thải ra môi trường bên ngoài và được xây dựng hơn 35 năm đến nay đã xuống cấp và vượt quá năng lực thiết kế Hơn nữa, chất thải rắn hộ gia đình được đổ bất hợp pháp vào các nguồn nước, việc nạo vét các kênh thoát nước không được đáp ứng, và các công việc bảo trì không đầy đủ cũng góp phần đáng kể làm nặng thêm việc ô nhiễm nguồn nước
và gây ra mùi hôi thối Chất lượng nước ngày càng xấu đi đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường vệ sinh của dân cư Nếu không có biện pháp cải thiện môi trường, tốc độ đô thị hóa vẫn tiếp tục tăng nhanh … hậu quả tất yếu là môi trường nước sẽ ngày càng xấu đi ngày càng nghiêm trọng hơn Một trong số đó là kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè
Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè (NL – TN) nằm trong khu trung tâm của nội thành thành phố Hồ Chí Minh, chảy qua địa bàn 5 quận: Tân Bình, Phú Nhuận, quận 1, quận 3 và Bình Thạnh Kênh NL – TN bắt đầu từ quận Tân Bình chảy đến quận Phú Nhuận (bờ Trường Sa), quận 3 (bờ Hoàng Sa và một phần bờ Trường Sa), quận 1 (bờ Hoàng Sa), quận Bình Thạnh (bờ Trường Sa) và kết thúc ở sông Sài Gòn (vàm kênh NL – TN gần xưởng đóng tàu Ba Son)
Ngày nay, ít ai biết được kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè (NL – TN) từng một thời là con kênh đẹp nhất nhì của Thành phố Người Pháp, ấn tượng trước vẻ đẹp và
sự trong sạch của kênh, đã đặt cho nó cái tên “Arroyo de l’Avalanche - Kênh Tuyết
Trang 16đổ” Trong quá trình hình thành và phát triển của đô thị Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh, kênh NL – TN luôn đóng vai trò quan trọng hình thành nên bộ mặt cảnh quan của tpHCM Hơn nữa, hê ̣ thống kênh NL – TN còn là hệ kênh tiếp nhâ ̣n nước thải sinh thải của các hoạt động dân sinh , dịch vụ, thương ma ̣i, tiểu thủ công nghiệp trên lưu vực và tiếp nhâ ̣n trực tiếp các loa ̣i rác như : phân, rác, xác súc vật xuống
mă ̣t nước do người dân thiếu ý thức , càng làm tăng thêm mức độ ô nhiễm nguồn nước, thu he ̣p dòng chảy và mất mỹ quan đô thi ̣ mô ̣t cách trầm tro ̣ng Ngoài ra, do yếu tố khách quan, hê ̣ thống kênh NL – TN còn chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của Biển Đông Nên khi nước lớn , nước thải trên kênh chưa ki ̣p thoát ra sông Sài Gòn đã bị th ủy triều dồn ứ vào sâu trong rạch và ô nhiễm môi trường lòng kênh đặc biệt ở thượng lưu tiếp tục bị ô nhiễm trong suốt thời gian dài Trước tình trạng ô nhiễm môi trường kênh NL – TN, nước kênh có màu đen sệt và mùi hôi gây ảnh hưởng sức khỏe của người dân; và chất lượng nước sông Sài Gòn (là nguồn cấp nước sinh hoạt của cả thành phố) Vì vậy, thành phố Hồ Chí Minh đã xúc tiến phê duyệt nhiều dự án nhằm chỉnh trang cơ sở hạ tầng, cải tạo cảnh quan lưu vực và cải thiện chất lượng môi trường trong đó có “Dự án vệ sinh môi trường lưu vực kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè”
Ở giai đoạn I của Dự án vệ sinh môi trường TP.HCM thuộc lưu vực NL – TN đưa ra giải pháp tận dụng khả năng tự làm sạch của sông Sài Gòn để pha loãng nước thải chưa qua xử lý từ lưu vực và xả thải tạm thời ra sông Sài Gòn là chính
yếu Từ giải pháp này, việc tiến hành nghiên cứu “đánh giá sự thay đổi chất lượng
nước do công nghệ thu gom và xử lý nước thải sơ bộ - giai đoạn I của Dự án vệ sinh môi trường thành phố Hồ Chí Minh thuộc lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè”
trong việc cải thiện môi trường của thành phố là cần được kiểm chứng
2 Mục tiêu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài “đánh giá sự thay đổi chất lượng nước do công nghệ
thu gom và xử lý nước thải sơ bộ - giai đoạn I của Dự án vệ sinh môi trường thành phố Hồ Chí Minh thuộc lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè” là mục đích góp
Trang 17phần thiết thực nhằm để đánh giá hiệu quả đầu tư cải thiện môi trường của dự án bằng phương pháp so sánh các chỉ tiêu về chất lượng nước mặt kênh NL – TN và sông Sài Gòn trước - sau khi có dự án Đồng thời, đề xuất các giải pháp để bảo vệ chất lượng nguồn nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiêm cứu:
Nhằm đảm bảo luận văn đạt kết quả tốt và đáp ứng theo đúng thời gian quy định cho phép, phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ đề cập đến sự thay đổi chất lượng nước của kênh NL – TN và đánh giá ảnh hưởng tác động của việc xả thải ra sông Sài Gòn sau khi công nghệ thu gom và xử lý nước thải sơ bộ giai đoạn I của
dự án đưa vào vận hành, khi đó được chất lượng nước được đánh giá so sánh bởi tiêu chuẩn QCVN 08/2008BTNMT cột 2 được dựa trên các kết quả phân tích chất lượng nước mặt và tính toán khả năng chịu tải của sông trên cơ sở phương pháp bảo toàn khối lượng thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục 3 kèm theo Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT ngày 19 tháng 3 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn “đánh giá sự thay đổi chất lượng nước do công nghệ thu
