1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tình hình phát triển và đầu tư của công ty dệt may Hà nội-Hanoisimex

61 604 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Phát Triển Và Đầu Tư Của Công Ty Dệt May Hà Nội-Hanosimex
Tác giả Phạm Nguyệt Minh
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Bạch Nguyệt
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Đồ Án Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 499 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là ngành cung cấp hàng tiêu dùng thiết yếu cho xã hội và có khả năng thu hút, tạo việc làm cho nhiều lao động, đặc biệt là lao động nữ. Những năm qua được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngành Dệt may Việt Nam đã phát triển rất nhanh chóng, trong đó phải kể đến sự phát triển của Công ty Dệt may Hà nội- Hanosimex- con chim đầu đàn về xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Những năm trở lại đây, khoa học công nghệ không ngừng phát triển vàngày càng được ứng dụng rộng rãi trong đời sống, sản xuất hàng hoáphát triển với quy mô rộng lớn, nó không chỉ giới hạn trong phạm vi mộtquốc gia mà còn mở rộng trên phạm vi toàn thế giới Điều này làm cho cácdoanh nghiệp cạnh tranh với nhau ngày càng dữ dội hơn để nhằm mục tiêutiêu thụ sản phẩm càng nhiều càng tốt

Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng trongnền kinh tế quốc dân, là ngành cung cấp hàng tiêu dùng thiết yếu cho xã hội

và có khả năng thu hút, tạo việc làm cho nhiều lao động, đặc biệt là lao động nữ

Những năm qua được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngành Dệtmay Việt Nam đã phát triển rất nhanh chóng, trong đó phải kể đến sự pháttriển của Công ty Dệt may Hà nội- Hanosimex- con chim đầu đàn về xuấtkhẩu của hàng dệt may Việt Nam

Tìm hiểu tình hình đầu tư của công ty là một cách tốt nhất để trả lời câuhỏi: Tại sao Hanosimex lại đạt được những thành tựu đáng ca ngợi như vậytrong thời điểm mà có vô số các doanh nghiệp dệt may khác đang nỗ lực hếtmình để cạnh tranh trên thị trường nội địa và quốc tế

Trong thời gian thực tập tại phòng Kĩ thuật đầu tư, tận mắt được chứngkiến quá trình làm việc của các cô chú tại phòng cùng việc tiếp cận các số liệu

đã giúp em hiểu sâu hơn về tình hình đầu tư tại công ty

Chuyên đề của em được hoàn thành với sự giúp đỡ của PGS.TS.Nguyễn Bạch Nguyệt và các cô chú tại một số phòng ban của công ty dệt may

Hà nội

Em xin chân thành cảm ơn !

Trang 2

CHƯƠNG I - THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TẠI

CÔNG TY DỆT MAY HÀ NỘI.

I Sự cần thiết phải tăng cường đầu tư phát triển tại công ty:

1 Khái quát một số nét hoạt động của công ty:

Công ty Dệt may Hà nội là doanh nghiệp nhà nước chuyên sản xuất vàkinh doanh xuất nhập khẩu sản phẩm may mặc, được xây dựng từ những năm

1979 với sự giúp đỡ của hãng UNIONMEX (Cộng hoà Liên bang Đức)

Trải qua gần 30 năm xây dựng và phát triển công ty đã có những đónggóp không nhỏ cho ngành công nghiệp dệt may nước nhà

Hiện nay công ty đã có 11 thành viên, trong đó có 2 nhà máy sợi, 3 nhàmáy dệt nhuộm, 6 nhà máy may với tổng diện tích mặt bằng lên tới 24ha

Công ty được trang bị toàn bộ thiết bị của Italia, Cộng hoà Liên bangĐức, Bỉ, Hàn quốc, Nhật bản

Công ty có khoảng 5400 lao động, với đội ngũ cán bộ quản lý có nănglực, cán bộ kĩ thuật chuyên sâu, giầu kinh nghiệm, và đội ngũ công nhân lànhnghề

Công ty đã có quan hệ thương mại với 50 hãng thuộc 36 quốc gia Sảnphẩm của công ty được xuất sang các nước: Mỹ, Nhật bản, Hàn quốc, Trungcận đông, Úc, Singapo, Thái lan, Đài loan, Nam phi, mới đây nhất là Clombia

và Peru Đặc biệt sau khi hiệp định thương mại Việt- Mỹ được kí kết tháng10/1999 thì thị trường Mỹ đã trở thành một thị trường tiêu thụ rộng lớn và cótiềm năng của công ty Trong số tất cả các doanh nghiệp thuộc tập đoàn dệtmay Việt nam thì kim ngạch xuất khẩu của Hanosimex là lớn nhất

Hiện nay công ty có 12 cửa hàng giới thiệu sản phẩm và gần 100 đại lý

ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước

Trang 3

Để có thể phát triển và cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thịtrường, công ty đã tiến hành xây dựng và áp dụng thành công hệ thống quản

lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001, ISO 9002 Năng lực sản xuất củacông ty đã thay đổi nhiều sau những lần thay đổi hình thức pháp lý và nhiệm

vụ sản xuất kinh doanh

Hiện nay, năng lực sản xuất của công ty như sau:

Sợi cotton, Peco, PE, OE các loại: sản lượng từ 15000 tới 17000tấn/năm

Vải dệt kim các loại: sản lượng 4000 tấn năm

Vải DENIM: sản lượng 9,5 triệu mét/năm

Mũ mềm các loại: sản lượng 6 triệu sản phẩm/năm

Quần áo jean: 1,5 triệu sản phẩm/năm

Tuy là một công ty có uy tín, hoạt động lâu năm trong ngành dệt may,sản lượng những năm gần đây không phải là nhỏ, tuy nhiên trước xu thế toàncầu hoá với những thách thức phải cạnh tranh với hàng nước ngoài, công tykhông thể không tiến hành đầu tư đổi mới máy móc kĩ thuật, công nghệ Mặtkhác, dù sản lượng của công ty hiện nay khá lớn, doanh thu cũng vì thế màngày càng gia tăng, nhưng thực tế, lợi nhuận của công ty hàng năm khoảngtrên dưới 1000 tỷ đồng như hiện nay là thấp so với tầm cỡ của “ một con chimđầu đàn của ngành dệt may Việt Nam”

2 Sự cần thiết phải tăng cường đầu tư phát triển:

Ngày 05 tháng 04 năm 2001, thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Chiếnlược tăng tốc phát triển ngành Dệt May Việt Nam giai đoạn 2000-2010 tạiquyết định số 55/QĐ- TTg tạo ra một tiền đề mới vững chắc cho sự phát triểncủa ngành công nghiệp Dệt May Việt nam

Để thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước về chiến lược tăng tốcngành Dệt May giai đoạn 2000-2010, tổng công ty Dệt may Việt nam đã cónhiều chương trình hành động trong đó chỉ đạo các doanh nghiệp phải có

Trang 4

nhiều biện pháp phát triển sản xuất đảm bảo mức tăng trưởng bình quân hàngnăm là khoảng 10%.

