Nội dung của luận văn được chia làm 3 chương: Chương 1: Tập trung phân tích một số nội dung cơ bản về lý luận chung về du lịch như: khái niệm về du lịch và khách du lịch, các loại hình
Trang 2Mã số ngành: 60340102 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS-TS HÀ THỊ NGOC OANH
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 4 năm 2014
Trang 3Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS-TS HÀ THỊ NGỌC OANH
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày 24 tháng 4 năm 2014
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
1 TS Trương Quang Dũng Chủ tịch
2 TS Nguyễn Văn Khoảng Phản biện 1
3 TS Trần Anh Minh Phản biện 2
4 TS Lê Văn Trọng Ủy viên
5 TS Nguyễn Hải Quang Ủy viên, Thư ký
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
Trang 4TP HCM, ngày 24 tháng 3 năm 2014
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: TRẦN KHÁNH LONG Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 18/12/1973 Nơi sinh: Sài Gòn
Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh MSHV: 1241820065
I- Tên đề tài:
Một số giải pháp phát triển du lịch tại Đà Nẵng
II- Nhiệm vụ và nội dung:
Nhiệm vụ: Nghiên cứu tài liệu và thông qua thực tiễn thu thập thông tin, số liệu để
phân tích thực trạng và tìm ra một số giải pháp nhằm phát triển du lịch Đà Nẵng
Nội dung luận văn:
Chương 1: Lý luận chung và kinh nghiệm phát triển du lịch
Chương 2: Đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tại Thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm phát triển du lịch Đà Nẵng
trong thời gian tới
III- Ngày giao nhiệm vụ: 30/06/2013
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 31/3/2014
V- Cán bộ hướng dẫn: PGS-TS HÀ THỊ NGỌC OANH
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
PGS-TS HÀ THỊ NGỌC OANH
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
TRẦN KHÁNH LONG
Trang 6LỜI CÁM ƠN
Học viên xin trân trọng cảm ơn PGS-TS HÀ THỊ NGỌC OANH đã tận tình hướng dẫn, định hướng về nội dung và phương pháp nghiên cứu, giúp bài luận văn đi đúng hướng, đúng trọng tâm
Bên cạnh đó, học viên cũng xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã cung cấp thông tin và tài liệu để luận văn có được những thông tin mới nhất Trong quá trình nghiên cứu, khó tránh khỏi những thiếu sót, học viên rất mong nhận được sự góp ý của Quý Thầy Cô, bạn bè và đồng nghiệp
Trân trọng cảm ơn!
TRẦN KHÁNH LONG
Trang 7TÓM TẮT
Luận văn “Một số giải pháp phát triển du lịch tại Đà Nẵng” được hoàn thành
tại trường Đại học Công Nghệ TP.HCM (Hutech) Nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Tập trung phân tích một số nội dung cơ bản về lý luận chung về
du lịch như: khái niệm về du lịch và khách du lịch, các loại hình du lịch, khái niệm
và đặc điểm của sản phẩm và dịch vụ du lịch.Đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm phát triển du lịch của các nước trên thế giới (Thái Lan, Singapore) và một số tỉnh thành tại Việt Nam (Thành phố Hồ Chí Minh, Hội An, Nha Trang) Kinh nghiệm phát triển du lịch của các nước và các tỉnh sẽ là bài học rất quý giá cho Đà Nẵng trong việc xây dựng, phát triển nhằm tận dụng hết tiềm năng của mình
Chương 2: Tác giả làm rõ các thế mạnh của Đà Nẵng để phát triển du lịch
như: Đặc điểm kinh tế - văn hóa-xã hội của Đà Nẵng,Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn; Phân tích thực trạng phát triển du lịch Đà Nẵng trên tất cả các mặt trong những năm vừa qua và cuối cùng là đánh giá chung thực trạng phát triển du lịch Đà Nẵng Trong đó: tập trung đánh giá những mặt làm được, những tồn tại cũng như những vấn đề cần đặt ra để có thể phát triển du lịch bền vững
Chương 3: Đưa ra quan điểm của Chính phủ về việc phát triển du lịch ở Việt
Nam trong giai đoạn 2010-2015; Phương hướng, định hướng và mục tiêu phát triển
du lịch tại thành phố Đà Nẵng và đưa ra các giải pháp phát triển du lịch tại Đà Nẵng Ngoài ra, trong chương này tác giả còn đưa ra một số kiến nghị đối với chính phủ, với tổng cục du lịch, với ủy ban nhân dân TP Đà Nẵng, với sở văn hóa, thể thao và du lịch TP Đà Nẵng nhằm tạo điều kiện để ngành du lịch Đà Nẵng ngày càng phát triển trong thời gian tới nhằm thu hút thật nhiều kháh du lịch đến với Đà Nẵng để việc phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố, đồng thời xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm du lịch lớn của đất nước
Trang 8ABSTRACT
The thesis “Some solutions for developing tourism in Danang” have completed in University of Technology in Hochiminh city (Hutech) with content comprising of three chapters
Chapter 1: Focusing on analyzing basic contents of general theory about
tourism as following: concepts of tourism and tourist, some types of traveling, concepts and characteristic of tourist products and tourist services It have studied the experienced tourist development of some of countries in the world such as: Thailand, Singapore and some provinces, cities in Vietnam Hochiminh City, Hoian and Nha trang.The experienced developments of those places will be valuable lessons for Danang in planning and expanding tourism which is able to consume all its potential
Chapter 2: The writer has clarified the strength of Danang to develop
tourism such as: Economic Cultural Social characteristic of Danang, potential of tourism comprises about natural, historical relics; analyzing the current situation on all aspects in the past years and eventually assessing current developing tourism in Danang Thus the city government reconsiders what we have done and what we haven’t as well as some matters must be done for developing stable tourism
Chapter 3: Pointing out some points of view of the Government in
developing of tourism in the period 2010-2015: direction, orientation and target of tourist development of Danang and out lined some solutions to develop tourism in Danang In addition, in this chapter the writer has given some ideas to the Government, Ministry of Tourism, people’s committee of city, Department of Culture, Sport and tourism in Danang city aiming at creating condition for development of Danang’s tourism progress in the near future It hopes that there will be a more tourist coming to Danang in the future so that tourist development will become the key industry of the economy of the City, having turned Danang into the main destination in the country as well
Trang 9MỤC LỤC
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO i
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x
DANH MỤC CÁC BẢNG xi
DANH MỤC CÁC HÌNH xii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Phương pháp nghiên cứu đề tài 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3
5 Bố cục luận văn: 4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH 5 1.1 Khái niệm chung về du lịch 5
1.1.1 Khái niệm về du lịch 5