gom và xử lý nước thải sơ bộ - giai đoạn I của Dự án vệ sinh môi trường thành phố Hồ Chí Minh thuộc lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè” được thực hiện bằng các
phương pháp nghiên cứu trong luận văn như sau:
Phương pháp thu thập thông tin các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội,
hệ thống thoát và môi trường trong phạm vị địa bàn nghiên cứu và mô tả dự án vệ sinh môi trường
- Đối tượng được thu thập gồm: Điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, phạm vi hành
chính, đặc điểm địa hình, khí hậu, đặc điểm thủy văn và sông rạch…) hiện trạng nguồn thải và đặc điểm kinh tế - xã hội
Trang 18- Thông tin chính yếu về dự án Vệ Sinh Môi Trường TpHCM (chủ đầu tư,
phạm vi và mục tiêu đầu tư của dự án và trình bày chi tiết công nghệ thu gom và xử
lý nước thải sơ bộ - giai đoạn I
- Các số liệu, tư liệu chủ yếu được thu thập tại các cơ quan sau: Sở Tài nguyên
và Môi trường, Viện Môi trường Tài nguyên, Tổng Công ty TNHH MTV thoát nước Đô thị, Công ty Tư vấn giám sát CDM, Trung tâm ENTEC và Ban Quản lý
Dự án Vệ sinh Môi trường thành phố Hồ Chí Minh
Phương pháp lấy mẫu và phân tích các đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Lấy mẫu và phân tích về chất lượng nước mặt trên kênh NL - TN và sông
Sài Gòn , năm 2013 trong mùa khô và mùa mưa trước (sau khi hoàn thành Dự án) Các thông số được phân tích gồm có: Các thông số lý, hóa, sinh học của nước gồm:
pH, TSS, DO, BOD5, COD, N_NH3 và Feacal Coliform Tất cả các thông số trên được thu thập tại công ty Tư vấn CDM và ENTEC
- Thu thập số liệu lượng mưa trong năm 2013 tại Tổng Công ty thoát nước đô
thị
Phương pháp so sánh và đánh giá
- Các số liệu thu thập được tổng hợp vào các bảng (trong chương 3) trước và sau khi thực hiện dự án, sau đó đối chiếu với các tiêu chuẩn nước mặt QCVN 08: 2008/BTNMT cột B2 và đồng thời đối chiếu số liệu quan trắc của chi cục Bảo vệ Môi trường TpHCM
- Tiến hành đánh giá sự thay đổi chất lượng nước do công nghệ thu gom và xử
lý nước thải sơ bộ - giai đoạn I thuộc dự án vệ sinh môi trường thành phố, cụ thể
o Sự thay đổi chất lượng môi trường nước mặt trên kênh NL – TN và sông Sài Gòn, bằng các chỉ tiêu (DO, BOD5, COD…) so với quy chuẩn nước mặt QCVN 08: 2008/BTNMT cột B2
o Về ảnh hưởng tải lượng ô nhiễm lên chất lượng nước sông Sài Gòn sau khi tiếp nhận nước thải đi qua thiết bị lược rác của trạm bơm và khả năng tiếp nhận
Trang 19nguồn thải ra sông Sài Gòn tại vị trí cách miệng xả ngầm 50m lúc triều xuống và triều lên, dựa trên cơ sở phương pháp bảo toàn khối lượng thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục 3 kèm theo Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT ngày 19 tháng 3 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, để đưa kết luận khả năng tiếp nhận nguồn thải xả
ra sông Sài Gòn tại vị trí cách miệng xả ngầm 50m lúc triều xuống và triều lên
Phương pháp thống kê và tính toán
Trong bài cáo luận văn chủ yếu sử dụng 2 phần mềm Microsoft Word và Microsoft Excel để thực hiện: Tổng hợp kết quả phân tích, vẽ biểu đồ so sánh tiêu chuẩn chất lượng nước mặt kênh NL – TN và sông Sài Gòn và tính toán khả năng chịu tải của sông Sài Gòn trên cơ sở phương pháp bảo toàn khối lượng thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục 3 kèm theo Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT ngày 19 tháng 3 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trên cơ sở những số liệu nghiên cứu và mô hình tính toán tải lượng ô nhiễm,
đưa ra các giải pháp bảo vệ về chất lượng nước kênh NL và sông Sài Gòn để từ đó kết luận và kiến nghị
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Về ý nghĩa khoa học, việc nghiên cứu thực hiện đề tài “đánh giá sự thay đổi
chất lượng nước do công nghệ thu gom và xử lý nước thải sơ bộ - giai đoạn I của
Dự án vệ sinh môi trường thành phố Hồ Chí Minh thuộc lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè” là kiểm chứng hiệu quả của mục tiêu của dự án đã đều ra
Về thực tiễn đề tài sẽ góp phần thiết thực vào công tác bảo vệ nguồn nước mặt trên kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè và sông Sài Gòn Mặc khác đánh giá sức chịu tải của nguồn nước mặt sẽ là cơ sở để cơ quản quản lý nhà nước của thành phố giám sát việc thải xả ra môi trường của Dự án
Trang 20CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG LƯU VỰC SÔNG
1.1 Đánh giá tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới hiện nay, tài nguyên nước được coi là nguồn tài nguyên chiến lược và việc quản lý, sử dụng bền vững lưu vực sông được ưu tiên hàng đầu Dưới