Cuối năm 2002, hiệp định Thương mại Việt Mỹ có hiệu lực tạo thêmmột động lực thúc đẩy mới cho sự phát triển của ngành Dệt may Việt nam.Một thị trường to lớn đầy triển vọng đã được mở ra tạo ra rất nhiều cơ hộicạnh tranh cho các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam

Nhà nước Việt nam có chủ trương hỗ trợ các doanh nghiệp trong nướcđầu tư phát triển, xây dựng và mở rộng sản xuất thông qua hàng loạt chínhsách và biện pháp thiết thực như cho vay vốn đầu tư có lãi suất thấp thông quaquỹ hỗ trợ phát triển Chính sách hỗ trợ lãi suất sau đầu tư… và các công tác

ưu đãi cho hoạt động đầu tư khác

Chính vì vậy các công ty dệt may Việt Nam hiện đang tận dụng thời cơthực hiện chiến lược tăng tốc đầu tư đổi mới thiết bị nâng cao chất lượng sảnphẩm, mở rộng đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thị trường và của xã hội

Qua hơn 20 năm sản xuất trong đó có phân nửa số thời gian hoạt độngtheo cơ chế cũ, hơn nửa thời gian kể từ năm 1990 kinh doanh trong cơ chế thịtrường Công ty Dệt may Hà nội đã trải qua nhiều thử thách nghiệt ngã để trụvững và phát triển Tuy còn nhiều khó khăn, còn nhiều vấn đề bức bách cầngiải quyết nhưng có thể nói rằng hiện nay Công ty Dệt may Hà nội là một đơn

vị sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao, luôn hoàn thành tốt mọi nghĩa

vụ đối với nhà nước, đảm bảo việc làm tương đối thường xuyên và nâng caođời sống của người lao động, làm tốt các chính sách xã hội Chính vì thế, đốivới Công ty Dệt may Hà nội, việc đầu tư đổi mới thiết bị, mở rộng sản xuất làmột xu thế phát triển tất yếu của doanh nghiệp trong tương lai, đặc biệt làtrong các lĩnh vực mà thị trường tiêu thụ đang mở rộng

2.1 Đối với sản phẩm Sợi:

a Thị trường nội địa:

Công ty là nhà cung cấp sợi lớn cho các cơ sở dệt may trong nước, đặcbiệt là các cơ sở phía Nam Trong năm 2005, nhu cầu sợi trong nước tăng lên

Trang 5

rất lớn, nhưng năng lực của công ty không đủ đáp ứng Theo thống kê củaphòng Kế hoạch - thị trường, trong năm 2005, công ty chỉ đáp ứng được 80%nhu cầu sợi của các đơn vị có yêu cầu mua sợi ở công ty Với mức độ tăngtrưởng ngành dệt may Việt Nam, đồng thời với sự ra đời của nhiều cơ sở dệtnhuộm tư nhân trong cả nước, chắc chắn trong thời gian tới nhu cầu nội địacòn tăng mạnh, ước tính tăng khoảng 200% Hơn nữa, ngoài thị trường sợitruyền thống của công ty là các cơ sở dệt Miền nam, dần dần, công ty còn mởrộng thị trường ở Miền Bắc Theo con số thống kê của phòng Kế hoạch thịtrường, nếu những năm 2000 trở về trước, hầu hết sản lượng sợi của công tycấp cho miền Nam ( khoảng 80%) thì trong năm 2004, 2005 con số này đãgiảm xuống, thị phần sợi cung cấp cho miền Bắc đã tăng đáng kể ( khoảng30%) Như vậy có thể kết luận rằng, thị trường sợi nội địa của công ty còn cóthể mở rộng được rất nhiều.

Về mặt chất lượng, thị trường sợi nội địa hiện nay của công ty có thểhoàn toàn đáp ứng được Tuy nhiên, theo một dự báo, vài năm tới đây, yêucầu chất lượng sợi cao cấp cung cấp cho thị trường này sẽ tăng mạnh mộtcách đáng kể để sản xuất các mặt hàng phục vụ yêu cầu xuất khẩu

b Thị trường quốc tế:

Trong năm 2005, sản phẩm sợi xuất khẩu của nhà máy Sợi đã chiếmmột tỷ trọng lớn nhất từ khi thành lập tới nay với mức khoảng 30% Nghiêncứu thị trường trong những năm tới đây cho thấy sợi Hanosimex không chỉdừng lại tại các nước châu Á mà sẽ tiếp tục phát triển sang châu Âu, châu Mỹ.Như vậy, một thị trường Sợi xuất khẩu còn đang tiếp tục phát triển và tháchthức các dây chuyền kéo sợi tại Công ty Dệt may Hà nội Trong năm 2004,

2005 phòng Xuất Nhập Khẩu của công ty đã giao dịch và thu hút được rấtnhiều khách hàng nước ngoài đến với sợi Hanosimex Đó là một cơ hội cótiềm năng để Công ty Dệt may Hà nội mở rộng được thị trường xuất khẩu vàthực tế xuất khẩu sợi năm 2005 đã thu được những kết quả tốt đẹp Chỉ riêngsản lượng sợi xuất khẩu của Nhà máy Sợi đạt hơn 3000tấn mang lại doanh thu

Trang 6

ngoại tệ hơn 6triệu $ cho công ty Trong giai đoạn 2006-2010, công ty dựđịnh tăng mạnh sản lượng sợi xuất khẩu cho nhà máy Sợi đạt bình quânkhoảng 4500 tấn sợi các loại/ năm.

Đối với thị trường sợi xuất khẩu, yêu cầu đặt ra về mặt chất lượng sảnphẩm hết sức khắt khe đòi hỏi sự phấn đấu nỗ lực cao về nhiều mặt củaHanosimex trong giai đoạn hiện nay Chất lượng sợi hiện nay của Hanosimexchỉ đạt đường 50% thống kê USTER STATISTIC 2001 là mức chất lượngtrung bình trên thế giới Trong khi đó, muốn tham gia thị trường xuất khẩu sơịthế giới đòi hỏi mức chất lượng của nhà sản xuất tối thiểu phải đạt từ đường50% trở lên Vì vậy, muốn tạo được thế vững chắc trong thị trưòng sợi xuấtkhẩu nhất thiết đòi hỏi công ty phải sản xuất được các mặt hàng sợi chấtlượng cao trên mức đường 50% (đường 5-25% thống kê USTER STATISTIC2001) Đặc biệt là với các chỉ tiêu chất lượng sợi CVn%, U%, Thin, Thick,Neps, Xù lông…cần có các bước đột phá đáng kể để nâng cao chất lượng sợi.Muốn vậy biện pháp tốt nhất là đầu tư chiều sâu và mở rộng nhà máy sợi đểsản xuất các mặt hàng sợi có chất lượng cao(5-25% USTER STATISTIC2001) và nâng cao chất lượng các mặt hàng sợi hiện đang sản xuất

Với tình hình này đòi hỏi công ty phải có những biện pháp hữu hiệu đểnâng cấp thiết bị tạo ra được những sản phẩm sợi có chất lượng cao có thể có

đủ sức cạnh tranh trên thị trường Đặc biệt cần phải có những đầu tư cho nhàmáy Sợi để thoả mãn chất lượng sợi xuất khẩu đảm bảo cạnh tranh được trên

Trang 7

thị trường thế giới, từ đó gia tăng hơn nữa sản lượng sợi xuất khẩu của côngty.

2.2 Đối với sản phẩm dệt kim:

Sản phẩm dệt kim chủ lực của công ty hiện nay là T.shirt và hineek Sở

dĩ là do mặt hàng này thích hợp về giá thành và mẫu mã, phù hợp với thị hiếungười tiêu dùng

Còn các sản phẩm dệt kim khác vẫn chưa được thị trường trong nướcđón nhận một cách nhiệt tình, đặc biệt là lớp trẻ Còn khối lượng xuất khẩusang thị trường quốc tế cũng không cao Vì vậy, sự cần thiết phải đầu tư củacông ty là ở chỗ phải nghiên cứu được các sản phẩm với màu sắc phongphú,mẫu mã đa dạng, phù hợp với từng lứa tuổi Các đặc trưng như độ dầymỏng, ngắn dài, rộng hẹp, màu sắc…luôn thay đổi theo trào lưu và thời giannên cũng phải được quan tâm

Những thách thức đối với công ty hiện nay là các đối thủ cạnh tranh ởtrong nước đang tăng lên rất nhanh Có thể nói khả năng cạnh tranh của công

ty về sản phẩm này chưa cao kể cả ở trong nước và ngoài nước, ở Miền Bắccác công ty như May Thăng Long, dệt kim Đông Xuân, May 10, Dệt 8/3, DệtVĩnh Phúc… Miền Nam có các công ty như công ty Chiến Thắng, Nhà Bè,Dệt Huế…Các công ty này có nhiều ưu thế và địa điểm, chất lượng tiêu thụ :

