Chương I: Vai trò của DNN&V với phát triển KT – XH Việt Nam. Chương II: Thực trạng phát triển DNN&V trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001 – 2008. Chương III: Định hướng và giải pháp phát triển DNN&V trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2009 – 2015.
Trang 1MỞ ĐẦU
Cùng với những thành tựu của công cuộc đổi mới, doanh nghiệp nhỏ vàvừa (DNN&V) có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế - xã hội ViệtNam Nhận thức được vai trò này, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi pháttriển DNN&V là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
Thời gian qua, DNN&V là động lực phát triển cho nền kinh tế đất nước Từnăm 2001 đến 6/2008 đã có 285.900 doanh nghiệp, chủ yếu là các DNN&V
đã đăng ký mới với số vốn đăng ký 1.233.000 tỷ đồng, đưa tổng số các doanhnghiệp trong cả nước lên 349.300 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký trên1.389.000 tỷ đồng.Việt Nam ra nhập Tổ chức thương mại thế giới( WTO) đãtrở thành cột mốc đánh dấu sự hoà nhập đầy đủ hơn của nền kinh tế Việt Namvào nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy trong những năm qua,các DN nói chung và DNN&V Việt Nam nói riêng có nhiều cơ hội để hoànhập và phát triển nhưng cũng gặp nhiều khó khăn thách thức.Do đó trong xuhướng phát triển, Nhà nước ta đã xác định xây dựng và thực hiện chiến lượcphát triển DNN&V ở Việt nam đến năm 2020 là một nhiệm vụ chiến lượcquan trọng có tính chất đột phá, tạo ra động lực phát triển KT – XH cho đấtnước
Đối với tỉnh Phú Thọ, trong những năm qua, DNN&V trên địa bàn tỉnh
đã phát triển khá mạnh cả về số lượng và quy mô, đã có những đóng góp quantrọng trong việc phát triển KT-XH của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung.Tuy nhiên, các DNN&V trên địa bàn tỉnh hiện nay còn nhiều bất cập, hạn chếnhư: vốn, lao động, công nghệ, khả năng quản lý, tiếp cận thị trường, thiếuđịnh hướng lâu dài trong hoạt động kinh doanh… bên cạnh đó Tỉnh cũngchưa có những định hướng và chính sách ưu đãi tốt nhất để cho các DNN&Vphát triển một cách bền vững… dẫn đến năng lực cạnh tranh của các DNN&V
Trang 2kém, hiệu quả của sản xuất kinh doanh (SXKD) thấp, chưa tương xứng vớitiềm năng, lợi thế của tỉnh
Việc phát triển DNN&V ở Phú Thọ không những đóng góp vào việcphát triển kinh tế của tỉnh mà còn tạo ra sự ổn định về mặt xã hội thông quatạo việc làm cho người lao động, giảm khoảng cách giàu nghèo và tệ nạn xãhội Vì vậy, trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của tỉnhtheo hướng CNH-HĐH thời gian tới, tỉnh rất coi trọng vai trò của DNN&V
Để làm được điều này, tỉnh Phú Thọ phải đưa ra các giải pháp để phát triểnDNN&V, tìm ra các mô hình, các chính sách ưu đãi hợp lý nhằm phát triểncác DNN&V một cách có hiệu quả và bền vững sao cho phù hợp với đặcđiểm KT-XH của tỉnh, huy động được các nguồn lực, tiềm năng và lợi thếvốn có của tỉnh
Do tầm quan trọng của DNN&V, em xin chọn đề tài “ Một số giải pháp pháttriển DNN&V trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2009 – 2015” làm đề tàinghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình
Nội dung nghiên cứu của em gồm 3 phần chính là:
Chương I: Vai trò của DNN&V với phát triển KT – XH Việt Nam.
Chương II: Thực trạng phát triển DNN&V trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai
đoạn 2001 – 2008
Chương III: Định hướng và giải pháp phát triển DNN&V trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ giai đoạn 2009 – 2015
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo GS.TS
Vũ Thị Ngọc Phùng và sự tạo điều kiện giúp đỡ của các cán bộ Sở Kế hoạch
và Đầu tư Phú Thọ, Cục Thống Kê Phú Thọ đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này
Trang 3CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA DNN&V VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM
1 ĐẶC ĐIỂM CỦA DNN&V:
1.1 Khái niệm DNN&V:
Mặc dù khái niệm DNN&V đã được biết đến trên thế giới từ nhữngnăm đầu của thế kỷ XX, và khu vực DNN&V được các nước quan tâm pháttriển từ những năm 50 của thế kỷ XX Tuy nhiên, ở Việt Nam khái niệmDNN&V mới được biết đến từ những năm 1990 đến nay
Trong cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp nhà nước được chia thànhdoanh nghiệp loại 1, doanh nghiệp loại 2, doanh nghiệp loại 3 với tiêu chíphân loại chủ yếu là số lao động trong biên chế và theo phân cấp Trung ương
- địa phương Trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa gần như tương ứng vớidoanh nghiệp loại 2 và loại 3
Trước năm 1998, một số địa phương, tổ chức đã xác định DNN&V dựa trêncác tiêu chí khác nhau như: số lao động ( dưới 500 người), giá trị tài sản cốđịnh (dưới 10 tỷ đồng), số dư vốn lưu động( dưới 8 tỷ đồng) và doanh thuhàng tháng (duới 20 tỷ dồng)
Một số nhà nghiên cứu cho rằng cần phân định doanh nghiệp vừa và nhỏ theolĩnh vực: sản xuất, dịch vụ Trong lĩnh vực sản xuất, doanh nghiệp có số vốndưới 1 tỷ đồng, số lao động dưới 100 người là doanh nghiệp nhỏ; doanhnghiệp có từ 1 đến 10 tỷ đồng vốn và số lao động từ 100 đến 500 người làdoanh nghiệp vừa Trong thương mại dịch vụ, doanh nghiệp có số vốn dưới
500 triệu đồng và dưới 50 lao động là doanh nghiệp nhỏ; doanh nghiệp có sốvốn từ 500 triệu đến 5 tỷ đồng và có từ 50 đến 250 lao động là doanh nghiệpvừa
Trang 4Ngày 20-6-1998, Chính phủ đã có công văn số 681/CP-KCN về việcđịnh hướng chiến lược và chính sách phát triển các DNN&V Theo công văn
này thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới
5 tỷ đồng và lao động thường xuyên dưới 200 người.Việc áp dụng một trong
hai tiêu chí hoặc cả hai tiêu chí tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địaphương, ngành, lĩnh vực Đây có thể coi là văn bản đầu tiên đưa ra tiêu chíxác định DNN&V Nó là cơ sở để cho phép thực hiện các biện pháp hỗ trợcho khu vực này
Ngày 23-11-2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNN&V Theo quy định này: DNN&V là một cơ sở
sản xuất kinh doanh có vốn đăng ký không quá 10 tỷ hoặc có lao động trung bình hàng năm không quá 300 người Đây là văn bản pháp luật đầu tiên chính
thức về DNN&V, là cơ sở để các chính sách và biện pháp hỗ trợ của các cơquan nhà nước và tổ chức trong và ngoài nước thực hiện các biện pháp hỗ trợcho các DNN&V Từ đó đến nay, khái niệm DNN&V đựơc hiểu và áp dụngthống nhất trong cả nước
Các tiêu chí về DNN&V ở Việt Nam( lao động và vốn đăng ký) không có quyđịnh định lượng tối thiểu và do đó DNN&V theo định nghĩa của Việt Nambao gồm cả các doanh nghiệp siêu nhỏ theo cách hiểu của nhiều quốc giakhác
Theo cách định nghĩa trên, ở nước ta hiện nay có khoảng 349.300
doanh nghiệp trong đó DNN&V chiếm khoảng hơn 90%.( Nguồn: Trang
web của phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam)
1.2 Đặc điểm của DNN&V:
Đặc điểm của các DNN&V xuất phát trước hết từ chính quy mô củadoanh nghiệp Cũng như các DNN&V trên thế giới, với quy mô nhỏ,
Trang 5DNN&V Việt Nam cũng có những đặc điểm tương tự như ở các quốc giakhác Ngoài ra, do đặc trưng riêng của nền kinh tế đang trong giai đoạnchuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa nên các DNN&V Việt Nam còn có những đặc điểmriêng Những đặc điểm cơ bản của DNN&V Việt Nam thể hiện như sau:
1.2.1 Về vốn kinh doanh:
Các DNN&V thường gặp phải khó khăn về vốn, thiếu vốn sản xuấtkinh doanh Tuy nhiên, tình trạng thiếu vốn ở các doanh nghiệp không giốngnhau Nhiều doanh nghiệp phản ánh là thiếu vốn nhưng thực tế nếu có vốncũng không biết sử dụng vào mục đích gì
Việc cung ứng vốn cho DNN&V hiện nay được đánh giá là chủ yếuthực hiện qua thị trường tài chính phi chính thức Các chủ doanh nghiệpthường vay vốn của nhân dân, bạn bè và vay của những người cho vay lấy lãi.Hầu như các DNN&V, nhất là các DNN&V ngoài quốc doanh, không tiếpcận được với nguồn tín dụng chính thức, tức tín dụng của hệ thống của Ngânhàng Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có một số nguyênnhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, hệ thống ngân hàng, kể cả hệ thống tài chính trung gian, còn
yếu kém, chưa tiếp cận được với nhu cầu về tín dụng Các điều kiện cho vay
và thủ tục thế chấp tuy nhiều nhưng lại chưa chặt chẽ Các ngân hàng vẫn có
tỷ lệ nợ khó đòi cao, nhưng những doanh nghiệp hoạt động hợp pháp thì lạikhông được vay vốn Trong những năm qua, số dư tín dụng của hệ thốngngân hàng chủ yếu là dành cho DNNN và chủ yếu là các DNNN có quy môlớn Nhiều doanh nghiệp, trong đó có DNN&V, chưa có khả năng đáp ứngcác đòi hỏi của ngân hàng về các thủ tục như lập dự án, thủ tục thế chấp…cho nên chưa tiếp cận được với nguồn tín dụng này
Trang 6Thứ hai, các chủ DNNQD cũng thường e ngại khi vay ngân hàng vì
như vậy buộc phải xuất trình các báo cáo chính xác về tài chính và kết quảsản xuất kinh doanh, điều mà các doanh nghiệp không muốn làm vì các lý dokhác nhau Nguyên nhân này xuất phát chủ yếu từ phía doanh nghiệp chứkhông phải từ phía ngân hàng và các cơ quan quản lý Nhà nước
1.2.2 Về tổ chức quản lý doanh nghiệp và người lao động:
Đa số các DNN&V của nước ta hiện nay vẫn tổ chức quản lý theo mô
hình ''Gia đình'' Đặc biệt, mô hình này thể hiện rõ nét nhất ở các DNN&V ở
thành phần kinh tế NQD như: Các DNTN, Công ty TNHH Những ngườiquản lý cũng như người lao động trong các DNN&V thường là những ngườitrong cùng gia đình, hoặc cùng huyết thống hoặc là những người thân quen
Về trình độ của cán bộ quản lý doanh nghiệp: Phần lớn các chủ doanh
nghiệp và các cán bộ quản trị doanh nghiệp NQD đều chưa được đào tạo cơbản, thiếu kinh nghiệm quản trị và kiến thức kinh doanh trong cơ chế thịtrường Số lượng cán bộ có bằng cấp chuyên môn trong các doanh nghiệp nàycòn rất hạn chế
Đối với người lao động: Người lao động làm việc trong các DNN&V
hầu hết là lao động phổ thông ít được đào tạo, thiếu kỹ năng, trình độ văn hóathấp, hoặc chỉ được đào tạo qua các lớp học ngắn hạn tại các doanh nghiệp…Ngoài ra, các doanh nghiệp thường sử dụng hình thức lao động thời vụ hoặchợp đồng gia công với các hộ dân cư Số liệu điều tra về trình độ của ngườilao động trong các DNN&V trên cả nước cho thấy; Chỉ có khoảng 15% laođộng trong các DNN&V có trình độ đại học, trong đó chủ yếu tập trung vàocác DNNN, Công ty TNHH và Công ty CP
Thu nhập của người lao động trong các DNN&V vẫn còn ở mức thấp,không ổn định thu nhập của người lao động phổ biến nằm trong khoảng trên
Trang 7dưới 1.000.000 đồng/người/tháng Mặc dù mức thu nhập của người lao độngtrong các DNN&V cao hơn so với làm nông nghiệp nhưng vẫn còn thấp hơn
so với làm việc trong các doanh nghiệp lớn Ngoài ra, người lao động cũngchưa được hưởng đầy đủ các chế độ, chính sách như người lao động trong cácdoanh nghiệp lớn, như các chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nghỉchế độ…
1.2.3 Về công nghệ:
DNN&V ở cả nước nói chung, ở Phú Thọ nói riêng mới được chú trọngphát triển trong vòng vài năm trở lại đây Vì vậy, công nghệ lạc hậu khá phổbiến trong các DNN&V Do thói quen tư duy và do hạn chế về đầu tư,DNN&V thường đầu tư dần, mỗi năm mua một vài loại máy, thiết bị và khithấy không ổn thì cũng thay thế dần Điều này làm cho máy móc thiết bị đangđược sử dụng trong các DNNVV trở nên chắp vá, không đồng bộ
Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanhnghiệp(2004), vẫn có nhiều doanh nghiệp nhà nước có trình độ công nghệdưới mức trung bình của khu vực và thế giới, máy móc thiết bị, dây chuyềnsản xuất lạc hậu so với thế giới từ 10 - 20 năm Trình độ trang thiết bị lạc hậu
từ 3 – 4 thế hệ so với các nước trong khu vực Tốc độ đổi mới công nghệ rấtchậm Rất nhiều sản phẩm có giá thành cao do chi phí tiêu hao nguyên vậtliệu cao, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có trình độ công nghệ cao hơn,nhưng cũng chỉ đạt mức trung bình của khu vực
Theo báo cáo của Bộ Công nghiệp, phần lớn giá trị máy móc thiết bịsản xuất của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chỉ còn 30% so với giá trịban đầu và đã lạc hậu hơn 30 năm Địa phương đầu tàu kinh tế của cả nước làthành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ có 25% doanh nghiệp có công nghệ sản xuấttiên tiến, 32% ở mức trung bình, còn lại ở mức dưới trung bình và lạc hậu
Trang 81.2.4 Về lĩnh vực hoạt động:
DNN&V hoạt động trong tất cả các lĩnh vực nhưng tập trung chủ yếuvào các lĩnh vực kinh tế như công nghiệp, xây dựng cơ bản, thương mại dịchvụ.Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2006, DNN&V hoạt động trongngành thương mại chiếm 40% , thứ hai là ngành công nghiệp chế biến( chiếm25,5%), thứ ba là ngành xây dựng chiếm 13,5% tổng số các DNN&V trongcác ngành Còn lại hoạt động trong các lĩnh vực khác
1.2.5 Về địa bàn hoạt động:
Hiện nay, các DNN&V phân bố rộng khắp trên cả nước, cả ở nông thôn
và thành thị, ở tất cả các vùng và các địa phương trên cả nước
Bảng 1.1 dưới đây thống kê số lượng DN đăng ký kinh doanh ở cáctỉnh năm 2007
Qua bảng số liệu ta thấy, sự khác nhau về số lượng và mật độ doanhnghiệp giữa các tỉnh, thành phố rất lớn Ví dụ thành phố Hồ Chí Minh có sốlượng doanh nghiệp ĐKKD nhiều nhất trên 17.000 doanh nghiệp trong khitỉnh Bắc Kạn chỉ có 71 doanh nghiệp ĐKKD.Thành phố Hồ Chí Minh chiếmtrên 30% số doanh nghiệp ĐKKD, ngoài ra có tới gần 55% các doanh nghiệpĐKKD tập trung ở 3 thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Hải
Phòng ( Nguồn: Báo cáo thường niên DNN&V Việt Nam 2008 - Cục Phát
triển DNN&V)
Trang 9Bảng 1 1 : Số lượng DN Đăng ký theo tỉnh năm 2007.
Đơn vị: Doanh nghiệp
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trang 102 VAI TRÒ CỦA DNN&V VỚI PHÁT TRIỂN KT – XH Ở VIỆT NAM.