áp lực gia tăng dân số và phát triển kinh tế - xã hội, gia tăng nhu cầu sử dụng nước đồng thời cũng sẽ làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước Nhiều dòng sông lớn trên thế giới đã bị ô nhiễm trầm trọng: sông Hằng ở Ấn Độ, sông Nile ở châu Phi, sông Hoàng Hà ở Trung Quốc,… và những ô nhiễm này do quá trình phát triển kinh tế -
xã hội gây nên Cũng từ những lý do đó mà các nước nỗ lực nghiên cứu giải quyết vấn đề ô nhiễm theo điều kiện thực tế của từng nơi Các nhà khoa học các nước đang hướng đến cách tiếp cận phát triển bền vững, quy hoạch luôn liên kết chặt chẽ với con người, môi trường và tài nguyên thiên nhiên Rất nhiều các giải pháp tổng hợp được nghiên cứu áp dụng trong đó giải pháp quản lý luôn gắn bó với giải pháp
kỹ thuật và công nghệ thích hợp: áp dụng công nghệ xử lý nước thải tiên tiến để đạt nồng độ giới hạn cho phép trước khi xả vào nguồn tiếp nhận
Theo viện Blacksmith - một cơ quan giám sát môi trường có trụ sở tại Mỹ, phối hợp với Tổ chức Chữ thập Xanh của Thụy Sĩ vừa công bố danh sách mới “10 địa điểm ô nhiễm nhất thế giới” Danh sách này dựa trên cơ sở tập hợp, nghiên cứu
và kết luận rút ra từ hơn 2.000 báo cáo đánh giá về các khu vực ô nhiễm ở 49 nước trên thế giới theo đó, có hàng trăm triệu người mà tuyệt đại đa số là người nghèo ở các nước đang phát triển có nguy cơ nhiễm độc rất cao khi phải sống trong có 10 địa điểm trên gồm các khu vực: Agbogbloshie (Ghana), Chernobyl (Ukraine), sông Citarum (Indonesia), Dzershinsk (Nga), Hazaribagh (Bangladesh), Kabwe (Zambia), Kalimantan (Indonesia), Matanza Riachuelo (Argentina), đồng bằng sông Niger (Nigeria) và Norilsk (Nga) Trong 10 khu vực được xem là “điểm đen” ô nhiễm nhất thế giới hiện nay, đã có hàng trăm triệu người mà tuyệt đại đa số là người nghèo ở các nước đang phát triển có nguy cơ nhiễm độc rất cao khi phải sống trong 10 khu vực được xem là “điểm đen” ô nhiễm nhất thế giới hiện nay
Trang 21Trước tình hình ô nhiễm và suy thoái môi trường ngày càng nghiêm trọng, có ảnh hưởng lâu dài tới khả năng phát triển bền vững của loài người, các nước phát triển (DC) và Liên Hợp Quốc (UN) nói chung, đã áp dụng các chính sách thực thi mục tiêu thiên niên kỷ (MDGs) Trong đó, lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm các nguồn nước (nước mặt, nước ngầm) được ưu tiên hàng đầu, vì nó có liên quan chặt chẽ tới việc bảo vệ chất lượng nước mặt, nước ngầm, tài nguyên nước các lưu vực sông, kiểm soát chất lượng nước thải, giảm nhẹ hậu quả do biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai và sự cố ở quy mô lớn, tập trung trước hết cho việc kiểm soát thu gom nguồn nước thải công nghiệp và đô thị gây ô nhiễm, cũng như đặc biệt chú trọng cho công tác quản lý và xử lý nước thải sau khi đổ ra sông
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng về nước do nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, đặc biệt là trong một số ngành như năng lượng, sản xuất lương thực, thực phẩm Quy mô khủng hoảng theo dự đoán có thể mang tính toàn cầu
Do vậy, các tổ chức liên Quốc gia, các tổ chức liên tỉnh được hình thành, cụ thể như: Ủy Ban sông MeKong, Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai… nhằm giải quyết các vấn đề về khai thác, sử dụng và chia sẻ nguồn tài nguyên nước, vấn đề ô nhiễm môi trường đối với các hệ thống sông chảy qua nhiều quốc gia hoặc nhiều tỉnh
Trong hội thảo “Tài nguyên nước và sự phát triển bền vững” diễn ra tại Hà Nội phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải có nhấn mạnh, nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý báu nhưng không phải là vô tận Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu nước do tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gia tăng dân số và biến đổi khí hậu (BĐKH) Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp của BĐKH toàn cầu mà Việt Nam được xếp vào một trong năm quốc gia có nguy cơ bị tác động mạnh mẽ, việc đánh giá tổng thể thực trạng tài nguyên nước dựa trên nhu cầu
Trang 22sử dụng trong tương lai là một yêu cầu cấp thiết phục vụ chiến lược dài hạn và bền vững của đất nước
Những năm trước đây có một vài nghiên cứu nhưng chỉ dừng ở mức độ phân loại chất lượng nước để làm cơ sở cho việc đánh giá sức chịu tải và phân vùng xả thải như nghiên cứu của tác giả Lê Trình đề xuất trong đề tài “Nghiên cứu xây dựng tập atlas môi trường Thành Phố Hồ Chí Minh” (năm 1990 – 1991) Phương pháp phân loại chất lượng nước này đã được Lê Trình cải tiến và áp dụng cho toàn lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn (1998 – 2000) trong một số công trình nghiên cứu Tập atlas về phân vùng chất lượng nước khái quát cho lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai cũng đã được xây dựng (1998 – 2000), theo đó chất lượng nước trong toàn lưu vực được chia thành 5 loại: chưa ô nhiễm, ô nhiễm nhẹ, ô nhiễm trung bình, ô nhiễm nặng và ô nhiễm rất nặng Phân bố các loại nước đã được thể hiện trên bản đồ số hóa với các vùng màu sắc đặc trưng Tuy nhiên, do số điểm quan trắc mỏng, tần suất thấp nên việc phân vùng chất lượng nước toàn lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn còn sơ lược và chưa ứng dụng mô hình để tính toán nội suy