Bảng 1: Doanh thu năm 2005 của các đối thủ cạnh tranh về hàng dệt kim

Đơn vị: tỉ đồng.Công ty Số lượng ( sản phẩm ) Doanh thu Nộp ngân sách

Trang 8

Chiến Thắng cao hơn 150 tỷ, chứng tỏ sản lượng dệt kim của công ty chưahẳn ở mức thấp so với các đối thủ cạnh tranh nhưng vẫn chưa được như mongmuốn Nguyên nhân là do mẫu mã sản phẩm vẫn chưa đáp ứng được nhu cầungày càng cao của người tiêu dùng Có thể thấy rõ, các công ty có doanh thucao đều rất chú trọng đầu tư cho việc thiết kế mẫu mã, kiểu dáng Ngoài ra,còn chưa kể đến các công ty tư nhân như: NinoMaxx, Viethy, Hoàng Tấn…với sự linh hoạt, nắm bắt rất nhanh nhu cầu của người tiêu dùng, đặc biệt là giới trẻ.

Như vậy, hiển nhiên là nếu không có chính sách đầu tư thích đáng, sảnphẩm dệt kim của công ty sẽ bị thua ngay trên sân nhà, với các đối thủ trongnước chứ chưa nói đến khi Việt Nam ra nhập WTO thì mức độ cạnh tranh vớicác hãng nước ngoài còn khốc liệt hơn nhiều

2.3 Sản phẩm khăn mũ:

Trong những năm qua, sản phẩm khăn chủ yếu tiêu thụ trên thị trườngxuất khẩu Lượng tiêu thụ trong nước thấp Nguyên nhân là do hàng Trungquốc vẫn tràn ngập ở Việt Nam với mẫu mã rất đa dạng, giá cả lại rẻ Tuyrằng chất lượng sản phẩm khăn mũ của chúng ta rất tốt, màu sắc đã được cảithiện đáng kể nhưng kiểu dáng và hình ảnh còn nghèo nàn, đặc biệt là chủngloại khăn tắm đại- loại khăn tắm Trung quốc rất lớn đang rất được ưa chuộng

ở Việt Nam thì Hanosimex vẫn chưa có sản phẩm này

Đối với sản phẩm mũ cũng vậy, để cạnh tranh được ở thị trường nội địacũng rất khó khăn, vì rất nhiều các xưởng may tư nhân tận dụng được vải vócthừa để sản xuất hàng loạt những chiếc mũ thời trang, độc đáo, được giới trẻhết sức ưa chuộng, giá cả lại rẻ

2.4 Sản phẩm vải DENIM:

Đây là sản phẩm mới của công ty, đưa vào sản xuất tháng 9/2000, do

đó mà thị phần của sản phẩm này chưa cao Tuy nhiên, kì vọng vào sản phẩmnày là rất lớn, tương lai đây sẽ là sản phẩm chính của công ty Mặc dù mới đivào sản xuất song với dây chuyền hiện đại của Mỹ, Nhật do đó chất lượng sảnphẩm rất cao, khách hàng sử dụng thấy thoải mái, phù hợp Với nhiều mặt

Trang 9

hàng với chất vải dày, mỏng khác nhau, sản phẩm vải DENIM đang dần mởrộng thị phần của mình trên thị trường.

Tuy nhiên, sản phẩm này đang chịu sự cạnh tranh rất gay gắt của hàngTrung quốc, đặc biệt là mặt hàng “ quần bò” do mẫu mã rất đẹp, phù hợp vớigiới trẻ Một lần nữa vấn đề về đầu tư cho kiểu dáng lại được bàn đến

Trước tình hình như vậy, để có thể nắm bắt được các vận hội, đáp ứngđược nhu cầu phát triển của công ty cũng như của xã hội, việc đầu tư bổ sungđổi mới, cải tạo nâng cấp thiết bị nhằm mục đích tăng năng lực sản xuất, nângcao chất lượng sản phẩm là một tất yếu phát triển của Công ty Dệt may Hànội

Việc đầu tư sẽ mang lại hiệu quả cho công ty và xã hội, như tăng doanhthu, tăng lợi nhuận, tăng trích nộp ngân sách và đồng thời tạo ra nhiều công

ăn việc làm mới cho xã hội

II Thực trạng đầu tư phát triển tại Công ty Dệt may Hà nội:

1 Tình hình thực hiện vốn đầu tư theo dự án:

Với vai trò là con chim đầu đàn của ngành dệt may Việt Nam, kim ngạch xuấtkhẩu luôn dẫn đầu so với các doanh nghiệp dệt may khác trên toàn quốc,Công ty Dệt may Hà nội luôn chú trọng đến công tác đầu tư để khẳng định vịtrí của mình

Ở Công ty Dệt may Hà nội 100% các dự án đã duyệt đều được thựchiện, không có dự án nào bị tạm ngừng do thiếu vốn hoặc không đủ nguồnlực

Trang 10

Bảng 2: Tình hình thực hiện vốn đầu tư theo dự án giai đoạn 2000-2005:

Đơn vị: tr đ

Vốn đầu tư 155300 27843, 73761, 12168 53828, 100268,5

( Nguồn : Phòng kĩ thuật đầu tư )

Có thể nói mức vốn đầu tư cho dự án (gọi chung là vốn đầu tư) các nămkhông đều nhau Năm 2000 và 2005, công ty có số vốn đầu tư nhiều nhất.Năm 2001, có chững lại đột ngột, với số vốn chỉ là: 27843.77 triệu đồng, mặc

dù có tới 5 dự án khá quan trọng là: Nhà máy may 3, Nhà máy may mẫu thờitrang, Mua máy thô BCX 16E, Máy dò tách xơ ngoại lai, máy chải kĩ

Nguyên nhân là do năm trước đó, công ty đã dồn sức cho việc xây dựng nhàmáy dệt vải DENIM, tiêu tốn hơn 155 tỷ đồng Năm 2002 nhích lên đáng kể,song cũng chỉ bằng một nửa so với năm 2000 Tuy có 2 dự án quan trọng là:Nhà máy dệt Hà Đông và Dệt DENIM nhưng đều là đầu tư theo chiều rộng, ítphải mua máy móc thiết bị mới nên số vốn đầu tư chỉ khoảng là 73761.716triệu đồng

Năm 2003, tuy có tới 4 dự án nhưng tất cả đều là mua máy móc nhỏ ( Máy RIB, Máy thô Riteter Secondhand, Máy nhuộm 25 kg, Máy dệt Single

có chun) nên tổng số vốn đầu tư cả năm ở mức thấp nhất trong giai đoạn này,chỉ hơn 12 tỷ đồng

Năm 2004, cũng có 4 dự án nhưng mức vốn lại lớn hơn 4 lần so vớinăm 2003 Trong đó, phải kể đến dự án “ Đầu tư mở rộng nhà máy sợi Vinh”

có số vốn lên tới 37 tỷ đồng - gấp 3 lần số vốn đầu tư của cả năm 2003

Năm 2005 là năm có số vốn đầu tư lớn thứ hai trong giai đoạn này-100 tỷđồng với 2 dự án là “Đầu tư mở rộng nhà máy sợi Hà nội”- 96 tỷ đồng và “

Dự án tự động hoá”- 4 tỷ đồng Trong đó, dự án “Đầu tư mở rộng nhà máysợi Hà nội” là dự án rất quan trọng vì sợi là một trong những mặt hàng chủlực của công ty mang lại nguồn ngoại tệ cho công ty đảm bảo cân bằng thuchi ngoại tệ cho công ty và nguồn ngoại tệ cho đất nước Điều này có ý nghĩarất lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty bởi vì nguồn nguyên

