Chương I. Một số vấn đề lý luận về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán Chương II. Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần chứng khoán VNDirect trong thời gian qua Chương III. Một số giải pháp tăng cường đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần chứng khoán VNDirect trong thời gian tới.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân thực hiện, không sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc chuyên đề của người khác, nếu sai phạm, tôi xin chịu kỷ luật với nhà trường.
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2009
Nguyễn Đức Thành
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 3HASTC Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
STT Tên bảng, biểu, sơ đồ Trang
Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của VNDirect 35Bảng 2.3 Doanh thu từ các hoạt động của VNDirect 37Bảng 2.4 Số lượng tài khoản tại các công ty chứng khoán 38Bảng 2.5 Doanh thu của VNDirecttừ hoạt động tư vấn bảo lãnh phát hành 42Bảng 2.6 Doanh thu của VNDirect từ hoạt động tự doanh 44Bảng 2.7 Vốn điều lệ của một số công ty chứng khoán 47Bảng 2.8 So sánh cơ sở vật chất một số công ty chứng khoán 48Bảng 2.9 Vốn đầu tư của VNDirect qua các năm 54Bảng 2.10 Vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị 56
Bảng 2.12 Vốn đầu tư vào sản phẩm, dịch vụ, marketing 59Bảng 2.13 Lợi nhuận của các công ty chứng khoán 61Bảng 2.14 Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản của VNDirect 63Bảng 3.1 Mục tiêu của VNDirect trong năm 2009 74
Sơ đồ 1.1 Các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán 5
Sơ đồ 1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới NLCT của công ty chứng khoán 16
Biểu đồ 2.1 Số lượng tài khoản khách hàng của VNDirect qua các năm 38Biểu đồ 2.2 Thị phần môi giới các công ty chứng khoán 40Biểu đồ 2.3 Tốc độ tăng trưởng nhân sự của VNDirect 52Biểu đồ 2.4 Cơ cấu phân bổ vốn đầu tư qua các năm 55Biểu đồ 2.5 Doanh thu các hoạt động của VNDirect năm 2007 và 2008 62Biểu đồ 2.6 Thị phần môi giới các công ty chứng khoán 64
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những pháttriển không ngừng về quy mô và chất lượng, cùng với đó là sự lớn mạnh khôngngừng của các tổ chức tài chính trung gian, đặc biệt là các công ty chứng khoán Sựcạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt và khốc liệt giữa các công ty chứng khoán Nếunhư khi thị trường mới thành lập năm 2000, chỉ có 7 công ty chứng khoán hoạt độngthì đến đầu năm 2009, đã có hơn 90 công ty chứng khoán hoạt động, trong đó 10công ty chứng khoán hàng đầu đã chiếm 57% thị phần hoạt động Điều đó cho thấy
sự cạnh tranh rất lớn giữa các công ty chứng khoán nhằm gia tăng thị phần, đặc biệt
là những công ty chứng khoán trẻ như VNDirect
“Cạnh tranh” đang dần trở thành một khái niệm không xa lạ đối với các doanhnghiệp trong nền kinh tế nói chung cũng như các công ty chứng khoán nói riêng Vớicác công ty chứng khoán, hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh là điều tấtyếu, nó không những giúp nâng cao vị thế của công ty trên thị trường mà còn có tácdụng thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
Trong quá trình thực tập của mình, tôi đã có cơ hội được tiếp xúc và bổ sungnhững kiến thức thực tế tại công ty cổ phần chứng khoán VNDirect Ở VNDirect tôi
có thể nhận thấy được tinh thần làm việc hăng say, năng động và đầy nhiệt huyết củamột công ty chứng khoán trẻ, hiện đại và luôn mong muốn vươn cao hơn nữa Chính
vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần chứng khoán VNDirect Thực trạng và giải pháp” làm báo cáo khoá luận tốt
nghiệp của mình
Trang 6Khoá luận gồm có các nội dung sau:
Chương I Một số vấn đề lý luận về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của
công ty chứng khoán
Chương II Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ
phần chứng khoán VNDirect trong thời gian qua
Chương III Một số giải pháp tăng cường đầu tư nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh tại công ty cổ phần chứng khoán VNDirect trong thời gian tới
Do thời gian và điều kiện còn hạn chế nên khoá luận không tránh khỏi thiếusót, tôi rất mong nhận được sự đánh giá, chỉ bảo và đóng góp để khoá luận được hoànthiện hơn