Với việc chuyển sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường ở Việt Nam từ cuối những năm 1980 đến nay, và đặc biệt là
từ khi Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân ra đời( 1990), các DNN&Vphát triển mạnh mẽ
Tuy nhiên, cho đến khi Luật doanh nghiệp năm 1999 được ban hành ( thaythế Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân) thì số lượng doanh nghiệpthuộc khu vực kinh tế tư nhân được thành lập tăng lên nhanh chóng Vơi sốlượng các doanh nghiệp được thành lập mới ngày càng tăng nhanh, đóng gópcủa khu vực DNN&V ngày càng lớn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Vìvậy, vai trò của các DNN&V ngày càng lớn đối với nền kinh tế - xã hội củaViệt Nam và được thể hiện ở các mặt sau:
2.1 DNN&V đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của cả nước.
DNN&V ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tổng GDP do số lượngdoanh nghiệp ngày càng lớn và phân bổ rộng khắp trong hầu hết các ngành,lĩnh vực Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng của khu vực DNN&V cũng thường caohơn so với các khu vực DN khác Nếu tính doanh thu của các DN cả nước, tỷtrọng doanh thu của khu vực DNN&V theo quy mô lao động( dưới 300người) năm 2002 – 2004 là 81,5% - 86,5% Điều đó chứng tỏ các DNN&V cóđóng góp lớn vào việc gia tăng sản lượng và tăng trưởng kinh tế
Bảng 1 2 : Tỷ trọng doanh thu DNN&V trong nền kinh tế
Chia ra theo quy mô lao động(%)Dưới
5 người Từ 5 - 200 Từ 200 - 300
Trang 11Về đóng góp vào GDP: từ chỗ tỷ lệ trong GDP của khu vực DNN&Vkhông đáng kể đầu những năm 1990, đến nay tỷ lệ này khoảng từ 24% đến25,5% Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực thì đây là mức thấp nhất.
2.2 Góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Ngoài việc đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, DNN&V còn có vai trògóp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Điều này được thể hiện ở các cơ cấusau:
Trong thời gian qua tỷ lệ doanh nghiệp dân doanh trong số các doanhnghiệp đã tăng lên nhanh chóng Đến năm 2007, khối doanh nghiệp dândoanh có khoảng 160.000 doanh nghiệp và 18.500 hợp tác xã, trong đó có tới96% là DNN&V Ngoài ra còn có khoảng 3 triệu hộ kinh doanh cá thể Cácdoanh nghiệp dân doanh đã và đang trở thành trụ cột cuả nền kinh tế nướcnhà, đưa chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần đi vào cuộc sống
Như đã nêu ở trên, Các DNN&V chủ yếu hoạt động trong lĩnh vựccông nghiệp – xây dựng và dịch vụ, thương mại Vì các lĩnh vực này dễ dàngtham gia kinh doanh với số vốn ít và yêu cầu trình độ chuyên môn không đòihỏi cao, khả năng thu hồi vốn nhanh Điều này đã góp phần chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng nâng dần tỷ trọng giá trị đóng góp vào GDP của ngànhcông nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng giá trị sản phẩm của ngành nôngnghiệp trong GDP
Cơ cấu theo lãnh thổ:
Các DNN&V được thành lập ở tất cả mọi nơi trên cả nước, kể cả vùng
có điều kiện KT – XH khó khăn Đây là điểm khác biệt cơ bản so với cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Các DNN&V có thể đóng góp vào
Trang 12việc phân bổ các ngành công nghiệp đến nhiều vùng dân cư khác nhau; từthành thị, nông thôn đến các vùng miền núi, vùng sâu vùng xa Nhờ đó giảmbớt được khoảng cách phát triển giữa các khu vực khác nhau và tạo ra được
sự phát triển cân đối giữa các vùng khác nhau trên toàn quốc
2.3 Đóng góp vào ngân sách nhà nước.
Nguồn thu ngân sách từ doanh nghiệp NN hiện nay chiếm tỷ trọng lớn,nhưng với tình hình hiện nay để có được nguồn thu này thì nhà nước cũngphải trợ cấp cho các DNNN rất nhiều Hơn nữa, một khi gia nhập WTO thìviệc trợ cấp này không thể duy trì, và hệ quả là nguồn thu từ các doanhnghiệp NN sẽ khó được đảm bảo Ngân sách nhà nước, vì vậy, phục thuộcngày càng nhiều vào các nguồn thu khác, trong đó đặc biệt quan trọng là từthuế do các doanh nghiệp dân doanh đóng góp
Qua số liệu về đóng góp của doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp vàongân sách trung ương cũng cho ta thấy phần nào vai trò của khu vựcDNN&V, lực lượng chủ yếu trong các doanh nghiệp dân doanh Mặc dù đónggóp của khu vực DNN&V vào thu ngân sách còn nhỏ, nhưng tỷ lệ này đã tăngđáng kể và đang có xu hướng tăng nhanh trong mấy năm gần đây từ khoảng6,4% năm 2001 lên hơn 7,2% năm 2002( Tỷ lệ này của doanh nghiệp FDI là5,2% và 6%, của DNNN là 21,6 và 23,4%) Thu từ thuế công thương nghiệp
và dịch vụ NQD năm 2002 tăng 13% so với năm 2001 Quý I – 2003, số thu
từ doanh nghiệp dân doanh chiếm khoảng 11% tổng số thu, tăng 28,7% so vớicùng kỳ và đạt 26,8% chỉ tiêu do Quốc hội đề ra
2.4 DNN&V góp phần giải quyết việc làm, giảm áp lực về thất nghiệp.
Hiện nay, do tỷ lệ tăng dân số cao trong những năm trước đây, hằngnăm Việt Nam có khoảng 1,4 triệu người gia nhập vào lực lượng lao động.Vấn đề giải quyết việc làm cho những người này là rất cấp thiết Bên cạnh đó,
Trang 13khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện đang thực hiện sắp xếp lại nên khôngnhững không thể thu hút thêm lao động mà còn tăng thêm số lao động dôi dư.Khu vực đầu tư nước ngoài mỗi năm cũng chỉ tạo ra khoảng 30.000 chỗ làmmới, một tỷ lệ không đáng kể Như vậy phần lớn số người tham gia lực lượnglao động này trông chờ vào khu vực nông thôn và khu vực DNN&V.
Các DNN&V đã tạo ra nhiều việc làm mới với tốc độ tăng trưởng cao Hiệnnay, khu vực DNN&V đã tạo ra hơn 50% việc làm cho lao động làm việctrong các doanh nghiệp nói chung
2.5 DNN&V làm đối tác liên kết làm tăng sức mạnh của các doanh
nghiệp lớn:
Doanh nghiệp lớn có thế mạnh về vốn, công nghệ, quy mô sản xuấtkinh doanh, khả năng đáp ứng công nghệ, chương trình lớn về tiếp thị, pháttriển thị trường,… Nhưng phân công lao động xã hội chỉ có doanh nghiệp lớnthì sẽ không hiệu quả, không phát huy được lợi thế trong liên kết kinh tế đểtạo ra sức mạnh cạnh tranh của cả nền kinh tế Đối với nhiều lĩnh vực, mặthàng, doanh nghiệp lớn cần liên kết với các DNN&V trên cơ sở phân cônglao động hợp lý, hiệu quả để cùng phát triển, nhất là những lĩnh vực như khâuthu mua nguyên vật liệu cũng như phân phối sản phẩm cần trên diện rộng, cácngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động,…
Ở Phú Thọ, các DNN&V nhất là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh
tế tư nhân đảm nhận vai trò là xí nghiệp vệ tinh cung cấp nguyên liệu, hỗ trợcác doanh nghiệp NN, các doanh nghiệp lớn sản xuất trong các lĩnh vực sảnxuất giấy, chế biến chè, hoá chất, vật liệu xây dựng; là mạng lưới phân phốihàng hoá, tiêu thụ nông sản, giúp đỡ người nông dân
Trang 143 ƯU, NHƯỢC ĐIỂM VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN DNN&V: 3.1 Ưu, nhược điểm của DNN&V:
3.1.1 Ưu điểm:
DNN&V có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau.