1.1.2 Khái niệm về khách du lịch 6
1.1.3 Phân loại khách du lịch 6
1.1.4 Các loại hình du lịch: 8
1.1.5 Sản phẩm du lịch 10
1.1.5.1 Khái niệm 10
1.1.5.2 Phân loại 10
1.1.5.3 Đặc điểm 11
1.1.5.4 Những yếu tố cơ bản của sản phẩm du lịch 11
1.1.6 Dịch vụ du lịch: 13
1.1.6.1 Khái niệm dịch vụ và dịch vụ du lịch 13
Trang 101.1.6.2 Đặc điểm 14
1.2 Phát triển du lịch: 18
1.2.1 Khái niệm phát triển du lịch 18
1.2.2 Các nguyên tắc phát triển du lịch 18
1.3 Những nhân tố tác động đến sự phát triển của hoạt động du lịch 22
1.3.1 Điều kiện xã hội an ninh và an toàn: 22
1.3.2 Tài nguyên du lịch: 23_Toc388195691 1.3.3 Chương trình kích cầu và xúc tiến du lịch 23
1.3.4 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch 25
1.3.5 Hợp tác du lịch vùng và quốc tế 26
1.3.6 Cơ sở hạ tầng và vật chất trong du lịch 27
1.3.7 Cơ chế, chính sách và luật pháp của Nhà nước về phát triển hoạt động du lịch 28
1.4 Kinh nghiệm phát triển du lịch của các nước và tại Việt Nam 28
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch ở các nước 29
1.4.1.1 Thái Lan 29
1.4.1.2 Singapore 30
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch ở Việt Nam 30
1.4.2.1 Thành phố Hồ Chí Minh 30
1.4.2.2 Hội An 32
1.4.2.3 Nha Trang 33
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 36
2.1 Tổng quan về Đà Nẵng 36
2.1.1 Vị trí, khí hậu, dân số 36
2.1.1.1 Vị trí 36
2.1.1.2 Khí hậu 36
2.1.1.3 Dân số 37
2.1.2 Vài nét về tình hình kinh tế Đà Nẵng 37
Trang 112.2 Tiềm năng phát triển du lịch tại Đà Nẵng 39
2.2.1 Tài nguyên du lịch 39
2.2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 39
2.2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 42
2.2.2 Hoạt động kích cầu, xúc tiến du lịch của Sở VHTTDL Đà Nẵng 46
2.2.2.1 Hoạt động kích cầu du lịch 46
2.2.2.2 Công tác hợp tác phát triển du lịch 47
2.2.2.3 Hiệp hội du lịch thành phố Đà Nẵng 48
2.2.2.4 Hoạt động xúc tiến – quảng bá du lịch 49
2.3 Thực trạng phát triển du lịch Đà Nẵng trong những năm vừa qua 50
2.3.1 Tình hình du khách 50
2.3.1.1 Số lượng khách du lịch 50
2.3.1.2 Về cơ cấu khách du lịch 53
2.3.1.3 Số lượng khách lưu trú tại Đà Nẵng 55
2.3.2 Doanh thu du lịch 55
2.3.3 Sản phẩm du lịch 57
2.3.4 Các công ty tổ chức du lịch 61
2.3.5 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch 63
2.3.6 Cơ sở hạ tầng 65
2.3.7 Cơ sở vật chất – dịch vụ phục vụ du lịch 68
2.3.8 Các yếu tố khác 71
2.4 Đánh giá chung về du lịch tại Đà Nẵng 74
2.4.1 Những thành tựu đạt được 74
2.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân 75
2.4.2.1 Tồn tại 76
2.4.2.2 Nguyên nhân 77
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI ĐÀ NẴNG 79
Trang 123.1 Quan điểm của Chính phủ về việc phát triển du lịch ở Đà Nẵng trong giai
đoạn 2010-2015 79
3.2 Phương hướng, định hướng và mục tiêu phát triển du lịch tại TP Đà Nẵng 79
3.2.1 Phương hướng 79
3.2.2 Định hướng 79
3.2.3 Mục tiêu 80
3.2.3.1 Chỉ tiêu khách du lịch: 80
3.2.3.2 Cơ sở lưu trú 80
3.3 Xác định thị trường 81
3.4 Các giải pháp phát triển du lịch tại thành phố Đà Nẵng: 81
3.4.1 Giải pháp về đầu tư phát triển du lịch 81
3.4.1.1 Đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch 82
3.4.1.2 Thúc đẩy hoàn thành các dự án đầu tư du lịch 83
3.4.2 Nhóm giải pháp về nâng cấp chất lượng và hình thành SPDL mới 84
3.4.2.1 Ưu tiên phát triển sản phẩm dịch vụ du lịch biển chất lượng cao 84
3.4.2.2 Phát triển sản phẩm du lịch văn hóa, lịch sử, lễ hội 85
3.4.2.3 Sản phẩm du lịch sinh thái 86
3.4.2.4 Xây dựng tuyến DL đường sông, tham quan làng nghề, làng quê 86
3.4.2.5 Du lịch mua sắm, giải trí 87
3.4.2.6 Hình thành các tour du lịch mới 87
3.4.3 Giải pháp về công tác quảng bá xúc tiến du lịch 87
3.4.3.1 Chiến dịch PR về thành phố Đà Nẵng 87
3.4.3.2 Tổ chức các sự kiện, Famtrip, chương trình quảng bá du lịch 88
3.4.4 Giải pháp đào tạo, phát triển nguồn nhân lực 90
3.4.5 Giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 92
3.4.5.1 Phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 92
3.4.5.2 Phát triển cơ sở vật chất phục vụ du lịch 93
3.4.6 Mở rộng hợp tác liên kết khu vực và hợp tác quốc tế 93
Trang 133.4.7 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 94
3.5 Kiến nghị 95
3.5.1 Kiến nghị với chính phủ 95
3.5.2 Kiến nghị với Bộ văn hóa thể thao và du lịch 95
3.5.3 Kiến nghị với Ủy ban nhân dân TP Đà Nẵng 96
3.5.4 Kiến nghị với Sở văn hóa, thể thao và du lịch TP Đà Nẵng 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 15DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm (2008-2012) 37
Bảng 2.2: Lượng khách du lịch đến Đà Nẵng và các TP lớn tại Việt Nam 50
Bảng 2.3: Tỷ lệ khách khách du lịch quốc tế và nội địa đến Đà Nẵng 51
Bảng 2.4: Số lượng khách và ngày lưu trú tại Đà Nẵng 55
Bảng 2.5: Tổng doanh thu của DLVN và thành phố Đà Nẵng 55
Bảng 2.6: Doanh nghiệp lữ hành quốc tế chia theo loại hình kinh doanh 65
Bảng 2.7: Số khách sạn, số lượng phòng và công suất phòng tại ĐN 69
Bảng 2.8: Hoạt động kinh doanh ăn uống tại Đà Nẵng 70
Bảng 3.1 Chỉ tiêu khách du lịch giai đoạn 2014-2015 80
Trang 16DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 2.1: Lượng khách du lịch đến với thành phố Đà Nẵng 51
Biểu đồ 2.2: Thành phần khách quốc tế đến Đà Nẵng theo quốc gia 54
Biểu đồ 2.3: Tổng thu du lịch năm 2012 chia theo địa phương 56
Biểu đồ 2.4: Cơ sở lưu trú và khách sạn đạt chuẩn từ 1-5 sao trên địa bàn ĐN 68
Trang 17LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam từ khi nhà nước có chính sách mở cửa (1986) thu hút các doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư đã có những nét khởi sắc, đặc biệt du lịch đóng góp một phần không nhỏ vào ngân sách nhà nước Bên cạnh đó nhà nước cũng như các công ty du lịch đã và đang hoàn thành sứ mệnh của mình cùng nhau quảng bá nét đặc sắc của đất nước và con người Việt Nam thông qua sản phẩm du lịch đến bạn bè năm Châu
Đà Nẵng là một trong ba trung tâm du lịch chính trong cả nước và là trung tâm của sáu điểm, sáu di sản thế giới bao gồm Phong Nha – Kẻ Bàng, Cố Đô Huế, Nhã nhạc Cung Đình Huế, Phố Cổ Hội An, Thánh Địa Mỹ Sơn và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tạo nên điểm đến và điểm trung chuyển khách trong
và ngoài nước Bên cạnh đó, thành phố Đà Nẵng cũng có những danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Núi Bà- núi Chúa, cáp treo Bà Nà, bán đảo Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, cùng với những bãi biển đẹp như: biển Non Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê, Nam Ô với dải cát dài phẳng, sạch đẹp và chưa bị ô nhiễm đã tạo nên một trung tâm du lịch chính tại miền Trung Việt Nam
Thực tế nhiều năm qua đã cho thấy hoạt động của du lịch Đà Nẵng đã có những phát triển đáng khích lệ, lượng khách du lịch ngày càng tăng, bước đầu khẳng định được vị thế của mình trong du lịch Việt Nam và quốc tế Định hướng phát triển kinh tế xã hội của Đà Nẵng cũng đã xác định du lịch sẽ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh
Trong bối cảnh mới hiện nay, khi lượng khách đến Đà Nẵng ngày càng tăng với mong muốn chất lượng dịch vụ cao và sản phẩm du lịch đa dạng thì Du lịch Đà Nẵng còn gặp nhiều hạn chế như: sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, chất lượng phục vụ chưa thật tốt….Cùng với một số tồn tại khác, thực trạng này chưa tạo ra những đảm bảo vững chắc cho sự phát triển ổn định của du lịch địa phương;
đây là vấn đề nan giải cấp bách cần được giải quyết
Trang 18Với nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn phong phú, du lịch Đà Nẵng đang nảy sinh những vấn đề cần quan tâm hiện nay như:
- Du lịch Đà Nẵng phát triển chưa tương xứng với tiềm năng
- Du lịch Đà Nẵng chưa đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu của khách, một mặt làm giảm sự hài lòng của khách, mặt khác bỏ qua nhiều cơ hội thu lợi từ khách
- Du lịch Đà Nẵng phát triển với hiệu quả còn hạn chế
- Du lịch Đà Nẵng phát triển còn ít chú trọng đến yếu tố bền vững của Sở
Du Lịch và các doanh nghiệp du lịch
Đặc biệt trong xu hướng hội nhập khi mà các lực lượng cần được huy động
và sử dụng có hiệu quả nhằm tạo ra và cung ứng các sản phẩm du lịch có tính cạnh tranh cao ở thị trường trong nước và quốc tế thì yêu cầu giải quyết những vấn đề trên ngày càng trở nên cấp bách hơn
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đến vấn đề này như:
- Nguyễn Đăng Trường, Ngô Trường Thọ, Dương Thị Thơ (2003), Nghiên cứu phát triển các loại hình và hoạt động dịch vụ du lịch trên địa bàn TP.ĐN Đề tài nghiên cứu khoa học
- Hoàng Thanh Hiền và Nguyễn Thị Như Liên (2010), Thực trạng và một
số giải pháp nhằm phát triển du lịch Đà Nẵng Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng
- Các đề án phát triển các sản phẩm du lịch cụ thể (sinh thái, tàu biển, văn hóa, lịch sử, lễ hội…) của Sở Du Lịch và các doanh nghiệp du lịch Song nhìn chung vẫn chưa có công trình nghiên cứu ứng dụng nào đi sâu vào nghiên cứu một cách toàn diện các yếu tố chất lượng dịch vụ nhằm thu hút du khách đến Đà Nẵng.Vì vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là làm thế nào để đưa hình ảnh Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng đến với du khách, để mỗi du khách khi nhắc đến Việt Nam hình ảnh của Đà Nẵng là một phần không thể thiếu trong chuyến du lịch dài ngày từ TP.HCM ra HN Với những lý do đó và gần 20 năm công tác trong ngành du lịch với vai trò là một hướng dẫn viên tôi thực sự mong
Trang 19muốn ngành du lịch của TP Đà Nẵng ngày càng phát triển bền vững thu hút thật nhiều du khách đến với thành phố biển xinh đẹp này, chính vì thế tôi chọn nghiên
cứu đề tài: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI ĐÀ NẴNG”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận có liên quan đến du lịch, sản phẩm du lịch trên thành phố Đà Nẵng
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng quản lý ngành du lịch tại TP Đà Nẵng
- Đánh giá thực trạng hoạt động dịch vụ DL trên địa bàn thành TP Đà Nẵng
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch Đà Nẵng
3 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp thu thập số liệu:
Việc thu thập toàn bộ số liệu thứ cấp liên quan đến đề tài là rất quan trọng, giúp cho ta có thể giảm bớt nhiều công sức, thời gian phải dành ra để tìm hiểu trên thực tại
Phương pháp khảo sát thực địa:
Phương pháp này nhằm bổ sung các tài liệu còn thiếu, chưa cập nhật Đồng thời kiểm tra mức độ chính xác của số liệu đã thu thập được Căn cứ vào mục đích, nội dung nghiên cứu của đề tài để vạch ra lộ trình, tiếp xúc với các cơ quan, đơn vị chức năng làm du lịch tỉnh và ghi chép lại tất cả những vấn đề có liên quan đến đề tài
Phương pháp tổng hợp phân tích thống kê:
Dựa trên tất cả các số liệu thống kê, tài liệu thu thập được từ hai phương pháp trên, tổng hợp lại, so sánh, rút ra nhận xét, kết luận
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ du lịch Đà Nẵng
- Phạm vi không gian nghiên cứu : Địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: được dựa trên
Số liệu nghiên cứu: từ năm 2008 đến năm 2012
Định hướng cho phát triển DL Đà Nẵng: từ năm 2011 đến năm 2015
Trang 205 Bố cục luận văn:
Đề tài này được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung và kinh nghiệm phát triển du lịch
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tại thành phố Đà Nẵng Chương 3: Các giải pháp nhằm phát triển du lịch đà nẵng
Trang 21CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN
họ lưu trú không phải là nơi họ ở thường xuyên và là nơi làm việc để kiếm tiền”
Theo Luật du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoản thời gian nhất định”
Từ khái niệm trên, cho chúng ta nhận định rằng du lịch không chỉ đơn thuần của một hoạt động mà là tổng hòa nhiều mối quan hệ và hiện tượng nảy sinh từ điều kiện và tác động qua lại giữa các đối tượng là khách du lịch, tài nguyên du lịch và ngành du lịch Nhu cầu du lịch của người du lịch là yếu tố dẫn đến sự phát sinh của toàn bộ hoạt động du lịch Đối tượng trực tiếp của hành vi du lịch là di tích, cảnh quan và hàng lưu niệm Sự tiếp xúc qua lại và tác động lẫn nhau giữa người du lịch
và tài nguyên du lịch thông qua một cơ chế thị trường để tiến hành vận động mới có thể thực hiện, vì thế ngành du lịch làm trung gian môi giới giữa hai đối tượng ấy, làm hình thành thị trường du lịch, làm hài hòa và thực hiện quan hệ giữa sự tiêu dùng của người du lịch và khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch
Bên cạnh đó du lịch là một hoạt động của con người ở một nơi khác không phải nơi cư trú thường xuyên, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định Đồng thời, từ khái niệm về du lịch cho ta
Trang 22thấy rõ hơn du lịch là tổng hợp các mối quan hệ giữa khách du lịch, tài nguyên du lịch và ngành quản lý du lịch, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự phát triển hoặc ngược lại của chủ thể này sẽ tác động trực tiếp đến các chủ thể còn lại Chính vì thế, ngành du lịch cần phải có những giải pháp đồng bộ tác động lên các chủ thể này mới đảm bảo đưa hoạt động ngành du lịch phát triển một cách bền vững
1.1.2 Khái niệm về khách du lịch
Ngành du lịch muốn hoạt động và phát triển thì đối tượng “khách du lịch” là nhân tố quyết định Nếu không có “khách du lịch” thì các nhà kinh doanh du lịch không thể kinh doanh được, không có “khách du lịch” thì hoạt động của các nhà kinh doanh du lịch trở nên vô nghĩa
Để nghiên cứu một cách đầy đủ và có cơ sở tin cậy cần tìm hiểu và phân tích một số định nghĩa về “khách du lịch” được đưa ra từ các Hội nghị quốc tế về du lịch hay của các tổ chức quốc tế có quan tâm đến các vấn đề về du lịch Sau đây là một
số định nghĩa về khách du lịch:
Theo nhà kinh tế học người Anh, ông Ogilvie cho rằng: “Khách du lịch là tất