Trong thời gian thực tập tại đây, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình củacác anh chị trong Công ty, cùng với sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của TS TrầnMai Hương đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình
Trang 7CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 Thị trường chứng khoán và các chủ thể trên thị trường
1.1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán ra đời từ thế kỷ thứ XV, sự hình thành thị trườngchứng khoán cũng đồng thời với thị trường hối đoái và một số thị trường khác Sựhình thành thị trường chứng khoán bắt đầu từ một số thành phố ở phương Tây từ cácgiao dịch trao đổi mua bán các mặt hàng như nông sản, khoáng sản, đến các mặthàng khác như tiền tệ và các chứng từ có giá khác Ban đầu các cuộc thương lượngnày chỉ là các cuộc gặp gỡ nhỏ và không có những quy định riêng, về sau các giaodịch này đã thu hút được nhiều người hơn và đã bắt đầu có những quy tắc riêng củachúng Chính những quy định này đã dẫn đến sự hình thành thị trường chứng khoánvới quy mô và quy định rõ ràng như hiện nay
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, thị trường chứng khoán đã trảiqua rất nhiều giai đoạn thăng trầm Thời kỳ huy hoàng nhất của thị trường chứngkhoán là vào những năm 1875 - 1913, thị trường chứng khoán trong thời kỳ này pháttriển mạnh cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Nhưng đến cuối năm 1929, bắtđầu từ cuộc khủng hoảng của thị trường chứng khoán New York, nó đã lan sang cácthị trường chứng khoán Tây Âu, Bắc Âu và Nhật Bản Sau thế chiến thứ hai, thịtrường chứng khoán phục hồi và phát triển mạnh Trong giai đoạn này thị trườngchứng khoán đã có những thay đổi khá lớn từ quy mô thị trường đến các phương thứcgiao dịch và các quy định ngày càng chặt chẽ hơn Nhưng đến năm 1987, thị trườngchứng khoán lại một lần nữa rơi vào khủng hoảng đã làm cho thị trường chứng khoánthế giới suy sụp nặng nề Cuộc khủng hoảng hoảng này để lại hậu quả nghiêm trọnghơn cuộc khủng hoảng năm 1929 Nhưng chỉ sau hai năm, thị trường chứng khoánthế giới tiếp tục đi vào hoạt động ổn định, phát triển và trở thành một định chế không
Trang 8thể thiếu trong đời sống kinh tế của những quốc gia có nền kinh tế phát triển theođịnh hướng thị trường
Thị trường chứng khoán chính là sự trao đổi, là sự thoả thuận và giao dịchgiữa người muốn mua chứng khoán và người nắm giữ chứng khoán Với những yếu
tố như vậy, thị trường chứng khoán có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, hạn chế gia nhập và có nội quy hoạt động Hàng ngày có rất nhiều
các nhà đầu tư có nhu cầu mua bán chứng khoán, chính vì vậy một đặc điểm rất khácbiệt của thị trường chứng khoán đó là không thể biết được các giao dịch của mình.Tuy nhiên, các nhà đầu tư đều muốn biết được đối tượng giao dịch của mình là ai vàgiao dịch được thực hiện như thế nào bởi như vậy họ mới có thể yên tâm về khoảnđầu tư của mình Chính vì vậy, các thị trường chứng khoán đều quy định chỉ cónhững người được phép mới được giao dịch trên sàn, tất cả những nhà đầu tư chỉ cóthể giao dịch thông qua những người này đó là những nhà môi giới Để trở thànhngười môi giới, phải hội đủ một số điều kiện về vốn, chuyên môn và đạo đức, các hộiviên phải tuân thủ nội quy hành nghề, những ai vi phạm sẽ bị xử phạt hay bị tướcgiấy phép hành nghề Nhờ những biện pháp trên, nên khi người đầu tư ra lệnh muabán, họ mới dám tin tưởng người mình giao dịch và điều này làm cho chi phí giaodịch giảm
Thứ hai, tiêu chuẩn hoá Việc giao dịch ở trên thị trường phải được tiêu chuẩn
hoá và đơn giản hoá, việc tiêu chuẩn hoá các giao dịch này được thực hiện theo từngquy định riêng của mỗi thị trường, các quy định như về lô giao dịch, về thời gian giaodịch và về phương thức và thời gian thanh toán các chứng khoán Sự tiêu chuẩn hoá
sẽ giúp việc mua bán được đơn giản hơn, người mua và bán chỉ cần đồng ý với nhau
về giá hàng và số lượng, tất cả các vấn đề khác của việc mua bán thì đã được thựchiện theo một quy định chung của mỗi sở giao dịch
Thứ ba, việc giải quyết tranh chấp Dù có những quy định riêng như vậy
nhưng tranh chấp cũng vẫn xảy ra, giải quyết chuyện đó sẽ mất nhiều thời gian và chiphí Thị trường có tổ chức sẽ giảm chi phí đó bằng cách đề ra một khuôn khổ cho
Trang 9việc giải quyết tranh chấp Những tranh chấp sẽ được thực hiện và phân xử thông quacác quy định được đặt ra từ trước.