DNN&V có cả hình thức sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân
và sở hữu hỗn hợp Về loại hình kinh doanh, các DNN&V có thể tồn tại dướinhiều hình thức khác nhau như doanh nghiệp NN, doanh nghiệp TN, công ty
DNN&V thu hút nhiều lao động, hoạt động hiệu quả với chi phí ổn định thấp.
Các DNN&V có nguồn vốn ít, do đó vốn đầu tư vào tài sản cố định cũng
ít, họ thường tận dụng lao động thay thế cho vốn, đặc biệt là các nước có lựclượng lao động lớn và giá nhân công thấp như nước ta, để tiến hành sản xuấtkinh doanh Do đó, sự phát triển của các DNN&V đã tạo ra nhiều việc làmcho nền kinh tế - xã hội
DNN&V ít xảy ra xung đột giữa người sử dụng lao động và lao động.
Do quy mô vừa và nhỏ nên sự ngăn cách giữa người sử dụng lao động vàngười lao động không lớn, người chủ doanh nghiệp luôn theo sát công việc
Trang 15của người lao động, do đó nếu có mâu thuẫn, xung đột cũng dễ dàng giảiquyết để cân bằng giữa lợi ích của người lao động với lợi ích của người sửdụng lao động.
3.1.2 Hạn chế, tồn tại:
Về tiếp cận đất đai:
Trong bối cảnh thị trường bất động sản có nhiều biến động như hiện nay, giáthuê mặt bằng tăng cao thì việc tiếp cận đất đai làm mặt bằng sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp càng khó khăn hơn Nhiều doanh nghiệp gặp khókhăn trong việc giải quyết các thủ tục hành chính về đất đai
Các DNN&V thường có thị trường hẹp và khả năng cạnh tranh thấp.
- Việt nam có tuy có dân số đông nhưng lại là một thị trường nhỏ do thu nhậpcủa người dân vẫn còn thấp Ngoài ra, thị trường còn đang bị ảnh hưởng bởicác hàng hoá nhập lậu, hàng giả như hàng tiêu dùng từ Trung Quốc, Khácvới các DN lớn, DNN&V không thể đủ lực để hạ giá hàng nhằm cạnh tranhvới với hàng hoá nhập lậu
DNN&V có thị trường nhỏ hẹp, hàng hoá thường được tiêu thụ ở thịtrường nội địa vì chất lượng kém, mẫu mã bao bì chưa đa dạng chưa đủ sức
để vươn ra thị trường quốc tế
- Những biến động lớn về giá cả đầu vào đã tác động mạnh đến hoạt độngđầu tư sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đặc biệt nhiều doanh nghiệpkhông có khả năng dự báo tình hình biến động của thị trường Điều này đãảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh thị trường của doanh nghiệp
thời vụ, chưa có hướng phát triển lâu dài.
Phần lớn các DNN&V của Việt Nam đều chiếm một thị phần nhỏ trên thịtrường; do đó, các doanh nghiệp này thường không chủ động trên thị
Trang 16trường.Các DNN&V thường chỉ đưa ra được những kế hoạch phát triển sảnxuất kinh doanh mang tính thời vụ đáp ứng nhu cầu tức thì trên thị trường tạimột thời điểm nào đó, chưa mang tính ổn định và phát triển lâu dài Nếu DNkhông đưa ra được một định hướng phát triển lâu dài thì khi thị trường xảy ranhững biến cố, doanh nghiệp rất khó khăn để thích nghi với hoàn cảnh và cóthể dẫn tới nguy cơ phá sản, đổ vỡ.
3.2 Các nhân tố tác động đến DNN&V:
3.2.1 Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Quá trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giớiđang diễn ra rất nhanh chóng và mạnh mẽ Điều này ảnh hưởng đến hoạt độngcủa mọi chủ thể kinh tế, trong đó có các DNN&V Nước ta đang trong quátrình hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới thông qua việctham gia khối và tổ chức như: ASEAN, APEC, WTO, IMF, WB và các tổchức khu vực và quốc tế khác Đây vừa là một thách thức nhưng đồng thờicũng mở ra cơ hội rất lớn và là một điều kiện rất thuận lợi cho các doanhnghiệp Việt Nam, trong đó có DNN&V Đó là việc các doanh nghiệp có cơhội tiếp cận với thế giới bên ngòai để thu nhập thông tin, phát triển côngnghệ, tăng cường hợp tác cùng có lợi, mở rộng thị trường đầu vào và thịtrường xuất khẩu Còn thách thức đó là cùng với quá trình hội nhập thì sự bảo
hộ đối với sản xuất trong nước thông qua các hàng rào thuế quan và phí thuếquan sẽ giảm dần, trong khi khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp ViệtNam nói chung và các DNN&V nói riêng trên thị trường quốc tế còn rất hạnchế Nếu không vượt qua được thách thức đó thì các DNN&V sẽ khó tồn tạingay cả trên chính thị trường trong nước chứ chưa nói đến thị trường thế giới
Bên cạnh đó thị trường vốn và sự phân công lao động quốc tế là yếu tốảnh hưởng không nhỏ trong quá trình hội nhập về vốn, chúng ta vẫn xác
Trang 17định vốn trong nước là quyết định, vốn đầu tư nước ngoài là quan trọng chophát triển kinh tế Hiện nay và trong những năm tới, nguồn vốn đáp ứng nhucầu đầu tư trên thế giới ngày càng thiếu Trong khi đó, các nước trong khuvực và rất nhiều nước trên thế giới tìm cách thu hút đầu tư nước ngoài bằngcách đưa ra các chính sách hấp dẫn Việc thu hút vốn ĐTNN vừa tạo thuận lợinhưng sẽ tăng mức độ cạnh tranh đối với các doanh nghiệp nói chung và cácDNN&V nói riêng Một giải pháp là phải phát triển các DNN&V thông qua
tự do hóa việc thành lập doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế nhằm huyđộng mọi nguồn vốn nhàn rỗi.Chính điều này đã tạo ra nguồn vốn đối ứngtrong nước khi thu hút vốn đầu tư nước ngoài Đây chính là cơ hội choDNN&V phát triển
3.2.2 Môi trường pháp lý và các chính sách vĩ mô.
Khu vực DNN&V là khu vực rất phát triển ở hầu hết các nước trên thếgiới Các nước đó đều có chính sách riêng, khuôn khổ luật pháp riêng và rõràng cho DNN&V, có cơ quan Nhà nước chuyên soạn thảo chính sách đối vớiDNN&V Trong những năm qua, thông qua các tổ chức quốc tế, các cơ quanquản lý Nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp củaViệt nam đã có nhiều dịp tiếp cận, học hỏi kinh nghiệm phát triển DNN&Vvới các nước trong khu vực, trao đổi về nhu cầu hợp tác, đào tạo cán bộ, cũngnhư các kỹ năng tư vấn hỗ trợ DNN&V Tuy nhiên, hiện tại Việt Nam chưa
có khung khổ chính sách thích hợp cho loại hình DNN&V Một số cơ quanquản lý, cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp, một số địa phương đã tự ban hành tiêuchí để xác định DNN&V tùy theo mục đích hoạt động của các tổ chức và cơquan đó Đến nay Chính phủ mới ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP, địnhnghĩa về DNN&V làm cơ sở cho việc phân loại, nghiên cứu và đề xuất cơ chế
Trang 18chính sách đối với khu vực này Về môi trường pháp lý và các chính sách vĩ
mô liên quan đến DNN&V hiện nay, có một số hạn chế chủ yếu sau đây:
- Chính sách ưu đãi đầu tư: Nhà nước đã ban hành Luật khuyến khích đầu tư
trong nước, trong đó có các lĩnh vực, vùng ưu tiên cho các nhà đầu tư Chínhsách ưu đãi đầu tư thể hiện thông qua việc miễn, giảm thuế VAT, thuế thunhập doanh nghiệp, các ưu đãi về tín dụng cho các doanh nghiệp
Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ, các DNNQDchưa tiếp cận được với các chính sách ưu đãi đầu tư do nhiều nguyên nhânkhác nhau Vẫn còn tình trạng phân biệt đối xử giữa DNNN và DNNQDtrong cả văn bản luật và các chính sách của Nhà nước, mặc dù quan điểm củaĐảng và Nhà nước là đảm bảo sự phát triển bình đẳng, tạo môi trường kinhdoanh bình đẳng cho các thành phần kinh tế
- Về chính sách đất đai: Nhiều DNN&V thiếu mặt bằng sản xuất, nhất là ở
các tỉnh và các trung tâm công nghiệp Hiện này ở Việt Nam còn thiếu quyhoạch các khu công nghiệp tập trung dành riêng cho DNN&V và chưa cóchính sách cụ thể và rõ ràng về đất đai cho hoạt động sản xuất của cácDNN&V
- Về chính sách công nghệ: Các DNN&V gặp phải những khó khăn liên quan
đến thông tin như: Không hiểu biết kỹ đối tác, nhất là đối tác nước ngoài;không biết xuất xứ của công nghệ của nước ngoài cũng như các thông tin đểđánh giá sự phù hợp của công nghệ đối với doanh nghiệp Bên cạnh đó chấtlượng nguồn nhân lực nói chung và kỹ năng của người lao động nói riêngcũng là yếu tố quan trọng để có thể tiếp thu được công nghệ chuyển giao.Chính sách của Việt Nam hiện nay mới chỉ dừng lại ở những phương hướng,chưa có chính sách, chương trình thật cụ thể cho việc chuyển giao công nghệ
từ nước ngoài nhiều khi không có lợi cho doanh nghiệp mà còn gây thiệt hạicho các doanh nghiệp Việt Nam Mối liên hệ giữa doanh nghiệp lớn và
Trang 19DNN&V cũng như giữa các DNN&V với nhau trong chuyển giao công nghệcòn yếu Ngoài ra, các chính sách vĩ mô về công nghệ vẫn còn mâu thuẫn vớinhau Thí dụ, Nhà nước luôn khẳng định khuyến khích các DN đối mới côngnghệ, nhưng chế độ khấu hao tài sản đối với các doanh nghiệp lại không phùhợp Các chính sách thuế, ưu đãi về vốn cũng chưa thực sự khuyến khích việcnghiên cứu và triển khai áp dụng công nghệ mới và chuyến giao công nghệ.
