1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác bảo đảm vật tư cho quá trình sản xuất

62 509 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Tác Bảo Đảm Vật Tư Cho Quá Trình Sản Xuất
Tác giả Nguyễn Thị Huân
Trường học Công Ty TNHH Điện Stanley Việt Nam
Chuyên ngành Quản Lý Vật Tư
Thể loại Đề Tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 787 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác bảo đảm vật tư cho quá trình sản xuất

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Chúng ta đang sống trong một thế giới không ngừng biến động cả vềkinh tế, và sự thay đổi lớn về môi trường do kết quả trực tiếp của sự thay đổiđó.Kinh tế phát triển là đièu kiện quan trọng đầu tiên cho mọi sự phát triển

Do đó chúng ta muốn đứngvững và phát triển không ngừng thì phải thích ứngvới môi trường xung quanh đặc biệt là trong thời buổi nền kinh tế thị trườngnhư hiện nay Trong cơ chế thị trường không phát triển đồng nghĩa với việckhông tồn tại Cần phải đứng vững trên thương trường , và phát triển trongtương lai là mong muốn của bất cứ doanh nghiệp nào

Muốn đạt được mục đích trên yêu cầu toàn bộ công ty phải nỗ lực hếtmình trong mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Đầu vào của sản xuấtđóng vai trò quan trọng và góp phần quyết định vào thành công của doanhnghiệp Trước hết, đầu vào đầy đủ sẽ giúp sản xuất diến x ra liên tục, thườngxuyên Chất lượng và sự đồng bộ của vật tư sẽ giúp cải tiến chất lượng sảnphẩm của doanh nghiệp , tăng uy tín của đơn vị mình trên thương trường.Trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam em đã đi

sâu vào nghiên cứu đề tài: “ Công tác bảo đảm vật tư cho quá trình sản

xuất”

Đề tài này của em có kết cấu như sau:

Chương 1.: Giới thiệu khái quát về công ty

Chương 2.: Thực trạng của công tác bảo đảm vật tư ở công Stanley Việt Nam ty

TNHH Điện

Chương 3: Phương hương phát triển và một số biệ pháp nâng cao công tác

quản lí và bảo đảm vật tư cho quá trình sản xuất

Trang 2

Chương 1 Khái Quát chung về công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam 1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.

Cùng với xu thế phát triển của nền kinh tế, Công ty là một doanhnghiệp được thành lập dưới hình thức góp vốn hoạt động sản xuất kinh doanh

và được thành lập theo Giấy phép Đầu tư số 1669/ GP ngày 16/09/1996 Vớibên liên doanh Việt nam là Công ty Xuất nhập khẩu và đầu tư xây dựng HàNội Tuy là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh còn rất trẻ đến năm naymới tròn 12 năm xây dựng và trưởng thành, nhưng công ty đã không ngừngvươn lên tự đổi mới, phát triển và khẳng định mình

Công ty liên doanh có tên gọi là:

Công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam

Tên giao dịch của Công ty liên doanh bằng tiếng Anh là:

Vietnam Stanley Electric Co., Ltd

Trụ sở và nhà xưởng đặt tại: Xã Dương Xá - Huyện Gia Lâm - Hà Nội.Điện thoại: (04) 8766214

Fax : (04) 8766188

Đây là khu đất có diện tích khoảng 30.000 m2 nằm cạnh đường quốc lộ

số 5 Hà Nội - Hải Phòng, có đường ôtô đi vào thuận tiện, hiện thuộc quyềnquản lý của bên đối tác phía Việt Nam là Công ty Xuất nhập khẩu và đầu tưxây dựng Hà Nội

Trên mảnh đất của công ty liên doanh có hạng mục công trình xây dựngsau:

Trang 3

Ngay từ những ngày đầu mới hoạt động vốn đầu tư của Công ty liêndoanh là 21.000.000 USD Vốn pháp định là 6.300.000 USD, trong đó với sốvốn góp của:

+ CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VÀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HÀNỘI ( trụ sở đặt tại 28 đường Trường Chinh, quận Đống đa, Thành phố HàNội) góp 1.890.000 USD, chiếm 30% vốn pháp định bằng giá trị quyền sửdụng 20.000m2 và 12.000m2 đất tại xã Dương xá - Gia lâm trị giá 1.470.000USD và bằng chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng

+ STANLEY ELECTRIC CO., LTD (trụ sở đặt tại 2-9-13Nakameguro, Meguro-Ku, Tokyo 153, Japan) góp 3.150.000 USD, chiếm50% vốn pháp định, bằng thiết bị và tiền nước ngoài

+ THAI STANLEY ELECTRIC PUBLIC CO., LTD (trụ sở đặt tại 29-3Bangpoon Rungsit Rd., Banklang, Phathumthanee 1200, Thailand) góp 1.260.000USD, chiếm 20% vốn pháp định, bằng thiết bị và tiền nước ngoài

Tập đoàn “Stanley” hiện có 33 công ty sản xuất các loại đèn chiếu sángtrên khắp thế giới, đồng thời qua nghiên cứu tình hình thị trường và xu hướngphát triển thì Tập đoàn Điện Stanley Nhật bản, Công ty TNHH Điện StanleyThái lan đã quyết định đầu tư vào Việt Nam và cùng với đối tác Việt Nam làCông ty Xuất nhập khẩu và Đầu tư xây dựng Hà nội thành lập công ty liêndoanh để sản xuất các loại đèn và linh kiện đèn dùng cho các Công ty sảnxuất, lắp ráp ôtô, xe máy tại Việt nam và cho xuất khẩu

Thực tiễn kinh doanh cho thấy thương hiệu “Stanley” đã và đang đượckhách hàng tại Việt Nam đánh giá rất cao, có thể nhận định rằng thương hiệu