Thứ tư, bảo đảm thi hành Giao dịch theo phương thức nào thì cũng ẩn chứa
những rủi ro, các giao dịch bao giờ cũng có bên mua và bên bán, và đôi khi sẽ ẩnchứa những sự đối lập về lợi ích giữa các bên, sự đối lập này đôi khi dẫn đến nhữnghành động nhằm phá vỡ những giao dịch Tuy nhiên với những quy định của mìnhnhằm bảo đảm thi hành thì các giao dịch của nhà đầu tư khi họ đã thực hiện việc muabán sẽ chắc chắn được thực hiện
Trên đây là những nguyên tắc chung mà các thị trường có tổ chức áp dụng,việc thực hiện và vận dụng chúng như thế nào là do mỗi thị trường chứng khoán đóquyết định, tùy theo điều kiện nhất định của thị trường đó
1.1.2 Các chủ thể trên thị trường
Các tổ chức và cá nhân tham gia trên thị trường chứng khoán có thể được chiathành các nhóm sau: Các nhà đầu tư, nhà phát hành và các tổ chức liên quan đếnchứng khoán
Sơ đồ 1.1 Các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán
Nguồn: Giáo trình thị trường chứng khoán 1.1.2.1 Nhà phát hành:
Nhà phát hành là các tổ chức huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán,nhà phát hành là người cung cấp hàng hóa - chứng khoán cho thị trường Nhà pháthành bao gồm các tổ chức sau:
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu chínhphủ và trái phiếu địa phương
TTCK
Nhà đầu tư
Nhà phát hành
Trang 10- Các công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và các trái phiếu công ty
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các tráiphiếu, chứng chỉ thụ hưởng,….phục vụ cho hoạt động của họ
- Nhà đầu tư có tổ chức là các quỹ đầu tư, là các hội đồng đầu tư, ban đầu tưcủa các công ty, các doanh nghiệp tham gia mua và bán chứng khoán trên thị trường.Khác với các nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư có tổ chức đầu tư theo quy trình, dưới sựgiám sát của hội đồng đầu tư
1.1.2.3 Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán:
Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán bao gồm có các tổ chứcsau:
- Công ty chứng khoán
- Quỹ đầu tư chứng khoán
- Các trung gian tài chính
1.1.2.4 Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán:
Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán bao gồm có các tổ chứcsau:
- Cơ quan quản lý Nhà nước
- Sở giao dịch và trung tâm giao dịch chứng khoán
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
- Các tổ chức tài trợ chứng khoán
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm……
Trang 111.2 Công ty chứng khoán
1.2.1 Khái niệm và các loại hình công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một chủ thể của thị trường chứng khoán với tư cách
là một tổ chức trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán Tuỳtheo số vốn điều lệ mà các công ty chứng khoán có thế thực hiện một hay nhiềunghiệp vụ khác nhau như môi giới, tự doanh, tư vấn, bảo lãnh phát hành Công tychứng khoán có thể được thành lập dưới hình thức công ty hợp danh, công ty cổ phầnhay công ty trách nhiệm hữu hạn
- Công ty hợp danh: Có hai thành viên hợp danh trở lên, ngoài ra còn có thể cócác thành viên góp vốn, trong đó thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạncòn thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn góp Công ty hợpdanh không được phát hành một loại chứng khoán nào
- Công ty cổ phần: Là công ty mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằngnhau, gọi là các cổ phần Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và có quyền pháthành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu tráchnhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi sốvốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn không đượcquyền phát hành cổ phiếu
1.2.2 Vai trò của các công ty chứng khoán
Đ
ối với các tổ chức phát hành : Mục tiêu khi tham gia vào thị trường chứng
khoán của các tổ chức phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứngkhoán Vì thế, thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, công tychứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành Mộttrong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán là nguyên tắc trunggian, nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà phát hành không đượcmua bán trực tiếp chứng khoán với nhau mà phải thông qua các trung gian mua bán,các công ty chứng khoán sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả nhà đầu tư và nhà phát
Trang 12hành và khi thực hiện công việc này, công ty chứng khoán đã tạo ra cơ chế huy độngvốn cho nền kinh tế thông qua thị trường chứng khoán, và hưởng phí môi giới.