cả những người thỏa mãn 2 điều kiện: Rời khỏi nơi ở thường xuyên trong khoảng thời gian dưới một năm và chi tiêu tiền bạc tại nơi họ đến thăm mà không kiếm tiền
ở đó” Khái niệm này chưa hoàn chỉnh vì nó chưa làm rõ được mục đích của người
đi du lịch và qua đó để phân biệt được với những người cũng rời khỏi nơi cư trú của mình nhưng lại không phải là khách du lịch
Nhà xã hội học Cohen quan niệm: “Khách du lịch là một người đi tự nguyện, mang tính nhất thời, với mong muốn được giải trí từ những điều mới lạ và sự thay đổi thu nhận được từ một chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên”
Định nghĩa về khách du lịch của Việt Nam: Trong Pháp lệnh du lịch của Việt Nam ban hành năm 1999 có nói: “Khách DL là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”
1.1.3 Phân loại khách du lịch
Ngày 4-3-1993 theo đề nghị của Tổ chức du lịch thế giới (WTO), Hội đồng thống kê Liên hợp quốc (United Nations Statistical Commission) đã công nhận
Trang 23những thuật ngữ sau để thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch Khách du lịch quốc tế (International Tourist) bao gồm:
- Khách du lịch quốc tế đến (Inbound Tourist): gồm những người từ nước ngoài đến du lịch một quốc gia
- Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound Tourist): gồm những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch ra nước ngoài
- Khách du lịch trong nước (Internal Tourist/Domestic Tourist): gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đi du lịch trong nước
Theo Pháp lệnh du lịch của Việt Nam ban hành năm 1999 thì Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế:
- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
- Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
Ngoài ra còn có các cách phân loại khác: theo nguồn gốc dân tộc, theo độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, theo khả năng thanh toán…
Trên đây chỉ là một số tiêu thức phân loại khách du lịch thường dùng Mỗi tiêu thức đều có ưu, nhược điểm riêng vì vậy khi nghiên cứu khách du lịch cần kết hợp nhiều cách phân loại Việc phân loại khách du lịch một cách đầy đủ, chính xác
sẽ tạo tiền đề cho việc hoạch định các chiến lược, chính sách kinh doanh từ đó việc kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hơn
Với luận văn của mình tác giả tập trung vào khách du lịch quốc tế và khách
du lịch nội địa đến Đà Nẵng du lịch
Nghiên cứu kỹ hơn về tính cách , đặc điểm, văn hóa, sở thích, thói quen, nhu cầu
DL của từng loại khách để đưa ra các giải pháp phù hợp cho từng loại khách
Trang 241.1.4 Các loại hình du lịch:
Hiểu rõ từng loại hình du lịch để làm chương trình cho khách là những yêu
cầu cần thiết không thể thiếu đối với những nhà tổ chức hoạt động du lịch
Du lịch thể thao
Các chuyên gia du lịch đã sử dụng hình thức du lịch này để tổ chức các hội thao nhằm giúp du khách thực hành các môn thể thao mà họ ưa thích Các loại hình thể thao được tổ chức kết hợp với du lịch như lướt ván, đua thuyền, bơi lặn, thám
hiểm dưới nước, leo núi, chơi golf…
Trang 25Du lịch tâm linh:
Là một hình thức du lịch phát triển rất mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới
Du khách theo loại hình du lịch này thường tìm đến các đình, chùa, các thắng tích tôn giáo để ngắm cảnh, cúng bái, cầu nguyện,…Tại đây, du khách sẽ hòa vào dòng tín đồ để cảm nhận vẻ yên bình, thanh thản ở những thắng tích tôn giáo nổi tiếng
Du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch diễn ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các giá trị văn hoá hiện hữu
Du lịch Team Building
Một xu hướng mới của du lịch Việt Nam hiện nay là Du lịch Teambuiding Với việc xây dựng các tour kết hợp du lịch tham quan, nghỉ dưỡng với các chương trình nhằm xây dựng, tăng cường tinh thần đoàn kết, tập thể, loại hình du lịch này đang được nhiều doanh nghiệp, công ty yêu cầu nhằm nâng cao vai trò đoàn kết giữa các nhân viên với nhau Du lịch team building là một loại hình phổ biến ở nước ngoài nhưng còn khá mới ở Việt Nam
Du lịch khám phá, mạo hiểm:
Khách tham gia các chương trình tour này sẽ tới những nơi ít người qua hoặc những vùng thường chỉ dành cho người bản xứ Tour này đòi hỏi sức khỏe tốt, khả năng chịu đựng và thích nghi cao cùng với các điều kiện dịch vụ ở mức tối thiểu Loại hình này thường phù hợp với khách trẻ và thích tự do khám phá
Du lịch Homestay (nghỉ nhà dân):
Homestay là loại hình du lịch mà du khách sẽ được ở và sinh hoạt chung nhà với người dân bản xứ như thành viên trong gia đình, để khám phá phong cách sống của người dân, trải nghiệm cuộc sống thường ngày của họ để biết được văn hóa của người dân nơi đó
Trên đây là một số loại hình du lịch dành cho khách du lịch Riêng đối với
Đà Nẵng hiện nay chỉ chủ yếu phát triển một số loại hình du lịch như: tham quan, tắm biển, công vụ, tâm linh, sinh thái, thể thao…
Trang 26Việc phân loại các loại hình du lịch kể trên có ý nghĩa rất quan trọng, sẽ giúp cho Đà Nẵng khai thác lợi thế, tiềm năng du lịch, xác định được thế mạnh của mình,
từ đó đưa hoạt động du lịch ngày càng phát triển không ngừng
1.1.5 Sản phẩm du lịch
1.1.5.1 Khái niệm
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho khách du lịch được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó
Theo luật Du lịch Việt Nam điều 4 chương 1: Sản phẩm du lịch là tập hợp
các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch
1.1.5.2 Phân loại
Có hai loại sản phẩm du lịch cơ bản:
- Sản phẩm du lịch hữu hình, tồn tại ở dạng vật thể: Ví dụ: Đồ lưu niệm, các món ăn, đồ uống khách du lịch sử dụng trong nhà hàng,…
- Sản phẩm du lịch vô hình, tồn tại ở dạng phi vật thể và chỉ có thể biết được thông qua cảm nhận của khách du lịch Dạng sản phẩm này mang tính dịch vụ bao gồm những dịch vụ sau:
Dịch vụ lưu trú và các dịch vụ bổ sung ở các cơ sở lưu trú
Các dịch vụ của các tổ chức du lịch
Dịch vụ giải trí công cộng ở các cơ sở du lịch
Dịch vụ lưu trú chữa bệnh và các dịch vụ tắm nghỉ gắn liền với nó
Các dịch vụ của các cơ sở thể thao
Các dịch vụ vận chuyển du lịch
Các dịch vụ và hàng hoá được bán ở các cơ sở
Du lịch ngoài dịch vụ cơ bản: làm đẹp, cắt tóc
Trang 271.1.5.3 Đặc điểm
Sản phẩm du lịch tồn tại ở dạng vô hình (phi vật thể) là chủ yếu Thành phần dịch vụ trong sản phẩm du lịch thường chiếm tới 80 - 90 về giá trị, còn sản phẩm là hàng hoá chiếm tỷ trọng khá nhỏ
Sản phẩm du lịch được tạo ra căn bản nhờ yếu tố tài nguyên du lịch, vì vậy sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được Khác với sản phẩm của các hàng hoá tiêu dùng thông thường, sản phẩm du lịch chỉ có thể ở tại chỗ, khách du lịch bắt buộc phải tìm đến nơi có sản phẩm du lịch Đặc điểm này cho thấy sản phẩm du lịch
là rất đặc biệt nhưng cũng là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho các nhà kinh doanh du lịch trong việc tiêu thụ sản phẩm