“Stanley” đã trở thành một thương hiệu có uy tín cao trong ngành thiết bịđiện, đặc biệt là thiết bị chiếu sáng cho ôtô, xe máy tại Việt Nam Khi đưa vàosửa chữa bảo hành, đa số người sử dụng ôtô, xe máy luôn yêu cầu dùng hàngchính phẩm để đảm bảo chất lượng hoạt động cho phương tiện của họ

Trang 4

Hiện nay Công ty hoạt động với 5 phân xưởng chính và 28 dây chuyềnbao gồm:

Phân xưởng Xử lý bề mặt với 7 dây chuyền mạ nhôm và phun sơnliên hoàn

Phân xưởng Lắp ráp với 12 dây chuyền

Phân xưởng sản xuất Bóng đèn với 4 dây chuyền

Phân xưởng sản xuất Giắc cắm đèn ô tô với 5 dây chuyền

Phân xưởng Đúc với 34 máy đúc từ 55 tấn đến 450 tấn

Với năng lực hiện nay Công ty có thể sản xuất 5.000.000 bộ đèn /năm

Công ty tuy mới được thành lập đến náy vừa tròn 12 năm nhưng với sựgiúp đỡ về kỹ thuật và công nghệ của các Công ty thuộc tập đoàn Stanley nênCông ty đã đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng đối với các kháchhàng như: Công ty Hon Da Việt Nam,Công ty Suzuki Việt Nam,CôngtyYamaha Mo to Việt Nam

Mặt khác với sự nỗ lực của Ban giám đốc cùng toàn thể gần 1200 cán bộcông nhân viên ,họ luôn tận tình đóng góp công sức vào công cuộc kinh doanh,

đã góp phần không nhỏ đến sự phát triển và tăng trưởng của Công ty Từ năm

1999 Công ty đã có hướng đi mới trong kinh doanh, từng bước khai thác lợithế, tiềm năng kinh tế mà ngành nghề kinh doanh hứa hẹn mang lại nên đã pháthuy, tác động tốt trong sản xuất kinh doanh Hiện nay cùng với sự phát triểncủa nền kinh tế của cả nước, hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty đã đivào ổn định, phát triển hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đề ra và kinh doanh cóhiệu quả Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước Đời sống cán bộcông nhân viên trong Công ty ngày càng được cải thiện và nâng cao

Trang 5

2 Chức năng nhiệm vụ của Công ty.

Là một Công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài, gắn liền với quátrình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Công ty đã có những chức năng

và nhiệm vụ sau:

Nghiên cứu nhu cầu và khả năng của khách hàng để xây dựng chiếnlược phát triển Công ty, xấy dựng kế hoạch dài hạn và hàng năm về sản xuấtkinh doanh

Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh theo ngành nghề đã đăngký,sản phẩm của Công ty là để xuất khẩu và tiêu thụ tại Việt Nam, sản phẩmphải được đăng ký chất lượng, nhãn hiệu hàng hoá và phải chịu sự kiểm tracủa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam

Tổ chức nghiên cứu, nâng cao năng suất lao động, áp dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật, cải tiến công nghệ chất lượng sản phẩm phù hợp với thị hiếu củakhách hàng, mở rộng thị phần đưa Công ty ngày càng phát triển, có uy tín làm

ăn có hiệu quả

Chấp hành pháp luật nhà nước, thực hiện chế độ, chính sách về quản lý

và sử dụng tiền vốn, vật tư, tài sản, nguồn lực, hạch toán kinh tế, bảo toàn vàphát triển vốn, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước

Thực hiện đầy đủ mọi cam kết trong hợp đồng kinh tế đã ký kết với cácđối tác trong và ngoài nước Quản lý toàn diện, đào tạo và phát triển đội ngũcán bộ công nhân viên theo pháp luật, chính sách của nhà nước Chăm lo đờisống, tạo điều kiện cho người lao động và thực hiện vệ sinh môi trường , antoàn lao động

Phải áp dụng các biện pháp bảo vệ doanh nghiệp, phòng chống cháy

nổ, giữ gìn trật tự an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội theo quy định củapháp luật

Trang 6

3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty

Công ty Điện Stanley Việt nam là một đơn vị kế toán độc lập có đặcđiểm sản xuất tập trung với quy mô sản xuất lớn, hoạt động định hướng theonền kinh tế thị trường có sự từng bộ phận là:

* Tổng Giám đốc: Chịu trách nhiệm chung về hoạt động sản xuất kinh

doanh của công ty Quyết định chính sách và mục tiêu chất lượng và quyết định

kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm của Công ty Định kỳ cùng đại diệnlãnh đạo tổ chức cuộc họp xem xét kết quả hoạt động kinh doanh

* Phó tổng Giám đốc: Cùng với Tổng Giám đốc xem xét kế hoạch sản

xuất kinh doanh hàng năm của công ty, tổ chức điều hành, kiểm tra các hoạtđộng trong công ty, liên hệ với các cơ quan quản lý nhà nước để giải quyếtnhững công việc liên quan đến hoạt động của công ty

* Giám đốc Hành chính: Trực tiếp chỉ đạo 3 phòng ban là Phòng Hành

chính – Tổ chức, Phòng Xuất nhập khẩu, Phòng Kinh doanh Lập kế hoạchtuyển dụng và tổ chức tuyển dụng dựa trên kế hoạch sản xuất kinh doanh, tổchức điều hành thực hiện công tác kế hoạch, xử lý các thông tin kịp thời chosản xuất kinh doanh Tổ chức kiểm tra chương trình công tác hàng tháng, quý,năm trong khu vực mình phụ trách, tính toán cân đối tình hình kinh doanh cảđầu ra và đầu vào