Đối với các nhà đầu tư: Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư,
quản lý danh mục đầu tư, công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí, thời giangiao dịch, do vậy nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư Đối với hàng hoá thôngthường, việc mua bán trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán,nhưng đối với thị trường chứng khoán, sự biến động thường xuyên của giá cả cácloại chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kémchi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư, nhưngthông qua các công ty chứng khoán, với trình độ chuyên môn cao, uy tín nghề nghiệp
sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư có hiệu quả
Đối với thị trường chứng khoán: Công ty chứng khoán thể hiện hai vai trò
chính: Thứ nhất, công ty chứng khoán góp phần tạo lập thị trường Giá cả chứng
khoán là do thị trường quyết định Tuy nhiên để đưa ra mức giá cuối cùng thì các nhàđầu tư phải thông qua các công ty chứng khoán vì họ không được trực tiếp tham giavào quá trình giao dịch Các công ty chứng khoán là những thành viên của thị trường,
vì vậy họ góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá Trên thị trường sơcấp, các công ty chứng khoán cùng với các nhà phát hành sẽ là người định giá đầutiên cho các chứng khoán mới phát hành Chính vì vậy, giá cả mỗi loại chứng khoán
giao dịch đều có sự tham gia định giá của các công ty chứng khoán Thứ hai, công ty
chứng khoán góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính Thịtrường chứng khoán có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản cho các tàisản tài chính, nhưng các công ty chứng khoán mới là người thực hiện tốt vai trò đó vìcông ty chứng khoán tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường Trên thị trường sơ cấp,
do thực hiện các hoạt động như bảo lãnh và phát hành, chứng khoán hoá, các công tychứng khoán không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanhcho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản cho các tài sản tài chính đượcđầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ được mua bán giao dịch trên thịtrường thứ cấp, điều này làm giảm rủi ro và tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư
Trang 13Trên thị trường thứ cấp, do thực hiện giao dịch mua bán các công ty chứng khoángiúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại những hoạtđộng đó làm tăng tính thanh khoản cho những tài sản tài chính.