Trang 11

vật liệu cho sản xuất sợi là bông xơ chủ yếu phải nhập khẩu từ nước ngoài Sựmạnh dạn đầu tư này chắc chắn sẽ mang lại những hiệu quả rõ rệt trong năm

2006 này và trong tương lai

Như vậy, trong vòng 6 năm qua, mức vốn đầu tư ở công ty khoảng 423

tỉ đồng là con số không nhỏ so với các công ty dệt may ở Việt Nam Điều này

đã thể hiện quyết tâm của công ty trong việc cải tổ lại máy móc thiết bị nhằmnâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm

Bảng 3: Tình hình tăng trưởng vốn đầu tư tại công ty giai đoạn2000-2005:

Năm Tổng số vốn đầu tư

cho dự án ( tỉ)

Tốc độ tăng địnhgốc(%) Tốc độ tăng liên hoàn

2005 công ty có tốc độ tăng định gốc lớn nhất, nhưng nếu xét về tốc độ tăngliên hoàn thì vẫn chưa có được tiến bộ vượt bậc như của năm 2004

Vốn đầu tư cho dự án của công ty có thể nói không đều qua từng nămTrong vòng 6 năm, công ty đã thực hiện được 18 dự án, trong đó nhiềunhất là năm 2001 có tới 5 dự án

Trang 12

Bảng 4: Quy mô bình quân một dự án trong giai đoạn 2000-2005:

50 tỷ đồng Năm 2003, vốn đầu tư trung bình một dự án thấp nhất, khoảng3,042 tỷ đồng/ dự án Năm 2001, trung bình khoảng 5,569 tỷ đồng một dự áncũng là con số khá khiêm tốn so với các năm sau đó Từ bảng trên ta cũngthấy được mức chênh lệch bình quân một dự án các năm ở Công ty Dệt may

Hà nội cũng khá lớn Có năm chỉ vài tỷ nhưng có năm lên tới 155 tỷ đồng

Bảng 5: Tình hình thực hiện vốn đầu tư theo phân cấp quản lý giai đoạn

Trang 13

Secondhand của Đức nhưng máy vẫn còn mới 90%, công suất đạt mức tối đa,

so với các công ty dệt may Việt Nam khác thì máy Rieter vẫn là loại thiết bịhiện đại

Nhóm B có tỉ trọng vốn nhiều nhất, chiếm 53%, bao gồm 6 dự án: Dự

án đầu tư mở rộng nhà máy Sợi Hà nội, dự án đầu tư mở rộng sợi Vinh, nhàmáy may 3 và nhà máy may mẫu thời trang

Nhóm A tuy chỉ có 1dự án là “ Nhà máy Dệt vải DENIM” nhưng vìđầu tư 155 tỷ nên chiếm tỉ trọng tới 37% Việc đầu tư thể hiện quyết tâm củaCông ty Dệt may Hà nội trong việc chiếm lĩnh thị trường vải bò trên thịtrường nội địa

Chính vì tỉ lệ các dự án phân theo cấp quản lý tập trung chủ yếu vàonhóm C nên gần như không có công tác thẩm định dự án ở công ty- vì đa sốcác dự án nhỏ nên chỉ phải lập báo cáo xin thực hiện dự án trình cấp có thẩmquyền phê duyệt (thường là lãnh đạo công ty hoặc tổng công ty ), sau đó mớibắt tay vào xây dựng dự án khả thi rồi gửi hồ sơ dự án tới người ra quyết địnhđầu tư và các tổ chức cho vay vốn

2 Tình hình thực hiện vốn đầu tư theo yếu tố cấu hình:

Bảng 6: Vốn đầu tư của Công ty Dệt may Hà nội phân theo yếu tố cấu hình

giai đoạn 2000-2005:

Đơn vị : triệu đồng

Vốn cố định 108710 19491 51633 8518 37680 70188Vốn thiết bị 89142 15982 42339 6984 30897 57554

Trang 14

Nhìn vào biểu trên, ta thấy vốn thiết bị chiếm hầu hết trong vốn cố địnhcủa công ty Điều đó được thể hiện rõ qua bảng cơ cấu sau.

Bảng7: Tỉ trọng vốn đầu tư tại Công ty Dệt may Hà nội giai đoạn 2000-2005

Cơ cấu vốn thiết bị 58,6 52,7 60 55,3 56 59

Cơ cấu chi phí khác 3,45 7,5 4,5 6,8 5 6

Cơ cấu phi phí dự phòng 4,39 7,3 3,5 4,9 4 4

(Nguồn : Công ty Dệt may Hà nội) Qua bảng số liệu trên, có thể thấy, vốn cố định chiếm phần lớn trongtổng vốn đầu tư, khoảng gần 71% Trong vốn cố định, thì vốn dành cho muasắm máy móc thiết bị lại có tỉ trọng lớn nhất, khoảng trên 80%, vốn xây lắpchỉ chiếm 11%, còn lại là chi phí khác

Có thể thấy vốn lưu động chiếm tỉ trọng cũng khá cao, thường là 25%tổng vốn đầu tư Chi phí dự phòng thì chỉ khoảng 5% Cơ cấu kĩ thuật vốnđầu tư ở mức độ khá đều nhau qua từng năm, có những sự xê dịch song khôngphải là lớn

3.Tình hình thực hiện vốn đầu tư theo lĩnh vực hoạt động từ năm 2000-2005:

Trong giai đoạn 2000-2005, mức đầu tư cho lĩnh vực dệt là lớn nhất,khoảng 232,6 tỉ đồng Thấp nhất là các ngành: nhuộm, động lực

Bảng8:Vốn và cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực hoạt động giai đoạn 2000-2005:

Trang 15

Như vậy, có thể nói, trong giai đoạn 2000-2005, lĩnh vực dệt được công

ty đầu tư nhiều hơn cả, chiếm tới 55,64%, với chỉ 1 dự án “ Nhà máy dệt vảiDENIM” với số vốn đầu tư lên tới 155 tỷ đồng, chiếm 36,7% tổng vốn đầu

tư Lĩnh vực sợi cũng khá được chú ý với dự án: “Đầu tư theo chiều sâu và

mở rộng nhà máy Sợi Hà nội” năm 2005 vừa qua có tổng vốn đầu tư lên tớigần 88 tỉ đồng và các dự án mua máy móc thiết bị khác

Tuy nhiên, lĩnh vực may khá quan trọng nhưng chỉ chiếm 5.3% Công

ty cần lưu ý tới vấn đề này để cân đối nguồn vốn sao cho phù hợp vì đó làkhâu cuối cùng của mỗi sản phẩm bởi chất lượng may đẹp và chuyên nghiệpcũng là nhân tố lớn thu hút khách hàng

Ngành nhuộm cũng cần được quan tâm nhiều hơn vì hiện công ty đanghiếm những kĩ sư hoá nhuộm Ước tính với tình hình như hiện nay, chỉ 5 nămnữa sẽ thiếu nhân lực cho ngành này Vì vậy cần đầu tư máy móc thiết bị hiệnđại để không có những công đoạn thủ công cần đến nhân công lớn như hiệnnay

Trang 16

4 Vốn và cơ cấu nguồn vốn cho hoạt động đầu tư phát triển

Bảng 9: Các nguồn vốn được huy động ở Công ty Dệt may Hà nội giai đoạn

từ NHTM chiếm tỉ trọng cao nhất, lên tới 48% Vốn Tín dụng ưu đãi của nhànước dành cho công ty cũng rất lớn, trung bình hàng năm khoảng 22tỷ đồng Đặc biệt có những dự án mà Quỹ Hỗ trợ phát triển cấp cho công ty chiếm tới

70 % tổng vốn đầu tư, như : dự án đầu tư nhà máy Sợi Hà nội năm 2005 vừaqua

Lợi nhuận của công ty ngoài việc để tái đầu tư còn dành cho các quỹnhư: khen thưởng, phúc lợi, dự phòng mất việc làm Trong thời gian tới công

ty vẫn cần tăng mức lợi nhuận hơn nữa để đầu tư vào quỹ đầu tư phát triển,góp phần bảo toàn và phát triển được vốn chủ sở hữu

- Đối với các dự án đầu tư theo chiều sâu, nếu vốn đầu tư nhỏ, có thể chủđộng được công ty sẽ sử dụng nguồn vốn từ quỹ khấu hao cơ bản

Nếu vốn đầu tư lớn, công ty sẽ kết hợp giữa nguồn khấu hao cơ bản vàvay ngân hàng với tỉ lệ thích hợp

Trang 17

- Đối với các dự án mở rộng sản xuất, công ty sẽ: sử dụng 10% từ quỹkhấu hao cơ bản, tận dụng tối đa quỹ HTPT, phần còn lại vay của các NHTMtrong nước.