* Giám đốc Sản xuất: Trực tiếp chỉ đạo các phòng kỹ thuật, quản lý

chất lượng, kiểm soát mọi hoạt động kỹ thuật, sản xuất trong toàn công ty.Kết hợp với GĐ Hành chính chỉ đạo và điều hành các đơn vị liên quan đểthực hiện triển khai kế hoạch sản xuất Trực tiếp điều hành, kiểm soát việcthực hiện, triển khai sản xuất của các phân xưởng theo tiến độ

Nghiên cứu, áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm mở rộng sản xuất, nângcao chất lượng sản phẩm và chỉ đạo các kỹ sư tổ chức lao động hợp lý để khaithác năng suất lao động ngày càng cao

Trang 7

* Trưởng phòng Hành chính- Nhân sự: Phụ trách các vấn đề về nhân

sự, hành chính, tổ chức thi tuyển cán bộ công nhân viên vào công ty, giảiquyết những vấn đề chế độ cho người lao động

Lưu giữ các giấy tờ liên quan đến thành lập công ty và hồ sơ của cán bộcông nhân viên, quản lý phân công chỉ đạo trực tiếp tất cả nhân viên phòngHành chính, tổ Bảo vệ và Trạm y tế

* Trưởng phòng Xuất nhập khẩu: Đảm bảo nhập khẩu nguyên vật liệu,

linh kiện, vật tư thiết bị kịp thời cho quá trình sản xuất của công ty Tiến hànhviệc khấu trừ thuế tại các cục Hải quan, theo dõi việc áp dụng chính sách thuếmới của chính phủ

* Trưởng phòng Kinh doanh: Quản lý việc kinh doanh, ký xác nhận

bán hàng vào đơn hàng của khách hàng gửi tới, quản lý chất lượng nguyên vậtliệu và hàng tồn kho Đặt hàng và quản lý số lượng đặt hàng của khách, đồngthời quản lý công nhân viên trong phòng kế hoạch và tổ kho

* Trưởng phòng Quản lý chất lượng: Tổ chức kiểm tra, thử nghiệm

chất lượng nguyên liệu và sản phẩm Kiểm soát các thiết bị đo, thiết bị kiểmtra và lưu trữ các hồ sơ về chất lượng sản phẩm, thiết bị dụng cụ đo

Phối hợp với các bộ phận khác để giải quyết các vấn đề về chất lượngsản phẩm Báo cáo với ban Giám đốc về chất lượng sản phẩm, xây dựng vàban hành các tiêu chuẩn, quy định có liên quan đến chất lượng

* Phụ trách phân xưởng: Mỗi phân xưởng có một phụ trách họ có

nhiệm vụ giám sát, đôn đốc sản xuất tại các phân xưởng của mình Theo dõitình hình hoạt động của thiết bị trong phân xưởng và lập kế hoạch sửa chữa,bảo dưỡng, khắc phục phòng ngừa cải tiến thiết bị sản xuất Đây là bộ phậntrực tiếp sản xuất ra sản phẩm, là đầu mối quan trọng trong việc xúc tiến quátrình tiêu thụ sản phẩm

Trang 8

* Tổ Bảo vệ: Đảm bảo an ninh trật tự xã hội tại khu vực công ty, địa

bàn sản xuất Bảo vệ tài sản của doanh nghiệp và tài sản, phương tiện củakhách hàng khi đến công ty giao dịch

* Trạm y tế: Thực hiện các biện pháp cụ thể để phòng khám chữa bệnh

cho cán bộ, công nhân viên trong Công ty, thực hiện công tác Bảo hiểm xãhội, bảo hiểm y tế

* Các phòng ban có chức năng nhiệm vụ riêng nhưng vẫn có mối quan

hệ mật thiết với nhau trong đó Phòng Kế toán- Tài chính là trung tâm đầu mốicủa tất cả các phòng ban khác trong Công ty Phòng này có nhiệm vụ hạchtoán chi phí kinh doanh của công ty và xác định nhu cầu về vốn, tình hìnhthực hiện và biến động các loại tài sản, vật liệu, sản phẩm trong công ty.Phòng có nghĩa vụ báo cáo các Báo cáo kết quả kinh doanh và một số báo cáotài chính khác trước Ban Giám đốc và cơ quan thuếquản lý của Nhà nước nênCông ty đã xây dựng bộ máy quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng.Trong

đó chức năng và nhiệm vụ của

4 Đặc điểm sản xuất của công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam.

4.1 Tình hình sản xuất của doanh nghiệp trong những năm vừa qua.

Tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất năm 2006 đạt 87,1%

Tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất năm 2007 đạt 97,3%

Tổng sản lượng hàng hoá năm 2006 đến năm 2007 tăng 134,8%

Trang 9

• Tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được biểu hiện trongbảng sau:

Bảng số 2: Tình hình tiêu thụ của doanh nghiệp trong 2 năm 2006và 2007

)

Số lượng tiêu thụ(bộ)

Tỉ lệ so sánh(%

)

Doanh thu(1000đ)

Tỉ lệ so sánh

Nguồn: Do phòng Sales của doanh nghiệp cung cấp

Tình hình tiêu thụ sản phẩm năm 2006 đạt 94,19% so với số lượng sảnxuất ra

Tình hình tiêu thụ sản phẩm của năm 2007 đạt 99,15% so với lượngđược sản xuất ra

Tổng doanh thu của năm 2006-2007 tăng 108,5%

Qua biểu trên ta thấy doanh thu của năm sau cao hơn năm trước ứng vớitốc độ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp là do : Nhận thấy rằng tốc độ tăngtrưởng trung bình hàng năm tăng 7-9% Cùng với nền kinh tế phát triển mứcsống của dân cư ngày càng cao, các hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng

mở rộng về địa lí do đó nhu cầu về phương tiện chuyên chở, đi lại như xemáy, ô tô ngày càng tăng lên với mức độ kinh ngạc.Chính vì tốc độ như vậynên nhu cầu về các loại linh kiện, phụ tùng để lắp ráp mới và thay thế sửachữa là rất lớn

•Kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 10

Bảng số 3: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Nguồn: Do phòng kế toán cung cấp

Qua biểu trên ta thấy được tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp

- Hiêụ quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp

Hm= M/V M: Mức doanh thu trong kì

Lợi nhuận của năm 2006 tăng hơn so với 2005 là 11.151.443.000đ

Như vậy qua đây ta thấy rằng lợi nhuân của doanh nghiệp ngày càngtăng do chi phí giam nhiều so với năm trước Chi phí giảm là do doanh nghiệpluôn tìm tồi đổi mới, áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, có đội ngũ kĩ

sư và công nhân có tay nghề cao Đặc biệt để áp dụng công nghệ vào sản xuấtthì Stanley Việt Nam luôn đưa người sang Nhật Bản và Thái Lan để đào tạo

Trang 11

Công ty tổ chức lớp học Snap để đào tạo cho mọi người cách quản lí và sửdụng nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất một cách hiệu quả.

• Chỉ số tài chính đạt được trong những năm vừa qua

2,5vòng/nă m

2,5vòng/nă m

2,5vòng/nă m

xe máy cao cấp hiện đang hoạt động cũng cần một số lượng nhất định các loạiđèn cho nhu cầu thay thế sửa chữa Điều này cho thấy Việt nam cần có cácnhà máy sản xuất linh kiện, phụ tùng ôtô, xe máy càng sớm càng tốt Và hệthống sản phẩm của “Stanely Việt Nam” là một trong những sản phẩm đápứng được nhu cầu đó

Với sản phẩm chất lượng cao đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế được sản xuấttại Việt Nam trên dây chuyền công nghệ hiện đại nhập từ Nhật Bản với giá

Trang 12

thành rẻ do sử dụng lao động địa phương, sản phẩm của Stanley Việt namđược sản xuất đáp ứng cho nhu cầu cho các công ty sản xuất xe máy lớn tạiViệt Nam và dành một phần cho xuất khẩu ra nước ngoài:

- Đèn cho xe máy gồm: Đèn pha, đèn hậu, đèn xi nhan, được cung cấp

cho các công ty:

+ Công ty Honda Việt Nam (Vĩnh Phúc)+ Công ty Suzuki Việt Nam (Đồng Nai)+Công ty Yamaha Việt Nam ( Sóc Sơn)+ Công ty liên doanh sản xuất phụ tùng xe máy (Hải Dương) vàcác đơn vị lắp ráp xe máy của Việt Nam

- Đèn cho ôtô gồm: Đèn pha, đèn hậu, đèn xi nhan và đèn phản quang,

được cung cấp cho các công ty:

+ Công ty Honda Việt Nam (Vĩnh Phúc)+ Công ty Ford Việt Nam ( Hải Dương)+ Công ty Toyota Việt Nam (Vĩnh Phúc)+ Suzuki Việt Nam (Đồng Nai)

+ Tất cả các công ty liên doanh sản xuất ôtô tại Việt Nam đó làMekong Car (Hà Nội - Hồ Chí Minh), VMC (Hà Nội), Vinastar (Sông bé - TP

Hồ Chí Minh), Isuzu Việt Nam (TP Hồ Chí Minh)… và một số đơn vị lắp rápôtô tiên tiến của Việt Nam

- Một phần sản phẩm sẽ được dành xuất khẩu cho các công ty sản xuất

xe máy, ôtô tại các nước: Nhật Bản, Thái Lan, Indonexia, Philippin, Mỹ…

6.Đặc điểm về tổ chức sản xuất

Trang 13

Công ty Điện Stanley Việt Nam tổ chức sản xuất theo các phân xưởng.Các phân xưởng này có mối quan hệ với nhau trong quá trình giao bán thànhphẩm Mỗi phân xưởng chỉ chịu trách nhiệm thực hiện một số bước, côngđoạn trong quá trình sản xuất sản phẩm Quá trình sản xuất sản phẩm đượcdiễn ra liên tục từ khâu đưa vật liệu vào cho đến khi hoàn thiện sản phẩm Cụthể theo từng phân xưởng:

- Phân xưởng Đúc: Là khâu đầu tiên của quy trình công nghệ để đúc ra

các ản phẩm là choá đèn, thấu kính, đế đèn…Nguyên vật liệu của công đoạnnày chủ yếu là nhựa hạt, mỗi một sản phẩm sẽ dùng một loại nhựa có đặctính, màu sắc khác nhau Nhựa hạt sẽ được cho vào thùng sấy và đúc ở nhiệt

độ 180oC- 350oC Sản phẩm sau khi đúc sẽ được gọt bavia (là những đườngviền nhựa thừa), nhập kho của phân xưởng đúc rồi chuyển sang phân xưởngsơn mạ

- Phân xưởng sơn mạ: Sau khi nhận sản phẩm từ phân xưởng đúc và

nguyên liệu từ kho, phân xưởng này sẽ tiến hành sơn mạ sản phẩm Nguyên vậtliệu chủ yếu ở công đoạn này là hoá chất Ban đầu sản phẩm đưa vào sẽ được xử

lý bề mặt (xì bụi), rồi phun hoá chất Under Coat, hoá chất này có tác dụng làmbóng, nhẵn bề mặt và làm tăng độ liên kết nguyên liệu cho lớp mạ Sau đó sảnphẩm sẽ được đưa vào sấy ở nhiệt độ 95oC – 150oC rồi chuyển sang phòng mạ.Sản phẩm sau khi được mạ sẽ cho vào sấy lần 2, kiểm tra sản phẩm rồi nhập khocủa phân xưởng sơn mạ, sau cùng chuyển sang phân xưởng lắp ráp