Đối với các cơ quan quản lý thị trường: Công ty chứng khoán đóng vai trò
cung cấp thông tin về thị trường chứng khoán cho các cơ quan quản lý thị trường đểthực hiện mục tiêu đó Các công ty chứng khoán thực hiện được vai trò này bởi vì họvừa là người bảo lãnh và phát hành cho chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bánchứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường Một trong những yêu cầutrên thị trường chứng khoán là thông tin cần phải được công khai hoá dưới sự giámsát của cơ quan quản lý thị trường Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệthống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của của các công ty chứng khoán vìcông ty chứng khoán cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động Nhờ có cácthông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống lại hiệntượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường
Công ty chứng khoán là tổ chức chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán,
có vai trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành đối với cơquan quản lý thị trường và đối với thị trường chứng khoán nói chung, những vai trònay được thể hiện rất rõ thông qua những hoạt động của công ty chứng khoán
1.2.3 Các nghiệp vụ cơ bản:
1.2.3.1 Nghiệp vụ môi giới
Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiệnmua, bán chứng khoán cho khách hàng qua đó hưởng phí giao dịch Thông quanghiệp vụ môi giới chứng khoán, các công ty chứng khoán sẽ thay mặt các kháchhàng của mình tiến hành các giao dịch chứng khoán tại sở giao dịch, trung tâm giaodịch chứng khoán hay thị trường OTC mà khách hàng phải tự chịu trách nhiệm về kếtquả mua bán của mình Công ty chứng khoán là người trung gian, kết nối giao dịchgiữa người mua và người bán chứng khoán, họ cung cấp các sản phẩm dịch vụ tiệních đến với các nhà đầu tư, giúp các nhà đầu tư thực hiện giao dịch chứng khoán vớichi phí hợp lý nhất Với tính chất đặc biệt của thị trường chứng khoán nên các công
Trang 14ty chứng khoán phải là những người chia sẻ động viên với các nhà đầu tư của mình,giúp họ có những quyết định đầu tư tốt nhất Mặc dù các công ty chứng khoán đượchưởng phí giao dịch từ chính các khách hàng của mình nhưng không phải vì thế mà
họ lừa gạt các nhà đầu tư để hưởng phí mà họ phải tuân thủ các quy tắc đạo đức nghềnghiệp nhất định
1.2.3.2 Nghiệp vụ tự doanh
Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứngkhoán cho chính mình Hoạt động tự doanh chứng khoán là việc các công ty chứngkhoán dùng chính nguồn vốn của mình để tham gia mua bán chứng khoán trên thịtrường nhằm mục tiêu tích luỹ lợi nhuận Các công ty chứng khoán cũng đóng vai trò
là như các khách hàng, nắm giữ chứng khoán và mua bán chứng khoán nhằm mụctiêu hưởng chênh lệch giá Chính vì vậy dẫn tới một vấn đề đó là mâu thuẫn về quyềnlợi giữa các nhà đầu tư và công ty chứng khoán, công ty chứng khoán đặt lệnh chomình để thực hiện việc tự doanh chứng khoán, nhưng nghiệp vụ môi giới yêu cầucông ty chứng khoán phải ưu tiên đặt lệnh cho khách hàng trước Do đó các công tychứng khoán phải tuân thủ các quy định của sở giao dịch chứng khoán của nước đó,
đó là phải tách bạch hai nghiệp vụ là tự doanh chứng khoán và môi giới chứng khoán,đồng thời ưu tiên lệnh của khách hàng trước lệnh của công ty
Hoạt động tự doanh chứng khoán là hoạt động đem lại lợi nhuận cao nhất chocác công ty chứng khoán nhưng nó cũng chính là hoạt động có mức rủi ro lớn nhất,chính vì vậy các cơ quản quản lý chứng khoán thường yêu cầu mức vốn điều lệ cao
để thực hiện nghiệp vụ này Ở Việt Nam các công ty chứng khoán muốn thực hiệnnghiệp vụ tự doanh chứng khoán phải có mức vốn điều lệ tối thiểu là 100 tỷ đồng
Hoạt động tự doanh không chỉ đem lại lợi nhuận cho các công ty chứngkhoán, mà nó còn có vai trò như là một nhà tạo lập thị trường, bình ổn giá chứngkhoán Để thực hiện mục tiêu này, đòi hỏi các công ty chứng khoán phải có tiền và cólượng chứng khoán nhất định để giao dịch trên thị trường, đây là yêu cầu khá khókhăn đối với các công ty chứng khoán vừa và nhỏ ở những thị trường mới thành lậpnhư Việt Nam