chất lượng nước cho toàn lưu vực
Đối với lưu vực sông rạch tại khu vực TpHCM, theo kết quả nghiên cứu” Nghiên cứu về phân chia vùng chất lượng nước trong khu vực TpHCM” của Phó Giáo Sư Lê Trình năm 2008, về chia vùng chất lượng nước của sông ngòi kênh rạch trên địa bàn TpHCM trong mùa mưa và mùa khô, dựa trên 11 thông số (pH, DO,
SS, EC, BOD5 , COD, NH4, NO3 , Fe, Tổng Coliforms và dầu mỡ)
Loại 5 (rất xấu, ô nhiễm cực kì nghiêm trọng) Đỏ
Trang 23Hình 1 1 Bản đồ phân chia vùng chất lượng nước sông và kênh rạch
TpHCM trong mùa khô
Hình 1 2 Bản đồ phân chia vùng chất lượng nước sông và kênh rạch
Tp HCM trong mùa mưa
Trang 24Dựa vào kết quả thể hiện trên bản đồ phân chia vùng chất lượng nước sông và kênh TpHCM trong mùa khô và muà mưa, thì nhận thấy lưu vực NL – TN đang bị ô nhiễm rất nghiêm trọng, và dự án Vệ Sinh Môi Trường TpHCM sẽ giúp cải thiện chất lượng nước và điều kiện sống của người dân khu vực này
Khi sau một năm đưa công trình vào vận hành công nghệ thu gom tách dòng
và xử lý nước thải sơ bộ xả thải ra sông Sài Gòn, mặc dù chưa có số liệu quan trắc hay báo cáo của cơ quan quản lý TpHCM được công bố diển biến sự thay đổi chất lượng nước, nhưng bằng trực quan có thể đánh giá chất lượng nước mặt kênh NL –
TN hiện nay cũng được nhìn nhận dòng kênh đang hồi sinh tích cực và sự chuyển biến chất lượng sông Sài Gòn tại khu vực xả nước và vùng lân cận chưa có hiện tượng suy giảm đáng kể
Trang 25
CHƯƠNG 2 : DỰ ÁN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THUỘC LƯU VỰC NHIÊU LỘC – THỊ NGHÈ
2.1 Điều kiện tự nhiên:
2.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Hồ Chí Minh (TpHCM) nằm trong vùng giáp ranh giữa vùng đồi miền Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long Độ dốc chung của khu vực theo hướng từ Bắc - Đông Bắc đến Tây - Tây Nam
Xét về địa hình, TpHCM có thể được chia làm ba vùng:
(i) Vùng đồi: Quận Thủ Đức, Huyện Hóc Môn, Bình Chánh (khu vực phía
Bắc), Quận Gò Vấp, Tân Bình (một phần), Quận 1 và 3 Vùng này có cao độ từ 8 đến 10 m, địa hình khá dốc và nhiều đồi, lồi lõm dạng lượn sóng, tương đối ít khu vực bị ngập, rất thích hợp cho việc thoát nước về các đường tụ thủy là hệ thống kênh rạch
(ii) Vùng thấp: Giữa phía Nam và Đông - Nam Tp HCM, bao gồm Đông Hóc
Môn (phía Tây Bắc Thành phố), Nam Bình Chánh (phía Tây), Nam Thủ Đức (phía Đông), Nhà Bè, các Quận 4, 6 và 8 (phía Nam) Vùng này có cao độ từ 0,6 đến 1,2
m, địa hình tương đối bằng phẳng, cao độ thấp, chung quanh là kênh rạch dày đặc Việc xây dựng ở khu vực này đòi hỏi phải tôn nền cao hơn mức triều cường từ các cửa sông
(iii) Vùng trũng: Phần Tây - Tây Nam của TpHCM, bao gồm một vùng dọc
theo các kênh tiêu nước Thầy Cai và An Hạ Khu vực này nơi giáp nước, thường xuyên bị ngập vào mùa mưa do nước lũ từ tỉnh Đồng Tháp đổ về, vì vậy vùng này không phù hợp với việc phát triển đô thị
Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè (NL – TN) nằm trong khu trung tâm của nội thành thành phố Hồ Chí Minh, chảy qua địa bàn 5 quận: Tân Bình, Phú Nhuận, quận 1, quận 3 và Bình Thạnh Kênh NL – TN bắt đầu từ quận Tân Bình chảy đến quận Phú Nhuận (bờ Trường Sa), quận 3 (bờ Hoàng Sa và một phần bờ Trường Sa),
Trang 26quận 1 (bờ Hoàng Sa), quận Bình Thạnh (bờ Trường Sa) và kết thúc ở sông Sài Gòn (vàm kênh NL – TN gần xưởng đóng tàu Ba Son) Lưu vực NL – TN có 02 vùng địa hình chính ở hai bên bờ kênh, cao trình của mỗi vùng từ 10m ở phía ngoài (quận Tân Bình, Gò Vấp và quận 1) xuống đến 1,5m ở trung tâm dọc theo hai bờ kênh Với điều kiện địa hình này rất thích hợp cho việc thu gom nước mưa cho tự chảy về hướng kênh NL – TN
2.1.2 Khí tƣợng
Khu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè (NL – TN) nằm trong khu trung tâm nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh (TpHCM), vì vậy khí hậu tại lưu vực kênh mang đặc điểm khí hậu TpHCM TpHCM bị ảnh hưởng bởi khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nên có nhiệt độ cao, độ ẩm cao, có nhiều mây, có tính ổn định cao, thay đổi khí hậu giữa các năm nhỏ, không có thiên tai, hầu như không có bão lụt, chỉ bị ảnh hưởng nhẹ nhưng không đáng kể Các mùa tương tự với khí hậu của miền Nam và có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa hè chịu ảnhhưởng của gió mùa Tây Nam và vào mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Bắc Gió mùa vào mùa hè thường diễn ra từ tháng 5 đến tháng 12,90% lượng nước mưa bình quân đều diễn ra vào mùa này với mức trung bình là 300mm/m2 tháng, mưa hầu như ngày nào cũng có Nhiệt độ và độ ẩm cao (nhiệt độ trung bình 320C, độ ẩm 79,7%) Gió mùa vào mùa đông diễn ra từ tháng 1 đến tháng 3, nhiệt độ thấp (210C vào tháng 1), độ ẩm thấp hơn và có mưa nhỏ