Phần lớn quá trình tạo ra sản phẩm và tiêu dùng sản phẩm trong hoạt động du lịch là trùng nhau về cả không gian cũng như thời gian Sản phẩm du lịch không thể lưu kho, cất trữ như sản phẩm của các hàng hoá thông thường
Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn, mà có thể chỉ tập trung vào một thời điểm nhất định như cuối tuần (với hoạt động du lịch cuối tuần), trong ngày (với hoạt động phục vụ ăn uống trong nhà hàng), trong mùa (với các sản phẩm du lịch ở các địa phương có mùa du lịch), Do đó, hoạt động du lịch thường mang tính mùa vụ khá rõ rệt và đây cũng là một trong những khó khăn lớn cho việc tổ chức hoạt động kinh doanh
1.1.5.4 Những yếu tố cơ bản của sản phẩm du lịch
Cũng như tất cả những sản phẩm khác, sản phẩm du lịch gồm nhiều yếu tố kết hợp với nhau để đáp ứng cho thị trường mục tiêu, thỏa mãn tối đa nhu cầu của
du khách Sản phẩm du lịch phụ thuộc vào những yếu tố cơ bản như sau:
- Tài nguyên thiên nhiên: Khí hậu, cảnh đẹp thiên nhiên, núi rừng, bãi biển, sông suối…
- Tài nguyên nhân văn: Các di sản văn hóa, di tích lịch sử, phong tục tập quán, các lễ hội, công trình kiến trúc lịch sử, công trình kiến trúc tôn giáo…
- Các cơ sở vật chất phục vụ ngành du lịch: Khách sạn, nhà hàng, công viên, khu vui chơi giải trí…
Trang 28- Các cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch: Hệ thống giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, y tế…
- Môi trường kinh tế và xã hội: Giá cả liên quan đến hoạt động du lịch, an toàn xã hội, trình độ dân trí, văn minh đô thị…
- Môi trường kế cận: Những yếu tố thiên nhiên là nguồn để tạo nên sản phẩm
du lịch, đòi hỏi chúng phải được bao bọc bởi những vùng đệm chung quanh thật lôi cuốn, có như vậy mới tạo nên những SPDL đa dạng, giá trị và bền vững Đây sẽ là nơi mở rộng thêm các loại hình du lịch khác phục vụ nhu cầu tiềm ẩn của du khách
- Dân cư địa phương: Du lịch tạo điều kiện cho du khách tiếp xúc với dân cư địa phương Thông thường du khách và dân địa phương có những lối sống và văn hóa khác nhau Mối quan hệ giữa họ có thể làm phát sinh mâu thuẫn Cho nên, thái
độ của dân địa phương ảnh hưởng lớn đến sự cảm nhận của du khách đối với sản phẩm du lịch Phần lớn, du lịch gồm những yếu tố kích thích tâm hồn và cảm xúc Những khía cạnh như bầu không khí, cách cư xử, sự thân thiện là những yếu tố quyết định trong việc đánh giá một sản phẩm du lịch Đây là vấn đề không nên coi nhẹ trong quá trình đa dạng hóa sản phẩm du lịch
- Các dịch vụ công cộng phục vụ du lịch: Những yếu tố cơ bản của sản phẩm
du lịch thường khó thay đổi, trong khi đó dịch vụ công cộng lại có thể dễ dàng thay đổi và chính các yếu tố đó đã góp phần to lớn nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, gia tăng độ thỏa dụng cho du khách Việc xây dựng một trung tâm hội nghị trong thành phố, một khu vui chơi giải trí, một khu thể thao, một công viên, trồng nhiều cây xanh trong thành phố… là những nhân tố làm thay đổi sản phẩm du lịch của một thành phố hoặc một điểm du lịch
- Cơ sở lưu trú, nhà hàng và các dịch vụ thương mại: Du khách là những người ra khỏi nhà ở của mình trong một thời gian nhất định, tạm thời rời bỏ công việc bận rộn của mình tìm đến một nơi để nghỉ ngơi, thư giãn Du khách có thể ở trong khách sạn, nhà trọ hoặc ở trong các lều trại Cơ sở lưu trú, nhà hàng sẽ là những yếu tố quan trọng làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm du lịch Có những cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời, có khí hậu trong lành, mát mẻ bên cạnh là các khách sạn,
Trang 29nhà hàng sang trọng, ấm cúng, chắc chắn sẽ tạo ra các sản phẩm du lịch có giá trị cho du khách
- Hạ tầng giao thông: Du lịch hàm ý một sự di chuyển của du khách ra khỏi nhà để đến chỗ lưu trú Cho nên, các phương tiện giao thông, đường sá, sân bay, bến cảng là những yếu tố vô cùng quan trọng để việc di chuyển đó có thể diễn ra trong những điều kiện tốt nhất (ít mệt, ít tốn thời gian) và chi phí thấp nhất Những phương tiện đi lại trong trung tâm thành phố như xe bus, taxi, xích lô… và các điều kiện đi lại khác, là những vấn đề không thể coi thường bên trong sản phẩm du lịch
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, dịch vụ là “những hoạt động phục vụ
nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt” Do nhu cầu trong thực
tế đời sống đa dạng và phân công lao động xã hội nên có nhiều loại dịch vụ như dịch vụ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ phục vụ sinh hoạt công cộng (giáo dục, y tế, giải trí), dịch vụ cá nhân dưới hình thức những dịch vụ du lịch, giải trí…
Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học theo Từ điển Wikipedia được hiểu
là “những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất” Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ và mang lại lợi nhuận
Dịch vụ du lịch
Dịch vụ du lịch cũng dựa trên một số yếu tố cơ bản của dịch vụ, dưới đây là một số định nghĩa về dịch vụ du lịch như sau:
Trang 30Theo Từ điển du lịch, lữ hành, lưu trú và ăn uống (nhà xuất bản
Butterworth Heineman, 1993) định nghĩa rằng: “Dịch vụ du lịch là kết quả của các hoạt động kinh tế được thể hiện trong sản phẩm vô hình (phân biệt với hàng hoá vật chất) như lưu trú, vận chuyển, dịch vụ tài chính, thông tin liên lạc, y tế và các dịch
vụ cá nhân khác”
Và trong điều 4, chương I Luật Du lịch Việt Nam khẳng định: “Dịch vụ du
lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách
du lịch”, định nghĩa này không chỉ khẳng định dịch vụ du lịch là đầu ra của các hoạt động du lịch, mà còn bao hàm cả các dịch vụ được cung cấp bởi ngành du lịch
Còn đối với dịch vụ du lịch thì gần như thời gian sản xuất ra sản phẩm du lịch trùng khớp với thời gian tiêu dùng sản phẩm Bản thân sản phẩm du lịch cũng mang tính vô hình, phi vật chất nên không thể đem sản phẩm du lịch bán từ nơi này sang nơi khác như các hàng hoá vật chất thông thường mà chúng ta vẫn luôn tiêu dùng hàng ngày Do tính đồng thời, trùng khớp như trên nên sản phẩm dịch vụ du lịch không thể lưu kho được Ví dụ như một chương trình du lịch 3 ngày 2 đêm được chào bán cho khách du lịch thì thời gian ấy chính là lúc sản phẩm du lịch vừa được hình thành đồng thời với hành trình của khách và cảm nhận của khách về chất lượng sản phẩm
Dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng đồng thời nên cung - cầu cũng không thể tách rời nhau Cho nên việc tạo ra sự ăn khớp giữa cung và cầu trong du lịch là hết sức quan trọng
Trang 31 n
Đây là tính chất quan trọng nhất của sản xuất dịch vụ du lịch Tính phi vật chất đã làm cho du khách không thể nhìn thấy hay thử nghiệm sản phẩm từ trước Khách du lịch chỉ có thể được sử dụng sản phẩm dịch vụ du lịch khi họ chính thức bắt đầu mua sản phẩm và thông qua cảm nhận của họ, sản phẩm du lịch phi vật chất