- Phân xưởng sản xuất bóng đèn: Là một phân xưởng hoạt động độc

lập sản phẩm hoàn thành sẽ được chuyển sang phân xưởng lắp ráp đèn.Nguyên liệu chủ yếu của dây chuyền là ống thuỷ tinh và một số hoá chất Ốngthuỷ tinh sẽ được cho vào máy thổi thành bóng, làm cuống đèn trong đó cóthanh đỡ sợi tóc, rồi hàn dây tóc, gắn vỏ đèn rồi hút chân không, ghép chânđèn, cuối cùng là hàn chân đèn Kiểm tra sản phẩm rồi nhập kho của phânxưởng sản xuất bóng đèn Xuất bóng sang phân xưởng lắp ráp theo mẫu đèn

Trang 14

- Phân xưởng lắp ráp: Đảm nhiệm khâu cuối cùng của quy trình công

nghệ sản xuất đèn, sản phẩm của khâu này là một chiếc đèn hoàn chỉnh Trướctiên các bán thành phẩm sẽ được xì bụi, phun keo sau đó lắp ghép các bán thànhphẩm cùng dây, bóng đèn Cuối cùng là khâu thử độ sáng của đèn Kiểm tra lạisản phẩm lần cuối, đóng gói và nhập kho

Ngoài các phân xưởng chính trên, còn có một phân xưởng sản xuất phụphục vụ sản xuất đó là phân xưởng cơ năng, chịu trách nhiệm cung cấp điện,lắp đặt sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị

Sản phẩm của công ty có chu kỳ ngắn, quy trình công nghệ sản xuấtphức tạp, kiểu liên tục nhưng ổn định và thuộc loại sản xuất với khối lượnglớn Trên dây chuyền có thể sản xuất đèn hàng loạt với các loại model khácnhau theo đơn đặt hàng ở mỗi giai đoạn sản xuất đều hình thành bán thànhphẩm nhưng chỉ có thành phẩm mới được bán ra ngoài

Sơ đồ 1: Qui trình công nghệ sản xuất đèn ô tô và xe máy

Nhựa hạt các loại

(PMMA, PC,

PP…)

Sơn phủ bề mặt, các chi tiết phản quang

Thổi ống thuỷ tính

thành bóng

Làm cuống đèn, hàn dây tóc

Đúc tạo các chi tiết nhựa

Lắp ráp Gắn vỏ đèn, hút chân

không, ghép chân đèn

Đóng gói

Kiểm tra chất

Trang 15

Chương 2: Thực trạng của công tác bảo đảm vật tư cho sản xuất ở công

ty TNHH Điện Stanley Việt Nam

1 Đặc diểm các loại vật tư ,nguyên kiệu đang sử dụng ở công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam

1.1 Chủng loại vật tư chủ yếu đang sử dụng tại công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam

Sản phẩm chủ yếu của công ty là các loại đèn cho các loại xe máy như:Honda,SuZuKi,Yamaha,Kawasaki Vật tư chủ yếu để sản xuất các loại đèntrên là:

1.2 Đặc điểm các loại vật tư nguyên vật liệu đang sử dụng trong công

ty TNHH Điện Stanley Việt Nam

Nguyên vật liệu đang sử dụng trong công ty bao gồm những nhóm sau:

• Nhóm nhựa hạt: Tất cả được nhập khẩu từ nướ ngoài

- Các loại nhựa trong suốt bao gồm : PMMA CLEAR( trong suốt) vàPMMA AMBER( màu hổ phách) Đây là các loại nhựa trong quá trình sảnxuất làm ra dễ bị cháy, hỏng, vỡ và bề mặt không nhẵn do hạt nhựa sấy khôchưa đạt được mức cần thiết

- Các loại nhựa không trong suốt bap gồm: PC,ABS,PP Đây là các loạinhựa dễ sản xuất hơn so với nhóm nhựa trên và các dạng hỏng chủ yếu là bềmặt không nhẵn do hạt nhựa không được sấy khô tới mức đạt yêu cầu

Trang 16

• Nhóm các loại dây điện

Bao gồm các loại dây điện với các màu khác nhau và với các loại đườngkính khác nhau Chúng dễ bị gỉ trong quá trình sử dụng, vì vậy yêu cầu chấtlượng dây phải tốt và trong quá trình vận chuyển cũng như trong quá trình sảnxuất yêu cầu phải bảo quản tốt

• Nhóm các loại bóng đèn: Có đặc điểm là dễ vỡ , đui đèn dễ bị gỉ trongquá trình sản xuất và vận chuyển nên yêu cầu phải rất cẩn thận và kiểm tra kĩ

• Nhóm các loại đui đèn: Bao gồm đui đèn bằng kim loại và đui đènbằng cao su

• Nhóm các loại đầu tiếp điện

• Nhóm các loại giắc cắm

• Nhóm các loại hoá chất: Có đặc điểm là nếu để lâu và bảo quản khôngtốt thì sẽ bị biến chất và hỏng trong quá trình sử dụng Vì vậy cần phải yêucầu tính toán chính xác lượng nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất, khôngmua quá nhiều để phải lưu kho trong thời gian dài

Trang 17

2 Qui trình bảo đảm vật tư cho sản xuất của doanh nghiệp

Qui trình mua sắm vật tư cho sản xuất của công ty TNHH ĐiệnStanley như sau :

Sơ đồ 2: Qui trình bảo đảm vật tư cho sản xuất

3.Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác bảo đảm vật tư ở công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam

3.1 Trình độ áp dụng khoa học công nghệ

Trình độ áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ có ảnh hưởng lớnđến công tác hậu cần vật tư bảo đảm cho doanh nghiệp sản xuất Các doanhnghiệp có thể áp dụng khoa học công nghệ trong tất cả các nghiệp vụ của hậucần vật tư Mặt khác khoa học công nghệ ảnh hưởng lớn đến mức tiêu dung

Lập nhu cầu vật tư

Theo dõi, đánh giá nhà cung

ứng

Trả lại nhà cung ứng

Trang 18

vật tư cho một đơn vị sản phẩm Điều này có ý nghĩa to lớn trong việc nângcao chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệptrong nền kinh tế thị trường.