a) Nhiệt độ:
Nhiệt độ không khí tại TpHCM ít thay đổi giữa các tháng trong năm, biên độ dao động trong khoảng 5 - 70C, nhiệt độ trung bình năm là 270C Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm lại tương đối lớn (khoảng 7 - 100
C vào mùa khô
và 5 - 90C vào mùa mưa) được trình bày trong bảng 2 1
Trang 27Bảng 2 1 Thống kê về nhiệt độ tại Tp.HCM
Nhiệt độ cao nhất đã từng được ghi nhận (vào năm 1912) 40 Nhiệt độ thấp nhất đã từng được ghi nhận (vào năm 1937) 13,8 Dao động nhiệt độ trong tháng nóng nhất (tháng 4) 24 - 35 Dao động nhiệt độ trong tháng lạnh nhất (tháng 11) 22- 31
(Nguồn: số liệu do Viện Môi trường và Tài nguyên (CEFINEA) tổng hợp)
b) Số giờ nắng :
Tổng số giờ nắng trong năm là 2.003, trong đó tháng 3 là tháng có nhiều giờ nắng nhất (236,9 giờ) Tổng lượng bức xạ trung bình hằng ngày trong năm khoảng
110 – 160 Kcal/cm2) được trình bày trong bảng 2 2
Bảng 2 2 Số giờ nắng các tháng trong năm tại TpHCM
Trang 2868% (tháng 2) được mô tả trong bảng 2 3
Bảng 2 3 Độ ẩm trung bình các tháng trong năm, %
Tháng
Năm
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Cả năm
(nguồn: Niêm giám thống kê 2009 Thành phố Hồ Chí Minh – Tân Sơn Hòa)
Lượng bốc hơi trung bình trong tháng tại TpHCM được ghi nhận được trong nhiều năm xảy ra trong các tháng mùa khô (từ tháng 2 – tháng 3 ) có khi đạt đến 70 –
Trang 29180mm tại trạm Tân Sơn Hòa, thấp nhất có đạt từ 54 – 58mm vào tháng 9 và tháng
10
d) Lƣợng mƣa
Trong phạm vi không gian của thành phố, lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Đông Bắc Các quận nội thành và các huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn các khu vực còn lại
Nhìn chung, lượng mưa bình quân năm của thành phố cao từ 1.742,8 – 2.340,2mm/năm Mưa tập trung nhiều vào các tháng mùa mưa, chiếm 90% lượng mưa cả năm, trong đó mưa lớn nhất xảy ra từ tháng 8 đến tháng 10, riêng các tháng
1, 2 và 3 lượng mưa rất thấp hoặc hầu như không có mưa
Số liệu quan trắc cho biết tổng lượng mưa năm 2009 là 1.979,9mm được trình
bày trong bảng 2 4 Lượng mưa phân bố không đều nên mùa mưa thường gây ngập
úng cục bộ, trái lại mùa khô nhiều vùng khan hiếm nước
Bảng 2 4 Lượng mưa các tháng trong năm tại TpHCM
Trang 30e) Chế độ gió
Thành phố Hồ Chí Minh (TpHCM) chịu ảnh hưởng bởi 2 hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Đông Bắc Trong đó, gió Tây – Tây Nam từ Ấn
Độ Dương thổi vào mùa mưa, với tốc độ trung bình 2,4m/s và gió Bắc – Đông Bắc
từ Biển Đông thổi vào mùa khô, có tốc độ trung bình 2,4m/s
Ngoài ra có gió Tín Phong theo hướng Nam Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, có tốc độ trung bình 3,7m/s
2.1.3 Thủy văn và chế độ triều
2.1.3.1 Thủy văn:
Hầu hết các sông rạch thành phố đều chịu ảnh hưởng dao động bán nhật triều của biển Đông Mỗi ngày, nước lên xuống hai lần, theo đó thủy triều xâm nhập sâu vào các kênh rạch trong trong thành phố, thường gây ra tình trạng ngập úng cục bộ
ở khu vực nội thành
Chế độ thủy văn của sông Sài Gòn chịu ảnh hưởng rõ rệt của thủy triều đến tận Bến Than, cách hợp lưu sông Sài Gòn và sông Đồng Nai 60km Lưu lượng thủy triều của sông Sài Gòn ở vàm kênh NL-TN (15km thượng nguồn của hợp lưu sông Sài Gòn và sông Đồng Nai), vào khoảng ± 3.000m3/s Ở Phú Cường (45km thượng nguồn vàm kênh NL-TN), lưu lượngthủy triều khoảng ±1.500m3/s Lưu lượng thủy triều của kênh NL-TN ở vàm kênh vào khoảng ±75m3/s
Ở lưu vực thấp của hệ thống sông Đồng Nai, dòng chảy thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thủy triều từ cửa sông và các dòng chảy từ thượng nguồn, được điều tiết bởi các công trình thủy lợi
Các dòng chảy vào sông Sài Gòn
Dòng chảy sông Thị Tính ước tínhvào khoảng 5m3/s Lưu lượng của lưu vực NL-TN ước tính khoảng 1,16m3/s
Dòng chảy ra khỏi sông Sài Gòn
Trang 31Theo số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các khu công nghiệp và dân cư trong TP.HCM, Biên Hòa và Thủ Dầu Một đang sử dụng lượng nước khoảng 13,5m3/s từ sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, đặc biệt là các nhà máy nước Bến Than, Bình An, Thiên Tân, và Nhà máy Quốc lộ 1 đang sử dụng 21,0m3/s Lượng nước lấy từ sông Sài Gòn và sông Đồng Nai dùng cho thủy nông ước tính khoảng 20m3/s Các loại nguồn nước từ mưa, từ nước thải, từ thủytriều hình thành nguồn nước kênh NL-TN Nguồn nước kênh gắn liền với các điều kiện
cụ thể của lưu vực, phụ thuộc chặt chẽ vào thời điểm xuất hiện của từng quá trình Mỗi loại sẽ có những tính chất, những đặc trưng riêng về độ lớn và cường suất biến đổi hàm lượng vật chất gây mức độ độc và nó sẽ quyết định nên tính chất cơ bản về nguồn nước của kênh NL-TN