đó là hoàn hảo, tốt hay không tốt Đánh giá qua cảm nhận của khách hoàn toàn do cảm nhận chủ quan hay khách quan của khách du lịch Đó là đặc tính rất đặc biệt Cho nên đối với du khách thì dịch vụ du lịch là trừu tượng khi mà họ chưa một lần tiêu dùng nó
Dịch vụ du lịch luôn được sử dụng song hành, đồng thời với những sản phẩm vật chất, có thể nhìn thấy được nhưng dịch vụ mãi mãi tồn tại tính phi vật chất của mình Du khách thực sự rất khó đánh giá dịch vụ
ng n ng n
Mối quan hệ mật thiết giữa khách hàng và nhà sản xuất trong sự tác động qua lại này trong dịch vụ được khẳng định sự phụ thuộc vào mức độ làm nghề, khả năng cũng như ý nguyện của người tiêu dùng và người cung cấp dịch vụ Ngoài những đặc tính kinh tế, vai trò phục vụ của con người (những người phục vụ trực tiếp cũng như gián tiếp trong du lịch) đóng một vai trò rất quan trọng cho việc tạo nên ấn tượng tốt, xấu trong cảm giác, sự tin tưởng, tình thân thiện về cá nhân, mối liên kết
và những mối quan hệ trong dịch vụ được coi trọng hơn như khi mua những hàng hoá tiêu dùng khác
Khách du lịch có được một ấn tượng rất tốt đẹp về chuyến đi của họ không
có nghĩa là thứ tạo nên ấn tượng đó là vẻ đẹp thiên nhiên, sự sang trọng của khách sạn, những món ăn ngon và những trò tiêu khiển, giải trí hấp dẫn, mà còn là sự hài lòng, sự thoả mãn sau một chuyến đi với những điều kiện dịch vụ tuyệt hảo, sự tận tình, chu đáo và thân thiện của những người phục vụ trong suốt cuộc hành trình,
Mức độ hài lòng của khách hàng phụ thuộc rất nhiều vào sự sẵn sàng cũng như khả năng của nhân viên làm dịch vụ, khả năng thực hiện được ý nguyện của khách hàng Trong những trường hợp này thái độ và sự giao tiếp với khách hàng
Trang 32còn quan trọng hơn cả các tiêu chí kỹ thuật, sản xuất và tiêu dùng những loại dịch
vụ này đòi hỏi phải tăng cường sự liên hệ của người sản xuất với khách hàng Trong thời gian cung cấp dịch vụ những chức năng truyền thống đã gắn liền hai người bạn hàng (đối tác) với nhau trên thị trường Người tiêu dùng đồng thời trở thành người đồng sáng tạo trong quá trình sản xuất dịch vụ Người tiêu dùng tham gia hoặc là về mặt thể chất, trí tuệ hay là về mức độ tình cảm trong quá trình tạo ra dịch vụ, xác định thời gian cũng như các khả năng sản xuất Các vấn đề có tính chất biểu trưng
đó có thể thấy được tại các quán ăn nhanh Mcdonald, khách sạn, cửa hàng, ngân hàng, bảo hiểm và dịch vụ giao thông vận tải Ở đây, sự tham gia về trí tuệ của khách hàng trong quá trình tạo ra dịch vụ này được xác định như sự phối hợp cùng sản xuất
n ng n n
Đó là sự khác biệt rõ nét nhất với các hàng hoá vật chất thông thường mà con người hàng ngày vẫn tiêu dùng, sử dụng Với các mặt hàng được sản xuất ra tại một thời điểm và sau đó được đem bán tới người tiêu dùng ở một thời điểm khác thông qua các kênh phân phối sản phẩm, thì người tiêu dùng chỉ cần bỏ tiền ra mua hàng hoá đó là được quyền sở hữu sản phẩm
Nhưng đối với dịch vụ khi được thực hiện thì không có quyền sở hữu nào được chuyển từ người bán sang người mua Người mua chỉ là đang mua quyền đối với tiến trình dịch vụ Chẳng hạn, khi đi du lịch, khách du lịch được ở trong những khách sạn sang trọng, được sử dụng phương tiện vận chuyển để đi lại, được chơi các trò chơi giải trí hấp dẫn, được thoải mái tắm và nghỉ ngơi trên bãi biển nhưng trên thực tế họ không có quyền sở hữu đối với chúng
Trang 33Do đó để nâng cao chất lượng dịch vụ và đem lại hiệu quả kinh doanh khi xây dựng các điểm du lịch cần lựa chọn địa điểm thoả mãn các điều kiện tự nhiên: địa hình, địa chất, thuỷ văn, khí tượng, tài nguyên, môi trường sinh thái và điều kiện
xã hội: dân số, dân sinh, phong tục tập quán, chính sách kinh tế, khả năng cung cấp lao động, cơ sở hạ tầng
Đặc điểm này của dịch vụ du lịch đòi hỏi các cơ sở (doanh nghiệp) du lịch tiến hành các hoạt động xúc tiến, quảng bá mạnh mẽ để thu hút được du khách đến với điểm du lịch
n ủ
Dịch vụ có đặc trưng rất rõ nét ở tính thời vụ, ví dụ: các khách sạn ở các khu nghỉ mát thường vắng khách vào mùa đông nhưng lại rất đông khách vào mùa hè, các nhà hàng trong khách sạn thường đông khách ăn vào trưa hoặc chiều tối, hoặc các khách sạn gần trung tâm thành phố thường đông khách vào ngày nghỉ cuối tuần Chính đặc tính này của dịch vụ dẫn đến tình trạng cung cầu dịch vụ dễ mất cân đối vừa gây lãng phí cơ sở vật chất lúc trái vụ và chất lượng dịch vụ có nguy cơ giảm sút khi cao điểm Vì vậy, các đơn vị thường đưa ra các chương trình khuyến mại khách đi nghỉ trái vụ khi cầu giảm hoặc tổ chức quản lý tốt hàng chờ khi cầu tăng
n n g ủ
Dịch vụ du lịch thường là dịch vụ trọn gói bao gồm:
Dịch vụ cơ bản: là những dịch vụ chính mà nhà cung ứng du lịch cung cấp
cho khách hàng nhằm thoả mãn nhu cầu cơ bản, không thể thiếu được với khách hàng như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ phòng, dịch vụ nhà hàng, bar
Dịch vụ b sung: là những dịch vụ phụ cung cấp cho khách hàng nhằm thỏa
mãn các nhu cầu không bắt buộc như dịch vụ cơ bản nhưng phải có trong chuyến hành trình của du khách Nhiều khi dịch vụ bổ sung lại có tính chất quyết định cho
sự lựa chọn của khách và có ảnh hưởng quan trọng đến sự thoả mãn toàn bộ của khách hàng đối với dịch vụ trọn gói của doanh nghiệp Chẳng hạn, nếu khách sạn có
số lượng dịch vụ bổ sung càng phong phú, chất lượng của dịch vụ cao thì ngay cả khi giá cả không rẻ khách vẫn đến đông và khi đó khách sạn kinh doanh sẽ rất có
Trang 34hiệu quả vì hệ số sử dụng phòng cao, khách lưu trú dài ngày và tỷ lệ khách quay lại thường cao hơn so với loại khách sạn có ít dịch vụ
Dịch vụ đặc trưng: là những dịch vụ thoả mãn nhu cầu đặc trưng của du
khách như tham quan, tìm hiểu, vui chơi giải trí Việc thoả mãn các nhu cầu này cũng chính là nguyên nhân và là mục đích của chuyến du lịch Tính chất trọn gói của dịch vụ du lịch xuất phát từ nhu cầu đa dạng và tổng hợp của du khách Mặc khác nó cũng đòi hỏi tính chất đồng bộ của chất lượng dịch vụ
1.2 Phát triển du lịch:
1.2.1 Khái niệm phát triển du lịch
Du lịch được tạo thành từ những mắt xích, như giao thông vận chuyển, thương mại, dịch vụ… Bản thân ngành du lịch không thể đứng một mình để phát triển mà cần liên kết với các ngành khác nhằm tạo ra sức cạnh tranh để phát triển
Phát triển du lịch đã trở thành mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của toàn nhân loại trong thế kỷ XXI Tuy nhiên để phát triển du lịch mang tính lâu dài thì phải tính đến yếu tố bền vững Phát triển du lịch bền vững trở thành xu hướng và mục tiêu phát triển ngành kinh tế du lịch của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam trong hiện tại và tương lai Vì vậy quan điểm phát triển du lịch cần được vận dụng trong việc tổ chức quản lý, triển khai đánh giá các hoạt động du lịch và trong việc nghiên cứu tiến hành quy hoạch du lịch
Theo Hội đồng thế giới về Môi trường và phát triển (WCED): “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”