Trang 151.2.3.3 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán cung cấp cho nhà đầu
tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứngkhoán Đối với CTCK có giấy phép thực hiện nghiệp vụ tư vấn tài chính và đầu tư
CK được phép cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng trong các lĩnh vựcsau:
- Tư vấn đầu tư CK trực tiếp cho khách hàng
- Tư vấn tái cơ cấu tài chính
- Tư vấn cho các doanh nghiệp trong việc tiến hành công tác cổ phần hoá, pháthành và niêm yết CK
- Hoạt động tư vấn là việc mà người tư vấn, phải sử dụng kiến thức, thu thập vàphân tích thông tin… để đưa ra những lời khuyên sao cho có lợi nhất cho khách hàngcủa mình và thu phí từ hoạt động tư vấn đó Nhà tư vấn phải hết sức thận trọng khiđưa những lời khuyên đối với khách hàng, vì đôi khi lời khuyên đó có thể giúp kháchhàng thu lợi những cũng có thể làm thiệt hại tới khách hàng, thậm chí là phá sản
1.2.3.4 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kếtvới tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhậnmua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua
số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổchức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng Bảo lãnh phát hànhbao gồm có hoạt động tư vấn và phân phối chứng khoán Dựa trên mức độ tráchnhiệm của chủ thể bảo lãnh khi tham gia vào quá trình thực hiện phát hành, người tachia thành nhiều hình thức bảo lãnh phát hành khác nhau: Bảo lãnh với cam kết chắcchắn, bảo lãnh với cố gắng tối đa, bảo lãnh bán tất cả hoặc không, bảo lãnh tối thiểuhay tối đa
1.3 Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán
1.3.1 Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán và sự khác biệt so với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 16Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn hoạt động hiệu quả trong nền kinh tế thì đềucần có cạnh tranh, chính vì vậy hiểu thế nào là năng lực cạnh tranh và đầu tư thế nào
để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là yếu tố hết sức cần thiết Đối vớicác công ty chứng khoán, năng lực cạnh tranh(NLCT) được hiểu là khả năng duy trì
và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút khách hàng,tạo ra sản phẩm dịch vụ
có chất lượng cao hơn, nâng cao thị phần, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tốkinh doanh nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững Đối với các công ty chứngkhoán, sản phẩm là các dịch vụ môi giới, tư vấn, bảo lãnh phát hành, các sảnphẩm của công ty chứng khoán là các dịch vụ, nó khác với các sản phẩm vật chất củacác doanh nghiệp sản xuất NLCT của doanh nghiệp cũng giống như NLCT của cáccông ty chứng khoán, nó thể hiện thực lực và lợi thế của công ty so với đối thủ cạnhtranh trong việc thoả mãn tốt nhất các yêu cầu của khách hàng nhằm thu về lợi íchcao nhất
NLCT của công ty chứng khoán cũng giống như các loại hình doanh nghiệpkhác, nó được tạo ra từ các yếu tố nội hàm của doanh nghiệp như công nghệ, tàichính, nhân lực, quản trị doanh nghiệp,…….Tuy nhiên, điểm mạnh hay điểm yếu củacác yếu tố này nếu không được so sánh với các đối thủ cạnh tranh thì nó sẽ khôngphản ánh được năng lực cạnh tranh của công ty Công ty muốn nâng cao năng lựccạnh tranh thì phải tạo lập được các lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh, qua đóthu hút khách hàng về với mình
NLCT của công ty chứng khoán nói chung cũng có những điểm tương đồnggiống với NLCT của các loại hình doanh nghiệp khác, đặc biệt là các doanh nghiệptrong lĩnh vực cung cấp dịch vụ Chính vì đặc điểm riêng biệt của thị trường chứngkhoán nên NLCT của công ty chứng khoán có một số khác biệt tuỳ thuộc vào các quyđịnh của thị trường đó, chẳng hạn như quy định mức vốn điều lệ sẽ quyết định đếnhoạt động nghiệp vụ của công ty, quy định về phương thức giao dịch sẽ ảnh hưởngđến công nghệ cũng như các sản phẩm của công ty,…….NLCT của công ty chứngkhoán thể hiện rõ nét nhất ở số lượng khách hàng, thị phần của công ty trên thịtrường và chất lượng các dịch vụ cung cấp trong khi đó với các doanh nghiệp thì
Trang 17NLCT thường được thể hiện rõ nhất ở chất lượng sản phẩm và doanh số bán sảnphẩm.