Vào mùa mưa, nhờ lượng nước mưa lớn, kênh bớt ô nhiễm hơn do nước thải được pha loãng và đưa ngay ra sông Sài Gòn Kênh bị thu hẹp và bồi lấp nên khi mưa lớn, lượng nước mưa không thoát ngay ra sông mà kéo dài trong nhiều giờ, nhờ đó lưu lượng dòng kênh vẫn lớn hơn mùa khô giảm bớt ô nhiễm Tuy nhiên, bùn lắng đọng trên kênh vẫn phân hủy tạo mùi hôi Kết quả đo đạc lưu lượng trên kênh cho thấy:
- Lưu lượng mùa khô: tỉ lệ với biên độ triều (thay đổi theo ngày, tháng và vị trí mặt cắt đo đạc) Càng xa cửa rạch mực nước đỉnh triềuvà biên độ mực nước càng giảm Do đó, nước từ cầu Kiệu đến vàm kênh tiêu thoát nước dễ dàng hơn đoạn bên trên thượng nguồn
- Lưu lượng mùa mưa: khu vực phía Bắc của lưu vực, mạng lưới thoát nước còn thưa thớt, phần lớn nước thấm giúp điều hòa một phần lưu lượng Lượng nước mưa rất lớn so với nước thải (gấp hơn 20 lần) tạo dòng chảy mạnh trong kênh Tuy nhiên, dòng chảy này không đủ sức cuốn theo toàn bộ lượng cặn lắng đọng trên kênh, vẫn có sự phân hủy chất hữu cơ ngay trên kênh gây
ô nhiễm với mức độ nhẹ hơn mùa khô
Theo kết quả quan trắc tại trạm Phú An năm 2009 cho thấy: Mức nước triều
bình quân cao nhất tại sông Sài Gòn là 1,385m Theo trình bày bảng 2 5 tháng có
Trang 32mực nước cao nhất là tháng 1 (1,54m) và tháng 11 (1,56m); theo trình bày bảng 2.6
tháng có mực nước thấp nhất là tháng 6 (- 2,27m) và tháng 7 (-2,21m) Về mùa khô, lưu lượng của nguồn các sông nhỏ, độ mặn 0,4‰ có thể xâm nhập trên sông Sài Gòn đến Lái Thiêu; có năm đến tận Thủ Dầu Một và trên sông Đồng Nai đến Long Đại Mùa mưa lưu lượng của nguồn lớn, nên mặn bị đẩy lùi ra xa hơn và độ mặn bị pha loãng đi nhiều
Bảng 2 5 Mực nước sông thấp nhất các tháng trong năm của sông Sài Gòn
(Nguồn: Niên giám thống kê 2009 thành phố Hồ Chí Minh)
Bảng 2 6 Mực nước cao nhất các tháng trong năm của sông Sài Gòn
Trang 33(Nguồn: Niên giám thống kê 2009 thành phố Hồ Chí Minh – trạm Phú An)
Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của thủy triều phụ thuộc vào địa hình lòng sông, kênh, rạch (độ sâu, chiều rộng, quá trình truyền triều) đối với cửa sông Ở đây cần lưu ý là tốc độ chảy ra phần lớn đều lớn hơn tốc độ chảy vào, chỉ có một vài nơi tốc độ chảy ra bằng tốc độ chảy vào đặc biệt là thời gian nước chảy ra bằng thời gian nước chảy vào Cho nên ở một số kênh rạch thì khối lượng nước bẩn chưa chảy
ra khỏi cửa kênh thì đã bị nước đẩy trở vào làm cho tình hình ô nhiễm càng trầm trọng thêm (vì tính chất bán nhật triều- hai lần nước lớn và hai lần nước ròng).Thời gian quá ngắn chỉ 6 giờ nên lượng nước không kịp chảy ra ngoài sông chính
2.1.3.2 Chế độ thủy triều:
Thủy triều ở Tp HCM theo chế độ bán nhật triều, có 2 đỉnh triều (một cao một thấp) và 2 chân triều (một cao một thấp) Khác biệt giữa mực nước triều cường và mực nước triều ròng thay đổi trong khoảng 2,7 - 3,3 m ở gần Tp HCM và 2,5 - 4,0
m tại các cửa sông Do cao trình thấp (dưới 2,5 m), hầu hết các sông và kênh ở Tp HCM đều bị ảnh hưởng của thủy triều Một chu kỳ thủy triều đầy đủ kéo dài trung bình 12 - 15 ngày, gồm 5 - 7 ngày triều cường và 3 - 5 ngày triều ròng Thời gian triều lên thường vào khoảng 15 - 20 giờ, trong khi đó thời gian triều xuống chỉ vào khoảng 4 - 8 giờ
Có ba chu kỳ thủy triều mỗi năm
Chu kỳ triều cao tháng 9 đến tháng 12
Chu kỳ triều trung bình tháng 1 đến tháng 3
Trang 34 Chu kỳ triều thấp tháng 4 đến tháng 8
Trên sông Sài Gòn, ảnh hưởng của thủy triều kéo dài lên đến đập Dầu Tiếng tốc độ của triều lên rất nhanh, bình trung 20 – 25km/giờ Tại cầu Thị Nghè 1 gần vàm sông Sài Gòn, đỉnh triều cao nhất 1,3m thường xảy ra trong tháng 12 đến tháng 1, mực thấp nhất khoảng – 15m xảy ra vào tháng 7 và 8
Mức độ ảnh hưởng của thủy triều phụ thuộc vào địa hình lòng sông, kênh, rạch (độ sâu, chiều rộng, quá trình truyền triều) đối với cửa sông Ở đây cần lưu ý là tốc
độ chảy ra phần lớn đều lớn hơn tốc độ chảy vào, chỉ có một vài nơi tốc độ chảy ra bằng tốc độ chảy vào đặc biệt là thời giannước chảy ra bằng thời gian nước chảy vao Cho nênở một số kênh rạch thì khối lượng nước bẩn chưa chảy ra khỏi cửa kênh thì đã bị nước đẩy trở vào làm cho tình hình ô nhiễm càng trầm trọng thêm (vì tính chất bán nhật triều- hai lần nước lớn và hai lần nước ròng) Thời gian quá ngắn chỉ 6 giờ nên lượng nước không kịp chảy ra ngoài sông chính và trên kênh rạch còn tồn tại vùng giáp nước Chính vì vậy nơi đây thường bị ô nhiễm rất nặng Ảnh hưởng của thủy triều lên khá xatrên 2 sông: sông Đồng Nai lên đến Trị An cách biển 150km; sông Sài Gòn lên đến Dầu Tiếng cách biển 180km Cùng với thủy triều
là sự xâm nhập mặn, vào mùa mưa ảnh hưởng của thủy triều đối với độ mặn trên sông thấp nhưng về mùa khô, do lưu lượng sông giảm nhiều, ảnh hưởng rất lớn
2.2 Các hệ thống thoát nước của Thành phố Hồ Chí Minh