Theo Khoản 21, Điều 4, Chương I – Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005):
“Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai”
Trang 35Tài nguyên du lịch lại được coi là sản phẩm du lịch quan trọng nhất, là mục đích chuyến đi của du khách Nhưng nhiều loại tài nguyên du lịch không thể đổi mới, tái chế hay thay thế được Hoạt động du lịch đã mang lại hiệu quả về nhiều mặt, nhưng cũng gây nhiều tác động tiêu cực như: làm cạn kiệt, suy giảm tài nguyên môi trường…
Vì vậy, trong quá trình quy hoạch các dự án phát triển du lịch cần xây dựng những phương cách, chiến lược bảo tồn, tôn tạo, khai thác tài nguyên du lịch theo hướng tiết kiệm, hợp lý để lưu lại nguồn tài nguyên cho thế hệ tương lai
Duy trì tính đa dạng: Việc duy trì và tăng cường tính đa dạng của thiên nhiên, văn hóa – xã hội là hết sức quan trọng đối với du lịch bền vững lâu dài; là cơ
sở cho việc tồn tại, phát triển của ngành du lịch Trong quá trình xây dựng và thực hiện các dự án quy hoạch du lịch, cũng như sự phát triển du lịch do nhiều nguyên nhân khác nhau nên dễ làm mất đi tính đa dạng của thiên nhiên, văn hóa – xã hội
Vì vậy trong quá trình quy hoạch du lịch cần xây dựng thực hiện các phương cách, chiến lược nhằm duy trì bảo tồn được tính đa dạng của tự nhiên và văn hóa xã hội
Giảm tiêu thụ quá mức và giảm chất thải: Sự tiêu thụ quá mức tài nguyên thiên nhiên và các tài nguyên khác không chỉ dẫn đến sự hủy hoại môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên mà còn không đảm bảo nguồn tài nguyên cho sự phát triển lâu dài của ngành Du lịch Các chất thải của phương tiện vận chuyển khách, chất tẩy rửa, dầu ăn, nước thải từ dịch vụ giặt đồ và nấu ăn, cùng với lượng chất thải khác từ các dịch vụ phục vụ du khách, cũng như của du khách Nếu chúng không được thu gom sử lý đúng yêu cầu kỹ thuật, hoặc tái chế sẽ là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường Do vậy, đối với các địa phương và các quốc gia hoạt động du lịch càng phát triển thì lượng du khách càng nhiều dẫn đến lượng chất thải từ hoạt động này cũng ngày càng nhiều Các dự án quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch được triển khai không có đánh giá tác động môi trường hoặc không thực thi những kiến nghị về đánh giá tác động của môi trường đã dẫn đến sự tiêu dùng lãng phí tài nguyên Chính điều này đã gây ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và xáo trộn về văn hóa – xã hội Nhiều dự án quy hoạch du lịch không có kế hoạch, hay lập kế hoạch
Trang 36kém dẫn đến việc cộng đồng địa phương cùng với các cơ quan nhà nước phải làm công việc phục hồi tổn thất về môi trường
Do vậy việc quy hoạch phát triển du lịch đúng đắn ngay từ khi lập dự án phải tiến hành đánh giá tác động từ hoạt động du lịch đến tài nguyên môi trường, từ đó
dự kiến những biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhằm giảm tiêu thụ quá mức tài nguyên và giảm lượng chất thải vào môi trường là cần thiết
Hợp nhất quy hoạch du lịch vào quá trình quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội: Du lịch là một ngành kinh tế mang tính liên ngành, nó có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhiều ngành kinh tế - xã hội Ngành du lịch mang lại hiệu quả trực tiếp
và gián tiếp đối với các ngành kinh tế - xã hội Do vậy cần hợp nhất phát triển du lịch vào trong khuôn khổ hoạch định chiến lược của địa phương và quốc gia Quy hoạch phát triển du lịch là một bộ phận của quy hoạch kinh tế – xã hội, nó làm tăng khả năng tồn tại, phát triển lâu dài của ngành du lịch
Khi sự phát triển du lịch là một bộ phận hợp nhất của quy hoạch, kế hoạch phát triển cấp quốc gia hoặc địa phương, nếu coi việc phát triển du lịch là một tổng thể thì sẽ mang lại lợi ích tối đa và dài hạn hơn cho nền kinh tế – xã hội quốc gia và địa phương và cho cả phát triển du lịch Điều này sẽ khuyến khích việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác tài nguyên môi trường du lịch hiệu quả hơn, vừa góp phần hấp dẫn
du khách và nâng cao đời sống cộng đồng địa phương Khi hòa nhập phát triển quy hoạch du lịch vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia và địa phương, ngành du lịch sẽ được đầu tư, phát triển phù hợp, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển Do vậy trong quá trình quy hoạch du lịch cần phải tính đến sự hòa hợp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Hỗ trợ kinh tế địa phương: Nguồn tài nguyên mà ngành du lịch sử dụng vốn thuộc quyền sở hữu của người dân bản địa như đường giao thông, điện nước, hệ thống xử lý chất thải, thông tin liên lạc… có thể không chỉ phục vụ riêng cho ngành
du lịch nhưng vẫn thúc đẩy du lịch phát triển Hoạt động du lịch một mặt mang lại hiệu quả tích cực kinh tế - xã hội của địa phương, mặt khác cũng để lại hiệu quả tiêu cực cho tài nguyên môi trường và kinh tế - xã hội của địa phương Do vậy, ngành
Trang 37du lịch có trách nhiệm đóng góp một phần cho phát triển kinh tế địa phương, trong quá trình hoạch định các giải pháp chính sách khi quy hoạch du lịch cần phải tính đến đóng góp từ thu nhập du lịch cho kinh tế địa phương và quốc gia
Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào du lịch không chỉ mang lại lợi ích cho họ và môi trường; mà còn góp phần duy trì, phát triển du lịch, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tạo ra sự hấp dẫn với du khách
Sự tham gia của địa phương là cần thiết cho ngành du lịch Dân cư, nền văn hóa, môi trường, lối sống và truyền thống của địa phương là những nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch tới điểm du lịch Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch có thể giúp cho họ xóa đói, giảm nghèo góp phần thu được nhiều ngoại tệ, có lợi cho cả cộng đồng địa phương và khách du lịch, đồng thời cũng nâng cao triển vọng phát triển lâu dài của sản phẩm du lịch
Do vậy ngay từ đầu khi tiến hành quy hoạch du lịch cần phải tính đến các phương cách, chiến lược để thu hút cộng đồng địa phương vào hoạt động DL
Lấy ý kiến quần chúng và các đối tượng liên quan: Việc lấy ý kiến của cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan khác nhau, các doanh nghiệp du lịch là rất cần thiết Đây là một bước nhằm nâng cao nhận thức của các bên tham gia với các
dự án quy hoạch, cùng nhau giải quyết các mâu thuẫn tiềm ẩn về quyền lợi Đồng thời, điều này giúp cho các bên tham gia có thể ủng hộ cho việc thực hiện các dự án quy hoạch Do vậy, trong quá trình triển khai các dự án quy hoạch du lịch cần vận dụng nguyên tắc này trong điều tra xã hội học, lấy ý kiến của các đối tượng có liên quan vừa để giải tỏa các mâu thuẫn tiềm ẩn; vừa tìm thấy các nguyên nhân bất đồng, những vấn đề cần giải quyết; góp phần thu hút các bên tích cực tham gia vào việc thực hiện dự án quy hoạch du lịch