Hiện tại công ty đang tập trung cho việc cổ phần hoá các công ty thànhviên, vì vậy sẽ có một lượng vốn lớn thu được từ cổ phiếu của cán bộ côngnhân viên trong tương lai

5.Tình hình thực hiện vốn đầu tư theo nội dung đầu tư:

Bảng 10: Vốn đầu tư phân theo nội dung đầu tư giai đoạn 2000-2005:

Nội dung đầu tư Số tuyệt đối (tỉ đồng ) Tỉ trọng (%)

1 Vốn đầu tư theo dự án

( xây lắp, máy móc thiết bị )

2 Vốn đầu tư vào nguồn

nhân lực

3 Đầu tư vào nguyên vật liệu 2,3 0,345

4 Đầu tư vào thương hiệu

Vốn đầu tư cho dự án là lớn nhất, kế đến là đầu tư vào thương hiệu sảnphẩm, mở rộng thị trường Nếu xét về tiền vốn, thì đầu tư vào nguyên vật liệugiành được sự quan tâm ít nhất

Vốn đầu tư theo dự án (chủ yếu cho máy móc thiết bị, phần nhỏ là xâylắp) chiếm tỉ trọng áp đảo 97,31% Đầu tư vào nguồn nhân lực trong vòng 6năm là 2,5 tỉ, chỉ chiếm 0,57% Việc đầu tư mở rộng thị trường chiếm1,775% Còn sự ưu tiên cho đầu tư mới nguyên vật liệu chỉ có 0,345% Với sốvốn chênh lệch như vậy, ta sẽ xem công ty đầu tư vào từng nội dung ra sao

5.1 Công tác đầu tư máy móc thiết bị và chuyển giao công nghệ:

Có thể nói, máy móc thiết bị là nội dung được công ty chú trọng nhấttrong tất cả các các mặt Từ năm 2000-2005, công ty có tới 9 dự án mua máy

Trang 18

móc thiết bị ngoại nhập, chưa kể đến một số máy móc khác nằm trong các dự

án xây dựng các nhà máy may, dệt

Trong những năm gần đây, để nâng cao chất lượng sản phẩm sợi, công ty tíchcực đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, tổng số vốn đầu tư các Máy móc thiết bịchính giai đoạn 2000-2005 là 27,8 tỷ, còn chưa kể đến các Máy móc thiết bịlớn nhỏ khác nằm trong những dự án đầu tư xây dựng và mở rộng các nhàmáy Như nhà máy sợi Hà nội tỉ lệ vốn thiết bị lên tới 80%

Máy móc thiết bị chính ở Công ty Dệt may Hà nội giai đoạn 2000-2005 chủyếu thuộc lĩnh vực sợi Ví dụ: Máy thô BCX 16E, máy dò tách xơ ngoại lai,máy chải kĩ, máy thô Rieter Second đều để phục vụ việc sản xuất sợi Chỉ cómáy Rib dùng cho sản phẩm dệt kim.Ngoài ra là các máy nhuộm và máy maykhác

5.2 Đầu tư vào nguồn nhân lực:

Đây là hoạt động đầu tư theo chiều sâu, chiếm 2,5 tỷ (0,57%) Công ty

đã xây dựng quy hoạch cán bộ từng thời kì, có kế hoạch đầu tư đào tạo bồidưỡng, tạo nguồn cán bộ quản lý và chuyên môn

Hiện nay, công ty đang quan tâm đến vấn đề đào tạo công nhân, trang

bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họhoàn thành được công việc

Ngoài nội dung lựa chọn lao động giỏi ngay từ đầu thì hoạt động đàotạo và đào tạo lại là một biện pháp diễn ra thường kì ở công ty

Hàng năm, công ty cử hàng trăm công nhân đi học tại trường Cao đẳngcông nhiệp nhẹ Hà nội, và làm hồ sơ cho hàng chục cán bộ đi học tại chức tạicác trường Đại học như: Đại học Kinh tế quốc dân, ĐH Bách Khoa Ngoài ra,công ty thường xuyên tổ chức các cuộc thi tay nghề nhằm khuyến khích độngviên người lao động nâng cao tay nghề Tuy nhiên, những năm gần đây, công

ty đã đầu tư nhiều máy móc hiện đại và tự động hoá nên có một bộ phậnngười lao động bị sa thải, đồng thời một số người lao động không đảm bảo vềnăng lực và sức khoẻ đều bị sa thải hoặc cho làm các công việc khác

Trang 19

Để tiết kiệm chi phí đào tạo, Công ty Dệt may Hà nội đã áp dụng hìnhthức đào tạo trực tiếp bằng cách cử những cán bộ nhiều kinh nghiệm đếngiảng dạy cho các lao động ít kinh nghiệm hoặc là tiến hành theo phươngpháp vừa học vừa làm Những cán bộ giảng dạy này chủ yếu là nhân viên củaphòng Kĩ thuật đầu tư vì công nhân chủ yếu thiếu kiến thức liên quan đến kĩ thuật.

Hình thức này không chỉ tiết kiệm được chi phí đào tạo cho Hanosimex

mà còn giúp công ty có được những lao động phù hợp với điều kiện sản xuấtcủa doanh nghiệp

Để phục vụ cho việc áp dụng thành công hệ thống đảm bảo chất lượngtheo tiêu chuẩn ISO 9002 vào Công ty, Công ty Dệt may Hà nội cũng đã đầu

tư kinh phí đào tạo bồi dưỡng nhận thức về chất lượng cho đội ngũ cán bộ,công nhân viên của công ty Một số cán bộ của Công ty được đào tạo cácchương trình nâng cao kĩ thuật thông qua các đợt tập huấn tại các nước cócông nghệ mới như : Nhật Bản, Đức, Italia… Vì vậy, đã nâng cao được trình

độ, đáp ứng yêu cầu quản lý theo tiêu chuẩn của Hệ thống quản lý chất lượngtheo tiêu chuẩn ISO 9002

Bên cạnh việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ vàcông nhân viên của công ty thì công ty đang bắt đầu quan tâm và đào tạo nângcao trình độ tin học cho họ Thông qua các lớp tin học được tổ chức trongtoàn công ty để dần tiến tới vi tính hoá toàn bộ hệ thống thông tin trong Công

ty Điều này thể hiện tầm nhìn của ban lãnh đạo công ty vì hiện nay thông tinchiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong việc quyết định sự thành công haythất bại của một công ty hay một doanh nghiệp

Trang 20

5.3 Đầu tư vào nguyên vật liệu:

Số vốn đầu tư nguyên vật liệu (không phải là chi phí định kì để muanguyên vật liệu) giai đoạn 2000-2005 ở Công ty Dệt may Hà nội là 2,3 tỷđồng Đây là con số quá nhỏ so với tầm vóc của công ty