Ở bên trong và xung quanh Tp HCM, có 3 sông lớn: sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và sông Vàm Cỏ Sông Sài Gòn và Đồng Nai hợp với nhau thành Sông Nhà Bè
ở hạ nguồn; đây cũng là sông nhận nước từ sông Vàm Cỏ
2.2.1 Sông Sài Gòn:
Sông Sài Gòn dài 220 km, bắt đầu ở cao độ 200 m chảy theo hướng Đông Nam đến hợp lưu với Sông Đồng Nai ở Cát Lái Sông Sài Gòn có lưu lượng là 2200
m3/s tại Thủ Dầu Một Diện tích lưu vực Sông Sài Gòn là 5400 km2, gồm Tp HCM
và một phần của các tỉnh Thủ Dầu Một và Bình Dương
Trang 35Sông Sài Gòn là con sông lớn nhất chảy qua Thành phố với chiều rộng 225 370m, độ sâu khoảng 20m Phần sông chảy qua Tp HCM dài khoảng 23 km Chế độ thủy văn của Sông Sài Gòn bị ảnh hưởng bởi thủy triều
-Một công trình thủy lợi lớn – đập Dầu Tiếng – đã được xây trên Sông Sài Gòn
và vận hành từ năm 1984 để phục vụ tưới tiêu Lượng nước từ đập Dầu Tiếng đổ vào Sông Sài Gòn là 10 - 20 m3/s trong mùa khô và 15 - 40 m3/s trong mùa mưa
Sông Sài Gòn có 3 nhánh chính: (i) Sông Thị Tính chảy vào Sông Sài Gòn tại Thủ Dầu Một, (ii) Rạch Tra tại Thuận An, và (iii) Sông Bến Lức tại phường Khánh
Hội, Quận 4
2.2.2 Kênh rạch trong thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống kênh rạch khá phát triển Các kênh thoát nước trong Thành phố được chia ra làm năm lưu vực với tổng chiều dài các kênh chính là 55,6 km Các kênh phụ (dẫn nước vào kênh chính) có tổng chiều dài
là 36,4 km Các kênh chính trong Thành phố gồm có: Nhiêu Lộc–Thị Nghè, Tân Hóa – Lò Gốm, Tàu Hủ – Bến Nghé, Đôi – Tẻ, và Tham Lương – Bến Cát Trong
đó, lưu vực kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè có diện tích khoảng 33,2 km2 trải dài trong
7 quận của Tp HCM (gồm có quận 1, quận 3, quận 10, quận Bình Thạnh, quận Tân Bình, quận Phú Nhuận và quận Gò Vấp)
Cao độ mặt đất của Lưu vực NL – TN được thay đổi như sau: cao nhất là quận
Gò Vấp, quận 1, quận 3: 6 - 9m đến thấp nhất ở ven kênh từ 1,5-2m, chiều dài kênh khoảng 9km, chiều rộng thay đổi từ là 10 ÷ 25m, độ sâu từ 2 ÷ 4m Diện tích mặt nước khoảng 10ha với khối lượng nước về mùa cạn lúc chân triều khoảng 700.000m3 Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè cũng chịu ảnh hưởng chế độ thủy triều sông Sài Gòn lan truyền vào nên trong ngày chiều nước chảy cũng thay đổi hai lần
Trang 362.2.3.Các hạng mục thoát nước trong lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè
Vùng đô thị trung tâm Tp HCM có hệ thống cống chung để thu gom nước mưa
và nước thải sinh hoạt Hệ thống thoát nước bao gồm mạng lưới cống ngầm và mương hở để thu gom và thải bỏ ra kênh, rạch và cuối cùng chảy vào sông Sài Gòn Sông và kênh trong trong thành phố được nối liền với nhau về mặt thủy lực, có đặc điểm là độ dốc thủy lực rất nhỏ và chịu tác động của thủy triều sông Sài Gòn Thủy triều có biên độ dao động đáng kể từ 1,7 – 2,5 (tối đa 3,95m) với những thay đổi từ 20 – 30cm theo tháng âm lịch Sông và mạng lưới kênh được chia thành 5 lưu vực chính trong đó Nhiêu Lộc – Thị Nghè (33km2) cùng với hệ thống thoát nước hiện hữu
Thành phố Hồ Chí Minh phân loại mạng lưới thoát nước thành 4 cấp sau:
Cấp 1: Các kênh, rạch hở tự nhiên tiếp nhận nước thải sinh hoạt và nước
mưa Kênh cấp 1 chia làm 2 loại: cấp 1a và 1b loại kênh cấp 1a là các kênh rạch hở thoát nước tự nhiện sẽ chỉ cải tạo nhỏ Loại kênh cấp 1b sẽ được cải tạo thành cống cấp 2
Cấp 2: các tuyến cống ngầm và kênh dùng để thu nước từ các tuyến cấp 3
Cống cấp 2 tương đối lớn, đa số được cải tạo thành cống hộp, đường kính hoặc bề rộng cống 1m
Cấp 3: các tuyến cống ngầm trên các trục đường phố thu nước từ các
tuyến cấp 4 Nhìn chung, cống cấp 3 thường có đường kính 600-800 mm hoặc cống vòm 400800 mm, 600800 mm
Cấp 4: cống trong hẻm hay trên các trục đường nội bộ nối vào cống cấp 3,
đường kính thường từ 400 mm trở xuống
Mạng lưới thoát nước chính (cấp 1, 2, và 3) cho thành phố gồm 92 km kênh
và rạch và 530 km cống ngầm Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè (NL – TN) dài khoảng 9,0 km, chạy từ Tây Bắc tới Đông Nam và tiếp nhận nước mưa và nước thải từ 29 cửa xả chính và 9 kênh nhánh Hệ thống thoát nước trong Lưu vực NL – TN gồm
Trang 37khoảng 130 km cống ngầm do Công ty Thoát nước Đô thị quản lý và khoảng 150
km cống ngầm do các Công ty Công ích của các quận duy tu và kênh NL – TN là cũng là tuyến chính thoát nước và thu gom nước thải chưa xử lý của khoảng 1,25 triệu dân sống trong lưu vực bao gồm toàn bộ quận Phú Nhuận, quận 3, quận Tân Bình, quận 10, quận 1, quận Bình Thạnh và một phần quận Gò Vấp với diện tích khoảng 3,3 ha, Trong đó, những kênh cấp 2, thải trực tiếp vào Nhiêu Lộc – Thị Nghè hoặc vào rạch nhánh của kênh NL – TN:
Rạch cống Bà Xếp được cải tạo thành cống hộp 2,5x2m
Rạch Bùng Binh được cải tạo thành cống hộp 2(2,5x2m),
Rạch Miễu và rạch Ông Tiêu chuyển thành cống
Rạch Miếu nổi: 1-6m, dài 640m