Đào tạo nhân viên: Nguồn nhân lực du lịch là lực lượng sản xuất quan trọng nhất, nó quyết định sự phát triển du lịch bền vững Để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, các dự án quy hoạch ngay từ đầu cần phải hoạch định các chiến lược, giải pháp để đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
Trang 38Tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm: Để thực hiện được các mục tiêu phát triển du lịch bền vững, các dự án quy hoạch du lịch cần hoạch định các chiến lược, marketing, quảng bá cho du khách những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm nâng cao sự tôn trọng của du khách với môi trường tự nhiên, văn hóa – xã hội tại điểm đến, đồng thời làm tăng sự thỏa mãn của du khách
Tiến hành nghiên cứu: Thông tin số liệu để xây dựng dự án và ngay cả khi
dự án được thực hiện đều không sẵn có Để các dự án quy hoạch có hiệu quả, ngay
từ thời kỳ tiền dự án đến khi thực hiện dự án cần: đầu tư nhiều cho công tác điều tra, giám sát, thống kê, so sánh tổng hợp mới có thể xây dựng được các mục tiêu, các định hướng, các giải pháp của dự án phù hợp Công tác nghiên cứu còn giúp cho việc nhận thức rõ được những thiếu sót, hạn chế của dự án quy hoạch để từ đó
có những giải pháp kế hoạch điều chỉnh bổ sung kịp thời
1.3 Những nhân tố tác động đến sự phát triển của hoạt động du lịch
Hoạt động du lịch của một quốc gia, một địa phương và doanh nghiệp DL chỉ có thể phát triển được trong những điều kiện nhất định Có những điều kiện mang tính chất toàn cầu, có những điều kiện mang tính chất khu vực và quốc gia và
có những điều kiện mang tính chất ngành DL hoặc cộng đồng dân cư địa phương
Trước hết, một quốc gia muốn phát triển mạnh mẽ hoạt động du lịch, cần phải có những điều kiện cơ bản sau:
1.3.1 Điều kiện xã hội an ninh và an toàn:
Bất cứ một đất nước hoặc một vùng lãnh thổ hoặc địa phương nào không đảm bảo được điều kiện về an ninh, an toàn cho khách du lịch thì không thể phát triển hoạt động du lịch Con người đi du lịch với nhiều mục đích trong đó có mục đích được đảm bảo an ninh, an toàn tính mạng, thoải mái về tinh thần, vì thế những địa điểm du lịch dù có nổi tiếng đến đâu, nhưng điều kiện trên không đảm bảo thì không thể nào thu hút được khách du lịch Khu du lịch Bali (Indonexia) nổi tiếng trong khu vực và trên thế giới thu hút rất nhiều khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới, nhưng chỉ một sự kiện khủng bố tại khu du lịch này, số lượng khách đã giảm sút nghiêm trọng Trong những năm qua, số lượng khách du lịch nước ngoài đến
Trang 39Việt Nam không ngừng tăng và nước ta được đánh giá là” điểm đến du lịch an toàn
và thân thiện của khu vực và thế giới”
1.3.2 Tài nguyên du lịch:
Đến với Đà Nẵng, du khách sẽ có dịp tham quan các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Bà Nà, Ngũ Hành Sơn, đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà và thoả thích bơi lội trên các bãi biển trải dài hàng chục km, được coi là một trong 6 bãi biển sạch đẹp nhất của hành tinh Đà Nẵng còn là trung điểm của “Hành trình Di sản Văn hoá thế giới”, chỉ trong bán kính chưa đầy 200 km, bạn đã có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của 05 Di sản Văn hoá thế giới: Thánh địa Mỹ Sơn, Phố Cổ Hội An, Cố đô Huế, nhã nhạc cung đình Huế và Di tích Động Phong Nha
Có thể nói, tiềm năng du lịch của Đà Nẵng là hết sức phong phú và to lớn Trong những năm qua, nhất là từ khi Đà Nẵng trở thành Đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương, nơi đây được coi là điểm phát triển năng động với tốc độ cao trong khu vực, có cơ sở hạ tầng hoàn hảo, cơ chế đầu tư thông thoáng và hệ thống dịch vụ phụ trợ của du lịch ngày càng được cải thiện, phù hợp với một đô thị phát triển theo hướng hiện đại
1.3.3 Chương trình kích cầu và xúc tiến du lịch
Kích cầu du lịch
Tình hình kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, tác động mạnh mẽ tới lĩnh vực du lịch đòi hỏi mỗi quốc gia, mỗi ngành phải nỗ lực cao độ để vượt qua khó khăn, thách thức to lớn hiện nay Do đó, việc đề ra Chương trình kích cầu du lịch nhằm kích thích nhu cầu du lịch để thúc đẩy tăng trưởng khách du lịch và thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ là cần thiết
Kích cầu là một trong những biện pháp hữu hiệu để vực dậy ngành du lịch Việt Nam Được phát động lần đầu vào năm 2009, tại thời điểm khủng hoảng kinh
tế toàn cầu đang ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chi tiêu và hạn chế nhu cầu du lịch của người dân, thêm vào đó là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các điểm đến trong và ngoài nước, việc phát động chương trình kích cầu sẽ góp phần thúc đẩy du lịch Việt Nam tăng trưởng ổn định
Trang 40Xây dựng và triển khai đồng bộ chương trình kích cầu du lịch nhằm tận dụng
cơ hội, đối phó với những khó khăn, thách thức nhằm thúc đẩy tăng trưởng khách
du lịch, gắn kết phát triển du lịch với phát triển thương mại dịch vụ, kích cầu tiêu thụ hàng hóa nội địa, đặc biệt là các hàng hóa được sản xuất tại các địa phương, góp phần khắc phục những khó khăn kinh tế trong nước, hỗ trợ các ngành thương mại dịch vụ phát triển và tạo đà tăng trưởng du lịch bền vững trong các năm tiếp theo
Để kích cầu du lịch hiệu quả, điều quan trọng là cần phải cải thiện chất lượng dịch vụ, nâng cao tính chuyên nghiệp và thái độ thân thiện trong phục vụ khách du lịch để tăng lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường thu hút khách du lịch Ngoài
ra, trong bối cảnh kinh tế khó khăn, giá cả là yếu tố được đặt lên hàng đầu khi khách mua tour Việc kích cầu đã tạo ra những sự hợp tác liên hoàn, hình thành những liên minh kích cầu trên toàn quốc để tạo nên những sản phẩm tốt, giá thành
rẻ Bên cạnh đó, kích cầu cũng làm giảm bớt tính mùa vụ vốn tồn tại từ lâu trong ngành du lịch Nếu như trước đây du khách chủ yếu đi du lịch vào mùa hè thì nay đến tháng 9 - 10 vẫn có những đoàn khách đặt tour
Theo báo cáo mới đây của bộ phận thống kê ASEAN (ASEAN Stats), ngành
du lịch Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu trong thập niên vừa qua như: tốc
độ tăng bình quân 9,8 /năm; đứng thứ tư trong khu vực ASEAN về thu hút du khách quốc tế; nguồn ngoại tệ thu được từ du lịch trong những năm gần đây cũng tăng lên nhanh chóng
Xúc tiến du lịch
Cũng như bất kỳ ngành sản xuất kinh doanh nào, đối với ngành du lịch hoạt động xúc tiến quảng bá có ý nghĩa to lớn trong quá trình hoạt động sản xuất của ngành du lịch
Trong thời điểm hiện nay, cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt thì hoạt động xúc tiến quảng bá cũng có ảnh hưởng đến mức doanh thu của ngành Để thu hút được nguồn khách, những nhà kinh doanh du lịch bao gồm cả Nhà nước, địa phương hay doanh nghiệp du lịch đều phải dùng nhiều biện pháp để cạnh tranh trên thị trường du lịch Kinh nghiệm thực tế cho thấy, một trong những