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh
NLCT của các công ty chứng khoán được thể hiện ở rất nhiều chỉ tiêu, có chỉtiêu mang tính tổng thể, có chỉ tiêu định lượng và có cả những chỉ tiêu định tính
1.3.2.1 Cơ sở vật chất, quy mô chí nhánh, năng lực tài chính và công nghệ
Cơ sở vật chất là yếu tố quyết định đánh giá năng lực thực sự và triển vọngcủa công ty chứng khoán Cở sở vật chất thể hiện thông qua các trang thiết bị, cácphòng, sàn giao dịch của công ty và các phương tiện phục vụ cho giao dịch của nhàđầu tư ở trụ sở chính, chi nhánh hay các đại lý nhận lệnh Năng lực tài chính sẽ quyếtđịnh đến sự phát triển các yếu tố khác của công ty, trong đó có công nghệ Công nghệcủa công ty chứng khoán là yếu tố tiên quyết quyết định khả năng cung cấp dịch vụvới chất lượng cao, với các khách hàng, việc được tiếp xúc với các nhà môi giới cónền tảng công nghệ cao sẽ là lợi thế, đặc biệt là trong giao dịch chứng khoán Đây là
bộ mặt của công ty, và là yếu tố đầu tiên khi khách hàng đánh giá về NLCT của côngty
Quy mô, số lượng chi nhánh, đại lý nhận lệnh thể hiện tham vọng nâng cao thịphần mở rộng đối tượng khách hàng của công ty, một công ty chứng khoán có sốlượng các chi nhánh và đại lý nhận lệnh rộng khắp thể hiện quy mô và khả năng sẵnsàng cung cấp các sản phẩm đến với mọi đối tượng khách hàng ở bất kỳ đâu Nó thểhiện lợi thế cạnh tranh của công ty trong việc đưa công ty đến với khách hàng
1.3.2.2 Nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng, cấu thành nên năng lực cạnh tranh củabất kỳ doanh nghiệp nào Một công ty cho dù có tất cả các yếu tố cạnh tranh đều vượttrội nhưng nguồn nhân lực không dồi dào và không có chất lượng thì khả năng sửdụng hiệu quả các yếu tố khác sẽ thấp, chính vì vậy nguồn nhân lực là yếu tố cần và
đủ tạo nên năng lực cạnh tranh tổng thể của doanh nghiệp Khi nói đến nguồn nhânlực của công ty chứng khoán ta sẽ xét đến số lượng nhân lực và chất lượng nguồn
Trang 18nhân lực, công ty chứng khoán có bao nhiêu người có trình độ cử nhân trở lên, baonhiêu người đã có các chứng chỉ hành nghề, đã có các chứng chỉ nghiệp vụ,……
Một công ty chứng khoán có nhân lực đông đảo và có chất lượng, từ đội ngũlãnh đạo đến đội ngũ nhân viên sẽ giúp cho công ty có lợi thế so với các công tychứng khoán khác, đặc biệt là trong thời điểm mà yếu tố công nghệ và trình độ caođược đặt lên hàng đầu Hơn nữa đội ngũ nhân viên có kiến thức sẽ giúp cho cácmảng hoạt động như tự doanh và tư vấn phát triển, qua đó tạo ra nguồn thu nhậpđáng kể cho công ty
1.3.2.3 Các chỉ tiêu định tính:
Các chỉ tiêu định tính là các chỉ tiêu mang tính chung chung, không thể đánhgiá bằng một con số cụ thể, song thông qua đánh giá của các khách hàng, các chuyêngia và các tổ chức đánh giá tín nhiệm, ta có thể có những đánh giá cơ bản về công tychứng khoán thông qua các chỉ tiêu này
* Chất lượng sản phẩm dịch vụ: Các công ty chứng khoán là nhà môi giới trung giancho các nhà đầu tư, nhiệm vụ chính của họ là cung cấp dịch vụ nhằm tạo thuận lợinhất cho giao dịch chứng khoán của các nhà đầu tư, vì vậy chất lượng các sản phẩmdịch vụ là yếu tố cần thiết Việc tìm kiếm khách hàng đã là khó, nhưng làm thế nào
để làm khách hàng vừa lòng lại càng khó hơn Do đặc tính riêng biệt của thị trườngchứng khoán nên các nhà đầu tư sẽ tìm cho mình nhà môi giới nào có thể đáp ứngđược cho họ các dịch vụ tốt nhất với chi phí phù hợp Vì vậy, các công ty chứngkhoán muốn thu hút và giữ được khách hàng thì bắt buộc họ phải đầu tư nghiên cứucác sản phẩm mới, nâng cao chất lượng các sản phẩm đã có và tạo ra lợi thế cạnhtranh về phí sử dụng sản phẩm dịch vụ so với các đối thủ cạnh tranh
* Thương hiệu uy tín trên thị trường: Thương hiệu là yếu tố khẳng định vị thế củacông ty so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, đó là hình ảnh đầu tiên của cáckhách hàng đối với công ty Các công ty chứng khoán có uy tín và thương hiệu trênthị trường sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với các nhà đầu tư, qua đó sẽ mở rộnghơn thị trường của công ty đó Thương hiệu như là một bức tranh tổng quát về năng
Trang 19lực của công ty, do đó nâng cao thương hiệu cũng chính là nâng cao năng lực cạnhtranh.