- Chính sách lãi suất và tín dụng của các ngân hàng: cùng với chính sách
đất đai và chính sách công nghệ, chính sách tài chính tín dụng là một chínhsách quan trọng đối với sự phát triển của các DNN&V Trong tổng dư nợ tíndụng của các ngân hàng, tỷ lệ dành cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
đã có chiều hướng tăng lên xong chưa tương xứng với số lượng doanh nghiệpngoài quốc doanh cũng như đóng góp của các doanh nghiệp này trong nềnkinh tế Hiện nay các thủ tục vay tín dụng của các ngân hàng nhìn chung cònquá phức tạp Việc thiếu các quy định về đăng ký tài sản cá nhân là một trongnhững nguyên nhân gây khó khăn trong việc thế chấp, cầm cố khi vay mượn.Ngoài ra các thủ tục thế chấp này vẫn có nhiều điểm chưa hợp lý như quyđịnh về công chứng, đánh giá tài sản,…
Một thực tế đó là các ngân hàng thương mại không muốn cho cácDNN&V vay vì khối lượng vốn vay nhỏ, độ tin cậy thấp, các ngân hàngkhông đủ cán bộ để quản lý các khoản cho vay nhỏ này Ngoài ra, cácDNN&V lại thường gặp khó khăn trong việc thế chấp tài sản, năng lực lập dự
án để vay vốn… do vậy, đa số các DNN&V thường phải huy động vốn trongkhu vực tài chính phi chính thức với lãi suất cao, gây bất lợi cho hoạt độngsản xuất kinh doanh
4 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN DNN&V Ở VIỆT NAM.
Trang 204.1 Sự phát triển về số lượng các DNN&V ở Việt Nam.
Các DNN&V ở Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển gắn bóvới quá trình đổi mới nền kinh tế Trong mô hình kinh tế cũ, các DNN&V chủyếu là các xí nghiệp quốc doanh, các hợp tác xã và các cơ sở kinh doanh cáthể Với việc phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thịtrường, từ năm 1989 các DNN&V có bước khởi sắc Với Luật công ty và LuậtDoanh nghiệp tư nhân( 1990) cùng với việc thừa nhận sở hữu tư nhân trongHiến pháp 1992 và việc ban hành các luật như: Luật khuyến khích đầu tưtrong nước (1994), Luật Doanh nghiệp nhà nước (1995), Luật Hợp tác xã(1996), các DNN&V khu vực kinh tế NQD phát triển mạnh
Sau một thời gian phát triển, khu vực DNN&V đã có sự phát triển đáng
kể về mặt số lượng và tỷ trọng của khu vực này so với toàn bộ khu vực doanhnghiệp trong cả nước Theo tiêu chí phân loại dựa vào tổng giá trị vốn, trongtổng số 23.708 doanh nghiệp trong cuộc Tổng điều tra các cơ sở kinh tế, hànhchính sự nghiệp trên phạm vi cả nước tại thời điểm ngày 1-7-1995, có tới20.856 DN là các DNN&V, chiếm tỷ lệ 88%
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 1999 số lượng DN cóvốn dưới 5 tỷ đồng là 43.772 DN, chiếm 91% tổng số các DN (48.133 DN),trong đó DNNN quy mô nhỏ và vừa là 3.672 DN, chiếm 64,2%( trong tổng số5.718 DNNN), DNN&V NQD là 40.100 DN, chiếm 94,5% trong tổng sốDNNQD Tổng số vốn ĐKKD của khu vực DNN&V khoảng 50.000 tỷ đồng,bằng 30% tổng vốn kinh doanh của toàn bộ khu vực DNNN
Tuy nhiên, các DNN&V thực sự phát triển mạnh cả về số lượng vàlượng vốn đầu tư, thu hút lao động từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệulực( ngày 01-01-2000) Trong năm 2000, có trên 14.457 doanh nghiệp ĐKKDthành lập mới, gấp khoảng 2,5 lần so với số lượng năm 1999, con số này củanăm 2001 đã là 19.800 DN, năm 2005 đã lên tới 45.162 DN Số lượng và vốn
Trang 21ĐKKD của các doanh nghiệp trong giai đoạn 2000- 2007 được thể hiện ởbảng sau.
Bảng 1 3 : Số lượng doanh nghiệp ĐKKD giai đoạn 2000 – 2007.
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tổng cục Thống kê 2007.
Như vậy, sau 8 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp, số lượng doanhnghiệp nói chung và DNN&V nói riêng tăng lên gấp nhiều lần so với trướcđây Năm 2007 số doanh nghiệp đăng ký mới tăng hơn 4 lần so với năm 2000.Đáng chú ý hơn là trong số các doanh nghiệp đăng ký mới thì chủ yếu là cácDNN&V( chiếm khoảng trên 90%)
4.2 Sự phát triển của DNN&V phân theo nguồn vốn, lao động và ngành nghề kinh doanh.
Theo số liệu điều tra doanh nghiệp giai đoạn 2000 – 2006 của Tổng cụcThống kê, số DNN&V theo quy mô vốn và lao động được thể hiện như Bảng
4 và bảng 5 dưới đây Trong đó, riêng năm 2006, có 114.340 doanh nghiệp có
số vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 87,1% tổng số doanh nghiệp, có 127.600doanh nghiệp chiếm 97,2% tổng số doanh nghiệp cả nước
Năm
Số lượngDoanh nghiệp( Doanh nghiệp)
Vốn đăng ký( tỷ đồng)
Vốn trung bình
1 doanh nghiệp,(triệu đồng)
Trang 22Bảng 1 4 : Số lượng và tỷ lệ doanh nghiệp phân theo quy mô
nguồn vốn giai đoạn 2000 – 2006.
Đơn vị: Doanh nghiệp.
Số lượng doanh nghiệp sản xuất, theo quy mô nguồn vốn
(tính tới thời điểm cuổi năm)
54.21 6
61.97 7
79.42 0
98.23 2
114.34 0
Trang 2329% vào năm 2006 Điều này chứng tỏ rằng một bộ phận các DNN&V lớnhơn đang hình thành.