Có thể nói, trong khâu nguyên vật liệu, công ty không có sự đầu tư lớnđáng kể vì hầu hết các nhà cung cấp chính của công ty đều là các bạn hàng lâunăm có uy tín nên rất ổn định, ít có sự thay đổi lớn Trong những năm tớicông ty sẽ tiếp tục mua nguyên vật liệu của các bạn hàng nước ngoài thôngqua các hãng và Tổng công ty, đồng thời công ty đang có kiến nghị Chínhphủ có quy hoạch phát triển trên vùng nguyên liệu để có thể thay thế dầnlượng bông phải nhập ngoại

Hiện nay, nguyên vật liệu chính của Công ty Dệt may Hà nội là bông

xơ PE, những nguyên liệu này phần lớn là nhập khẩu Do tính chất và nguồngốc của bông xơ, hiện nay nước ta chưa sản xuất được loại nguyên liệu này

Vì thế, công ty vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài Nguyên liệu bông xơ chủyếu từ những nguồn sau:

Nguyên liệu bông: bông Việt Nam chiếm khoảng 13,5% lượng bông sửdụng, bông Nga chiếm khoảng 69,5%, ngoài ra bông còn được nhập từ cácnước như: Úc, Mỹ, Tây phi, Trung Quốc Toàn bộ nguyên vật liệu, công tyđều đặt mua chuyển tiếp từ Tập đoàn Dệt May Việt nam

Nguyên vật liệu xơ: được nhập từ Hàn quốc, Đài loan

Ngoài việc chú ý tới việc tiết kiệm nguyên vật liệu, trong những năm gần đây,công ty đã chú ý tới việc đầu tư đánh giá, lựa chọn nhà thầu, đầu tư nâng cấpđổi mới thiết bị cho bộ phận kĩ thuật để kiểm tra, đánh giá chất lượng nguyênvật liệu đầu vào được tốt hơn, đầu tư tìm kiếm thông tin về các nhà cung cấptrên thị trường

Ngoài ra, công ty còn nhập nhiều loại hoá chất dùng cho các công đoạntẩy, nhuộm, làm bóng vải và các nguyên phụ liệu khác phục vụ cho quá trình

Trang 21

sản xuất Để đáp ứng nhu cầu thị trường công ty đang đầu tư nghiên cứu, sảnxuất những nguyên vật liệu thay thế nhập khẩu.

Với tình hình đầu tư cho nguyên vật liệu như vậy Công ty Dệt may Hànội đã sử dụng và quản lý nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm như sau:Công ty Dệt may Hà nội có hình thức tổ chức sản xuất từ sản xuất sợi tới maythành phẩm Do đó rất cần nguyên liệu phụ, nhưng cơ bản cho sản xuất sợivẫn là bông xơ Bông xơ được đưa qua kiểm tra chất lượng và bảo quản tốt,sợi PE chạy trên vải bị vón kẹt, tỷ lệ bông tiêu hao trên máy bông, chải đãđược giảm đến mức tối thiểu cho phép Bông sản xuất sợi OE tăng so với địnhmức do xử lý qua máy phân ly và Rolando tiêu hao lớn, do tỷ lệ rơi vãi caovượt định mức

5.4 Đầu tư vào thương hiệu sản phẩm và mở rộng thị trường:

Vốn đầu tư cho khoản mục này cũng khá khiêm tốn, 5.2 tỷ đồng ,chiếm 1.185% giai đoạn vừa qua

a Đầu tư vào thương hiệu:

Hanosimex cũng như một số doanh nghiệp Việt Nam khác, việc xâydựng thương hiệu còn thiếu tính chuyên nghiệp Vì vậy, tác dụng của việc xâydựng và phát triển thương hiệu chưa cao Trong bối cảnh hội nhập ngày càngchặt chẽ, các thương hiệu Việt Nam đã bắt đầu và ngày càng gay gắt hơn khiđối đầu với các thương hiệu nước ngoài không những trên thị trường quốc tế

mà ngay trên sân nhà Các doanh nghiệp nước ngoài với tầm nhìn xa, rộng,vốn liếng dồi dào và giàu kinh nghiệm đến thời điểm này đã đầu tư vào ViệtNam hàng chục tỷ $ và đã đăng kí tới 80 ngàn nhãn hiệu

Cũng như các doanh nghiệp khác công ty đã đăng kí và bảo hộ thươnghiệu quốc gia với nhãn hiệu là Hanosimex, biểu tượng là con hạc bay, logo làhình elip bên trong là con hạc bay, dưới con hạc là chữ “ Hà nội”

Nhìn vào nhãn hiệu công ty ta có cảm giác như nhìn thấy một sự vươnlên không ngừng ( thể hiện qua hình ảnh con hạc đang cất cánh bay ), đồngthời cả chiến lược kinh doanh của công ty (chiến lược toàn cầu hoá thể hiện

Trang 22

qua hình elíp ) Tuy nhiên, hiện nay, công ty cũng như các doanh nghiệp kháctrong ngành dệt may vẫn chưa có thương hiệu cho mặt hàng xuất khẩu

Đối với thị trường trong nước, công ty đang dần từng bước gây dựngdanh tiếng, uy tín, chất lượng, giao tiếp với khách hàng và quảng bá thươnghiệu Công ty có 100 cửa hàng giới thiệu sản phẩm trên khắp cả nước, có cácbạn hàng về sản phẩm sợi ở Miền Nam và Miền Trung khá lớn Uy tín và chấtlượng được chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế Năm 2002 sản phẩm củacông ty được bình bầu là hàng Việt Nam chất lượng cao Nhưng do đang tậptrung vào việc xuất khẩu nên khâu quảng cáo ở thÞ trêng ViÖt Nam còn kém,công ty chưa bao giờ quảng cáo trên truyền hình, còn trên đài phát thanh cũngrất ít Đây chính là thiếu sót của Công ty hay nói chính xác là công ty kh«ngchú trọng đúng mức cũng như chưa chuyên nghiệp trong việc xây dựng vàphát triển thương hiệu ngay cả trên thị trường nội địa

Đối với thị trường thế giới, công ty chưa có thương hiệu cũng như chưaxây dựng và phát triển theo đúng nghĩa của nó Đối với thị trường này, công

ty chưa tích luỹ đủ tài chính và chưa đủ thông tin về tiêu dùng cá nhân cũngnhư thông tin về pháp luật Rủi ro khi tự mình bước vào thị trường này rấtcao Kế tiếp là do phương thức kinh doanh gia công nên chỉ nhận được một tỉ

lệ hoa hồng nhất định sau khi đã trừ hết các phí gia công, hao mòn máy móc,lợi tức Ngân hàng… thì tỷ lệ lợi nhuận tích luỹ nhỏ cũng không nhiều

Hiện nay vấn đề phát triển thương hiệu xuất khẩu của công ty đang làvấn đề quan tâm mang tính chiến lược cao hơn bao giờ hết để nâng cao khảnăng cạnh tranh trong tương lai

Bên cạnh đó việc xuất khẩu vào Mỹ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong sốcác đối tác của công ty Mà trong Hiệp định Việt Mỹ, vấn đề về bảo hộ nhãnmác, kiểu dáng, mẫu mốt… đã được thoả thuận, công ty cần phải tuân thủnghiêm khắc để tránh xảy ra tranh chấp do đánh cắp thương hiệu Vì vậy việcxúc tiến ngay việc xây dựng thương hiệu trên đất Mỹ là điều rất cần làm lúcnày

Trang 23

Thêm nữa, hiện nay trên thị trường đã xuất hiện một số mặt hàng nhái,thậm chí giả nhãn hiệu Hanosimex, ví dụ như: áo may ô nam, áo sơ mi nữmang nhãn hiệu Hanosimex bày bán ở các vỉa hè đại hạ giá mà chất lượng vảichỉ nhìn qua đã biết ngay là hàng kém phẩm chất Công ty cũng vẫn chưa cógiải pháp thoả đáng nào cho việc này.

b Đầu tư vào việc mở rộng thị trường:

Hoạt động nghiên cứu và phân đoạn thị trường là những hoạt động tíchcực không thể thiếu được trong hệ thống chính sách của một công ty để nhằm

hỗ trợ và thúc đẩy sự thành công của các chiến lược tiêu thụ Thực hiện tốtcác hoạt động này sẽ giúp cho việc hoạch định các chiến lược đầu tư có thểbám sát với tình hình thực tế và có hiệu hiệu quả, đồng thời có thể đưa sảnphẩm của mình tới các thị trường mới làm tăng sản lượng tiêu thụ Hoạt độngnghiên cứu thị trường là căn cứ, cơ sở để công ty đưa ra các chính sách tiêuthụ trong thời gian, địa điểm nhất định

Trong những năm gần đây, công tác điều tra, nghiên cứu thị trường đãđược ban lãnh đạo công ty khá quan tâm nhưng chưa tạo thành một phongtrào có tính sâu rộng Vốn đầu tư cho hoạt động này lại cũng không nhiều.Mặt khác, sự biến động của thị trường ngày càng phức tạp, để có thể đáp ứngtốt nhất mọi nhu cầu của khách hàng trên thị trường đòi hỏi công ty phảikhông ngừng đẩy mạnh và hoàn thiện công tác này Để có thể mở rộng thịtrường, công ty cần không ngừng tìm hiểu các nhu cầu mới xuất hiện trên thịtrường và tìm mọi cách để thoả mãn kịp thời những nhu cầu ấy

-Thứ nhất: đối với thị trường trong nước:

Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, đời sống của nhân dân ta đãđược nâng lên rất nhiểu, kéo theo đó là nhu cầu cho các sản phẩm may mặccũng tăng theo Với tôn chỉ hàng đầu: “Đảm bảo chất lượng sản phẩm vànhững điều đã cam kết với khách hàng là nền tảng cho sự phát triển lâu dàicủa công ty” Để mở rộng được thị trường, công ty đã thực hiện một số cáchsau:

Trang 24

- Mở rộng mạng lưới tiêu thụ ra khắp các tỉnh thành trong cả nước, kể

cả khu vực nông thôn và ở bất cứ nơi nào thấy dấu hiệu của nhu cầu

- Đã xây dựng nhà máy may mẫu thời trang để chuyên nghiệp hơntrong việc thiết kế các kiểu dáng, chủng loại quần áo

- Khai thác được thế mạnh của công ty là chất lượng và uy tín trên thịtrường

Tuy nhiên, vì chưa thực sự biến đó là một phương châm hành động nêncông nghiên cứu thị trường nội địa vẫn chưa mang lại kết quả mong đợi

-Thứ hai: đối với thị trường quốc tế:

Để thâm nhập vào thị trường nước ngoài yếu tố khá quan trọng là phảinghiên cứu yếu tố văn hoá, tập tục và cách ăn mặc truyền thống của quốc gia

đó Với mỗi quốc gia khác nhau, có một tập quán, phong tục khác nhau, takhông thể đem sản phẩm đồng nhất đến bán ở tại các thị trường khác nhau ởnhững nước khác nhau

Công ty đã chú trọng tới việc tham gia các hội chợ quốc tế và đặt quan

hệ kinh doanh với nhiều hãng tại nhiều quốc gia trên thế giới như: Mỹ,Canada, Nhật Bản, Hàn quốc, Đài loan, Nam phi, Trung Cận đông…

6.Tình hình thực hiện vốn đầu tư theo hình thức đầu tư:

Các dự án ở Công ty Dệt may Hà nội chủ yếu theo hình thức đầu tư theochiều sâu Tuy nhiên, đối với một số dự án, để tiết kiệm nguồn lực có sẵn ởcông ty, có sự kết hợp cả hai hình thức đầu tư theo chiều sâu và đầu tư theochiều rộng

Trang 25

Bảng11: Hình thức đầu tư của các dự án tại Công ty Dệt may Hà

- nội giai đoạn 2000-2005:

Hình thức đầu tư Số dự án Số tuyệt đối Tỉ trọng (%)

( Nguồn : Phòng kĩ thuật đầu tư )

Từ bảng trên ta nhận thấy, các dự án ở Công ty Dệt may Hà nội có tới 58%theo hình thức đầu tư chiều sâu với số vốn là 244,144 triệu đồng

Năm 2000, dự án nhà máy dệt vải DENIM đầu tư mới hoàn toàn với quy mô

155 tỷ đồng thể hiện được quyết tâm trang bị máy móc kĩ thuật hiện đại đểsản xuất một loại sản phẩm hoàn toàn mới so với những sản phẩm trước đócủa công ty, đó chính là vải bò- loại vải đang có tỉ lệ tiêu thụ cao tại công ty.Tuy vậy, việc đầu tư một nhà máy mới sẽ đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn cho chiphí mặt bằng nhà xưởng, các công trình phụ trợ mà không tận dụng được độingũ quản lý, nhân công giàu kinh nghiệm có sẵn ở các nhà máy Sợi Chính vìvậy, có tới 35% tổng vốn đầu tư dành cho các dự án có sự kết hợp cả hai hìnhthức: chiều rộng và chiều sâu Đó là các dự án: Dự án đầu tư mở rộng Dệt Hàđông, Dự án đầu tư và mở rộng nhà máy Sợi Hà nội, dự án tự động hoá Mứcđầu tư cho các dự án có hình thức hỗn hợp này là khoảng 147,015 triệu đồng.Đầu tư theo chiều rộng chỉ chiếm tỉ trọng 8% trong tổng vốn đầu tư, bao gồmcác dự án: Dự án đầu tư mở rộng dệt DENIM năm 2002, dự án trạm 35/6 KVnăm 2004

Năm 2000 công ty bắt tay vào xây dựng nhà máy dệt vải DENIM, đếnnăm 2002 lại đầu tư mở rộng nhà máy này Việc đầu tư khá dồn dập đó là do:công ty đã tìm hiểu được nhu cầu về vải DENIM của thị trường cả nước hiệntại và tương lai sẽ rất lớn, cần phải đầu tư mở rộng nâng cao công suất hơn

Trang 26

nữa thì mới đáp ứng được Và quyết định đó cho tới thời điểm này là hoàntoàn đúng đắn vì hàng vải DENIM sản xuất ra hầu như tiêu thụ được ngay.

III.Đánh giá thực trạng đầu tư của Công ty Dệt may Hà nội:

1.Kết quả :

1.1 Giá trị Tài sản cố định huy động:

Đối với từng dự án đầu tư, giá trị tài sản cố định huy động chính là những đốitượng, hạng mục công trình có khả năng phát huy tác dụng độc lập của từng

dự án đã hoàn thành bàn giao đưa vào hoạt động Công thức tính giá trị các tàisản cố định được huy động (F) trong trường hợp này như sau:

F= Iv - C

Với :

Iv : là vốn đầu tư đã thực hiện của các đối tượng, hạng mục công trình đã đượchuy động

C : là các chi phí không làm tăng giá trị tài sản cố định

Giá trị tài sản cố định huy động hàng năm của công ty được thể hiện qua bảngsau:

Bảng 12: Giá trị tài sản cố định huy động giai đoạn 2000-2005:

có số hạng mục công trình có khả năng phát huy tác dụng độc lập nhiều nhấttrong vòng 6 năm qua: khoảng 101 tỉ đồng trong tổng số 155 tỷ vốn đầu tư

Trang 27

của cả năm Năm 2003, chỉ có 7,922 tỉ giá trị tài sản cố định được huy độngtrong kì Các năm còn lại có giá trị tài sản cố định trong kì từ 18 - 48 tỷ đồng.Giá trị tài sản cố định huy động được thể hiện ở công suất hoạt động của tàisản cố định đó, mà cụ thể là qua công suất của các máy móc thiết bị.