1.3.2.4 Các chỉ tiêu định lượng:
* Thị phần: Thị phần là phần thị trường mà công ty nắm giữ, nó nói lên mức độ tậptrung khách hàng đối với công ty chứng khoán thông qua tỷ lệ phần trăm của công tychứng khoán so với tổng thể Thị phần nói lên sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch
vụ mà công ty đang cung cấp, thị phần càng lớn chứng tỏ vị thế và NLCT của công tycàng lớn, chính vì vậy nâng cao thị phần là mục tiêu của tất cả các công ty chứngkhoán
* Doanh thu, chi phí và lợi nhuận: Doanh thu, chi phí và lợi nhuận là những chỉ tiêu
mà bất kể các doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm chứ không nói riêng các công tychứng khoán, nó nói lên tình hình hoạt động, tình hình tài chính và hiệu quả hoạtđộng của công ty Doanh thu của công ty nói lên các khoản thu về của công ty, trong
đó có các khoản thu về từ các hoạt động khác nhau như tư vấn, môi giới, bảo lãnhphát hành, tự doanh,… Chi phí của công ty đánh giá các khoản chi phí và tỷ lệ củacác khoản chi phí như chi phí cho tài sản cố định, chi phí cho nhân sự, cho đầu tưnghiên cứu sản phẩm, marketing,… Và lợi nhuận là khoản thu nhập công ty nhậnđược sau khi đã trừ đi chi phí và nghĩa vụ thuế đối với nhà nước
* Tỷ suất lợi nhuận: Lợi nhuận là đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty chứngkhoán, tuy nhiên có một chỉ tiêu nữa phản ánh chính xác hơn hiệu quả hoạt động củacông ty, đó là chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận gồm có lợi nhuận trêndoanh thu, lợi nhuận trên tổng tài sản, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu,… các chỉ tiêutrên đều đánh giá hiệu quả tương đối kết quả kinh doanh của công ty
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán
Việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là điều hết sứcquan trọng và cần thiết, song trong quá trình đó các công ty chứng khoán cũng chịunhiều tác động từ nhiều yếu tố, từ các yếu tố bên ngoài đến các yếu tố nội tại củamình
Trang 20Sơ đồ 1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của
Sự phát triển của thị trường chứng khoán trong nước và thế giới chính là tiền
đề giúp cho sự phát triển của các công ty chứng khoán thông qua những khoản lợinhuận mà các công ty chứng khoán thu về Ngược lại, sự phát triển của các công tychứng khoán thông qua đầu tư vào nhân lực, công nghệ, cơ sở hạ tầng, các sản phẩmdịch vụ,……sẽ là yếu tố tiên quyết giúp cho thị trường chứng khoán đó phát triểnhơn
Ngoài ra các tác động từ cơ quan quản lý nhà nước, các chính sách, pháp lý cóảnh hưởng rõ nét đến thị trường, đặc biệt là tâm lý của các nhà đầu tư Thị trườngchứng khoán là thị trường đặc biệt và phức tạp nhất, nơi thực hiện giao dịch các tàisản tài chính Chính vì vậy nó phải chịu sự quản lý giám sát của hệ thống pháp luậtcủa nhà nước, tuỳ theo mỗi thị trường mà ở đó có những cơ quản quản lý khác nhau
Các nhân tố ảnh hưởng
Nhân tốmôi trường bên trong
Nhân tốmôi trường bên ngoài
Các nhân tố nội tại nhưnăng lực tài chính, nhânlực, marketing, R&D,…
Nhân tố môi trường vi
môNhân tố môi trường vĩ
mô