Dựa vào tiêu chí về quy mô lao động, chúng ta cũng thấy một bức tranhtương tự về DNN&V Tỷ trọng DNN&V sử dụng dưới 5 lao động đã giảm (từ24% xuống còn 12,8% trong giai đoạn 2000 - 2006), trong khi đó tỷ trọng cácDNN&V sử dụng trong khoảng 5-9 lao động ngày càng tăng (từ 26% đến44%)
Tuy nhiên, tỷ lệ các DNN&V ở các nhóm có số lao động lớn hơn cũng giảm đi: Các nhóm từ 10-49 người vẫn ổn định; nhóm có số lao động từ 50-
299 người giảm từ 16% xuống còn 10% Điều này chỉ ra rằng trong khi Việt Nam đã rất thành công trong việc gia tăng số lượng các DNN&V thì vẫn còn hạn chế về quy mô của các doanh nghiệp
Trang 24Bảng 1 5 : Số lượng và tỉ lệ doanh nghiệp phân theo quy mô
lao động giai đoạn 2000-2006.
Đơn vị: Doanh nghiệp
Số lượng các DN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, theo quy mô lao động
( tính tới thời điểm cuối năm)
Trang 25của khu vực DNN&V theo thời gian.
Bảng 1 6: Số lượng và tỷ lệ doanh nghiệp phân loại theo ngành nghề
kinh doanh giai đoạn 2000 – 2006
Số lượng doanh nghiệp, phân loại theo ngành nghề kinh doanh
( tính tới thời điểm cuối năm)
Đơn vị: Doanh nghiệp
Nguồn: Tổng cục Thống kê - Thực trạng doanh nghiệp
qua kết quả điều tra năm 2001- 2007.
Qua các số liệu ta thấy, tỷ trọng các DNN&V trong lĩnh vực nông
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đã giảm chút ít so với các ngành dịch vụ Sự
thay đổi mạnh mẽ nhất chính là tỷ trọng của mục “khác”, đã tăng từ 6,7% đến
13,4% giai đoạn 2000 - 2006, cho thấy các DNN&V đang chuyển dịch sang
các lĩnh vực kinh doanh đa dạng hơn, bao gồm các khu vực có tốc độ tăng
Trang 26trưởng cao như dịch vụ tài chính, phần mềm và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanhkhác.
5 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DNN&V Ở MỘT SỐ TỈNH.
5.1 Chính sách phát triển DNN&V ở tỉnh Đồng Nai:
Trong những năm qua, nhờ có chính sách khuyến khích và hỗ trợ pháttriển DNN&V của nhà nước ban hành, nhất là sau khi luật Doanh nghiệp cóhiệu lực từ năm 2000, số lượng các DNN&V ở nước ta nói chung và tỉnhĐồng Nai nói riêng đã phát triển rất nhanh Phần lớn các doanh nghiệp khuvực kinh tế dân doanh tỉnh Đồng Nai được thành lập trong thời gian qua làcác DNN&V Theo số liệu của Cục Thống kê Đồng Nai, đến cuối năm 2005,Tỉnh Đồng Nai có 8.739 doanh nghiệp công nghiệp dân doanh, tăng 18% sovới năm 2000; trong đó có 9 hợp HTX, tăng 3 HTX so với năm 2000; 350Công ty TNHH và Công ty CP, tăng 4,5 lần so với năm 2000; và 8.100 hộkinh doanh cá thể, tăng 15% so với năm 2000
Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực công nghiệp dândoanh toàn tỉnh đạt trên 5.894 tỷ đồng, tăng 123,9 % so với cùng kỳ nămtrước Trong đó, doanh nghiệp tư nhân thực hiện được 950 tỷ đồng, chiếm tỷtrọng 18,1%, tăng 10,2% so với cùng kỳ.HTX có giá trị sản xuất công nghiệpthực hiện được hơn 18 tỷ đồng, tăng 0,8% so cùng kỳ Các hộ sản xuất cá thểthực hiện được 769 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 10,6%, tăng 51,9% so với cùng
kỳ Các doanh nghiệp hỗn hợp (Công ty CP) còn lại có giá trị sản xuất côngnghiệp thực hiện được 4.155 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 70,8%, tăng 23,3% sovới cùng kỳ năm trước Nhìn chung, khu vực công nghiệp dân doanh là khuvực có mức tăng trưởng cao nhất so với các khu vực khác trong ngành côngnghiệp trên địa bàn
Trang 27Để đạt được những thành quả như trên, trong thời gian qua tỉnh ĐồngNai đã có nhiều biện pháp nhằm hỗ trợ cho các DNN&V của tỉnh, và đâycũng là kinh nghiệm cho việc phát triển DNN&V ở Phú Thọ
Các biện pháp nhằm phát triển DNN&V của tỉnh Đồng Nai được thể hiện ởcác nội dung sau:
Thành lập các trung tâm hỗ trợ DNN&V:
Nhận thức được vai trò quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tỉnh Đồng Nai đã tích cực triển khaichính sách hỗ trợ phát triển DNN&V của Chính phủ Tại Đồng Nai hiện đãthành lập 2 Trung tâm thực hiện hỗ trợ DNN&V đó là Trung tâm hỗ trợ pháttriển DNN&V Đồng Nai (SMEDAC) và Trung tâm khuyến công Đồng Nai.Các trung tâm này có chức năng tư vấn hỗ trợ nhằm giải quyết những khókhăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DNN&V
- Tư vấn cho doanh nghiệp tìm hiểu, giải thích về các chính sách, pháp luật,các văn bản pháp luật về thuế, … có liên quan đến doanh nghiệp
- Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp như:
+ Lập dự án đầu tư và phương án vay vốn của các tổ chức tín dụng
+ Lập hồ sơ xin cấp phép xây dựng, hướng dẫn ghi sổ sách kế toán và lập báocáo tài chính
- Đào tạo và tập huấn kiến thức quản lý cho doanh nghiệp
- Đại diện cho doanh nghiệp và bảo vệ lợi ích hợp pháp cho doanh nghiệptrong quan hệ với các cơ quan nhà nước và cơ quan pháp luật
- Cung cấp thông tin thị trường, tổ chức triển lãm hội trợ và giới thiệu sảnphẩm giúp cho các doanh nghiệp tìm kiếm được các thị trường và đối tác kinhdoanh mới
Đưa ra các chính sách hỗ trợ DNN&V.
Trang 28- Chính sách đầu tư: Đồng Nai đã thực hiện khá tốt các biện pháp khuyến
khích đầu tư, như giảm thuế, cho vay tín dụng, đơn giản hóa các thủ tục để rútngắn thời gian đăng ký xuống còn 3 - 5 ngày (trong luật định là 15 ngày).Tỉnh chỉ đạo các sở, ban ngành liên quan tăng cường phối hợp trong việc giúp
đỡ hỗ trợ các doanh nghiệp, như việc xây dựng phương án đầu tư, tổ chức gặp
gỡ các doanh nghiệp (một năm ít nhất 2 lần), ban hành quy chế và tiêu chuẩnkhen thưởng cho doanh nghiệp Nhìn chung môi trường pháp lý đã thôngthoáng hơn rất nhiều để khuyến khích đầu tư
- Chính sách đất đai: Tỉnh đã thực hiện công tác quy hoạch tổng thể về các
DNN&V và có nhiều biện pháp cụ thể hỗ trợ DNN&V về đất đai, mặt bằngsản xuất, hình thành 4 loại KCN và các CCN tập trung với các chính sáchkhác nhau để vừa tăng cường thu hút đầu tư, tạo cơ hội cho các DN có điềukiện đầu tư phát triển
- Chính sách đào tạo nhân lực: Năm 2007 tỷ lệ chi cho giáo dục, y tế, văn
hóa, xã hội chiếm 37% tổng chi ngân sách toàn tỉnh, đạt khoảng 360 tỷ VNĐ
Từ tháng 11/2000 tỉnh đã thành lập Trung tâm hỗ trợ đầu tư và phát triểnDNN&V, hiện đang hoạt động khá hiệu quả Điều này đã giải quyết nhữngkhó khăn về tuyển dụng lao động cho các DNN&V của tỉnh
- Chính sách thuế: Tỉnh thực hiện hỗ trợ DNN&V trên cả hai mặt: Thực hiện
đúng, kịp thời những quy định chung về ưu đãi thuế và các biện pháp hỗ trợ
cụ thể đối với các DN Thí dụ, trong hai năm 2005 và 2006, tỉnh đã xét giảmthuế GTGT và miễn thuế thu nhập cho trên 135 doanh nghiệp, thực hiện giảm50% thuế suất GTGT cho hoạt động xây dựng nhà ở và cơ sở hạ tầng để bánhoặc cho thuê, giảm trừ từ 10% xuống còn 5% thuế GTGT cho nhiều mặthàng và dịch vụ, thực hiện ưu đãi thuế cho doanh nghiệp sử dụng nhiều laođộng, đồng thời thực hiện chính sách miễn giảm thuế TNDN cho nhữngdoanh nghiệp mới đầu tư theo quy định hiện hành…
Trang 29- Chính sách vốn, tín dụng: Giảm bớt các thủ tục phiền hà không cần thiết để
tạo điều kiện cho DNN&V tiếp cận với Ngân hàng, thành lập Chi nhánh Quỹ
hỗ trợ phát triển và Quỹ hỗ trợ đầu tư của tỉnh để cho vay trung và dài hạncho một số dự án đầu tư