Ở công ty TNHH Điện Stanley máy móc dùng cho sản xuất là nhữngmáy móc có công nghệ hiện đại được nhập từ Nhật Bản Do đó công nghệmới đáp ứng được rất tốt nhu cầu của sản xuất và của thị trường Điều nàylàm cho công tá hậu cần được tiến hành rất tốt, và đảm bảo được định mứctiêu dùng vật tư theo đúng tiêu chuẩn như vậy sản phẩm của công ty sản xuất

ra có tính cạnh tranh cao về công nghệ

3.2 Qui mô sản xuất

Qui mô sản xuất của doanh nghiệp lớn hay nhỏ sẽ qui định mức độ phứctạp của công tác hậu cần vật tư đảm bảo cho sản xuất của doanh nghiệpmình.Nếu qui mô s lớn, lượng vật tư cần nhiều hơn cả về chủng loại, sốlượng Điều này ảnh hưởng lớn đến công tác thu mua, dự trữ và bảo quản củadoanh nghiệp

3.3 Danh mục và cơ cấu vật tư

Danh mục vật tư càng nhiều thì vấn đề bảo đảm vật tư càng phức tạp Cơcấu vật tư và danh mục vật tư phụ thuộc vào yêu cầu của sản xuất sản phẩmcủa doanh nghiệp Danh mục vật tư là đặc trưng với mỗi doanh nghiệp do đóđòi hỏi công tác thăm dò khảo sát thị trường rất phức tạp Danh mục và cơcấu vật tư cũng tác động lớn đến khả năng dự trữ , bảo quản, cấp phát vật tưcho sản xuất Đối với công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam thì danh mụcvật tư có nhiều những loại vật tư chuyên dùng vậy công tác bảo đảm sẽ phứctạp hơn rất nhiều, doanh nghiệp phải tìm kiếm và đặt hàng đối với doanhnghiệp sản xuất dùng loại vật tư đặc thù đó Đặc biệt là công ty phải nhậpkhẩu nhiều loại vật tư từ nước ngoài

Trang 19

3.4 Cung cầu và qui mô thị trường vật tư

Mối quan hệ cung cầu vật tư trên thị trường có tác động lớn đến các yếu

tố đầu vào và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Gần đây, giá cả cácnguyên vật liệu biến đổi không nừng gây ảnh hưởng lớn đến công tác hậu cầnvật tư cho doanh nghiệp sản xuất Trường hợp cung cầu ổn định thì giá cảnguyên, vật liệu ổn định nó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng vật tư với

số lượng mong muốn, lượng mua thích hợp không quá nhiều so với nhu cầu

sử dụng, không ứ đọng vốn, không phải chi phí bảo quản và các chi phí khác,hoặc không quá ít dẫn đến sản xuất bị đình trệ, việc mua sắm sẽ mua làmnhiều lần, việc cung ứng sẽ kịp thời về mặt thời gian

Trường hợp nếu cung nhỏ hơn cầu làm cho giá cả hàng hoá sẽ tăng lênnhư vậy việc mua sắm vật tư sẽ trở nên phức tạp hơn.Trong trường hợp này sẽdẫn đến nhiều chi phí không cần thiết như: bảo quản, bốc xếp, ứ đọng vốnnhiều

Trường hợp cung> cầu thì giá cả sẽ giảm xuống, việc mua vào sẽ nhiềulần sẽ có lợi hơn khi mua một lần như vậy sẽ dẫn đến việc đảm bảo kịp thờivật tư sẽ khó khăn hơn đồng thời khó khăn cả trong việc quản lí và điều hànhviệc mua sắm

3.5 Trình độ của cán bộ và thực hiện kế hoạch hậu cần vật tư

Con người là yếu tố quyết định và quan trọng nhất trong mọi nghiệp vụkinh doanh nói chung và nghiệp vụ đảm bảo hậu cần nói riêng Cán bộ lập vàthực hiện kế hoạch hậu cần vật tư cho sản xuất có kinh nghiệm và chuyênmôn cao là vốn quý , nó bảo đảm công tác hậu cần của doanh nghiệp có hiệuquả

Trong công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam trình độ của cán bộ làmcông tác hậu cần có chuyên môn cao Công ty thường xuyên có lớp tập huấn

Trang 20

dào tạo về nghiệp vụ chuyên môn do đó công tác đảm bảo vật tư ở doanhnghiệp được thực hiện rất tốt.