Bảng13: Công suất Máy móc thiết bị đầu tư mới trong giai đoạn 2000-2005

tính tới thời điểm tháng 2/2006:

(%)

2001 Nhà máy may 3 ( 1500 m áy) 100

(Nguồn: Phòng Kĩ thuật- Đầu tư)

Có thể nói các máy móc thiết bị sau 5 năm đầu tư đã đi vào hoạt động ổnđịnh Các máy từ năm 2001 đều đã đạt công suất tối đa, tiếp đó, các máy muagiai đoạn 2002-2004 đạt 90% công suất

Trang 28

Bảng 14: Sản lượng sợi tăng lên sau khi đầu tư thêm máy móc thiết bị giai

đoạn 2000-2005 so với trước đó:

Đơn vị: tấn/ nămMặt hàng Sản lượng trước

đầu tư

Sản lượng sauđầu tư

Tăng so vớitrước đầu tư

(Nguồn : Phòng Kĩ thuật đầu tư )

Ta thấy sản lượng sợi tăng lên rõ ràng qua quá trình đầu tư, đặc biệt làsợi Ne 30 cotton CK, trung bình tăng l290 tấn/ năm so với thời kì trước đó

Trong đó toàn bộ dây chuyền kéo sợi mới sẽ được sử dụng để sản xuấtsợi Ne 30 cotton chải kĩ để đạt mức chất lượng cao với sản lượng 1860 tấn/ năm

Nhưng thực tế ở Công ty Dệt may Hà nội, các nhà quản lý vẫn sử dụng cáchtính chỉ tiêu này theo từng dự án, và giả địnhVốn đầu tư bỏ ra năm nào đượcdùng hết ngay năm đó

Vì vậy, ta có bảng tính hệ số huy động tài sản cố định của công ty như sau:

Bảng 15: Hệ số huy động TSCĐ của các dự án tại Công ty Dệt may Hà nội

giai đoạn 2000-2005:

Trang 29

( Nguồn : Phòng kĩ thuật đầu tư )

Có thể nói hệ số huy động tài sản cố định trong các dự án khá cao Trung bìnhkhoảng 0,63; điều đó có nghĩa là: cứ 1 đồng vốn đầu tư tạo ra 0,63 đồng giátrị tài sản có khả năng phát huy tác dụng độc lập

Năm 2005, hệ số huy động tài sản cố định lớn nhất là 0,753 Đây cũng đồngthời là năm có lượng vốn đầu tư cao: 100,3 tỷ đồng Như vậy, sẽ tạo rakhoảng 75,5 tỷ giá trị tài sản cố định sử dụng được

Tương tự như vậy, năm 2004 có tổng vốn đầu tư 54 tỷ, tài sản cố định pháthuy được tác dụng độc lập có giá trị chỉ 28,89 tỷ Vì hệ số huy động tài sản cốđịnh là 0,537, thấp nhất trong vòng 6 năm

1.3.Kết quả đào tạo nguồn nhân lực sau đầu tư:

Mặc dù đầu tư phát triển nguồn nhân lực chưa được quan tâm một cách

có quy mô nhưng trình độ lao động của toàn công ty đã được nâng lên mộtcách đáng mừng Số lượng công nhân viên có tay nghề cao và trình độ đãtăng

Trang 30

Bảng 16: Chất lượng cán bộ công nhân viên tại công ty tới thời điểm tháng

Số công nhân bậc 5 chiếm tỉ trọng lớn nhất là 22.704%, sau đó tới côngnhân bậc 6; nhân viên có trình độ cao đẳng chiếm tỉ trọng thấp nhất là0.833% Nhìn chung tỉ trọng công nhân tăng dần theo bậc thợ và đây là tínhiệu rất đáng mừng, bởi tuy số lao động làm ở công ty ngày càng tăng, nhưng

họ nhanh chóng tiếp thu được kiến thức, khả năng làm việc và trình độ không

bị cách quá xa so với những đồng nghiệp cũ

Ngày đăng: 13/04/2013, 16:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS. Nguyễn Bạch Nguyệt và TS.Từ Quang Phương, giáo trình “ Kinh tế đầu tư”, NXB Thống Kê-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế đầu tư
Nhà XB: NXB Thống Kê-2004
2. Lê Quốc Ân “ Mô hình nào cho tổng công ty dệt may Việt Nam”, Báo nghiên cứu và trao đổi, số 12/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình nào cho tổng công ty dệt may Việt Nam
3. Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp dệt may Khác
4. Công ty Dệt may Hà nội , báo cáo tài chính từ năm 2000-2005 Khác
5. Tạp chí của Công ty Dệt may Hà nội Khác
6. Bảng các chỉ tiêu kế hoạch 2006-2010, Công ty Dệt may Hà nội Khác
7. Tạp chí thời trang và dệt may, các số năm 2004,2005 Khác
9. Các tài liệu trên mạng Internet về Công ty Dệt may Hà nội và ngành dệt may Việt Nam nói chung Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Quy mô bình quân một dự án trong giai đoạn 2000-2005: - tình hình phát triển và đầu tư của công ty dệt may Hà nội-Hanoisimex
Bảng 4 Quy mô bình quân một dự án trong giai đoạn 2000-2005: (Trang 12)
Bảng 9: Các nguồn vốn được huy động ở Công ty Dệt may Hà nội giai đoạn 2000-2005: - tình hình phát triển và đầu tư của công ty dệt may Hà nội-Hanoisimex
Bảng 9 Các nguồn vốn được huy động ở Công ty Dệt may Hà nội giai đoạn 2000-2005: (Trang 16)
Bảng 10: Vốn đầu tư phân theo nội dung đầu tư giai đoạn 2000-2005: - tình hình phát triển và đầu tư của công ty dệt may Hà nội-Hanoisimex
Bảng 10 Vốn đầu tư phân theo nội dung đầu tư giai đoạn 2000-2005: (Trang 17)
Bảng11: Hình thức đầu tư của các dự án tại Công ty Dệt may Hà - nội giai đoạn 2000-2005: - tình hình phát triển và đầu tư của công ty dệt may Hà nội-Hanoisimex
Bảng 11 Hình thức đầu tư của các dự án tại Công ty Dệt may Hà - nội giai đoạn 2000-2005: (Trang 25)
Bảng 12: Giá trị tài sản cố định huy động giai đoạn 2000-2005: - tình hình phát triển và đầu tư của công ty dệt may Hà nội-Hanoisimex
Bảng 12 Giá trị tài sản cố định huy động giai đoạn 2000-2005: (Trang 26)
Bảng 14: Sản lượng sợi tăng lên sau khi đầu tư thêm máy móc thiết bị giai đoạn 2000-2005 so với trước đó: - tình hình phát triển và đầu tư của công ty dệt may Hà nội-Hanoisimex
Bảng 14 Sản lượng sợi tăng lên sau khi đầu tư thêm máy móc thiết bị giai đoạn 2000-2005 so với trước đó: (Trang 28)
Bảng 16: Chất lượng cán bộ công nhân viên tại công ty tới thời điểm tháng 12/2005: - tình hình phát triển và đầu tư của công ty dệt may Hà nội-Hanoisimex
Bảng 16 Chất lượng cán bộ công nhân viên tại công ty tới thời điểm tháng 12/2005: (Trang 30)
Bảng 19: Tốc độ tăng định gốc trong cơ cấu sản phẩm giai đoạn 2002-2005: - tình hình phát triển và đầu tư của công ty dệt may Hà nội-Hanoisimex
Bảng 19 Tốc độ tăng định gốc trong cơ cấu sản phẩm giai đoạn 2002-2005: (Trang 32)
Bảng 21 : Hiệu quả đầu tư ở Công ty Dệt may Hà nội giai đoạn 2002-2005: - tình hình phát triển và đầu tư của công ty dệt may Hà nội-Hanoisimex
Bảng 21 Hiệu quả đầu tư ở Công ty Dệt may Hà nội giai đoạn 2002-2005: (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w