5.2 Chính sách phát triển DNN&V của tỉnh Bình Dương.
Bình Dương là một tỉnh miền Đông Nam Bộ, có tốc độ tăng trưởngGDP vào loại bậc nhất của cả nước, bình quân giai đoạn 1991 ÷ 1995 là17,5% và giai đoạn 1996 ÷ 2000 đạt 13,5% Cơ cấu kinh tế chuyển dịchnhanh theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Nếu đến năm 1985 cơ cấugiá trị NLN là 66%; CN-XD là 9% và DV là 25% thì đến năm 2002 tỷ trọngtương ứng là 12,5% - 62,5% - 25%
Hiện nay, số DNN&V chiếm tỷ trọng >98% tổng số doanh nghiệp củatỉnh Trong đó, DNN&V trong khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng lớn Cơcấu ngành nghề của DNN&V ở Bình Dương khá phong phú Một điểm nổibật ở Bình Dương là các DNN&V không khó khăn lắm trong việc vay vốn vàcho vay vốn Do đó một số DNN&V nhờ có nguồn vốn vay mở rộng SXKD
đã trở thành DN lớn, hoặc đầu tư đổi mới công nghệ
Trong những năm qua, Bình Dương đã có nhiều chính sách nhằm pháthuy nội lực, thu hút ngoại lực, đã tạo được môi trường đầu tư thông thoángcho các DN thuộc mọi thành phần kinh tế Đặc biệt, tạo sự yên tâm đầu tư chocác chủ DNN&V Từ những quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế nhiềuthành phần của tỉnh, các sở, ban ngành đã cụ thể hóa nội dung quản lý củamình để hỗ trợ phát triển của DNN&V cụ thể:
- Tăng cường các biện pháp trong chính sách đất đai nhằm tạo cho các
DNN&V có điều kiện thuận lợi để ổn định và mở rộng mặt bằng SXKD, đồngthời có đủ giấy tờ hợp pháp về đất đai để làm các thủ tục thế chấp Đến cuối
Trang 30năm 2000, đã hoàn thành 90% thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và cấp 77% đến tay người dân Thực hiện chủ trương ''đổi đất lấy kết cấu hạtầng'', vừa thu hút được vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, vừa sử dụng đất
có hiệu quả Đối với các DN ở tỉnh khác đến thuê đất, hoặc đổi đất để xâydựng kết cấu hạ tầng thi tỉnh khuyến khích, không phân biệt đối xử
- Hỗ trợ về kỹ thuật công nghệ theo hướng khuyến khích các DNN&V chútrọng đổi mới công nghệ thông qua các nguồn vốn với lãi suất ưu đãi, tạo điềukiện và tài trợ một phần vốn để các DNN&V đủ điều kiện triển khai chươngtrình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO; phổ biến và hỗ trợ thông tin,đặc biệt là hình thành các đầu mối cung cấp thông tin ổn định, phát huy vaitrò của các hiệp hội, chi hội nghề nghiệp… Ngoài ra, tỉnh Bình Dương cònrất quan tâm tới các chính sách: Thương mại, tài chính tín dụng, hỗ trợ đàotạo nguồn lực với các biện pháp khá cụ thể để phát triển DNN&V
Trang 31CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DNN&V TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2001- 2008.
1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TỈNH PHÚ THỌ:
1.1 Đặc điểm tự nhiên, vị trí địa lý.
1.1.1 Vị trí địa lý:
Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trongkhu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc (vịtrí địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây – Đông - Bắc) Phía Đônggiáp Hà Tây, phía Đông Bắc giáp Vĩnh Phúc, phía Tây giáp Sơn La, phía TâyBắc giáp Yên Bái, phía Nam giáp Hoà Bình, phía Bắc giáp Tuyên Quang Với
vị trí “ngã ba sông” cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ cách HàNội 80 km, cách sân bay Nội Bài 60 km, cách cửa khẩu Lào Cai, cửa khẩuThanh Thuỷ hơn 200 km, cách Hải Phòng 170 km và cảng Cái Lân 200 km
Phú Thọ nằm ở trung tâm các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt
và đường sông từ các tỉnh thuộc Tây - Đông - Bắc đi Hà Nội, Hải Phòng vàcác nơi khác Là cầu nối giao lưu kinh tế - văn hoá - khoa học kỹ thuật giữacác tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi Tây Bắc
Quốc lộ 2 qua Phú Thọ đi Tuyên Quang, Hà Giang sang Vân Nam(Trung Quốc), quốc lộ 70 đi Yên Bái, Lào Cai sang Vân Nam (Trung Quốc),quốc lộ 32 qua Phú Thọ đi Yên Bái, Sơn La, cùng với các tỉnh bạn trong cảnước và quốc tế
Diện tích tự nhiên 3.528,4 km2, trong đó: Diện tích đất nông, lâmnghiệp, thủy sản 271.923 ha (Trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp 100.080 ha,đất lâm nghiệp 167.425; đất nuôi trồng thủy sản 4.372 ha); đất ở, chuyêndùng 51.085 ha; đất chưa sử dụng 29.798 Dân số trung bình năm 2007 trên
Trang 321.350,6 nghìn người Lao động trong độ tuổi 795,8 nghìn người ( chiếm58.92% dân số)
Phú Thọ có 13 huyện, thành, thị gồm 01 thành phố (thành phố ViệtTrì), 01 thị xã (thị xã Phú Thọ) và 11 huyện: Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập,Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Hạ Hoà, Thanh Ba, Đoan Hùng, LâmThao, Phù Ninh Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoácủa tỉnh; có 274 xã, phường, thị trấn; trong đó 10 huyện và 214 xã là miền núi(43 xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ)
1.1.2 Khí hậu:
Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một mùa đônglạnh Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C, lượng mưa trung bình trong nămkhoảng 1.600 đến 1.800 mm Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn,khoảng 85 – 87% Nhìn chung khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc pháttriển cây trồng, vật nuôi đa dạng
1.1.3 Đặc điểm địa hình:
Phú Thọ là tỉnh miền núi, trung du nên địa hình bị chia cắt, được chiathành tiểu vùng chủ yếu Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam của PhúThọ, tuy gặp một số khó khăn về việc đi lại, giao lưu song ở vùng này lại cónhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triểnkinh tế trang trại Tiểu vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồngruộng và dải đồng bằng ven sông Hồng, hữu Lô, tả Đáy Vùng này thuận lợicho việc trồng các loại cây công nghiệp, phát triển cây lương thực và chănnuôi
1.2 Tình hình KT – XH của tỉnh:
1.2.1 Về tăng trưởng kinh tế:
Sau giai đoạn bị tác động của khủng hoảng tài chính khu vực, tốc độ
tăng GDP của Phú Thọ giảm từ 9,6% năm 1997 xuống còn 6,79% năm 1998;
Trang 33sau đó lấy lại được đà tăng trưởng cao trong những năm tiếp theo Giai đoạn1997- 2000 tăng 8,16%/năm, giai đoạn 2001- 2005 tăng 9,79%/năm; năm
2006 tăng 10,7%, năm 2007 tăng 10,84% và năm 2008 là 10,7%
Bảng 2 1: kết quả tăng trưởng kinh tế (GDP) của Phú Thọ
giai đoạn 1997-2008
GDP giá 1994 (Tỷ đồng) 2 237 2 794 4 457 5 469
Nguồn số liệu: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ, năm 2007
Biểu đồ 2 1 : Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1997- 2008.