- Hệ thống kho tàng doanh nghiệp : Hệ thống kho tàng của doanh nghiệp

có tác động rất lớn đối với việc mua sắm vật tư thiết bị Nếu vật tư thiết bịmua sắm sử dụng nhiều nhưng hệ thống kho tàng doanh nghiệp không đảmbảo sẽ dẫn đến việc cấp phát ,sử dụng bảo quản không tốt dẫn đến giá thànhsản xuất sản phẩm sẽ cao

4 Phân tích tình hình cung ứng vật tư ở công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam

Muốn cho hoạt động sản xuất của một phân xưởng được tiến hành mộtcách đều đặn, thường xuyên, liên tục phải thường xuyên bảo đảm cho nó cácloại nguyên vật liệu, năng lượng đủ về số lượng, chất lượng, kịp về thời gian,đúng về qqui cách phẩm chất Đây chính là vấn đề bắt buộc mà nếu thiếu thìkhông thể có quá trình sản xuất Công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam vớisản phẩm chính là đèn ô tô và xe máy do đó vật tư chiếm một tỉ trọng lớntrong giá thành sản phẩm Muốn quản lí một khối lượng vật tư lớn và nhiềuchủng loại khác nhau đòi hỏi công ty phải thực hiện nhiều biện pháp ở cáckhâu, có như vậy mới đảm bảo cung ứng vật tư một cách đầy đủ, tiết kiệm,đúng phẩm chất và chủng loại cho quá trình sản xuất Để thuận tiện cho việcquản lí vật tư được chính xác về chung loại, số lượng, các phân xưởng tiếnhành phân loại vật liệu theo từng kho dựa và công dụng và tầm quan trọng

Trang 21

của nó, nhờ đó mà bộ phận quản lí vật tư có thể theo dõi sự biến động củatừng loại vật tư , cung cấp những thông tin chính xác, kịp thời cho việc lập kếhoạch cung qứng và dự trữ vật tư

4.1 Công tác lập kế hoạch cung ứng vật tư

4.1.1 Cơ sở để xây dựng kế hoạch cung ứng vật tư

Cơ sở để công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam xây dựng kế hoạch cung ứngvật tư năm 2007 là:

• Định mức tiêu hao vật tư cho từng loại sản phẩm

tư , tạo tiền đề cho quá trình hạch toán kinh tế, thúc đẩy thi đua sản xuất , thựchành tiết kiệm

Phương pháp định mức nguyên vật liệu có ý nghĩa quyếtd định đến chất lượng của định mức Tại công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam thì phương pháp xác định mức nguyên vật liệu được sử dụng là phương pháp thực nghiệm Việc này được tiến hành trong phòng thí nghiệm hoặc sản xuất thử hiện tại hiện trường kết hợp với những điều kiện sản xuất để kiểm tra

Trang 22

Mỗi lần sản xuất thử sản phẩm mới công ty thường tiến hành sản xuất thử 4 sản phẩm mỗi loại Việc tiến hành sản xuất thử được tiến hành trong điều kiện thời tiết bình thường và lượng nghuyên vật liệu cho việc sản xuất thử được dựa trên định mức tiêu hao vật tư cho các sản phẩm cũ cùng loại và có điều chỉnh theo kết cấu và trọng tải của sản phẩm mới

Trong quá trình tiến hành sản xuất thử công ty phải tiến hành điều chỉnh lại mức tiêu hao nguyên vật liệu trước khi đưa xuống phân xưởng sản xuất và điều chỉnh được dựa trên diều kiện sản xuất , trình độ sử dụng nguuyên vật liệu của công nhân Sauk hi tiến hành sản xuất thử có sự điều chỉnh lại mức tiêu hao vật tư thì công ty đã xác định được mức tiêu hao vật tư cho một đơn vị

Trang 23

Bảng số 5: Định mức về nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm

STT Mã sản phẩm

Hao hụt

ĐỊnh mức kể cả hao hụt

Trang 27

Do phòng purchase cung cấp

Trang 28

rong đó: D07: là Nhựa màu đen epoxy(1)

R104: Nhựa màu đen epoxy(2)

* Tình hình thực hiện mức tiêu hao vật tư

Sau khi định mức được xây dựng xong sẽ giao cho phòng mua sắm vật tư

và cung ứng cho sản xuất theo tiến độ kế hoạch, mức độ đưa vào sản xuất Việc giao định mức được tiến hành giữa thủ kho của công ty với các phânxưởng, phân xưởng sẽ giao mức cho công nhân thực hiện Trong quá trìnhthực hiện mức các thủ kho, các phân xưởng phải tạo điều kiện cho công nhânthưc hiện mức như: cung cấp kịp thời nguyên vật liệu, đảm bảo nguyên vậtliệu đúng qui cách chủng loại, phẩm chất Phòng kế hoạch sẽ lên bảng tổnghợp vật tư cho từng danh mục sản phẩm

Căn cứ vào bảng tổng hợp vật tư xuất dùng cho sản xuất thử các loại sảnphẩm , thủ kho và các tổ trưởng ở các phân xưởng sản xuất phải theo dõi xemquá trình công nhân thực hiện mức trên như thế nào, thông qua việc kiểm tratại các phân xưởng, nghiệm thu hàng tháng, hàng quý, phải phân tích tìnhhình thực hiện mức này đối với mỗi loại nguyên vật liệu để tìm ra nguyênnhân để từ đó tìm cách khắc phục Nếu thiếu nguyên vật liệu do điều kiệnngoại cảnh thì cần bổ sung thêm, nếu do công nhân ghìm mức , giấu nănmgsuất thì phải có biện pháp để công nhân tăng năng suất thực hiện đúng mức

Trang 29

Bảng số 6: Tình hình thực hiện mức vật tư cho mặt hàng giắc

cắm đèn ô tô xuât khẩu năm 2007

Hạng mục vật tư Đơn vị

tính

Định mức

Thực tế xuất dùng

+ Thực hiện vượt mức: nhựa hạt, vòng đệm cao su

+ Thực hiện đạt mức: Đầu cực giắc cắm

+ Thực hiện không đạt mứcNhựa màu đen epoxy(1), nhựa màu đenepoxy (2)

4.1.1.2 Tình hình tồn kho của công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam

* Hệ thống kho nguyên liệu của công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam

Do công ty sử dụng rất nhiều loại nguyên liệu khác nhau vềchủng loại, chất lượng, nguồn cung ứng, thêm vào đó có rất nhiều loại nguyênliệu nhạy cảm với môi trường như: hoá chất, cao su Chính vì vậy công ty đãchú trọng đến việc xây dựng hệ thông kho bãi để chứa nguyên vật liệu Hệthống kho nguyên vật liệu của công ty gồm các loại sau:

+ Kho hoá chất, các loại nguyên vật liệu nhạy cảm với môi trường + Kho chứa các loại bóng đèn

Trang 30

+ Kho các loại nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất

Công ty có hệ thống kho tạm được thuê ở gần công ty để thuận tiện cho quátrình sản xuất của doanh nghiệp Kho có lối đi thoáng để thuận tiện cho việcvận chuyển, cung ứng vật tư cho sản xuất Riêng kho hoá chất có tính độc hạinên được bố trí cách li với các phòng ban và các phân xưởng sản xuất

* Tình hình tồn kho của công ty năm 2007

Trong kế hoạch vật tư , khi xác định vật tư cần mua, Công ty tính đến lượngtồn kho đối với những loại nguyên vật liệu này, còn những loại nguyên vậtliệu đặc chủng khác công ty cần dùng bao nhiêu thì sẽ mua bấy nhiêu Việckiểm kê chỉ được tiến hành 6 tháng một lần và việc tính toán lượng tồn khothực hiện theo mỗi đơn hàng nên lượng tồn kho không tính dựa vào kiểm

kê mà chủ yếu dựa vào quá trình theo dõi nhập, tồn qua phiếu nhập, xuấtkho và thẻ kho

Nguyên vật liệu nhập kho được phản ánh qua phiếu nhập kho

Bảng7: Phiếu nhập kho vật liệu cho sản phẩm đèn trước KFLM ngày 24/11/2007

STT Tên NVL

Đơn vị

Số lượng nhập

Đơn giá(USD )

Giá trị( US

1

Bóng đèn( 12V/18W)

Chiế

Nhật Bản 2

Chiế

Nhật Bản 4

Trang 31

7 Đầu cực tròn

Chiế

Thái Lan

Chiế

Thái Lan

Chiế

Thái Lan

Chiế

Thái Lan

11 Miếng cách điện

Chiế

Thái Lan

Chiế

Thái Lan 13

Ống nhựa đen

Thái Lan

Thái Lan 15

Nhật Bản

Nhật Bản 18

Nhựa hạt trong

Nhật Bản 19

Nhựa hạt PC màu

Nhật Bản 20

21 Vỏ bọc cao su

Chiế

Công ty cao su innose 22

Do phòng Purchase cung cấp

Bảng 8: Báo cáo vật tư tháng 12/2007

Ngày đăng: 13/04/2013, 16:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 2: Tình hình tiêu thụ của doanh nghiệp trong 2 năm 2006và 2007 - Công tác bảo đảm vật tư cho quá trình sản xuất
Bảng s ố 2: Tình hình tiêu thụ của doanh nghiệp trong 2 năm 2006và 2007 (Trang 9)
Bảng số 3: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong 2 năm - Công tác bảo đảm vật tư cho quá trình sản xuất
Bảng s ố 3: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong 2 năm (Trang 10)
Bảng số 4: Các chỉ số tài chính trong những năm vừa qua - Công tác bảo đảm vật tư cho quá trình sản xuất
Bảng s ố 4: Các chỉ số tài chính trong những năm vừa qua (Trang 11)
Sơ đồ 1: Qui trình công nghệ sản xuất đèn ô tô và xe máy - Công tác bảo đảm vật tư cho quá trình sản xuất
Sơ đồ 1 Qui trình công nghệ sản xuất đèn ô tô và xe máy (Trang 14)
Sơ đồ 2: Qui trình bảo đảm vật tư cho sản xuất - Công tác bảo đảm vật tư cho quá trình sản xuất
Sơ đồ 2 Qui trình bảo đảm vật tư cho sản xuất (Trang 17)
Bảng số 5: Định mức  về nguyên  vật liệu để sản xuất ra sản phẩm - Công tác bảo đảm vật tư cho quá trình sản xuất
Bảng s ố 5: Định mức về nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm (Trang 23)
Bảng 13: Tình hình cung ứng nhựa hạt sản xuất sản phẩm đèn trước của yamaha 12/2007 - Công tác bảo đảm vật tư cho quá trình sản xuất
Bảng 13 Tình hình cung ứng nhựa hạt sản xuất sản phẩm đèn trước của yamaha 12/2007 (Trang 39)
Bảng 14: Tình hình dự trữ của một số vật tư chính Quý 4 năm 2007 - Công tác bảo đảm vật tư cho quá trình sản xuất
Bảng 14 Tình hình dự trữ của một số vật tư chính Quý 4 năm 2007 (Trang 41)
Sơ đồ 3: Trình tự tiếp nhận vật tư ở công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam - Công tác bảo đảm vật tư cho quá trình sản xuất
Sơ đồ 3 Trình tự tiếp nhận vật tư ở công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam (Trang 43)
Sơ đồ 3:Sơ đồ cấp phát nguyên vật liệu - Công tác bảo đảm vật tư cho quá trình sản xuất
Sơ đồ 3 Sơ đồ cấp phát nguyên vật liệu (Trang 45)
Bảng số 15: Chỉ tiêu tài chính cần đạt được trong những năm tới                         Năm - Công tác bảo đảm vật tư cho quá trình sản xuất
Bảng s ố 15: Chỉ tiêu tài chính cần đạt được trong những năm tới Năm (Trang 49)
Bảng 16 : ước tính thị trường xe máy sản xuất tại Việt Nam và thị phần của Công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam( VNS)  từ năm  2008-2012 - Công tác bảo đảm vật tư cho quá trình sản xuất
Bảng 16 ước tính thị trường xe máy sản xuất tại Việt Nam và thị phần của Công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam( VNS) từ năm 2008-2012 (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w