Rạch Bùi Hữu Nghĩa rộng 2 – 8m, dài 620m vài trò chính của kênh này là thoát nước cho lưu vực nhỏ n ằm giữa 2 tuyến Đinh Tiên Hoàng và Bùi Hữu Nghĩa
Rạch cầu Bông rộng 10 – 16m dài 1480m nối liền với rạch Cầu Sơn
Rạch cầu Sơn (rộng 8 – 10m dài 960m
Rạch Phan Văn Hân (rộng 1 – 12m, dài 1020m) thoát nước cho tuyến đường
Xô Viết Nghệ Tĩnh và Điện Biên Phủ Tuy nhiên, hiện nay do phát triển đô thị 2 đầu rạch được cải bằng cống kín
Rạch Văn Thánh (rộng 12 – 24m, dài 1465m) là khu vực vùng trũng thấp, rạch chức năng điều hòa lưu lượng nước
Bao phủ lưu vực là mạng lưới cống ngầm không đồng nhất Ở khu vực trung tâm thành phố, mật độ cống tương đối nhiều, nhưng trong những khu vực biên của lưu vực thì ít hơn Do mật độ không đồng nhất, phần lớn dân cư sống phía Bắc lưu
vực chịu ảnh hưởng thiếu cống thoát nước Bảng 2 5 trình bày mật độ cống thoát nước trong lưu vực NL – TN Nhiều mạng lưới thoát nước được nối liền với nhau Điều này cho phép sử dụng tốt mạng lưới, nhưng kiểm soát từng đoạn kênh khó khăn
Trang 38Tân Bình
Gò Vấp
Bình Thạnh Cấp 2 28,01 32,57 13,03 7,00 5,7 1,79 2,44
Cấp 3 70,62 82,11 32,85 17,65 14,65 4,52 6,16
Tổng cộng 98,63 114,68 45,88 24,65 24,65 6,31 8,6 Diện tích (ha) 1,83 4,30 2,85 4,96 11,07 1,47 6,82
(nguồn: số liệu của Cty thoát nước đô thị,1995)
Các hộ dân thải bỏ nước thải bằng nhiều cách Ở thành phố Hồ Chí Minh nói chung, có khoảng 55% hộ dân thải bỏ nước thải qua hầm tự hoại, trong đó khi số hộ còn lại thải trực tiếp vào hệ thống thoát nước Trong lưu vực NL-TN, khoảng hai phần ba số hộ dân sử dụng hầm tự hoại, khoảng một phần tư sửa dụng sử dụng giếng thấm, số còn lại thì rõ (theo số liệu của các báo cáo của Cty Thoát nước đô thị) Vì vậy, hệ thống thoát nước thải của thành phố thường là nước bẩn từ nấu nướng, giặt giũ … thải trực tiếp ra cống Nước thải từ nhà vệ sinh được đưa xuống hầm tự hoại Chất rắn tích lũy theo thời gian và được hút thường xuyên mặc dù việc này ít thực hiện đúng thời hạn mà chỉ hút hầm cầu khi hệ thống cống trong nhà có dấu hiệu trục trặc Thực tế hiện tại ở thành phố là cống từ hầm hoại và giếng thấm được nối vào hệ thống thoát Vì vậy, hệ thống thoát nước trong thành phố là hệ thống cống chung
Trang 392.3 Tình hình dân số và kinh tế xã hội
2.3.1 Dân số
Theo số liệu thống kê, trong lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè (NL – TN) có 1,25 triệu nhân khẩu cư trú (không kể số khách vãng lai và cư trú bất hợp pháp), chiếm 30,7% dân số nội thành
Mật độ dân số toàn khu vực chiếm bình quân là 361 người/ha, được phân bố không đồng đều trên các Quận và Phường trong lưu vực NL – TN Tập trung đông dân cư nhất là các khu nhà ở thấp tầng thuộc Quận 3, Quận 10, Quận Tân Bình, Quận Phú Nhuận với mật độ lên đến 500-1000người/ha (cao nhất là phường 12-Quận Phú Nhuận với mật độ 1.016người/ha); ở mức thấp với mật độ từ 90 - 200người/ha (thấp nhất là phường 8 - quận Phú Nhuận với 91người/ha) là các khu vực biệt thự trung tâm Quận 3 và các khu quân sự đang chuyển đổi thành khu dân
cư hoặc các khu bán nông thôn thuộc Quận Tân Bình; mức trung bình là các khu
còn lại của lưu vựcvới mật độ khoảng 200 - 500người/ha (Nguồn: Viện Quy hoạch
xây dựng và thiết kế Đô thị)
Trang 40làm giảm gánh nặng nợ bên ngoài, tăng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, và tiềm năng tăng trưởng đáng kể
Tình hình này khác nhau tùy thuộc vào địa phương Các đô thị có một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của đất nước trong khi các tỉnh nông thôn không đóng một vai trò quan trọng
Do kết quả của đầu tư trong nước vững mạnh, cùng với hàng nhập khẩu ngày càng tăng của các sản phẩm sử dụng như là đầu vào cho sản xuất, xuất khẩu, thâm hụt thương mại đạt 6-8% GDP trong những năm gần đây, mặc dù hoạt động xuất khẩu của Việt Nam mạnh
Thành phố HCM là thành phố chính đối với nền kinh tế của Việt Nam, vì
TpHCM đóng góp hơn 20% tổng GDP của Việt Nam cụ thể là GDP của TP.HCM
là 290.390 tỷ đồng trong năm 2008 trong đó :
+ 52,7% từ các dịch vụ,
+ 46% từ ngành công nghiệp và xây dựng,
+ 1,3% từ lâm nghiệp, Nông nghiệp và thuỷ sản
Tỷ lệ việc làm ở Việt Nam khoảng 4,7% trong năm 2009 Khoảng 12% dân số là dưới mức nghèo khổ trong năm 2009
Các nguồn tài nguyên thiên nhiên chính ở Việt Nam là Phosphate, than, mangan, bauxit, cromat, mỏ dầu ngoài khơi, gỗ
2.4 Hiện trạng các nguồn nước thải :
Lượng nước thải trong Lưu vực NL-TN, theo ước tính của Công ty Thoát nước Đô thị trong nghiên cứu tiền khả thi Dự án NL-TN, vào khoảng 93.000
m3/ngày, ước tính đạt 130-180 lít/người-ngày, tùy thuộc vào tiểu lưu vực Nước thải sinh hoạt và dịch vụ nhỏ được ước tính là 85.600 m3/ngày, chiếm 92% tổng lượng nước thải trong lưu vực trong đó: Có 11 bệnh viện trực thuộc Thành phố và 79 trung tâm y tế thuộc quận và phường Hầu hết các phương tiện xử lý nước thải của