Trang 34đối tăng thêm không nhiều, GDP bình quân đầu người năm 1997 chỉ có 2,29triệu đồng/người (176,3 USD), tăng lên 2,98 triệu đồng/người (214 USD)năm 2000, 5,23 triệu đồng/người (tương đương 332 USD) năm 2005 và 6,8triệu đồng/năm (tương đương 425 USD) năm 2007 Như vậy, GDP bình quânđầu người ở Phú Thọ chỉ bằng khoảng 52% GDP bình quân chung cả nước.
1.2.2 Về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế:
Cùng với tốc độ tăng cao của GDP, cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh PhúThọ cũng đã có sự thay đổi Từ năm 1997 đến năm 2008, tỷ trọng của khuvực NLN đã giảm từ 33,1% xuống 26%, nhường chỗ cho sự tăng lên về tỷtrọng của khu vực CN - XD từ 33,2% lên 38.7% Còn khu vực DV thay đổikhông đáng kể từ 33,7% năm 1997 lên 35.3% năm 2008
Qua số liệu về cơ cấu ngành kinh tế của Phú Thọ giai đoạn 1997 –
2008, cho thấy cơ cấu ngành kinh tế của Phú Thọ có xu hướng chuyển dịch từNLN sang CN và DV Tuy nhiên quá trình dịch chuyển này còn diễn ra rấtchậm
Bảng 2 2: Cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 1997 - 2008
(theo giá hiện hành)
Nguồn số liệu: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ, năm 2007
Biểu đồ 2 2: Cơ cấu ngành kinh tế năm 1997 và năm 2008
Trang 351.2.3 Về chuyển dịch cơ cấu lao động:
Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh Phú Thọ được thể hiện như ởbảng 2.3 sau đây
Bảng 2 3: Tình hình chuyển dịch cơ cấu lao động
Nguồn số liệu: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ năm 2007
Qua số liệu trên ta thấy, từ năm 1997 đến năm 2007 tỷ trọng lao độngtrong ngành NLN giảm từ 80.49% xuống 68,2%; ngành CN - XD tăng từ10.64% lên 17,2%; ngành DV tăng từ 8,87% lên 14,6%
Trang 36Năm 2007, trong số 679.700 lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế,
có khoảng 463.555 người làm việc trong ngành NLN( chiếm 62,8%); 116.908người làm việc trong ngành CN - XD( chiếm 17,2%); 99.236 người làm trongngành DV ( chiếm 14,6%)
Cơ cấu lao động của tỉnh đã có sự chuyển dịch tích cực theo đúng xuthế Đó là tăng tỷ trọng lao động làm việc trong các ngành CN và DV, giảm tỷtrọng lao động làm việc trong ngành NN Tuy nhiên, tốc độ tăng tỷ trọng laođộng CN, DV và giảm lao động trong NLN vẫn còn diễn ra rất chậm
1.2.4 Về đầu tư phát triển:
Bảng 2 4: Vốn đầu tư phát triển giai đoạn 1997 – 2008
+ Đầu tư qua Bộ, ngành,
2 Đầu tư của dân cư và tư nhân 67,4 343,9 1.258 1.675 1.900
3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nguồn số liệu: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ
Xác định thu hút đầu tư phát triển là điều kiện quan trọng để khai tháctiềm năng, thế mạnh phát triển sản xuất, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, do đó giai đoạn 1997 - 2008 Phú Thọ đã huyđộng được 34.672 tỷ đồng, bình quân 2.889 tỷ đồng/năm Riêng năm 2008huy động được 5.908 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước là3.078 tỷ đồng chiếm 52,1%, vốn đầu tư của dân cư, tư nhân là 1.900 tỷ đồng
Trang 37chiếm 32,16 % và còn lại là vốn FDI chiếm 15,74% Vốn đầu tư từ ngân sáchnhà nước tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng để thu hút các dự án khác phát triểnsản xuất.
Trang 382 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DNN&V Ở TỈNH PHÚ THỌ:
2.1 Quá trình hình thành và sự phát triển về số lượng của các DNN&V.
Các DNN&V ở Phú Thọ ra đời kể từ khi có Luật Doanh nghiệp và chủtrương cổ phần hoá các DNNN Từ khi luật Doanh nghiệp có hiệu lực, thủ tụcđăng ký kinh doanh được đơn giản hoá nhiều giấy phép không cần thiết đượcbãi bỏ, số lượng DNN&V của cả nước nói chung và của tỉnh Phú Thọ nóiriêng tăng lên nhanh chóng Đến hết năm 2008 cả tỉnh có khoảng 2240 DN.Trong đó có 1958 DN được cấp phép thành lập trong giai đoạn 2001 – 2008với tổng số vốn gần 10.000 tỷ đồng Trong số 1958 DN này, DNN&V chiếm
tỷ trọng khoảng 94% tương đương với 1839 DN Tình hình thành lập cácDNN&V ở tỉnh Phú Thọ được thể hiện như ở bảng 2.5
Bảng 2 5: Số lượng DN ĐKKD giai đoạn 2001 – 2008.
Đơn vị: Doanh nghiệp.
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Phú Thọ.
Năm
Tổng sốDoanhnghiệp
Tổng sốDNN&V
Trang 39Biểu đồ 2 3: Số lượng DN thành lập giai đoạn 2001 – 2008.
Quan sát số liệu ở bảng 2.5, ta thấy số lượng DNN&V thành lập mớiliên tục tăng trong giai đoạn 2001 – 2008 Năm 2000, cả tỉnh có chưa đến 400DNN&V, trong khi đó số DNN&V thành lập mới trong 3 năm 2001-2003 đãlớn hơn 400 doanh nghiệp Năm 2008, số lượng DNN&V thành lập đã lên tới
391 doanh nghiệp đưa tổng số DNN&V của tỉnh lên 2017 DNN&V
2.2 Tình hình giải thể, phá sản và chuyển đổi hình thức sở hữu của các DNN&V Phú Thọ trong giai đoạn 2001 – 2008:
Cùng với quá trình hình thành nhanh chóng của các DNN&V trên địabàn, trong giai đoạn 2001 – 2008, toàn tỉnh cũng có hàng trăm DN giải thể,phá sản hoặc thay đổi hình thức sở hữu Hầu hết đây là các DN hoạt độngkhông hiệu quả và có khả năng cạnh tranh kém
Số lượng các DNN&V giải thể, phá sản hoặc chuyển đổi hình thức sở hữutrong giai đoạn 2001 – 2008 của tỉnh Phú Thọ được thể hiện ở bảng dưới đây
Trang 40Bảng 2 6: Số lượng DNN&V giải thể, phá sản, chuyển đổi hình thức sở
hữu giai đoạn 2001 – 2008
Đơn vị: Doanh nghiệp
Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư Phú Thọ.
Như vậy, trong giai đoạn 2001 – 2008 có 1839 DNN&V thành lập mới,nhưng cũng có 109 DNN&V giải thể, phá sản hoặc thay đổi hình thức sở hữu.Trong đó phần lớn là các DNTN và DNNN
Điều này cho thấy với sự ra đời của Luật DN và quá trình mở cửa, có rất nhiều doanh nghiệp mới ra đời nhưng không phải DN nào cũng hoạt động hiệu quả Vì vậy, tỉnh Phú Thọ cần có những chính sách để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho các DN này
2.3 Sự phát triển DNN&V theo loại hình doanh nghiệp.
Theo luật Doanh nghiệp, các doanh nhân có thể chọn 1 trong các loạihình doanh nghiệp sau để hoạt động Đó là DNTN, công ty TNHH, công tyhợp danh và công ty CP Trong đó công ty hợp danh ít xuất hiện nhất
Về cơ cấu loại hình doanh nghiệp của các DNN&V đã có sự chuyểnđổi đáng kể giữa các loại hình theo hướng các loại hình đa sở hữu có khảnăng liên kết, thu hút vốn như công ty CP, công ty TNHH tăng mạnh, trongkhi đó loại hình DNTN có xu hướng giảm Điều này được thể hiện rõ khi sosánh tỷ trọng giữa các loại hình doanh nghiệp trước năm 2000 và giai đoạn